Untitled LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Hà nội, ngày tháng nă[.]
Trang 1L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Hà n ội, ngày tháng năm 2008
TÁC GIẢ
Bùi H ữu Toàn
Trang 2M ỤC LỤC
1.1 Khái niệm, mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi 6
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi trong nền kinh tế thị trường 15
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi 22
1.3 Sự điều chỉnh của pháp luật đối với bảo hiểm tiền gửi 25
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về bảo
2.2.1.3 Đối tượng được thụ hưởng bảo hiểm tiền gửi 57
2.2.2 Các quy định của pháp luật liên quan đến tiền được bảo hiểm 60
ĐOẠN HIỆN NAY
76
3.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi và sự cần
thiết phải hoàn thiện trong giai đoạn hiện nay
76
3.1.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi 76
3.1.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của 85
Trang 3Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3.2 Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền
gửi của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
87
Trang 4L ỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt được những kết qủa đáng khích lệ Qua đó, hệ thống ngân hàng phần nào đã khẳng định được vị trí của mình với vai trò cung cấp vốn cho nền kinh tế Trong quá trình phát triển đó, các sản phẩm- dịch vụ mà ngân hàng mang lại cho nền kinh tế ngày càng đa dạng và phong phú hơn Tuy nhiên,
hoạt động được xem là cơ bản và quan trọng nhất của các ngân hàng là huy động
vốn từ công chúng bằng cách nhận tiền gửi dưới những hình thức nhất định và sử
dụng khoản tiền đó để cấp vốn cho các chủ thể khác đang có nhu cầu sử dụng trong nền kinh tế Như vậy, có thể nói một cách khái quát rằng, hoạt động cơ bản
của các ngân hàng là đi vay để cho vay- đây là căn nguyên chính dẫn đến nguy
cơ rủi ro luôn tiềm ẩn đối với hoạt động ngân hàng Mặt khác, đặc trưng lớn nhất
của hoạt động ngân hàng so với các loại hình doanh nghiệp khác là tính hệ thống
rất cao Do vậy, khi xảy ra rủi ro, đổ vỡ của một ngân hàng rất có thể sẽ dẫn đến
đổ vỡ của cả một hệ thống, thậm chí còn có thể gây hoảng loạn cho cả một nền kinh tế Để đối phó với vấn đề này, Việt Nam cũng giống như các quốc gia khác
đã áp dụng nhiều biện pháp thông qua việc ban hành các quy định của pháp luật
nhằm đem lại sự an toàn ở mức độ cao nhất có thể trong hoạt động ngân hàng Xét ở một khía cạnh khác, để bảo đảm cho sự bình ổn trong hoạt động của các ngân hàng, không thể không tính đến việc bảo vệ sự an toàn cho người gửi
tiền Bởi lẽ, chính người gửi tiền là đối tác cung cấp vốn cho ngân hàng- một
lượng vốn đóng vai trò quyết định đến lượng tiền mà các ngân hàng có thể sử
dụng để cấp cho nền kinh tế
Như vậy, vấn đề bảo vệ người gửi tiền và bảo vệ sự an toàn, bền vững trong
hoạt động của các ngân hàng phải được xem xét một cách đồng thời và luôn có
mối quan hệ biện chứng với nhau Do vậy, bảo hiểm tiền gửi xuất hiện được xem
Trang 5như hoạt động kết hợp hài hoà lợi ích, một mặt bảo vệ lợi ích của người gửi tiền,
mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển an toàn, bền vững
của hệ thống ngân hàng
Nhu cầu đó của nền kinh tế chính là lý do khách quan làm xuất hiện một
lĩnh vực pháp luật mới- pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Ở Việt Nam, vấn đề bảo
hiểm tiền gửi được đề cập từ năm 1994 theo quyết định số101/TCQĐ- BH về
việc ban hành quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền có kỳ hạn- đây là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam về bảo
hiểm tiền gửi Tuy nhiên, bảo hiểm tiền gửi trong giai đoạn này chỉ là một trong
những nghiệp vụ kinh doanh của Bảo Việt- một doanh nghiệp chuyên kinh doanh các loại bảo hiểm thương mại
Sau đó, hoạt động bảo hiểm tiền gửi được tách thành một hoạt động độc lập
và mang tính chuyên biệt theo Nghị định số 89/1999/NĐ- CP ngày 01 tháng 09
năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi và hoạt động này được thực hiện bởi tổ chức Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam, tổ chức này được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ- TTg ngày 09 tháng 11 năm 1999 Tiếp đến, ngày 16 tháng 03
năm 2000, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 03/2000/TT- NHNN hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ- CP về bảo
hiểm tiền gửi Sau một thời gian áp dụng, Nghị định số 89/1999/NĐ- CP đã bộc
lộ những hạn chế nhất định nên ngày 24 tháng 08 năm 2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ- CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ- CP và ngày 25 tháng 04 năm 2006 Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 03/2006/TT- NHNN thay thế cho Thông tư số 03/2000/TT- NHNN
Như vậy, có thể nhận thấy, các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam là lĩnh vực pháp luật mới và khá quan trọng trong hệ thống các quy định của pháp điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực tài chính- ngân
Trang 6hàng Mặc dù là lĩnh vực pháp luật mới được hình thành tại Việt Nam nhưng pháp luật về bảo hiểm tiền gửi đã dần được hoàn thiện và phần nào đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn nền kinh tế
Tuy nhiên, tất cả các văn bản pháp luật của Việt Nam hiện hành mới chỉ tồn
tại ở dạng văn bản dưới luật, tính pháp điển chưa cao, chưa tạo ra hành lang pháp
lý ổn định, chưa đồng bộ và phù hợp với các văn bản pháp luật khác có liên quan
và có nhiều quy định đã bộc lộ sự không phù hợp so với đòi hỏi của thực tiễn
Mặt khác, hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam đã có được sự phát triển nhất định trong giai đoạn thử nghiệm kể từ năm 1999 đến nay và đặc biệt hơn, trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta ngày càng hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu, rộng thì nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về
bảo hiểm tiền gửi nói riêng càng trở nên cần thiết Điều đó có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn Do vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp
lu ật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài
cho luận văn tốt nghiệp cao học
2 Tình hình nghiên c ứu
Liên quan đến bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi đã có một vài
đề tài nghiên cứu Ví dụ như: “Các giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền
gửi ở Việt Nam”- TS Nguyễn Thị Kim Oanh; “Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
của Việt Nam”- Th.S Nguyễn Vân Hoài; TS Lê Thị Thu Thuỷ- “Xây dựng pháp
luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền”- Tạp chí nghiên cứu lập pháp- Số 6
năm 2007; TS Lê Thị Thu Thuỷ- “Mô hình bảo hiểm tiền gửi trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế”- Tạp chí Luật học- Số 12 năm 2007 Tuy nhiên, tất cả
những đề tài nghiên cứu đó hoặc là đi nghiên cứu sâu về hoạt động bảo hiểm tiền
gửi, chính sách bảo hiểm tiền gửi dưới giác độ kinh tế hoặc là có nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm tiền gửi nhưng ở giai đoạn trước đó mà hiện nay các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi đã có nhiều sự thay đổi hoặc là chỉ đề
Trang 7cập đến một khía cạnh của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Do vậy, chúng tôi
nhận thức rằng cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam hiện hành, đánh giá thực trạng các
quy định và phân tích những đòi hỏi của thực tiễn để đưa ra những kiến nghị góp
phần hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam trong giai đoạn
ngày nay
3 M ục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích những vấn đề lý luận về tiền
gửi và bảo hiểm tiền gửi, chỉ rõ mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với
nền kinh tế Trên cơ sở chỉ ra sự cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật đối
với hoạt động bảo hiểm tiền gửi, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về bảo hiểm tiền gửi và đánh giá thực trạng các quy định để từ đó chỉ
ra những bất cập và đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về
bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay sao cho phù hợp với yêu cầu của sự phát triển và hội nhập quốc tế
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về bảo hiểm tiền gửi- lĩnh vực pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo
hiểm tiền gửi ở Việt Nam, xác định mối liên hệ của các quy định này trong tổng
thể các các quy định của pháp luật về tài chính- ngân hàng Trong phạm vi luận
văn này, chúng tôi không đi sâu tìm hiểu tất cả các vấn đề về bảo hiểm tiền gửi
mà chỉ đi sâu phân tích khía cạnh pháp lý, cơ sở lý luận và nội dung các quy định
của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi, đồng thời có tham khảo thêm các quy định của pháp luật một số nước về lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi như pháp luật
về bảo hiểm tiền gửi của Hàn Quốc, pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Mỹ để
