Nhờ các hoạt động cụ thể, nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ đã được chuyển giao đến tận tay đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn và xoá đó
Trang 1ủy ban dân tộc
***
Báo cáo kết quả dự án
điều tra, đánh giá một số hoạt động
chuyển giao khoa học, kỹ thuật và
6959
15/9/2008
Hà Nội, năm 2007
Trang 2Mục lục
Phần mở đầu 5
1 Sự cần thiết 5
2 Mục tiêu của dự án: 7
3 Các nội dung cơ bản 7
4 Phương pháp thực hiện dự án 7
5 Giới hạn phạm vi, địa bàn dự án 10
6 Những người thực hiện chính 10
7 Đơn vị thực hiện 11
8 Sản phẩm chính của dự án bao gồm 11
Phần thứ nhất: Một số vấn đề về chuyển giao khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc thiểu số và miền núi 13
1 Chuyển giao khoa học và công nghệ trong nông nghiệp và nông 13
1.1 Khái niệm 13
1.2 Mục đích của chuyển giao KHCN 15
1.3 Quan hệ giữa chuyển giao và nghiên cứu 16
1.4 Hệ thống chuyển KHCN trong nông nghiệp và nông thôn 16
1.5 Người hưởng lợi trong chuyển giao KHCN trong nông nghiệp và nông thôn 17
1.6 Phương thức chuyển giao KHCN tới nông dân 19
1.6.1 Các phương thức tiếp cận 19
1.6.2 Phương pháp chuyển giao 24
1.6.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác chuyển giao KHCN trong nông nghiệp 25
2 Chủ trương, chính sách chuyển giao KHCN vào nông nghiệp vùng dân tộc và miền núi 27
2.1 Chủ trương, chính sách chung 27
2.2 Chủ trương, chính sách chuyển giao KHCN trong nông nghiệp vùng dân tộc và miền núi 30
2.2.1 Chủ trương, chính sách 30
2.2.2 Những bất cập về cơ chế chính sách trong chuyển giao 35
Phần thứ hai: Thực trạng tình hình chuyển giao khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc thiểu số và miền núi 37
1 Đặc điểm vùng dân tộc và miền núi liên quan đến chuyển giao tiến bộ KHCN 37
2 Các lĩnh vực tiến bộ KHCN được chuyển giao 38
3 Các hình thức chuyển giao KHCN trong nông nghiệp, nông thôn ở vùng dân tộc và miền núi 39
3.1 Khuyến nông nhà nước 40
3.2 Khuyến nông cơ sở và cộng đồng 44
3.3 Chuyển giao KHCN của các viện nghiên cứu và các trường chuyên nghiệp 46
3.4 Hệ thống chuyển giao của các doanh nghiệp 48
3.5 Chuyển giao công nghệ qua các chương trình, dự án của Chính phủ 49
Trang 33.6 Chuyển giao kỹ thuật tiến bộ qua các dự án quốc tế 52
3.7 Chuyển giao công nghệ qua các kênh của tư nhân 54
4 Khảo sát, điều tra một số dự án cụ thể 54
5 Đánh giá khái quát về hoạt động chuyển giao KHCN vào vùng dân tộc và miền núi thời gian qua 68
5.1 Khái quát những kết quả đạt được 68
5.2 Một số hạn chế, yếu kém 70
5.3 Nguyên nhân 73
Phần thứ ba: Phương hướng, giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả các hoạt động chuyển giao khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc và miền núi 79
1 Bối cảnh 79
1.1 Bối cảnh chung 79
1.2 Thuận lợi 79
1.3 Khó khăn 80
2 Phương hướng 80
3 Các nhóm giải pháp 83
3.1 Nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò của KHCN trong phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi 83
3.2 Chuyển giao KHCN trong nông nghiệp phù hợp với đặc điểm các dân tộc thiểu số khác nhau 84
3.3 Phối hợp, kiện toàn và nâng cao chất lượng các kênh chuyển giao KHCN vào vùng dân tộc và miền núi 85
3.3.1 Tiếp tục đổi mới hệ thống khuyến nông nhà nước 85
3.3.2 Hoàn thiện hệ thống chuyển giao của các cơ quan nghiên cứu 89
3.3.3 Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chuyển giao KHCN qua các doanh nghiệp 90
3.3.4 Đổi mới các hoạt động chuyển giao qua các chương trình, dự án 90
3.3.5 Đẩy mạnh các hoạt động chuyển giao qua kênh tư nhân 92
3.4 Tiếp tục đổi mới các hình thức, phương pháp chuyển giao 92
3.4.1 Phương pháp chuyển giao KHCN tới nhóm nông dân 92
3.4.2 Phương pháp chuyển giao KHCN tới từng nông dân 97
3.5 Đổi mới công tác kế hoạch chuyển giao KHCN 98
3.6 Chuyển giao KHCN theo chương trình, dự án có sự tham gia của dân 100
3.7 Nhóm các giải pháp về tài chính 101
3.8 Nhóm các giải pháp về nhân lực 103
3.9 Nhóm các giải pháp về tổ chức thực hiện 103
4 Một số kiến nghị 104
Kết luận 106
Tài liệu tham khảo 108
Trang 4- UNDP: Ch−¬ng tr×nh ph¸t triÓn Liªn hîp quèc
- IFAD: QuÜ N«ng nghiÖp Liªn hîp quèc
- FAO: Tæ chøc l−¬ng thùc vµ n«ng nghiÖp Liªn hîp quèc
- NGO: Tæ chøc phi chÝnh phñ
- UNODC: V¨n phßng phßng chèng ma tóy vµ téi ph¹m LHQ
Trang 5Thực hiện chính sách phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng tăng cường các hoạt động đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc thiểu số và miền núi Từ sau khi thực hiện Nghị quyết 22/NQTW ngày 22 tháng 12 năm 1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương lớn phát triển kinh tế – xã hội miền núi và Quyết định 72/HĐBT ngày 13 tháng
3 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số chủ trương chính sách cụ thể phát triển kinh tế – xã hội miền núi, các hoạt động đưa tiến
bộ khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc thiểu số và miền núi được tổ chức theo các chương trình, dự án có mục tiêu và bố trí kinh phí khá lớn, nhờ đó đã
đạt được những kết quả quan trọng Từ năm 1993, Bộ Khoa học và Công nghệ
đã thực hiện chương trình “Xây dựng mô hình chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, miền núi vùng sâu, vùng xa vùng đặc biệt khó khăn” Mỗi năm Bộ Khoa học và Công nghệ đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng, huy động nhiều tổ chức khoa học và công nghệ với các
Trang 6chuyên gia giỏi tham gia tổ chức thực hiện hàng trăm dự án trên các địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi vùng sâu, vùng xa Nhờ các hoạt động cụ thể, nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ đã được chuyển giao đến tận tay
đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn và xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc
Thực hiện chính sách hội nhập quốc tế, những năm qua chúng ta đã huy
động được nhiều tổ chức quốc tế tham gia hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc và miền núi Nhiều tổ chức của Liên hợp quốc như UNDP, UNICEF, FAO, UNODC,…Các tổ chức Phi Chính phủ (NGO) có nhiều hoạt động chuyển giao tiến bộ KH-CN thiết thực, phương pháp tiên tiến, kinh nghiệm quốc tế triển khai các dự án mang lại hiệu quả cao Các dự án quốc tế đã góp phần tăng cường chuyển giao các tiến bộ khoa học
và công nghệ vào vùng dân tộc và miền núi, là những nhân tố quan trọng đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa
Trong thực tế xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng, bản thân người dân cũng chủ động tiến hành các hoạt động chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống Những năm qua, nhiều người dân từ các tỉnh đồng bằng, vùng thấp đã mang các cây giống, con giống mới, cách thức canh tác hoặc kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt tiên tiến lên vùng dân tộc thiểu số
và miền núi Qua các phương tiện thông tin đại chúng và quá trình giao lưu, tiếp xúc nhiều người dân tộc thiểu số vùng biên giới đã tiếp thu được những tiến bộ khoa học và công nghệ từ các nước láng giềng, từ người dân các vùng khác để áp dụng vào sản xuất và đời sống, mang lại hiệu quả cao…
Nhờ những hoạt động đa dạng đó, nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ
đã và đang được chuyển giao vào vùng dân tộc thiểu số và miền núi, mang lại hiệu quả cao, góp phần đẩy mạnh sản xuất và nâng cao đời sống, có tác dụng thiết thực xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc Tuy nhiên quá trình chuyển giao các tiến bộ KH-CN thời gian qua, cũng bộc lộ nhiều vấn đề tồn tại, yếu kém cần nghiên cứu, để tiếp tục hoàn thiện, đó là: khả năng nhân rộng, tính hiệu quả, bền vững của các mô hình chuyển giao công nghệ của các tổ
Trang 7chức khoa học và công nghệ của Nhà nước; khả năng thích ứng, duy trì và mở rộng kết quả của các dự án chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ của các
dự án hợp tác quốc tế; các vấn đề khó khăn, thuận lợi và vướng mắc trong quá trình xã hội hóa các hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc thiểu số và miền núi, những mặt trái của quá trình chuyển giao KH-CN tự phát trong cộng đồng… Chính vì vậy, ngày 30/8/2007 Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc đã ra Quyết định số 266/QĐ-UBDT phê duyệt đề cương dự án: “Điều tra, đánh giá một số hoạt động chuyển giao khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi”
2 Mục tiêu của dự án:
Thông qua điều tra, đánh giá thực trạng tình hình, đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao khoa học và công nghệ vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi
- Phân tích đánh giá
Xác định rõ những mặt được, tồn tại, hạn chế
Phân tích tìm hiểu nguyên nhân khách quan, chủ quan
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị
4 Phương pháp thực hiện dự án
Trang 8Dự án đã được thực hiện theo các phương pháp chủ yếu như sau:
- Phương pháp kế thừa
Dự án đã thu thập thông tin từ các cơ quan Bộ Khoa học và Công nghệ,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Viện nghiên cứu, các trường đại học, các sở khoa học và công nghệ, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, trung tâm khuyến nông các tỉnh
- Phương pháp điều tra xã hội học
