1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận Văn Thạc Sĩ) Hợp Tác Văn Hoá, Giáo Dục Việt Nam - Nhật Bản (Từ 1992 Đến 2017).Pdf

122 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Tác Văn Hóa, Giáo Dục Việt Nam - Nhật Bản (Từ 1992 Đến 2017)
Tác giả Lê Văn Trường
Người hướng dẫn TS. Ngô Chơn Tuệ, TS. Trịnh Tiến Thuận
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Lê Văn Trường HỢP TÁC VĂN HOÁ, GIÁO DỤC VIỆT NAM NHẬT BẢN (TỪ 1992 ĐẾN 2017) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM Tha[.]

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Văn Trường

Th ành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Văn Trường

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam

Mã số: 82 29 013

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS NGÔ CHƠN TUỆ

2 TS TR ỊNH TIẾN THUẬN

Th ành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Hợp tác văn hoá, giáo dục Việt Nam –

kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các cơ quan chức năng cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

Lê Văn Trường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Lịch

sử và Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, với lòng biết ơn sau sắc nhất, tôi xin chân thành cảm ơn TS Ngô Chơn Tuệ và TS Trịnh Tiến Thuận – hai người thầy, người hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Mặc dù, bản thân đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài nhưng

chắc chắn luận văn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì thế, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của Quý thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn!

Lê Văn Trường

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục bảng biểu

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ CỦA QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM – NHẬT BẢN VỀ GIÁO DỤC, VĂN HÓA 11

1.1 Khái niệm văn hóa và giao lưu văn hóa 11

1.1.1 Khái niệm văn hóa 11

1.1.2 Khái niệm tiếp xúc và giao lưu văn hóa 13

1.2 Cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam – Nhật Bản về văn hóa, giáo dục 15

1.2.1 Điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội Việt Nam 15

1.2.1 Điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội Nhật Bản 19

1.3 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản 26

1.3.1 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản từ 1973 đến 1991 26

1.3.2 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản từ 1992 đến 2017 27

1.3.3 Các mốc lớn trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản 30

Chương 2 HỢP TÁC VĂN HÓA VIỆT NAM – NHẬT BẢN 36

2.1 Giao lưu văn hóa - nghệ thuật 36

2.2 Viện trợ văn hóa của Nhật Bản cho Việt Nam 44

2.3 Các hoạt động hợp tác bản tồn văn hoá truyền thống của Việt Nam giữa Việt Nam và Nhật Bản 47

2.3.1 Hỗ trợ bảo tồn các di tích tại Huế 47

2.3.2 Hỗ trợ bảo tồn Nhã nhạc Việt Nam 49

2.3.3 Hỗ trợ Bảo tàng dân tộc học Việt Nam 50

2.3.4 Hỗ trợ thiết bị bảo tồn Di tích Hoàng thành Thăng Long 51

2.4 Ảnh hưởng của một số loại hình văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản 53

2.4.1 Ảnh hưởng của một số loại hình văn hóa Việt Nam tại Nhật Bản 53

Trang 6

2.4.1 Ảnh hưởng của một số loại hình văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam 61

2.5 Người Việt Nam tại Nhật Bản và người Nhật Bản tại Việt Nam 68

2.5.1 Người Việt Nam học tập, sinh sống tại Nhật Bản 68

2.5.2 Cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản 70

2.6 Người Nhật Bản học tập, sinh sống tại Việt Nam 71

Chương 3 HỢP TÁC GIÁO DỤC VIỆT NAM – NHẬT BẢN 75

3.1 Hợp tác giảng dạy tiếng Việt tại Nhật Bản 75

3.2 Hợp tác giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam 76

3.2.1 Chương trình giảng dạy tiếng Nhật 76

3.2.2 Chương trình cộng sự tiếng Nhật 77

3.3 Hợp tác giáo dục đại học và đào tạo nguồn nhân lực 82

3.3.1 Số lượng du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản 82

3.3.2 Trường Đại học Việt – Nhật 85

3.3.3 Hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnh vực hộ lý điều dưỡng 86

3.4 Hợp tác nghiên cứu khoa học 87

3.4.1 Khoa học công nghệ 87

3.4.1 Nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản 89

3.4.2 Nghiên cứu Nhật Bản tại Việt Nam 89

3.5 Hợp tác trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn 93

3.5.1 Trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử - khảo cổ học 93

3.5.2 Dịch thuật và nghiên cứu văn học 95

K ẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PH Ụ LỤC

Trang 7

DANH M ỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Số lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong

năm 2017 16 Bảng 1.2 Các sự kiện chính trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản 30 Bảng 2.1 Thống kê nhóm 5 cộng đồng có số người nước ngoài cao nhất

tại Nhật Bản năm 2017 69 Bảng 2.2 Thống kê số người Việt Nam tại Nhật giai đoạn 2007 đến 2017 69 Bảng 3.1 Thống kê số lượng lưu học sinh một số nước tại Nhật Bản

năm 2014 và 2015 83 Bảng 3.2 Số lượng du học sinh Việt Nam tại Nhật năm 2008 và năm 2016 84 Bảng 3.3 Thống kê số bài viết về văn hoá Nhật Bản trên Tạp chí nghiên

cứu Đông Bắc Á (tính đến tháng 3/2015) 92

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 L ý do chọn đề tài

Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá và quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng mạnh mẽ Quan hệ Việt Nam và Nhật Bản cũng không nằm ngoài xu thế chung Giao lưu Việt Nam – Nhật Bản đã có từ thế kỷ XVI – XVII, trong khuynh hướng mở rộng và phát triển thương mại quốc tế, quan hệ giữa hai nước đã diễn ra trên các lĩnh vực đối ngoại, kinh tế, xã hội, văn hóa Lúc bấy giờ hoạt động của thương nhân Nhật Bản nhộn nhịp ở Phố Hiến, Hội An Cho đến nay, mối quan

hệ giữa hai nước còn để lại nhiều dấu ấn và kỷ vật có giá trị, như 62 bức văn thư trao đổi giữa chính quyền Mạc phủ và các Chúa Trịnh, Nguyễn; mộ người Nhật ở Hội An và bia “Phổ Đà Sơn linh Trung Phật” ghi tên những Nhật kiều đóng góp

tiền, bạc, công đức xây chùa Phổ Đà (1640)… Đó là một trong những dấu tích còn lại trên thế giới và Đông Nam Á được bảo tồn ở những nơi mà người Nhật đã sinh sống, buôn bán cách đây gần 400 năm

Nhật Bản trở thành một chủ đề hấp dẫn và quan tâm với trên 300 Viện và Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản trên thế giới Vào thế kỉ XXI, khi quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản ngày càng mở rộng, đòi hỏi phải nghiên cứu về đất nước, con người hai nước nhiều hơn Do đó, việc nghiên cứu Nhật Bản và quan hệ văn hóa, giáo dục Việt – Nhật có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Những năm gần đây, hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu về Nhật Bản được đẩy mạnh ở Việt Nam, các hoạt động giao lưu văn hoá và giáo dục cũng được tiến hành với quy mô rộng lớn và tổ chức khá thành công, đặc biệt là nhân dịp kỉ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản (1973 - 2018) Nhiều hoạt động giao lưu về giáo dục, văn hoá được tổ chức, tạo tiền đề cơ sở cho hợp tác về mặt kinh tế, nâng cao hiệu quả của đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam

Vậy nên, việc tìm hiểu quan hệ văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ rút ra những bài học trong quá trình xây dựng, tổ chức các hoạt động ngoại giao trên lĩnh vực văn hoá giữa hai quốc gia để có hiệu hơn trong thời gian tới Thủ tướng Hashimoto đã chỉ ra : “Điều kiện không thể thiếu được là không chỉ dừng lại ở mối giao lưu kinh tế thương mại đơn thuần, mà còn phải hiểu biết đúng đắn tình hình

Trang 9

hiện nay bao gồm cả lĩnh vực lịch sử, văn hóa hai nước đã đạt được truyền thống lâu đời vun đắp” (Đại Học Khoa học xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2004) Như ngài Makoto Anabuki (Tham tán văn hoá và thông

tin, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam) tại Hội thảo “25 năm quan hệ Việt Nam –

nhưng chúng ta cần phải hiểu biết lẫn nhau hơn” (Dương Phú Hiệp, Ngô Xuân

Bình, Trần Anh Phương, 1999)

Giao lưu văn hoá là một yếu tố quan trọng giúp cho việc tăng cường hiểu biết trong quan hệ giữa hai dân tộc, hai quốc gia Trước đây, những hiểu biết của người Việt Nam về Nhật Bản chủ yếu qua sách báo Như giáo sư Masaya Shiraishi khi chỉ

ra trong quan hệ Nhật Bản - Việt Nam “là sự thiếu vắng của các khía cạnh văn hoá” Giữa Nhật Bản - Việt Nam, việc giao lưu văn hoá diễn ra chậm ngay cả khi hai nước đã bình thường hoá quan hệ với nhau

Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia ở Châu Á, cùng chịu ảnh hưởng từ văn hoá Trung Hoa nên có một số nét tương đồng Từ năm 1992 đến 1995, đã có nhiều đoàn văn hoá Việt Nam cũng như Nhật Bản đến và giới thiệu về văn hoá truyền thống, tổ chức các cuộc hội thảo về Hội An, Phố Hiến, Bách Cốc, hội thảo về khoa

học kỹ thuật Một số các tổ chức hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản cũng được thành lập như Hội giao lưu văn hoá Nhật - Việt, Hội hữu nghị Việt – Nhật đã đóng vai trò

to lớn trong việc phát triển quan hệ giao lưu văn hoá Việt Nam – Nhật Bản Các chương trình dạy cắm hoa, cử giáo viên Nhật Bản sang Việt Nam dạy tiếng Nhật, giới thiệu về trà đạo, tổ chức diễn chèo, múa rối nước Việt Nam

