1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận Môn Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam Đề Tài Tìm Hiểu Về Văn Hóa Ẩm Thực Tỉnh Hà Nam.pdf

37 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Về Văn Hóa Ẩm Thực Tỉnh Hà Nam
Tác giả Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Thủy Tiên
Người hướng dẫn TS. Bùi Cẩm Phượng
Trường học Trường đại học Thăng Long
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 286,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC (6)
    • 1.1. Khái niệm về văn hóa ẩm thực................................................................... 1. Văn hóa (6)
      • 1.1.2. Ẩm thực (7)
      • 1.1.3. Văn hóa ẩm thực (8)
    • 1.2. Những điều kiện hình thành văn hóa ẩm thực.......................................... 1. Điều kiện tự nhiên (9)
      • 1.2.2. Điều kiện xã hội (9)
    • 1.3. Đặc trưng trong văn hóa ẩm thực.............................................................. 1. Tính cộng đồng (10)
      • 1.3.2. Tính hòa đồng (12)
      • 1.3.3. Tính tận dụng (13)
      • 1.3.4. Tính thích ứng (13)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VĂN HÓA ẨM THỰC TỈNH HÀ NAM (16)
    • 2.1. Giới thiệu chung về tỉnh Hà Nam............................................................. 2.2. Những điều kiện hình thành văn hóa ẩm thực tỉnh Hà Nam................. 2. Điều kiện tự nhiên (16)
      • 2.2.2. Điều kiện xã hội (18)
    • 2.3. Đặc trưng trong văn hóa ẩm thực tỉnh Hà Nam..................................... 1. Tính cộng đồng (21)
      • 2.3.2. Tính hòa đồng (23)
      • 2.3.3. Tính tận dụng (24)
      • 2.3.4. Tính thích ứng...................................................................................21 2.4. Nhận xét chung (25)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG BỘ MÔN DU LỊCH o0o TIỂU LUẬN MÔN VĂN HÓA ẨM THỰC VIỆT NAM (Học kỳ II nhóm 1, năm học 2022 – 2023) ĐỀ TÀI TÌM HIỂU VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC TỈNH HÀ NAM HÀ NỘI – 2023 Giáo viên hướng[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

Giáo viên hướng dẫn : TS Bùi Cẩm Phượng

Nhóm thực hiện : Nguyễn Phương Linh - A36131

: Nguyễn Thủy Tiên - A37198

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

TÌM HIỂU VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC TỈNH HÀ NAM

Giáo viên hướng dẫn : TS Bùi Cẩm Phượng

Nhóm thực hiện : Nguyễn Phương Linh - A36131

: Nguyễn Thủy Tiên - A37198

HÀ NỘI – 2023

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC 2

1.1 Khái niệm về văn hóa ẩm thực

1.1.1 Văn hóa 2

1.1.2 Ẩm thực 3

1.1.3 Văn hóa ẩm thực 4

1.2 Những điều kiện hình thành văn hóa ẩm thực

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 4

1.2.2 Điều kiện xã hội 5

1.3 Đặc trưng trong văn hóa ẩm thực

1.3.1 Tính cộng đồng 6

1.3.2 Tính hòa đồng 8

1.3.3 Tính tận dụng 8

1.3.4 Tính thích ứng 9

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA ẨM THỰC TỈNH HÀ NAM 12

2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Hà Nam

2.2 Những điều kiện hình thành văn hóa ẩm thực tỉnh Hà Nam

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 12

2.2.2 Điều kiện xã hội 14

2.3 Đặc trưng trong văn hóa ẩm thực tỉnh Hà Nam

2.3.1 Tính cộng đồng 17

2.3.2 Tính hòa đồng 18

2.3.3 Tính tận dụng 20

2.3.4 Tính thích ứng 21

2.4 Nhận xét chung

Trang 4

2.4.1 Điểm mạnh 21

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 23

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM QUẢNG BÁ VĂN HÓA ẨM THỰC TỈNH HÀ NAM 26

3.1 Giữ gìn bản sắc văn hóa trong ẩm thực Hà Nam

3.2 Các cấp, bộ ngành xúc tiến quảng bá văn hóa ẩm thực

3.3 Nâng cao chất lượng món ăn

3.4 Tuyên truyền, quảng bá, tiếp thị các món ăn

3.5 Nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm

3.6 Kết hợp tour du lịch với ẩm thực địa phương KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Ẩm thực là một trong những phần không thể thiếu của một nền văn hoá, ănuống chính là nghệ thuật Trong văn hoá ẩm thực Việt Nam, những món ăn đềuđược truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, không chỉ đáp ứng yêu cầu cơ bảncủa con người mà còn có mối quan hệ mật thiết đến lối sống, truyền thống dântộc, được thể hiện rất rõ qua những dụng cụ được dùng trong bữa ăn, cách ứng