Để thu thập thông tin định lượng, dự án đã thiết kế 3 mẫu phiếu điều tra, với 100 câu hỏi các loại; tiến hành điều tra tại 4 tỉnh: Bắc Kạn, Điện Biện, Đắc Lắc, Trà Vinh Mỗi tỉnh chọn 2 xã, 2 bản thuộc 2 huyện có các dự án chuyển giao KHCN Dự án chọn ngẫu nhiên các hộ tham gia dự án chuyển giao KHCN, để tiến hành điều tra, thu thập thông tin định lượng Dự án đã hoàn thành việc thu thập thông tin điều tra 300 phiếu đối với các hộ gia đình đồng bào các dân tộc Dao, Thái, Khmer, Mnông, Kinh đã từng tham gia các dự án chuyển giao KHCN
Tại Bắc Cạn các cán bộ điều tra đã tiến hành điều tra, nghiên cứu sâu
dự án: “Xây dựng mô hình áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn vùng cao theo hướng nông lâm kết hợp tại xã Khang Ninh - Vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn”
Tại Điện Biên các cán bộ điều tra đã tiến hành điều tra, nghiên cứu sâu
dự án : "Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thâm canh một số cây nông nghiệp và xây dựng mô hình cây ăn quả ôn đới tại xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên"
Tại Đắc Lắc các cán bộ điều tra đã tiến hành điều tra, nghiên cứu sâu 2
dự án :
“Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tổng hợp thâm canh cây
cà phê cho vùng đồng bào dân tộc Ê Đê vùng kinh tế 53, xã E A DRơng,
Trang 9“Xây dựng các mô hình áp dụng TBKHKT trong trồng trọt và chăn nuôi cho đồng bào MNông xã Bông Krang, huyện Lắc, tỉnh Đắc Lắc”
Tại Trà Vinh các cán bộ điều tra đã tiến hành điều tra, nghiên cứu
điểm tại dự án: “Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi bò và rau màu để phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer xã Hiếu
Tử, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh”
Dự án tiến hành các hội thảo, toạ đàm thu thập thông tin định tính tại địa phương :
Tại các tỉnh, Ban chủ nhiệm dự án đã tiến hành hội thảo với các sở Khoa học và công nghệ, sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sở Công nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Dân tộc và tôn giáo, cơ quan thường trực công tác dân tộc Tây Nguyên của Uỷ ban Dân tộc, các cơ quan chuyển giao khoa học và công nghệ như: trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, trung tâm chuyển giao KHCN, trạm giống cây trồng, trạm giống thuỷ sản,…
Tại huyện đoàn cán bộ của dự án đã hội thảo với lãnh đạo huyện, các phòng ban như : phòng kinh tế, phòng dân tộc, trạm khuyến nông, phòng kế hoạch và tài chính,
Để có thông tin và ý kiến đánh giá từ người dân, người hưởng lợi từ các hoạt động chuyển giao KHCN, các cán bộ điều tra của dự án đã tổ chức họp nhóm, tọa đàm với đại diện người dân : trưởng thôn, bản, già làng, người có uy tín, phụ nữ, thanh niên,
- Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân
Bên cạnh việc lấy thông tin vào các phiếu hỏi, Dự án cũng đã tiến hành toạ đàm, trao đổi với người dân, cán bộ thôn bản, nhằm lấy ý kiến đánh giá kết quả các hoạt động chuyển giao khoa học và công nghệ trên địa bàn qua trao
đổi đánh giá, dư án cũng đã tìm hiểu nguyện vọng, các kiến nghị của người dân đối với chính quyền địa phương, các nhà khoa học và các cơ quan liên quan
Trang 105 Giới hạn phạm vi, địa bàn dự án
Do kinh phí và thời gian có hạn, được sự cho phép của Hội đồng thẩm
định đề cương, dự án đã xác định phạm vi của dự án là: điều tra, nghiên cứu
điểm một số hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh đại diện cho các vùng sinh thái là Điện Biên (đại diện cho Tây Bắc), Bắc Cạn (đại diện cho các tỉnh Đông Bắc), Đắc Lắc (đại diện cho các tỉnh Tây Nguyên), Trà Vinh (đại diện cho các tỉnh Tây Nam bộ)
Thời gian điều tra, nghiên cứu từ năm 2001 đến nay
6 Những người thực hiện chính
TS Phan Văn Hùng, PVT Viện Dân tộc, Chủ nhiệm dự án
KS Ma Trung Tỷ, Vụ Kế hoạch Tài chính, Phó chủ nhiệm dự án
TS Lê Quốc Doanh, Viện trưởng Viện Nông lâm nghiệp MNPB
Ths Nguyễn Đức Nhiệm, Trưởng phòng, Bộ Khoa học và Công nghệ Ths Phan Văn Minh, Viện Dân tộc
CN Phạm Bình Sơn, Vụ Hợp tác Quốc tế
CN Trần Văn Đoài, Viện Dân tộc
Trang 11- Viện Dân tộc, Uỷ ban Dân tộc, chủ trì
- Vụ Hợp tác Quốc tế, Uỷ ban Dân tộc, phối hợp
- Vụ Các ngành Kinh tế – Kỹ thuật, Bộ Khoa học và Công nghệ
- Trung tâm Thông tin Khoa học và công nghệ quốc gia
- Trung tâm Thông tin WB
- Trung tâm Thông tin NGO
- Một số viện nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Ban Dân tộc các tỉnh Điện Biên, Bắc Kạn, Đắc Lắc, Trà Vinh
- Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh vùng dân tộc thiểu số và miền núi
8 Sản phẩm chính của dự án bao gồm
- Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra
- Báo cáo tóm tắt kết quả điều tra
- Kỷ yếu các bài viết phân tích theo chuyên đề
- Tài liệu, số liệu điều tra thực tế
9 Bố cục báo cáo kết quả dự án
Báo cáo kết quả dự án bao gồm các phần chính nh− sau:
• Mở đầu
• Phần thứ nhất: Một số vấn đề về chuyển giao khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Trang 12• Phần thứ hai: Thực trạng tình hình chuyển giao khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc và miền núi
• Phần thứ ba: Phương hướng, giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả các hoạt động chuyển giao khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc và miền núi trong thời gian tới
• Kết luận
Trang 13phần thứ nhất
Một số vấn đề về chuyển giao khoa học và công nghệ vào vùng
dân tộc thiểu số và miền núi
1 Chuyển giao khoa học và công nghệ trong nông nghiệp và nông thôn
1.1 Khái niệm
Trước khi tiến hành điều tra, khảo sát, nghiên cứu hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ vào vùng dân tộc và miền núi, chúng tôi thấy cần phải tìm hiểu thế nào là khoa học, thế nào là công nghệ, kỹ thuật và chuyển giao khoa học và công nghệ, làm công cụ để thực hiện các nội dung của dự
án
Khái niệm về Khoa học
Theo Luật Khoa học và Công nghệ, khoa học được định nghĩa như sau: Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, qui luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
Khái niệm về công nghệ:
Theo Luật Khoa học và Công nghệ, công nghệ đã được định nghĩa như sau Công nghệ là tập hợp các phương pháp, qui trình, kĩ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm
Theo khái niệm trên công nghệ bao gồm các yếu tố sau:
- Các phương pháp được hiểu là cách thức sản xuất một sản phẩm nào
đó, ví dụ phương pháp nhiệt nhôm, phương pháp địa chấn, phương pháp truyền dẫn sóng,
- Qui trình là quá trình tổng hợp các nguyên, nhiên, vật liệu, được thực hiện theo kế hoạch và theo một trình tự về thời gian và không gian, để tạo ra một sản phẩm ví dụ: qui trình công nghệ hàn gồm các khâu chuẩn bị, gá, hàn chi tiết, làm sạch mối hàn,
- Kĩ năng là khả năng vận dụng các kiến thức đã thu nhận được vào thực tế Ví dụ rèn luyện kĩ năng thẩm mỹ
Trang 14- Bí quyết là những cái có được nhờ kinh nghiệm, có tác dụng đặc biệt, ít người biết được Ví dụ bí quyết nghề nghiệp
- Công cụ là đồ dùng, dụng cụ để sản xuất, lao động Ví dụ công cụ sản xuất
- Phương tiện để chỉ cái dùng để tiến hành công việc Ví dụ phương tiện sản xuất, phương tiện vận chuyển, sử dụng các phương tiện khác nhau
Công nghệ là thuật ngữ khá phổ biến hiện nay, thường được sử dụng trong quá trình sản xuất tạo ra các sản phẩm
Khái niệm về kỹ thuật:
Theo Từ điển Bách khoa, kỹ thuật được định nghĩa như sau: Kỹ thuật
là tổng thể những phương tiện và tư liệu cần cho hoạt động của con người,
được tạo ra để thực hiện quá trình sản xuất và phục vụ các nhu cầu phi sản xuất của xã hội Thuật ngữ kỹ thuật cũng thường được dùng để chỉ những
đặc trưng tổng hợp các kỹ năng, kỹ xảo được sử dụng trong môi trường hoạt
động nào đó của con người (NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội năm 1999)
Theo khái niệm trên đây, kỹ thuật được hiểu bao gồm các yếu tố: Phương tiện: máy móc thiết bị, dụng cụ, công cụ,
Tư liệu: tài liệu kỹ thuật, tư liệu sản xuất,
Các phương tiện, tư liệu trên do con người tạo ra, phục vụ quá trình sản xuất và phi sản xuất của con người Các phương tiện, tư liệu trên không phải tự nhiên mà có, mà là do con người tạo ra
Kỹ thuật còn được dùng để chỉ các kỹ năng, kỹ xảo được sử dụng trong môi trường hoạt động nào đó của con người Ví dụ kỹ thuật âm thanh,
ánh sáng, kỹ xảo trong điện ảnh, biểu diễn xiếc, ảo thuật…những kỹ năng,
kỹ xảo này hình thành do kinh nghiệm, không hoàn toàn mang tính chất khoa học, do khoa học sáng tạo ra
Thuật ngữ kỹ thuật không chỉ được sử dụng trong sản xuất, mà còn trong các lĩnh vực phi sản xuất của đời sống con người
Trong các văn bản, tài liệu khoa học hiện nay người ta thường dùng thuật ngữ khoa học gắn với thuật ngữ công nghệ thành cụm từ ghép khoa học và công nghệ, thể hiện đầy đủ các yếu tố trên và gắn với quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm
Trang 15Chuyển giao công nghệ là việc mua và bán quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng sở hữu công nghiệp, các bí quyết, kiến thức dưới dạng phương án công nghệ, tài liệu thiết kế, công thức, thông số kỹ thuật, có hoặc không kèm theo máy móc, thiết bị, dịch vụ thông tin, tư vấn, đào tạo (NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội năm 1999)
Công tác chuyển giao KHCN trong nông nghiệp là quá trình đưa tiến
