1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tuân thủ quy trình tiêm an toàn của điều dưỡng tại bệnh viện tâm thần tỉnh ninh bình năm 2022

34 14 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng Tuân thủ Quy trình Tiêm An Toàn của Điều Dưỡng tại Bệnh Viện Tâm Thần Tỉnh Ninh Bình Năm 2022
Trường học Trường Đại Học Y Dược Thái Bình
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Ninh Bình
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 351,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word Bùi Ēức Thắng iii MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN i LỜI CAM ĐOAN ii DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv DANH MỤC BẢNG v DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ,HÌNH ẢNH vii ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chương 1 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC[.]

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ,HÌNH ẢNH vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 3

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.2 Cơ sở thực tiễn 6

Chương 2 11

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 11

2.1 Tổng quan về Bệnh viện Tâm thần Ninh Bình 11

2.2 Thực trạng tuân thủ tiêm an toàn tại bv Tâm thần tỉnh Ninh Bình 12

Chương 3 21

BÀN LUẬN 21

3.1 Thực trạng của vấn đề 21

3.2 Nguyên nhân tồn tại 21

3.3 Đề xuất các giải pháp 22

KẾT LUẬN 24

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 25 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2 1 Chuẩn bị xe tiêm 15

Bảng 2 2 An toàn cho người tiêm 16

Bảng 2 3 An toàn cho người nhận mũi tiêm 17

Bảng 2 4 An toàn cho cộng đồng 19

Bảng 2 5 Thực trạng tiêm an toàn tính theo từng nội dung 20

Trang 4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

Biểu đồ 2 1 Trình độ của Điều dưỡng được khảo sát 12

Biểu đồ 2 2 Thâm niên công tác 13

Biểu đồ 2 3 Số mũi tiêm trung bình/bệnh nhân/ngày theo khoa 13

Biểu đồ 2 4 Tỷ lệ mũi tiêm được thực hiện theo đường tiêm 15

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ Tiêm là một trong các biện pháp để đưa thuốc, chất dinh dưỡng vào cơ thể nhằm mục đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh Trong điều trị và chăm sóc người bệnh, tiêm có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong trường hợp người bệnh cấp cứu, người bệnh nặng Hàng năm, toàn thế giới có khoảng 16

tỉ mũi tiêm, 90% - 95% mũi tiêm nhằm mục đích điều trị, chỉ 5% - 10% mũi tiêm dành cho dự phòng Tuy vậy, khoảng 70% các mũi tiêm sử dụng trong điều trị không thực sự cần thiết và có thể thay thế được bằng thuốc

nước đang phát triển là không an toàn và tiêm không an toàn có thể gây ra những biến chứng như: áp xe, teo cơ tại vùng tiêm, sốc phản vệ và đặc biệt là nguy cơ lây truyền các Virus qua đường máu như viêm gan B, viêm gan C và HIV cho cả người bệnh, nhân viên y tế và cộng đồng Ước tính: 4,4% ca nhiễm HIV, 39% ca nhiễm HBV và HCV là do tổn thương nghề nghiệp[19],[23] Nhiễm khuẩn chéo sang nhân viên y tế khác và sang người bệnh (NB) có thể

từ tay nhân viên y tế (NVYT), thuốc, thiết bị và dụng cụ y tế hoặc bề mặt môi trường Do đó, các kỹ thuật và quy trình tiêm an toàn góp phần đảm bảo an toàn cho NB và NVYT[18]

WHO đã thành lập mạng lưới tiêm an toàn toàn cầu (viết tắt là SIGN) vào năm 1999 và đã đưa ra sáu giải pháp toàn cầu về an toàn người bệnh, trong đó biện pháp đảm bảo an toàn khi dùng thuốc và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện liên quan trực tiếp đến tiêm an toàn là công việc hàng ngày Tại Việt Nam, Hội Điều dưỡng Việt Nam đã phát động phong trào tiêm

an toàn trong toàn quốc từ năm 2000 Bộ Y tế ban hành Quyết định BYT ngày 27/09/2012 “Hướng dẫn tiêm an toàn trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” và thông tư 07/2011/TT-BYT năm 2011 “Hướng dẫn công tác chăm sóc người bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” cũng đề cập đến tiêm an toàn Trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức và thực hành tiêm tại các bệnh viện và kết quả đã chỉ ra rằng kiến thức và nhất là

Trang 6

3671/QĐ-thực hành tiêm an toàn của các điều dưỡng viên tại các bệnh viện còn rất nhiều hạn chế, tỷ lệ mũi tiêm đạt đầy đủ các tiêu chí mũi tiêm an toàn giao động từ 2,88% đến 35,3%[14]