Tuy nhiên, ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau những công trình nghiên cứu về Nhật Bản và về quan hệ giữa hai nước thường tập trung vào thời kỳ cận hiện đại trên lĩnh vực kinh tế, chính trị Quan hệ văn hoá có phần còn hạn chế

và chưa có nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ văn hoá Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn 1992 – 2017

Vì vậy, nghiên cứu quan hệ văn hoá của hai nước sẽ góp phần nhìn nhận toàn

diện hơn về quan hệ Việt Nam -Nhật Bản, mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau, tăng

Trang 10

cường quan hệ hữu nghị giữa hai nước nhằm phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay Rút ra bài học từ mối quan hệ trong lịch sử, giúp

trình lịch sử dân tộc, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà văn hóa được xem là động lực và mục tiêu của mỗi quốc gia Trường THPT Marie Curie nơi tôi giảng dạy cũng có chương trình giảng dạy ngôn ngữ Nhật Bản và tình

văn có thêm kinh nghiệm giao tiếp, có thêm kiến thức để giảng dạy tốt hơn

Nh ật Bản (từ 1992 đến 2017)” làm đề tài luận văn thạc sĩ nhằm có thêm những

hiểu biết về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản được nhiều học giả và các nhà nghiên cứu ở cả hai nước quan tâm Với mục đích tìm hiểu và đưa ra những phương hướng phát triển cho mối quan hệ giữa Việt Nam một cách hiệu quả thì các công trình nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu những lĩnh vực khác nhau của mối quan hệ ngoại giao của Việt Nam – Nhật Bản Từ sau năm 1990 với xu thế mở trong hợp tác quốc tế, quan hệ giao lưu văn hóa Việt – Nhật phát triển nhanh chóng

về chiều sâu Nhiều công trình khoa học được công bố, nhiều Hội thảo khoa học được tổ chức

Trước tiên, phải kể đến là công trình “25 năm quan hệ Việt Nam – Nhật Bản

Với nhiều báo cáo chuyên để xoay quanh hai nội dung cơ bản: Mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong 25 năm qua; có Phần thứ nhất Tình hình nghiên cứu Nhật

Kawamato Kynnie, Furuta Moto, Mashayaa Shiraishi, Dương Phú Hiệp, Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Văn Lịch… phác thảo những nét lớn về tình hình nghiên cứu

Trang 11

Nhật Bản ở Việt Nam và nghiên cứu Việt Nam ở Nhật Bản, đào tạo ngành Nhật Bản học ở Việt Nam và những vấn đề đang đặt ra…

Công trình nghiên cứu “Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản quá khứ, hiện tại và tương lai” của Ngô Xuân Bình và Trần Quang Minh (chủ biên) (2005) là những

nghiên cứu của của các học giả trong và ngoài nước, có 5 nội dung chính, trong đó

“Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản về văn hoá, giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” , đánh giá một cách khách quan chặng đường lịch sử trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản, về những kết quả mà hai bên đã đặt được cũng như những hạn chế cần được khắc phục nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ giữa hai nước trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục để nâng cao sự tin cậy lẫn nhau giữa Chính phủ và nhân dân hai nước cũng như tạo ra bầu không khí hoà bình - hợp tác - phát triển trong khu vực và trên thế giới

Cuốn “Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản sau chiến tranh lạnh” của Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Tất Giáp (2013) đã làm rõ thực trạng về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trên các lĩnh vực (chính trị - đối ngoại, kinh tế và các lĩnh vực khác) từ năm

1991 đến năm 2012 và dự báo triển vọng quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đến năm

2020 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản từ sau chiến tranh lạnh đã có những bước phát triển một cách toàn diện mọi mặt như: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trở thành

mối quan hệ năng động và hiệu quả góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam và công cuộc cải cách của Nhật Bản

Cuốn “Các vấn đề lịch sử, văn hóa, xã hội trong giao lưu Việt Nam - Nhật

thuật các sự kiện cũng như những chứng cứ lịch sử về sự biến đổi xã hội và mối quan hệ giao lưu giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản trong suốt quá trình lịch sử hơn một nghìn năm kể từ thế kỷ thứ 8 đến nay Đặc biệt đã trình bày những kết quả nghiên cứu thực địa, các phân tích khảo cổ học, các văn bản thư tịch cổ chứng minh

sự giao lưu từ rất sớm giữa hai nước Đồng thời, các tác giả cũng đối chiếu văn hoá Việt Nam – Nhật Bản từ đó thấy được sự tương đồng và những khó khăn trong quá trình giao lưu và truyền bá văn hóa giữa hai nước Có thể nói đây là những nghiên

cứu hết sức có ý nghĩa góp phần khẳng định một trong những nhân tố góp phần vào

Trang 12

sự phát triển mạnh mẽ hiện nay của quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản là có nguồn gốc sâu xa từ trong lịch sử

Nhiều hội thảo về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản và có những Hội thảo chuyên

đề về quan hệ văn hóa, giáo dục được tổ chức Có thể kể đến:

- Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Nhật Bản và các nước tiểu vùng Mekong

phố Hồ Chí Minh phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế "Nhật Bản và các nước tiểu vùng sông Mekong" (gồm Việt Nam-Lào-Thái Lan-Campuchia), diễn ra trong hai ngày (29-30/10/2010) tập hợp 45 bài viết, của các nhà nghiên cứu và học giả trong và ngoài nước, trong đó, nhiều tác giả nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam

- Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (2000), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đông phương học Việt Nam”

- Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Hội thảo khoa học “Quan hệ văn hoá, giáo dục Việt Nam – Nhật Bản và 100 năm phong

trào Đông Du”

- Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2008), Hội thảo “Nhật Bản với Nam Bộ - Việt Nam quá khứ - hiện tại - tương

lai”

- Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (2008),

Kỷ yếu hội thảo “Thúc đẩy nghiên cứu Nhật Bản tại Việt Nam”

- Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2008), Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Các giá trị Nhật Bản ở châu Á

- Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Đào tạo nguồn nhân lực Nhật Bản bài học

- Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Hội thảo khoa học: 40 năm quan hệ Nhật Bản – Việt Nam - Thành

qu ả & phát triển

Trang 13

Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2016), Hội thảo Quốc tế: Quan hệ Việt -Nhật thời cận thế Các hội thảo này

đã nêu rõ được tầm quan trọng của giao lưu văn hoá, giáo dục giữa Nhật Bản và Việt Nam trên các phương diện về thúc đẩy, đào tạo nguồn nhân lực từ giáo dục

phổ thông đến đại học, đặc biệt là ghi nhận mở rộng quy mô đào tạo tiếng Nhật ở Việt Nam, đào tạo tiếng Việt ở Nhật Bản; thúc đẩy việc giao lưu con người đặc biệt

là cho giới trẻ cho thấy sự khác biệt và con đường giao lưu so với trước đây Cũng

chỉ rõ những thành tựu nổi bật trong nghiên cứu Nhật Bản và Việt Nam ở mỗi nước

Ngoài các công trình nghiên cứu tổng hợp, các cuốn sách còn có các bài báo nghiên cứu trên các tạp chí khoa học:

Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á

Nghiên cứu “Quan hệ văn hóa Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn từ 1993 đến nay” của Ngô Hương Lan (2012), tác giả phân tích quan hệ văn hoá giữa Việt Nam

và Nhật Bản không diễn ra sôi động như trong lĩnh vực kinh tế nhưng tầm quan trọng của nó ngày càng được xác định rõ Quan hệ văn hoá giữa hai nước hiện nay chủ yếu diễn ra trong các lĩnh vực: Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển các hoạt động văn hoá, giáo dục; giao lưu văn hoá, nghệ thuật giữa hai nước; đào tạo tiếng Nhật Bản tại Việt Nam và tiếng Việt tại

Nhật Bản; trao đổi học thuật, phát triển ngành tại Việt Nam và nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản; cuối cùng là những hoạt động tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước

“Hợp tác văn hoá đa phương Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN”

của Vũ Tuyết Loan (2007), trình bày về quan hệ văn hoá giữa các nước ASEAN với các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác sẽ làm tăng thêm vốn hiểu biết, giúp đỡ lẫn nhau cho sự hợp tác giữa các nước đạt được hiệu quả cao hơn, nhất là trong bối cảnh thế giới trong những thập niên đầu thế kỷ XXI

“Hợp tác và giao lưu văn hóa – giáo dục Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh

lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xúc tiến hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Nhật Bản là nền tảng của mọi quan hệ hợp tác Trong bối cảnh toàn cầu hóa

Trang 14

và sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức hiện nay đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của toàn nhân loại Chính vì vậy, việc hợp tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường giao lưu văn hóa và hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh mới

“Hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực” của Hoàng Minh Lợi, số 2 (144), 2-2013, trình bày về vị trí quan trọng

của lĩnh vực giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực hiện nay Hợp tác Việt Nam –

Nhật Bản trong lĩnh vực này là hợp tác giữa hai chính phủ; giữa các trường học; giữa các viện nghiên cứu, trung tâm, tổ chức và cá nhân; đào tạo nhân lực dành cho lao động