xử với mọi người trong khi ăn Các món ăn qua từng giai đoạn nói lên đượccuộc sống, con người của giai đoạn đó và của vùng đất – nơi đã sản sinh ra mỗimón ăn Đất nước được chia ra thành ba miền, nên ẩm thực Việt Nam từ đó đadạng hơn theo vùng miền Bắc – Trung – Nam Song, điều này đã tạo nên nhữngnét đặc trưng riêng ở mỗi miền đất nước, mỗi một vùng miền sẽ có một khẩu vịcho vào món ăn khác nhau, các chế biến, tên gọi của món ăn từ đó cũng sẽ khác.Những món ăn Việt Nam đều được hài hoà về màu sắc cho đến hương vị khiếncho tổng thể món ăn hợp lý, tăng thêm phần hấp dẫn khó lòng cưỡng lại, đặcbiệt nhất là đối với những người du lịch Việt Nam Trên nền ẩm thực chung đó,

ẩm thực Hà Nam nổi lên như một nét chấm phá, mộc mạc, nhẹ nhàng mà vôcùng ấn tượng

Hà Nam là một vùng đất có chiều sâu về lịch sử, văn hóa, ẩm thực Trảiqua thời gian, vùng đất này vẫn bảo tồn, phát triển nhiều nét văn hóa đặc sắc.Trong đó, ẩm thực Hà Nam luôn là nét văn hóa độc đáo, hấp dẫn và thu hút dukhách gần xa đến khám phá, trải nghiệm như cá kho làng Vũ Đại Vì vậy nhóm

em đã chọn Hà Nam để làm đề tài nghiên cứu về nét đặc sắc trong ẩm thực Bàitiểu luận của nhóm gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về văn hóa ẩm thực

Chương 2 Thực trạng văn hóa ẩm thực tỉnh Hà Nam

Chương 3 Đề xuất giải pháp nhằm quảng bá văn hóa ẩm thực tỉnh Hà Nam

Trang 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC

1.1 Khái niệm về văn hóa ẩm thực

1.1.1 Văn hóa

Theo Wikipedia: “Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con

người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của

xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa,quần áo, các phương tiện,…” Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và

đó là một phần của văn hóa

Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo

trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hìnhthành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tốxác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạtđộng sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tínhlịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị cótính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắcriêng của từng dân tộc

Theo Tylor (1871) “Văn hoá hay văn minh là một phức hệ bao gồm kiến

thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ các khả năng

và thói quen nào khác mà con người có được như là một thành viên của xã hội.”.Đây là định nghĩa mang tính khoa học đầu tiên trong lịch sử khoa học

“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tácgiữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (Trần NgọcThêm) Theo Trần Ngọc Thêm, con người sáng tạo ra văn hoá khi họ đối diện,cải tạo tự nhiên: khai khẩn đất hoang, khai thác rừng, biển Kinh nghiệm chếngự, ứng xử với tự nhiên là văn hoá Con người sáng tạo ra văn hoá khi tươngtác với xã hội của mình Ví dụ: “Nhập gia tùy tục”, vào nhà ai phải tìm hiểu, ứng

Trang 7

xử theo phong tục, thói quen, tôn giáo của gia đình đó; một người thường muốnkết hôn với một người Công giáo phải đi học các giáo lý của người Công giáo

để hòa nhập với gia đình người kia Tóm lại, khi tiếp xúc với một cộng đồngkhác, phải tìm hiểu để ứng xử cho phù hợp gọi là văn hoá

“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo

ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệthuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức

sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hoá” (Hồ Chí Minh).Bác Hồ cho rằng: mục đích văn hoá được tạo ra để phục vụ cho nhu cầu củacuộc sống con người vì con người cần biểu đạt các khía cạnh tâm hồn hìnhthành nên văn chương; cần diễn đạt suy nghĩ tình cảm hình thành nên ngôn ngữ,chữ viết Vì vậy, cấu trúc của văn hoá là biểu hiện như: ngôn ngữ, chữ viết vàphương thức sử dụng

Tóm lại, văn hoá là tất cả những gì do con người sáng tạo ra để ứng xử với môitrường tự nhiên và xã hội Những ứng xử đó nhằm mục đích phân biệt giữa cánhân này với cá nhân khác, giữa nhóm người này với nhóm người khác, giữacộng đồng người này với cộng đồng người khác, giữa dân tộc này với dân tộckhác

1.1.2 Ẩm thực

"Ẩm thực" là một từ Hán Việt “ẩm” có nghĩa là uống, “thực” có nghĩa là

ăn Ẩm thực là một hệ thống đặc biệt về quan điểm truyền thống và thực hànhnấu ăn, nghệ thuật bếp núc, nghệ thuật chế biến thức ăn, thường gắn liền với mộtnền văn hóa cụ thể (Theo Wikipedia)

Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn, nguyên

lý pha trộn gia vị và những thói quen ăn uống nói chung của mọi người Việt trênđất nước Việt Nam Tuy có ít nhiều có sự khác biệt giữa các vùng miền, dân tộcthì ẩm thực Việt Nam vẫn bao hàm ý nghĩa khái quát nhất để chỉ tất cả nhữngmón ăn phổ biến trong cộng đồng người Việt

Trang 8

Nhắc đến ẩm thực là nhắc đến một thế giới với vị giác, nhiều sự sáng tạo,hòa trộn và độc đáo, ẩm thực mang đến cho con người nhiều cung bậc cảm xúckhác nhau không chỉ có cảm giác no bụng.

1.1.3 Văn hóa ẩm thực

Theo nghĩa rộng, “Văn hoá ẩm thực” là một phần văn hoá nằm trong tổng

thể các đặc trưng diện mạo về vật chất, tinh thần, tri thức, tình cảm, … khắc hoạmột số nét cơ bản đặc sắc của một cộng đồng, làng xóm, vùng miền, quốc gia,…

Nó chi phối một phần không nhỏ trong cách ứng xử và giao tiếp của một cộngđồng, tạo nên đặc thù của cộng đồng ấy

Theo nghĩa hẹp, “Văn hoá ẩm thực” là những tập quán và khẩu vị của con

người, những ứng xử của con người trong ăn uống, những tập tục kiêng kỵ trong

ăn uống, những phương thức chế biến bày biện trong ăn uống và cách thưởngthức món ăn Văn hoá ẩm thực là một biểu hiện quan trọng trong đời sống conngười, nó cũng hàm chứa những ý nghĩa triết lý sâu sắc

Có thể nói từ xa xưa, người Việt Nam đã chú ý tới văn hoá ẩm thực “Ăntrông nồi, ngồi trông hướng” đâu chỉ là vật chất mà còn là ứng xử với gia đình -

xã hội Con người không chỉ biết “ăn no mặc ấm” mà còn biết “Ăn ngon mặcđẹp” Trong ba cái thú “Ăn - Chơi - Mặc” thì cái ăn được đặt lên hàng đầu Ăntrở thành một nét văn hoá, và từ lâu người Việt Nam đã biết giữ gìn những vănhoá ẩm thực của dân tộc mình Ẩm thực tức ăn uống thể hiện lịch sử của mộtquốc gia, của nền văn hoá của quốc gia đó Các món ăn qua từng giai đoạn sẽnói lên được cuộc sống, con người của giai đoạn đó và của vùng đất – nơi đã sảnsinh ra món ăn mà không đâu có thể làm giống hệt được Văn hoá dân gian ViệtNam là một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó văn hoá ẩm thực làmột nét đặc trưng Con người đã dần phát triển việc ăn uống lên thành một lĩnhvực rộng rãi được nhiều người quan tâm Nghiên cứu về nghệ thuật ăn uống củangười Việt nói chung và việc ăn uống của từng miền nói riêng mang lại nhiềuđiều lí thú, có sức hấp dẫn và lôi cuốn mọi người

Trang 9

1.2 Những điều kiện hình thành văn hóa ẩm thực

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Việt Nam nằm tại khu vực Đông Nam Á thuộc vùng nhiệt đới gió mùa Khíhậu có mùa nóng và lạnh rõ rệt tại miền Bắc, khí hậu mùa khô và mùa mưa ởmiền Nam Với lượng mưa bình quân năm rất lớn kèm theo nhiều hồ, ao, hệthống sông lớn tạo ra vùng đồng bằng ngập nước trù phú Các vùng đồng bằngnày chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và tây nam, khí hậu ẩm ướt, mưanhiều theo mùa Cây lúa nước là loại cây thích hợp nhất phát triển và trở thànhcây lương thực chủ đạo ở Việt Nam ảnh hưởng rất lớn đến ẩm thực Việt Nam Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3000 km, biển Đông và vịnh Thái Lanđược đánh giá là tương đối đa dạng sinh học biển, có trữ lượng hải sản rất lớn.Hàng năm, cung cấp nhiều hải sản có giá trị cao như tôm, cua, sò, nghêu, hảisâm,… đặc biệt là loại cá cơm để sử dụng làm nước mắm rất nổi tiếng như ởPhú Quốc, Phan Thiết, Nha Trang, Ngoài ra, hệ thống sông hồ khắp cả nướctạo ra nguồn lợi từ thuỷ sản nước ngọt rất phong phú dồi dào như cá rô, cá bônglau, cá ba sa, cá quả, cá diêu hồng, lươn, trạch,

1.2.2 Điều kiện xã hội

Trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, đất nước Việt Nam luôn bị giặcngoại xâm xâm lược, sự thống trị, đô hộ hàng nghìn năm của các nhà nướcphong kiến phương Bắc, gần 100 năm của thực dân Pháp và 20 năm của đế quốcMỹ Đây là lý do chính khiến ẩm thực Việt Nam chịu ảnh hưởng khẩu vị ănuống của người Trung Quốc, ảnh hưởng khẩu vị ăn uống của người Pháp và lốisống, tác phong ăn nhanh theo hướng công nghiệp của người Mỹ ở miền NamViệt Nam

Điều kiện kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến ẩm thực của người Việt Nam, xuấtphát từ nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, sản lượng nông nghiệp không đủ

ăn nên tập quán và khẩu vị khi đó chỉ tập trung vào ăn để no là chính chưa quantâm đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Sau 30 năm đổi mới, kinh tếViệt Nam có bước chuyển mình từ một nước không đủ ăn đã trở thành nước

Trang 10

xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Tập quán và khẩu vị ăn uống của Việt Nam có

dự thay đổi cơ bản Từ ăn no chuyển sang ăn ngon, đảm bảo giá trị dinh dưỡng

Tính cộng đồng trong ẩm thực được thể hiện rất rõ nét qua ý nghĩa củanhững món ăn hay việc cả gia đình quay quần bên mâm cơm cùng với nhau ỞViệt Nam đặc biệt là vào ngày Tết, chúng ta không thể không nhận thấy đượchai hình ảnh quen thuộc thường xuyên xuất hiện trong dịp lễ này đó là hình ảnhbánh

Chưng, bánh Giầy vốn dĩ ăn sâu vào trong kí ức của mỗi người dân Qua sự tích

“Bánh Chưng, bánh Giầy” nó đã thể hiện được một ý nghĩa hết sức nhân văn và

có giá trị đạo đức về cách làm người Bánh Chưng hình vuông tượng trưng chođất, bánh Giầy hình tròn tượng trưng cho trời, nguyên liệu của loại bánh đượclàm bằng gạo nếp, mà gạo nếp là biểu trưng cho thành quả lao động giữa cáccộng đồng thành viên bộ tộc sống cùng với nhau, họ cùng làm, cùng ăn, cùngnhau san sẻ những khó khăn, vất vả Bên cạnh đó, hình ảnh chiếc lá xanh bọc ởngoài và nhân ở trong ruột bánh là đại diện cho sự chở che, bao bọc của cha mẹdành cho con cái, cũng như cho lòng biết ơn, kính trọng các đấng sinh thành.Chính vì ý nghĩa tốt đẹp này, vua Hùng Vương đã quyết định truyền lại ngôi vuacho Lang Liêu Những chi tiết đó đã thể hiện được ngay từ xưa tính cộng đồng

đã được phản ánh sâu sắc và xuất hiện từ rất sớm, không những thế cho đến

Trang 11

ngày nay, hình ảnh gia đình sum vầy bên nồi bánh Chưng là một nét đặc trưngkhông thể thiếu vào ngày tết.

Ngoài ra tính cộng đồng còn được thể hiện rõ nét qua những mâmcơm của người Tày - nhóm người dân tộc sống ở các vùng Việt Bắc Một nétđặc trưng thú vị của ẩm thực người Tày là các nguồn lương thực của họ rất đadạng và phong phú chủ yếu là đến từ các sản phẩm chăn nuôi, trồng trọt.Thêm vào đó họ còn biết nấu nướng nhiều món ăn ngon hấp dẫn thậm chí cómón ăn được kế thừa từ đời ông cha, có món tiếp thu từ việc giao lưu văn hóavới các dân tộc anh em, điển hình như là món: xôi nếp, cơm lam, cơm tẻ, ngôbung, xào, rán, canh từ thịt Tuy nhiên điều làm cho ẩm thực người Tày đượcđánh giá là một trong những nét đặc trưng thú vị mang tính cộng đồng sâu sắc là

do sự hào sảng và ấm cúng của họ trong các bữa cơm thường ngày Đối với họ,

ăn uống không chỉ để nuôi sống bản thân mà còn là thể hiện sự đoàn kết, yêuthương giữa người với người Đặc biệt nhất, người Tày luôn có ý thức chờ đợinhau trước bữa cơm, không ai ăn trước mà chỉ đợi khi đã đông đủ rồi mới ăn