bộ KHCN vào sản xuất nông nghiệp giúp nâng cao năng xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, lợi ích của nông dân Đây là việc làm quan trọng của cơ quan khuyến nông nhà nước, các cơ quan nghiên cứu (viện nghiên cứu và các trường đại học), các tổ chức phát triển quốc tế và trong nước, các cá nhân và doanh nghiệp Cơ quan khuyến nông làm chức năng quản lý nhà nước về chuyển giao KHCN tới nông dân Các tổ chức và cá nhân thực hiện chuyển giao kỹ thuật thông qua nhiều phương thức và các kênh thông tin khác nhau phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của nông dân và cộng đồng
1.2 Mục đích của chuyển giao KHCN
Công tác chuyển giao KHCN nhằm giúp nông dân có khả năng tự giải quyết các vấn đề của giai đoạn và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống và dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới thông qua áp dụng thành công các kiến thức về khoa học và kỹ thuật, những kinh nghiệm về quản lý, thông tin và thị trường, biết được các chủ trương, chính sách về nông nghiệp và nông thôn để họ tổ chức sản xuất và kinh doanh Công tác chuyển giao KHCN còn phải giúp nông dân liên kết lại, xúc tiến thương mại, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý điều hành và tổ chức các hoạt động xã hội nông thôn ngày càng tốt hơn
Như vậy, mục đích của công tác chuyển giao KHCN là nhằm: i) đẩy mạnh sản xuất hàng hóa một cách bền vững, góp phần xây dựng nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân chủ hóa và hợp tác hóa; ii) nâng cao thu nhập của nông dân, giúp nông dân giải quyết và đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của họ, thực hiện xóa đói giảm nghèo; iii) nâng cao dân trí trong nông thôn; iv) phát hiện các vấn đề mới nảy sinh, thẩm định các kết quả nghiên cứu
để hình thành chiến lược nghiên cứu Công tác chuyển giao chỉ có thể có hiệu quả khi kết quả chuyển giao được nông dân chấp nhận, tồn tại bền vững trong nông dân và cộng đồng, góp phần cải thiện cuộc sống của nông dân
Trang 161.3 Quan hệ giữa chuyển giao và nghiên cứu
Nghiên cứu và chuyển giao KHCN trong nông nghiệp là nhiệm vụ cơ bản của các cơ quan nghiên cứu và ứng dụng Nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề và yêu cầu do thực tiễn đặt ra và phục vụ thực tiễn Trong cơ chế thị trường, chiến lược nghiên cứu phải gắn liền với chiến lược thị trường và nhu cầu thị trường Vì vậy, chiến lược nghiên cứu nông nghiệp phải nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn mà nông dân gặp phải về kinh tế, xã hội và môi trường do thực tiễn đặt ra, đảm bảo cho nền nông nghiệp phát triển bền vững Bản chất của nghiên cứu là nhằm rút ngắn khoảng cách thiếu hút giữa năng suất và hiệu quả tiềm năng với thực tế, giúp nông dân vượt qua các khó khăn về tự nhiên, xã hội và thị trường
Trong nông nghiệp, nghiên cứu và chuyển giao là hai mặt của vấn đề phát triển nông nghiệp và nhân tố Nếu nghiên cứu mà không gắn với chuyển giao thì kết quả nghiên cứu không góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn, sẽ có khoảng cách lớn giữa lý luận và thực tiễn Nếu chuyển giao
mà không gắn với nghiên cứu thì công tác chuyển giao sẽ không có các kỹ thuật tiến bộ để đưa tới nông dân Chuyển giao là cầu nối giữa nghiên cứu
và ứng dụng, giữa nông dân và các nhà nghiên cứu Chuyển giao giúp cho nghiên cứu tồn tại Trái lại, nghiên cứu giúp cho công tác chuyển giao có hiệu quả hơn Trong điều kiện kinh tế thị trường, các kết quả nghiên cứu phải trở thành sản phẩm tham gia vào thị trường khoa học - công nghệ Vì thế, chuyển giao là quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường, ứng dụng tốt hơn đòi hỏi của nông dân về thị trường
1.4 Hệ thống chuyển KHCN trong nông nghiệp và nông thôn
Hệ thống chuyển giao KHCN tới nông dân bao gồm: hệ thống khuyến nông nhà nước, các cơ quan nghiên cứu và đào tạo, các tổ chức đoàn thể xã hội (phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh), các tổ chức Chính phủ và phi chính phủ quốc tế và quan trọng là các tổ chức cộng đồng (hợp tác xã, họ tộc, nhóm sở thích của nông dân)
Hệ thống khuyến nông nhà nước được tổ chức từ Trung ương tới tỉnh, huyện và ở một số nơi, tới cộng đồng Hầu hết, các nước đang phát triển đều
có Cục khuyến nông (bao gồm cả khuyến lâm, khuyến ngư) từ Trung ương tới tỉnh, huyện Các cán bộ tham gia vào khuyến nông nhà nước thường là
Trang 17nhân viên Chính phủ, được Nhà nước trả lương và thực hiện các nhiệm vụ chuyển giao KHCN do Chính phủ yêu cầu
Các viện nghiên cứu thường xây dựng các trung tâm nghiên cứu - Thực nghiệm vùng hay các tiểu vùng để khu vực hóa các KHCN sau đó hợp tác với nông dân để thực nghiệm trước khi triển khai đại trà Vì thế, các viện, các trường có hệ thống tới các địa phương để họ triển khai các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao các kết quả nghiên cứu đã được khẳng định tới nông dân
Các hợp tác phát triển (quốc tế và phi chính phủ) thực hiện chuyển giao KHCN thông qua triển khai các dự án phát triển nông nghiệp và nông thôn Tùy theo quy mô và phạm vi của dự án, các tổ chức phát triển này có thể tổ chức chuyển giao theo hệ thống tổ chức của dự án như các hợp phần khuyến nông, phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp riêng biệt Các cán bộ tham gia vào chuyển giao này thường được các chương trình dự án trả công, thực hiện các hoạt động chuyển giao của chương trình
Các tổ chức xã hội như Hội Phụ nữ, nông dân, hội nghề nghiệp cũng tham gia vào chuyển giao Các tổ chức này thường kết hợp với cơ quan khuyến nông, các viện, các trường thực hiện chuyển giao Vai trò của các tổ chức này là tiếp thu KHCN, vận động và tổ chức các thành viên trong cộng
đồng tham gia vào quá trình chuyển giao như thực hiện các hoạt động về chương trình dự án Những tổ chức này coi việc chuyển giao KHCN là việc làm lồng ghép với các hoạt động khác của họ
Cộng đồng ở nhiều cấp như xã, làng, thôn, xóm cũng là những tổ chức xã hội trong chuyển giao Nông dân được tổ chức lại theo các nhóm xã hội như nhóm cùng sở thích, tổ khuyến nông, nhóm liên gia, để giúp nhau
áp dụng các KHCN vào sản xuất và đời sống Trong cộng đồng có những nông dân tham gia chuyển giao được gọi là khuyến nông tự nguyện
1.5 Người hưởng lợi trong chuyển giao KHCN trong nông nghiệp
và nông thôn
Theo quan điểm truyền thống, người hưởng lợi trong chuyển giao là nông dân nói chung - những người trực tiếp áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mà các cơ quan chuyển giao mang lại Trong điều kiện đảm bảo sự phát triển bền vững, thị trường khoa học và công nghệ phát triển, quan niệm về người hưởng lợi trong chuyển giao được hiểu với nghĩa rộng hơn, sâu sắc hơn
Trang 18Người hưởng lợi trong chuyển giao KHCN trước hết là nông dân tiếp đến các cơ quan nghiên cứu và khuyến nông, khuyến lâm, các tổ chức phát triển, các cá nhân và các doanh nghiệp
Nông dân là người hưởng lợi trực tiếp các kết quả KHCN được chuyển giao Họ là người tiếp thu, ứng dụng các thành quả chuyển giao trong sản xuất và đời sống của họ Tuy nhiên, nông dân rất khác nhau về hoàn cảnh kinh tế, trình độ, đặc điểm văn hoá, xã hội và do đó rất khnh về ứng xử khi tiếp thu cái mới Trong nông dân, có nông dân tiến bộ, nông dân nghèo và trung bình, có nông dân thuộc dân tộc đa số và thiểu số, có nông dân ở đồng bằng, gần đô thị, có nông dân ở vùng sâu, vùng xa, xa đô thị Vì thế, tùy theo phạm vi và mục tiêu của chương trình chuyển giao KHCN, người hưởng lợi trong chuyển giao được chia ra thành các nhóm mục tiêu cụ thể (nông dân nghèo, phụ nữ nghèo, dân tộc thiểu số, nông dân vùng sâu) Trong điều kiện hiện nay, nhóm mục tiêu trong chuyển giao KHCN của các khuyến nông, các tổ chức phát triển như Ngân hàng Thế giới, Quỹ quốc tế
về phát triển nông nghiệp, Ngân hàng phát triển châu á, các tổ chức chính phủ như SIDA, CIDA, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, các nhóm mục tiêu như đã nói trên được coi là đối tượng hưởng lợi trọng tâm
Bên cạnh nhóm nhận kết quả chuyển giao KHCN là nông dân, nhóm hưởng lợi trong chuyển giao còn bao gồm các tổ chức, các cá nhân tham gia thực hiện chuyển giao KHCN Đó là các cơ quan nghiên cứu và khuyến nông, khuyến lâm, các tổ chức phát triển, các cá nhân và các doanh nghiệp Các cơ quan nghiên cứu là người hưởng lợi vì kết quả nghiên cứu của họ
được nông dân, thị trường chấp nhận Các cơ quan khuyến nông nhà nước là người được lợi từ chương trình chuyển giao vì họ thực hiện được chức năng quản lý nhà nước về khuyến nông, chuyển giao được KHCN tới nông dân,
do đó tăng cao được thu nhập Các tổ chức phát triển, các chương trình dự
án cũng là người được lợi trong chuyển giao vì họ đạt được các mục tiêu trong các chương trình phát triển như giúp nông dân, những người nghèo, các dân tộc thiểu số, cải thiện được cuộc sống của họ thông qua áp dụng các KHCN được chuyển giao Các cá nhân, các doanh nghiệp được lợi trong chuyển giao KHCN vì họ thực hiện được các hoạt động marketing các sản phẩm dịch vụ họ mang tới cho nông dân, đáp ứng nhu cầu của thị trường
Trang 191.6 Phương thức chuyển giao KHCN tới nông dân
Phương thức chuyển giao là nhận thức và cách thức tiến hành chuyển giao KHCN tới nông dân Phương thức chuyển giao kỹ thuật tiến bộ bao gồm phương thức tiếp cận trong chuyển giao và phương pháp chuyển giao
1.6.1 Các phương thức tiếp cận
Quá trình phát triển nông nghiệp của các nước phát triển và đang phát triển đã phản ánh quá trình tiến hóa của các phương thức chuyển giao KHCN trong nông nghiệp Theo Frank Ellis, quá trình chuyển giao KHCN trên thế giới trải qua các phương thức tiếp cận khác nhau: Chuyển giao công nghệ (Transfer of Technology - TOT), chuyển giao nghiên cứu ứng dụng (Adoptive Technology Tranfer - ATT), Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp (Farming System Research - FSR)
Theo thời gian, các phương thức tiếp cận trong chuyển giao ngày một hoàn thiện Vào những năm cuối của thế kỷ 20, đã xuất hiện phương pháp tiếp cận mới trong chuyển giao "nghiên cứu có sự tham gia của nông dân" (Famer Partipatory Research - FPR)
Theo nguồn của việc chuyển giao công nghệ, người ta có thể chia ra thành ba nhóm tiếp cận khác nhau:
Phương thức chuyển giao từ trên xuống có đặc trưng là kỹ thuật nông nghiệp được chuyển giao từ bên ngoài (các cơ quan nghiên cứu và khuyến nông) Phương thức này có nhược điểm là kỹ thuật chuyển giao thường không phù hợp, không góp phần giải quyết triệt để các vấn đề của nông dân
Phương thức tiếp cận từ dưới lên coi nhu cầu của dân và giải quyết các vấn đề của nông trại là hệ thống là điểm xuất phát của nghiên cứu chuyển giao Tuy nhiên, do từ dưới lên, các vấn đề thường phức tạp và không được giải quyết một cách triệt để
Phương thức chuyển giao có sự tham gia của dân là phương thức cả nông dân và các cán bộ chuyển giao chủ đông giải quyết các vấn đề của chính nông dân Chúng ta hãy xem xét đặc trưng của từng phương thức chuyển giao nói trên
Chuyển giao công nghệ (TOT)
Phương thức tiếp cận này rất phổ biến trên thế giới trong nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp ở thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ 20 Theo
Trang 20phương thức này, việc tạo ra và lan truyền các tiến bộ kỹ thuật là một quá trình đường thẳng từ những viện nghiên cứu tới trung tâm khuyến nông và cuối cùng tới nông dân Đến nay, phương thức này vẫn còn khá phổ biến trong chu trình nghiên cứu nông nghiệp ở các nước Các nhà khoa học dựa vào các trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm phát triển công nghệ nông nghiệp và công nghệ đó được chuyển tới các trung tâm khuyến nông để truyền bá trong nông dân Theo phương thức tiếp cận này, người làm công tác chuyển giao KHCN có những quan niệm là: i) hiện đại nhất là tốt nhất; ii) công nghệ trong nông nghiệp có khả năng chuyển giao toàn cầu không tính
đến các điều kiện sinh thái địa phương; iii) nông dân ở những nước nghèo còn lạc hậu họ cần phải áp dụng một cách nhanh chóng các kỹ thuật để trở thành nông dân hiện đại Những người áp dụng phương thức này cho là luôn tồn tại kỹ thuật nông nghiệp phù hợp để nông dân ở các nước nghèo ứng dụng Tuy nhiên, cách nhìn này có thể có sai lầm bởi nông dân sản xuất nhỏ khó có khả năng tiếp thu được những công nghệ hiện đại Chỉ có nông dân giàu, sản xuất quy mô lớn, mới có thể tiếp cận và được lợi từ phương thức này
Phương thức chuyển giao TOT xác định nông dân là người nhận công nghệ một cách thụ động Nếu nông dân làm theo công nghệ, người nông dân
đó sẽ là nông dân tiến bộ Phong tục, tập quán, sự bảo thủ, yếu tố tâm lý và xã hội là những nguyên nhân cơ bản lý giải sự thất bại của các chương trình chuyển giao khoa học công nghệ nông nghiệp, trong thời gian trước đây Những điều kiện ở các trung tâm nghiên cứu, các trạm thực nghiệm không thể phản ánh được những điều kiện đồng ruộng thực tế của nông dân, không thể tính đầy đủ sự khác nhau về nguồn lực, lao động, đất đai và thị trường
Phương thức chuyển giao công nghệ ứng dụng (ATT)
Phương thức này còn được gọi là mô hình chuyển giao công nghệ cải biên Phương thức này khác với TOT ở chỗ tính địa phương của công nghệ
được nhận diện, đặc điểm của nông dân cũng được chú ý tới Trong chuyển giao công nghệ, người ta đã chú ý tới điều kiện địa phương, các vấn đề kinh
tế và xã hội để nông dân tiếp thu công nghệ mới Phương thức này khá phổ biến những giai đoạn thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ 20 Đặc trưng nhất của phương thức chuyển giao này là hệ thống đào tạo và gặp gỡ nông dân (viết tắt
Trang 21là hệ thống TV) Khuyến nông có vai trò lớn trong chuyển giao kỹ thuật mới
đến nông dân Kỹ thuật mới đưa tới nông dân một cách chủ động thông qua
đào tạo, tập huấn Nông dân sau khi được tập huấn thì làm theo Cán bộ khuyến nông gặp gỡ nông dân để tư vấn cho họ các vấn đề cụ thể sau tập huấn Nhờ đó, phương pháp này đã giúp nông dân giải quyết các vấn đề khá như đầu vào, phân bón và tín dụng Phương thức này phát huy tác dụng trong giai đoạn cách mạng xanh thập kỷ 70 Nhiều nông dân trên thế giới đã áp dụng thành công giống mới về mỳ, lúa tạo ra sự phát triển đáng kể về năng suất Tuy nhiên, những nông dân nghèo vẫn không được hưởng các thành quả chuyển giao này Theo phương thức này, thông tin phản hồi của nông dân tới các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp chủ yếu qua hệ thống khuyến nông Thông tin từ các viện nghiên cứu không trực tiếp tới nông dân mà qua hệ thống khuyến nông Vì thế, công nghệ được phát triển ở các viện nghiên cứu vẫn chưa phù hợp với điều kiện cụ thể của nông dân Các công nghệ được xây dựng hoàn toàn trong các điều kiện lý tưởng (ruộng đất tốt, được tưới, tiêu
đầy đủ)
Hệ thống TV không đáp ứng được nhu cầu của nông dân có tài nguyên nghèo bởi những lý do sau: i) Hệ thống TV được tạo ra chỉ để truyền bá các khuyến cáo kỹ thuật Mặc dù vậy, nông dân không nhận rõ được khó khăn của họ là do thiếu công nghệ Công nghệ nông nghiệp chỉ là một yếu tố cấu thành cần phải để ý khi giải quyết các vấn đề phức tạp của nông dân Hệ thống TV không được trang bị để giải quyết các phương diện khác ngoài vấn
đề kỹ thuật; ii) Các khuyến cáo khuyến nông thường đòi hỏi các đầu vào phải mua từ thị trường (phân khoáng, thuốc kích thích), đồng ruộng phải được tưới Trong khi đó, nông dân sản xuất nhỏ, thường không có các đầu vào đó
và thường thiếu vốn nên không có khả năng tiếp cận đủ các đầu vào theo yêu cầu của quy trình kỹ thuật; iii) Việc đào tạo một cách hệ thống các cán bộ khuyến nông theo hệ thống TV không thể thực hiện tốt vì hầu hết các cơ quan khuyến nông thiếu nguồn vật chất và nhân lực cho các hoạt động tập huấn; iv) Nông dân không được nhận thông tin về kỹ thuật một cách đầy đủ
và kịp thời do họ thường không được mời để tham dự các buổi tập huấn vì các cơ quan khuyến nông thường thiếu các phương tiện vận chuyển và nhiên liệu; v) Các cán bộ khuyến nông trình diễn kỹ thuật tiến bộ cho những nông
Trang 22dân nòng cốt để những người này truyền bá các kỹ thuật đó cho các nông dân khác Nhưng những nông dân nòng cốt phần lớn là những nông dân có kinh
tế khá, sản xuất quy mô lớn nên ít có liên hệ tới những nông dân sản xuất nhỏ Do đó, thông tin về kỹ thuật tiến bộ không được chuyển tới nông dân sản xuất nhỏ và nghèo Vì thế, công nghệ được truyền bá chủ yếu là công nghệ phục vụ nhu cầu của nông dân sản xuất lớn hơn là những nông dân có tài nguyên nghèo; vi) Những công nghệ đưa ra sản xuất không được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế do thiếu các cán bộ nghiên cứu tham gia ở giai đoạn tập huấn, chuyển giao và các cán bộ khuyến nông thiếu năng lực điều chỉnh các kỹ thuật đó; vii) những phản hồi từ nông dân tới cán bộ khuyến nông và cán bộ nghiên cứu không được đầy đủ vì thiếu các kênh phản hồi phù hợp; viii) Về lý thuyết, hệ thống TV đã có sự tham gia của dân Nhưng chỉ có nhu cầu nông dân sản xuất quy mô lớn có sự tham gia Sự tham gia đó mang tính thụ động hơn là chủ động
Từ những lý do trên, phương pháp tiếp cận chuyển giao công nghệ ứng dụng chưa mang lại hiệu quả cao, không góp phần giải quyết các vấn đề của nông dân sản xuất nhỏ Với những nông dân sản xuất nhỏ, có tài nguyên nghèo, sản xuất trong những điều kiện sinh thái nông nghiệp hết sức đa dạng, với hệ thống cây trồng vật nuôi phức tạp, thiếu thị trường đầu vào thì hệ thống trên là không phù hợp
Hệ thống nghiên cứu nông nghiệp (Farming System Research - FRS)
Mẫu hình của nghiên cứu và phát triển nông nghiệp trong thập kỷ 70 của thế kỷ 20 tập trung giải quyết các vấn đề nông dân sản xuất nhỏ, nông dân nghèo bằng cách: i) Nhận thức rằng nông dân nghèo có kiến thức quý báu phải được kết hợp trong quá trình nghiên cứu; ii) Nghiên cứu kiến thức bản địa cũng là một bộ phận cấu thành của quá trình phát triển công nghệ mới Vì thế vào nửa cuối thập kỷ 70, phương pháp tiếp cận hệ thống nghiên cứu nông nghiệp được phát triển nhằm mang lại lợi ích cho nông dân nghèo, sản xuất nhỏ Phương pháp tiếp cận hệ thống nghiên cứu nông nghiệp là quá trình nghiên cứu: i) tập trung vào mối quan hệ phụ thuộc qua lại giữa các yếu
tố hợp thành của hệ thống nông trại và giữa nông trại với các yếu tố kinh tế, xã hội bên ngoài; ii) tập trung vào làm tăng hiệu quả của hệ thống nông
Trang 23nghiệp thông qua nghiên cứu nông nghiệp nhằm thúc đẩy việc sáng tạo và kiểm nghiệm các công nghệ được hoàn thiện
Yêu cầu của phương pháp tiếp cận hệ thống nghiên cứu nông nghiệp là phải hiểu được tình hình ở vùng nghiên cứu, đặc điểm của nông dân và biết huy động sự tham gia của dân trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên, FRS không đạt được mục tiêu của nó do việc thực hiện quá trình này bị hạn chế vì những lý do sau: i) Nông dân không trở thành người tham gia có hiệu quả trong quá trình nghiên cứu vì cán bộ nghiên cứu vẫn có cách tiếp cận chuyển giao như cũ; ii) Các cán bộ nghiên cứu gặp khó khăn trong làm việc theo nhóm đa ngành; iii) Do coi nông trại là hệ thống nên phải lấy nhiều loại số liệu khác nhau cho nghiên cứu Do đó quá nhiều số liệu, phức tạp trong xử lý; iv) Phần lớn các chương trình dự án theo phương pháp này vẫn tiếp tục không tập trung vào dân nghèo; v) Các cán bộ nghiên cứu gặp khó khăn trong giao tiếp và trao đổi với nông dân và học hỏi từ nông dân Như vậy, không có sự liên hệ chặt chẽ giữa cán bộ nghiên cứu và nông dân là một trong những nhược điểm của phương pháp tiếp cận trên Chính vì lẽ đó, ở các nước đang phát triển lại chuyển sang phương pháp tiếp cận mới Nghiên cứu có sự tham gia của nông dân
Nghiên cứu có sự tham gia của nông dân (Famer Participatorry Research - FPR)
FPR còn được gọi dưới nhiều tên khác nhau như: Nông dân dựa vào nghiên cứu nông dân (Farmer back to Farmer research), nông dân là điểm
đầu tiên và cuối cùng của nghiên cứu và phát triển công nghệ có sự tham gia (Partcipatory Technology Development) Đây là phương pháp tiếp cận trong
đó nghiên cứu được xuất phát từ nông dân, do nông dân đặt kế hoạch và thực hiện FPR có các đặc điểm sau:
- Đặc trưng cơ bản của cách tiếp cận này là thu hút sự tham gia của nông dân vào phát triển công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng và vật nuôi FPR tập trung vào nhận dạng, phát triển hay ứng dụng và
sử dụng công nghệ phù hợp với nhu cầu của nông dân sản xuất nhỏ, nông dân nghèo
- Nông dân tham gia một cách tích cực trong toàn bộ quá trình nghiên cứu
Trang 24- Quá trình nghiên cứu được tiến hành trên ruộng của nông dân
- Cán bộ nghiên cứu là người khám phá, người bạn và là cố vấn của nông dân
- FPR được dựa trên cách tiếp cận hệ thống
- FPR yêu cầu sự hợp tác đa ngành giữa nông dân và cán bộ nghiên cứu
- FPR khuyến khích phương pháp sáng tạo và linh hoạt
FPR được thực hiện với những giả định sau: i) nông dân có những kiến thức bản địa về hệ thống nông nghiệp và môi trường của hệ thống đó; ii) nông dân thực nghiệm và những thực nghiệm đó phải được dùng và thúc đẩy cho sự phát triển công nghệ
FPR không phủ định các phương pháp tiếp cận nghiên cứu truyền thống của các cơ quan nghiên cứu mà trái lại có mối quan hệ rất chặt chẽ với cách tiếp cận truyền thống đó
PFR được tiến hành theo các bước sau đây:
Phương pháp tiếp xúc nhóm: Các cán bộ chuyển giao KHCN cho nhóm nông dân: qua họp nhóm, trao đổi hội nghị đầu bờ, hội thảo, qua tập huấn, làm điểm trình diễn và tham quan Phương pháp này giúp nhiều nông dân nắm được phương pháp và hệ thống, có hiệu quả hơn phương pháp cá nhân
Phương pháp tư vấn cá nhân là phương pháp cán bộ chuyển giao thăm
và gặp gỡ nông dân, trao đổi với nông dân qua thư và điện thoại Phương pháp này giúp các cán bộ chuyển giao giải quyết các vấn đề mang tính cá
Trang 25biệt cao cho từng nông dân, nên hiệu quả chuyển giao khá tốt Tuy nhiên, do thiếu cán bộ chuyển giao, nên không thể tiếp xúc hết cộng đồng nông dân Một số cán bộ chuyển giao hay tiếp xúc với nông dân giàu, có điều kiện thuận lợi, dễ bỏ qua nông dân nghèo, ở vùng sâu, vùng xa
Phương pháp thông tin đại chúng: việc chuyển giao KHCN mang tính quảng đại qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo, ti vi, video Phương pháp này có ưu điểm là truyền thông tin tới số lớn nông dân Nhưng, phương pháp này không giải quyết các vấn đề mang tính cá biệt
1.6.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác chuyển giao KHCN trong nông nghiệp
Có thể nhận rõ các nhóm nhân tố cơ bản sau dây quan hệ tới sự thành công của công tác chuyển giao
Nhân tố thứ nhất là chính sách của Chính phủ: Chính sách của Chính
phủ tác động lớn đến hình thành hệ thống, phương thức và kết quả, hiệu quả chuyển giao Chính sách của Chính phủ về phát triển nông nghiệp và nông thôn, về công tác khuyến nông và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp Các công cụ chính sách cho chuyển giao bao gồm chính sách đầu tư cho khuyến nông và chuyển giao, chính sách cán bộ nhất là cán bộ khuyến nông, chính sách trợ giá đầu vào (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, cải tạo đất, thủy lợi) để nông dân tiếp thu được kỹ thuật mới Chính sách phát triển nguồn nhân lực cho các địa phương và cộng đồng Xu hướng chung là chính sách cho chuyển giao KHCN nhằm phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, nội lực của cộng đồng, kết hợp sự hỗ trợ hợp
lý ở bên ngoài cộng đồng (các cơ quan Chính phủ, khuyến nông, cơ quan phát triển) Những năm đầu của thế kỷ 21, các nước đều thực hiện chính sách phi tập trung hóa trong chuyển giao, nhằm phát huy quyền chủ động hơn của nông dân và cộng đồng trong chuyển giao
Thứ hai là năng lực (chất lượng) của cán bộ, tổ chức chuyển giao KHCN: Năng lực của cán bộ, tổ chức chuyển giao KHCN bao gồm hệ thống
tổ chức các cơ quan, tổ chức chuyển giao, năng lực của cán bộ tham gia chuyển giao KHCN, phương pháp chuyển giao, khả năng tài chính và kỹ thuật của các cơ quan chuyển giao Hệ thống tổ chức cơ quan chuyển giao càng được tổ chức phù hợp với tập quán văn hoá xã hội của cộng đồng bao
Trang 26nhiêu thì hiệu quả của chuyển giao càng cao bấy nhiêu Kiến thức và sự hiểu biết của cán bộ về kỹ thuật tiến bộ mà họ chuyển giao cho nông dân, khả năng am hiểu nông dân, khả năng phân tích vấn đề và cùng nông dân xây dựng giải pháp, sự vận dụng có hiệu quả các phương pháp và khả năng vận
động quần chúng quyết định rất lớn tới sự thành công của công tác chuyển giao KHCN
Thứ ba là công tác kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa công tác chuyển giao
KHCN bao gồm việc xác định đúng nhu cầu của nông dân cần giải quyết, xác
định các giải pháp phù hợp với người dân, tổ chức tốt nguồn lực để thực hiện,
đánh giá, rà soát và hoàn thiện quy trình kỹ thuật và công nghệ có ảnh hưởng tới sự thành công của công tác chuyển giao KHCN tới nông dân Xu hướng chung là các nước đang phát triển, áp dụng phương pháp có sự tham gia của dân vào các hoạt động chuyển giao
Thứ tư là bản chất của kỹ thuật chuyển giao tới nông dân: Nếu kỹ
thuật chuyển giao giúp nông dân giải quyết được khó khăn của họ, phù hợp với nhu cầu của dân và của thị trường, phù hợp với khả năng đầu tư, trình độ
sử dụng của nông dân thì công tác chuyển giao sẽ thành công hơn Xu hướng chung, ở các nước đang phát triển là kỹ thuật chuyển giao nên là kỹ thuật đơn giản, tốn ít đầu tư, phù hợp với điều kiện sản xuất của nông dân (đất dốc, canh tác nhờ nước trời, ít phân bón)
Thứ năm là các nhân tố thuộc về nông dân: Các nhân tố này bao gồm
khả năng về vốn đầu tư, kỹ năng và kiến thức của nông dân, hình thức tổ chức sản xuất (quy mô lớn), trình độ văn hoá, giới tính, lứa tuổi, kinh nghiệm
và sự tiếp xúc xã hội (tham gia các tổ chức xã hội như Câu lạc bộ khuyến nông, các nhóm sở thích ) Các nhân tố trên có ảnh hưởng lớn tới sự tiếp thu
kỹ thuật của nông dân và quan hệ đến sự thành công của công tác chuyển giao Khả năng giao tiếp và cộng đồng của nông dân như sự tiếp xúc với cán
bộ khuyến nông, tiếp cận các nguồn thông tin đại chúng, với hàng xóm và bạn bè cũng là những nhân tố ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả của công tác chuyển giao
Thứ sáu là đặc điểm cộng đồng mà kỹ thuật tiến bộ được chuyển giao tới: Cấu trúc làng, xã, họ tộc, phân bố dân cư địa lý và làng xã, sự gần các
Trang 27đường giao thông và thị trường cũng ảnh hưởng lớn tới kết quả của quá trình chuyển giao KHCN tới nông dân
2 Chủ trương, chính sách chuyển giao KHCN vào nông nghiệp vùng dân tộc và miền núi
(1) Mục tiêu của chính sách
Mục tiêu cơ bản của chính sách chuyển giao KHCN là nhằm chuyển giao nhanh và có hiệu quả việc áp dụng KHCN trong nông nghiệp và nông thôn, nhằm tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, tăng sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa, phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(2) Công cụ chính sách
Các công cụ của chính sách trong chuyển giao bao gồm các nhóm các công cụ thông qua cơ chế giá và không thông qua cơ chế giá Chính phủ thúc
đẩy sự chuyển giao KHCN tới nông dân thông qua các cơ chế giá như trợ giá
đầu vào cho nông dân (trợ giá giống, trợ giá phân, thuốc bảo vệ thực vật) Việc trợ giá này thường được áp dụng ở các vùng khó khăn, những vùng đồng bào dân tộc Việc trợ giá đầu vào có tác dụng giúp cho nông dân tiếp thu được KHCN Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy, chỉ nên trợ giá ở giai đoạn đầu của thời kỳ phổ biến kỹ thuật Mặt khác, Chính phủ có thể giảm thuế, để khuyến khích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
Hiện nay, theo cơ chế mới, Chính phủ dùng các công cụ thông qua cơ chế giá như đầu tư vào xây dựng các mô hình khuyến nông, các điểm trình diễn, tập huấn, truyền thông để truyền bá kiến thức, xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển sản xuất Bên cạnh đó, Chính phủ tăng cường công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ của khoa học kỹ thuật, có cơ chế khuyến khích các nhà khoa học ứng dụng KHKT trong nông nghiệp và nông thôn Chính phủ coi đây là hướng cơ