“Chính sách ngoại giao văn hóa của Nhật Bản từ sau Chiến tranh Lạnh đến

tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Nhật Bản và các nước trên thế giới có nhiều biến động Ngoại giao văn hóa theo hình thức truyền thống thông qua kinh tế quảng bá hình ảnh của Nhật Bản - một quốc gia có nền kinh tế cao, một mô hình cho các quốc gia Châu Á khác học tập đã không còn phù hợp Những nỗ lực thay đổi hình ảnh từ một “siêu cường kinh tế” sang hình ảnh một “siêu cường văn hóa” trong ngoại giao; những khó khăn, thuận lợi khi triển khai chính sách ngoại giao

văn hóa và những thay đổi này có tác động gì đến Việt Nam là nội dung bài viết đề cập đến

Ngoài ra còn có nhiều bài báo, bài nghiên cứu về các lĩnh vực riêng của mối quan hệ Việt Nam và Nhật Bản Tuy nhiên, chúng tôi được biết chưa có công trình nào nghiên cứu tổng hợp về quan hệ văn hoá Việt Nam – Nhật Bản từ năm 1992 đến 2017 Điều này là căn cứ để tôi tìm hiểu và tổng hợp những phân tích đánh giá của các nhà khoa học, các học giả đặt cơ sở cho nghiên cứu khoa học của tôi cũng chính là luận văn Thạc sĩ với đề tài: “Hợp tác văn hoá, giáo dục Việt Nam – Nhật

Bản (từ 1992 đến 2017)”

3 N guồn tài liệu

- Các tài liệu văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến nội dung luận văn

Trang 15

- Các giáo trình lịch sử Việt Nam, Nhật Bản có liên quan

- Các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, các luận văn, luận án của các tác giả có liên quan đến đề tài luận văn đã được công bố

- Các bài nghiên cứu trong các tạp chí như: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản,

tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, …

4 M ục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở tổng hợp nguồn tư liệu một cách có hệ thống, luận văn cố gắng phục dựng lại bức tranh quan hệ văn hoá Việt Nam – Nhật Bản trong khuôn khổ hợp tác văn hoá, giáo dục giữa hai nước từ 1992 đến 2017

Phân tích, đánh giá để làm rõ những sự thay đổi, điều chỉnh trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản nói chung và các hoạt động quan hệ giáo dục, văn hoá nói riêng từ

1992 đến 2017, để có thể đánh giá mức độ hiệu quả của các hoạt động trên và một

số giải pháp cho hướng phát triển trong tương lai của quan hệ văn hoá giữa hai quốc gia

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, luận văn tìm hiểu các nhân tố đóng vai trò quan trọng làm tiền đề của mối quan hệ văn hoá, giáo dục Việt Nam – Nhật Bản từ 1992 đến 2017

Thứ hai, luận văn xem xét sự phát triển, thay đổi của quan hệ văn hoá, giáo dục Việt Nam – Nhật Bản dưới tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực trong giai đoạn 1992 đến 2017

Thứ ba, luận văn sẽ đánh giá thành tựu, hạn chế của quan hệ văn hoá, giáo dục của hai nước (1992 đến 2017) đồng thời rút ra những đặc điểm, nêu nên những khó khăn và triển vọng trong mối quan hệ văn hoá Việt – Nhật

Để làm rõ nội dung của đề tài hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trên lĩnh

vực văn hoá, giáo dục, chúng tôi tập trung tìm hiểu các hoạt động tiếp nhận viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam; các hoạt động giao lưu văn hoá, nghệ thuật giữa hai quốc gia; đào tạo tiếng Nhật Bản tại Việt Nam và đào tạo tiếng Việt Nam tại Nhật

Trang 16

Bản; trao đổi học thuật, nghiên cứu Nhật Bản học và Việt Nam học; các hoạt động xúc tiến những hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước

Ph ạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu bối cảnh lịch sử Việt Nam và Nhật Bản giai đoạn 1992 - 2017 để thấy được những tác động của các mối quan hệ thân thiện giữa hai nước để có thể tìm hiểu kỹ hơn về các chính sách hợp tác về giáo dục và văn hoá của Việt Nam và Nhật Bản Luận văn có sự phân tích về những thay đổi trong các hoạt động hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản từ năm 1992 đến 2017

Những hoạt động hợp tác văn hoá và giáo dục của Việt Nam và Nhật Bản từ

1992 đến 2017 Tuy nhiên luận văn không thể không nói đến các giai đoạn lịch sử quan hệ Việt – Nhật trước đó để làm rõ hơn vấn đề luận văn cần nghiên cứu

5 C ơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nhìn nhận đánh giá vấn đề

Luận văn vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic Cũng như sử dụng các phương pháp khác như: Phân tích, tổng hợp, so sánh

6 N hững đóng góp khoa học của luận văn

- Luận văn phục dựng những nét lớn quan hệ giáo dục và văn hoá Việt Nam – Nhật Bản từ 1992 đến 2017

- Qua nội dung nghiên cứu của luận văn để làm rõ mối quan hệ văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản, cùng với những tác động của nó đối với mỗi nước trong bối cảnh thế giới những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI

Trang 17

- Luận văn được nghiên cứu theo hướng chuyên đề giúp tác giả có cách nhìn sâu sắc hơn những vấn đề lịch sử theo từng nội dung vấn đề nghiên cứu

- Luận văn có thể sử dụng làm nguồn tài liệu cho những ai quan tâm việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu về các hoạt động văn hoá của Việt Nam hay Nhật

Bản ở các trường trung học phổ thông và cao đẳng thời kỳ này

7 C ấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở của quan hệ giữa Việt Nam – Nhật Bản về giáo dục, văn hoá Chương 2 Hợp tác giáo dục Việt Nam – Nhật Bản (1992 – 2017)

Chương 3 Hợp tác văn hoá Việt Nam – Nhật Bản (1992 – 2017)

Trang 18

Chương 1

C Ơ SỞ CỦA QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM – NHẬT BẢN

VỀ GIÁO DỤC, VĂN HÓA Khái niệm văn hóa và giao lưu văn hóa

Khái niệm văn hóa

Hiện nay, trên thế giới có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về văn hoá Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng có khoảng 300 định nghĩa khác nhau về văn hoá (Phan Ngọc, 1994) Do vậy, nên việc xác định khái niệm văn hoá có nhiều những ý kiến khác nhau Như ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đã ghi: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện

dân tộc” (Trần Quốc Vượng, 2010)

Các Mác coi “văn hóa là toàn bộ những thành quả được tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con người” - hoạt động sản xuất vật chất và tái sản xuất ra

đời sống hiện thực của con người (Đặng Hữu Toàn, 2007)

Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm về văn hoá như sau:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn

phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của

nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn (Hồ Chí Minh toàn tập, 1995)

Trần Quốc Vượng cho rằng: “Một hoạt động có ý nghĩa đặc biệt đối với giao

lưu văn hoá là trao đổi kinh tế” Sự trao đổi kinh tế thuờng đuợc tiến hành bằng

những cuộc tiếp xúc tập thể hay cá nhân tại các điểm quy định trên đuờng biên giới

Trang 19

giữa lãnh thổ của các cộng đồng (bộ lạc hay nhóm bộ lạc ) (Trần Quốc Vượng, 2010)

“Ngoại giao văn hóa sẽ góp phần quảng bá và thúc đẩy du lịch, hỗ trợ cho

giao văn hóa phải hiểu theo 3 góc cạnh như vậy”, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao

Phạm Sanh Châu khẳng định (Hùng Cường và Hoàng Lê, 2018) Phạm Sanh Châu cũng nhấn mạnh, thông điệp quốc gia hay thương hiệu địa phương thường được gắn

với hình ảnh du lịch quốc gia Và ngoại giao văn hóa góp phần vào quá trình giới thiệu, thúc đẩy du lịch, cũng như hỗ trợ xóa đói giảm nghèo của các địa phương, từ

đó góp phần phát triển kinh tế xã hội Thông qua các hoạt động giao lưu, trao đổi, tiếp xúc đối ngoại, xúc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước, các địa phương có thể xác định được điểm mạnh, yếu của mình và định vị được hình ảnh mong muốn xây dựng trong tương lai

Qua những chương trình, hoạt động cụ thể, ngoại giao văn hóa chuyển tải tới bạn bè quốc tế hình ảnh về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, thân thiện, cởi mở, một dân tộc Việt Nam anh dũng, bất khuất, nhân văn, một lịch sử hào hùng, một nền văn hóa đậm đà bản sắc, một quốc gia có nhiều di sản văn hóa, thiên nhiên, nhiều phong cảnh đẹp (Hùng Cường và Hoàng Lê, 2018)

Tiếp đến, phải kể đến khái niệm “văn hoá” được UNESCO ghi nhận tại Hội nghị quốc tế ngày 26/07/1992 ở Mexico những nhà văn hoá đại diện cho trên 100 nước tham dự đã đi đến một định nghĩa chung về văn hoá:

Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của

và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành

Trang 20

cách đạo lý Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình, là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng

Văn hoá là một khái niệm chung chỉ những giá trị vật chất, tinh thần được con người tạo ra trong thực tiễn lao động, tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đồng thời, văn hoá cũng là biểu hiện của trình độ phát triển xã hội trong từng thời

kỳ lịch sử nhất định Quá trình lao động và hoạt động sáng tạo của con người là không ngừng nghỉ chính vì vậy những giá trị được tạo ra cũng vô cùng phong phú

và đa dạng, tạo nên một bức tranh văn hoá đa sắc màu

Thực tế lao động, sinh hoạt của con người ở những khu vực khác nhau trên thế giới, có những điều kiện tự nhiên về thổ nhưỡng, khí hậu, đất đai, nguồn nước… đã tạo ra những thuận lợi và cả những khó khăn riêng biệt nên con người đã sinh sống trên vùng đất đó thì sẽ phải tìm cách thích ứng với vùng đất đó và đó là việc con người thể hiện sự sáng tạo những giá trị vật chất, tinh thần sao cho phù hợp hơn với

yếu tố thiên nhiên Và theo ý kiến của bản thân tôi thì đây cũng chính là nguồn gốc

để con người ở mỗi vùng đất lại có những dấu ấn văn hoá riêng biệt

Khái niệm tiếp xúc và giao lưu văn hóa

Trong các hoạt động ngoại giao thông thường có ngoại giao kinh tế dẫn đường

và sau đó là đến ngoại giao văn hoá Các hoạt động ngoại giao văn hoá góp phần tạo nên sự tác động qua lại giữa các nền văn hoá giữa các quốc gia Từ đó cũng hình thành khái niệm tiếp xúc và giao lưu văn hoá

Khái niệm tiếp xúc và giao lưu văn hóa được dịch từ những thuật ngữ như

Nhưng ngay bản thân ở các nước phương Tây, các khái niệm này cũng được dùng bởi những từ khác nhau Người Anh thích dùng chữ Cultural Change (có

Trang 21

des civilisations (có nghĩa là sự hòa nhập giữa các nền văn minh), người Hoa

trên ở các nước có giới hạn chung, nhưng các thuật ngữ đều có những nét khác

Khái niệm acculturation được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam dịch không thống nhất Có người dịch là văn hóa, có người dịch là đan xen văn hóa Cách

văn hóa Theo Hà Văn Tấn, các nhà khoa học Mỹ: R Ritdiphin (R.Redifield),

trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm” (Trần Quốc Vượng, 2010)

Giao lưu văn hoá là sự tiếp xúc, trao đổi, gặp gỡ giữa những nền văn hoá khác nhau của các dân tộc và có những biến đổi nhất định sau quá trình tiếp xúc văn hoá Giao lưu văn hoá thường diễn ra sau những hoạt động kinh tế, ngoại hay là chiến tranh nhưng sự giao lưu và tiếp xúc văn hoá mới chính là gốc rễ bền chặt

Trong lịch sử loài người những nền văn hoá được hình thành với bề dày và sự trường tồn không phải là những nền văn hoá khép kín mà là những nền văn hoá có

sự giao lưu, trao đổi, học hỏi lẫn nhau Bởi “biết người, biết ta” mới chính là cách

để thấy được cái hay, cái tốt của mình mà tự hào và cái chưa tốt, chưa hoàn thiện để chỉnh sửa Về phương diện văn hoá, việc học hỏi lẫn nhau đôi khi không rõ ràng

nếu nhưng những điều kiện giống nhau sẽ hình thành những giá trị văn hoá tương đồng

Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia ở vùng châu Á và đã từng được Phan

Bội Châu gọi là “đồng chủng, đồng văn” Những nét tương đồng giữa hai quốc gia như đều có lịch sử hình thành và phát triển đất nước khá dài, có nền nông nghiệp lâu đời và có bờ biển dài … nên đã có sự gặp gỡ nhau giữa hai nền văn hoá Nhật -

Trang 22

Việt từ rất sớm và cũng đã có những tác động qua lại giữa hai nền văn hoá gần đây góp phần giúp cho người Việt hiểu hơn về Nhật Bản và người Nhật hiểu hơn về Việt Nam

Ngày nay, chúng ta có thể thấy nhiều hơn cả những giao lưu, tiếp xúc của cư dân hai nước từ rất sớm và thể hiện rõ nhất qua những giá trị văn hoá của Hội An còn lưu giữ Trong thế kỷ XXI, thế giới loài người đang xích gần lại nhau hơn trong

kỷ nguyên công nghệ, khi những thành quả sáng tạo, giá trị văn hoá đã được đến

với quốc gia khác chỉ trong vài tích tắc qua mạng internet Nhờ vậy, những hình ảnh, tư liệu về một quốc gia, một nền văn hoá, văn minh đã được chia sẻ một cách nhanh và dễ dàng

Đồng thời, khi giao lưu văn hoá nếu như các nền văn hoá ấy có những điểm gần nhau, có những tương đồng văn hoá thì mức độ giao lưu, tiếp xúc, đôi khi tạo nên những tiếp biến văn hoá một cách nhanh chóng

Cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam – Nhật Bản về văn hóa, giáo dục Điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội Việt Nam

a Điều kiện địa lý Việt Nam

Việt Nam là quốc gia nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, là cầu nối giữa châu Á lục địa với châu Á hải đảo Biên giới Việt Nam trên đất liền tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia; trên biển tiếp giáp với vùng biển Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Thái Lan… Đồng thời, Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài với chiều dài là 3.260 km đường bờ biển và một không gian biển rộng lớn tạo điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển và con đường giao thông vận tải trên biển

Diện tích biển của Việt Nam trên 1 triệu km2 mặt nước và lòng đại dương với nhiều tôm cá và trữ lượng dầu mỏ lớn Những tài nguyên này được cha ông ta khai tác lâu đời Từ rất sớm, nhiều quốc gia trong khu vực đã có quan hệ qua lại, buôn bán với Việt Nam Đến thế kỷ XVI – XVII, phố cảng Hội An đã trở thành nơi buôn bán tấp nập với những nhà phố của người Nhật Bản Sự tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai nền văn hoá Việt Nam – Nhật Bản đã có những dấu ấn được lưu giữ

Trang 23

lại tiêu biểu như là khu phố cổ Hội An và những sản phẩm, dấu tích còn được bảo tồn cho đến ngày nay

Việt Nam là đất nước có nhiều tài nguyên khoáng sản, thiên nhiên ưu dãi với những phong cảnh đẹp Chiều dài đất nước trải dài trên 15 vĩ độ, với đặc trưng khí

hậu các vùng miền khác nhau khá rõ rệt tạo nên những nét riêng của mỗi vùng địa

lý nhưng đồng thời cũng tạo nên một không gian đa dạng màu sắc văn hoá

Việt Nam là một quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời và là một ngành kinh tế chính của nền kinh tế Việt Nam Trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo

vệ đất nước việc phát triển kinh tế của Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển các ngành kinh tế theo hướng thị trường và tạo đà cho nền kinh tế phát triển vượt bậc Năm

1986, Việt Nam bước vào thời kỳ mở cửa đất nước, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không ngừng tăng lên và có nhiều tiến triển tốt đẹp Mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước trên thế giới cũng đã có nhiều thay đổi tích cực

c Xã hội Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có dân số đông với 48,03 triệu người năm 1975, năm 1990 là 66,02 triệu người và năm 2016 là 92,7 triệu người Lực lượng lao động trung bình chiếm khoảng trên 55% cơ cấu dân số, tuổi thọ trung bình khoảng 76,6 tuổi Về cơ bản, với một lực lượng lao động dồi dào Việt Nam có điều kiện tốt về nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế, đồng thời cũng là cơ hội để

Việt Nam có thể hợp tác với các quốc gia trên thế giới về phát triển nguồn nhân lực Lao động Việt Nam đã được một số thị trường lao động trên thế giới đón nhận như Đài Loan, In-đô-nê-xia, Qua-ta, Ma-lay-xia… và đặc biệt là thị trường lao động Nhật Bản với một số lượng lớn lao động đi làm việc tại Nhật Bản Năm 2017, là năm ghi nhận kỷ lục với số thực tập sinh được phái cử sang Nhật Bản là

Bảng 1.1 Số lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong năm 2017 STT Qu ốc gia S ố lượng lao động xuất khẩu

Trang 24

3 Hàn Quốc 5.178

“Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước - Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội 2017”

Việt Nam là một nước ở khu vực Đông Nam Á có nền văn hiến với hàng ngàn năm tồn tại và phát triển Vị trí ở phía Đông của bán đảo Đông Dương nên bản sắc văn hoá Việt Nam là bản sắc bán đảo, tiếp nhận và tích hợp cả ảnh hưởng văn hoá lục địa và văn hoá hải đảo: có văn hoá núi, văn hoá đồng bằng và văn hoá biển Tuy nhiên, đặc trưng của văn hoá Việt Nam là văn hoá nông nghiệp lúa nước Văn minh nông nghiệp lúa nước cũng là đặc trưng của văn hoá Đông Nam Á trước khi những nước này hội nhập với những giá trị văn hoá trên thế giới

Văn hoá Việt Nam ảnh hưởng rất lớn từ văn hoá Trung Hoa và văn hoá Ấn

Độ, người Việt Nam dần dần ý thức được rằng văn hoá nước ta cần thiết phải tiếp

nhận những mặt mạnh của một nền văn hoá lớn bên cạnh dù bằng cách truyền bá bằng con đường hoà bình hay bạo lực Chính quá trình tiếp thu những giá trị của văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ này đã tạo nên một số nét tương đồng của văn hoá Việt Nam với văn hoá các nước như Triều Tiên, Nhật Bản thời trung đại

“Cả Nhật Bản và Việt Nam đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo Vì vậy

có nhiều điểm tương đồng trong phong tục tập quán, lễ giáo trong đời sống văn hoá, tinh thần, dễ thông cảm với nhau Đồng thời, nho giáo có ảnh hưởng lớn đến

Trần Quang Minh, 2014)