Đến thời điểm hiện nay, tại BVTT tỉnh Ninh Bình đã và đang thực hiện việc giám sát cũng như đánh giá sự tuân thủ thực hiện mũi tiêm an toàn của điều dưỡng trong toàn bệnh viện theo hàng tuần, hàng tháng và hàng quý Kết quả thu được, hầu hết các mũi tiêm đều được thực hiện theo đúng hướng dẫn

về tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh – ban hành kèm theo quyết định 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ y tế Tuy nhiên, vẫn còn có một số bước trong quy trình, ở một số thời điểm và một số điều dưỡng thực hiện chưa thật đầy đủ Bệnh viện tâm thần là 1 bệnh viện chuyên khoa đặc biệt, trong đó có những bệnh nhân có rối loạn hành vi chống đối không tiêm nên việc thực hiện tiêm an toàn lại càng khó khăn Do vậy, trong báo cáo chuyên đề về TAT này, tôi xin được đưa ra một số nhận xét về “Thực trạng tuân thủ quy trình tiêm an toàn của điều dưỡng tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Ninh Bình năm 2022” nhằm thực hiện mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng tuân thủ quy trình tiêm an toàn của điều dưỡng tại BVTT tỉnh Ninh Bình năm 2022

2 Đề xuất một số giải pháp để tăng cường tuân thủ quy trình tiêm an toàn của điều dưỡng tại BVTT tỉnh Ninh Bình năm 2022

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

Theo WHO[19], tiêm an toàn là một quy trình tiêm không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho người thực hiện mũi tiêm và không tạo chất thải nguy hại cho người khác và cộng đồng

Mũi tiêm không an toàn là mũi tiêm có từ một tiêu chí thực hành không đạt trở lên bao gồm những đặc tính sau: dùng bơm tiêm, kim tiêm không vô khuẩn, tiêm không đúng thuốc theo chỉ định; không thực hiện đúng các bước của quy trình tiêm; các chất thải, đặc biệt là chất thải sắc nhọn sau khi tiêm không phân loại và cô lập ngay theo quy chế quản lý chất thải của Bộ y tế[6]

Kỹ thuật đậy nắp kim một tay: NVYT cầm Bơm kim tiêm một tay và đưa đầu nhọn của kim vào phần nắp được đặt trên một mặt phẳng, sau đó dùng hai tay đậy nắp

Xử lý các vật sắc nhọn sau khi tiêm: Phân loại chất thải ngay tại nguồn,

cô lập ngay các vật sắc nhọn vào thùng kháng thủng đủ tiêu chuẩn, không đậy nắp kim, không uốn cong hoặc bẻ gãy kim[1]

Tiêm bắp là việc đưa mũi tiêm vào phần thân của cơ bắp với góc kim từ 600

-900 so với mặt da (không ngập hết phần thân kim tiêm), thường chọc các vị trí sau: Cánh tay: 1/3 trên mặt trước ngoài cánh tay; Vùng đùi: 1/3 giữa mặt trước ngoài đùi; Vùng mông; ¼ trên ngoài mông hoặc 1/3 trên ngoài đường nối từ gai chậu trước trên với mỏm xương cụt

Tiêm dưới da là kỹ thuật tiêm sử dụng Bơm kim tiêm để đưa thuốc vào

mô liên kết dưới da của người bệnh, kim chếch 300-450 so với mặt da Vị trí tiêm thường 1/3 giữa mặt trước ngoài cánh tay (đường nối từ mỏm vai đến mỏm khuỷu chia làm 3 phần) hay 1/3 giữa mặt trước ngoài đùi (đường nối từ gai chậu trước trên đến bờ ngoài xương bánh chè) hoặc dưới da bụng (xung quanh rốn, cách rốn 5 cm)

Trang 8

Tiêm trong da là mũi tiêm nông giữa lớp thượng bì và hạ bì, đâm kim chếch với mặt da 100-150, tiêm xong tạo thành một cục sẩn như da cam trên mặt da Thường chọc kim nơi vùng da mỏng, ít va chạm, trắng, không có sẹo, không có lông Vị trí thường là 1/3 trên mặt trước trong cẳng tay