Họ còn có một câu tục ngữ: “thíp tua mạ thả ăn yên” (mười con ngựa chờ đợimột cái yên) để ví von rằng mâm cơm mười người mà còn thiếu một người thìcũng phải chờ đợi Điều đó nói lên được tính cộng đồng và sự hòa ái, bình đẳngkhông phân biệt nam, nữ của các thành viên trong gia đình trong cách ăn uống

Khác với phương Tây, mọi người đều có phần ăn riêng và độc lập ngườiViệt Nam nói chung đều chấm chung một chén nước mắm và sới chung một nồicơm Chính vì những điểm như vậy nên người Việt rất thích trò chuyện trongkhi ăn làm cho không khí của gia đình trở nên ấm cúng hơn Khi ăn thì luônnhường nhịn lẫn nhau, họ luôn dành sự ưu ái cho người cao tuổi, trẻ nhỏ và phụ

nữ mang bầu Đối với họ, đây là những thành viên cần được ưu tiên những phầnngon nhất Mâm cơm của người Việt Nam dọn ra bao giờ cũng có đồng thờinhiều món : cơm, canh, rau, dưa, cá thịt, xào, nấu, luộc, kho Suốt bữa ăn là cảmột quá trình tổng hợp các món ăn Điều này khác hẳn cách ăn lần lượt đưa ra

Trang 12

từng món của người phương Tây - ăn hết món này mới đưa ra món tiếp theo - đó

là cách ăn theo lối phân tích hoàn toàn

Tính đạo lý và mang ý nghĩa cộng đồng ấy còn được thể hiện qua câu tụcngữ “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” để nhắc nhở chúng ta khi ăn phải biết giữchừng mực và phép tắc, phải luôn chú ý tới những người xung quanh, ăn uốngphải ý tứ, sạch sẽ, phải biết nhường chỗ cho người lớn tuổi Có thể nói, thôngqua cách ăn uống và bày biện thức ăn, ta đã cảm nhận được những biểu hiện vôcùng rõ ràng của tính cộng đồng ảnh hưởng sâu

1.3.2 Tính hòa đồng

Tính hòa đồng ngày càng thể hiện rõ nét hơn hiện nay khi người Việt dễdàng tiếp thu, du nhập văn hóa ẩm thực của các dân tộc khác như: Hàn, Nhật,Trung Hoa, các nước châu Âu… để có thêm những món ăn mới, cách chế biếnmới hoặc biến tấu thành những món ăn thuần Việt Đây cũng là đặc trưng nổibật của ẩm thực nước ta từ Bắc chí Nam

Xét về nguồn thực phẩm, nước ta có rất nhiều loại cây trồng, vật nuôi rấtphong phú, từ Bắc vào Nam địa phương nào cũng quanh năm bốn mùa xanh tốtrau quả cây trái tạo ra các đặc sản địa phương Chính vì vậy mà các món ăn ViệtNam chủ yếu làm từ rau, quả, củ nên sử dụng ít mỡ động vật, không dùng nhiềuthịt như các nước phương Tây, cũng không dùng nhiều dầu, mỡ như món ăn củangười Trung Quốc

Khi chế biến thức ăn người Việt Nam thường dùng nước mắm để nêm vàkết hợp với rất nhiều loại gia vị khác nhau để tạo nên hương vị đặc trưng củamón ăn, do đó các món ăn thường rất đậm đà Mỗi món khác nhau đều có nướcchấm tương ứng phù hợp với hương vị

Ẩm thực Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa các món, các vị lại để tạo nênnét đặc trưng riêng Những thực phẩm mát như thịt vịt, ốc thường được chế biếnkèm với các gia vị ấm nóng như gừng, rau răm… Đó là cách cân bằng âmdương rất thú vị được đúc kết từ bao đời này mà chỉ có người Việt Nam mới có.Các loại món ăn Việt Nam đa dạng phong phú, nó bao gồm các món ăn truyền

Trang 13

thống thuần Việt và các món ăn có sự ảnh hưởng, giao thoa và tiếp biến từ cácnền văn hóa ẩm thực khác.