Văn hoá Trung Hoa với 3 yếu tố - chữ Hán, triều đình quân chủ cha truyền con nối, chế độ giáo dục và thi cử theo Nho giáo để đào tạo quan lại – “thực tế đã cấp

1994) nhưng lại có nhiều điểm giống với Triều Tiên và Nhật Bản là hai quốc gia ảnh hưởng sâu đậm của văn hoá Trung Hoa Việt Nam sử dụng chữ Hán trong thời

kỳ trung đại và cũng sử dụng nền giáo dục Nho học để đào tạo quan lại nên về cơ bản những nét văn hoá Hán đặc sắc được văn hoá Việt Nam tiếp thu chọn lọc và lưu

Trang 25

giữ trong những nét văn hoá truyền thống Người Việt Nam cũng luôn trọng lễ nghĩa, coi trọng luân thường đạo lý và tư tưởng “tôn sư, trọng đạo” đều đã thấm nhuần trong mỗi con người Việt Nam

Đất nước Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ, với đặc trưng phía Đông là biển, phía Tây là núi và xem giữa là trung du và đồng bằng tạo nên những dải văn hoá đặc trưng theo cách thức từ Đông sang Tây là: văn hoá biển – văn hoá đồng bằng – văn hoá núi Để gắn kết những nét văn hoá chung này chính là những dòng sông

chảy theo bề ngang đất nước nối liền miền núi với đồng bằng và cùng chảy ra biển Văn hoá Việt Nam có nét đặc trưng của văn hoá nông nghiệp lúa nước, cư dân sống ôn hoà, thân thiện và cởi mở Trong những nét văn hoá, người Việt Nam luôn tìm cách dung hoà giữa con người với thiên nhiên tạo nên sự gần gũi và kết nối một cách tự nhiên Các yếu tố thiên nhiên được đặc tả trong những công trình kiến trúc nhà ở, đình chùa, đền tháp, sinh hoạt, tập tục hay ngay cả cách nói năng

Nhìn chung, văn hoá Việt Nam là một nền văn hoá khá đa dạng và có nhiều nét đặc sắc riêng, đồng thời cũng có những nét tương đồng với văn hoá Đông Á – nơi các quốc gia có ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa Điểm chung này, góp phần lớn vào việc hiểu biết và thúc đẩy các hoạt động tìm hiểm lẫn nhau giữa Việt Nam

và các quốc gia Đông Á một cách thuận tiện hơn

e Chính sách ngoại giao của Việt Nam

Trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam Đại hội Đảng VII (1991), Hội nghị Trung ương 3 (khóaVII) và Đại hội VIII (1996) đã liên

tiếp đề ra và phát triển đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa với phương châm “Việt Nam muốn là bạn

tri ển”(Bộ ngoại giao Việt Nam, 2018) nhằm mục tiêu: “Giữ vững hòa bình, mở

xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến

Trang 26

Hoạt động đối ngoại Việt Nam ngày càng nâng cao uy tín trên trường quốc tế

và có những hoạt động giao lưu, gặp gỡ thúc đẩy các mối quan hệ giao lưu văn hoá, hợp tác kinh tế Những hoạt động kể trên đã diễn ra liên tục và đạt được kết quả to lớn Có được bước phát triển này là do Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chiến lược chiến lược phát triển về các hoạt động đối ngoại như trong Văn kiện Đại hội

Đảng lần thứ VII (1991) có đề ra: “chúng ta phải tiếp tục nâng cao ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của dân tộc đồng thời mở rộng

thành công chủ nghĩa xã hội

Các hoạt động giao lưu, hỗ trợ, hợp tác về kinh tế, văn hoá, giáo dục của các nước đối với Việt Nam luôn được Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam quan tâm

và chỉ đạo Tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập quốc tế được mở rộng, Việt Nam cũng đã có chính sách cụ thể và xác định đường lối về phát triển các hoạt động đối ngoại với nguyên tắc:

Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hoá Việt Nam đảm bảo mục tiêu:

Việt Nam “có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt

Nam, 2013)

Điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội Nhật Bản

a Điều kiện địa lý Nhật Bản

Quốc đảo Nhật Bản nằm ở khu vực Đông Bắc Á có diện tích 379.067 km², với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ với bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi

là quần đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Ogasawara Với đường bờ biển dài khoảng 37.000 km với những đảo, vịnh đẹp và thuận tiện cho thuyền bè qua lại nên từ xưa người dân Nhật Bản đã có những tiếp xúc với những nền văn hoá khác lân cận

Izu-Nhật Bản còn nằm trên 4 mảng kiến tạo Á-Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương và Philippines, tạo nên rất nhiều địa điểm thường bị núi lửa, động đất Đặc biệt thời

Trang 27

gian gần đây, những biến đổi của tình hình nóng lên của trái đất và những thay đổi địa chất, những trận động đất xảy ra ngoài khơi gây ra hiện tượng sóng thần vô cùng nguy hiểm Kinh hoàng nhất là thảm họa động đất, sóng thần ngày 11/3/2011 lên đến 9 độ Richter làm 15.846 người chết, 3.317 người mất tích (Sơn Duân, 2012), cùng những thiệt hại về tài sản nặng nề, to lớn

Một điểm đặc biệt của điều kiện tự nhiên của Nhật Bản là diện tích đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên cả nước, nhiều ngọn núi là núi lửa và có thể phun trào

bất cứ lúc nào Ngọn núi cao nhất là núi Phú Sĩ cao 3776 mét Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp của Nhật Bản chỉ chiếm khoảng 12% diện tích đất đai, điều này cho thấy Nhật Bản có rất ít đất nông nghiệp

Nhật Bản là một quốc gia có rất ít tài nguyên thiên nhiên, chỉ có một số mỏ than than trên đảo Hokkaido và Kyushu nhưng đến nay đã không còn hoạt động Hầu hết khoáng sản khác (kể cả dầu thô), Nhật Bản đều phải nhập cảng từ nước ngoài Điều này cho thấy, nếu như Nhật Bản có quan hệ với những nước có nhiều tài nguyên khoáng sản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu các loại khoáng sản phục vụ cho nhu cầu của Nhật Bản

Với một nền kinh tế phát triển nhanh, Nhật Bản đã tìm mọi phương án để có

thể đảm bảo được quá trình sản xuất của mình Một yêu cầu quan trọng bậc nhất đặt

ra là vấn đề nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp của Nhật cần phải nhập khẩu gần như 100% Ngày nay, để đảm bảo nguồn cung ứng các nguyên liệu chính phủ Nhật

Bản và các doanh nghiệp đã có chiến lược tập trung hướng đến các nước giàu tài nguyên và gần về địa lý, trong đó có khu vực Đông Nam Á và Việt Nam

Những cố gắng trong phát triển kinh tế của Nhật Bản đã đưa Nhật Bản trở thành một trong những cường quốc lớn về kinh tế Từ giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ II năm 1945, Nhật Bản đã phục hồi nền kinh tế và dần đạt vị trí thứ 2 thế

giới sau Mĩ vào những năm cuối thế kỷ XX Hiện nay, do tốc độ phát triển kinh tế của Nhật Bản bị chững lại sau thời kì “kinh tế bong bóng” 1986 – 1990 và cuộc khủng hoảng tài chính 1998, 2008 Tuy nhiên, nhìn chung trong giai đoạn 2010 -

2017, kinh tế Nhật thoát khỏi suy thoái nhưng vẫn chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng

Trang 28

rất chậm, trung bình 0,5 - 1% mỗi năm Có thể thấy rõ dấu hiệu của nền kinh tế Nhật Bản trong thời gian sắp tới sẽ khó có thể đạt mức tăng trưởng cao, tuy nhiên cũng sẽ ở con số đáng ghi nhận

Xét về các ngành kinh tế thì nông nghiệp là ngành kinh tế truyền thống của

Nhật Bản và gặp phải khó khăn rất lớn về đất đai, chỉ chiếm khoảng 12% diện tích đất liền, phần lớn là đồi núi, thậm chí phải canh tác cả ở những nơi có độ dốc cao đến 15 độ Trong đó, cây lúa vẫn là cây trồng quan trọng bậc nhất tại Nhật Ngoài ra nông dân còn trồng các loại ngũ cốc, như cà chua, dưa chuột, khoai lang, rau diếp, táo, củ cải và quả anh đào Người nông dân Nhật Bản vốn rất cần cù và chăm chỉ nên đã tận dụng những sườn đồi để trồng chè, và được trồng nhiều nhất ở phía nam đảo Honshu Bước sang thế kỷ XXI, ngành nông nghiệp thiếu trầm trọng số người làm việc trong ngành này Chính phủ và các công ty, tập đoàn của Nhật Bản đã nhanh chóng phát triển mô hình nông nghiệp công nghệ cao nhằm khắc phục tình trạng thiếu nhân công và đáp ứng được nhu cầu về nông nghiệp sạch của một quốc gia có truyền thống “kỹ tính” đối với các thực phẩn nông nghiệp

Là một quốc đảo nên diện tích mặt nước của Nhật Bản rất lớn, thuận tiện cho quá trình phát triển ngành ngư nghiệp Đây cũng là ngành phát triển nóng trong giai đoạn thập niên 90 của thế kỷ XX Do nguồn cá, hải sản của Nhật Bản giảm đi nhiều nhưng nhu cầu về cá và các hải sản rất lớn (chiếm gần 40% lượng protein động vật được hấp thụ của người Nhật) nên việc đẩy mạnh nhập khẩu các loại hải sản từ các nước lân cận là cần thiết