1.1.2 Quan điểm và chính sách về tiêm an toàn

1.1.2.1 Trên thế giới

Trên thế giới, tiêm được ứng dụng trong điều trị từ những năm 1920 và thịnh hành từ chiến tranh thế giới thứ II sau khi Penicilline được phát minh và đưa vào sử dụng rộng rãi WHO ước tính hằng năm tại các nước đang phát triển có khoảng 16 tỷ mũi tiêm, trong đó 95% mũi tiêm với mục đích điều trị, 3% mũi tiêm là tiêm chủng, 1% mũi tiêm với mục đích kế hoạch hóa gia đình, 1% mũi tiêm được sử dụng trong truyền máu và các chế phẩm của máu[21] Theo nghiên cứu “gánh nặng toàn cầu của bệnh do tiêm bị ô nhiễm được đưa ra trong các thiết lập chăm sóc sức khỏe” của Hauri và cộng sự cho thấy trung bình mỗi người nhận 3,4 mũi tiêm, trong đó 39,3% sử dụng bơm tiêm dùng lại Trong năm 2000, nhiễm khuẩn do tiêm gây ra ước tính khoảng 21 triệu ca nhiễm HBV, 2 triệu ca nhiễm HCV và 260.000 ca nhiễm HIV tương ứng chiếm tỷ lệ 32%, 40% và 5%, các ca bệnh nhiễm trùng mới này cho một gánh nặng 9.177.679 DAILYs giữa năm 2000 đến năm 2030[20]

Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) và

an toàn trong tiêm, những khó khăn của các nước thành viên và sự trách nhiệm của mình trước sự an toàn trong chăm sóc y tế, WHO đã thành lập mạng lưới TAT toàn cầu (SIGN) vào năm 1999 Mục đích của SIGN là giảm tần số tiêm và thực hiện TAT, cải thiện chính sách, quy trình kỹ thuật tiêm, thay đổi hành vi của người sử dụng và người cung cấp dịch vụ tiêm

Từ đó đến nay, SIGN đã xây dựng và ban hành chiến lược an toàn trong tiêm trên toàn thế giới và nhiều tài liệu hướng dẫn liên quan đến tiêm Với chính sách của SIGN đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong nhận thức, hành vi của NB và cộng đồng, đặc biệt với chiến lược hỗ trợ về truyền thông, kỹ thuật

Trang 9

và thiết bị cho các nước chậm phát triển đã dần nâng cao tỷ lệ TAT và góp phần giảm thiểu các nguy cơ và gánh nặng của tiêm không an toàn tại mỗi quốc gia và trên toàn thế giới

1.1.2.2 Tại Việt Nam

Thực hiện khuyến cáo và được sự hỗ trợ kỹ thuật của WHO năm 2010,

Bộ trưởng Bộ y tế Việt Nam ra quyết định số 2642/QĐ-BYT ngày 21 tháng 7 năm 2011 thành lập ban soạn thảo các tài liệu hướng dẫn KSNK, trong đó có hướng dẫn TAT Ngày 27 tháng 9 năm 2012, Bộ y tế đã ban hành hướng dẫn TAT tại quyết định số 3671/QĐ-BYT với nhiều nội dung cập nhật so với quy trình tiêm hiện đang được thực hiện và yêu cầu: (a) các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tài liệu này để tập huấn, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc cung ứng phương tiện tiêm, thuốc tiêm và thực hành TAT tại đơn vị mình; (b) các cơ sở đào tạo điều dưỡng, các trường đại học, cao đẳng và trung học y tế sử dụng tài liệu này để cập nhật chương trình, tài liệu đào tạo; (c) các

cá nhân liên quan đến thực hành tiêm, cung ứng phương tiện và thuốc tiêm, các nhân viên thu gom chất thải y tế sử dụng tài liệu này trong thực hành, kiểm tra, giám sát nội dung tiêm, truyền tĩnh mạch ngoại vi[1].Ngày 02 tháng 8 năm 2013, Cục quản lý khám, chữa bệnh, Bộ y tế cũng đã có công văn số 671/KCB-ĐDV yêu cầu các đơn vị trực thuộc trong toàn quốc tổ chức, thực hiện nghiêm túc Hướng dẫn TAT

1.1.2.3 Một số nội dung cập nhật trong hướng dẫn thực hiện tiêm an toàn Giảm hoặc loại bỏ các mũi tiêm không cần thiết

Cần tiến hành các biện pháp cả hành chính và tuyên truyền nhằm tăng cường nhận thức của người bệnh và nhân viên y tế về tác hại của lạm dụng tiêm Biện pháp hành chính: giám sát việc kê đơn thuốc cho người bệnh theo đúng quy định tại điều 3, khoản 6, mục b của thông tư 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 về việc hướng dẫn sử dụng thuốc trong cơ sở khám, chữa bệnh có giường bệnh là “bác sỹ chỉ kê đơn thuốc tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng yêu cầu