từ đó, đưa ra những kiến nghị mang tính khoa học thể hiện quan điểm của mình
nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam
Trang 85 Ph ƣơng pháp nghiên cứu
Để có thể thực hiện việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được những mục đích nêu trên, chúng tôi sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử làm cơ sở phương pháp luận Bên cạnh đó, chúng tôi có sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích- tổng hợp để làm sáng tỏ những nội dung của đề
tài
6 B ố cục của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương được bố cục như sau:
Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi
Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền
gửi của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 9C HƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1.1 Khái ni ệm, mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi
1.1.1 Khái ni ệm bảo hiểm tiền gửi
Nghiên cứu lịch sử hình thành và quá trình phát triển hoạt động của các tổ
chức tín dụng có thể nhận thấy rằng, một trong những hoạt động đặc biệt quan
trọng của các tổ chức tín dụng đó là hoạt động huy động vốn từ công chúng
Hoạt động này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như nhận tiền gửi
dưới dạng tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành
giấy tờ có giá Nguồn vốn huy động từ công chúng này sẽ được tổ chức tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế vay nhằm mục đích phục vụ nhu cầu sinh
hoạt- tiêu dùng hoặc nhằm mục đích tiến hành các hoạt động sản xuất- kinh doanh Với hoạt động cơ bản này thì tổ chức tín dụng đã trở thành trung gian tài chính giữa người cho vay và người đi vay Xét dưới giác độ pháp lý thì cả người
gửi tiền và người vay tiền đều ký với tổ chức tín dụng một hợp đồng và tổ chức tín dụng sẽ là người trung chuyển nguồn vốn giữa người thừa vốn và người thiếu
vốn Tuy nhiên, giữa người gửi tiền và người vay tiền không thiết lập bất kỳ một quan hệ nào với nhau và cả hai chỉ biết có tổ chức tín dụng là đối tác của mình Điều đó có nghĩa rằng, khi tổ chức tín dụng nhận tiền gửi từ công chúng thì tổ
chức tín dụng có toàn quyền sử dụng đồng vốn đó, có quyền cấp tín dụng cho bất
cứ chủ thể nào theo sự lựa chọn của mình và luôn phải chịu trách nhiệm đối với
người gửi tiền
Như vậy, thuật ngữ “tiền gửi” được sử dụng từ lâu và nó gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của hoạt động ngân hàng Trong giai đoạn khởi đầu
xuất hiện hoạt động ngân hàng thì thuật ngữ tiền gửi được hiểu và thực hiện một cách rất đơn giản, đó là các khoản tiền mà người sở hữu nó không muốn hoặc
Trang 10không thể đầu tư vào đâu hoặc không có khả năng bảo đảm an toàn nên đã đem
gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ và bảo đảm an toàn cho tài sản của mình Với quan niệm như vậy, ngân hàng chính là nơi giữ tiền giúp cho một bộ
phận dân cư trong xã hội Về sau, cùng với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội,
hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển hơn, nhu cầu về vốn của các tổ chức,
cá nhân khác trong xã hội ngày càng lớn hơn và điều đó kéo theo sự hình thành hàng loạt hoạt động nghiệp vụ khác trong hoạt động của các ngân hàng như cho vay, thanh toán thì các khoản tiền gửi của công chúng không đơn thuần nhằm
mục đích bảo quản tài sản nữa mà đã được hưởng lãi
Trong giai đoạn ngày nay, khi nhu cầu về vốn đối với nền kinh tế là cực lớn thì yêu cầu huy động vốn nhàn rỗi từ công chúng của các tổ chức tín dụng ngày càng tăng và như vậy, các tổ chức tín dụng ngày càng đưa ra nhiều hình thức để huy động vốn sao cho phù hợp- một mặt nhằm động viên, khuyến khích được
người gửi tiền, mặt khác vẫn đảm bảo lợi ích của mình khi sử dụng nguồn vốn huy động đó để cấp tín dụng Do vậy, thuật ngữ tiền gửi cũng được hiểu rộng
hơn và được quy định một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật Mỗi quốc gia
có quan niệm riêng về tiền gửi và từ đó, có cách phân loại tiền gửi riêng
Chẳng hạn như pháp luật của Malaixia quy định rằng: “tiền gửi có nghĩa là
khoản tiền sẽ được hoàn trả, có hoặc không có lãi hoặc có cộng thêm phí hoặc
thanh toán, bất kỳ là giao dịch được coi như một khoản cho vay, một khoản ứng
Trang 11tính y ếu tố xác thực của khoản tiền được trả” (Điều 2- Đạo Luật 372- Luật về
các tổ chức tín dụng- ngân hàng của Malaixia) Như vậy, có thể nhận thấy rằng,
tiền gửi theo cách xác định trên là rất rộng, không đơn thuần chỉ là những khoản
tiền gửi nhàn rỗi của công chúng nhằm mục đích hưởng lãi mà còn bao gồm tất
cả các khoản tiền gửi khác nhằm mục đích đầu tư, đặt cọc hay ứng trước
Hay trong Luật bảo hiểm tiền gửi của Mỹ quy định rằng: “tiền gửi được
hiểu là số dư tiền hoặc giá trị tương đương chưa được thanh toán đã được nhận
Không phải là một ngoại lệ, khái niệm tiền gửi cũng được pháp luật Việt Nam quy định một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật Theo quy định tại Điều 20- Khoản 9- Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 thì: “tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín
khoản tiền nào của khách hàng được coi là tiền gửi Tuy nhiên, nơi tiếp nhận
những khoản tiền đó phải là tổ chức tín dụng, còn các khoản tiền mà khách hàng
gửi tại các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật thì
đó không phải là tiền gửi- đó là một bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành
Trang 12về vấn đề này Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 06 năm 2004 đã xác định: “tiền
gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức
1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng) Ưu điểm
của định nghĩa này về tiền gửi so với định nghĩa trong Luật các tổ chức tín dụng ngày 12 tháng 12 năm 1997 ở chỗ xác định đầy đủ hơn về đối tượng nhận tiền
gửi- đó là các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng Ngoài ra, trong hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam trong
lĩnh vực tài chính- ngân hàng còn có một văn bản khác cũng đưa ra khái niệm về
tiền gửi đó là Nghị định số 70/2000/NĐ- CP ngày 21 tháng 11 năm 2000 của Chính phủ về việc giữ bí mật thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng Theo quy định tại Nghị định này thì: “tiền
của các văn bản pháp luật Việt Nam, có thể rút ra kết luận mang tính khái quát
rằng, tiền gửi là khoản tiền của khách hàng gửi tại các tổ chức được phép thực
định của pháp luật
Phân tích khái niệm trên về tiền gửi cho thấy, các tổ chức nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân trong xã hội và sử dụng khoản tiền đó để thực hiện các hoạt động đầu tư và trong đó có cấp tín dụng cho các chủ thể khác đang có nhu cầu sử
dụng vốn Như vậy, tổ chức nhận tiền gửi sẽ phải có trách nhiệm chi trả cho
người gửi tiền (bao gồm cả gốc và lãi) mà không phụ thuộc vào việc họ có thu
Trang 13được nợ từ việc cho người khác vay hay không? Với tính chất đó, hoạt động ngân hàng luôn chứa đựng khả năng rủi ro rất cao và người gửi tiền luôn đặt vấn
đề rằng liệu rằng các ngân hàng luôn vững mạnh về mặt tài chính? Tâm lý lo âu
của người gửi tiền xuất hiện vì nếu xảy ra trường hợp đổ bể thì khoản tiền gửi
của họ cũng mất theo Do vậy, cần thiết phải xây dựng niềm tin từ người gửi
tiền Việc xây dựng niềm tin này trước hết được thực hiện bởi chính tiềm lực tài chính, kỹ năng hoạt động, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của tổ chức nhận
tiền gửi và bên cạnh đó cần thiết phải tạo niềm tin cho người gửi tiền bởi một
chủ thể khác mang tính cụ thể hơn, thiết thực hơn trong trường hợp xảy ra rủi ro
mất khả năng thanh toán của tổ chức nhận tiền gửi- đó chính sự xuất hiện của tổ
chức bảo hiểm tiền gửi Có thể nhận thấy rằng, sự xuất hiện của bảo hiểm tiền
gửi như một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế khi cần tạo ra một sự ổn định và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong việc bảo vệ người gửi tiền
Bảo hiểm tiền gửi đã xuất hiện khá lâu và có rất nhiều cách tiếp cận không
giống nhau về vấn đề này Theo tài liệu chuyên khảo về bảo hiểm tiền gửi và
quản lý khủng hoảng do Quỹ Tiền tệ Quốc tế phát hành của tác giả Carl Johan Lindgren và Gilian Garcia thì “bảo hiểm tiền gửi được định nghĩa như một cơ
theo định nghĩa của tác giả Choi J.B trong tài liệu cơ cấu của những hệ thống bảo
hiểm tiền gửi ở Châu Á thì “bảo hiểm tiền gửi là chính sách bảo đảm tất cả hoặc
thanh toán, theo cơ chế đồng bộ hoặc cam kết công khai” (19- Tr.25)
Cho đến nay, ở Việt Nam, hoạt động bảo hiểm tiền gửi đã được hình thành
và đi vào hoạt động gần chục năm Chúng ta đã ban hành những văn bản pháp
Trang 14luật nhằm điều chỉnh hoạt động này và thực tế cho thấy bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phần nào đã thể hiện được vai trò của mình trong việc tạo niềm tin cho
người gửi tiền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền cũng như tạo
ra sự bình ổn cho hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, trong tất cả các văn bản pháp
luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam hiện hành, chưa có một văn bản nào đưa
ra định nghĩa về bảo hiểm tiền gửi Trong khi đó điều này lại hết sức cần thiết Song, qua phân tích trên chúng ta có thể đưa ra định nghĩa mang tính khái quát
về bảo hiểm tiền gửi như sau: Bảo hiểm tiền gửi là thoả thuận giữa tổ chức bảo
hi ểm tiền gửi với tổ chức nhận tiền gửi, theo đó tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ
th ực hiện thanh toán thay tổ chức nhận tiền gửi khi tổ chức nhận tiền gửi đó
ch ấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền
Như vậy, có thể nhận thấy rằng bảo hiểm tiền gửi cũng là một loại bảo hiểm và
vì vậy, nó cũng bao gồm những đặc điểm chung của tất cả các loại bảo hiểm khác Điều đó được biểu hiện ở những khía cạnh như: có mua bảo hiểm (nộp phí) trước kỳ bảo hiểm; chỉ áp dụng khi có rủi ro trong tương lai; không thực
hiện việc hồi tố; tích tụ tài chính của số đông để đền cho số ít khi có rủi ro Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung đó, bảo hiểm tiền gửi còn một số đặc
trưng cơ bản như sau:
Th ứ nhất: Về chủ thể tham gia Trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi có sự xuất
hiện của ba loại chủ thể đó là tổ chức nhận bảo hiểm tiền gửi; tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi và người thụ hưởng bảo hiểm Đây là điểm khác biệt so với các loại bảo hiểm khác- thông thường chỉ có sự tham gia của hai chủ thể đó là bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm
Th ứ hai: Chủ thể mua bảo hiểm (nộp phí) Trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi
thì tổ chức nhận tiền gửi của người gửi tiền sẽ tham gia vào quan hệ bảo hiểm
tiền gửi với tư cách là tổ chức tham gia bảo hiểm- sẽ là người phải nộp phí bảo
Trang 15hiểm theo một mức độ và thời hạn nộp nhất định Còn người thụ hưởng bảo hiểm
tiền gửi là người gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi lại không phải nộp phí bảo
hiểm Rõ ràng, đây là một điểm rất đặc biệt của bảo hiểm tiền gửi so với các loại
bảo hiểm khác, ở đó chủ thể thụ hưởng bảo hiểm phải là người mua bảo hiểm và
phải nộp phí bảo hiểm
Th ứ ba: Chủ thể tham gia bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm tiền gửi là loại hình
bảo hiểm chỉ dành riêng cho tổ chức nhận tiền gửi từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội Do vậy, đối tượng tham gia vào bảo hiểm tiền gửi hẹp hơn so với các loại bảo hiểm khác- đó là những loại hình bảo hiểm được dành cho sự tham gia của mọi tổ chức và cá nhân có nhu cầu trong xã hội
Th ứ tư: Điều kiện được hưởng tiền bảo hiểm Xét trên giác độ chung nhất
thì người thụ hưởng bảo hiểm chỉ được hưởng quyền lợi khi có sự kiện bảo hiểm phát sinh và thông thường đó là những rủi ro xảy ra đối với người thụ hưởng Tuy nhiên, trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi thì sự kiện bảo hiểm xảy ra lại không
trực tiếp xảy ra đối với người thụ hưởng mà đối với tổ chức nhận tiền gửi của
người gửi tiền- đó là khi tổ chức nhận tiền gửi chấm dứt hoạt động mà không có
khả năng chi trả tiền (bao gồm tiền gốc và lãi nhập gốc) cho người gửi tiền Khi
đó, tổ chức tham gia bảo hiểm sẽ phải làm hồ sơ đề nghị được thanh toán bảo
hiểm cho người thụ hưởng mà người thụ hưởng không phải trực tiếp làm yêu cầu
bồi thường
Th ứ năm: Tính bắt buộc của chủ thể tham gia Xuất phát từ mục đích của
bảo hiểm tiền gửi mà hầu hết các nước trên thế giới đều quy định việc tham gia
bảo hiểm tiền gửi là yêu cầu bắt buộc đối với các tổ chức có nhận tiền gửi của các tổ chức và cá nhân trong xã hội Trong khi đó, hầu hết các loại bảo hiểm khác lại coi tự nguyện là nguyên tắc trong hoạt động của mình, việc tham gia bảo
Trang 16hiểm hay không xuất phát từ nhu cầu và sự tính toán của chính các chủ thể trong
xã hội
1.1.2 M ục đích của bảo hiểm tiền gửi
Bản chất của bảo hiểm tiền gửi xét trên giác độ kinh tế, đó là một loại hình
dịch vụ mà sự xuất hiện của loại hình dịch vụ này đóng vai trò đặc biệt quan
trọng cho sự bình ổn của các tổ chức nhận tiền gửi và người gửi tiền Mặc dù,
mục đích cụ thể của bảo hiểm tiền gửi của các quốc gia khác nhau là không
giống nhau (có quốc gia thì bảo hiểm tiền gửi vì mục tiêu lợi nhuận, có quốc gia thì bảo hiểm không vì mục tiêu lợi nhuận) nhưng xét một cách khái quát nhất thì
bảo hiểm tiền gửi được thiết lập nhằm một số mục đích như sau:
Th ứ nhất: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền Có thể
nhận thấy rằng, trong hoạt động ngân hàng thì huy động tiền gửi từ nguồn tiền nhàn rỗi của dân chúng là một hoạt động rất được chú trọng và luôn là mục tiêu
mà các tổ chức tín dụng hướng tới Song, do tính chất đặc thù của các chủ thể có các khoản tiền gửi này mà bảo hiểm tiền gửi của tất cả các nước đều đưa việc
bảo đảm sự an toàn của các khoản tiền gửi của dân chúng thành mục đích hàng đầu Điều đó được lý giải bởi lẽ, người gửi tiền- hay nói ở một khía cạnh hẹp
hơn đó là người gửi ít tiền ở đây chủ yếu là người có thu nhập thấp, với khoản
tiền tiết kiệm của mình không thể hoặc không đủ để họ có thể sinh lợi Hầu hết trong số họ là những người có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận và phân tích các thông tin về kinh tế, xã hội nói chung và các thông tin về tổ chức
và hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi của họ nói riêng Qua nghiên cứu
thực tế của nhiều nhà kinh tế học, chẳng hạn như Carisano cho thấy rằng khi có
sự đổ bể ngân hàng xảy ra thì đời sống của những người gửi tiền có thu nhập
thấp sẽ bị tác động nhiều hơn đối với các chủ thể gửi tiền khác Điều này là hoàn toàn dễ hiểu, ngay cả khi số lượng tiền gửi của họ là ít hơn trong tương quan so
Trang 17sánh với các khoản tiền gửi của các chủ thể khác thì phần tiền lãi mà họ được
hưởng cũng có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của bản thân và gia đình họ Từ
đó, khi có sự đổ bể ngân hàng hay mới chỉ là tin đồn về sự đổ bể ngân hàng thì
người gửi tiền có thu nhập thấp thường có những phản ứng tức thì, quá mức nếu
như không muốn nói là mang tính bày đàn- đồng loạt rút tiền khi mà họ chưa có nhu cầu sử dụng, thậm chí không biết sử dụng vào mục đích gì khi rút tiền khỏi ngân hàng Sự kiện rút tiền một cách đồng loạt năm 2003 tại ngân hàng Á Châu- ACB ở Việt Nam, là một minh chứng điển hình khi nói về phản ứng rút tiền đồng loạt của người gửi tiền
Qua phân tích trên chúng ta có thể nhận thấy mối quan hệ qua lại giữa sự đổ
bể (tin đồn về sự đổ bể) ngân hàng với phản ứng rút tiền gửi đồng loạt của người
gửi tiền Sự đổ bể ngân hàng (tin đồn về sự đổ bể ngân hàng) dẫn đến sự rút tiền đồng loạt và ngược lại chính sự rút tiền đồng loạt của người gửi tiền có thể sẽ
dẫn đến sự đổ bể của ngân hàng Do vậy, bảo vệ sự an toàn của người gửi tiền
cũng chính là bảo vệ sự an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng và đây chính là mục đích hàng đầu của bảo hiểm tiền gửi
Th ứ hai: Bảo vệ các trung gian thanh toán Có thể nhận thấy rằng ngân
hàng luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, ngoài việc cấp vốn cho nền kinh tế thì ngân hàng còn là trung gian thanh toán cho các chủ thể Một đặc trưng của hoạt động ngân hàng đó là mang tính hệ thống và phản ứng dây chuyền Đều đó cho thấy, khi một ngân hàng bị khủng hoảng thì có thể sẽ gây ảnh hưởng đến tất cả các ngân hàng khác, kể cả các ngân hàng đang hoạt động
tốt Vì vậy, việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa nguy cơ xảy ra đổ vỡ và phản ứng dây chuyền cho cả hệ thống nhằm bảo vệ các trung gian thanh toán, giảm thiểu những tổn thất có thể xảy ra đối với các trung gian thanh toán nói riêng, đối
với nền kinh tế nói chung là hết sức cần thiết Trong đó, trước hết và quan trọng
Trang 18nhất là phải bảo đảm được tình hình tài chính của các trung gian thanh toán sao cho luôn ở thế ổn định và phát triển Để thực hiện được điều đó, chúng ta phải áp
dụng nhiều biện pháp khác nhau, một trong các biện pháp đó là bảo hiểm tiền
gửi Thông qua bảo hiểm tiền gửi, giúp cho các trung gian thanh toán có thể
quản lý, phân tán rủi ro của số ít cho số đông và tích tụ tài chính từ số đông cho
số ít Điều đó càng có ý nghĩa hơn đối với các trung gian thanh toán Việt Nam trong điều kiện hiện nay, khi chúng ta thực hiện hội nhập kinh tế một cách toàn
diện, khi mà các chủ thể đều được hoạt động và cạnh tranh lành mạnh trong một môi trường pháp lý bình đẳng
Th ứ ba: Tạo điều kiện tồn tại và phát triển đối với các tổ chức tín dụng có
quy mô nhỏ và mới thành lập Điều này là hoàn toàn hợp lý Bởi lẽ, xét trên giác
độ pháp lý thì mọi chủ thể đều bình đẳng trong quá trình hoạt động mà sẽ không
có một sự ưu tiên đặc biệt nào Tuy nhiên, một điều rất dễ nhận thấy là, đối với các tổ chức tín dụng vừa mới đi vào hoạt động sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình cạnh tranh và bảo hiểm tiền gửi xuất hiện như một biện pháp hỗ trợ đắc
lực trên đường đua của họ Nói như vậy không có nghĩa rằng, bảo hiểm tiền gửi không có ý nghĩa gì đối với các tổ chức tín dụng khác mà ở đây, chúng ta muốn