Ngành kinh tế quan trọng và phát triển ở Nhật Bản hiện nay là công nghiệp chiếm khoảng 1/4 tổng GDPcủa Nhật Bản với những ngành công nghiệp thế mạnh như máy công nghiệp và thiết bị điện tử, người máy, tàu biển, thép, ô tô, vô tuyến truyền hình, máy ảnh, sản phẩm tơ tằm và tơ sợi tổng hợp, giấy in báo, Năm 2013, tính riêng sản phẩm công nghiệp nội địa của ngành công nghiệp đạt khoảng 12 tỷ yên (Phạm Hồng Thái et al., 2016)

Thương mại là ngành thu lợi lớn của Nhật Bản và tăng trưởng khá đều so với các ngành kinh tế khác của Nhật Bản Năm 2003, giá trị thặng dư trong cán cân xuất

nhập khẩu của Nhật đạt 10.19 nghìn tỷ yên Ngoài ra, chiến lược kinh tế hướng đến

Trang 29

các ngành thương mại, dịch vụ và du lịch của Nhật Bản đang có sự chuyển dịch rất lớn trở thành nhóm ngành đứng thứ ba trong nền kinh tế Nhật Bản Các thương hiệu lớn trong lĩnh vực dịch vụ của Nhật Bản như Mitsubishi UFJ, Mizuho, NTT, TEPCO, Nomura, Mitsubishi Estate, AEON, Mitsui Sumitomo, Softbank, JR East, Seven & I, KDDI … đã trở nên nổi tiếng trên thế giới

Nhật Bản cũng là một điểm đến của nhiều du khách nước ngoài để tìm hiểu và khám phá văn hoá Nhật Bản Năm 2012 là 8,3 triệu khách, năm 2013 là 11,25 triệu khách (mục tiêu của chính phủ là 10 triệu du khách) Mục tiêu đến năm 2020 là 40 triệu du khách (Thế vận hội Mùa hè 2020 ở Tokyo) Với một nền văn hoá đặc sắc

và nhiều cảnh đẹp, Nhật Bản có rất nhiều tiềm năng thu hút khách du lịch quốc tế Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo (The Tokyo Stock Exchange) là sàn giao dịch chứng khoán lớn thứ 3 thế giới và thứ 2 ở Châu Á Tính đến năm 2014, có 2.292 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tokyo

Hiện nay nền kinh tế Nhật Bản có dấu hiệu phát triển chậm lại so với giao đoạn trước Năm 2016, GDP (tổng sản phẩm quốc nội) của Mỹ dự báo đạt mức 19.000 tỷ USD Theo sau là Trung Quốc 12.000 tỷ USD và Nhật Bản 4.300 tỷ USD

Nhật Bản là một trong những quốc gia đông dân số trên thế giới, theo công bố

của Bộ tổng vụ, dân số Nhật Bản tính đến 1/10/2016 là 126.933.000 người Tuy nhiên, số dân đã giảm đi 162.000 người so với năm 2015 (năm thứ 8 liên tiếp số dân Nhật Bản giảm số dân) “Xã hội Nhật Bản ngày càng già nua, thế hệ được sinh ra

Nhóm nhà khoa học thuộc trường Đại học Tokyo đã tổng hợp và cho biết tuổi thọ trung bình của Nhật Bản trong năm 2015 là 83,2 tuổi Giáo sư Kenji Shibuya, trưởng nhóm nghiên cứu khẳng định, tuổi thọ của người dân Nhật Bản được tăng

lên chủ yếu là do việc tỷ lệ số người tử vong do các bệnh về tim mạch, ung thư (chủ yếu là ung thư phổi) đã giảm tới 29% so với 25 năm trước đây (Ngọc Huân, 2017) Một vấn đề lớn trong xã hội Nhật Bản hiện nay, đó chính là vấn đề già hoá dân

số Theo thống kê mới nhất của Nhật Bản, ¼ dân số Nhật Bản từ 65 tuổi trở lên, đây

Trang 30

là một số lượng rất cao số người cao tuổi Năm 2015, Bộ Phúc lợi Nhật Bản đã ước tính số gia đình chỉ có người từ 65 tuổi trở lên tăng lên khoảng 500.000 hộ so với năm 2014, tổng số cả nước khoảng 12,7 triệu hộ, tương đương 25,2% tổng số hộ gia đình Nhật Bản (Nguyễn Ngọc Bé, 2016)

Số lượng người cao tuổi ngày càng tăng như trên đã được nhiều bài báo, bài nghiên cứu tìm hiểu và xác định những nguyên nhân cũng như các giải pháp nhằm khắc phục Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện nay thanh niên Nhật Bản có xu hướng

sống độc thân cao, họ không muốn kết hôn, thậm chí một số cặp vợ chồng kết hôn nhưng lại không muốn sinh con Nhiều người cho rằng đó là do áp lực công việc, nguyên nhân này đã được chính phủ Nhật nỗ lực giải quyết bằng cách quy định giờ làm tăng ca đối với nhân viên các công ty, tính giờ tăng ca là từ 18h00 tối đến 6h00 sáng hôm sau (trước đây là 22h00 đến 6h00 sáng hôm sau) Nỗ lực này cho thấy chính phủ đã cố gắng trong việc giảm áp lực công việc, để người lao động có nhiều thời gian hơn cho cá nhân và gia đình Từ năm 2015, một số công ty ở Nhật đã thực hiện ngày “Happy Friday” (Ngày thứ 6 hạnh phúc), để công nhân, nhân viên nghỉ sớm luân phiên vào chiều thứ 6 hàng tuần để họ có thời gian hẹn hò, yêu đương và

có thêm thời gian cho gia đình Tuy nhiên, gốc rễ vẫn là ở tỉ lệ sinh ở Nhật thấp, điều này cần phải có biện pháp căn cơ hơn nữa

Truyền thống gia đình Nhật Bản xưa là sau khi sinh con thường người phụ nữ

sẽ ở nhà chăm con và lo công việc gia đình Điều này, là cản trở rất lớn đến phát triển sự nghiệp của nữ giới nên nhiều phụ nữ Nhật Bản hiện nay ít nghĩ đến việc sinh con

Số lượng người trong độ tuổi lao động bị thiếu hụt rất nhiều, các công ty, tập đoàn của Nhật đã phải thuê nhân công đến Nhật làm việc hoặc chuyển sản xuất đến các nước lân cận như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan… Hoạt động gần đây được Nhật Bản chú trọng đó là những thực tập sinh đến Nhật Bản tham gia vào lao động trong các ngành nghề phổ thông, làm giảm đi áp lực về tình trạng thiếu hụt nguồn lao động của Nhật

Trang 31

Người Nhật gọi đất nước của mình là “Ni hon” hoặc “Nippon” có nghĩa là xứ

sở mặt trời Với đặc trưng bốn bề là biển đã giúp Nhật Bản có thể chủ động trong việc bảo vệ những giá trị văn hoá truyền thống của mình và tiếp xúc với những nền văn hoá bên ngoài Nhật Bản

Người Nhật ngày nay đã làm cho thế giới phải thán phục về những nét văn hoá truyền thống độc đáo như trà đạo, kimono, rượu sake, cách giao thiệp, tinh thần võ

sĩ đạo… những giá trị văn hoá này là những giá trị văn hoá cốt lõi của Nhật Bản Chính phủ và mỗi người dân Nhật Bản đều ý thức được giá trị văn hoá truyền thống chính là sức mạnh nội sinh của Nhật Bản, giúp cho Nhật Bản tồn tại và phát triển bền vững

đại Nhật Bản là một trong những nước mà vốn cổ truyền được giữ gìn bảo

nhưng họ không làm mất bản sắc dân tộc Nhật Bản luôn tìm tòi cái mới, hiện đại kết hợp với tính dân tộc làm nên một hình thái phát triển (Nguyễn Tiến

Lực, 2008)

Trong văn hoá Nhật Bản sự tỉ mỉ, tinh tế, cầu kì luôn làm nên những giá trị cao Một chén trà đơn sơ nhưng lại có thể tìm thấy giá trị cốt cách nhân văn của mỗi con người trong buổi trà đạo hay tinh thần ngay thẳng, dũng cảm, nhân từ, lễ phép,

tự kiểm soát bản thân, lòng trung thành và danh dự của võ sĩ đạo đã trở thành tinh thần cốt lõi của người dân Nhật Bản… Những giá trị văn hoá này đã góp phần tạo nên một Nhật Bản đầy màu sắc văn hoá truyền thống

Nhật Bản đã buộc phải mở cửa đất nước từ những năm 1853, khi Phó Đề đốc Hải quân Hoa Kỳ - Matthew Perry cho hạm đội của mình dừng chân tại khu vực vùng biển ngay gần Edo (thủ đô Tokyo ngày nay) Và cũng từ đây, những nét văn hoá phương Tây đã bắt đầu dần dần tiếp cận với Nhật Bản Tuy nhiên, bản lĩnh võ

sĩ đạo trong mỗi người dân Nhật và những ý thức về ý nghĩa của những giá trị văn

Trang 32

hoá truyền thống đã tiếp tục giúp cho những giá trị văn hoá truyền thống cốt lõi của Nhật Bản tiếp tục được phát huy

Ngày nay, khi thế giới bước vào thời kỳ công nghiệp hoá và toàn cầu hoá, người Nhật lại tiếp tục có những sự thay đổi để thích ứng với đời sống công nghiệp

Một mặt phát triển những giá trị văn hoá truyền thống, một mặt là tìm cách dung hoà với những văn hoá tiến bộ bên ngoài tác động vào