Trang 28bản trong chính sách thúc đẩy và chuyển giao KHCN tới nông dân Chính sách này phù hợp với thông lệ quốc tế trong tiến trình hội nhập
(3) Thực trạng chính sách chuyển giao KHCN ở nước ta
Cho đến nay, hầu như không có chính sách riêng cho công tác chuyển giao KHCN trong nông nghiệp và nông thôn Phần lớn các nội dung chính sách được lồng ghép với các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ về phát triển nông nghiệp và nông thôn như: Chỉ thị 63-CT/TƯ của Bộ Chính trị ngày 28/2/ 2001 về Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng KHCN phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; Nghị quyết 13/CP của Chính phủ
về công tác khuyến nông; Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135) v.v Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 9 đã ra Nghị quyết số 15-NQ/TƯ ngày 18/3/2002 về Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 Trong đó, nghị quyết đã nhấn mạnh:
"Đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ cho
sản xuất, coi đây là khâu đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, thực hiện xã hội hóa để mở rộng hệ thống khuyến nông cơ sở"
Có thể tóm tắt một số nội dung cơ bản của các chính sách chuyển giao KHCN như sau:
a Hình thành hệ thống chuyển giao KHCN: Hệ thống này có sự tham gia của khuyến nông nhà nước, các Viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, nông dân và cộng đồng Hệ thống này được phát triển một cách đồng bộ, phù hợp với hoàn cảnh xã hội của mỗi địa phương, để phục vụ tốt công tác chuyển giao Chính phủ chủ trương thành lập tất cả các huyện đều có trạm khuyến nông Phân công nhiệm vụ triển khai các hoạt động khuyến nông cho trạm khuyến nông huyện; phân công các Viện khoa học phụ trách công tác nghiên cứu và triển khai ở các vùng như: Đồng bằng Sông Hồng: Viện cây Lương thực thực phẩm và Đại học Nông nghiệp I; vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Viện Lúa
ĐBSCL; Vùng miền núi và trung du phía Bắc: Viện KHKT Việt Nam; Vùng
Đông Nam Bộ: Viện Khoa học Nông lâm nghiệp Tây Nguyên; Vùng Duyên hải miền Nam Trung bộ: Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và Đại học Nông lâm Huế; Vùng Bắc trung bộ: Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Trang 29b Hỗ trợ kinh phí và miễn giảm thuế trong chuyển giao KHCN: Chỉ thị 63/CT-TƯ nêu rõ: "Đối với nông dân, hộ nông dân và trang trại, doanh nghiệp
được hỗ trợ kinh phí hoặc trợ giá một phần cho việc đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, không điều tiết thuế thu nhập trong những năm đầu đối với nguồn thu do ứng dụng thành công tiến bộ kỹ thuật, miễn giảm thuế cho các hoạt động ứng dụng khoa học kỹ thuật Cung cấp tín dụng với lãi suất thấp để nông dân có điều kiện ứng dụng khoa học kỹ thuật
c Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nhân lực: Chỉ thị 63-CT/TƯ chỉ rõ nhà nước tăng cường bồi dưỡng các chủ thể trong nông nghiệp (các hộ, các doanh nghiệp, cá nhân) được bồi dưỡng miễn phí từng phần hay toàn phần khi triển khai ứng dụng KHCN vào nông nghiệp
d Chính sách với cán bộ chuyển giao: Đối với các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu và chuyển giao KHCN vào nông nghiệp và nông thôn, nhà nước có cơ chế nâng cao trách nhiệm, khuyến khích lợi ích thỏa đáng, thực hiện quyền sở hữu trí tuệ, quyền công bố, chuyển giao chuyển nhượng kết quả nghiên cứu theo quy định của pháp luật Tạo điều kiện ưu đãi cho cán bộ chuyển giao ở cơ sở
e Xây dựng các chương trình chuyển giao: Trước đây Bộ Nông nghiệp
và PTNT đã thực hiện 27 chương trình (19 chương trình khuyến nông và 8 chương trình khuyến lâm) Những năm gần đây, công tác khuyến nông tập trung vào 13 chương trình Đến nay, do yêu cầu của sự phát triển, Chính phủ chỉ đạo tập trung vào 9 chương trình trọng điểm sau đây: 1) Chương trình khuyến nông vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người; 2) Chương trình khuyến nông khuyến khích sản xuất hàng hóa lợi thế xuất khẩu; 3) Chương trình khuyến nông khuyến khích hàng hóa thay thế nhập khẩu; 4) Chương trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ cao; 5) Chương trình khuyến nông bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, phát triển nông nghiệp bền vững; 6) Chương trình khuyến nông về thông tin, huấn luyện, tăng cường năng lực hoạt động khuyến nông cơ sở; 8) Chương trình khuyến nông xây dựng mô hình kinh tế hợp tác và 9) Chương trình khuyến nông về thị trường và xúc tiến thương mại
Trang 30f Xây dựng quỹ khuyến nông cơ sở: Quỹ khuyến nông cơ sở do dân
số chính sách quan trọng như sau:
Nghị quyết 22/NQ-TW, Quyết định 72/HĐBT
Ngay từ khi nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, trong đó có chính sách chuyển giao khoa học và công nghệ nhằm phát triển kinh tế – xã hội và xoá
đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc
Trong Nghị quyết 22/NQ-TW ngày 27 tháng 11 năm 1989, của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế – xã hội miền núi đã nêu các chủ trương, chính sách lớn như sau:
“4 Đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào miền núi
Cần chú trọng việc nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và chế biến chế biến nông, lâm sản, nhất là đối với các cây trồng, vật nuôi đang là thế mạnh của từng vùng
Dựa vào các trung tâm hiện có về chăn nuôi và trồng trọt ở miền núi xúc tiến việc tổ chức các dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất, tạo giống mới hoặc thuần hoá các loại giống nhập từ bên ngoài có ưu thế, cung cấp đủ giống cho trồng trọt và chăn nuôi, chống sâu bệnh cho cây trồng và dịch bệnh cho vật nuôi, ứng dụng các công nghệ mới chế biến nông sản, lâm sản,v.v đồng thời chú trọng việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ các cơ sở khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các cơ sở công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến lương thực thực phẩm
Các ngành kinh tế – kỹ thuật cần xây dựng một số trung tâm nghiên cứu khoa học – kỹ thuật phù hợp với đặc điểm của từng vùng (Tây Bắc, Đông Bắc,
Trang 31Tây Nguyên,.v.v ) và đáp ứng các yêu cầu thiết thực của địa phương, với cơ cấu gọn nhẹ và phương pháp làm việc linh hoạt, gắn liền nghiên cứu với chỉ
đạo đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Đồng thời các cơ sở khoa học – kỹ thuật của trung ương cần tăng cường và xúc tiến nhanh các đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật phục vụ miền núi
Cần hết sức chú trọng việc đào tạo cán bộ kỹ thuật cho miền núi, gắn liền công tác đào tạo cán bộ với việc nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật công nghệ mới ”
Trong Quyết định số 72/HĐBT ngày 13 tháng 3 năm 1990 của Hội đồng
Bộ trưởng về một số chính sách cụ thể về phát triển kinh tế – xã hội miền núi
đã nêu các nội dung:
“Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước cùng các ngành tiến hành rà soát lại toàn bộ hệ thống các cơ sở trạm, trại, trung tâm nghiên cứu, thực nghiệm khoa học kỹ thuật ở miền núi, để có qui hoạch, kế hoạch củng cố, tăng cường các cơ sở này, xây dựng mới cho các năm sau
Trước mắt các hoạt động nghiên cứu, thực nghiệm phải gắn với sản xuất
ở mỗi vùng, nhằm đưa nhanh vào sản xuất các tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật thâm canh, kỹ thuật canh tác trên đất dốc, phương thức nông lâm kết hợp và kỹ thuật tưới, tiêu nước, bảo vệ thực vật, thú y và các công nghệ mới về chế biến nông lâm sản
Khuyến khích các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học và các trường
đại học, các trường đào tạo cán bộ, cá nhân các nhà khoa học, nghệ nhân lên miền núi nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới trên cơ sở hợp đồng kinh tế hai bên cùng có lợi
Xây dựng và thực hiện các chương trình tiến bộ kỹ thuật đồng bộ thúc
đẩy phát triển kinh tế – xã hội miền núi ”
Đây là những chủ trương, chính sách quan trọng mở đầu cho giai đoạn các bộ, ngành tiến hành các hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc và miền núi Kể từ khi có Nghị quyết 22/NQ-TW và Quyết định 72/HĐBT, Bộ Khoa học và Công nghệ đã trình Thủ tướng Chính phủ nhiều chính sách, chương trình, dự án ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ, xây dựng các mô hình phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nông thôn miền núi
Trang 32Chương trình nông thôn miền núi
Từ năm 1994 đến nay Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định
thực hiện Chương trình “Xây dựng các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nông thôn miền núi”, gọi tắt là
Chương trình nông thôn miền núi
Mục tiêu của Chương trình là:
- Xây dựng mô hình trình diễn về ứng dụng khoa học và công nghệ và chuyển giao kỹ thuật tiến bộ vào nông nghiệp và nông thôn, tạo mẫu hình ứng dụng công nghệ tiên tiến vào thực tiễn để từ đó nhân rộng vào sản xuất và đời sống
- Phối hợp với các chương trình mục tiêu khác làm tăng hiệu quả của
đầu tư để xây dựng và phát triển nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tạo thêm ngành nghề mới, giải quyết việc làm, tăng năng xuất cây trồng vật nuôI, tăng hiệu quả kinh tế tổng hợp trên đơn vị diện tích, tạo sản phẩm mới và thị trường tiêu thụ