nhấn mạnh mục đích của bảo hiểm tiền gửi đến sự tồn tại và phát triển của các tổ
chức tín dụng mới, quy mô hoạt động và nguồn vốn đầu tư ban đầu nhỏ
Th ứ tư: Khắc phục hậu quả khi xảy ra sự cố trong hoạt động của các tổ
chức tham gia bảo hiểm Có thể nhận thấy rằng, đây là mục đích ngoài mong
muốn của chủ thể bảo hiểm tiền gửi và chủ thể tham gia bảo hiểm tiền gửi và kể
cả người thụ hưởng trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi Tuy nhiên, sự đổ vỡ của các chủ thể tham gia bảo hiểm là hoàn toàn có thể xảy ra và dường như đó là điều rất khó tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng Khắc phục hậu quả khi xảy ra sự cố trong hoạt
Trang 19động của các chủ thể tham gia bảo hiểm phải được hiểu đó là sự bắt đầu ra tay
của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng chi trả, khi đó tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể áp dụng các biện pháp cần thiết như cho vay hỗ trợ để chi trả các khoản tiền được bảo
hiểm, đứng ra bảo lãnh các khoản vay đặc biệt để có nguồn chi trả các khoản vay được bảo hiểm Trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm đã thực sự mất
khả năng thanh toán, đã có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì
tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải thực hiện việc chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho
chủ thể thụ hưởng
1.1.3 Vai trò c ủa bảo hiểm tiền gửi trong nền kinh tế thị trường
Qua phân tích những mục đích của bảo hiểm tiền gửi nêu trên, phần nào chúng ta nhận thấy vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với sự tồn tại và phát triển
của ngành ngân hàng nói riêng và đối với sự phát triển kinh kế, xã hội nói chung Vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với sự phát triển kinh tế, xã hội được quyết định bởi bản chất kinh tế của bảo hiểm tiền gửi- một loại hình dịch vụ Loại hình
dịch vụ mà bảo hiểm tiền gửi cung cấp là loại hình dịch vụ đặc biệt, theo cách phân loại của nhà kinh tế học Stiglitz thì dịch vụ bảo hiểm tiền gửi thuộc loại
tiền gửi góp phần bình ổn cho hệ thống tài chính của quốc gia, do vậy, mà người
thụ hưởng theo nghĩa rộng đó là toàn xã hội mà không nhất thiết phải là người
gửi tiền Trong đó, người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm sẽ là người được thụ hưởng một cách trực tiếp từ bảo hiểm tiền gửi khi mà chủ thể- nơi mà
họ gửi tiền mất khả năng thanh toán Ngược lại, chủ thể nhận tiền gửi sẽ được
hưởng từ sự hậu thuẫn, từ sự hỗ trợ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi- từ đó yên tâm trong việc sử dụng nguồn vốn huy động từ dân chúng Khi đã có một nền tài
Trang 20chính ổn định, an toàn thì các chủ thể khác có thể giúp cho các cá nhân và tổ
chức khác trong xã hội có cơ hội tốt cho việc phát triển, phúc lợi xã hội tăng và
cả xã hội đều được hưởng Như vậy, bảo hiểm tiền gửi có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội Vai trò đó được thể hiện một cách gián tiếp thông qua vai trò của hệ thống ngân hàng Vì vậy, vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với sự tồn tại và phát triển của hệ thống ngân hàng cũng là vai trò của bảo
hiểm tiền gửi đối với việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Với cách lý
luận đó, bảo hiểm tiền gửi có một số vai trò nổi bật như sau:
M ột là: Bảo hiểm tiền gửi góp phần mang lại niềm tin của công chúng đối
với hệ thống ngân hàng Có thể khái quát hoạt động của ngân hàng thông qua
việc thực hiện hai chức năng cơ bản, đó là: chức năng làm trung gian tín dụng;
chức năng làm trung gian thanh toán Điều đó có nghĩa rằng, các ngân hàng
muốn tạo dựng niềm tin nơi công chúng thì họ phải tìm cách thực hiện tốt các
người cho vay
Còn chức năng làm trung gian thanh toán thực chất là việc ngân hàng thông qua các biện pháp chuyên môn, nghiệp vụ của mình để cung cấp cho nền kinh tế
một loại hình dịch vụ- dịch vụ thanh toán Loại hình dịch vụ này được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của khách hàng Theo đó, ngân hàng có thể trích một khoản
tiền từ tài khoản của khách hàng để thanh toán cho một chủ thể khác hoặc nhập
Trang 21tiền vào tài khoản của khách hàng Với những biểu hiện như vậy, chúng ta có
thể coi ngân hàng chính là “thủ quỹ” của khách hàng Có thể nhận thấy một cách
rõ nét vai trò trung gian thanh toán của các ngân hàng đối với nền kinh tế, nó làm cho tốc độ lưu thông của hàng hoá nhanh hơn, an toàn hơn trong việc thanh toán,
tốc độ luân chuyển vốn nhanh hơn Và như vậy, xã hội càng văn minh, kinh tế càng phát triển thì loại hình dịch vụ này càng được chú trọng hơn
Các chức năng của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung
và hỗ trợ cho nhau Trong đó, chức năng trung gian tín dụng là cơ bản và là cơ
sở để thực hiện chức năng trung gian thanh toán, chức năng trung gian thanh toán có ảnh hưởng trước tiên đến niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng Trong hoạt động của mình, các ngân hàng thực hiện tốt các chức năng trên chính là cơ sở để tạo dựng niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng
Việc thiết lập một hệ thống bảo hiểm tiền gửi sẽ thực sự gặp khó khăn nếu chúng ta không giải quyết được những vấn đề quan trọng liên quan đến sự bình
ổn của hệ thống tài chính và ngược lại các cơ sở tạo ra sự bình ổn của hệ thống tài chính sẽ phát huy hết sức mạnh của mình nếu có sự xuất hiện của bảo hiểm
tiền gửi Hiện nay, hầu hết các nước đều thiết lập cơ chế bảo hiểm tiền gửi quốc gia và cam kết rằng, trong trường hợp ngân hàng mà họ gửi tiền mất khả năng chi trả thì những khoản tiền được bảo hiểm vẫn được thanh toán Khi người gửi
tiền nhận thức được rằng, khoản tiền gửi của mình luôn được đảm bảo chi trả thì
tất nhiên họ không có ý định rút tiền khi ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn
về tài chính Kết quả tạo lập niềm tin từ công chúng vào hoạt động của các ngân hàng chính là ngăn chặn từ xa việc rút tiền đồng loạt, từ đó, giảm được nguy cơ tan vỡ của hệ thống ngân hàng
Bằng các hoạt động của mình như cung cấp cho công chúng đầy đủ các thông tin về các ngân hàng; hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tham gia bảo hiểm
Trang 22khi tổ chức đó gặp khó khăn về tài chính; chi trả bảo hiểm một cách kịp thời cho các chủ thể có quyền thụ hưởng khi phát sinh sự kiện bảo hiểm; tham gia vào quá trình thanh lý tài sản sau khi chi trả bảo hiểm để tiếp tục bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền chưa được thanh toán hết tiền gửi tổ chức bảo
hiểm tiền gửi đã thực sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi
tiền Khi tổ chức bảo hiểm thực hiện việc chi trả cho người gửi tiền khoản tiền được bảo hiểm thì xét về mặt bản chất, tổ chức bảo hiểm đã thực hiện chức năng thanh toán thay cho tổ chức tham gia bảo hiểm- tổ chức đã nhận tiền gửi của công chúng khi mà tổ chức tham gia bảo hiểm mất khả năng thanh toán Điều đó góp phần duy trì niềm tin của công chúng đối với các ngân hàng đang hoạt động
tốt nói riêng và với toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung
Hai là: Bảo hiểm tiền gửi là nhân tố quan trọng cho sự phát triển hệ thống ngân hàng Như đã phân tích trên, bảo hiểm tiền gửi góp phần tạo dựng niềm tin
của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, từ đó sẽ củng cố được vị thế, uy tín
của ngân hàng trong xã hội, giúp cho các ngân hàng có thể thuận lợi hơn trong
việc huy động vốn, mở rộng mạng lưới hoạt động, đa dạng hoá các loại hình dịch
vụ và như vậy, đó chính là cơ sở, là động lực cho sự phát triển vững mạnh của các ngân hàng Ngoài ra, chúng ta có thể khai thác vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với hoạt động của các ngân hàng thông qua một số khía cạnh sau:
- Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngân hàng mới thành lập hoặc ngân hàng có quy mô hoạt động hạn chế Mặc dù, tất cả các ngân hàng đều được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật, đều có quyền sử dụng các biện pháp hỗ trợ nhằm tiến hành cạnh tranh một cách lành
mạnh trong quá trình hoạt động Tuy nhiên, một điều rất dễ nhận thấy rằng, đối
với các ngân hàng mới được thành lập hoặc quy mô hoạt động hạn chế thì chưa
có điều kiện hoặc không có điều kiện thể hiện mình đối với công chúng và như
Trang 23vậy, việc huy động tiền gửi của các ngân hàng này kém thuận lợi hơn so với các ngân hàng có quy mô lớn, các ngân hàng đã có bề dày kinh nghiệm, đã tạo dựng được niềm tin của công chúng Do vậy, sự có mặt của bảo hiểm tiền gửi với chính sách bảo hiểm bắt buộc đối với mọi tổ chức có thực hiện chức năng huy động vốn từ việc nhận tiền gửi của công chúng trong xã hội thì tâm lý lo sợ của
người gửi tiền không còn nữa Khi người gửi tiền đã hoàn toàn yên tâm gửi tiền
ở các ngân hàng có quy mô nhỏ hoặc mới hoạt động thì các ngân hàng này có thể
củng cố uy tín của mình đối với công chúng và từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng loại này tồn tại và phát triển, góp phần tạo điều kiện phát triển chung của toàn hệ thống