Trang 10

điều trị hoặc với thuốc chỉ dùng đường tiêm”[7] Phương thức tuyên truyền gồm: tổ chức các lớp tập huấn về TAT, tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học để báo cáo các kết quả nghiên cứu, kết quả khảo sát liên quan đến tiêm; in ấn các

tờ rơi, pano áp phích, xây dựng những đoạn băng video để tuyên truyền tại các cơ sở y tế và trên các phương tiện truyền thông giáo dục sức khỏe và tác hại lạm dụng thuốc tiên và tiêm không an toàn

Bảo đảm đầy đủ các phương tiện, dụng cụ, thuốc cho kỹ thuật tiêm Cung cấp đủ phương tiện tiêm như: bơm tiêm vô khuẩn, sử dụng một lần, đảm bảo đủ kích cỡ, yêu cầu chuyên môn và lưu ý đến an toàn cho người tiêm, cộng đồng

Trang bị đủ các phương tiện vệ sinh tay như: lắp đặt đủ các bồn rửa tay ở buồng bệnh, buồng thủ thuật Cung cấp đủ nước và xà phòng, khăn lau tay sạch cho mỗi lần rửa tay hoặc dung dịch sát khuẩn tay nhanh có chứa cồn treo hoặc đặt sẵn trên các xe tiêm Khuyến khích cung cấp gạc miếng tẩm cồn dùng cho một lần thay thế hộp chứa bông cồn như hiện nay WHO khuyến cáo, không sát khuẩn da trước tiêm còn tốt hơn sử dụng bông tẩm cồn không sạch để sát khuẩn da

Các phương tiện thu gom chất thải y tế sau tiêm theo đúng quy định tại thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của liên bộ Bộ y tế và Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành quy chế Quản lý chất thải y tế[6].Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của điều dưỡng trưởng và mạng lưới KSNK và tuân thủ vệ sinh tay, tuân thủ quy trình tiêm, truyền dịch và KSNK

1.2 Cơ sở thực tiễn

Năm 2009, trong nghiên cứu của Phan Thị Dung và cộng sự[11] tiến hành điều tra cắt ngang bằng phiếu quan sát các chỉ số tiêm an toàn với các chỉ tiêu: loại mũi tiêm; vị trí tiêm; loại bơm kim tiêm; trên xe tiêm có hộp kháng thủng đựng VSN; hộp chống sốc đúng quy định, rửa tay/sát khuẩn tay trước và sau khi tiêm; sát khuẩn vị trí bẻ ống thuốc/nắp cao su của lọ thuốc; sát khuẩn vị trí tiêm đúng quy định; xác định đúng vị trí tiêm; dùng hai tay đậy lại nắp kim

Trang 11

tiêm tại 12 khoa lâm sàng của bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức Kết quả báo cáo cho thấy 51% không rửa tay/sát khuẩn tay nhanh trước khi tiêm; 66,6% không sát khuẩn vị trí bẻ ống thuốc/sát khuẩn nắp cao su lọ thuốc; 3,1% sát khuẩn da vị trí tiêm không đúng kỹ thuật; 45,7% dùng 2 tay đậy lại nắp kim tiêm; 38,7% không rửa tay/sát khuẩn tay nhanh sau tiêm Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp: Tổ chức đào tạo lại liên tục về tiêm an toàn cho đội ngũ điều dưỡng của bệnh viện Tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện quy trình tiêm, truyền Tăng cường truyền thông giáo dục về nguy

cơ tiêm truyền không an toàn Tăng cường công tác phân loại, thu gom và quản lý chất thải y tế (đặc biệt là rác thải y tế là vật sắc nhọn nhiễm bẩn) Phan Cảnh Chương và cộng sự đã tiến hành đánh giá thực trạng tiêm an toàn tại bệnh viện Trung Ương Huế năm 2010[10] Kết quả cho thấy, trung bình có 5456 mũi tiêm/ngày thực hiện tại bệnh viện Trung Ương Huế và có trung bình 16,8 mũi tiêm/điều dưỡng (lớn hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Hội Điều dưỡng Việt Nam năm 2005 là 10 mũi tiêm/điều dưỡng/ngày) cho thấy nguy cơ rất lớn khi thực hành tiêm Tiêm tĩnh mạch chiếm tỷ lệ cao nhất (75,7%) trong các đường tiêm Các dụng cụ phương tiện để thực hành tiêm an toàn đã được chuẩn bị đầy đủ hơn so với tỷ lệ khảo sát lần 01 ngay sau khi kết thúc tập huấn Điều dưỡng đã thay đổi hành vi và các thói quen không đúng khi thực hành tiêm: Rửa tay/sát khuẩn tay nhanh trước khi chuẩn bị dụng cụ (91,7%); kiểm tra sự nguyên vẹn của bơm tiêm (94,8%); rút thuốc không chạm tay vào vùng vô khuẩn (92,6%); sát khuẩn vị trí tiêm đúng quy định (94,8%); điều dưỡng đã giao tiếp, quan sát người bệnh trước, trong và sau khi tiêm (95,7%); rửa tay ngay sau khi kết thúc mũi tiêm (93,3%); không dùng tay đậy nắp kim (95,8%) Kỹ thuật tiêm do điều dưỡng thực hiện là rất tốt song cũng cần khuyến cáo với các tỷ lệ qua nghiên cứu này: Kim tiêm chưa đảm bảo vô khuẩn cho đến khi tiêm (7,4%); thời gian bơm thuốc (1ml/10 giây) chưa đúng quy định (17,7%)

Trang 12

Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp tăng cường TAT: (1) đưa chương trình TAT vào nội dung giảng dạy tại các trường đào tạo điều dưỡng; (2) đưa tiêu chuẩn TAT vào đánh giá, kiểm tra chất lượng bệnh viện hàng năm; (3) tăng cường kiểm soát việc kê đơn của bác sỹ nhằm giảm chỉ định thuốc tiêm không cần thiết thông qua các hoạt động đi buồng của trưởng khoa, Giám đốc hoặc bình bệnh án;(4) cung cấp đủ các phương tiện phục vụ thực hiện TAT; (5) thiết lập và duy trì hệ thống báo cáo tai nạn rủi ro nghề nghiệp do VSN; (6) tăng cường công tác kiểm tra giám sát, kiểm tra thực hành TAT tại các khoa lâm sàng của Điều dưỡng trưởng khoa và phòng Điều dưỡng; (7) tăng cường công tác huấn luyện, đào tạo TAT cho nhân viên điều dưỡng mới tuyến dụng

Theo một nghiên cứu của BV đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2011,“đánh giá thực trạng tiêm an toàn tại các khoa lâm sàng BV đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2011”[13], tiến hành trên 323 điều dưỡng của các khoa lâm sàng, với mục tiêu: đánh giá kiến thức, thực hành về tiêm an toàn của Điều dưỡng; đánh giá

tỷ lệ rủi ro do VSN đâm vào tay khi thực hiện các mũi tiêm của Điều dưỡng; xác định các yếu tố liên quan đến TAT Kết quả cho thấy: các tiêu chuẩn đánh giá về tiêm an toàn đều đạt khá cao, an toàn cho người nhận mũi tiêm 84%, an toàn cho người thực hiện mũi tiêm là 95%, an toàn cho cộng đồng là 97%, sử dụng dụng cụ thích hợp 99%; tỷ lệ về kiến thức TAT là 72%, tỷ lệ thực hành TAT là 80,5%; tỷ lệ VSN đâm vào tay là 2,2% nhỏ hơn nghiên cứu của bệnh viện Nhi Trung Ương và BV huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình năm 2008 là 37,8%; những điều dưỡng dùng hai tay đậy lại nắp kim tiêm thì nguy cơ bị VSN đâm vào tay cao gấp 9,323 lần điều dưỡng sử dụng kỹ thuật núc nắp kim tiêm rồi đậy nắp lại; những điều dưỡng được tập huấn về TAT thì biết cách xử

lý VSN đâm vào tay cao gấp 17,11 lần điều dưỡng không được tập huấn Đặc biệt có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thực hiện mũi tiêm an toàn giữa điều dưỡng được tập huấn TAT và điều dưỡng không được tập huấn, những điều dưỡng được tập huấn TAT thì thực hiện TAT cao gấp 22,32 lần những

Trang 13

điều dưỡng không được tập huấn Và, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp để triển khai thực hiện tốt hơn nữa TAT: tăng cường công tác đào tạo, tập huấn về TAT để cung cấp kiến thức và thông tin mới cho điều dưỡng

từ đó giúp điều dưỡng thực hiện tốt về TAT; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát điều dưỡng trong việc thực hiện TAT

Kết quả nghiên cứu của Phan Văn Tường và cộng sự[15] cho thấy: trung bình mỗi ngày cơ 1062 mũi tiêm, mỗi NB nhận 3,1 mũi tiêm, số mũi tiêm trung bình mỗi khoa là 46 mũi, số mũi tiêm tĩnh mạch chiếm tỷ lệ cao nhất (85,1%), tiêm bắp (3,6%); 37,6 % điều dưỡng bị chấn thương do VSN, nguyên nhân gây chấn thương nhiều nhất do sơ xuất chiếm 75,6%, các chấn thương do VSN trong khi tiêm phần lớn ở vị trí ngón tay (97,6%); có 82,6% điều dưỡng có kiến thức về TAT, thực hành đúng về TAT đạt 22,2% Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu nhằm thực hiện TAT tốt hơn nữa: tăng cường công tác vô khuẩn, phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm do tai nạn thương tích; tăng cường đào tạo nâng cao kiến thức và kỹ năng, truyền thông giáo dục nâng cao kiến thức, nhận thức và ý thức về nguy cơ của tiêm; cần có chương trình giám sát và đánh giá TAT thường xuyên, các kết quả và thông tin liên quan phải được báo cáo lãnh đạo

và phổ biến tới toàn thể nhân viên trong bệnh viện; tăng cường kiểm tra giám sát và các chế tài thưởng phạt, khen thưởng, tiến hành các nghiên cứu đánh giá về TAT; nội dung đào tạo/tập huấn về TAT cần chú trọng các nguyên tắc

vô khuẩn, vệ sinh tay trước khi tiêm, vô khuẩn khi lấy thuốc và vô khuẩn kim tiêm, tăng cường các kỹ năng giao tiếp, ứng xử với người bệnh

Trong một nghiên cứu của bệnh viện Da liễu Trung Ương về “tình hình tổn thương do vật sắc nhọn, kiến thức và thực hành tiêm an toàn tại bệnh viện

Da liễu Trung ương năm 2012”[16] cho thấy: (1) số mũi tiêm trung bình trong ngày một điều dưỡng cần thực hiện là 23,82 mũi tiêm/ngày làm việc, 92% điều dưỡng bị chấn thương do VSN trong năm vừa qua, nguyên nhân nhiều nhất là do vỏ lọ thuốc/lọ nước cất 61,5%, tổn thương do kim vô khuẩn chiếm

Trang 14

30,6% và do kim nhiễm khuẩn chiếm 7,9%; tình huống bị thương cho điều dưỡng trong năm chiếm lệ cao nhất là khi điều dưỡng lấy thuốc 97,8%, trong khi dọn dụng cụ chiếm 73,9%, khi rút kim ra khỏi người bệnh là 30,4%, đóng nắp và tách kim tiêm bẩn ra khỏi bơm tiêm là 21,7%; (2) kiến thức có liên quan khá chặt chẽ với thực hành TAT của điều dưỡng (r = 0,42; P< 0,01) Số mũi tiêm phải thực hiện càng nhiều thì thực hành TAT nói chung và an toàn cho NB của điều dưỡng càng kém với hệ số tương quan đều là - 0,39 (P<0,01).Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp: (*) vì số lượng mũi tiêm trong ngày làm việc của Điều dưỡng là rất lớn và có mối liên quan rõ ràng giữa thực hành TAT với số lượng mũi tiêm Vì vậy, để bảo vệ cả NB lẫn NVYT đề nghị bệnh viện có giám sát phù hợp để hạn chế việc kê đơn thuốc tiêm không cần thiết; (**) bệnh viện cần chú trọng công tác phòng tránh tai nạn thương tích do VSN và xử lý, theo dõi kịp thời sau phơi nhiễm cho NVYT; (***) trong nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa kiến thức và thực hành tiêm an toàn của Điều dưỡng, do vậy bệnh viện nên chú trọng đến công tác đào tạo, tập huấn để nâng cao kiến thức cho Điều dưỡng Trong các nghiên cứu trên, dù được tiến hành tại các bệnh viện thuộc tuyến trung ương, tuyến tỉnh hay tuyến huyện nhưng kết quả cũng đều đưa ra một số các bước trong quy trình, một số yếu tố làm mất an toàn trong khi thực hiện mũi tiêm như: số mũi tiêm trung bình trong ngày mà một ĐDV phải thực hiện là rất lớn; không sát khuẩn tay nhanh trước khi thực hiện tiêm; sát khuẩn

da vùng tiêm không đúng; dùng hai tay đậy nắp kim tiêm; kim tiêm không đảm bảo vô khuẩn đến lúc tiêm

Trang 15

Chương 2

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 2.1 Tổng quan về Bệnh viện Tâm thần tỉnh Ninh Bình

BVTT tỉnh Ninh Bình là một BV hạng III, với quy mô 150 giường (được

Sở Y tế giao chỉ tiêu), với 110 cán bộ nhân viên; 3 khoa lâm sàng, 1 khoa khám bệnh cận lâm sàng, 1 khoa kiểm soát nhiễm khuẩn và các phòng chức năng; số người bệnh nằm điều trị nội trú trung bình: 150-200 người bệnh/ngày

Hệ thống điều dưỡng thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh tại các khoa lâm sàng có tổng số 47 cán bộ, số cán bộ điều dưỡng trực tiếp được đánh giá thực hiện mũi tiêm an toàn trong thời gian thực hiện khảo sát là 40 điều dưỡng Trong số cán bộ điều dưỡng được đánh giá này thì độ tuổi trung bình ~ 27 tuổi, thấp hơn so với nhóm điều dưỡng tham gia nghiên cứu của Hà Thị Kim Phượng là 28 tuổi[13] Phần lớn các điều dưỡng này có tuổi đời còn rất trẻ, kinh nghiệm nghề nghiệp nói chung và thực hành tiêm nói riêng còn chưa nhiều, thâm niên công tác < 5 năm chiếm tỷ lệ cao (63%) Về tuổi đời của điều dưỡng còn trẻ là phù hợp với đặc điểm của BVTT tỉnh Ninh Bình vì trong 10 năm trở lại đây, quy mô bệnh viện được mở rộng Cùng với đó, một

số lượng lớn đội ngũ điều dưỡng trẻ được tuyển dụng mới để đáp ứng với quy

mô bệnh viện và bù vào số nhân lực điều dưỡng được nghỉ hưu theo chế độ

Về kinh nghiệm thực hành tiêm, trên thực tế kỹ thuật thực hành điều dưỡng phụ thuộc vào kinh nghiệm thực hành của điều dưỡng, chính do điều này Bệnh viện đã có kế hoạch và tổ chức thực hiện bồi dưỡng thêm chuyên môn nghiệp vụ cho điều dưỡng mới để họ có thêm kỹ năng thực hành, kinh nghiệm công tác để thực hiện tốt thực hành TAT

Tỷ lệ điều dưỡng là nữ giới chiếm tỷ lệ cao (75% là nữ, 25% là nam) Điều này phù hợp với tình hình nhân sự ở đa số BV và ở BVTT tỉnh Ninh Bình Về trình độ chuyên môn của điều dưỡng khi thực hiện mũi tiêm, phần lớn là điều dưỡng cao đẳng (70%)

Trang 16

2.2 Thực trạng tuân thủ tiêm an toàn của điều dưỡng tại BVTT tỉnh Ninh Bình

2.2.1 Phương pháp thực hiện

Thời điểm đánh giá: từ tháng 06 năm 2022 đến tháng 07 năm 2022 tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Ninh Bình Đối tượng: Các điều dưỡng viên thường xuyên thực hiện mũi tiêm tại khoa lâm sàng thuộc BVTT tỉnh Ninh Bình Số lượng: Tiến hành đánh giá TAT trên 40 điều dưỡng tại 03 khoa lâm sàng, thực hiện quan sát mỗi điều dưỡng 03 lần tiêm, tổng số 120 mũi tiêm truyền bất kỳ Nội dung đánh giá gồm 03 tiêu chuẩn: An toàn cho người nhận mũi tiêm, an toàn cho người tiêm và an toàn cho cộng đồng Công cụ đánh giá: Bảng kiểm 17 tiêu chuẩn mũi tiêm an toàn Sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp quá trình điều dưỡng thực hiện mũi tiêm

2.2.2 Kết quả

2.2.2.1 Một số thông tin chung về đối tượng

Biểu đồ 2 1 Trình độ của Điều dưỡng được khảo sát

Đa số các điều dưỡng viên được quan sát có trình độ Cao đẳng (70%), phù hợp với tình hình nhân lực chung của BVTT tỉnh Ninh Bình 69.2% Điều dưỡng cao đẳng

Trang 17

Biểu đồ 2 2 Thâm niên công tác

Đa số các điều dưỡng viên có thời gian công tác 05-10 năm (60%),là những điều dưỡng đã được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, điều dưỡng dưới 05 năm cao (20%), nhóm điều dưỡng trên 15 năm chiếm tỷ

lệ thấp (5%)

2.2.2.2 Thực trạng số mũi tiêm

Khoa điều trị bệnh nhân Nam: 3

Khoa điều trị tổng hợp: 1

Khoa Điều trị bệnh nhân Nữ:2

Biểu đồ 2 3 Số mũi tiêm trung bình/bệnh nhân/ngày theo khoa

Ngày đăng: 21/04/2023, 23:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ y tế (2012), Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Quyết định số 3671/QĐ-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2012
2. Bộ y tế (2009), Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Thông tư 18/2009/TT- BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2009
3. Bộ Y tế (2011), Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong BV, Thông tư 07/2011/TT-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong BV
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
4. Bộ Y tế (2008), Quyết định về việc ban hành quy chế Cấp cứu, Hồi sức tích cực và Chống độc, Quyết định 01/2008/QĐ-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành quy chế Cấp cứu, Hồi sức tích cực và Chống độc
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
5. Bộ Y tế (2012), Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Quyết định 3671/QĐ-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
6. Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên &amp; môi trường (2015), Quy định về quản lý chất thải, thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về quản lý chất thải
Tác giả: Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên & môi trường
Năm: 2015
7. Bộ y tế (2011), Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh, thông tư 23/2011/TT-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2011
8. Bộ y tế (2020), Quyết định về việc ban hành tài liệu “hướng dẫn thực hiện quản lý, sử dụng kháng sinh trong bệnh viện”, Quyết định 772/QĐ- BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: hướng dẫn thực hiện quản lý, sử dụng kháng sinh trong bệnh viện
Tác giả: Bộ y tế
Nhà XB: Quyết định 772/QĐ- BYT
Năm: 2020
9. Nguyễn Thị Bích Liên (2019), Đánh giá thực trạng TAT của Điều dưỡng, Hộ sinh và yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng TAT của Điều dưỡng, Hộ sinh và yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Liên
Năm: 2019
10. Phan Cảnh Chương (2010), Khảo sát thực trạng TAT tại BV Trung ương Huế, Kỷ yếu đề tài Hội thảo khoa học điều dưỡng khu vực miền Trung mở rộng năm 2010, TP. Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng TAT tại BV Trung ương Huế
Tác giả: Phan Cảnh Chương
Nhà XB: Kỷ yếu đề tài Hội thảo khoa học điều dưỡng khu vực miền Trung mở rộng năm 2010
Năm: 2010
11. Phan Thị Dung (2009), Nghiên cứu khảo sát về tiêm an toàn tại bệnh viện Việt Đức năm 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khảo sát về tiêm an toàn tại bệnh viện Việt Đức năm 2009
Tác giả: Phan Thị Dung
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
12. Phạm Đức Mục (2005), Đánh giá kiến thức về TAT và tần xuất rủi ro do vật sắc nhọn đối với Điều dưỡng - Hộ sinh tại 8 tỉnh đại diện, 6 tháng đầu năm2005, Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng toàn quốc lần thứ II, Hội Điều dưỡng Việt Nam, Hà Nội, tr. 224-232 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức về TAT và tần xuất rủi ro do vật sắc nhọn đối với Điều dưỡng - Hộ sinh tại 8 tỉnh đại diện, 6 tháng đầu năm 2005
Tác giả: Phạm Đức Mục
Nhà XB: Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng toàn quốc lần thứ II
Năm: 2005
14. Hà Thị Kim Phượng (2014), Kiến thức, thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng viên và các yếu tố liên quan tại 3 bệnh viện trực thuốc Sở y tế Hà Nội năm 2014, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, trường Đại học Y tế công cộng,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng viên và các yếu tố liên quan tại 3 bệnh viện trực thuốc Sở y tế Hà Nội năm 2014
Tác giả: Hà Thị Kim Phượng
Nhà XB: Luận văn thạc sỹ y tế công cộng
Năm: 2014
15. Phan Văn Tường (2012), “Đánh giá thực hiện tiêm an toàn tại BVĐK Hà Đông, Hà Nội, năm 2012”, Tạp chí Y học thực hành, Bộ Y tế, 841 (số 9/2012), tr. 82-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực hiện tiêm an toàn tại BVĐK Hà Đông, Hà Nội, năm 2012
Tác giả: Phan Văn Tường
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2012
16. Đào Thu Thủy (2012), Tình hình tổn thương do vật sắc nhọn, kiến thức và thực hành tiêm an toàn tại bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tổn thương do vật sắc nhọn, kiến thức và thực hành tiêm an toàn tại bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2012
Tác giả: Đào Thu Thủy
Năm: 2012
17. Thủ tướng Chính phủ (2012), quyết định về việc quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế công lập và chế độ phụ cấp dịch, Quyết định 73/2011/QĐ- TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: quyết định về việc quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế công lập và chế độ phụ cấp dịch
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w