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý và kỹ thuật cho cán bộ cơ sở và nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất cho nông dân trên địa bàn dự án
để đủ sức tiếp nhận, duy trì và phát triển công nghệ được chuyển giao
- Tổng kết thực tiễn cách chuyển giao công nghệ vào sản xuất nông nghiệp – nông thôn, để đề xuất các chính sách, biện pháp nhằm từng bước hoàn thiện qui chế chương trình
Nội dung chương trình:
- áp dụng đồng bộ các kỹ thuật tiến bộ để nâng cao năng xuất, chất lượng, sản lượng cây trồng vật nuôi trên địa bàn thực hiện dự án (cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản,v.v…)
- áp dụng công nghệ mới để tạo ngành nghề mới, tạo thêm việc làm, tăng chất lượng các sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (nghề trồng nấm, trồng hoa, nuôi tôm, cá,…)
- áp dụng cá công nghệ mới, công nghệ truyền thống được cải tiến, các
kỹ thuật tiến bộ để xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp qui mô vừa và nhỏ ở nông thôn, chú ý đến công nghiệp chế biến nông sản, thức ăn gia súc
Trang 33- Xử lý ô nhiễm môi trường, giải quyết nước sạch sinh hoạt và vệ sinh nông thôn, các giải pháp khoa học công nghệ, để khai thác sử dụng các dạng năng lượng gió, mặt trời, khí sinh vật,
- áp dụng các biện pháp khoa học và công nghệ để khai thác hợp lý, có hiệu quả các vùng đất trống đồi núi trọc, các vùng đất hoang hoá, vùng đất mới, hình thành công nghiệp trang trại bằng các biện pháp khoa học và công nghệ
Đến nay có khá nhiều chính sách đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào vùng nông thôn vùng dân tộc và miền núi, có thể nêu tóm tắt các nội dung chính như sau:
(1) Tăng cường đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và chuyển giao KHCN trong nông nghiệp ở vùng dân tộc và miền núi Tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu
và chuyển giao ở các tỉnh chiếm từ 0,4 - 0,5% tổng chi ngân sách Trong đó,
37 - 80% kinh phí được tập trung đầu tư vào nông nghiệp Về nội dung, phần lớn các chương trình chuyển giao tập trung cho lĩnh vực trồng trọt, tập trung vào khảo nghiệm giống lúa, cây màu, ứng dụng kỹ thuật thâm canh, quản lý dịch hại, vacxin, phòng bệnh cho gia súc, gia cầm, nhân và phát triển giống cây rừng
(2) Hình thành hệ thống chuyển KHCN ở miền núi: Từ năm 1993, các tỉnh đã dần xây dựng được hệ thống chuyển giao KHCN Hệ thống này có sự tham gia của khuyến nông nhà nước, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp và
hệ thống chuyển giao của cộng đồng Nhà nước chủ trương thành lập trạm khuyến nông ở tất cả các huyện Phân công các viện trợ giúp các tỉnh vùng dân tộc và miền núi trong việc áp dụng các tiến bộ KHCN trong nông nghiệp Chính phủ khuyến khích hình thành cụm khuyến nông xã ở miền núi Đến nay Chính phủ có quyết định thành lập 500 cụm xã ở các tỉnh miền núi, trong đó
có trạm khuyến nông Các tỉnh đang phấn đấu để mỗi xã nhất là các xã thuộc diện 135 có một khuyến nông viên Nhiều nơi như ở Lào Cai, Hà Giang, Sơn
La mỗi xã có từ 1 - 2 cán bộ khuyến nông, chi phụ cấp cho khuyến nông xã
(3) Thực hiện chính sách trợ cước và trợ giá ở vùng dân tộc và miền núi,
để nông dân, nhất là dân nghèo áp dụng KHCN Nhà nước có chính sách trợ cước vận chuyển vật tư, phân bón, hạt giống tới các vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ kinh phí xây dựng mô hình trình diễn về chuyển giao KHCN, miễn giảm thuế
Trang 34cho những cá nhân, doanh nghiệp áp dụng thành công trong chuyển giao KHCN ở vùng dân tộc và miền núi Nhà nước cho phép hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng điểm trình diễn (hiện nay hỗ trợ 60%) Nhiều tỉnh trong vùng đã thực hiện trợ giá giống mới cho nông dân từ 30 - 50% như ở Lạng Sơn, 100% khu vực 3 (diện 135) và 50% ở Lào Cai Với giống vật nuôi, hỗ trợ 100% đại gia súc, lợn đực giống và 50% nái nền (Lào Cai)
(4) Thực hiện các chương trình chuyển giao KHCN ở vùng dân tộc và miền núi: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tập trung vào 9 chương trình trọng điểm sau đây: 1) Chương trình khuyến nông vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người; 2) Chương trình khuyến nông khuyến khích sản xuất hàng hóa lợi thế xuất khẩu; 3) Chương trình khuyến nông khuyến khích hàng hóa thay thế nhập khẩu; 4) Chương trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ cao; 5) Chương trình khuyến nông bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, phát triển nông nghiệp bền vững; 6) Chương trình khuyến nông về thông tin, huấn luyện, tăng cường năng lực hoạt động khuyến nông cơ sở; 8) Chương trình khuyến nông xây dựng mô hình kinh tế hợp tác và 9) Chương trình khuyến nông về thị trường và xúc tiến thương mại Mặt khác Chính phủ thực hiện nhiều chương trình phục vụ định canh, định cư ở vùng dân tộc và miền núi thông qua làm thủy lợi, ruộng bậc thang, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Nhà nước coi công tác chuyển giao KHCN là một trong những nội dung
quan trọng của chương trình 135 nhằm phát triển các xã đặc biệt khó khăn
(5) Tập trung các dự án hợp tác quốc tế, hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao KHCN trong nông nghiệp cho vùng dân tộc và miền núi Nhiều dự án do quốc
tế tài trợ như: Phát triển các dân tộc thiểu số Hà Giang do Quỹ Phát triển Nông nghiệp quốc tế (IFAD) tài trợ; Phát triển nông thôn Cao Bằng và Bắc Kạn do Liên minh châu Âu (EU) tài trợ; Quản lý nguồn lực có sự tham gia của dân (Pha I) và Tăng thu nhập cho nông dân một cách bền vững (Pha II) ở Tuyên Quang do IFAD tài trợ; Chương trình phát triển Lâm nghiệp do Thụy Điển,
Đan Mạch tài trợ tại Bắc Kạn, Yên Bái, Hà Giang, Sơn La Nhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế tiến hành các dự án ở hầu hết các tỉnh vùng dân tộc và miền núi Trong thực hiện các dự án nói trên, việc chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp được coi là một trong những hoạt động quan trọng
Trang 35(6) Phát triển nguồn nhân lực cho chuyển giao KHCN: Nhà nước cấp học bổng cho sinh viên được các tổ chức của nông dân và cộng đồng cử đi học
để trở về làm việc tại địa phương Nhiều tỉnh như Hà Giang, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Quảng Ninh thực hiện nâng cao năng lực cho chuyển giao qua các đợt tập huấn, mô hình trình diễn
(7) ở những nơi nông dân còn quá nghèo, không thể chi trả các dịch vụ
kỹ thuật thì các tỉnh vùng dân tộc và miền núi thành lập tổ chức và chi trả cho
hệ thống khuyến nông cơ sở đến tận thôn, bản Chính phủ cho phép dùng kinh phí khuyến nông để hỗ trợ các tổ chức khuyến nông tự nguyện của đoàn thể, viện, trung tâm, nghiên cứu
(8) Thực hiện đa dạng hóa phương pháp khuyến nông Chú ý coi trọng mô hình trình diễn, tập huấn, tăng cường hội thảo, trao đổi kinh nghiệm tôn vinh nông dân giỏi
2.2.2 Những bất cập về cơ chế chính sách trong chuyển giao
Nhìn chung các chính sách trên đã góp phần giúp cho vùng dân tộc và miền núi áp dụng được các thành tựu của khoa học và công nghệ, làm tăng năng suất nông nghiệp, tạo ra bước phát triển nhảy vọt trong năng suất cây trồng và vật nuôi, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn miền núi Tuy nhiên, chính sách trong chuyển giao còn có nhiều bất cập, phần nào đã hạn chế
đến hiệu quả công tác chuyển giao KHCN trong nông nghiệp tới nông dân và nông thôn Các bất cập đó là:
(1) Chương trình chuyển giao nặng từ trên xuống, tập trung ở cấp TW, tỉnh, chưa tạo ra sự chủ động ở địa phương
(2) Chưa có cơ chế chính sách thoả đáng cho khuyến nông cơ sở (cụm xã, xã, thôn, bản)
(3) Chính sách tài chính còn nhiều bất cập
Chính sách tài chính cho chuyển giao khoa học hiện nay còn nhiều điểm không phù hợp Hơn 90% số cán bộ chuyển giao được điều tra, các báo cáo
thực hiện Chương trình "Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phục
vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi giai đoạn 1998 - 2002" của Bộ
Khoa học công nghệ và môi trường đều khẳng định: Cơ chế tài chính cho chuyển giao KHCN trong nông nghiệp và nông thôn còn nhiều điểm bất cập
Thứ nhất, định mức chi tiêu theo quy định chung cho tất cả các loại đề tài, đề
Trang 36án, dự án, không có định mức riêng cho các khoản mục của dự án mô hình
nông thôn miền núi; Thứ hai, cách tính chi tiêu và định mức chi tiêu quá lỗi
thời, thấp hơn so với tình hình thực tế khi thực hiện chuyển giao KHCN tới
nông dân, không phù hợp với đặc điểm nông nghiệp và nông thôn; Thứ ba,
kinh phí cho hỗ trợ xây dựng mô hình chuyển giao KHCN không được chuyển giao trực tiếp cho cơ quan chuyển giao Khi kinh phí đến cơ quan chuyển giao
thường bị chậm, quá thời vụ sản xuất nông nghiệp; Thứ tư, kinh phí cho
chuyển giao KHCN ở một tỉnh thường do nhiều cơ quan nắm giữ (Sở Khoa học
và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Lao động và Thương binh xã hội,
Sở Nông nghiệp) Điều này dẫn đến đầu tư chồng chéo, lãng phí và kém hiệu
quả và tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi"; Thứ năm, cộng đồng, cấp thôn,
bản, xã hay huyện thường không được nắm giữ việc chi tiêu tài chính Tình trạng này làm cho kinh phí sử dụng không hiệu quả vì phải làm theo kế hoạch