1.3.3 Tính tận dụng

Những đặc tính này đều phản ánh trong các món ăn, cách nấu nướng Việt.Những chất liệu, hay những thức ăn mà người ngoại quốc bỏ qua, đều được tậndụng chế biến thành những món ăn bất hủ: mề gà, chân gà, tim gan gà, lòng lợn,lòng chó…Đặc biệt xương được ta chế biến thành những bát canh, nước lèo, hay

đồ nhắm rất ngon ngọt Đặc tính thực dụng này cũng thấy việc người Việt tậndụng mọi thức ăn, mọi loại rau cỏ mà thiên nhiên ban tặng cho Rau muống,raudền, rau lang, mướp đắng, rau dại… không có loại gì mà người Việt bỏ qua Mộtmón canh rất đặc biệt đó là “canh tập tàng” là tên gọi chung của một tập hợpnhiều loại rau như: rau má, rau dền gai, rau sam, mồng tơi, bồ ngót, loại rau dạimọc khắp nơi trong vườn quê, đồng ruộng, gò bãi ven sông, dưới lòng mươngmáng đều có thể nấu làm canh Làm thịt một con heo, trừ lông và chất dơ, tất cảmọi bộ phận, cả tiết đều được tận dụng Nhờ vào tính chất linh động mà họ cóthể chế biến mọi thức, mọi loại hợp với khẩu vị, và tạo lên một món ăn, mónnhắm thuần túy Phở là một ví dụ, sầu riêng lại là một ví dụ khác Biến một loạitrái cây có mùi như sầu riêng trở thành một món nhắm hay món tráng miệngthơm ngon, khiến ta mê mệt chỉ có thể thấy ở người Việt Theo nhà văn NguyễnTuân, sầu riêng nhắm với whisky hay cognac thì “hết sảy.”

1.3.4 Tính thích ứng

Chính vì thời tiết nước ta nói chung là nóng ẩm nên việc chế biến và dự trữlương thực thực phẩm luôn là một vấn đề cần chú trọng đối với người dân ViệtNam Do phải cất trữ thực phẩm trong điều kiện nóng ẩm và môi trường cónhiều loại vi trùng, vật ký sinh mầm bệnh nguy hiểm nên trong các món ăn Việt

đã xuất hiện nhiều cách chế biến và bảo quản khác nhau

Một trong các cách độc đáo đó là kỹ thuật ủ chua và lên men, Cá, cua, tômtép, rươi có thể được chế biến thành các loại mắm để lâu ăn dần Thịt lợn sốnglên men trở thành nem chua vừa có thể giữ được lâu mà vừa mang một phong vị

Trang 14

đặc sắc hiếm thấy Đậu tương qua kỹ thuật lên men của người Việt có thể chếbiến thành món tương rất phổ biến trong bữa ăn nông thôn miền Bắc, có hương

vị khác hẳn với các loại tương của Trung Hoa hay các loại xì dầu chế biến theolối công nghiệp Ngoài ra dưa, cà muối chua cũng là những thức ăn thường nhậtcủa người Việt trong mọi mùa Còn đối với những khu vực quanh năm khô hạnnhư của miền Trung và miền Nam nước ta, chế biến các loại thịt, cá thành cácmón khô là một cách cất trữ phổ biến phù hợp với điều kiện tại địa phương.Rượu ngang cất từ gạo nếp từ lâu đã là một đồ uống nổi tiếng của đồng bằngBắc Bộ Nó đã thể hiện tài nghệ khéo léo trong nghệ thuật lên men chế biến đồuống của người Việt

Một kiểu cất trữ độc đáo khác thường thấy ở người Việt đó là cất trữ dướidạng tươi sống Trong nhà luôn có sẵn cá ở trong ao, gà vịt thả ngoài vườn…Chợt khi có khách đến nhà là đã có sẵn nguồn dự trữ để đãi khách Ở một số nơi,người ta còn bắt ốc để trong túi mo cau treo trên gác bếp thỉnh thoảng cho ốc ănchút bột ngô hay nước vo gạo Để hàng mấy tháng cho ốc béo trắng mới đem ăn.Trong các món ăn của người Việt thường có thêm nhiều gia vị Nó làm chomón ăn thêm ngon hơn, đồng thời cũng là những vị thuốc để phòng ngừa bệnhtật, bồi bổ sức khỏe, chống lại những mầm bệnh sẵn trong tự nhiên Các món ănđược chế biến cực kỳ khéo léo, mùa nào thức nấy để phù hợp với sự biến đổicủa môi trường, hợp với nhu cầu của cơ thể Đó cũng là một trong những nétđộc đáo của nghệ thuật ẩm thực Việt Nam

Trang 15

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Ẩm thực là một trong những phần không thể thiếu của một nền văn hoá.Đối với văn hoá ẩm thực Việt Nam cũng vậy, những món ăn đều được truyền từthế hệ này cho đến thế hệ khác Giữ gìn phát huy những món ăn truyền thống làmột trong những phương pháp bảo tồn văn hoá ẩm thực Việt Nam Do đất nướcđược chia ra thành ba miền, nên ẩm thực Việt Nam từ đó cũng được chia theovùng miền: Bắc - Trung - Nam cũng tạo ra những nét đặc trưng riêng Văn hoá