- Bảo hiểm tiền gửi giúp đỡ các ngân hàng thực sự yếu kém, không thể duy trì được hoạt động có thể rút khỏi môi trường kinh doanh một cách có trật tự, kỷ
cương và không gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các ngân hàng khác Trong hệ thống các ngân hàng tồn tại với tư cách là những chủ thể kinh doanh, không phải tất cả các ngân hàng đều có thể duy trì được hoạt động một cách an toàn và hiệu quả Hay nói cách khác, nếu sự xuất hiện của một ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, thậm chí không thể duy trì được hoạt động thì cũng có thể coi đó là chuyện bình thường Vấn đề đặt ra là, trong những trường hợp đó thì vai trò của bảo hiểm tiền gửi được thể hiện như thế nào? Trong quá trình thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua công tác kiểm tra, giám sát, tổ
chức bảo hiểm tiền gửi có thể đánh giá được thực trạng của các ngân hàng tham gia bảo hiểm để từ đó phát hiện kịp thời những ngân hàng hoạt động kém hiệu
quả Nếu nhận thấy ngân hàng đó không thể duy trì hoạt động một cách độc lập thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ tiến hành các biện pháp nhất định nhằm mục đích hỗ trợ như đưa ra phương án sáp nhập với một ngân hàng khác; thực hiện
việc chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm; tham gia vào công tác quản lý, thanh lý tài sản Tất cả những hoạt động mà tổ chức
Trang 24bảo hiểm tiền gửi thực hiện nêu trên sẽ giúp cho các ngân hàng không còn khả
năng hoạt động độc lập, mất khả năng thanh toán có thể nhanh chóng rút khỏi
nền kinh tế một cách nhẹ nhàng, êm đẹp và đặc biệt là không làm xáo trộn tình hình kinh tế- xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các ngân hàng khác
- Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện để các ngân hàng tham gia bảo hiểm kiểm tra, giám sát lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển Điều này được xuất phát từ
cơ chế chia sẻ rủi ro của số ít cho số đông Theo đó, khi một ngân hàng gặp khó
khăn, thì khó khăn đó được khắc phục từ phí bảo hiểm mà tổ chức bảo hiểm tiền
gửi thu được từ các ngân hàng tham gia bảo hiểm Từ đó, kết hợp với tính dây chuyền trong hoạt động ngân hàng mà giữa các ngân hàng tham gia bảo hiểm
xuất hiện nhu cầu giám sát lẫn nhau, cùng nhau nâng cao chất lượng hoạt động Điều này càng được thể hiện một cách rõ nét hơn đối với những quốc gia thực
hiện việc thu phí bảo hiểm theo hình thức “đóng góp sau”- tức là khi một ngân hàng tham gia bảo hiểm gặp khó khăn và cần thiết phải có sự can thiệp của bảo
hiểm thì tuỳ theo từng trường hợp mà tổ chức bảo hiểm sẽ ấn định khoản đóng góp của các ngân hàng tham gia bảo hiểm (ví dụ như tổ chức bảo hiểm tiền gửi cho các ngân hàng tư nhân ở Đức)
Ba là: Bảo hiểm tiền gửi góp phần tích cực cho việc huy động tiền gửi tạo
nền tảng vững chắc cho việc đầu tư phát triển Như đã phân tích, một trong
những chức năng cơ bản của ngân hàng đó là huy động tiền gửi từ nguồn tiền nhàn rỗi của các tổ chức và cá nhân trong xã hội để hình thành quỹ cho vay của mình, thực hiện việc cấp vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đầu tư phát triển Tuy nhiên, nguồn tiền gửi của các tổ chức thông thường
chỉ mang tính tạm thời, ít ổn định Do vậy, không thể coi đó là nguồn vốn ổn định cho quá trình đầu tư phát triển Ngược lại, nguồn tiền tiết kiệm, nhàn rỗi
Trang 25của dân chúng thường mang tính ổn định, lâu dài và đó chính là nguồn vốn quyết định đối với quá trình đầu tư phát triển, bởi lẽ, đó là những khoản tiền nhàn rỗi
và thông thường được gửi với những kỳ hạn xác định Đối với những khoản tiền
gửi này, nếu có biến động lớn xảy ra thì thông thường lại xuất phát từ biến động
của hệ thống ngân hàng Nếu như các ngân hàng hoạt động có hiệu quả, trả lãi thoả đáng cho người gửi tiền, thủ tục gửi và rút tiền thuận lợi và đặc biệt khoản
tiền gửi của người gửi tiền được bảo đảm chi trả thì dường như sự biến động đối
với khoản tiền gửi này sẽ không xảy ra
Bảo hiểm tiền gửi, thông qua hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi đóng vai trò quan trọng trong việc tạo sự an toàn, ổn định của hệ thống ngân hàng, tạo
niềm tin cho công chúng đối với hệ thống ngân hàng và bảo đảm cho khoản tiền
gửi của họ luôn được thanh toán- điều đó có nghĩa rằng, bảo hiểm tiền gửi đã gián tiếp giúp cho các ngân hàng có thể huy động tiền gửi nhàn rỗi của công chúng một cách có hiệu quả nhất và tất nhiên, đó là nguồn vốn quan trọng cho
việc đầu tư phát triển một cách bền vững
1.2 Quá trình hình thành và phát tri ển của bảo hiểm tiền gửi
Trong hoạt động của mình, các ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động tiền
gửi từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội để cấp vốn cho các chủ thể khác có nhu cầu sử dụng trong nền kinh tế Thực chất của hoạt động này là các ngân hàng đi vay để cho vay và như vậy, hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn, chứa đựng rủi ro ở mức độ cao Điều đó dẫn đến hiện tượng người gửi tiền luôn xuất
hiện tâm lý lo sợ về khoản tiền của mình đã gửi vào ngân hàng khi có sự đổ vỡ
xảy ra Mặt khác, để duy trì được hoạt động thì về phía mình, các ngân hàng không thể không tiếp tục duy trì việc huy động tiền gửi từ công chúng Do vậy,
việc bảo vệ người gửi tiền được đặt ra như một nhiệm vụ không thể thiếu trong
hoạt động ngân hàng Khái niệm bảo vệ người gửi tiền được biết đến từ khá lâu
Trang 26ở các quốc gia trên thế giới, ban đầu được tồn tại dưới hình thức bảo vệ ngầm,
khi mà khái niệm bảo hiểm tiền gửi một cách công khai chưa xuất hiện Hình
thức bảo vệ ngầm các khoản tiền gửi của công chúng được các nước sử dụng chính là việc Ngân hàng Trung ương hoặc Chính phủ không công khai cam kết chi trả thay cho các ngân hàng đối với những khoản tiền gửi mà các ngân hàng huy động từ công chúng khi xảy ra sự đổ bể của ngân hàng nhận tiền gửi Tuy nhiên, trên thực tế, trong trường hợp rủi ro xảy ra, để bảo vệ quyền lợi của người
gửi tiền và để củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, ngăn
chặn một phản ứng dây chuyền có thể xảy ra thì Ngân hàng Trung ương hoặc Chính phủ vẫn tìm cách khắc phục và bảo đảm cho người gửi tiền Rõ ràng rằng, cho dù có thể được bảo đảm nhưng với cách bảo vệ ngầm theo kiểu này, người
gửi tiền không thể yên tâm Bởi lẽ, vì đây là việc khắc phục hậu quả không công khai nên không hình thành bất kỳ một hợp đồng nào thể hiện việc bảo hiểm tiền
gửi của người gửi tiền giữa ngân hàng nhận tiền gửi với Ngân hàng Trung ương
hoặc với Chính phủ Do vậy, xuất phát từ đòi hỏi khách quan trong hoạt động ngân hàng, xuất phát từ mong muốn tạo dựng hình ảnh tốt của ngân hàng đối với công chúng, củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, bảo
vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, từ đó tạo
dựng sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính quốc gia thì bảo hiểm tiền
gửi ra đời là hết sức cần thiết Xuất phát điểm của bảo hiểm tiền gửi chính là
hoạt động “bảo vệ tiền gửi công khai” Bảo vệ tiền gửi công khai được hiểu là
chính sách bảo đảm theo đó khoản tiền gửi của người gửi tiền được đảm bảo chi
trả trên cơ sở hợp đồng hoặc cam kết một cách minh bạch giữa ngân hàng nhận
tiền gửi với tổ chức bảo hiểm tiền gửi và người gửi tiền Khoản tiền gửi được
bảo hiểm có thể là toàn bộ hoặc một phần của tiền gốc cùng với tiền lãi nhập gốc được thể hiện trên tài khoản tiền gửi của người gửi tiền tại ngân hàng Việc bảo
vệ tiền gửi của người gửi tiền được hình thành đầu tiên tại Mỹ
Trang 27Chính sách bảo vệ tiền gửi một cách công khai được hình thành tại Mỹ với
“chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng” tại New York năm 1829 Nội dung của chương trình này muốn đề cập chính là trách nhiệm đối với tiền gửi và
chứng chỉ huy động tiền gửi Chương trình này nhận được sự tán đồng và từ năm
1831 đến năm 1858 trên nước Mỹ đã có thêm Vermont; Indiana; Michigan; Ohio; và Iowa tiến hành thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi (41, tr.3) Mục đích
của các chương trình bảo hiểm tiền gửi này là bảo vệ cộng đồng khi xảy ra sự đổ
bể của các ngân hàng và bảo vệ người gửi tiền là cá thể Mặc dù, với mục đích
rất tích cực và sau khi thành lập đã phát huy tốt vai trò của mình nhưng tất cả các
tổ chức thực hiện chức năng bảo hiểm tiền gửi đó lại sớm phải đóng cửa Bởi lẽ,
tới cuối năm 1930 do sự ra đời của chính sách ngân hàng tự do đã tạo điều kiện cho phần lớn ngân hàng rút khỏi việc tham gia bảo hiểm tiền gửi và việc thành
lập hệ thống ngân hàng quốc gia năm 1886 ở Mỹ làm cho ngân hàng được cấp
giấy phép mà có vốn của Nhà nước được chuyển thành ngân hàng quốc gia- có
thể rút khỏi bảo hiểm tiền gửi Sau sự đóng cửa của bảo hiểm tiền gửi của năm vùng lãnh thổ của Mỹ nêu trên thì tại nước Mỹ, bảo hiểm tiền gửi lại tiếp tục được thử nghiệm hoạt động vào thời gian từ năm 1908 đến năm 1917 với sự ra đời và đi vào hoạt động của bảo hiểm tiền gửi tại 8 vùng lãnh thổ Tuy nhiên, đến năm 1930 thì cả 8 hệ thống bảo hiểm tiền gửi này đều bị đóng cửa với lý do