Hiện tại, thế giới biết đến một Nhật Bản hiện đại về công nghiệp, khoa học – công nghệ và ẩn sâu trong lòng Nhật Bản vẫn một “Nhật Bản nguyên bản” của truyền thống và văn hoá dân tộc

e Chính sách ngoại giao của Nhật Bản

Sau Chiến tranh lạnh, xu thế toàn cầu hóa đã có những tác động đến, chính trị

và đời sống văn hóa xã hội thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng Đòi hỏi chính phủ Nhật Bản cần phải có chính sách phát triển văn hoá truyền thống của Nhật Bàn phù hợp với xu thế toàn cầu hoá

Thứ nhất, Nhật Bản cần phải định nghĩa lại bản sắc văn hóa truyền thống của mình trong thế giới toàn cầu hóa, cần xét đến yếu tố ngoại lai trong nền văn hoá hiện đại Trong bối cảnh các nước Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á, rất chú ý đến hoạt động ngoại giao văn hóa thì việc Nhật Bản cần xem lại trong chính sách phát triển văn hoá truyền thống Nhật Bản ra bên ngoài là điều cần thiết

Thứ hai, thế kỷ XXI được gọi là thế kỷ của toàn cầu hóa và công nghệ thông tin Internet đã dẫn đến sự đồng nhất trong nhận thức về văn hóa ở giới trẻ các nước châu Á ngày càng rõ nét như hình thức nhạc J-pop, K-pop, truyện tranh Manga…

đã có sự ảnh hưởng đến giới trẻ khá nhiều

Thứ ba, trước đây chính phủ Nhật Bản chưa thực sự coi trọng hoạt động ngoại

giao văn hóa nên “hình ảnh Nhật Bản trong cộng đồng quốc tế thường bị đánh giá

Thứ tư, trong khi nền kinh tế Nhật Bản trì trệ, nhưng nền văn hóa đại chúng của Nhật Bản lại phát triển với các sản phẩm công nghiệp văn hoá như: Phim hoạt

Trang 33

hình (Anime), truyện tranh (Manga), phần mềm trò chơi món ăn Shushi,…đã được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới

Thứ năm, hiến pháp Nhật Bản hạn chế sự phát triển nền quân sự, đặt ra yêu cầu cần phải tạo ra sức mạnh Nhật Bản trên lĩnh vực không phải là quân sự Đặc

biệt lý thuyết “sức mạnh mềm” của giáo sư Joshep Nye (Hoa Kỳ) ra đời, nhấn mạnh đến vai trò của văn hóa trong ngoại giao đối với Nhật Bản

tháng 12 năm 2005, dưới thời của Thủ tướng Kozumi Chính phủ Nhật Bản đã công bố chiến lược ngoại giao văn hoá của Nhật Bản ở thế kỷ XXI Nội dung Chiến lược gồm ba mục tiêu và ba trụ cột thúc đẩy hợp tác quốc tế, bảo vệ,

Phi, 2014)

Chính sách ngoại giao văn hoá của Nhật Bản đã được chính phủ và nhân dân Nhật Bản thực hiện trong thời gian gần đây với những sự cởi mở hơn trong việc giao lưu với các nền văn hoá bên ngoài

Q uan hệ Việt Nam – Nhật Bản

Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản từ 1973 đến 1991

Từ thế kỷ XVII, những hoạt đông giao lưu giữa Việt Nam và Nhật Bản đã được diễn ra Hiện nay, ở Nhật Bản có bức tranh “Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ” ở đề Jomyoji (Nagoya) diễn tả cảnh một chiếc thuyền Châu ấn đến buôn bán ở vùng Quảng Nam Ngoài ra còn có nhiều đồ “gốm Giao Chỉ” hay “gốm An Nam” được bảo tàng quốc gia Nhật Bản lưu giữ và trưng bày (Nguyễn Văn Kim, 2013) Ở

Hội An, chiếc cầu gỗ thường được gọi là Cầu Nhật Bản hoặc Chùa Cầu là một trong những dấu ấn của quá trình giao lưu Việt Nam – Nhật Bản Qua đây, chúng ta thấy được quan hệ Việt Nam – Nhật Bản có truyền thống lâu đời

Giai đoạn từ năm 1973 đến 1991 ghi nhận trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản với những hoạt động khởi đầu là việc Chính phủ Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng Hoà (nay là Cộng hoà

Trang 34

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên do tình hình còn chiến tranh và một số bất ổn

về chính trị trong khu vực nên đến năm 1976, sau khi Việt Nam thống nhất, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất đã mở ra khả năng phát triển trên

cơ sở hợp tác kinh tế giữa hai nước Do tình hình thế giới và khu vực còn nhiều biến động nên giai đoạn này chưa có nhiều hoạt động hợp tác giữa hai nước

Q uan hệ Việt Nam – Nhật Bản từ 1992 đến 2017

Quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời trong quan hệ quốc tế của Nhật Bản với các nước trong khu vực Đông Nam Á và châu Á

Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại sau Chiến tranh lạnh hai nước đã có nhiều quan

tâm trong thúc đẩy các hoạt động hợp tác hỗ trợ lẫn nhau “Sau Chiến tranh lạnh, hoà bình, ổn định và hợp tác trở thành xu thế chủ đạo… đây chính là điều kiện

và Nguyễn Tất Giáp, 2013)

Để tạo vị thế đóng vai trò quan trọng, Nhật Bản ngày càng gia tăng sự hợp tác toàn diện với Việt Nam, bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế Đây là mối quan hệ giữa một siêu cường kinh tế thế giới đang từng bước thể hiện vai trò an ninh, chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế của mình

Hai nước Việt Nam – Nhật Bản đều có những giá trị văn hóa lâu đời của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước Đồng thời, hoạt động ngoại giao giữa hai nước đã có lịch sử lâu đời, tạo được mối liên kết bền chặt Đây là cơ sở để mở rộng hơn nữa mối quan hệ hợp tác trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục…

Trong xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa hiện nay, mối quan hệ Việt – Nhật mang ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt, Việt Nam có thể học hỏi sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của Nhật Bản; Nhật Bản sẽ có thêm nguồn cung cấp các nguyên liệu cho hoạt động sản xuất của Nhật Bản và tận dụng nguồn nhân công Việt Nam để phục vụ quy trình sản xuất Nhìn chung, có thể thấy, cả hai phía

có nhiều lợi ích chung trong việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác

Mối quan hệ Việt – Nhật tốt đẹp là cầu nối thắt chặt hơn nữa mối quan hệ

Nhật Bản với Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, tạo đối trọng với các nước lớn

Trang 35

tiêu biểu là Trung Quốc, Hàn Quốc Mặt khác, sự đóng góp của Nhật Bản đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam cũng là điều đáng được ghi nhận và cần được quan tâm và nghiên cứu nhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn

Đồng thời, văn hoá Việt Nam và Nhật Bản có nhiều ảnh hưởng của văn hoá Hán (văn hoá Trung Hoa) nên đã có những điểm chung trong văn hoá tạo điều kiện cho mối quan hệ giữa hai nước có thêm sự bền chặt và gắn bó “Cư dân hai nước

đều có chung những đặc tính văn hoá, tâm lý của những người làm nghề nông,

Những nét tương đồng trong văn hoá đã gíup cho mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản được mở rộng hơn Xét về nguyên nhân khách quan, Nhật Bản đẩy mạnh chính sách hướng về Châu Á vì tình hình khu vực châu Á cuối thế kỷ XX có nhiều thay đổi tác động đến chính sách cụ thể của các nước lớn với tình hình tại các khu vực còn chưa ổn định Nguyên nhân về địa chính trị được Nhật Bản rất quan tâm đối với khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là khi Trung Quốc ngày càng nâng cao hơn

vị thế trên trường quốc tế

Cuối thể kỷ XX, Hoa Kỳ dù là cường quốc lớn nhưng lại có phần lơ là châu Á

và Đông Nam Á Sang đầu thế kỷ XXI, nhất là sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ đã gia tăng mạnh mẽ chính sách “Mỹ hóa thế giới” Với chính sách chống khủng bố, Mỹ

đã phục hồi và tăng cường hợp tác an ninh, quân sự với các nước Đông Nam Á Mỹ

đã ký hàng loạt các thỏa thuận quân sự mới và cho các nước này được hưởng quy chế “đồng minh ngoài NATO”: Mỹ ký với Philippines “Thỏa thuận các lực lượng viếng thăm” (VFA) năm 1999, Hiệp định cùng chi viện hậu cần năm 2002 và Hiệp ước quân sự với Thái Lan năm 2003, Singapore năm 2003 Đồng thời, Mỹ cũng

thực hiện cải thiện quan hệ với Indonesia và Việt Nam, gia tăng can thiệp và kiểm soát trên biển trong đó có eo biển Malacca, vùng biển Đông bằng hàng loạt các hiệp ước, sáng kiến ký với các nước Đông Nam Á Tính đến năm 2005, Mỹ đã tiến hành hơn 30 cuộc tập trận với các nước Đông Nam Á, chiếm 70 % các cuộc tập trận ở

Trang 36

khu vực châu Á Mặt khác, Mỹ cũng tích cực hỗ trợ phát triển và hợp tác kinh tế với các nước ASEAN bằng hàng loạt các chương trình sáng kiến (Sáng kiến Doanh nghiệp ASEAN năm 2002; chương trình hợp tác ASEAN năm 2004 Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác ASEAN – Mỹ năm 2005) Các chính sách và

biện pháp mà Mỹ thực hiện ở Đông Nam Á đã gia tăng sự hiện diện của Mỹ ở khu vực này Mỹ cũng tăng cường giúp đỡ, can dự vào các nước tiểu vùng sông Mê Kông

