CHƯƠNG 1 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Chuyên ngành Kinh tế TNTN và MT Học viên Nguyễn Trọng Khương Lớp CH 17KT 1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1 1 Khái niệm về vốn trong do[.]
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để tiến hành một quá trình sản xuất kinh doanh đều cần phải có vốn, vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì khi tiến hành hoạt động sản xuất thì các doanh nghiệp cần có một số tiền nhất định để chuẩn bị các yếu tố cơ bản cho quá trình kinh doanh như: sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động Dưới sự kết hợp của các yếu tố này mà các loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã được tạo
ra Khi hàng hóa, dịch vụ được xác định là tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ có doanh thu tiêu thụ Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm ngoài bù đắp chi phí đã bỏ ra còn phải có lãi Như vậy số tiền ứng ra ban đầu không chỉ được bảo tồn mà còn phải được tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và ứng ra cho các quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo được gọi là vốn Vốn là một phạm trù kinh tế, nó tồn tại dưới cả hình thái vật chất cụ thể và không có hình thái vật chất cụ thể Tuy nhiên đứng trên góc độ xã hội thì hiện nay quan niệm về vốn vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất, ví dụ như:
- Theo từ điển Tiếng Việt thì vốn là tài sản bỏ ra lúc đầu thường biểu hiện bằng tiền dùng cho sản xuất kinh doanh, trong các hoạt động sinh hoạt
- Trong dân gian lâu nay vẫn tồn tại quan niệm: “có vốn có lợi” – nghĩa
là vốn phải sinh ra lãi, tuy nhiên do hạn chế về trình độ phảt triển của nền kinh tế xã hội nên quan niệm về vốn vẫn còn hạn hẹp, trong quan niệm về vốn
và lãi ở trên thì hình thái biểu hiện của vốn và lãi chỉ dừng lại ở hình thái tiền
Trang 2(tiền vốn là tiền lãi) mà chưa biết đến các hình thái biểu hiện khác của vốn như nguồn tài nguyên, nguồn sức lao động hay các biểu hiện hình thái tài chính khác Còn phổ biến quan niệm vốn – hòa hoặc là vốn – lỗ tức là vốn bỏ
ra có thể không sinh lãi mà chỉ dừng lại ở điểm hòa vốn, có trường hợp lỗ vốn, điều này chứng tỏ là chưa thực sự quán triệt tư tưởng bỏ vốn là phải có lãi còn không sinh ra lãi thì không phải là vốn
Cả hai quan niệm trên thì chỉ dừng lại ở việc coi vốn chính là tiền bỏ ra ban đầu, tuy nhiên tiền chỉ được coi là vốn kinh doanh khi nó được đảm bảo điều kiện sau: thứ nhất tiền phải đại diện cho một lực lượng hàng hóa nhất định (phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực); thứ hai tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ sức để đầu tư cho một
dự án kinh doanh; thứ ba khi đã đủ về số lượng tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lợi
- Trong các tài liệu kinh tế học của phương Tây thì quan niệm về vốn chính là quan niệm về Tư Bản – Tư Bản tức là phải sinh lợi nhuận Lúc này chúng ta phải trừu tượng hóa mối quan hệ của Tư Bản – quan hệ bóc lột, chúng
ta chỉ nhìn tư bản trên phương diện là Tư Bản sinh ra giá trị thặng dự
Như vậy, từ các phân tích trên có thể kết luận: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản
vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn của doanh nghiệp luôn vận động và không ngừng thay đổi hình thái, tạo thành quá trình luân chuyển vốn; Quá trình luân chuyển vốn trải qua các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn dự trữ sản xuất: Trong giai đoạn này doanh nghiệp ứng ra vốn tiền tệ để mua sắm các yếu tố sản xuất như tài sản cố định, nguyên nhiên vật liệu, công cụ dụng cụ và các yếu tố khác
Trang 3+ Giai đoạn sản xuất : Trong giai đoạn này các yếu tố sản xuất được kết hợp với nhau tạo ra sản phẩm mới Trong quá trình sản xuất vốn tồn tại dưới hình thái như chi phí chờ phân bổ, sản phẩm đang chế tạo
+ Giai đoạn lưu thông : Trong giai đoạn này, doanh nghiệp bán sản phẩm và
thu tiền về Vốn từ hình thái hàng hóa chuyển lại hình thái tiền tệ ban đầu (H’ – T’)
và kết thúc quá trình luân chuyển vốn và quá trình luân chuyển vốn tiếp theo lại bắt đầu
Như vậy có thể nhận thấy vốn được đề cập đền trên nhiều phương diện khác nhau như: vốn phản ánh các quan hệ kinh tế trong xã hội, vốn là một phạm trù hạch toán thể hiện các quan hệ so sánh, vốn là một phạm trù của cơ chế và có nhiều hình thái biểu hiện khác nhau trong quá trình vận động Và quá trình vận động thì vốn được đảm bảo rằng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn vốn là giá trị, là tiền, tuy nhiên đồng tiền ở điểm cuối cùng phải có giá trị lớn hơn đồng tiền ở điểm xuất phát, đây là nguyên lý của vấn đề đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn kinh doanh
1.1.2 Phân loại vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Để tiến hành quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả cần tiến hành phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau, tùy theo mục tiêu quản lý vốn Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà quy mô vốn kinh doanh, cơ cấu, thành phần của chúng cũng khác nhau Có rất nhiều tiêu thức để phân loại vốn trong doanh nghiệp, thông thường có các cách phân loại sau:
1.1.2.1 Căn cứ vào nguồn hình thành vốn kinh doanh
Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn kinh doanh bao gồm các loại sau: + Vốn chủ sở hữu : là vốn mà chủ sở hữu doanh nghiệp phải ứng ra để mua sắm, xây dựng các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh Khi doanh nghiệp thành lập thì vốn chủ sở hữu hình thành vốn điều lệ của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp đi vào hoạt động thì ngoài vốn điều lệ còn có
Trang 4một lượng vốn khác cũng thuộc vốn chủ sở hữu như: lợi nhuận không chia, quỹ đầu tư phát triển và vốn do nhà nước đầu tư (nếu có)
+ Vốn vay : là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân kinh tế như bao gồm các khoản vay ngắn hạn, dài hạn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng; các khoản phải trả khách hàng; các khoản phải nộp ngân sách, các khoản phải trả công nhân viên và các khoản phải trả khác
Việc phân chia vốn theo tiêu thức này giúp cho doanh nghiệp thấy được
cơ cấu nguồn tài trợ từ góc độ sở hữu của vốn kinh doanh Vốn chủ sở hữu giúp cho doanh nghiệp tăng khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp mình, còn các khoản vốn vay một mặt nó có thể đáp ứng các nhu cầu về vốn trong ngắn hạn hoặc trong dài hạn, có thể huy động được một lượng vốn lớn, tức thời cho doanh nhưng một mặt nó lại có ảnh hưởng ngược lại đến khả năng tự chủ của doanh nghiệp, không những thế nó còn tăng thêm gánh nặng cho doanh nghiệp vì phải trả lãi vay, nhất là trong điều kiện kinh doanh khó khăn
Vì vậy doanh nghiệp cần phải xem xét nguồn tài trợ tối ưu để tăng hiệu quả
sử dụng vốn của mình
1.1.2.2 Căn cứ theo vai trò đặc điểm luân chuyển của vốn
Căn cứ theo tính chất luân chuyển, vốn trong doanh nghiệp được phân thành 2 loại:
+ Vốn cố định của doanh nghiệp : Vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp
Tài sản cố định của doanh nghiệp là các tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, còn giá trị của nó được chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất
ra Tài sản cố định được chia thành hai loại là tài sản cố định hữu hình (nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải , trực tiếp phục vụ cho quá
Trang 5trình sản xuất kinh doanh) và tài sản cố định vô hình (bằng sáng chế, phát minh, bản quyền )
Như vậy có thể nói vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước của tài sản
cố định, do vậy quy mô của vốn cố định lớn hay nhỏ sẽ quyết định tới quy mô của tài sản cố định cũng như trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất của doanh nghiệp và ngược lại đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản
cố định trong quá trình tham gia hoạt động kinh doanh lại có ảnh hưởng chi phối đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định Do vậy số vốn này cần phải được quản lý và thu hồi một cách đầy đủ thông qua việc xác định giá trị hao mòn hay khấu hao tài sản cố định Có như vậy doanh nghiệp mới có thể đầu tư đổi mới máy móc thiết bị để phục vụ cho các quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
+ Vốn lưu động của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên liên tục
Tài sản lưu động của doanh nghiệp là những đối tượng lao động được
sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Tài sản lưu động của doanh nghiệp được chia thành hai loại là tài sản lưu động sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, sản phẩm dang dở ) và tài sản lưu động lưu thông (sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, chi phí trả trước…) trong quá trình sản xuất kinh doanh thì các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động thay thế và chuyển hóa lẫn nhau phải đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục có thể mô tả một cách khái quát quá trình sản xuất kinh doanh như sau:
TSLĐ LT – TSLĐ SX – TSLĐ LT – TSLĐ SX
T – H SX H’ – T’ – H”
Trang 6Vì vốn lưu động hình thành nên tài sản lưu động nên bản thân vốn lưu động mang một số đặc điểm cơ bản như: vốn lưu động luôn chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau bắt đầu tư tiền tệ chuyển sang hình thái vật tư, hàng hóa đưa vào sản xuất lưu thông và cuối cùng trở về hình thái tiền tệ ban đầu, vốn lưu động chuyển dịch toàn bộ giá trị một lần vào giá trị sản phẩm sản xuất Quá trình vận động của vốn lưu động diễn ra thường xuyên liên tục và
có chu kỳ Từ những đặc điểm đó của vốn lưu động thì đòi hỏi công tác quản
lý vốn phải được quản tâm từ việc dự đoán nhu cầu, huy động và sử dụng vốn phải phù hợp, sát thực với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời phải áp dụng các biện pháp thích ứng nhằm tổ chức quản lý và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh
Việc phân chia vốn thành vốn cố định và vốn lưu động có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quản lý và sử dụng vốn đối với mỗi loại, hơn nữa cách phân chia này cho phép nghiên cứu vai trò của mỗi loại vốn Nếu như vốn cố định phản ánh trình độ năng lực sản xuất của doanh nghiệp thì vốn lưu động
là điều kiện để đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục và ổn định Do đó doanh nghiệp cần phải xác định cơ cấu và quy mô của mỗi loại một cách chính xác và khoa học dựa trên những định mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến mới có thể chủ động bảo toàn và phát triển vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh
1.1.2.3 Căn cứ vào phạm vi huy động vốn
+ Vốn bên trong doanh nghiệp
+ Vốn bên ngoài doanh nghiệp
Với cách phân loại này doanh nghiệp phải lựa chọn sao cho hiệu quả kinh tế là lớn nhất, chi phí sử dụng vốn là thấp nhất Việc huy động vốn bên trong có ưu điểm là giúp doanh nghiệp tự chủ về sử dụng vốn, không phải bỏ chi phí cho việc sử dụng vốn, mặt khác nó làm gia tăng mức độ độc lập về tài
Trang 7chính cho doanh nghiệp Còn huy động vốn từ bên ngoài tạo cho doanh nghiệp một cơ cấu tài chính linh hoạt hơn, mặt khác có thể làm tăng doanh lợi vốn chủ sở hữu rất nhanh nếu mức doanh lợi đạt được cao hơn chi phí sử dụng vốn và ngược lại Đây là một đặc điểm tiêu biểu khi huy động vốn từ bên ngoài, nếu nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp được huy động một cách hợp lý thì sẽ tạo ra đòn bẩy tài chính thúc đẩy doanh nghiệp phát triển rất cao
1.1.2.4 Căn cứ vào thời gian huy động vốn
+ Vốn thường xuyên : có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dài hạn vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Nguồn vốn thường xuyên = vốn chủ sở hữu + nợ dài hạn
= giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp – nợ ngắn hạn
+ Vốn tạm thời : có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh nghiệp
có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu tạm thời về vốn phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh
Nguồn vốn tạm thời = tổng tài sản lưu động – nguồn vốn lưu động thường xuyên
Việc phân loại này giúp cho nhà quản lý xem xét huy động vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời cho sản xuất kinh doanh mà lại tiết kiệm tối đa chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp
và có cơ sở để lập kế hoạch tài chính trong những khoảng thời gian tiếp theo
1.2 Đặc trưng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Các yếu tố tác động khách quan của nền kinh tế tác động lên mỗi doanh nghiệp là như nhau song ảnh hưởng của các tác động này đối với mỗi doanh nghiệp là khác nhau do mỗi loại hình doanh nghiệp nói chung và mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế nói riêng có những đặc thù riêng, có những yếu tố của nền kinh tế có sức ảnh hưởng nhiều đối với loại hình kinh tế này đối với doanh nghiệp này nhưng lại ít ảnh hưởng tới loại hình kinh tế khác, doanh
Trang 8nghiệp khác Tính đặc thù của mỗi doanh nghiệp dẫn tới vốn kinh doanh của mỗi doanh nghiệp ngoài những đặc trưng chung của vốn kinh doanh trong nền kinh tế còn mang những đặc trưng riêng vốn có của từng doanh nghiệp Nhìn chung vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp trong nền kinh tế có một số đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất : Vốn phải được thể hiện bằng một lượng tài sản có giá trị
thực được sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra một lượng giá trị sản phẩm khác Điều này có nghĩa là không phải tất cả các tài sản đều là vốn mà chỉ có các tài sản hoạt động mới được gọi là vốn, còn những tài sản tĩnh thì gọi là vốn tiềm năng Vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và tài sản cố định vô hình như nhà xưởng, thiết bị, đất đai, chất xám Nếu một lượng tiền thoát ly khỏi giá trị thực của hàng hóa thì không gọi là vồn đầu tư Nhận thức được điều này thì các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để huy động được nhiều tài sàn vào quá trình sản xuất kinh doanh, biến vốn tiềm năng thành vốn hoạt động
Thứ hai : Vốn phải được vận động sinh lời tạo ra một lượng giá trị mới
lớn hơn giá trị ban đầu Vốn là biểu hiệu của tiền, nhưng tiền chỉ là một dạng tiềm năng của vốn, để biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được vận động sinh lời; Trong một vòng tuần hoàn của vốn thì phải theo công thức sau:
T - - T’ với điều kiện T’>T Vốn của một doanh nghiệp bỏ
ra để đầu tư một dự án Thủy điện thì cũng phải tuân theo quy luật của vòng tuần hoàn trên Việc đẩy nhanh chu kỳ tuần hoàn của vốn đối với loại hình doanh nghiệp này sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng thêm lợi nhuận
Thứ ba : Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới
có thể đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Một lượng vốn chưa đủ lớn để trang trải những chi phí đầu tư ban đầu thì không thể tiến hành sản xuất kinh doanh được Do đó, các doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm
Trang 9năng về vốn của doanh nghiệp mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn như góp vốn, hùn vốn, phát hành cổ phiếu, nhận vốn liên doanh
Thứ tư : Vốn luôn có giá trị về mặt thời gian Điều này có nghĩa là phải
xem xét yếu tố thời gian của đồng vốn Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đặc trưng này không được xem xét kỹ lưỡng vì nhà nước tạo ra sự ổn định của đồng tiền một cách giả tạo trong nền kinh tế lúc đó Nhưng trong nền kinh tế thị trường phải xem xét giá trị của thời gian bởi sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau là khác nhau do ảnh hưởng của giá cả lạm phát Nhận thức được đặc trưng này của vốn để tránh được việc so sánh đơn thuần là thu nhập
bù đắp chi phí có lãi, một việc làm khá phổ biến diễn ra lâu nay tạo ra hiện tượng “lãi giả, lỗ thật” trong các doanh nghiệp nhà nước trước cổ phần hóa Đặc trưng này phục vụ cho việc tính toán các phương pháp bảo toàn vốn là phải đưa vốn về cùng một thời điểm để so sánh Như vậy, trong những doanh nghiệp có vốn đầu tư khi bỏ đồng vốn ra đầu tư thì cần phải xem xét lợi ích tại thời điểm bỏ ra và thu về được bao nhiêu Bởi nền kinh tế xã hội luôn biến động ở các thời điểm khác nhau đồng tiền có thể trượt giá khác nhau nên cần phải tính toán vấn đề lỗ, lãi trong khi đầu tư
Thứ năm : Vốn được quan niệm như một thứ hàng hóa đặc biệt và cũng
như mọi thứ hàng hóa khác nó có giá trị và giá trị sử dụng Giá trị của “hàng hóa vốn” là ở chỗ khi sử dụng hàng hóa đó sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn Như mọi hàng hóa khác, “hàng hóa vốn” được mua bán trên thị trường dưới hình thức mua bán quyền sử dụng vốn Giá mua chính là lãi suất mà người vay vốn phải trả cho người cho vay vốn (chủ sở hữu) để có được quyền sử dụng lượng vốn đó Giá cả này tăng, giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là quan hệ cung cầu trên thị trường Người vay vốn có quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Việc mua bán được diễn ra trên thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, giá mua bán vốn cũng tuân theo quy luật cung cầu trên thị trường vốn
Trang 10Thứ sáu : Vốn bao giờ cũng gắn với một chủ sở hữu nhất định, rõ ràng
là không thể có những đồng vốn vô chủ Chỉ khi nào xác định rõ đích thực chủ
sở hữu thì đồng vốn mới nhận thức được đầy đủ, chi tiêu mới tiết kiệm và có hiệu quả Nhưng cũng có thể người sử dụng vốn để thực hiện kinh doanh không phải là người chủ sở hữu đồng vốn đó, nhưng nó vẫn có chủ sở hữu nhất định, người chủ sở hữu này được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sở hữu của mình Đặc trưng này có ý nghĩa lớn đối với các doanh nghiệp, các doanh nghiệp bỏ vốn ra đầu tư, như vậy họ đã trở thành chủ sở hữu của đồng vốn và họ cần phải biết việc vốn của mình bỏ ra có thu được hiệu quả cao hay không
Thứ bảy : Trong quá trình sản xuất kinh doanh cùng một lúc vốn tồn
tại dưới nhiều hình thức khác nhau Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền giá trị của các tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện bằng tiền giá trị của các tài sản
vô hình như vị trí địa lý, lợi thế thương mại, nhãn mác sản phẩm, bằng phát minh sáng chế Chính vì lẽ đó cần phân biệt vốn và tài sản của các doanh nghiệp để từ đó có sự quản lý cho sát sao Vốn là một lượng tiền tệ mà các chủ doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, còn tài sản là biểu hiện hình thái vật chất của vốn như TSCĐ hữu hình, TSCĐ
vô hình, hàng hóa, vật tư, nợ phải thu, các khoản đầu tư khác của doanh nghiệp Đặc trưng này có ý nghĩa quan trọng vì nó cho thấy công dụng đa dạng của các loại vốn mà doanh nghiệp đầu tư, buộc các nhà quản lý phải xem xét đến quá trình sử dụng vốn như thế nào sao cho hiệu quả
Với những đặc điểm như trên, vốn kinh doanh còn thể hiện vai trò của mình đó là:
+ Vốn đảm bảo sự hoạt động của doanh nghiệp được thường xuyên, liên tục Trong doanh nghiệp, vốn là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Không có vốn không thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác, sự thiếu hụt vốn cho sản xuất kinh doanh sẽ
Trang 11làm cho quá trình sản xuất bị đình trệ, gián đoạn do thiếu tài sản bổ sung cho quá trình hoạt động Do đó vốn kinh doanh là yếu tố không thể thiếu cho hoạt động của doanh nghiệp
+ Vốn có vai trò quan trọng trong định hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp sản xuất theo nhu cầu của thị trường, do vậy doanh nghiệp sản xuất cái gì? Đầu tư vào lĩnh vực nào, đều phải tính đến quy mô vốn và hiệu quả do đồng vốn mang lại
+ Vai trò của vốn đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để đi đến kết quả cuối cùng là lợi nhuận, vốn kinh doanh luôn là “tấm gương” phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Đạt được lợi nhuận cao nhưng vốn kinh doanh
bị sử dụng lãng phí thì cũng không thể coi doanh nghiệp đó làm ăn có hiệu quả Vốn kinh doanh nằm ở mọi khâu của quá trình sản xuất, ở nhiều hình thái biểu hiện Do đó nó phản ánh thực chất nhất việc quản lý và sử dụng vốn trong từng khâu, từng công đoạn sản xuất Điều cốt lõi nhất là doanh nghiệp nên sử dụng tiết kiệm tối đa đồng vốn nhưng vẫn mang lại mức lợi nhuận cao nhất
1.3 Hiệu quả vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
1.3.1 Hiệu quả vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Hiệu quả là một khái niệm được đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau
Để thấy được bản chất và tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp cần quan tâm những vấn đề sau:
+ Hiệu quả sử dụng vốn phải thể hiện hai mặt : bảo toàn được vốn và tạo
ra các kết quả theo mục tiêu kinh doanh trong đó đặc biệt là mục tiêu sinh lời của đồng vốn
+ Kết quả lợi ích cho sử dụng vốn phải thỏa mãn đáp ứng lợi ích của doanh nghiệp, các nhà đầu tư ở mức độ mong muốn cao nhất, đồng thời nâng cao lợi ích kinh tế xã hội
Trang 12+ Cần xem xét cả hai mặt : tối thiểu hóa lượng vốn sử dụng và thời gian
sử dụng của doanh nghiệp
Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta có các cách hiểu khác nhau về hiệu quả sử dụng vốn
Xét trên quan điểm hạch toán kế toán thì hiệu quả sử dụng vốn là một
bộ phận của hiệu quả kinh doanh, nó góp phần tạo nên hiệu quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp bởi vốn chỉ là một yếu tố của hoạt động kinh doanh Về mặt lượng thì hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện sản xuất kinh doanh Về mặt chất, hiệu quả kinh doanh phản ánh năng lực, trình độ quản lý đồng thời cũng đòi hỏi việc gắn giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội
Như vậy có thể hiểu, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế được xác định trên cơ sở so sánh giữa đầu ra và đầu vào thông qua các chỉ tiêu lợi ích, chi phí Vậy phải chăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Hiệu quả sử dụng vốn là một khái niệm rất rông bao gồm cả hiệu quả kinh doanh cả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội là thước đo mức độ tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp Hiệu quả
sử dụng vốn phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế chính trị xác hội nhất định Hiệu quả sử dụng vốn thường được biểu hiện thông qua quan hệ so sánh giữa các lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp thu được với các chi phí trực tiếp và gián tiếp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh Nếu coi hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu thì hiệu quả sử dụng vốn là phương tiện hữu hiệu để đạt được mục tiêu đó Nói đến sử dụng vốn có hiệu quả nghĩa là trong quá trình hoạt động kinh doanh phải thu được lợi ích cao nhất tương ứng với phần chi phí bỏ ra là thấp nhất Như vậy hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả sản xuất kinh doanh là hai
Trang 13phạm trù biện chúng cho nhau Sản xuất kinh doanh chỉ đạt được mục tiêu cao khi hiệu quả sử dụng vốn cao
Tóm lại : Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh một mặt của sản xuất kinh
doanh, là thước đo trình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp trong việc tối đa hóa lợi ích thu được và tối thiểu hóa chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội nhất định
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn là biểu hiện một mặt của hiệu quả kinh doanh, nó phản ánh trình độ quản lý và sử dụng vốn của các doanh nghiệp nói chung và của doanh nghiệp đầu tư vào các dự án Thủy điện nói riêng Tuy nhiên đối với chủ doanh nghiệp và đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp và dự án thì làm thế nào để xác định được rằng số vốn mà doanh nghiệp đã và đang sử dụng thực sự có hiệu quả hay không?
Trên cơ sở khoa học và thực tế đã chỉ ra rằng có rất nhiều tiêu thức xác định mức độ hiệu quả của số vốn đang được sử dụng tùy theo mục tiêu giá trị
và mức độ kinh doanh của doanh nghiệp Sau đây đưa ra một vài chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp như sau:
+ Chỉ tiêu vòng quay toàn bộ vốn được xác định theo công thức sau:
Chỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được nhiêu vòng; Vòng quay càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng càng cao
+ Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh được xác định theo công thức 1.2
Vòng quay toàn bộ vốn = Doanh thu thuần (1.1)
Vốn kinh doanh bình quân
Trang 14Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh = Lợi nhuận trước (sau thuế) (1.2)
Vốn kinh doanh bình quân
Đây là chỉ tiêu dùng để đo lường mức độ sinh lời của đồng vốn, từ đó
để đánh giá hiệu quả của việc quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh còn được đánh giá qua chỉ tiêu tỷ suẩt lợi nhuận doanh thu và vòng quay tổng vốn
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh = tỷ suất lợi nhuận doanh thu * vòng quay tổng vốn
- Doanh lợi vốn chủ sở hữu được xác định theo công thức 1.3:
Doanh lợi vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế (1.3)
Vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời của đồng vốn chủ sở hữu và đây cũng chính là mục tiêu của doanh nghiệp
Trên đây là các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn kinh doanh nói chung, để có thể đánh giá nhìn nhận một cách chính xác về tiềm lực của doanh nghiệp thì người
ta sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng của từng loại vốn sau:
Thứ nhất : hiệu suất sử dụng vốn cố định
Vốn cố định là vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định và sau một thời gian dài mới thu được toàn bộ Do vậy việc sử dụng tốt vốn cố định hiện có là vấn đề
có ý nghĩa kinh tế rất lớn ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng của doanh nghiệp,
để đánh giá trình độ tổ chức và sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp cần sử dụng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định
Với ý nghĩa đó, việc kiểm tra tài chính nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng vốn cố định được coi là một nội dung quan trọng của công tác tài chính doanh nghiệp Nhờ kiểm tra hiệu suất sử dụng vốn cố định, người quản lý sẽ có những
Trang 15căn cứ xác đáng để đưa ra các quyết định tài chính cho đầu tư, điều chỉnh quy mô sản xuất cho phù hợp và đề ra những biện pháp hữu hiệu nhằm khai thác tiềm năng sẵn có nâng cao hiệu quả kinh doanh
Để đánh giá hiệu suất sử dụng vốn cố định, người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
+ Hiệu suất sử dụng vốn cố định, được xác định theo công thức 1.4:
Hiệu suất sử dụng VCĐ = Doanh thu thuần trong kỳ (1.4)
Số VCĐ bình quân sử dụng trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn cố định có thể tham gia tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần bán hàng trong kỳ
Để đánh giá đúng mức hiệu quả quản lý và sử dụng VCĐ của từng thời kỳ, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định cần phải được xem xét trong mối liên hệ với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định Chỉ tiêu này có thể được xác định theo công thức 1.5:
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần trong kỳ (1.5)
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ Nguyên giá TSCĐ có tính chất bình quân được tính theo phương pháp bình quân số học và tùy theo số liệu đã có để có cách tính thích hợp
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản cố định trong kỳ tham gia tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Thông qua chỉ tiêu này cũng cho phép đánh giá trình
độ sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp Khi sử dụng hai công thức trên cần chú ý: Nếu để so sánh các thời kỳ khác nhau thì doanh thu thuần bán hàng phải được điều chỉnh theo giá cố định tức là phải loại trừ các yếu tố trượt giá
+ Hệ số huy động vốn cố định : chỉ tiêu này phản ánh mức độ huy động vốn cố định hiện có vào hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Công thức xác định như sau:
Trang 16Hệ số huy động VCĐ trong kỳ = Số VCĐ đang dùng trong HĐKD (1.6)
Số VCĐ hiện có của doanh nghiệp
Số vốn cố định được tính trong công thức trên được xác định bằng giá trị còn lại của tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá phân tích
+ Hệ số hao mòn tài sản cố định : chỉ tiêu này một mặt phản ánh mức độ hao mòn của tài sản cố định trong doanh nghiệp, mặt khác nó phản ánh tổng quát tình trạng về năng lực còn lại của tài sản cố định cũng như vốn cố định ở thời điểm đánh giá được tính theo công thức (1.7):
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Số khấu hao lũy kế của TSCĐ
ở thời điểm đánh giá
(1.7) Tổng nguyên giá TSCĐ
ở thời điểm đánh giá
- Hệ số hàm lượng vốn cố định : là số nghịch đảo của hệ số hiệu suất sử dụng vốn cố định được xác định theo công thức sau:
Hàm lượng VCĐ = Số VCĐ bình quân trong kỳ (1.8)
Doanh thu thuần trong kỳ
Thứ hai : Hiệu suất sử dụng vốn lưu động
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục, ngoài ra các tài sản cố định thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định Tài sản lưu động của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông Muốn hình thành nên các tài sản lưu động doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền
tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó Số vốn này được gọi là vốn lưu động của Doanh nghiệp Vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên vận động, chuyển hóa lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau Đối với doanh nghiệp sản xuất, vốn lưu động từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình
Trang 17thái vật tư dự trữ, sản phẩm dang dở, thành phẩm hàng hóa, khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền Quá trình họat động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng, nên sự tuần hoàn của vốn lưu động diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động
Để đánh giá trình độ tổ chức và sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cần sử dụng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động Hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp được biểu hiện qua các chỉ tiêu sau:
+ Tốc độ luân chuyển vốn lưu động : việc sử dụng hợp lý vốn lưu động biểu hiện ở tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cao hay thấp Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu:
số lần luân chuyển và kỳ luân chuyển vốn lưu động
- Số lần luân chuyển vốn lưu động (hay số vòng quay của vốn lưu động), được xác định bằng công thức (1.9):
L : là số lần luân chuyển vốn lưu động trong kỳ
M: là tổng mức luân chuyển của vốn lưu động ở trong kỳ Hiện nay tổng mức luân chuyển vốn lưu động được xác định bằng doanh thu thuần bán hàng của doanh nghiệp ở trong kỳ
Vld : là số vốn lưu động bình quân sử dụng ở trong kỳ được xác định bằng phương pháp bình quân số học Tùy theo số lượng có thể sử dụng cách tính thích hợp Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu động hay số vòng quay của vốn lưu động thực hiện được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
Trang 18- Kỳ luân chuyển của vốn lưu động : Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện một lần luân chuyển hay độ dài thời gian một vòng quay của vốn lưu động ở trong kỳ Công thức tính như sau:
(1.10)
Trong đó :
K là kỳ luân chuyển vốn lưu động
N là số ngày trong kỳ được tính chẵn một năm là 360 ngày, một quý là 90 ngày, một tháng là 30 ngày
M là tổng mức luân chuyển của vốn lưu động ở trong kỳ Hiện nay tổng mức luân chuyển vốn lưu động được xác định bằng doanh thu thuần bán hàng của doanh nghiệp ở trong kỳ
Vld : là số vốn lưu động bình quân sử dụng ở trong kỳ được xác định bằng phương pháp bình quân số học Tùy theo số lượng có thể sử dụng cách tính thích hợp Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu động hay số vòng quay của vốn lưu động thực hiện được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
Kỳ luân chuyển vốn lưu động tỷ lệ nghịch với số lần luân chuyển của vốn lưu động Nếu doanh nghiệp phấn đấu rút ngắn kỳ luân chuyển thì sẽ tăng
số vòng quay vốn lưu động Từ công thức tính kỳ luân chuyển vốn lưu động cho thấy thời gian luân chuyển vốn lưu động phụ thuộc vào số vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ và tổng mức luân chuyển vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn lưu động
Sau khi vốn lưu động luân chuyển xong một vòng thì một phần lợi nhuận cũng được thực hiện Do đó việc tăng hiệu suất luân chuyển vốn lưu động sẽ góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc tính hiệu suất sử dụng vốn lưu động trên cơ sở tốc độ luân chuyển vốn lưu động cũng còn một số hạn chế nhất định do đó ngoài chỉ tiêu tốc độ
Trang 19luân chuyển vốn lưu động, người ta còn đo lường bằng một số các chỉ tiêu khác như: mức tiết kiệm vốn lưu động, hàm lượng vốn lưu động
- Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn : Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ so sánh (kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc (kỳ báo cáo), được xác định theo công thức (1.11)
Vtk() = ( 1 0 )
360
1
K K x M
hoặc
0
1 1
1
L
M L
M (1.11)
Trong đó :
Vtk: là số vốn lưu động có thể tiết kiệm (-) hay phải tăng thêm (+) do ảnh hưởng của tốc độ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh với kỳ gốc
M1: là tổng mức luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh (kỳ kế hoạch)
K1, K0: là kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc
L1, L0: là số lần luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc
Hàm lượng vốn lưu động (còn gọi là mức đảm nhiệm vốn lưu động) là số vốn lưu động cần có để đặt một đồng doanh thu về tiêu thụ sản phẩm Được tính theo công thức (1.12)
=
Sn
Vld
(1.12)
Hàm lượng vốn lưu động Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh
Trang 201.3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp trong cơ chế quản lý kinh tế mới
1.3.3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh
nghiệp trong cơ chế quản lý kinh tế mới
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là mối quan tâm hàng đầu không chỉ của bản thân doanh nghiệp mà còn là sự quan tâm của các nhà đầu tư, của các cấp, các ngành và của toàn xã hội, đó là vấn đề sống còn trong môi trường cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt, là giải pháp tích cực nhất nhằm giải quyết sự đòi hỏi kinh tế ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu khách quan của quá trình CNH – HĐH đất nước
Vốn là điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm là khả năng sinh lời và phát triển của đồng vốn vì điều này liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ góp phần làm tăng số lượng giá trị TSCĐ, TSLĐ của doanh nghiệp và của xã hội, hình thành những tiềm lực sản xuất mới, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của cả nền kinh
tế, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một tất yếu khách quan của các doanh nghiệp được xuất phát từ những lý do sau đây:
+ Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp : Với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các họat động sản xuất kinh doanh,
là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được khoản thu nhập đó Để có thể đạt mức lợi nhuận cao thì bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải chú trọng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
+ Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn là phạm trù kinh tế quan trọng trong doanh
Trang 21nghiệp Nó được sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh nhưng doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại nếu quá trình kinh doanh đó thua lỗ kéo dài Vì vậy để phát huy vai trò của vốn kinh doanh thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu đầu tiên của các nhà quản lý
+ Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp tăng nhanh được vòng quay của vốn Nếu vốn được sử dụng hiệu quả thì chỉ trong một thời gian ngắn có thể đem lại doanh thu cao, đây là cơ sở làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nghĩa là doanh thu của doanh nghiệp tăng lên và mức chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra ít hơn Mỗi doanh nghiệp thường huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, nếu huy động vốn ở những nguồn chi phí
sử dụng vốn thấp như trong nội bộ doanh nghiệp, thông qua phát hành cổ phiếu và biết kết hợp hài hòa giữa tỷ lệ vốn dài hạn và vốn ngắn hạn, thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sử dụng vốn được thuận lợi, chủ động hơn với mức chi phí sử dụng vốn thấp Đây là một nhân tố giúp doanh nghiệp hạ giá thành sản xuất góp phần tăng lợi nhuận
+ Xuất phát từ sự tác động của cơ chế : Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế quốc dân, một đơn vị kinh tế tự chủ, tự tổ chức, chịu trách nhiệm trong quá trình sản xuất kinh doanh, tìm hiểu thị trường, đầu vào, đầu
ra cho sản phẩm Do vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách đối với doanh nghiệp
Ngoài ra, việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn vốn còn giúp nền kinh tế đất nước nói chung và các doanh nghiệp nói riêng tăng khả năng hội nhập với cộng đồng thế giới
Tóm lại : Từ những lý do trên có thể thấy rằng việc nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn trong doanh nghiệp là rất cần thiết Nó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng thị phần, tăng lợi nhuận, giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn
Trang 221.3.3.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp trong cơ chế quản lý kinh tế mới
Để đảm bảo đủ vốn cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình các doanh nghiệp cần thực hiện một số biện pháp cơ bản sau:
Thứ nhất : phải luôn quan tâm tìm hiểu sự thay đổi của chính sách nhà
nước có liên quan, cập nhật tin tức một cách thường xuyên để có kế hoạch kịp thời thay đổi chiến lược kinh doanh của mình vì bất cứ sự thay đổi nào của cơ chế quản lý và chính sách kinh tế của Nhà nước đều có thể gây ra các ảnh hưởng nhất định tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Nó có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra cũng phải quan tâm đến sự ảnh hưởng của giá cả trên thị trường để có kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu kịp thời cho sản xuất
Thứ hai : doanh nghiệp cần xem xét, tìm hiểu, nghiên cứu nhu cầu của thị
trường về các loại sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp đang có hướng đầu tư, từ
đó có phương án sản xuất hợp lý, huy động vốn đầy đủ đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục
Thứ ba : lập kế hoạch huy động sử dụng và bố trí cơ cấu vốn một cách phù
hợp Khi có nhu cầu về vốn, trước hết doanh nghiệp cần tận dụng triệt để vốn bên trong để kịp thời đáp ứng vốn cho sản xuất và giảm được chi phí sử dụng vốn không cần thiết Đồng thời, doanh nghiệp cần phải xem xét thực tế của mình để xây dựng một kết cấu vốn tối ưu và huy động các nguồn sao cho chi phí sử dụng vốn bình quân là thấp nhất
Thứ tư : trên cơ sở phân loại vốn kinh doanh, doanh nghiệp cần đưa ra biện
pháp sao cho phù hợp với từng loại vốn
- Đối với vốn cố định:
Trang 23+ Huy động tối đa tài sản cố định hiện có vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất góp phần tăng năng suất lao động, hạ giá thành
sản phẩm, giảm hao mòn vô hình
+ Lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp và xác định mức trích khấu hao tương ứng với mức độ hao mòn thực tế của tài sản cố định sao cho vẫn đảm bảo được giá bán của sản phẩm
+ Chú trọng đổi mới trang thiết bị và quy trình sản xuất đồng thời thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa tài sản cố định tránh tình trạng hư hỏng bất thường cũng như hư hỏng trước thời hạn Kịp thời thanh lý chuyển giao các tài sản hư hỏng hoặc sử dụng kém hiệu quả
+ Lựa chọn các phương án tối ưu trong đầu tư mua sắm hoặc trang bị tài sản cố định, cân nhắc giữa đi thuê và mua mới
+ Đưa ra quy chế về trách nhiệm vật chất nhằm tăng cường trách nhiệm của người bảo quản và sử dụng tài sản cố định, tận dụng công suất máy móc thiết
bị, khuyến khích phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho doanh nghiệp bằng cách xây dựng và chấp hành nghiêm chỉnh chế độ thưởng phạt đối với cá nhân và tập thể người lao động
+ Trong trường hợp nền kinh tế còn lạm phát cần điều chỉnh lại nguyên giá
và giá trị còn lại của tài sản cố định để đảm bảo thu hồi đủ vốn, tránh mất mát hao hụt vốn
- Đối với vốn lưu động:
+ Xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, tiết kiệm mang lại hiệu quả kinh tế cao Hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng thừa hoặc thiếu vốn ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
+ Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn ở mọi khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ, ở khâu dự trữ cần xác định mức dự trữ tồn kho một cách hợp lý giúp
Trang 24doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất và tối thiểu hóa chi phí dự trữ Ở khâu sản xuất cần áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để rút ngắn chu kỳ sản xuất hợp lý hóa dây chuyền công nghệ Ở khâu tiêu thụ cần lựa chọn khách hàng và phương thức thanh toán phù hợp để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm
+ Có biện pháp thu hồi công nợ hiệu quả đối với những khoản nợ đến hạn, tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn làm phát sinh những khoản đi vay ngoài kế hoạch làm tăng chi phí sử dụng vốn, sử dụng linh hoạt các chính sách khuyến mại, chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán Nhằm tăng vòng quay vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
+ Tăng cường công tác kiểm tra tài chính đối với việc sử dụng tiền vốn trong tất cả các khâu, sử dụng vốn một cách linh hoạt, hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Thứ năm : để có nguồn vốn bù đắp rủi ro mất vốn trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của doang nghiệp, doanh nghiệp nên chủ động thực hiện sử dụng câc biện pháp phòng ngừa rủi ro, bảo tồn vốn bằng cách mua bảo hiểm tài sản, lập quỹ dựu phòng tài chính
Thứ sáu : xây dựng quy chế quản lý vốn, tài sản
Mỗi doanh nghiệp đều có một lượng vốn để tiến hành kinh doanh Trong khi đó cơ cấu hoạt động ở mỗi doanh nghiệp đều gồm nhiều phòng ban, đơn vị,
tổ chức cá nhân Chính vì vậy cần phải có kế hoạch phân phối vốn đến từng bộ phận một cách hợp lý đồng thời những đơn vị, cá nhân đó phải có ý thức trách nhiệm bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Thứ bảy : phát huy tích cực vai trò tài chính trong việc quản lý và sử dụng
vốn
Để phát huy hiệu quả sử dụng vốn thì doanh nghiệp cần phải giám sát tình hình mua vào bán ra nguyên vật liệu, nhập các thiết bị máy móc, tiêu thụ sản phẩm xem đã chính xác hay chưa, chi phí bỏ ra có đúng với giá của nó trên thị
Trang 25trường hay không Doanh nghiệp cần so sánh giữa số liệu thực tế và số liệu ghi trên sổ sách để tìm ra sai sót và tìm cách khắc phục
Trên đây là một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nói chung Trên thực tế mỗi doanh nghiệp có những đặc trưng
và điều kiện kinh doanh không giống nhau vì vậy mỗi doanh nghiệp cần phải căn
cứ vào những phương hướng biện pháp chung để đề ra cho doanh nghiệp mình các giải pháp cụ thể, điều này đòi hỏi ở người quản lý không chỉ có lý thuyết mà phải có đâu óc thực tế và phải có “nghệ thuật” quản lý sử dụng vốn
1.4 Cơ chế quản lý kinh tế mới
Trong thời đại nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta như hiện nay vấn đề đặt ra là cần phải có một cơ chế quản lý thật tốt
để phát triển đất nước vững mạnh
Cơ chế quản lý kinh tế mới là việc đưa ra các nguyên tắc phát triển kinh
tế phù hợp với thực tiễn xã hội Việc đưa ra một cơ chế quản lý kinh tế hợp lý
là điều kiện để nền kinh tế tăng trưởng phát triển Vì vậy, trong quá trình CNH – HĐH đòi hỏi phải xây dựng các chính sách kinh tế chính xác, hiện đại
Trước đây trong thời kỳ bao cấp nền kinh tế của nước ta mang nặng tính chất tự cung tự cấp, không tạo ra sức cạnh tranh Các doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước và vốn phát triển đều do nhà nước cung cấp Vậy nên vấn đề quản lý vốn đều nằm trong tay nhà nước các doanh nghiệp không được tự do đầu tư phát triển Mặt khác, trang bị phương tiện kỹ thuật, trình độ nhận thức và sức sản xuất của người dân còn hạn chế Chính vì thế
mà trong những năm ấy kinh tế của nước ta vô cùng lạc hậu và kém phát triển
Bước sang thời kỳ CNH – HĐH, nước ta đã có những phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật, về trình độ dân trí và về cơ chế quản lý nền kinh tế
Từ khi đất nước bước sang thời kỳ đổi mới 1986 cho đến nay chúng ta đã xóa
bỏ nền kinh tế bao cấp điều này khẳng định một vấn đề quan trọng đó là buộc các doanh nghiệp các thành phần kinh tế phải tự bỏ vốn ra kinh doanh, sản
Trang 26xuất nhằm tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường để thu lợi nhuận cao và giúp nền kinh tế đất nước phát triển Việc quản lý nguồn vốn là do doanh nghiệp tự chịu, tự huy động vốn được lãi thì doanh nghiệp được hưởng, ngược lại nếu việc kinh doanh thua lỗ thì doanh nghiệp sẽ phải đứng ra chịu trách nhiệm Như vậy, vấn đề quản lý vốn hiện nay được tự do hơn và mang tính thị trường cao
Tuy nhiên trong cơ chế quản lý mới như hiện nay để quản lý tốt được vốn của doanh nghiệp cũng như giữ cho hoạt động sản xuất kinh doanh luôn vững vàng thì các doanh nghiệp phải đặc biệt chú ý đến các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn như sau:
a Các nhân tố khách quan:
+ Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước : Chính sách kinh tế vĩ
mô của Nhà nước đối với các doanh nghiệp là rất quan trọng, nó có thể làm tăng hay giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nhà nước ban hành các chính sách kinh tế, hành lang pháp lý, môi trường kinh doanh , để cho doanh nghiệp phát triển sản xuất Khi chính phủ có những thay đổi trong đường lối chính sách kinh tế hoặc có sự mất ổn định trong đời sống chính trị thì các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thu sản phẩm, vì vậy ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
+ Sự ổn định của nền kinh tế : đây là một vấn đề tác động rất mạnh đến doanh nghiệp Nếu nền kinh tế phát triển ổn định thì hiệu quả sử dụng vốn cao, ngược lại nếu điều kiện tăng trưởng thấp, lãi suất và tỷ giá không ổn định, thất nghiệp cao, lạm phát cao, sức mua của đồng tiền giảm sút gây khó khăn cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp không kịp thời điều chỉnh giá trị của các loại tài sản đó thì sẽ làm cho vốn kinh doanh của doanh nghiệp mất dần theo tốc độ trượt giá của tiền tệ
+ Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật : Nhân tố công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và giá thành của sản phẩm sản xuất ra, nếu công nghệ sản
Trang 27xuất tiên tiến thiết bị công nghệ có chất lượng kỹ thuật cao, giá cả hợp lý, phù hợp với trình độ quản lý và sử dụng sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả hơn vốn kinh doanh của mình
Ngoài các nhân tố trên thì có một số ngành còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường thiên nhiên như ngành nông lâm ngư nghiệp, ngành khai thác
b Các nhân tố chủ quan:
+ Cơ cấu đầu tư vốn và cơ chế huy động vốn của doanh nghiệp : Việc
bố trí cơ cấu vốn trong doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Ví dụ như : việc đầu tư vào tài sản cố định không hợp lý dẫn đến có
những tài sản không sử dụng hoặc chưa sử dụng hoặc việc vay nợ quá nhiều
sử dụng không triệt để nguồn vốn bên trong thì không những không phát huy tác dụng của vốn mà còn bị hao hụt mất mát hoặc tạo ra rủi ro cho doanh nghiệp Ngoài ra, việc huy động vốn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
sử dụng vốn của doanh nghiệp bởi vì nếu hoạt động huy động vốn và cơ chế huy động vốn không đáp ứng được nhu cầu kinh doanh thì việc đầu tư sẽ bị kéo dài, các chương trình kinh doanh và các dự án của doanh nghiệp sẽ không thực thi được dẫn đến ảnh hưởng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 28+ Phương hướng, phương án kinh doanh của doanh nghiệp : Mỗi doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh tạo ra sản phẩm đều phải có những phương hướng nhất định cho việc phát triển và những phương án cho việc tiêu thụ sản phẩm Do đó phương hướng và phương án kinh doanh có ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả sử dụng vốn Phương hướng và phương án kinh doanh được xây dựng trên cơ sở nhận biết thị trường, dự đoán thị trường và nắm bắt những cơ hội trong kinh doanh để quyết định quy mô của chủng loại, mẫu mã, chất lượng, giá cả sản phẩm Vì thế nếu doanh nghiệp lựa chọn sai sản phẩm, không phù hợp với thị trường để sản xuất thì tất yếu hiệu quả thu được sẽ rất thấp và ngược lại, nếu doanh nghiệp nắm bắt được thị trường, biết được thị hiếu người tiêu dùng, sản xuất ra những loại sản phẩm phù hợp thì khi đó hiệu quả sẽ rất cao
+ Trình độ quản lý tổ chức của cán bộ doanh nghiệp và năng lực của lực lượng lao động trong doanh nghiệp : đây là một nhân tố rất quan trọng, bởi nó thể hiện cách thức điều hành, quản lý doanh nghiệp cũng như quyết định tới năng suất lao động, chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp Nếu nhân tố ngày tốt thì sẽ góp phần làm cho hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được cải thiện hơn
Như vậy, đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong giai đoạn hiện nay có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng vốn nên vấn
đề cần đặt ra ở đây là trong cơ chế đổi mới như hiện nay các doanh nghiệp cần tìm cho mình những phương án thích hợp nhất nhằm mục đích đầu tư có hiệu quả và thu lợi nhuận cao
Trang 29Kết luận chương 1
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp đầu
tư dự án Thủy điện nói riêng không chỉ là vấn đề quan tâm của các nhà đầu tư sản xuất kinh doanh, của các nhà nghiên cứu, mà còn là vấn đề quan tâm của Chính phủ trong tiến trình đổi mới, cải cách, phát triển và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp tại Việt Nam trong cơ chế quản lý kinh tế mới Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển các dự án Thủy điện là vấn đề then chốt, cấp bách và là một tất yếu khách quan trong đổi mới và phát triển các doanh nghiệp loại hình này Để có cái nhìn đầy đủ và toàn diện về vấn đề sử dụng vốn trong doanh nghiệp, cần phải đánh giá và xem xét hiệu quả sử dụng vốn ở tất cả các khâu, các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp không những chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố bên trong nội bộ mà nó còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, như môi trường kinh tế, chính trị thế giới,
cơ chế chính sách của nhà nước, lao động, công nghệ, môi trường thiên nhiên
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn là cơ sở
đề ra những biện pháp thiết thực nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nói chung trong cơ chế quản lý kinh tế mới và áp dụng cho Công Ty
Cổ phần Thủy điện Hồ Núi Cốc nói riêng
Trang 30CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN
2.1 Tình hình đầu tư xây dựng và vai trò của các dự án Thủy điện ở nước ta
2.1.1 T nh h nh đ u tư ây d ng các d án thủy điện nước ta
Trong chiến lược xây dựng và phát triển Thủy điện, nước ta đã và dự kiến xây dựng khoảng 1.021 công trình Thủy điện, phân bố ở 36 tỉnh trên toàn quốc với tổng công suất thiết kế khoảng hơn 2 000M
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, công suất lắp đặt các nhà máy Thuỷ điện đến năm 2015 vào khoảng hơn 18.000 M với sản lượng điện trung bình hằng năm trên 80 tỷ K h Năm 2011, cả nước tiếp tục đưa vào hoạt động 7 nhà máy Thuỷ điện, 2 tổ máy số 2 và số 3 của Nhà máy Thuỷ điện Sơn La và 16 nhà máy Thuỷ điện nhỏ với tổng công suất lắp đặt 1.901 MW Nói chung, các nhà máy Thuỷ điện ở nước ta có nhiều lợi ích tổng hợp như: chống lũ trong mùa mưa, cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh, nhất là các thành phố lớn và khu công nghiệp, chống hạn và đẩy mặn trong mùa khô; sản xuất điện với sản lượng lớn và có khả năng tái tạo, nên giá thành điện thương phẩm tương đối thấp so với các nguồn điện khác; góp phần
mở rộng du lịch sinh thái và giao thông đường thuỷ; phát triển nuôi trồng thuỷ sản, Thủy điện phát huy lợi thế và vai trò quan trọng đối với những vùng có điều kiện khó khăn về xây dựng công trình nối mạng điện quốc gia
Thấy rõ được lợi thế và tiềm năng của Thủy điện (nguồn năng lượng sạch) Chính phủ đã có chủ trương khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng các nhà máy Thuỷ điện và đã có các văn bản luật, các cơ chế đặc biệt quy định cụ thể giúp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư đảm bảo tiến độ xây dựng các công trình, kịp thời phát huy giá
Trang 31trị vốn đầu tư và cung cấp điện năng cho nền kinh tế - xã hội hiện đang mất, cân đối nghiêm trọng giữa cầu và cung
2.1.2 Vai trò của các d án Thủy điện
Ngày nay, nhắc đến Thủy điện là nhắc đến nguồn năng lượng không thể thiếu trong sơ đồ hệ thống cung cấp điện của các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam Thủy điện đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt, sản xuất cũng như góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường
* Các dự án Thủy điện có những vai trò chung như sau:
+ Thứ nhất, nó là tiền đề để xây dựng các nhà máy Thủy điện – cung
cấp năng lượng điện phục vụ sinh hoạt và các hoạt động sản xuất kinh doanh Hàng năm các dự án Thủy điện được thông qua để triển khai xây dựng nhà máy Thủy điện trên hầu khắp cả nước với mục đích mở rộng nguồn năng lượng phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của con người Các dự án điện đã được triển khai xây dựng thành các nhà máy và đi vào hoạt động có hiệu quả như Nhà máy Thủy điện Hồ Núi Cốc; Nhà mày Thủy điện Sơn La; Nhà máy Thủy điện Sông Hinh… Như vậy, vai trò đầu tiên mà một dự án Thủy điện bao giờ cũng hướng tới xây dựng nhà máy để thực hiện những mục tiêu đã đề ra
+ Thứ hai, sự có mặt của các dự án Thủy điện cũng như các dự án
thuộc lĩnh vực khác là nhằm mục đích thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước nâng cao năng suất lao động để thu lợi nhuận cho Công ty, góp phần vào sự phát triển nền kinh tế đất nước Như chúng ta đã biết, nguồn vốn đầu tư để sản xuất kinh doanh là rất quan trọng Công trình nào mà có nhiều vốn thì việc sản xuất kinh doanh diễn ra nhanh, đồng thời còn đảm bảo việc duy trì hoạt động của Công ty trong suốt thời gian công ty tồn tại Đặc biệt là trong các dự án Thủy điện cần nhiều đến vốn để mua máy móc thiết bị công nghệ cao và mở rộng kinh doanh nên nguồn vốn của các nhà đầu tư vào các dự án
là rất cần thiết
Trang 32+ Thứ ba, không thể phủ nhận việc đầu tư xây dựng các dự án Thủy
điện sẽ góp phần gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp và ngân sách cho các địa phương có dự án Một nguồn thu quan trọng của các địa phương có dự án Thủy điện đó là việc thu thuế và các nguồn thu khác từ các dự án này, làm tăng ngân sách của địa phương Đồng thời việc xuất hiện các dự án Thủy điện làm cho quá trình sản xuất ngành nghề của địa phương đa dạng và phong phú hơn
+ Thứ tư, các dự án Thủy điện còn có vai trò quan trò quan trọng trong
việc tạo công ăn việc làm cho một khối lượng cán bộ, công nhân viên Hầu hết trong các nhà máy Thủy điện đều có một số lượng công nhân viên đáng
kể, nhỏ cũng mấy chục người, nhà máy nào lớn lên đến hàng trăm người Như vậy rõ ràng nhân tố con người là không thể thiếu, càng nhiều lao động chứng
tỏ doanh nghiệp càng hoạt động có hiệu quả và đạt được nhiều thành tích trong kinh doanh Với lý do không thể thiếu trong đời sống con người vì vậy
mà ngành điện không bao giờ là không cần đến người lao động
+ Thứ năm, các dự án Thủy điện được triển khai còn nhằm ngăn chặn
nước lũ và dự trữ nguồn nước vào mùa khô Nước ta, với kiểu địa hình và khí hậu đặc trưng nóng, ẩm mùa hè thường thiếu nước trầm trọng trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất Nên với lượng nước mà các đập Thủy điện dự trữ được đã góp phần quan trọng vào việc cung cấp nước tưới và sinh hoạt của người dân, khắc phục phần nào khó khăn mà thiên nhiên mang lại
2.1.3 S c n thiết của các d án Thủy điện
Với những vai trò đặc biệt trên Thủy điện chiếm vị trí không thể thiếu trong đời sống của con người Không có điện đồng nghĩa với việc mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều ngừng trệ Mọi sinh hoạt, mọi nhu cầu của con người đều cần đến điện Điện là nguồn năng lượng vô cùng quan trọng và không thể thiếu của con người vì thế nên cần phải có các dự án Thủy điện để
Trang 33triển khai xây dựng các nhà máy Thủy điện tạo ra điện năng cung cấp cho người dân
Hơn nữa, Thủy điện là nguồn năng lượng rẻ nhất mà con người có thể dùng bởi một nguồn nhiên liệu quan trọng làm ra điện là lấy từ thiên nhiên – đó
là nước Với các ngành năng lượng khác như Nhiệt điện thì vấn để mua nguyên liệu sản xuất rất tốn kém vì vậy mà giá thành phải trả cho việc sử dụng là rất cao Với Thủy điện việc đầu tư mua nguyên liệu rẻ hơn nên việc lụa chọn sử dụng điện là hợp lý và có ý nghĩa trong việc tiết kiệm chi phí cho cuộc sống trong nền kinh thế thị trường đầy biến động và lạm phát như hiện nay
2.2 Thực trạng sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp đầu tư
dự án Thủy điện
Việc sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp đầu tư dự án Thủy điện trong những năm qua về cơ bản đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cao cho doanh nghiệp và các chủ đầu tư Do sự cần thiết của Thủy điện đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như với đời sống sinh hoạt nên việc đầu tư cho Thủy điện chắc chắn sẽ đem lại nhiều yếu tố hấp dẫn cho doanh nghiệp đầu tư Trong những năm qua đã có rất nhiều các Công ty, doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào Thủy điện và đã thu được lợi nhuận cao Như vậy việc bỏ vốn ra đầu tư hay kinh doanh điện đã mang lại những hiệu quả tích cực, như dự án Thủy điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam) do EVN làm chủ đầu
tư, với tổng vốn đầu tư 150 tỷ đồng, công suất lắp máy 190 M , điện lượng bình quân hàng năm 679,6 triệu Kw/h đã chính thức được liên danh 6 ngân hàng gồm Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại Thương và Ngân hàng An Bình đồng ký kết tài trợ cho dự án với tổng số tiền lên đến 1 50 tỷ đồng Ta có thể thấy việc đầu tư với số lượng tiền khá lớn này vào Thủy điện sẽ nhanh chóng thu được vốn và lãi về Hoặc tại tỉnh Lào Cai các nhà đầu tư cũng bỏ nhiều vốn vào để kinh doanh điện, tính đến tháng
Trang 348 năm 2008 trên địa bàn đã thu hút được 3 nhà đầu tư đăng ký đầu tư 83 dự
án Thủy điện với tổng công suất lắp máy hơn 915M , ước tính giá trị đầu tư trên 18.000 tỷ đồng Trong đó đã có 10 dự án hoàn thành và phát điện hòa lưới quốc gia với tổng cộng là 7 M , giá trị đầu tư 795,83 tỷ đồng; 18 dự án
đã khởi công; 22 dự án đã hoàn thiện hồ sơ và 29 dự án đang khảo sát lập thiết kế cơ sở Những con số trên cho thấy việc các doanh nghiệp đầu tư vào Thủy điện là rất chính xác, thu lợi nhuận nhanh, ít rủi ro
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đó thì vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp đầu tư vào dự án Thủy điện vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định như:
+ Chưa phát huy được hết hiệu quả của vốn kinh doanh trong các dự
án Một thực tế cho thấy là có khá nhiều dự án đưa ra nhưng không thực hiện được Tính đến thời điểm hiện nay, tổng công suất nguồn điện đã lắp đặt được khoảng 1 000 M và một phần ba trong số này là từ Thủy điện Do diễn biến bất thường của thời tiết và hạn hán, nguồn Thủy điện thực tế hiện chỉ huy động được chừng một phần ba nên sự giảm sút nguồn điện trong thực tế là rất
rõ Điều này chứng tỏ việc bỏ vốn vào kinh doanh điện không hoàn toàn ổn định nó vẫn có những rủi ro nhất định do thiên nhiên và con người gây ra
+ Vốn kinh doanh đầu tư không được sử dụng đúng mục đích, nhiều dự
án Thủy điện sau khi nhận được vốn đầu tư đã không mua máy móc trang thiết bị mới hiện đại để sản xuất và mua hàng cũ lạc hậu kém chất lượng làm cho việc sản xuất kinh đoanh điện không mang lại hiệu quả cao Vì vậy mà vốn của các nhà đầu tư bỏ ra cũng không có chất lượng
+ Việc đầu tư vốn kinh doanh vào các dự án Thủy điện vừa và nhỏ không mang lại hiệu quả kinh tế cao Do sự phát triển quá nóng lên của các
dự án Thủy điện vừa và nhỏ trong thời gian qua đã bộc lộ một số tồn tại nên việc các nhà đầu tư bỏ vốn vào đây đã không thu được lợi nhuận như mong muốn
Trang 35+ Vai trò của các tổ chức tín dụng với dự án Thủy điện khá lớn, tuy nhiên đối với chủ đầu tư trong giai đoạn đầu triển khai phần lớn là không có khoản thu vào, trong khi vẫn chịu mức lãi suất thương mại hoặc ưu đãi Đây chính là một trong những khó khăn mà nhà đầu tư phải đối mặt
Trên đây là một số thực trạng còn tồn tại trong việc sử dụng vốn kinh doanh của các doanh nghiệp đầu tư dự án Thủy điện Các nhà đầu tư cần phải nghiên cứu rõ để đầu tư một cách có hiệu quả và có lợi cho mình nhất
2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp đầu tư dự án Thủy điện
Theo thống kê của tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) thì Thủy điện hiện đang chiếm 35 – 0% trong tổng công suất phát điện của Việt Nam Tuy nhiên trong trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2010 thì mức đóng góp vào sản lượng điện chỉ đạt mức khiêm tốn là 19% do tình trạng khô hạn kéo dài (đặc biệt là thời điểm cuối tháng 5, đầu tháng 6) khiến mực nước tại các
hồ Thủy điện xuống thấp kỷ lục, sát mực nước chết nên hoạt động sản xuất của các Công ty Thủy trong 9 tháng đầu năm 2010 gặp rất nhiều khó khăn Điều đó dẫn đến việc thiếu điện thường xuyên xảy ra, đặc biệt vào những giờ cao điểm Tình trạng cung lớn hơn cầu về điện hiện nay đã là điểm thu hút rất nhiều các nhà đầu tư vào các dự án công trình Thủy điện Theo EVN cung cấp thì nhu cầu và phát triển nguồn điện hiện nay được thể hiện theo Bảng sau:
Bảng 2.1 - Nhu cầu và kế hoạch phát tri n ngu n điện Việt Nam đến 2 1
Trang 36Từ số liệu của Bảng 2.1 cho thấy, nhu cầu về điện của nước ta giai đoạn từ 2005 đến 2010 trung bình 1 năm tăng thêm 3000M , còn giai đoạn
2010 - 2015 trung bình 1 năm tăng thêm 7000M (tăng hơn 2 lần)
Bảng 2.2 - Nhu cầu và kế hoạch phát tri n Thủy điện
Nlm (MW) 11286 25857 - 27000 60000 - 70000 112000 181000
Tỷ lệ Thủy điện 36.50% 38 – 40% 28- 33% 22.00% 17.00% Thủy điện 4198 10211 19874 24148 30548
(Nguồn áo cáo của Tập đoàn iện lực Việt Nam
Với nhu cầu và các chỉ tiêu kế hoạch ở trên thì rất nhiều nhà đầu tư hiện nay muốn đầu tư vào các dự án Thủy điện Tuy nhiên lại xảy ra tình trạng nhiều dự án Thủy điện nhỏ và vừa hoạt động không hiệu quả Tình trạng này do nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó có những nhân tố tác động từ chính các nhà đầu tư vốn Nguyên nhân chính là do các doanh nghiệp này ít vốn, nguồn vốn đầu tư chủ yếu vay ngân hàng, trong khi giá cả nguyên liệu và các chi phí khác tăng cao, khiến dự án tăng vốn đầu tư và không thể triển khai Vậy để tìm hiểu việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp đầu tư dự
án Thủy điện có hiệu quả hay không ta đi vào tìm hiểu xem việc sử dụng vốn
cố định và vốn lưu động trong các doanh nghiệp này như thế nào?
Đầu tư Thủy điện là lĩnh lực đòi hỏi nguồn vốn rất lớn Đây chính là điều mà các nhà đầu tư trăn trở khi triển khai dự án Thủy điện
Thực tế cho thấy, hầu hết các dự án Thủy điện, từ khi khảo sát nghiên cứu đến lúc khởi công phải trải qua thời gian khá dài, nhưng muốn triển khai
dự án, điều căn bản trước nhất là công tác thu xếp nguồn vốn đầu tư Để có vốn triển khai, các nhà đầu tư có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau như vốn góp cổ đông sáng lập, vốn vay, vốn phát hành cổ phiếu, trái phiếu Việc huy động vốn đã khó, việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả lại càng khó hơn Vốn lưu động trong các doanh nghiệp đầu tư dự án Thủy điện là một bộ phận
Trang 37rất quan trọng bởi vì vốn bỏ ra đầu tư thường rất lớn mà lại có ảnh hưởng rất nhiều tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp đầu tư
dự án Thủy điện cũng giống như các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng khác, vốn lưu động trong doanh nghiệp này cũng bao gồm các khoản tiền và tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho Do đó hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp đầu tư dự án Thủy điện là toàn bộ hoạt động quản lý hiệu quả các khoản phải thu, chính sách tín dụng, quản lý hàng tồn kho, quản lý tiền mặt, và đầu tư các khoản tiền mặt nhàn rỗi trên thị trường tiền tệ Để đánh giá hiệu quả của loại vốn này thì chúng ta cần phân tích các chỉ số tài chính liên quan đến loại vốn lưu động
Thứ nhất : Chỉ số vòng quay vốn lưu động
Chỉ số này được tính theo công thức 2.1 sau:
Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần (2.1)
VLĐ bình quân
Chỉ số này cho biết bình quân trong kỳ nghiên cứu vốn lưu động của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng Số vòng luân chuyển của vốn lưu động càng lớn chứng tỏ tốc độ luân chuyển của vốn lưu động càng nhanh và ngược lại Số ngày luân chuyển của vốn lưu động càng cao thì số ngày cần thiết để vốn lưu động quay được 1 vòng càng giảm và ngược lại
Ví dụ như ta có bảng phân tích sau của Công ty Cổ phần iện lực Khánh Hòa:
Từ Phụ lục 2.3 ta thấy các chỉ số vòng quay của công ty này dao động
từ năm 2005 đến 2010 Vòng quay tổng tài sản năm 2010 tăng nhanh so với năm 2009 có thể cho thấy hiệu quả sử dụng tổng tài sản tăng Từ năm 2007
đến năm 2009, vòng quay tổng tài sản thấp, chỉ ở mức 0,38 lần điều này cũng
có thể khẳng định Công ty đang trong quá trình mở rộng đầu tư do sự tăng lên của TSCĐ Điều này là do năm 2010, Công ty đã chạy hết công suất và thu
Trang 38được doanh thu lớn do hệ quả của việc đầu tư vào TSCĐ từ năm 2007 đến
năm 2009
Như vậy một doanh nghiệp đầu tư dự án Thủy điện được coi là hoạt động tốt bước đầu có thể dựa vào chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động, bởi nó phần nào quyết định tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn lưu động của Công
ty
Thứ hai : Kỳ luân chuyển vốn lưu động
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức 2.2 sau:
Kỳ luân chuy n VLĐ = Số ngày trong kỳ (2.2)
Vòng quay VLĐ
Chỉ tiêu này phản ánh vốn lưu động bình quân của doanh nghiệp quay
1 vòng hết bao nhiêu ngày Kỳ luân chuyển của VLĐ càng nhỏ thì hiệu quả
sử dụng vốn lưu động càng tăng và ngược lại Đây là một chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu thứ nhất, chỉ tiêu này hết sức quan trọng bởi nó sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp nắm rõ được thời gian quay vòng của vốn lưu động
từ đó đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, đặc biệt là đối với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh điện bởi vì điện là một hàng hóa đặc biệt, nó rất cấn thiết cho sản xuất và đời sống, việc cung cấp điện phải thường xuyên liên tục nhưng không phải là khi cung cấp sản phẩm sẽ nhận lại được vốn ngay mà phải sau một thời gian nhất định (kỳ thu tiền) Do đó việc xác định chính xác thời gian quay vòng vốn lưu động sẽ giúp cho các doanh nghiệp sản xuất Thủy điện chủ động hơn trong quá trình sản xuất kinh doanh
Thứ ba : Chỉ tiêu hàm lượng vốn lưu động
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức 2.3 sau:
Doanh thu thuần
Trang 39Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu dồng vốn lưu động bình quân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ Như vậy có thể thấy nếu mà có 2 doanh nghiệp cùng hàm lượng vốn lưu động nhưng nếu doanh nghiệp nào có đầu vào bỏ ra ít hơn thì chứng tỏ doanh nghiệp đó hoạt động hiệu quả hơn
Ví dụ : ta có số liệu về hàm lượng vốn lưu động của công ty cổ phần Thủy điện Ba Đình như sau: ĐVT: đồng
21910624971
Ta thấy với chỉ số này của Công ty trong năm 2009 thì để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm thì cần 1.27 đồng vốn lưu động bình quân tham gia vào sản xuất kinh doanh Còn năm 2010 thì để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm chỉ cần 0.3 đồng vốn lưu động bình quân Điều này chứng tỏ là trong năm 2010 Công ty này đã có những cải thiện hơn trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Thứ tư : Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức 2.4 sau:
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ = Lợi nhuận ròng (2.4)
VLĐ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn lưu động tham gia vào sản xuất thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty
Ví dụ: Ta có tỷ suất lợi nhuận VLĐ của Công ty Cổ phần Thủy điện
Sông Đà – Hoàng Liên như sau:
Năm 2009 tỷ suất lợi nhuận VLĐ = 0.006
Năm 2010 tỷ suất lợi nhuận VLĐ = 0.015
Trang 40Điều này thể hiện trong năm 2009 cứ 1 đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất sẽ tạo ra 0.006 đồng lợi nhuận ròng, sang năm 2010 thì cứ 1 đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất sẽ tạo ra 0.015 đồng lợi nhuận ròng Nhìn vào chỉ số này ta có thể thấy được tính hiệu quả của vốn lưu động khi tham gia sản xuất kinh doanh trong kỳ Tuy nhiên với Công ty này thì hệ số này tương đối thấp, đây cũng là một đặc trưng của ngành điện bởi vì với một lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài thì việc
có được một lượng lợi nhuận ròng lớn là việc rất khó khăn
Phần trên đã phân tích một số chỉ tiêu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp đầu tư dự án Thủy điện Thực tế hiện nay việc huy động vốn trên thị trường gặp nhiều khó khăn hơn Sự khó khăn này là do một vài nguyên nhân sau: (1) lãi suất cho vay trên thị trường tín dụng ngày càng cao do chịu sự ảnh hưởng của chính sách thắt chặt tiền tệ, (2) thị trường chứng khoán đang có xu hướng giảm sút khiến nhiều nhà đầu tư không còn “rộng mở hầu bao” của mình Vì vậy mà các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực Thủy điện nói riêng phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển Trong ngắn hạn, các doanh nghiệp có thể có thể sử dụng một số phương thức sau để nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn lưu động của mình:
+ Thay đổi phương thức lập kế hoạch và dự đoán về nhu cầu vốn lưu động theo cách phân bổ vốn lưu động theo thị trường : Theo phương pháp lập
kế hoạch và dự đoán nhu cầu vốn lưu động hiện nay, các doanh nghiệp thường phân bổ vốn lưu động của mình theo kỳ kế toán Trong một năm thường có 12 kỳ kế toán và doanh nghiệp dựa trên dự đoán nhu cầu vốn lưu động toàn năm phân bổ đều cho 12 kỳ Cách phân bổ này dẫn đến việc không sử dụng hiệu quả nguồn vốn lưu động là do: (1) nhu cầu vốn lưu động
ở mỗi kỳ kế toán là khác nhau, đặc biệt là đối với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực Thủy điện thì đặc điểm của môi trường có yếu tố quyết định rất