là trong giai đoạn này hệ thống ngân hàng tại Mỹ gặp nhiều khó khăn và nhiều ngân hàng đã phải đóng cửa, kéo theo các tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở đó cũng
mất khả năng thanh toán (33)
Đầu những năm 30 của thế kỷ 20 là khoảng thời gian tiếp tục đánh dấu sự khó khăn của các ngân hàng ở Mỹ Trong giai đoạn từ năm 1930 đến 1933 mỗi
năm có khoảng hơn 1000 ngân hàng ngừng hoạt động, đặc biệt là năm 1933 số
lượng ngân hàng phải đóng cửa tăng lên con số kỷ lục- 4000 ngân hàng (41- tr.21) Đứng trước tình hình khó khăn đó của các ngân hàng, để lấy lại niềm tin
Trang 28của công chúng đối với hoạt động của các ngân hàng và tạo chỗ dựa cho ngân hàng hoạt động và phát triển thì Bảo hiểm tiền gửi liên bang ở Mỹ (FDIC) đã ra đời vào ngày 01 tháng 01 năm 1934, đây được xem là hình mẫu đầu tiên của bảo
hiểm tiền gửi
Tiếp theo sự ra đời của bảo hiểm tiền gửi liên bang ở Mỹ- FDIC, trong thế
kỷ 20, cho đến những năm 60, trên thế giới đã có tới 6 quốc gia thành lập bảo
hiểm tiền gửi, đến những năm 70 có thêm sự xuất hiện của 4 hệ thống bảo hiểm
tiền gửi của 4 quốc gia và đến những năm của thập niên 90 có đến 30 quốc gia thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi (42- Tr.23) Tính đến đầu năm 2002, trên thế
giới đã có 74 hệ thống bảo hiểm tiền gửi Đặc biệt, ngày 06 tháng 05 năm 2002
hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế được thành lập có trụ sở đặt tại Thụy sỹ với sự tham gia của nhiều hệ thống bảo hiểm tiền gửi của nhiều quốc gia trên thế giới (33- Tr.7) Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ người gửi tiền xuất hiện lần đầu tiên năm
1994 với tên gọi “quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối
với các khoản tiền gửi có kỳ hạn”- đây là nền móng cho mô hình bảo hiểm tiền
gửi công khai ở Việt Nam (43- Tr.13) Sau một thời gian tồn tại, mô hình này không còn phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội nên đã được thay thế bởi tổ
chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, một tổ chức tài chính Nhà nước có tư cách pháp nhân, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn và tự bù đắp chi phí
1.3 S ự điều chỉnh của pháp luật đối với bảo hiểm tiền gửi
Nghiên cứu lý luận về pháp luật chúng ta thấy rằng, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí
của Nhà nước nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cho các quan
hệ xã hội đó tồn tại và phát triển theo một xu hướng nhất định phù hợp với mong
muốn của Nhà nước và phù hợp với đòi hỏi phát triển chung của xã hội Với
Trang 29cách tiếp cận đó, pháp luật chính là công cụ mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnh
từng lĩnh vực quan hệ phát sinh trong xã hội mà thông thường, sự xuất hiện của
một lĩnh vực pháp luật sẽ phải dựa trên một nền tảng kinh tế- xã hội nhất định Đối với pháp luật về bảo hiểm tiền gửi cũng vậy, sự xuất hiện của nó gắn
liền với quá trình huy động vốn từ công chúng dưới hình thức nhận tiền gửi, một
hoạt động quan trọng bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng
Thật vậy, với chức năng, nhiệm vụ của mình thì trong quá trình hoạt động, các ngân hàng không sử dụng nguồn vốn tự có để cấp vốn cho nền kinh tế mà sẽ sử
dụng nguồn vốn được huy động từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội- trong đó, nguồn vốn được huy động từ những khoản tiền nhàn rỗi của công chúng luôn được coi là một kênh huy động vốn đặc biệt bởi tính ổn định của nó Chính sự ổn định của nguồn vốn huy động bằng việc nhận tiền gửi của công chúng giúp cho các ngân hàng yên tâm trong việc sử dụng để cấp vốn cho quá trình đầu tư phát triển Nghiên cứu thực tế cho thấy rằng, phần lớn những người gửi tiền vào ngân hàng là những người có thu nhập thấp và bản thân họ không thể tiến hành đầu tư
dưới những hình thức khác để sinh lợi từ khoản tiền mà họ tiết kiệm được Do
vậy, đối với những người gửi tiền luôn xuất hiện tâm lý lo lắng về sự trượt giá
của đồng tiền, sau một thời gian gửi vào ngân hàng mặc dù được hưởng lãi
nhưng giá trị của đồng tiền rất có thể sẽ bị tụt giảm, thậm chí mất trắng nếu như
có sự đổ vỡ xảy ra Nhu cầu bảo vệ người gửi tiền được đặt ra như một đòi hỏi không thể thiếu trong hoạt động ngân hàng và nhu cầu đó lại càng trở nên cấp thiết hơn khi chúng ta nhận thức được rằng, bảo vệ người gửi tiền sẽ góp phần
củng cố niềm tin của người gửi tiền đối với các ngân hàng, tăng cường uy tín của các ngân hàng và như vậy, đã bảo vệ được các ngân hàng và bảo vệ được hệ
thống tài chính trong nền kinh tế quốc dân Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó trong
hoạt động ngân hàng mà pháp luật về bảo hiểm tiền gửi hình thành và ngày càng hoàn thiện hơn Bởi lẽ, bất kỳ một thiết chế mới nào được thành lập đều cần phải
Trang 30dựa trên các quy định của pháp luật và trong quá trình hoạt động phải theo một khuôn khổ pháp lý nhất định Mặt khác, các nghiệp vụ trong hoạt động ngân hàng đều là các nghiệp vụ pháp luật nên bảo hiểm tiền gửi đã và đang trở thành
một chế định pháp luật quan trọng trong hoạt động ngân hàng hiện nay (47- Tr.7)
Ở các nước có nền kinh tế phát triển, pháp luật về bảo hiểm tiền gửi được hình thành và phát triển khá sớm, điển hình là ở Mỹ Bảo hiểm liên bang ở Mỹ được thành lập và hoạt động dưới hình thức công ty bảo hiểm liên bang theo luật
bảo hiểm tiền gửi từ năm 1934 Theo đó, công ty được quản trị bởi một Hội đồng
quản trị bao gồm Chủ tịch và các Phó chủ tịch Thành viên Hội đồng quản trị không được phép sở hữu tham gia hoặc làm việc tại bất kỳ một tổ chức nhận tiền
gửi nào hoặc bất kỳ một công ty cổ phần của các tổ chức nhận tiền gửi trong thời gian đang thực hiện nhiệm kỳ tại công ty hoặc hai năm sau khi thôi giữ chức danh trong Hội đồng quản trị Các khoản tiền gửi của tất cả các ngân hàng và các
hiệp hội tiết kiệm sẽ được hưởng lợi từ hoạt động bảo hiểm theo quy định của
luật bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở nộp đơn tham gia và được công ty kiểm tra, được Hội đồng quản trị thông qua Khi tham gia bảo hiểm tiền gửi, các tổ chức
nhận tiền gửi phải báo cáo với công ty bảo hiểm liên bang về tình trạng hoạt động theo mẫu và nêu những thông tin theo yêu cầu của Hội đồng quản trị của công ty, nếu nộp hoặc phát hành một báo cáo sai một cách không cố ý sẽ bị phạt
2000 USD cho mỗi ngày sai sót tiếp diễn, nếu cố ý sẽ bị phạt 20.000 USD cho
mỗi ngày sai sót tiếp diễn Đối với mỗi thông tin không được sửa thì công ty có
thể phạt các tổ chức tham gia bảo hiểm là không quá 1.000.000 USD hoặc 1% trên tổng tài sản của ngân hàng Việc chấm dứt bảo hiểm tiền gửi của các tổ chức
nhận tiền gửi có thể là chấm dứt tự nguyện hoặc chấm dứt bắt buộc trên cơ sở quyết định của Hội đồng quản trị công ty và đều phải tiến hành theo một trình tự
nhất định, phải thông báo công khai (30)
Trang 31Đối với Hàn Quốc, vấn đề bảo hiểm tiền gửi cũng được pháp điển hoá trong
Luật bảo vệ người gửi tiền Mục đích của Luật bảo vệ người gửi tiền Hàn Quốc được xác định rất cụ thể là nhằm bảo vệ người gửi tiền, duy trì tính ổn định của
hệ thống tài chính nhằm giúp đỡ tổ chức tài chính đối phó được với nguy cơ phá
sản, mất khả năng thanh toán hay các nguy cơ tổn thất tài chính khác mà tổ chức tài chính này không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền Việc bảo hiểm
tiền gửi theo quy định của Luật bảo vệ người gửi tiền Hàn Quốc được thực hiện thông qua công ty bảo hiểm tiền gửi, được quản trị bởi một Hội đồng quản trị
Những người lãnh đạo hay nhân viên công ty hoặc những người trước đây đã
từng nắm giữ chức vụ trong công ty bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc không được quyền tiết lộ bất cứ thông tin nào ra bên ngoài hay tiết lộ thông tin cho những
người không được phép biết hoặc không được chia sẻ những thông tin bí mật về công ty trong suốt quá trình làm việc hay trong khi thực hiện những nhiệm vụ được giao tại công ty bảo hiểm tiền gửi, nếu vi phạm có thể bị phạt tù hai năm
hoặc bị phạt 10 triệu WON Trong quá trình hoạt động, công ty bảo hiểm có quyền yêu cầu các tổ chức tài chính được bảo hiểm đệ trình các tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính hiện thời của các công ty này Trên cơ sở các tài liệu đó, công ty bảo hiểm tiền gửi có thể kiểm tra hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của các tổ chức tài chính được bảo hiểm Nếu
vi phạm có thể bị phạt tù không quá 1 năm hoặc phạt tiền không quá 5 triệu WON Các tổ chức tài chính được bảo hiểm phải trả phí hàng năm cho công ty
bảo hiểm tiền gửi với một tỷ lệ được quy định trong sắc lệnh của Tổng thống
nhưng không được vượt quá 0,5% hoặc 100 ngàn WON nếu phí được tính thấp
hơn 100 ngàn WON Trong trường hợp này, tỷ lệ được áp dụng đối với mỗi tổ
chức tài chính được bảo hiểm có thể quyết định trước, khác nhau giữa các tổ
chức trên cơ sở năng lực tài chính và quản lý của mỗi tổ chức tài chính được bảo