của cấp trên; Thứ sáu, chính sách tài chính cho chuyển giao hiện hành không
quy định các khoản chi tiêu cho các cơ quan quản lý các chương trình chuyển giao KHCN ở địa phương Điều này dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí cho giám sát và kiểm tra việc thực hiện các chương trình chuyển giao KHCN tới
nông dân; Thứ bảy, phần lớn các cán bộ chuyển giao cho biết: tài chính chỉ
cho phép chi cho nông dân đi dự tập huấn, không cho phép chi làm tiêu bản, vật mẫu, thực hành, đầu tư vào tài liệu tập huấn rất ít
(4) Chính sách cho cán bộ chuyển giao
Chính sách cán bộ chuyển giao KHCN trong nông nghiệp vùng dân tộc
và miền núi như hiện nay chưa thật sự hấp dẫn, để thu hút và khuyến khích đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật tình nguyện về nông thôn, vùng sâu, vùng xa công tác, chưa khuyến khích được cơ quan, tổ chức, nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông đầu tư cho nghiên cứu và phổ biến khoa học kỹ thuật vào địa bàn nông thôn Lương và phụ cấp của cán bộ chuyển giao thấp, chế độ đãi ngộ chưa thỏa đáng, cán bộ chuyển giao không được cập nhật các thông tin mới, phương pháp mới và kỹ năng mới Tiêu chí tuyển dụng chưa hợp lý Nhiều công chức nhà nước công tác ở cơ sở vùng dân tộc và miền núi không biết tiếng dân tộc, thiếu kỹ năng tiếp cận cộng đồng Chưa gắn kết quả chuyển giao với chế độ đãi ngộ của cán bộ chuyển giao…
Trang 37
Một là: địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thường xa trung
tâm, cơ sở hạ tầng yếu kém, khó tiếp cận với các dịch vụ khoa học - công nghệ, thông tin kinh tế, thị trường
Trải qua quá trình phân bố tự nhiên lâu dài, đồng bào các dân tộc thiểu số thường sinh sống trên địa bàn vùng cao, vùng sâu, vùng xa vùng biên giới với điều kiện địa hình, địa lý, khí hậu, tự nhiên rất khó khăn Trong những năm gần đây nhà nước đã đầu tư khá nhiều kinh phí nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, nhưng điều kiện đi lại, giao thông, thông tin liên lạc trong vùng đồng bào dân tộc vẫn còn rất yếu kém Đồng bào các dân tộc thường khó tiếp cận với các dịch vụ, thông tin liên lạc, thị trường vật tư, hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm Việc tiếp cận khoa học và công nghệ, các cơ quan khoa học và công nghệ, các nhà khoa học, tiến bộ khoa học công nghệ
đến với đồng bào có nhiều khó khăn
Hai là: Về cơ bản vùng dân tộc và miền núi còn nghèo, trình độ phát
triển kinh tế không đồng đều
Theo số liệu điều tra giàu nghèo gần đây cho thấy, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu là vùng nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu
là những hộ nghèo Vì thế gặp khó khăn trong đầu tư kinh phí ứng dụng tiến
Trang 38Ba là: Đồng bào các dân tộc thiểu số có phong tục, tập quán, thói
quen sản xuất truyền thống lâu đời, bên cạnh tập quán tốt cũng có nhiều tập quán lạc hậu, không dễ thay đổi
Nước ta có nhiều dân tộc thiểu số khác nhau, mỗi dân tộc có đặc
điểm văn hoá truyền thống riêng biệt, nhiều dân tộc có kinh nghiệm truyền thống sản xuất quí báu, nhưng cũng có những tập quán lạc hậu, tồn tại hàng ngàn năm, không dễ thay đổi Phương thức canh tác theo lối “phát, đốt, chọc, chỉa, ” vẫn tồn tại trong cộng đồng nhiều dân tộc vùng cao Vì thế, các hoạt động ứng dụng KHCN trong vùng đồng bào dân tộc cần phải xây dựng các dự án đặc thù, tạo ra các mô hình trình diễn, tổ chức các hoạt
động chuyển giao trong thời gian dài, mới có thể thay đổi được thói quen, tập quán cũ, đảm bảo mang lại kết quả bền vững
Bốn là: Tâm lý, tư tưởng ỷ lại, trông chờ còn khá phổ biến trong
đồng bào các dân tộc và cán bộ các địa phương cơ sở
Trong cộng đồng dân tộc thiểu số và trong đội ngũ cán bộ cơ sở hiện vẫn còn tư tưởng bao cấp, trông chờ, ỷ lại khá phổ biến Nhiều người chờ Nhà nước đầu tư cho không thì làm, chưa chủ động tìm tòi giải pháp cách làm mới, ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất, nhằm nâng cao năng xuất tăng thu nhập trên đơn vị diện tích, vươn lên là giàu thoát nghèo Nhiều hộ gia đình đồng bào dân tộc đã được đầu tư, đã tiếp thu được các kiến thức KHCN, cách làm mới, nhưng khi dự án kết thúc, thường họ lại không chủ
động đầu tư, mà chờ vốn hỗ trợ của Nhà nước
2 Các lĩnh vực tiến bộ KHCN được chuyển giao
Qua nghiên cứu tài liệu, kết quả điều tra và khảo sát thực tế cho thấy các lĩnh vực tiến bộ KHCN đã được chuyển giao như sau:
Lĩnh vực trồng trọt: giúp các địa phương tiếp nhận và ứng dụng các
công nghệ để chủ động sản xuất giống cây trồng sạch bệnh; phát triển sản phẩm có lợi thế của địa phương của vùng như cây ăn quả có múi, hoa, các
Trang 39loại cây dược liệu có giá trị; chuyển đổi cơ cấu cây trồng; sử dụng các giống mới giúp tăng năng xuất, chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế như giống lúa lai F1, ngô lai; sản xuất các loại phân bón hữu cơ, thuốc bảo
vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, áp dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất rau, nông sản an toàn, chăn nuôi an toàn
Lĩnh vực chăn nuôi: chuyển giao qui trình chăn nuôi bò thịt, lợn,
gia cầm, trồng cỏ, và chế biến thức ăn chăn nuôi; kỹ thuật chăn nuôi, kỹ thuật trồng cỏ, chế biến thức ăn chăn nuôi, công tác thú y, phòng trừ dịch bệnh, cho gia súc, gia cầm, nuôi ong lấy mật, cải tạo tầm vóc đàn bò địa phương, xây dựng mô hình chăn nuôi đại gia súc tập trung và bán chăn thả
ở vùng trung du, miền núi
Lĩnh vực thủy sản: Các dự án đã giúp các địa phương tiếp nhận và
làm chủ được các công nghệ sản xuất một số giống cá, qui trình nuôi thủy sản kết hợp với lúa, phát triển các mô hình nuôi cá chép, rô phi đơn tính, ếch, ba ba, tôm càng xanh,
Lĩnh vực công nghệ sinh học: các dự án đã giúp các địa phương làm
chủ công nghệ nuôi cấy mô, nhân giống các loại cây rừng bằng kỹ thuật mô hom, sản xuất các giống nấm, sản xuất các chế phẩm và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học,
Lĩnh vực chế biến: các dự án, mô hình đã giúp các địa phương tiếp
nhận và làm chủ công nghệ chế biến, bảo quản mặt hàng nông, lâm sản, công nghệ sản xuất ván dăm và ván ADF; công nghệ thu gom và sơ chế sữa
bò tươi, các máy móc trong thu hoạch như máy gặt đập,
Lĩnh vực thông tin, tuyên truyền, công nghệ thông tin: Phổ biến
các bản tin khuyến nông; phổ cập thông tin về KHCN tới người dân thuộc
địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, để nâng cao khả năng tiếp nhận thông tin và ứng dụng các công nghệ mới; thông tin trên trang WEB khuyến nông; ứng dụng công nghệ GIS trong quản lý tài nguyên, môi trường phòng tránh thiên tai và phát triển KTXH
3 Các hình thức chuyển giao KHCN trong nông nghiệp, nông thôn ở vùng dân tộc và miền núi
Các hình thức chuyển giao kỹ thuật trong nông nghiệp ở vùng dân tộc và miền núi bao gồm: 1) Khuyến nông nhà nước; 2) Các Viện nghiên cứu và các trường chuyên nghiệp; 3) Các chương trình dự án do các Bộ
Trang 40ngành tiến hành; 4) Các dự án hỗ trợ của các tổ chức quốc tế; 5) Các doanh nghiệp; 6) Cộng đồng tiến hành và 7) Do tư nhân tiến hành (Bảng 3.4) Kết quả khảo sát về chuyển giao KHCN trong nông nghiệp ở 13 tỉnh ở miền núi cho thấy: 100% số tỉnh coi khuyến nông nhà nước là hệ thống chuyển giao chủ yếu 60% số tỉnh coi kênh chuyển giao KHCN qua các chương trình dự án trong nước là chủ đạo 40% số tỉnh coi chuyển giao KHCN do các chương trình dự án do các tổ chức quốc tế
đóng vai trò chủ yếu hiện nay 26,7% số tỉnh cho biết khuyến nông do cộng đồng tiến hành cũng được coi là hoạt động chủ yếu Các viện nghiên cứu mới hoạt động ở 20% số tỉnh 20,0% số tỉnh cho biết các doanh nghiệp như công ty Bông Việt Nam, Công ty chè Việt Nam, Công
ty thức ăn gia súc, Công ty Chăn nuôi đang thực hiện các hoạt động triển khai ở tỉnh họ Không có tỉnh nào coi chuyển giao qua kinh tế tư nhân là chủ đạo Trên thực tế, có thể tất cả các vùng đều có 7 hệ thống trên Nhưng hoạt động của một trong các hệ thống đó chưa thật sự nổi trội, nên không được các tỉnh báo cáo Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế mới được thừa nhận Nhưng do nhìn nhận của xã hội chưa được đầy đủ nên ít các tỉnh coi trọng kênh chuyển giao này
3.1 Khuyến nông nhà nước
a Đặc điểm khuyến nông cơ sở
Khuyến nông nhà nước bao gồm Cục Khuyến nông và Khuyến lâm thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Khuyến nông thuộc
ủy ban nhân dân huyện và một số tỉnh có khuyến nông xã
ở Trung ương, Cục Khuyến nông và Khuyến lâm thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được tổ chức theo Quyết định 13/CP của Chính phủ Tiếp đó, Bộ Thủy sản tổ chức trung tâm khuyến ngư (Bộ Thủy sản) Gần đây năm 2002, Bộ Nông nghiệp cũng hình thành Cục khuyến nông Tuy nhiên, Cục khuyến nông và khuyến lâm đóng vai trò chủ đạo trong chuyển giao KHCN tới nông nghiệp và nông thôn Các cơ sở khuyến nông nhà nước ở cấp Trung ương triển khai các chương trình lớn trong chuyển giao KHCN tới các địa phương Thông qua, phối hợp với trung tâm khuyến nông ở các tỉnh, hàng loạt các chương trình chuyển giao KHCN tới nông dân được khởi xướng và tổ chức bởi Cục khuyến nông và khuyến lâm như Chương trình giống cây trồng, lúa lai, ngô, bò lai sind, lớn hướng nạc,
gà vườn, phát triển mía đường đã được triển khai khá rộng khắp cả nước