ẩm thực khác nhau cũng đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng trong ẩmthực Việt Nam Mỗi một vùng miền sẽ có một khẩu vị cho vào món ăn khácnhau, cách chế biến, tên gọi của món ăn từ đó cũng sẽ khác Mỗi một lần nhắc

về văn hoá ẩm thực Việt Nam thì nó lại là chủ đề luôn được thảo luận một cáchsôi nổi Không chỉ dừng lại ở những món ăn, công thức chế biến và nhữngnguyên liệu thực phẩm mà hơn hết nó còn chứa đựng một nét văn hoá tự nhiênđược hình thành trong cuộc sống

Những món ăn Việt Nam đều được hài hoà về màu sắc cho đến hương vịkhiến cho tổng thể món ăn hợp lý, tăng thêm phần hấp dẫn khó lòng cưỡng lại,đặc biệt nhất là đối với những người đến du lịch Việt Nam Ẩm thực Việt Nam

là một bức tranh đầy màu sắc, nêu bật lên bản sắc riêng của từng dân tộc, vùngmiền nhưng chúng vẫn mang trong mình cốt cách, linh hồn Việt đồng nhất Đậm

đà sắc vị dân tộc không thể xóa nhòa

Mỗi một vùng miền mang trong mình một nét ẩm thực riêng Nếu nhưnhững món ăn của người miền Nam mang hương vị đậm đà, ngọt, béo ngậy thìngười miền Trung lại có xu hướng ăn cay và mặn mà hơn Còn miền Bắc lại

Trang 16

mang trong mình một hương vị thanh ngọt vừa đủ Tuy nhiên không thể gói gọntrong một từ để miêu tả hết những đặc sắc của món ăn miền Bắc Mỗi tỉnh luônluôn có một nét rất đặc trưng Nhắc đến ẩm thực miền Bắc thì không thể bỏ quađược đặc trưng trong ẩm thực của người Hà Nam

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA ẨM THỰC TỈNH HÀ NAM 2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Hà Nam

2.2 Những điều kiện hình thành văn hóa ẩm thực tỉnh Hà Nam

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

Về vị trí địa lý, Hà Nam nằm ở Tây Nam châu thổ sông Hồng, trongvùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội với diện tích đất

tự nhiên 86.193ha Tỉnh Hà Nam cách thủ đô Hà Nội hơn 50km, là cửa ngõ phíanam của thủ đô; phía bắc giáp với tỉnh Hà Tây, phía đông giáp với Hưng Yên vàThái Bình, nam giáp Nam Định và Ninh Bình, phía tây giáp Hòa Bình Nằm trêntrục giao thông quan trọng xuyên Bắc-Nam, trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 1A vàđường sắt Bắc - Nam chạy qua với chiều dài gần 50km và các tuyến đường giaothông quan trọng khác như quốc lộ 21, quốc lộ 21B, quốc lộ 38 Vị trí chiếnlược quan trọng cùng hệ thống giao thông thủy, bộ, sắt tạo cho Hà Nam lợi thếrất lớn trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật với cáctỉnh trong vùng và cả nước, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội và vùng trọng điểmphát triển kinh tế Bắc Bộ

Tài nguyên đất đai với địa hình đa dạng là nguồn lực quan trọng cho sựphát triển kinh tế, văn hóa của tỉnh Hà Nam có diện tích tự nhiên 851km2 nằmtrong vùng trũng của đồng bằng sông Hồng và giáp với vùng núi của tỉnh HòaBình và vùng Tây Bắc Phía tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãynúi đá vôi, núi đất và đồi rừng Vì vậy, Hà Nam có hai nhóm đất cơ bản là đấtvùng đồng bằng và đất vùng đồi núi Đất phù sa được bồi phân bố ở ngoài

Trang 17

đê sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu Đất đai vùng này thích hợp vớicác loại cây lương thực, cây rau màu, cây công nghiệp, một số cây ăn quả và câylàm thuốc… sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất cao Vùng đồi núi chủ yếu

có các loại đất: đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đá phiến sét, đất đỏnâu trên đá vôi, Đất vùng này thích hợp cho việc phát triển của nhiều loại câytrồng thuộc vùng núi và trung du như: chè, lạc, mía, vừng, sơn, trẩu, sở, gai,bạch đằng, phi lao, tre, bương, mây, sắn, khoai, Trên cơ sở hai nhóm đất tươngứng với hai loại địa hình đồng bằng và đồi núi, có thể phát triển được nhiều loạicây trồng thuộc các nhóm cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây

ăn quả, đồng cỏ chăn nuôi, cây rừng đa tác dụng với các hệ thống canh tác cótưới hoặc không tưới Đây là một lợi thế của Hà Nam so với một số tỉnh kháccủa đồng bằng sông Hồng

Khí hậu Hà Nam mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và

ẩm ướt Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23 - 24oC Hai mùa chínhtrong năm (mùa hạ, mùa đông) với các hướng gió chính: về mùa hạ gió nam, tâynam và đông nam; mùa đông gió bắc, đông và đông bắc Khí hậu có sự phân hóatheo chế độ nhiệt với hai mùa tương phản nhau là mùa hạ và mùa đông cùng vớihai thời kỳ chuyển tiếp tương đối là mùa xuân và mùa thu Mùa hạ thường kéodài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông thường kéo dài từ giữa tháng 11 đến giữatháng 3; mùa xuân thường kéo dài từ giữa tháng 3 đến hết tháng 4 và mùa thuthường kéo dài từ tháng 10 đến giữa tháng 11

Về thủy văn, Sông Hồng mang phù sa cho vùng bãi Hà Nam có lượngmưa trung bình cho khối lượng tài nguyên nước rơi khoảng 1,602 tỷ m3 Dòngchảy mặt từ sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ hàng năm đưa vào lãnh thổkhoảng 14,050 tỷ m3 nước Dòng chảy ngầm chuyển qua lãnh thổ cũng giúpcho Hà Nam luôn luôn được bổ sung nước ngầm từ các vùng khác Nước ngầm

ở Hà Nam tồn tại trong nhiều tầng và chất lượng tốt, dữ đáp ứng cho nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội Chảy qua lãnh thổ Hà Nam là các sông lớn như sôngHồng, sông Đáy, sông Châu và các sông do con người đào đắp như sông Nhuệ,

Trang 18

sông Sắt, Nông Giang,… Điều kiện khí hậu, thủy văn trên đây rất thuận lợi chophát triển một nền nông nghiệp sinh thái đa dạng, với nhiều loại động thực vậtnhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Mùa hạ có nắng và mưa nhiều, nhiệt độ và độ

ẩm cao, thích hợp với các loại vật nuôi cây trồng nhiệt đới, các loại cây vụđông có giá trị hàng hóa cao và xuất khẩu như cà chua, dưa chuột, Điều kiệnthời tiết khí hậu cũng thuận lợi cho phát triển các ngành công nghiệp, thươngmại, du lịch, dịch vụ cũng như cho các hoạt động văn hóa xã hội và đời sốngsinh hoạt của dân cư Vào mùa xuân và mùa hạ có nhiều ngày thời tiết mát mẻ,cây cối cảnh vật tốt tươi rất thích hợp cho các hoạt động lễ hội du lịch

Về hệ sinh vật: Quần cư động vật gồm các loài thú (30 loài, 88,23% cácloài thú); loài khỉ, voọc mông trắng, các loài sóc, chuột đất lớn, nhím, đồi, cu lilớn, chồn vàng, các loài cầy, mèo rừng, lợn rừng, nai, hoẵng, sơn dương, tê têvàng, dơi, loài voọc mông trắng Có đến 114 loài chim có mặt trong hệ sinhthái này Trong số này có một số loài cò, diều, ưng, cắt, gà rừng, cun cút, cácloài cu, bìm bịp, cú, yến, trảu, thầy, gà lôi, và đa dạng các loài thực vật khác

Vị trí địa lý, sự đa dạng về đất đai, địa hình và thổ nhưỡng, điều kiện khíhậu thuỷ văn, sinh vật phong phú thuận lợi đã giúp Hà Nam hình thành nên mộtnền văn hóa riêng biệt của địa phương, đặc biệt là ẩm thực Bởi lẽ khi thiênnhiên ưu ái cho loài người có nhiều sản vật để chế biến thành những tinh hoa ẩmthực mang dấu ấn của người Hà Nam

2.2.2 Điều kiện xã hội

Về dân cư, theo thống kê mới nhất, dân số của Hà Nam là 811.126 người,với mật độ dân số là 941 người/km2, tỷ lệ tăng tự nhiên là 1,14 %/năm Trong đódân số nông thôn là 742.660 người, dân số sinh sống ở khu vực đô thị là 68.466người (chỉ chiếm 8,5%) Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 7 tôngiáo khác nhau đạt 172.053 người, nhiều nhất là Công giáo có 114.689 người,tiếp theo là Phật giáo có 57.277 người Còn lại các tôn giáo khác như đạo TinLành, Minh Lý đạo Phật giáo Hòa Hảo và Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Cao Đài

Ngày đăng: 22/04/2023, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w