hiểm Nếu tổ chức tài chính không thực hiện nộp phí bảo hiểm theo đúng quy
Trang 32định thì tổ chức đó ngoài việc phải nộp phí bảo hiểm theo quy định còn phải trả
nợ quá hạn cho công ty bảo hiểm tiền gửi Khi có sự hiện bảo hiểm xảy ra thì số
tiền bảo hiểm tối đa được tính toán theo sắc lệnh của Tổng thống có dựa vào GDP trên đầu người và tổng lượng tiền được bảo hiểm (31)
Không phải là một ngoại lệ, sự hình thành pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở
Việt Nam như một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế Điều đó được bắt nguồn
từ sự đổ vỡ mang tính hệ thống của các quỹ tín dụng nhân dân vào những năm từ
1988 đến 1990 Với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người gửi
tiền, lấy lại niềm tin của công chúng đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng
và tạo ra sự an toàn của hệ thống tài chính quốc gia thì sự ra đời của bảo hiểm
tiền gửi là hoàn toàn cần thiết Tất nhiên rằng, đi kèm với nó là sự hình thành các quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong việc thành lập, tổ
chức quản lý, hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, chủ thể tham gia bảo
hiểm tiền gửi, phí bảo hiểm tiền gửi
Qua phân tích trên, có thể đi đến kết luận rằng, bảo hiểm tiền gửi là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với việc duy trì và phát triển bên vững của của hệ thống ngân hàng nói riêng và của hệ thống tài chính của một quốc gia nói chung Cho
dù mô hình và cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở các quốc gia khác nhau là không giống nhau nhưng xét ở một khía cạnh chung nhất thì bảo hiểm tiền gửi luôn được được pháp luật điều chỉnh một cách chặt chẽ ở một số lĩnh vực như cơ cấu và cơ
chế vận hành của tổ chức bảo hiểm tiền gửi; nghĩa vụ tham gia bảo hiểm tiền gửi
của các tổ chức tài chính nhận tiền gửi của công chúng; hạn mức chi trả bảo
hiểm tiền gửi cho người gửi tiền; thủ tục chi trả bảo hiểm tiền gửi; phí bảo hiểm
tiền gửi; thẩm quyền của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc kiểm tra- giám sát đối với hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm; vấn đề hỗ trợ tài chính cho các
tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi gặp khó khăn; vai trò của tổ chức bảo
Trang 33hiểm tiền gửi trong việc tham gia vào quá trình quản lý và thanh lý tài sản đối
với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi bị phá sản
TIỂU KẾT
Bảo hiểm tiền gửi được hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới, xuất phát từ đòi hỏi khách quan trong quá trình hoạt động thực tế của hệ thống ngân hàng và điều đó đã trở thành hoạt động không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung thì bảo hiểm tiền gửi đã hình thành và phát triển kể từ năm 1999 và đó được coi như một chỗ dựa vững chắc trong việc tạo niềm tin cho người gửi tiền-
một cơ sở quan trong để tạo ra sự phát triển an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng
Về bản chất, bảo hiểm tiền gửi là một loại hình dịch vụ mà tiện ích của nó
có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hầu hết mọi tầng lớp dân cư trong
xã hội Sự xuất hiện của bảo hiểm tiền gửi sẽ có ý nghĩa rất lớn và nhằm thực
hiện nhiều mục đích khác nhau trong việc phát triển nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, mục đích cao nhất của hoạt động bảo hiểm tiền gửi là góp phần bảo đảm
sự an toàn và phát triển bền vững của các ngân hàng và hệ thống tài chính quốc gia thông qua việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền Hoạt động bảo hiểm tiền gửi sẽ được thực hiện bởi một tổ chức và tất cả các hoạt động
có liên quan đến vấn đề này sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật thông qua hệ
thống các văn bản pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Trang 34C HƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
2.1 Quá trình hình thành và phát tri ển của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm
ti ền gửi
Ở Việt Nam, vào những năm cuối của thập niên 80 thế kỷ 20, hàng loạt hợp tác xã tín dụng nông thôn và quỹ tín dụng bị đổ vỡ dây chuyền đã có tác động
xấu đến nền kinh tế, lạm phát tăng nhanh và điều đáng lo ngại hơn đó là lòng tin
của dân chúng đối với hệ thống ngân hàng bị giảm sút nghiêm trọng Xuất phát
từ thực tế đó mà một trong những nhiệm vụ đặc biệt trong thời kỳ này của Nhà
nước nói chung và ngành ngân hàng nói riêng là phải tìm cách khắc phục hậu
quả, kiềm chế lạm phát, lấy lại niềm tin của nhân dân đối với hệ thống ngân hàng
Việt Nam Nhận thức được tính cấp bách và tầm quan của nhiệm vụ đặt ra đó, ngày 23 tháng 05 năm 1990, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính Có thể khẳng định rằng, sự ra đời
của văn bản này đã tạo ra một hành lang pháp lý thuận lợi cho việc thành lập, tổ
chức hoạt động và phát triển của hệ thống ngân hàng nói chung và tổ chức tín
dụng nói riêng ở Việt Nam Trên cơ sở hành lang pháp lý này, Thủ tướng Chính
phủ đã cho triển khai thí điểm mô hình tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Cơ sở pháp lý của việc triển khai thí điểm này đó là Quyết định số 390/1993/QĐ- TTg ngày 27 tháng 07 năm 1993 Theo quyết định trên thì quỹ tín
dụng nhân dân được thừa nhận là một tổ chức thuộc sở hữu tập thể, tồn tại dưới hình thức hợp tác xã Điều đáng chú ý là, đối với loại hình quỹ tín dụng nhân dân này thì bên cạnh việc áp dụng các biện pháp nhằm tạo ra sự an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng thì bảo đảm an toàn cho khoản tiền của khách hàng gửi tại các quỹ tín dụng đã được tính đến như là một yếu tố không thể thiếu Điều đó được biểu hiện bởi quyết định số 101/1994/TCQĐ- BH ngày 01
Trang 35tháng 02 năm 1994 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban hành quy tắc bảo
hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền gửi có kỳ
hạn Có thể nói, việc ban hành quyết định này là một động thái quan trọng tỏ rõ ý
muốn của Nhà nước trong việc thiết lập sự an toàn trong hoạt động của các quỹ tín dụng, đồng thời bảo vệ khoản tiền gửi có kỳ hạn của dân chúng tại các quỹ tín dụng nhân dân, từ đó có thể phục hồi kinh tế đất nước đồng thời lấy lại niềm tin của nhân dân đối với hệ thống ngân hàng Cũng theo quyết định này thì việc
bảo vệ khoản tiền gửi có kỳ hạn của dân chúng tại các quỹ tín dụng được giao cho Bảo Việt đảm nhiệm thực hiện Đây chính là văn bản pháp luật đầu tiên của
Việt Nam điều chỉnh việc bảo hiểm tiền gửi và cũng là văn bản đánh dấu sự khởi đầu cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Như đã đề cập, theo quyết định 101/TCQĐ- BH thì việc bảo hiểm tiền gửi
do Bảo Việt thực hiện và bảo hiểm tiền gửi trong giai đoạn này chỉ là một hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Bảo Việt- một doanh nghiệp chuyên kinh doanh các loại bảo hiểm mang tính thương mại Như vậy, hoạt động bảo hiểm tiền gửi
của Bảo Việt trong giai đoạn này là nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích duy nhất của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là được Bảo Việt chi trả tiền cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia bảo hiểm đó mất khả năng thanh toán
Bản chất của hoạt động này là các tổ chức tham gia bảo hiểm đóng một khoản
tiền nào đó cho Bảo Việt để rồi khi xảy ra tình trạng mất khả năng chi trả thì sẽ được Bảo Việt đứng ra thanh toán thay Có thể nhận thấy rất rõ, trong trường
hợp này, khi tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia được hưởng một lợi ích duy nhất đó là được trả nợ thay cho người gửi tiền khi mà tổ chức tham gia
bảo hiểm mất khả năng thanh toán Cũng theo các quy định trong quyết định này thì việc tham gia bảo hiểm tiền gửi của các quỹ tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, đối tượng tham gia hẹp (chỉ là quỹ tín dụng nhân dân); việc bảo hiểm tiền gửi chỉ được áp dụng đối với những khoản tiền gửi bằng đồng Việt Nam, có kỳ hạn xác
Trang 36định Như vậy, có thể nhận thấy pháp luật về bảo hiểm tiền gửi đã có một số hạn
chế, chưa đáp ứng được kỳ vọng trong việc tạo ra sự bình ổn của các tổ chức
hoạt động kinh doanh tiền tệ và tạo ra sự an toàn đối với dân chúng khi đưa tiền
của mình gửi vào các quỹ tín dụng và như vậy, có thể nói hoạt động bảo hiểm
tiền gửi ở Việt Nam trong giai đoạn này chưa thành công
Song song với quá trình đổi mới, cùng với sự phát triển chung của xã hội,
của xu thế hội nhập quốc tế thì hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên đa dạng
hơn, phức tạp hơn và tất nhiên, yếu tố rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh này càng
dễ nhận thấy khi trong nền kinh tế có sự tăng đột biến về số lượng chủ thể tham gia và số lượng dịch vụ cung cấp Từ đó, việc phòng ngừa, quản trị và xử lý rủi
ro trong hoạt động ngân hàng càng phải được chú trọng và bảo hiểm tiền gửi được xem như một trong những cơ chế phòng ngừa rủi ro không thể thiếu Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 thay