Sự trỗi dậy và gia tăng vai trò của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á đã đưa Trung Quốc và Nhật Bản trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau trong chiến lược đối với khu vực này Một mặt, Trung Quốc thi hành chính sách hòa bình, hữu nghị, láng giềng thân thiện với các nước ASEAN để tạo môi trường hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực có lợi cho sự phát triển của Trung Quốc Mặt khác Trung Quốc thi hành chính sách mở rộng ảnh hưởng lấp “chỗ trống” khu vực này bằng việc tăng cường sức mạnh kinh tế và quân sự tại đây Từ năm 2007, Trung Quốc đã thúc đẩy hợp tác với các nước ASEAN bằng các hợp đồng làm ăn lớn về khai thác và chế biến Niken với Philippines, sản xuất dầu và lọc khí gas tại Indonesia Đối với Đông Dương, các nhà đầu tư Trung Quốc đã ký các hợp đồng khai thác khoáng sản với Lào, Việt Nam, đồng thời đang quan tâm đến việc khai thác tài nguyên và Campuchia Năm 2004, lần đầu tiên Trung Quốc là nhà đầu tư nước ngoài số một tại Campuchia Ngoài ra, để tăng cường ảnh hưởng rất lớn của mình, Trung Quốc còn chủ trương xóa nợ cho một số nước Đông Nam Á, trong đó

có Việt Nam, Lào, Myanma và đã có hàng trăm triệu USD tín dụng ưu đãi, viện trợ phát triển cho một số nước khác Trung Quốc cũng tăng cường giúp đỡ về giao thông vận tải cho các nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông Về chính trị, ngoại giao, Trung Quốc đã đạt được nhiều thỏa thuận và hiệp định hợp tác song phương trong quan hệ với các nước ASEAN, ví như: Kế hoạch hành động Trung Quốc - Thái Lan

thế kỷ XXI (năm 1999), ký kết hiệp định tăng cường hợp tác với Việt Nam theo tinh thần 16 chữ vàng (năm 1999), Hiệp định khung về hợp tác song phương giữa Trung Quốc với Philippines thế kỷ XXI (năm 2000), Tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược giữa Trung Quốc - Indonesia (năm 2005), Hiệp ước khung về hợp tác

Trang 37

toàn diện với ASEAN, trong đó có việc hình thành Khu vực mậu dịch Tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA) năm 2002 Bên cạnh đó, Trung Quốc còn gia tăng “ảnh hưởng mềm” trong văn hóa và ngôn ngữ…

Như vậy, chính sách hướng ngoại cùng làm giàu với các nước láng giềng và

an ninh với láng giềng của Trung Quốc trong những năm gần đây đã làm gia tăng vai trò và vị thế của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Đông Dương nói riêng Đồng thời, Trung Quốc đã trở thành một đối thủ lớn đối với tất

bất cứ quốc gia nào muốn tăng cường ảnh hưởng của họ khu vực Đông Nam Á, trong đó có Nhật Bản

Như vậy có thể thấy, việc tăng cường hợp tác khu vực Đông Nam Á là điều quan trọng và cần thiết để Nhật Bản có thể tăng vị thế của mình trên trường quốc tế, đồng thời tạo mối liên hệ nhiều hơn với các nước trong khu vực Châu Á nói chung

và Đông Nam Á nói riêng

Chính sách giao lưu về văn hoá, giáo dục giữa hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của chính phủ hai nước nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quá trình giao lưu văn hoá, giáo dục giữa Việt Nam và Nhật Bản “Việt

Nam và Nhật Bản là hai quốc gia có quan hệ rất gần gũi, gắn bó về văn hoá và kinh

lược toàn diện” (Nguyễn Chí Thảo, 2016)

Các mốc lớn trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản

Nhận định về mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản cho thấy kể từ sau khi Việt Nam tiến hành Đổi mới, các hoạt động ngoại giao của Việt Nam từng bước được tăng cường Năm 1992, Nhật Bản chính thức nối lại quan hệ với Việt Nam Có thể điểm qua một số sự kiện từ năm 1990 cho đến năm 2017 thông qua bảng tóm tắt 1.2:

Bảng 1.2 Các sự kiện chính trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản

Năm

tháng Nh ững sự kiện chính

Trang 38

10/1990 Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch thăm Nhật

06/1991 Ngoại trưởng Nakayama thăm Việt Nam

11/1992 Nhật nối lại viện trợ cho Việt Nam

03/1993 Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm Nhật Hội đàm với thủ tướng Miyazawa 08/1994 Thủ tướng Murayama thăm Việt Nam Tuyên bố tăng cường viện trợ cho

07/1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN Thanh niên hai nước Việt – Nhật

lập kế hoạch giao lưu hàng năm

01/1997 Thủ tướng Hasimoto thăm Việt Nam Nhật đồng ý cho Việt Nam vay 81

tỷ yên, viện trợ không hoàn lại 3 tỷ yên và viện trợ văn hóa 88 tỷ yên 05/1997 Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm thăm Nhật

01/1998 Cục trưởng cục phòng vệ Nhật Bản Kuma thăm Việt Nam

12/1998 Bộ trưởng quốc phòng Phạm Văn Trà thăm Nhật Bản

12/1998 Thủ tướng Obuchi thăm Việt Nam Tham dự hội nghị cấp cao ASEAN 03/1999 Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Nhật

04/2000 Thủ tướng Nhật Koizumi thăm Việt Nam

10/2002 Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm Nhật

04/2003 Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Nhật Bản Đông đảo bộ trưởng, Chủ

tịch, Phó chủ tịch các tỉnh thành và tổ chức kinh tế tham gia đoàn

12/2003 Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Nhật Bản

06/2004 Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Nhật Bản

07/2004 Tuyên bố chung giữa hai Bộ trưởng Ngoại giao xác định “Vươn tới tầm

cao mới của quan hệ đối tác bền vững”

10/2005 Thủ tướng Koizumi thăm Việt Nam

11/2006 Thủ tướng Shinzo Abe thăm Việt Nam, hai bên ra Tuyên bố chung xác

Trang 39

định “Hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” 11/2007 Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nhật Bản Yasuo

Fukuda ký Tuyên bố chung “Làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam và Nhật

Bản” và “Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược” 04/2009 Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và Thủ tướng Aso Taro ký Tuyên bố chung

về “Quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” 02/2009 Hoàng thái tử Nhật Bản thăm Việt Nam

10/2010 Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan, Thủ tướng hai nước ký Tuyên bố chung

Việt Nam – Nhật Bản về phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược

vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á

10/2011 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Noda ký Tuyên bố chung

“triển khai hành động trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á giữa Việt Nam và Nhật Bản”

04/2012 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Nhật Bản

01/2013 Thủ tướng Shinzo Abe thăm Việt Nam

03/2014 Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm cấp nhà nước tới Nhật Bản; Hai

bên ra Tuyên bố chung Việt Nam – Nhật Bản về quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á

07/2015 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Nhật Bản

09/2015 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe ra

“Tuyên bố về tầm nhìn chung quan hệ Việt Nam – Nhật Bản”

01/2017 Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe thăm Việt Nam

03/2017 Nhà vua Nhật Bản Akihito và Hoàng hậu Michiko thực hiện chuyến

thăm cấp Nhà nước đầu tiên tới Việt Nam

05/2017 Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản Hiroshige

Seko

06/2017 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự Hội nghị Tương lai châu Á tại Nhật

Bản

Trang 40

Tính đến năm 2018 là dấu mốc 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam

và Nhật Bản đã trở thành đối tác ngày càng quan trọng của nhau trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục Đặc biệt, từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên “Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” vào tháng 3/2014, quan hệ

Việt Nam – Nhật Bản đã có bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện và thực chất

Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì thường xuyên các chuyến thăm và tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế và khu vực Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe hai lần đến

Việt Nam Đặc biệt, năm 2017 là dấu mốc lịch sử quan trọng trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản: chuyến thăm Việt Nam của Nhà vua và Hoàng hậu Nhật Bản từ ngày 28/2 tới 5/3/2017 thể hiện sự thân tình trong mối quan hệ giữa hai nước Ngay sau đó vào tháng 6/2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sang thăm chính thức Nhật Bản, hai bên đã ra Tuyên bố chung về việc làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản, đánh dấu bước chuyển mới trong quan hệ song phương khi hai nước

Trong lĩnh vực kinh tế, Nhật Bản tiếp tục là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam và là nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam vào tháng 10/2011 Đến nay, Nhật Bản đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai, đối tác thương mại lớn thứ tư và đối tác lớn thứ ba về du lịch của

Việt Nam Năm 2017, tổng kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 33,84 tỷ USD Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 16,86 tỷ USD và Nhật Bản xuất sang Việt Nam đạt 16,98 tỷ USD (Ngọc Linh, 2018) Bên cạnh đó,

Nhật Bản là quốc gia viện trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng cam kết ODA của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam Nhiều dự án của Nhật Bản đã hoàn thành và đưa vào khai thác rất hiệu quả, đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

Hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du

lịch, giao lưu nhân dân không ngừng được củng cố và mở rộng Trong năm 2017,

có tới gần 800.000 lượt du khách Nhật Bản sang thăm Việt Nam, trong khi số du khách Việt Nam thăm Nhật Bản vượt qua con số 300.000 lượt người Bên cạnh đó,

Ngày đăng: 22/04/2023, 08:36

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w