thế cho Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 23 tháng 05 năm 1990 trong đó xác định rõ “ tổ chức tín dụng có trách nhiệm tham
gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi” (trích Điều 17 khoản 1- Luật các
tổ chức tín dụng) để bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền Đây là cơ sở pháp lý quan trọng thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng có nhận
tiền gửi của dân chúng nhằm xác định trách nhiệm của các tổ chức này trong
việc bảo vệ sự an toàn cho tiền gửi của người gửi Mặc dù quy định trên là căn
cứ pháp lý quan trọng để thiết lập hoạt động bảo hiểm tiền gửi theo đúng nghĩa ở
Việt Nam nhưng mô hình tổ chức, cách thức tiến hành của hoạt động bảo hiểm
tiền gửi như thế nào cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế là chưa có Vì
vậy, cần phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng trên cơ sở tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện việc bảo hiểm tiền gửi của Bảo Việt, trên cơ sở học tập và rút kinh nghiệm từ hoạt động bảo hiểm tiền gửi của một số nước Sau thời gian nghiên cứu, thử nghiệm, hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam đã chính thức
Trang 37được thừa nhận theo Nghị định số 89/1999/NĐ- CP ngày 01 tháng 09 năm 1999
và ngày 09 tháng 11 năm 1999 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 218/1999/QĐ-TTg về việc thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Sau
đó, để tổ chức thực hiện tốt các văn bản trên, một loạt các văn bản hướng dẫn thi hành ra đời tạo thành hành lang pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam đó là: Thông tư số 03/2000/TT- NHNN ngày 16 tháng
03 năm 2000 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thi hành Nghị định
số 89/1999/NĐ- CP ngày 01 tháng 09 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi; Quyết định số 75/2000/QĐ- TTg ngày 28 tháng 06 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam; Thông tư số 12/TT-NHNN ngày 23 tháng 12 năm 2003 về việc sửa đổi, bổ sung
một số nội dung trong Thông tư số 03/2000/TT- NHNN ngày 16 tháng 03 năm
2000 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 89/1999/NĐ- CP ngày 01 tháng 09 năm
1999 về bảo hiểm tiền gửi Sau một thời gian áp dụng, Nghị định số 89/1999/NĐ- CP đã bộc lộ một số điểm không còn phù hợp với yêu cầu của sự phát triển, ngày 24 tháng 08 năm 2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ- CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ- CP ngày 01 tháng 09 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi Để hướng
dẫn cho Nghị định 109/2005/NĐ- CP, ngày 25 tháng 04 năm 2006 Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 03/2006/TT- NHNN thay thế cho Thông tư
số 03/2000/TT- NHNN Mặc dù pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam còn khá mới mẻ, vừa ban hành, vừa áp dụng, vừa học hỏi nhưng trong quá trình
áp dụng, chúng ta đã phát hiện những hạn chế và đã sửa đổi, bổ sung một cách
kịp thời Tuy nhiên, tất cả các văn bản pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi còn tồn tại dưới dạng văn bản dưới luật, chưa phản ánh đúng vị thế và tầm quan
trọng của bảo hiểm tiền gửi trong xã hội
Trang 38Như vậy, các văn bản pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã định rõ được một số vấn đề về bảo hiểm tiền gửi như: bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là loại
bảo hiểm bắt buộc, được áp dụng đối với các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng có nhận tiền gửi của các cá nhân bằng đồng Việt Nam; tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hoạt động không vì mục đích thương
mại; xác định cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam; quyền và nghĩa
vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam; mức phí bảo hiểm tiền gửi mà các tổ chức tham gia phải đóng góp; hạn mức bảo hiểm tiền gửi; trình tự và thủ tục chi trả
tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm tiền gửi
2.2 Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi 2.2.1 Các quy định về chủ thể trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi
2.2.1.1 T ổ chức bảo hiểm
a V ị trí pháp lý của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam chính thức được thừa nhận thông qua việc Chính phủ ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ- CP ngày 01 tháng 09
năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi (sau đây gọi tắt là Nghị định số 89/1999/NĐ- CP) Trên cơ sở đó, ngày 09 tháng 11 năm 1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (sau đây gọi tắt là Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg) Theo đó, Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Deposit Insurance of Vietnam- viết
tắt là DIV, là tổ chức tài chính Nhà nước, có tư cách pháp nhân với mức vốn điều lệ được Nhà nước cấp là 1.000 tỷ VNĐ và nguồn vốn này có thể được bổ sung từ nguồn thu phí bảo hiểm tiền gửi hàng năm Với quy định này, Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam là một tổ chức tài chính độc lập do Nhà nước thành lập và trong quá trình hoạt động của mình, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phải bảo đảm
an toàn vốn và tự bù đắp chi phí Để tạo sự chủ động và độc lập trong quá trình
Trang 39hoạt động, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được quyền mở tài khoản tại các ngân hàng trong và ngoài nước, có quyền thành lập các chi nhánh hoặc văn phòng đại
diện khi thấy cần thiết
Cũng theo quy định của các văn bản này, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thành lập và hoạt động không nhằm mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận mà
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và sự phát triển an toàn của hoạt động ngân hàng Vì lẽ đó, trong quá trình hoạt động của mình, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được miễn nộp tất cả các loại thuế theo quy định của pháp luật (Điều 1, Điều 2, Điều 3 và Điều 4- Quyết định 218/1999/QĐ- TTg)
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là một tổ chức tài chính Nhà nước Vì vậy, trong quá trình tồn tại và hoạt động của mình, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam luôn
chịu sự quản lý, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước nói chung
và các cơ quan quản lý Nhà nước về tài chính- ngân hàng nói riêng Đặc biệt là đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tại Điều 7- Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg thì Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ
uỷ quyền cho việc giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị của Bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam và có quyền:
+ Tham gia họp Hội đồng quản trị khi cần thiết;
+ Nhận các báo cáo định kỳ và đột xuất bao gồm báo cáo kiểm soát của Ban
kiểm soát, Nghị quyết của Hội đồng quản trị, trong trường hợp phát hiện những sai phạm trong các báo cáo, không đồng ý với nội dung của Nghị quyết của Hội đồng quản trị thì trực tiếp làm việc với Hội đồng quản trị xem xét để thống nhất
xử lý hoặc điều chỉnh lại nội dung của Nghị quyết, trường hợp các sai phạm trong hoạt động và nội dung của Nghị quyết của Hội đồng quản trị trái với Nghị
Trang 40định của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi và các văn bản pháp luật khác thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định
Ngoài ra, mối quan hệ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn được thể hiện trong bản Điều lệ hoạt động của Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kèm theo Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg ngày 28 tháng 06 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Điều lệ hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Theo đó,
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong các lĩnh vực chấp hành các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và
thực hiện các nội dung liên quan khác do Thống đốc quy định; chấp hành chế độ báo cáo về những vấn đề liên quan trong hoạt động, phối hợp kiểm tra giám sát các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi (Điều 26- Điều lệ tổ chức và hoạt động
của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam)
Đối với Bộ Tài chính, trong quyết định số 218/1999/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không có quy định nào đề cập đến vai trò của Bộ tài chính trong mối quan hệ với Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam Tuy nhiên, theo bản Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam chịu sự quản lý của Bộ tài chính về việc tuân thủ các chế độ tài chính, kế toán, tổ chức bộ máy hạch toán, kế toán trong quá trình hoạt động Bên cạnh đó, Bộ tài chính còn được Chính phủ giao cho quản lý Bảo hiểm tiền
gửi trong việc thực hiện một số lĩnh vực như xác định vốn và các nguồn lực khác
mà Nhà nước giao cho Bảo hiểm tiền gửi quản lý- sử dụng; thanh tra, kiểm tra
nội dung báo cáo kết quả hoạt động tài chính và quyết toán hàng năm (Điều 25- Điều lệ tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam)