Trồng nấm có thể giúp giảm nguy cơ nghèo đói và tăng cường sinh kế thông qua việc tạo ra một nguồn thực phẩm năng suất, dinh dưỡng cao và một nguồn thu nhập đáng tin cậy. Vì không cần tiếp cận đất đai, trồng nấm là một hoạt động khả thi và hấp dẫn đối với cả nông dân nông thôn và cư dân ven đô. Trồng quy mô nhỏ không bao gồm bất kỳ khoản đầu tư vốn đáng kể nào: giá thể nấm có thể được chuẩn bị từ bất kỳ vật liệu phế thải nông nghiệp sạch nào và nấm có thể được sản xuất trong các nhà tạm sạch. Chúng có thể được trồng ở thời điểm nông nhàn, và nhu cầu chăm sóc ít. Bên cạnh đó, trồng nấm cũng tạo cơ hội cải thiện tính bền vững của các hệ thống canh tác nhỏ thông qua việc tái chế chất hữu cơ, có thể được sử dụng làm giá thể trồng trọt, sau đó được sử dụng làm phân bón
Trang 1Điểm thu mẫu Hình
Hoại sinh Hoại sinh trên đất Hoại sinh trên gỗ
Kí sinh Nấm độc Nhà xuất bản Page
Số mẫu Thực phẩm Thứ tự Trang
Trang 22
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nấm có thể được tìm thấy ở khắp mọi nơi trong đất giàu chất hữu cơ, mùn,
gỗ ẩm, chất thải của động vật, sau cơn mưa lớn hoặc nhiệt độ thay đổi đột ngột Theo ước tính của các nhà nghiên cứu khác nhau, có hơn 70.000 loài nấm trên thế giới Khoảng 2.000 loài (31 chi) chủ yếu là nấm ăn được, khoảng 1.800 loài là nấm dược liệu Tuy nhiên, khoảng 10% trong số đó là nấm độc, có khoảng 30 loài có thể gây chết người Theo báo cáo của Barros et al., hơn 3.000 nấm chủ yếu là loài ăn được, nhưng chỉ có 100 loài được trồng thương mại và chỉ có 10 loài được sử dụng
ở quy mô công nghiệp [81]
Ngày nay khi mà đời sống ngày càng cao, việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất nuôi trồng ngày càng nhiều thì nhu cầu sử dụng những sản phẩm tự nhiên, an toàn, sạch ngày càng được đặt lên hàng đầu Nhất là nhu cầu về ăn uống, ngày càng
có nhiều bài báo, kênh thông tin đại chúng tuyên truyền về ngộ độc thức ăn, trong thức ăn có các chất gây ung thư, thực phẩm bẩn không đảm bảo an toàn làm tâm lý nhiều người tiêu dùng rất hoang mang Khi mà những thực phẩm được mua ngoài các chợ, các siêu thị, các cửa hàng bày bán chính người tiêu dùng không biết được nguồn gốc xuất xứ ở đâu, thực phẩm có bảo đảm sạch, bảo đảm an toàn hay không? Việc khai thác, sử dụng các giá trị của nấm lớn góp phần giải quyết các vấn đề trên
Fekadu cho rằng, trong nấm chứa hàm lượng nước lớn (90%), protein 40%), chất béo (2-8%), carbohydrate (1-55%), chất xơ (3-32%) [81] Nấm là thực phẩm giàu dinh dưỡng, ít calo với protein, không chứa tinh bột, chứa nhiều vitamin
(2-B, C, D và nhiều khoáng chất như kali, phốt pho, canxi, magie, sắt và đồng [78] Nấm là thực phẩm, dược liệu giàu dinh dưỡng được công nhận bởi các ngành nghề
y tế trên toàn thế giới Nấm có 8 axit amin quan trọng, axit béo không bão hòa và một lượng nhỏ axit béo bão hòa và có giá trị dinh dưỡng cao hơn cá hoặc thịt bò
Nấm là thực phẩm giàu dinh dưỡng, ít calo và protein, giàu vitamin và các chất khoáng Là một nguồn thực phẩm tự nhiên quan trọng và là thuốc Nhờ có chất
xơ cao, ít chất béo và ít tinh bột, nấm ăn được coi là thực phẩm lý tưởng cho người béo phì và bệnh nhân tiểu đường để ngăn ngừa tăng đường huyết Chúng cũng được biết đến với các tác dụng chống oxy hóa, tim mạch, tăng cholesterol máu, kháng khuẩn, bảo vệ gan và chống ung thư đầy hứa hẹn [81] Một số loài được ứng dụng trong công nghệ dược phẩm, được dùng để điều chế các hoạt chất điều trị bệnh như:
Ganoderma lucidum thành phần quan trọng bao gồm β-glucans có tác dụng chống
ung thư, tăng cường hệ miễn dịch; ling zhi-8 protein chống dị ứng, điều hòa miễn dịch; acid ganodermic-triterpenes chất chống dị ứng, giảm cholesterol và hạ huyết áp [61]
Nấm đông trùng hạ thảo – Isaria cicadae là một trong những loại thuốc
truyền thống có giá trị nhất của Trung Quốc và đã được sử dụng khoảng 1.600 năm
trước tại Trung Quốc, Isaria cicadae có nhiều chức năng sinh học do có chứa các
chất có hoạt tính sinh học như N6-(2-hydroxyethyl) adenosine (HEA) có tác dụng giảm đau, được sử dụng trong điều trị ung thư; Ergosterol và Peroxit của nó có tác dụng chống oxy hóa và là tiền chất của vitamin D2, chống khối u, viêm, virus và chống xơ vữa động mạch; Cyclic Heptapeptide có tác dụng chống co giật và khối u, chữa rối loạn nhịp tim và an thần; Polysaccharide có tác dụng chống bức xạ và
Trang 33
chống lão hóa, được sử dụng để làm đẹp và giữ ẩm cho da, hạ đường huyết, Polysaccharide có nguồn gốc từ sợi nấm đông trùng hạ thảo thúc đẩy sự trưởng thành của các tế bào đuôi gai, do đó tạo ra các phản ứng miễn dịch chống khối u [82]
Ngoài vai trò dược liệu, nấm còn được biết đến với hoạt tính kháng khuẩn Hoạt tính kháng khuẩn của nhiều chiết xuất dung môi như metanol, ethanol, acetone
và dịch chiết của nấm G lucidum có tác dụng chống lại 6 loài vi khuẩn E coli, S aureus, K pneumoniae, B subtilis, S typhi và P aeruginosa Chiết xuất methanolic của 6 loại nấm hoang dã (L perlatum, C cibarius, C vermiculris, R formosa, M oreades, P pulmonarius) cho thấy hoạt tính kháng khuẩn chống lại B subtilis, S aureus , E coli, P aeruginosa và Candida albicans Hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm của methanol được chiết xuất từ nước của quả thể Phellinus có tác dụng chống lại 5 mầm bệnh vi khuẩn như E coli, P aeruginosa, S typhi, S aureus và Streptococcus mutans và 5 chủng nấm Penicillium sp., Aspergillus fumigatous, Aspergillus niger, Aspergillus flavus và Mucor notifyus [81]
Nấm là một mắc xích đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi vật chất trong hệ sinh thái – phân hủy các nguồn vật liệu hữu cơ trả lại cho môi trường Nhóm nấm hoại sinh là nhóm nấm có quy mô đông nhất, có vai trò giải phóng các enzyme để phá vỡ và tiêu hóa lignin, cellulose hoặc chitin trong xác thực vật hoặc động vật thành các hợp chất hòa tan đơn giản để thực vật hấp thụ và làm chất dinh dưỡng Vì vậy nấm đóng vai trò quan trọng trong việc giảm sự tích tụ của nguồn vật liệu hữu cơ và tái chế thành các hợp chất dinh dưỡng thiết yếu, đặc biệt là carbon và nitơ
Trồng nấm có thể giúp giảm nguy cơ nghèo đói và tăng cường sinh kế thông qua việc tạo ra một nguồn thực phẩm năng suất, dinh dưỡng cao và một nguồn thu nhập đáng tin cậy Vì không cần tiếp cận đất đai, trồng nấm là một hoạt động khả thi và hấp dẫn đối với cả nông dân nông thôn và cư dân ven đô Trồng quy mô nhỏ không bao gồm bất kỳ khoản đầu tư vốn đáng kể nào: giá thể nấm có thể được chuẩn bị từ bất kỳ vật liệu phế thải nông nghiệp sạch nào và nấm có thể được sản xuất trong các nhà tạm sạch Chúng có thể được trồng ở thời điểm nông nhàn, và nhu cầu chăm sóc ít Bên cạnh đó, trồng nấm cũng tạo cơ hội cải thiện tính bền vững của các hệ thống canh tác nhỏ thông qua việc tái chế chất hữu cơ, có thể được
sử dụng làm giá thể trồng trọt, sau đó được sử dụng làm phân bón [78]
Hiện nay, khu hệ nấm lớn Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng chưa được nghiên cứu một cách hoàn chỉnh Trong đó, huyện Phú Vang là địa bàn chưa được nghiên cứu Phú Vang là một huyện đồng bằng ven biển, đầm phá của tỉnh Thừa Thiên Huế Địa hình, đất đai của Phú Vang thuộc vùng đất trũng, có diện tích đầm phá lớn, đất đai bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, doi cát Đất đai ở đây chủ yếu là đất nông nghiệp và mặt nước nuôi trồng thủy sản Tiềm năng đất chưa khai thác còn lớn, chiếm 42,3% tổng diện tích đất tự nhiên Tuy nhiên, tỉ lệ đất chưa sử dụng có thể chuyển sang gieo trồng không lớn, chủ yếu là các cồn cát, đất bãi cát Đất mặt nước chưa sử dụng chủ yếu là ao hồ, đầm phá [72] Vì vậy, khu hệ nấm ở đây đa dạng về thành phần loài và dạng sống Nhưng, nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đây vẫn chưa được nghiên cứu hoàn chỉnh Việc nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở huyện Phú Vang nhằm xác định thành phần loài, bổ sung cho danh mục khu hệ nấm ở Thừa Thiên Huế cũng như hệ nấm ở Việt Nam; đánh giá tính đa dạng
Trang 44
sinh học và giá trị tài nguyên của nấm; xác định các loài quý hiếm, loài nguy cấp và loài có tiềm năng lớn trong công nghiệp sinh học, dược phẩm, kinh tế quốc dân là rất cần thiết đồng thời bảo tồn và phát triển nguồn gen của những loài quý hiếm để bảo vệ sự đa dạng sinh học ở Việt Nam và trên thế giới
Về cả phương diện khoa học và thực tiễn, đẩy mạnh nghiên cứu nấm có ý nghĩa to lớn Việc đánh giá mức độ đa dạng các loài nấm lớn của huyện Phú Vang
là một yêu cầu cơ bản tạo cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và khai thác bền vững nguồn tài nguyên này
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”
2 Mục tiêu đề tài
Với đề tài này, mục tiêu cụ thể là:
- Xác định được danh lục loài nấm lớn ở huyện Phú Vang
- Xác định sự phân bố của nấm lớn huyện Phú Vang
- Xác định được phương thức sống của các loài nấm lớn ở huyện Phú Vang
- So sánh thành phần loài nấm lớn ở huyện Phú Vang với một số huyện khác
và thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Xác định giá trị sử dụng của các loài nấm lớn ở huyện Phú Vang
- Kết quả đề tài sẽ làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá hiện trạng, sử dụng
và bảo tồn tài nguyên nấm lớn của địa phương
Trang 55
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những kết quả nghiên cứu nấm lớn trên thế giới
Từ xa xưa, con người đã biết tận dụng các nguồn nguyên liệu tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu, mục đích của mình như thực phẩm, dược liệu, mỹ phẩm Nấm là một trong những tài nguyên thiên nhiên được con người biết đến và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Và bắt đầu có nhiều công trình nghiên cứu nấm ra đời
Con người đã biết sử dụng nấm làm thực phẩm cách đây 13.000 năm tại dãy Andes, đã được xác nhận thông qua hồ sơ khảo cổ học Cách đây hơn 3.000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng nấm làm thức ăn Tại Hy Lạp và La Mã cổ đại, nấm được đánh giá cao và được sử dụng ở những tầng lớp cao Người dân trên khắp miền Nam châu Phi đã ăn nấm trong nhiều thế kỷ [76]
Vào thế kỷ thứ IV trước Công nguyên, hai nhà bác học người Hy Lạp là Theosphraste và Aristote đã đề cập đến nấm cục (Tuberaceae) và nấm tán (Agaricaceae) trong tác phẩm của mình Đến thế kỷ thứ I sau Công nguyên, nhà tự nhiên học người La Mã Pline là người đầu tiên phân loại nấm dựa vào hình thái ngoài và giá trị kinh tế của nấm, chia nấm thành 2 nhóm: nhóm nấm ăn và nhóm nấm độc [89] Tuy nhiên, đến thế kỷ XVIII con người vẫn chưa hiểu biết nhiều về nấm Thời kỳ nấm học phát triển rực rỡ là cuối thế kỷ XVIII – XIX, với nhiều công trình nổi tiếng của nhiều tác giả Bulliard (1971 – 1815), Fries (1821 – 1838), Saccardo (1888), Karsten (1881 – 1889), Patouillard (1890 – 1928) [8]
Đầu thế kỷ XX, nấm học phát triển mạnh mẽ và trở thành một ngành khoa học nhiều công trình nghiên cứu về nấm xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới
Các nhà nấm học đã hình thành một số hệ thống phân loại khá ổn định ở châu Âu, Đông Phi, Bắc Mỹ như hệ thống của Ryvarden L và Johansen I (1980) [91] Gilbertson và Ryvarden (1986, 1993, 1994) [79], [80], [89], [90], Lincoff G
H (1988) [84] Trong thế kỷ XX, có nhiều công trình đã được công bố, tiêu biểu là các công trình của Rea C (1992), Beeli M., Roger Heim và nhiều tác giả khác (1936 – 1970), Imazeki R và Hongo J (1957), Rolf Singer (1962) [8]; Teng S C (1964) [96]; Steyaert R L (1972) [95]; Ryvarden L và Johansen I (1980) [91]; Alexander Smith và Nancy Smith Weber (1980) [93]; Gilbertson và Ryvarden (1986) [79]; Lincoff G H (1988) [84]; Zhao Ji Ding (1989) [100]
Cuối thế kỷ XX, nhiều tiêu chuẩn mới đã được sử dụng trong phân loại như: các phản ứng hóa học, sự phân tính, hệ sợi nấm, kiểu gây mục, đặc điểm nuôi cấy [79] Đặc biệt các đặc điểm về thành phần sinh hóa và cấu trúc phân tử ADN đã được ứng dụng trong phân loại nấm Hiện nay hệ thống nấm của một số tác giả đã được Ainsworth và Bisby’s tổng kết vào năm 1995 trong tác phẩm: “Dictionary of the Fungi” được xây dựng dựa vào những đặc điểm hình thái, sinh hóa và cấu trúc phân tử thể hiện được vị trí tự nhiên của loài, cho đến nay vẫn được nhiều người ủng hộ và sử dụng [75]
Tổng sản lượng nấm trên thế giới năm 1997 là 6.158.400 tấn tương đương với 14 tỉ USD (Chang, 1999) Sản lượng nấm trên thế giới vào năm 2002 là
Trang 6Sản lượng nấm ăn được trên thế giới đã tăng hơn 30 lần kể từ năm 1978 (từ 1
tỉ kg năm 1978 lên 34 tỉ kg năm 2013) Đây là một thành tựu phi thường khi xem xét số dân trên thế giới chỉ tăng khoảng 1,7 lần trong cùng thời kỳ (từ khoảng 4,2 tỉ vào năm 1978 lên khoảng 7,1 tỉ vào năm 2013) Do đó, tiêu thụ nấm trên đầu người
đã tăng với tốc độ tương đối nhanh, đặc biệt vào năm 1997 và hiện nay đã vượt quá 4,7 kg mỗi năm (so với 1 kg vào năm 1997) Trung Quốc là nước sản xuất nấm ăn lớn nhất Hơn 30 tỉ kg nấm đã được sản xuất tại đây vào năm 2014 và con số này chiếm khoảng 87% tổng sản lượng Các nước còn lại của châu Á sản xuất khoảng 1,3 tỉ kg, trong khi EU, châu Mỹ và các nước khác sản xuất khoảng 3,1 tỉ kg [97]
1.2 Những kết quả nghiên cứu nấm lớn ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ lâu nhân dân ta đã biết dùng nấm làm thực phẩm và dược
phẩm Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 – 1784) trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ”
và “Kiến văn tiểu lục” đã đánh giá “Linh chi là một sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam” với các tác dụng lớn như tráng kiện, bảo vệ gan, cường tâm, kiện vị,
cường phế, giải độc, giải cảm và giúp con người sống lâu tăng cường tuổi thọ [38]
Năm 1953, người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu về nấm là Phạm Hoàng Hộ,
với công trình “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” [43], ông đã tóm tắt 48 chi và 31 loài
nấm lớn Từ đây, bắt đầu có nhiều công trình nghiên cứu về hệ nấm ở Việt Nam ra đời Ở miền Nam, một số tác giả nghiên cứu về nấm như: Hoàng Thị Mỹ (1966), Joly (1968) Ở miền Bắc từ năm 1954 việc nghiên cứu nấm bắt đầu được tiến hành tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội với những công trình nghiên cứu tiêu biểu của
các tác giả như: Trịnh Tam Kiệt (1966) “Sơ bộ điều tra các loài nấm ăn và nấm độc chính ở một số vùng miền Bắc Việt Nam” [54], Trịnh Văn Trường (1970) “Góp phần nghiên cứu bộ Aphyllophorales ở Hà Nội” [52] đã mô tả 80 loài nấm sống trên
gỗ
Năm 1982, Ngô Anh và Trịnh Tam Kiệt công bố công trình “Góp phần nghiên cứu khu hệ nấm lớn Bình Trị Thiên”, các tác giả đã xác định được 111 loài
[1]
Năm 1984, Trịnh Tam Kiệt và Phan Huy Dục báo cáo “Góp phần nghiên cứu
họ nấm Coprinaceae Rose vùng Hà Nội” [47] với 29 loài Trần Văn Mão trong luận
án Phó Tiến sĩ với đề tài “Góp phần nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số nấm lớn phá hoại gỗ ở vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh” [60], tác giả đã
công bố 329 loài
Năm 1991, Phan Huy Dục công bố “Kết quả bước đầu điều tra bộ Agaricales Clements trên một số địa điểm thuộc đồng bằng Bắc bộ Việt Nam” [29],
tác giả đã nêu danh lục 56 loài
Năm 1992, Phan Huy Dục công bố “Nấm Linh chi – nguồn dược liệu quý hiếm cần được bảo vệ và nuôi trồng” [30]
Năm 1994, Phan Huy Dục công bố “Một số loài nấm hoang dại được dùng làm thực phẩm ở Việt Nam” [32], tác giả đã xác định 16 loài
Trang 77
Năm 1995, Trịnh Tam Kiệt và Lê Xuân Thám báo cáo “Những nghiên cứu
về họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk ở Việt Nam” [48], tác giả đã nêu danh
lục 43 loài nấm Linh chi, trong đó có 10 loài mới ghi nhận cho lãnh thổ Việt Nam
Năm 1996, Ngô Anh và Trịnh Tam Kiệt báo cáo về họ nấm Linh chi
Ganodermataceae Donk ở miền Trung Việt Nam tại hội nghị quốc tế về nấm tại Nhật Bản với đề tài “Study on the family Ganodermataceae Donk in the Central Region of Vietnam” [70], các tác giả đã nêu danh lục 30 loài nấm Linh chi ở miền
Trung Việt Nam, trong đó có 20 loài mới ghi nhận lần đầu tiên cho khu hệ nấm lớn
ở miền Trung Việt Nam Cùng năm này, Trịnh Tam Kiệt công bố “Danh lục nấm lớn của Việt Nam” tác giả đã xác định được 826 loài nấm lớn [49]
Trịnh Tam Kiệt (1998) công bố đặc điểm khu hệ nấm Việt Nam
“Charakteristika der GroBpilzflora Vietnams” và danh lục khu hệ nấm Việt Nam
“Preliminary checklist of macrofungi of Vietnam” với 837 loài nấm ở Việt Nam đã
được công bố và ghi nhận [68]
Hội nghị Sinh học toàn quốc Hà Nội (tháng 12 năm 1999), Ngô Anh báo cáo
“Nghiên cứu họ nấm Linh chi (Ganodermataceae) ở Thừa Thiên Huế” gồm 35 loài thuộc 2 chi Ganoderma và Amauroderma, trong đó có 10 loài mới ghi nhận cho khu
hệ nấm Việt Nam; Lê Xuân Thám, Trần Hữu Độ và Hoàng Nghĩa Dũng công bố
“Nghiên cứu công nghệ hóa tài nguyên nấm bào ngư, loài mới Pleurotus blaoensis Thám sp nov & Antromycopsis blaoensis Thám anam nov tìm được ở Bảo Lộc, Lâm Đồng”; Nguyễn Thị Chính, Kiều Thu Vân, Dương Đình Bi và Nguyễn Thị Đức Hiền báo cáo “Nghiên cứu một số hoạt chất sinh học và tác dụng chữa bệnh của nấm Linh chi Ganoderma lucidum” [68]
Năm 2000, tại Hội nghị Sinh học Quốc gia, những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu sinh học, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, U Grafe và J Dorfelt đã công bố
“Những dẫn liệu bổ sung về thành phần loài và hóa các hợp chất tự nhiên của khu
hệ nấm Việt Nam” [50], trong đó các tác giả đã công bố 65 loài mới của khu hệ nấm
Việt Nam và thông báo về các hợp chất tự nhiên được nghiên cứu ở 25 loài nấm Việt Nam, trong đó hơn 10 cấu trúc mới về các hợp chất tự nhiên ở nấm Việt Nam
đã được xác định cho khoa học Phan Huy Dục và Nasakazu Hiraide báo cáo “Kết quả bước đầu điều tra nghiên cứu nấm phá hoại gỗ ở rừng ngập mặn tại lâm – ngư trường Tam Giang 3, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau” đã công bố 20 loài [68]
Hội nghị châu Á (2000) về thực vật dược ở Bangladesh, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, P Kleinwachter và U Grafe đã báo cáo về các hợp chất nhóm sterol mới
lạ được chiết từ loài Ganoderma colossum của Việt Nam “New unusual sterol – type metabolites from a Vietnamese mushroom, Ganoderma colossum” [6]
Năm 2001, Hội thảo quốc tế sinh học tại Hà Nội có các báo cáo như: Ngô
Anh với công trình “Sự đa dạng về công dụng của khu hệ nấm ở Thừa Thiên Huế” gồm 326 loài trong 6 nhóm nấm có ích và có hại [6]; Phan Huy Dục báo cáo “Nấm Macromyces ở vườn Quốc gia Tam Đảo Vĩnh Phúc” công bố 41 loài, 17 họ trong 2
lớp Ascomycetes và Basidiomycetes; Trịnh Tam Kiệt và Henrich Dorfelt báo cáo
“Các taxon mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam và ý nghĩa của hệ thống sinh thái của chúng” công bố 9 loài mới cho Việt Nam [68]
Năm 2003, Ngô Anh báo cáo sơ kết phần nấm “Đa dạng nấm lớn ở vườn Quốc gia Bạch Mã”, thuộc đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu tài nguyên đa dạng
Trang 88
sinh học và đề xuất một số giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững vườn Quốc gia Bạch Mã” [9] Cùng năm, trong Luận án Tiến sĩ của mình với đề tài “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở Thừa Thiên Huế” Ngô Anh đã công bố 346 loài, trong
đó ghi nhận một họ mới (Gomphidiaceae), 8 chi mới và 39 loài mới cho khu hệ nấm lớn Việt Nam [8]
Năm 2007, Ngô Anh, Cao Đăng Nguyên, Trần Đình Hùng báo cáo “Nghiên cứu nấm dược liệu ở Thừa Thiên Huế” tại Hội nghị những vấn đề nghiên cứu cơ
bản trong sự sống, tổ chức tại Đại học Quy Nhơn Các tác giả đã xác định được 404 loài nấm lớn, trong đó có 65 loài nấm dược liệu thuộc 13 họ [20]
Năm 2009, nhiều tác giả đã công bố công trình nghiên cứu của mình trong
luận văn Thạc sĩ : Trần Hữu Khôi với đề tài “Nghiên cứu khu hệ nấm lớn ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” tác giả đã công bố 162 loài, 51 chi, 26 họ, 20 bộ,
3 lớp trong 3 ngành và 23 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm lớn Việt Nam [55]
Năm 2010, Trần Thị Thanh Nhàn với đề tài “Thành phần loài nấm lớn ở vùng lõi Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình” đã xác định được 173 loài thuộc
53 chi, 26 họ, 17 bộ trong 3 ngành [62] Cùng năm, Trần Thị Bích Thủy với đề tài
“Nghiên cứu khu hệ nấm lớn ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” đã xác
định được 202 loài nấm lớn thuộc 70 chi, 34 họ, 22 bộ, 3 lớp trong 3 ngành [67]
Năm 2011, Trịnh Tam Kiệt nghiên cứu “Nấm lớn ở Việt Nam” tập I, mô tả
218 loài Năm 2012, Trịnh Tam Kiệt nghiên cứu “Nấm lớn ở Việt Nam” tập II,
thống kê và mô tả 894 loài
Tổng kết cho đến năm 2001 đã có 1250 loài nấm lớn thuộc khu hệ nấm Việt Nam được công bố Từ năm 2001, các công trình nghiên cứu bắt đầu chú trọng nghiên cứu các hoạt chất trong nấm mang lại các giá trị lớn về mặt dược liệu cũng như y học Tiêu biểu như: Kleinwachter P., Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, Schlegel B., Dahse H M, Hartl A và U Grafe đã công bố 7 hoạt chất mới nhóm triterpenoid:
Colossolactones A – G (1-7) được chiết xuất từ loài Ganoderma colossum được thu nhập ở Huế Năm 2013, Ngô Anh báo cáo “Tác dụng của Linh chi” tác giả cho biết
vai trò quan trọng của Linh chi trong điều trị và chữa bệnh [26] Cùng năm, Nguyễn
Thị Thanh Hiền với đề tài “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở Rú Lịnh, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” tác giả đã xác định được 182 loài thuộc 80 chi, 39 họ,
23 bộ, 3 lớp trong 3 ngành: Myxomycota, Ascomycota và Basidiomycota, ghi nhận
12 loài mới cho khu hệ nấm lớn Việt Nam [41]
Năm 2014, Nguyễn Thị Chi Lê với đề tài “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị” tác giả đã xác định 159 loài thuộc 80 chi, 36
họ, 22 bộ, 3 lớp trong 3 ngành: Myxomycota, Ascomycota và Basidiomycota [58]
Công trình tổng kết những kết quả nghiên cứu về nấm lớn Việt Nam từ trước
cho đến nay đã được Trịnh Tam Kiệt tổng hợp và công bố trong “Danh lục nấm lớn
ở Việt Nam” (2014), trong đó có 1821 loài nấm lớn đã được ghi nhận ở Việt Nam
[54]
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về khu hệ nấm, việc trồng nấm ở Việt Nam cũng đang dần được chú trọng không kém Nấm Linh chi đạt tổng sản lượng ở Việt Nam khoảng 20 tấn/năm Nấm bào ngư được nuôi trồng phổ biến ở Việt Nam, song thị trường còn hạn hẹp, tổng sản lượng hiện nay không quá 1.000 tấn Nấm mộc nhĩ, hiện chúng ta sản xuất khá ổn định với tổng sản lượng khoảng 8.000 –
Trang 99
10.000 tấn/năm Nấm mỡ đã từng được sản xuất ở Việt Nam và xuất khẩu cách đây 15-20 năm, với sản lượng vài trăm tấn/năm [76]
1.3 Những kết quả nghiên cứu nấm lớn ở Thừa Thiên Huế
Tại Thừa Thiên Huế, các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Năm 1982, Ngô Anh và Trịnh Tam Kiệt công bố công trình “Góp phần nghiên cứu khu hệ nấm lớn ở Bình Trị Thiên”, các tác giả đã xác định được 111 loài [1]
Năm 1996, Ngô Anh và Trịnh Tam Kiệt báo cáo về họ nấm Linh chi ở miền Trung Việt Nam, các tác giả đã nêu danh lục 30 loài nấm Linh chi, trong đó có 20 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm lớn miền Trung Việt Nam [70]
Năm 2009, Trần Thị Thúy với đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài nấm lớn ở một số di tích lịch sử tại tỉnh Thừa Thiên Huế” [66], kết quả xác định
được 159 loài, 70 chi, 33 họ, 20 bộ, 4 lớp thuộc 3 ngành: Myxomycota,
Ascomycota và Basidiomycota Trần Hữu Khôi với đề tài: “Nghiên cứu khu hệ nấm lớn ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” [55], tác giả đã xác định được 162
loài nấm lớn, 51 chi, 26 họ, 20 bộ, 3 lớp trong 3 ngành: Myxomycota, Ascomycota
và Basidiomycota
Năm 2010, Nguyễn Thị Kim Cúc với đề tài “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của nấm lớn khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” [27] đã xác định được 162 loài nấm lớn thuộc 63 chi, 30 họ, 18 bộ thuộc 2 ngành Cùng năm, Ngô Anh và Trần Thị Thúy trong báo cáo “Đa dạng các taxon và yếu tố địa lý cấu thành khu hệ nấm lớn Thừa Thiên Huế” công bố thành
phần loài nấm lớn ở Thừa Thiên Huế gồm 465 loài, ghi nhận 44 loài mới cho khu
hệ nấm lớn Việt Nam [25]
Năm 2011, Nguyễn Thị Thảo Nguyên với đề tài “Thành phần loài nấm lớn ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” [28], tác giả đã xác định được 170 loài trong
đó có 34 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm lớn ở Việt Nam Võ Bá Định với đề tài
“Thành phần loài nấm lớn ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” [37], tác giả
đã xác định 182 loài nấm lớn thuộc 64 chi, 30 họ, 20 bộ, 3 lớp thuộc 3 ngành
Trương Thị Hiệp Thành với đề tài “Thành phần loài nấm lớn ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” [65], đã xác định được 178 loài thuộc 74 chi, 34 họ, 21 bộ, 3 lớp
trong 3 ngành
Năm 2013, Ngô Thị Thùy Trang với đề tài “Thành phần loài nấm lớn ở thị
xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế” [69], đã xác định được 156 loài thuộc 77 chi,
kết quả trong các luận văn cao học đã bảo vệ về nấm ở tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm
2010 đến năm 2015, đã thống kê được thành phần loài nấm lớn ở Thừa Thiên Huế hiện có 720 loài [25; 54]
Trang 1010
Năm 2017, Lê Thị Phương Thủy với đề tài “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” [68], đã xác định được 142 loài
thuộc 69 chi, 32 họ, 21 bộ, 4 lớp trong 3 ngành
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nấm lớn ở tỉnh Thừa Thiên Huế, nhưng ở huyện Phú Vang thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế thì chưa có công
trình nghiên cứu về nấm lớn nào được tiến hành Vì vậy, việc “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” là yêu cầu cấp
thiết
Trang 1111
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Được giới hạn trong tọa độ địa lý:
16026/21// vĩ độ Bắc
107042/52// kinh độ Đông
- Phía Đông giáp biển Đông
- Phía Tây giáp thành phố Huế và thị xã Hương Thủy
- Phía Nam giáp huyện Phú Lộc
- Phía Bắc giáp thị xã Hương Trà
Tổng diện tích: 278,24 km2 Toàn huyện có 20 đơn vị hành chính, bao gồm
18 xã và 2 thị trấn
Phú Vang có bờ biển dài trên 35km, có cửa biển Thuận An và nhiều đầm phá như đầm Sam, đầm Chuồng, đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú nằm trong hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai [71]
2.1.2 Khí hậu
Phú Vang nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền Bắc – Nam của nước ta Do địa hình của dải Trường Sơn có ảnh hưởng đến hoàn lưu khí quyển tạo nên sự khác biệt lớn trong phân hóa khí hậu của huyện [74]
Chế độ nhiệt
Phú Vang chia hai mùa mưa nắng rõ rệt, mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh; nhiệt độ trung bình 25,40C, nhiệt độ cao nhất 39,60C, nhiệt độ thấp nhất 13,80C, số giờ nắng cả năm 1.897 giờ [74]
- Mùa nắng: từ tháng 3 đến tháng 8, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô nóng, nhiệt độ cao trung bình hơn 250C, tháng nóng nhất (tháng 6 và 7), nhiệt
độ trung bình 290C, nhiệt độ tuyệt đối 39 – 400C [74]
- Mùa mưa: từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh từ 20 – 220C, tháng có nhiệt độ thấp nhất (tháng 1) nhiệt độ có khi xuống dưới 150C [74]
Trang 1212
Do mùa mưa trùng với mùa có gió bão nên hay gây ra lũ lụt, ngập úng nhiều vùng trong huyện Mùa khô kéo dài lại chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng nên mực nước của các con sông xuống thấp làm hạ lưu các con sông nước mặn xâm nhập vào sâu trong đất liền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân [74]
Gió bão
Huyện Phú Vang chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính [74]:
- Gió mùa Tây Nam: bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, tốc độ gió bình quân 2 –
3 m/s có khi lên đến 7 – 8 m/s Gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khô kéo dài
- Gió mùa Đông Bắc: bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió đạt
4 – 6 m/s, gió kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt, ngập úng ở nhiều nơi
Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9, 10 Trong các trường hợp chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, lốc, giông tố và gió mùa Đông Bắc, tốc độ gió lớn có thể đạt trên 15 – 20 m/s trong gió mùa Đông Bắc, 30 – 40 m/s trong bão, lốc [74]
Thủy triều
Thủy triều có hai chế độ, từ bán nhật triều đều đến bán nhật triều không đều, biên độ thủy triều dưới 0,5 – 2 m Tại Thuận An, độ cao thủy triều trung bình khoảng 0,4 – 0,5 m Vùng Bắc Thuận An, có độ cao thủy triều trung bình 0,6 – 1,2
m Độ cao triều trong đầm phá thường nhỏ hơn ở vùng biển Nhìn chung chế độ thủy triều ở vùng ven biển, đầm phá của Phú Vang thuận lợi [72]
2.1.3 Thủy văn
- Nguồn nước mặt: chủ yếu là mạng lưới sông, hồ phân bố trên địa bàn Đây
là nguồn nước chính cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Trong phạm vi huyện Phú Vang, hệ thống sông ngòi trải dài và ôm kín khắp địa bàn của huyện, bắt nguồn từ sông Hương, sông Như Ý, sông Phổ Lợi chảy qua các xã Phú Thượng, Phú Dương, Phú Mậu, Phú Thanh và Thị trấn Thuận An đổ ra biển Sông An Cựu, Thiệu Hóa và Đại Giang chảy qua các xã Phú Mỹ, Phú Hồ, Phú Lương, Phú Đa, Vinh Thái, Vinh Hà xuôi về đầm Cầu Hai [71]
Ngoài hệ thống sông ngòi, Phú Vang còn có nhiều đầm phá nước lợ như: đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú, đầm Sam, đầm Chuồng và một phần phía Bắc đầm Cầu Hai nối liền nhau thông qua phá Tam Giang rộng lớn [71]
- Nguồn nước ngầm: theo quan sát thực tế từ các giếng đào cho thấy nguồn nước ngầm nông ở Phú Vang tương đối lớn, độ sâu từ 4 - 6 m có thể khai thác phục
vụ sinh hoạt và cung cấp cho một số cơ sở sản xuất nhỏ Tuy nhiên chất lượng nước
bị hạn chế do vùng ven biển phần lớn bị nhiễm phèn, mặn hoặc nhiễm bẩn do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người [74]
2.2 Đặc điểm địa hình, đất đai, thảm thực vật
Huyện Phú Vang có địa hình khá bằng phẳng, với độ dốc < 10 và cao từ 1,5 – 2,5 m so với mực nước biển, phổ biến từ 0,8 – 1,5 m Nhìn chung địa hình toàn huyện thấp dần từ Tây Bắc sang Đông Nam nhưng không lớn, địa hình có thể chia thành 3 vùng chính sau [74]:
Trang 13- Vùng đầm phá: được hình thành từ sự kết nối liên thông giữa các đầm nước Thanh Lam, Hà Trung, Thủy Tú, Đầm Sam, Cầu Hai với phá Tam Giang, tạo nên một không gian rộng lớn với diện tích 22.000 ha, là đầm phá lớn nhất khu vực Đông Nam Á Phần diện tích đầm phá thuộc huyện là 6.975 ha (chiếm 31,7% diện tích đầm phá của tỉnh) Đây thực sự là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cho tỉnh Thừa Thiên Huế, trong đó có huyện Phú Vang
- Vùng đồng bằng: được hình thành bởi vùng đồng bằng ven sông và đầm phá nên khá bằng phẳng, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp
Từ xưa đến nay đất luôn là nguồn lực quan trọng trong việc phát triển kinh tế
- xã hội Qua thống kê đo đạc địa chính, huyện Phú Vang có tổng diện tích đất từ nhiên là 27.824,5 ha (2016), trong đó đất lâm nghiệp chiếm 1.327,4 ha, đất nông nghiệp là 10.366,2 ha Dưới đây là bảng tình hình đất đai huyện Phú Vang [74]:
Bảng 2.1 Tình hình đất đai huyện Phú Vang 2012 – 2016
Phía bên trong theo thứ tự là (1) đất ở của các xã ven biển; (2) đất nông nghiệp trồng lúa, rau màu; (3) đất nuôi trồng thủy sản; (4) hệ thống các đầm của phá Tam Giang; (5) đất nuôi trồng Thủy sản; (6) đất nông nghiệp trồng lúa, rau màu; (7) đất ở; (8) cồn cát; (9) đất ở; (10) đất nông nghiệp trồng lúa diện tích lớn
Trang 1414
Vùng đất cát ven biển huyện Phú Vang tương đối bằng phẳng Độ cao so với mặt nước biển có nơi đến 8m, một số nơi bị sạt lở nghiêm trọng, đặc biệt tại khu vực vùng biển Thuận An – Hòa Duân (xã Phú Thuận) làm hàng loạt nhà nghỉ bãi tắm Thuận An, nhà ở của dân bị cuốn trôi ra biển, đe dọa đến tính mạng và tài sản của hơn 1.000 hộ dân trong khu vực Hải Dương – Hòa Duân
Đặc điểm vùng đất cát ven biển
- Cồn cát trắng vàng: đất cát được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Cát màu vàng có nguồn gốc từ biển – gió, phân bố thành dãy cồn – đụn cát ven biển và các bãi biển Cát xám trắng chủ yếu có nguồn gốc biển và phân bố trên các dải gò cao và rải rác ở ven rìa đồng bằng Cát vàng nghệ nguồn gốc biển phần lớn bị cát vàng nhạt và cát xám trắng trẻ hơn che phủ Loại cát vàng nghệ xuất lộ chỏm nhỏ ở
xã Vinh Thanh
Loại đất này có hình thái phẫu diện ít phân hóa, đồng nhất cả về màu sắc và thành phần cơ giới, từ trên xuống dưới đều là cát tơi hoặc cát dính Thành phần cơ giới rất nhẹ, rời rạc Tỷ lệ sét rất thấp, chủ yếu là cấp hạt cát, tỷ lệ cát khô khá cao Các đồn cát, đụn cát phần lớn chưa ổn định, hiện tượng di động của cát thường xuyên xảy ra Những nơi có địa hình thấp thì có sự phân hóa về màu sắc, nơi nào trũng đọng nước thì tầng mặt xám hơi đen, tầng dưới có màu xám vàng xen vệt trắng Đây là đất rất nghèo mùn và các chất dinh dưỡng; cation trao đổi rất thấp; dung tích hấp thu rất thấp, nên khả năng giữ nước, giữ phân kém Phần lớn diện tích loại đất này đang bị bỏ hoang
- Đất cát biển: phân bố không thành dải liên tục, được hình thành do quá trình bồi tích của biển nhưng đã được khai thác sử dụng lâu đời, vì vậy tính chất lý hóa học của đất đã thay đổi theo chiều hướng có lợi cho sản xuất nông nghiệp Hình thái phẫu diện đã có sự phân hóa khá rõ, lớp đất mặt thường trắng hơi xám hoặc xám sáng, có nơi hơi vàng; các tầng dưới thường chặt, khả năng tích lũy oxit sắt lớn nên màu sắc thường vàng hoặc vàng nhạt Thành phần cơ giới cát đến cát rời – cát pha, nghèo mùn và các chất dinh dưỡng, nhưng so với loại cồn cát trắng vàng thì tỷ
lệ cấp hạt sét cao hơn, kết cấu đất tốt hơn, hàm lượng mùn cao hơn, nên khả năng giữ nước, giữ phân tốt hơn nhiều
Đây là loại đất có độ phì tự nhiên thấp, nhưng có lợi thế về thành phần cơ giới nhẹ, mực nước ngầm nông, lại thích hợp với nhiều loại cây trồng Nếu chọn được cơ cấu cây trồng hợp lý, chú ý vấn đề thủy lợi, đầu tư thêm phân hữu cơ và các loại phân bón khác, thì có thể thu được hiệu quả kinh tế cao khi sản xuất trên loại đất này
Đặc điểm hệ thực vật
Trảng cây bụi nhiệt đới thường xanh lá cứng trên cát khô là kiểu thảm thực vật phổ biến và đặc trưng cho vùng cát ven biển Trảng bao gồm các cây gỗ nhỏ và cây bụi cao từ 1 – 3 m với độ tàn che không đồng đều (30 – 70%) Thành phần trảng cây bụi nhiệt đới thường xanh lá cứng trên cát khô gồm có:
- Tầng cây bụi và cây gỗ nhỏ: gồm có Xăng mã (Carallia brachiata), Dẻ cát (Lithocarpus concentricus), Dẻ gai (Castanopsis sp.), Quế rành (Cinnamomum burmannii), Dầu đắng (Lindera myrrha), Cơm nguội cọng (Ardisia pseudopedunculosa), Mà ca (Myrsine linearis), Táu duyên hải (Vatica mangachapoi subsp obtusifolia), Vè ve (Cleistanthus concinnus), Cù đèn (Croton sp.), Bồ cu vẽ
Trang 1515
(Breynia fruticosa), Mành mành (Phyllanthus fasciculatus), Me lá vảy hến (P thaii), Chẹo (Engelhardtia sp.), Trâm voi (Syzygium bullockii), Trâm bù gỗ (S corticosum), Trâm lá nhỏ (S tephrodes), Ran (Memecylon edule), Sầm tán (M umbellatum), Niệt dó (Wikstroemia indica), Chổi xể (Baeckea frutescens), Tiểu sim (Rhodamnia dumetorum), Sim (Rhodomyrtus tomemtosa), Lấu núi (Psychotria montana), Gai xanh (Severinia monophylla), Xương rồng khế (Cereus peruvianus), Sừng trâu (Tabernaemontae buffalina), Trang đỏ (Ixora coccinea), Trang trắng (I finlaysoniana), Ô liu nhánh (Olea brachiata), thông nhựa (Pinus merkussi), Tràm hoa vàng (Acacia auriculaeformis), Keo tai tượng (Acacia mangium), Bạch đàn (Eucalyptus tereticonis), Dứa Huế (Pandanus odoratissimus), Phi lao (Casuarina equisetifolia)
- Tầng cỏ: thường gặp các loài hòa thảo như ở trảng cỏ trên cát khô Thực vật ngoại tầng gồm các loài gặp ở kiểu rừng nhiệt đới thường xanh lá cứng trên cát khô
2.2.2 Vùng đầm phá
Phân bố
Phú Vang có bờ biển dài trên 35km, có cửa biển Thuận An và nhiều đầm phá như đầm Sam, đầm Chuồng, đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú nằm trong hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai Vùng đầm phá của huyện kéo dài từ cầu Thuận An đến Cồn Trai; đi qua 13/20 xã, thị trấn như: Thị trấn Thuận An, xã Phú Thuận, Phú Hải, Phú Diên, Vinh Xuân, Vinh Thanh, Vinh An, Vinh Hà, Vinh Phú, Phú Đa, Phú Xuân, Phú Mỹ, Phú An Dãy cồn đụn cát chắn bờ ngăn cách đầm với biển Đông cao từ 2 – 2,5 m (Thuận An – Hòa Duân) đến 10 – 12 m (Vinh Thanh – Vinh An); rộng từ 0,2 – 0,3km (gần Hòa Duân) đến 3,5 – 5 km (Vinh Thanh – Vinh An) Hệ đầm phá Phú Vang có diện tích 6.975 ha
- Khu vực đầm Sam địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích 1.620 ha, sâu 1,5 m phía Hòa Duân; 0,5 m phía Phú An, Phú Thuận, Phú Hải và lạch triều ngầm sâu 4 – 5 m phía cửa Thuận An Trên vùng triều rộng lớn khu đầm Sam – cồn Hợp Châu là các khu đầm nuôi trồng thủy hải sản dày đặc
- Khu vực đầm Thủy Tú có diện tích khoảng 3.600 ha, là một lạch triều ngầm sâu trung bình 2m
Đặc điểm vùng đầm phá
Bờ và đáy phá chủ yếu được cấu tạo từ trầm tích Holocen Đối với trầm tích
đáy hiện đại, đại bộ phận là bùn bột - sét màu xám tro và giàu hữu cơ phân bố ở
trung tâm đầm (chiếm 4/5 diện tích) sau đó là cát trung, cát nhỏ Cát thô, cát trung
và cát nhỏ thường gặp ở các bãi bồi ven đầm, bãi bồi dạng delta vùng cửa sông Hương, cửa đầm Thủy Tú Trầm tích nền đáy chủ yếu là bùn cát cùng với độ muối
từ 7 – 10 ‰ trong mùa mưa và 18 – 20 ‰ trong mùa khô, ổn định hơn các khu vực khác đã tạo điều kiện cho cỏ biển phát triển thành các thảm khá lớn tới hàng trăm
ha, tại các khu vực Phú Xuân, Vinh Xuân, Vinh Thanh Ven đầm Thủy Tú là hệ thống dày đặc các đầm nuôi trồng thủy hải sản và các ruộng lúa, hoa màu trồng vào mùa mưa và trở thành các bãi chăn thả gia súc vào mùa khô
Đặc điểm hệ thực vật
Trong hệ đầm phá Tam Giang ở huyện Phú Vang, có thể chia thành các tiểu
hệ sinh thái với các yếu tố môi trường và sinh vật đặc trưng: hệ sinh thái cỏ biển, hệ
Trang 1616
sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rừng trồng, hệ sinh thái bãi triều đá gốc, hệ sinh thái đầm lầy, hệ sinh thái đầm nuôi thủy sản, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái đô thị Các hệ sinh thái đều có xu hướng biến đổi từ hệ sinh thái tự nhiên sang hệ sinh thái nhân tạo do có tác động sâu sắc bởi các hoạt động của con người
2.2.3 Vùng đồng bằng
Phân bố
Vùng đồng bằng phía Tây bao gồm các xã Phú Thanh, Phú Mậu, Phú Dương, Phú Thượng, Phú Mỹ, Phú Xuân, Phú Hồ, Phú Lương, Phú Đa, Vinh Thái Vùng này được hình thành bởi vùng đồng bằng ven sông và đầm phá nên khá bằng phẳng, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp
Đặc điểm vùng đồng bằng
Phú Vang thuộc vùng đất trũng, có diện tích đầm phá lớn Đất đai của huyện chủ yếu là đất nông nghiệp và mặt nước nuôi trồng thủy sản Được hình thành bởi vùng đồng bằng ven sông và đầm phá nên khá bằng phẳng, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp là 13.484,7 ha Là nơi có dân
cư tập trung đông đúc và có lịch sử canh tác khá lâu đời Phú Vang là một vùng sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản tương đối lớn do đó công tác thủy lợi được chú ý đầu tư Cùng với chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn thì chương trình kiên cố kênh mương đã phát huy tác dụng Đến nay 100% diện tích đất của vùng trọng điểm lúa đã được chủ động tưới tiêu
Đặc điểm hệ thực vật
Hiện tại các cây trồng trọt tại huyện như sau: cây hằng năm có 3 loại: (1) Cây lương thực có hạt (lúa, ngô), cây rau – đậu – hoa – cây cảnh, cây công nghiệp hàng năm (mía, thuốc lá, thuốc lào, lấy sợi, bông, đay, cói ); (2) Cây lâu năm có 2 loại: cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm (dừa, điều, hồ tiêu, chè); (3) Cây công nghiệp hàng năm gồm có mía và cây có hạt chứa dầu, cây công nghiệp lâu năm có cây ăn quả và cây lấy quả chứa dầu
Theo thống kê của Chi cục Thống kê huyện Phú Vang, sản lượng lương thực
có hạt chiếm tỷ trọng chủ yếu là cây lúa Về diện tích lúa, năm 2016 đạt 11.763 ha Diện tích trồng rau đậu các loại, hoa, cây cảnh năm 2012 là 2.140 ha đến năm 2016 chỉ còn 1.579 ha (giảm 561 ha) Tuy nhiên với việc áp dụng tiến bộ khoa học, chọn giống cùng với những ý tưởng sáng tạo của người dân đã làm tăng năng suất rau đậu, các loại hoa, cây cảnh tăng tới 20% (năm 2016 so với năm 2012) Bên cạnh đó huyện đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng để tăng hiệu quả kinh tế trên 1 đơn
vị diện tích canh tác, trồng các loại hoa chất lượng như: hoa cúc, hoa ly ly, hoa Monkara ở Phú Mậu, Phú Dương, trồng nấm rơm, nấm sò, nấm Linh chi ở xã Phú Lương, Phú Hồ
Trang 1717
CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài nấm lớn phân bố ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, bao gồm các nấm ký sinh trên thực vật hay hoại sinh trên gỗ, đất, các giá thể cellulose khác, hoặc nấm cộng sinh với thực vật
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần loài nấm lớn ở huyện Phú Vang
- Thống kê các loài mới bổ sung cho danh lục nấm lớn Việt Nam
- Đánh giá tính đa dạng sinh học, sự đa dạng thành phần loài, sự phân bố, phương thức sống của nấm lớn huyện Phú Vang
- Điều tra một số đặc điểm khu hệ nấm lớn huyện Phú Vang như: tính đa dạng thành phần các loài nấm lớn với các huyện khác, đặc trưng thành phần loài, biến động cấu trúc thành phần loài
- Điều tra tình hình sử dụng nấm lớn tại địa phương
3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2018 đến tháng 9/2019
- Địa điểm nghiên cứu là các điểm thuộc huyện Phú Vang bao gồm 8 xã và 2 thị trấn
1 Thị trấn Phú Đa 6 Phú Lương
2 Thị trấn Thuận An 7 Phú Diên
Trang 1818
Hình 3.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu huyện Phú Vang [34]
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp thu thập, xử lý, phân tích và định loại theo phương pháp của các tác giả: Trịnh Tam Kiệt (2011), Rolf Singer (1986), G H Lincoff (1988), J
D Zhao (1989), L Ryvarden và R L Gilbertson (1986, 1993)
3.4.1 Phương pháp thu mẫu vật
Thu thập và xử lý mẫu vật theo phương pháp của Trịnh Tam Kiệt (2011), Rolf Singer (1986), L Ryvarden và R L Gilbertson (1993)
3.4.2 Các dụng cụ và hóa chất
- Dụng cụ ngoài thực địa
Khi thu mẫu ngoài thực địa cần mang theo các dụng cụ để thu mẫu gồm: túi thu mẫu, nhãn, rìu nhỏ cầm tay, bút chì, sổ ghi chép, dao nhọn, túi giấy, kính lúp cầm tay, giấy báo và máy ảnh
- Thiết bị nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Để tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, sử dụng các thiết bị: kính hiển vi Olympus CH – 40, kính hiển vi Labomed – USA, kính hiển vi huỳnh quang gắn máy ảnh Olympus BX51 – DP12, kính lúp cầm tay và máy ảnh Nikon
Trang 19Những nấm có kích thước nhỏ dễ gãy vỡ nên đựng trong các lọ nhỏ hay trong hộp nhựa Không bao giờ dùng túi ni lông để đựng mẫu vì nó không thoát khí
và hơi nước tạo điều kiện cho mốc và vi khuẩn dễ dàng phát triển
Mỗi mẫu để riêng trong một bao, không bao giờ để nhiều loài trong một bao, một bao một nhãn riêng
3.4.5 Phương pháp bảo quản mẫu vật
Xử lý mẫu vật sau khi thực địa về Mẫu vật được trình bày trên bàn sau đó tiến hành mô tả, ghi chép những đặc điểm của nấm vào phiếu điều tra nấm Mô tả kích thước, hình dạng, màu sắc, các đặc điểm của mặt mũ, mép mũ, bào thể, cuống nấm, mô nấm Những mẫu vật nào dùng để phân tích ngay thì để lại, những mẫu vật nào cần bảo quản lâu dài thì tiến hành xử lý để bảo quản
Nấm được phơi khô tự nhiên dưới ánh sáng mặt trời hay sấy khô từ nhiệt độ
60 – 800C trong tủ sấy, sau đó ngâm mẫu vật trong dung dịch HgCl2 5% trong 30 phút rồi sấy khô, gói cẩn thận, đánh số và sắp xếp vào hộp giấy, hộp gỗ hay thùng kẽm đựng mẫu đậy kín hoặc mẫu vật được bảo quản lâu dài trong hộp với hóa chất bảo quản là Paradichlobenzen hoặc Naphthalene (băng phiến) để ngăn cản côn trùng và vi sinh vật gây hư hại mẫu vật
Đối với nấm quả thể bằng chất thịt, nấm được ngâm trong dung dịch Formalin 4% hay dung dịch 1/3 cồn, 1/2 formalin và 1/3 glycerin
3.4.6 Phương pháp phân tích mẫu vật
Mẫu phân tích tốt nhất là các mẫu tươi vừa thành thục mới thu hái Phân tích
cả các đặc điểm hình thái và cấu trúc hiển vi; ghi chép những đặc điểm phân tích được vào phiếu điều tra nấm
Trang 2020
Dùng dao lam cắt thẳng góc ngang qua ống phấn, phiến phấn, lên tiêu bản trong một giọt nước (đối với mẫu tươi), hay giọt KOH 3% (đối với mẫu khô) Riêng sợi cứng được làm tiêu bản trong dung dịch Melzer (để tiêu bản có màu nhạt, dễ quan sát)
Quan sát, mô tả các đặc điểm hình thái ngoài như hình dạng, màu sắc, mô nấm, bào thể, phiến nấm và cuống nấm Mô tả các cấu trúc hiển vi như hình dạng, màu sắc, kích thước đảm, túi, bào tử sợi nấm, liệt bào, lông cứng mỗi chỉ tiêu hiển
vi phải được đo 10 số để có số liệu chính xác khi mô tả
Khi định loại cần phải khách quan, coi trọng những đặc điểm vốn có của loài
đã nghiên cứu, phân tích, tránh chủ quan có ý định từ trước
Trong quá trình nghiên cứu, phân tích mẫu vật tại phòng thí nghiệm Thực vật học – Khoa Sinh học – Trường Đại học Khoa học Huế Tất cả các mẫu vật sẽ được chỉnh lý và giám định dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS TS Ngô Anh
3.4.8 Phương pháp đánh giá số liệu
Để đánh giá mức độ gần gũi giữa các khu hệ nấm với nhau, chúng tôi sử dụng chỉ số Sorencen (S) (1969)
2C
S =
A + B Trong đó:
C: số loài giống nhau của hai khu hệ
A: số loài khu hệ A
B: số loài khu hệ B
Từ chỉ số này, nếu S càng lớn thì mức độ gần gũi giữa hai khu hệ nấm càng lớn và ngược lại nếu S càng nhỏ chứng tỏ hai khu hệ nấm càng khác xa nhau
Trang 2121
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 DANH LỤC NẤM LỚN HUYỆN PHÚ VANG
Danh lục nấm lớn được sắp xếp theo hệ thống của Cannon P F và Pegler D
N và được tổng kết bởi Ainsworth & Bisby’s (1995) trong “Dictionary of the Fungi” (1995) [75]; Trịnh Tam Kiệt và cs (2001) trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” [51]
Giới Fungi Giới phụ Protozoa Fungi Ngành Myxomycota Lớp Myxomycetes
Bộ Stemonitales
Họ Stemonitidaceae Fr
1 Chi Diachea Fries
1 Diachea sp
2 Chi Stemonitis Gled
1 Stemonis axifera (Bull.) Macbr
Bộ Physarales
Họ Physaraceae Chrvall
1 Chi Physarum Pers
1 Physarum didermoides (Ach.) Rost
2 Physarum sp
Giới phụ Eufungi Ngành Ascomycota Lớp Ascomycetes
Bộ Xylariales
Họ Xylariaceae Tul & C Tul
1 Chi Dalnidia Ces & De Not
1 Dalnidia concentrica (Bolt.: Fr.) Ces & De Not
2 Chi Hypoxylon Bull
1 Hypoxylon annulatum (Schw.) Mont
2 Hypoxylon haematostroma Mont
3 Hypoxylon howeianum Peck
4 Hypoxylon nummularium Bull var nummularium
5 Hypoxylon pseudopachyloma Speg
6 Hypoxylon stygium (Lév.) Sacc
7 Hypoxylon sp
3 Chi Xylaria Hill ex Schrank
1 Xylaria fibula Mass
Trang 22Bộ Auriculariales
Họ Auriculariaceae Fr
1 Chi Auricularia Bull exJuss
1 Auricularia cornea (Fr.) Ehrenb
2 Auricularia fuscosuccinea (Mont.) Farlow
3 Auricularia polytricha (Mont.) Sacc
1 Chi Stereum Gray
1 Stereum duriusculum Berk
2 Stereum ocholeucum Fr
3 Stereum sp
Bộ Thelephorales
Họ Thelephoraceae Chevall
1 Chi Thelephora Ehrh Ex Willd
1 Thelephora anthocephala (Bull.) Fr
Họ Ganodermataceae (Donk) Donk
1 Chi Ganoderma Karst
1 Ganoderma calidophilum Zhao, Xu et Zhang
2 Ganoderma flexipes Pat
Trang 2323
3 Ganoderma fulvellum Bres
4 Ganoderma koningsbergii (Lloyd.) Teng
5 Ganoderma limushanense Zhao et Zhang
6 Ganoderma lobatum (Schw.) Atk
7 Ganoderma lucidum (W Curt : Fr.) P Karst
8 Ganoderma meijiangense Zhao
9 Ganoderma mirivelutinum Zhao
10 Ganoderma philippii (Bres et Henn.) Bres
11 Ganoderma sichuanense Zhao et Zhang
12 Ganoderma sinense Zhao, Xu et Zhang
13 Ganoderma ungulatum Zhao et Zhang
Bộ Hymenochaetales
Họ Hymenochaetaceae Imazeki & Toki
1 Chi Hymenochaete Lév
1 Hymenochaete cacao Berk
2 Hymenochaete episphaeria (Schw.) Mass
3 Hymenochaete reflexa Burt
2 Chi Inonotus Karst
1 Inonotus circinatus (Fr.) Teng
2 Inonotus orientalis (Lloyd.) Teng
3 Inonotus pegleri Ryv
3 Chi Phellinus Quél
1 Phellinus melleoporus (Mur.) Ryv
2 Phellinus merrillii (Murr.) Ryv
3 Phellinus punctatus (Fr.) Pilát
4 Phellinus rimosus (Berk.) Pilát
Bộ Poriales
Họ Coriolaceae (Imazeki) Singer
1 Chi Coriolopsis Murr
1 Coriolopsis discipes (Berk.) Teng
2 Coriolopsis semilacata (Berk.) Teng
2 Chi Fomitopsis Karst
1 Fomitopsis subresinosus (Murr.)
2 Fomitopsis scutellata (Schw.) Bond & Sing
3 Chi Gloeophyllum (Karst.) Karst
1 Gloeophyllum subferrugineum (Berk.) Bond
4 Chi Gloeoporus Mont
1 Gloeoporus conchoides Mont
5 Chi Hexagonia Fr
Trang 2424
1 Hexagonia apiaria (Pers.) Fr
2 Hexagonia bipindiensis Henn
3 Hexagonia subtenuis Berk
6 Chi Nigrofomes Murr
1 Nigrofomes melanoporus (Mont.) Murr
7 Chi Nigroporus Murr
1 Nigroporus pubertalis (Lloyd) Teng
8 Chi Perenniporia Murr
1 Perenniporia medulla-panis (Jacq.: Fr.) Donk
2 Perenniporia medulla-panis (Jacq.: Fr.) Donk var Multistratosa Pil
3 Perenniporia robiniophila (Murr.) Ryv
4 Perenniporia subacida (Peck) Donk
5 Perenniporia subtenuis Berk
6 Perenniporia tephropora (Mont.) Ryv
7 Perenniporia sp
9 Chi Pycnoporus Karst
1 Pycnoporus sanguineus (Fr.) Murr
10 Chi Trametes Fr
1 Trametes conchifer (Schw.: Fr.) Pil
2 Trametes cervina (Schw.) Bres
3 Trametes ectypus (Berk & Curt.) Gilbn Ryv
4 Trametes elegans (Spreng.: Fr.) Fr
5 Trametes gallica Fr
6 Trametes hirsuta (Wulf.: Fr.) Pil
7 Trametes lactinea (Berk.) Pat
8 Trametes malicola Berk & Curt
9 Trametes picta Berk
10 Trametes scabrosa (Pers.) G H Cunn
11 Trametes serialis Fr.
11 Chi Tyromyces Karst
1 Tyromyces amygdalinus (Berk & Rav.) Teng
12 Chi Daedalea Fr
1 Daedalea sinensis Lloyd
Họ Grammotheflaceae Jülich
1 Chi Grammothele Berk & Curt
1 Grammothele lineata Berk & Curt
2 Grammothele sp
Bộ Polyporales
Họ Lentinaceae Jülich
Trang 2525
1 Chi Lentinus Fr
1 Lentinus ciliatus Lév.
2 Lentinus squarrosulus Mont
3 Lentinus tigrinus (Bull.) Fr.
2 Chi Panus Fr
1 Panus rudis Fr
3 Chi Pleurotus (Fr.) Kumm
1 Pleurotus septicus (Fr.) Quél
Họ Polyporaceae Fr Ex Corda
1 Chi Microporus P Beauv
1 Microporus licmophorus (Mass.)
2 Chi Polyporus Fr
1 Polyporus arcularius Batsch: Fr
2 Polyporus peckianus Cke
3 Polyporus virgatus Berk & Curt
1 Chi Coprinus Pers
1 Coprinus micaceus (Bull.) Fr
2 Coprinus ovatus (Schaeff.) Cha
2 Chi Psathyrella (Fr.) Quél
1 Psathyrella musae (Pat.) Moser
Họ Entolomataceae Kolt & Pouzar
1 Chi Entolomata (Fr.) P Kumm
1 Entolomata serrulatum (Fr.) Hes
Họ Pluteaceae Kotl & Pouzar
1 Chi Pluteus Fr
1 Pluteus cervinus (Schaeff.) Kumm
2 Pluteus murinus Bres
2 Chi Vovariella Speg
1 Vovariella volvacea (Bull : Fr.) Sing
Họ Strophariaceae Singer & A H Sm
1 Chi Flammula (Fr.) P Kumm
1 Flammula piceina (Murr.) Teng
Trang 2626
2 Chi Pholiota (Fr.) Kumm
1 Pholiota adiposa (Fr.) Quél
2 Pholiota apicrea (Fr.) Gill
3 Pholiota aurea (Mattusch.) Gill
4 Pholiota mutabilis (Schaeff.) Quél
5 Pholiota piceina (Murr.) Teng
6 Pholiota terrigena (Fr.) Karst
Họ Tricholomataceae R Heim ex Pouzar
1 Chi Clitocybe (Fr.) Staude
1 Clitocybe fragrans (With : Fr.) Kumm
2 Clitocybe phyllophila (Pers.) P.Kumm
2 Chi Panellus Karst
1 Panellus stipticus (Bull.) Karst
3 Chi Tricholoma (Fr.) Staude
1 Tricholoma ionides (Bull.) Quél
2 Tricholoma terreum (Schaeff.) Quél
Bộ Cortinariales
Họ Cortinariaceae R Heim ex Pouzar
1 Chi Hebeloma (Fr.) Kumm
1 Hebeloma crustuliniforme (Bull.) Quél
2 Chi Inocybe (Fr.) Fr
1 Inocybe cookei Bres
2 Inocybe umbrinella Bres
2 Chi Naucoria (Fr.) Kumm
1 Naucoria pediales (Fr.) Quél
2 Naucoria similis Bres
Họ Crepidotaceae (S Imai) Sing
1 Chi Crepidotus (Fr.) Staude
1 Crepidotus hebarum (Peck) Sacc
2 Crepidotus fulvotomentosus Peck
Trang 2727
4.2 ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA NẤM LỚN HUYỆN PHÚ VANG
4.2.1 Sự đa dạng về thành phần loài nấm lớn huyện Phú Vang
Sau quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã xác định được 119 loài thuộc 51 chi,
24 họ, 16 bộ, 4 lớp trong 3 ngành: Myxomycota, Ascomycota và Basidiomycota
Đa dạng về mức độ ngành
Qua bảng danh lục, chúng tôi nhận thấy thành phần loài nấm lớn ở huyện Phú Vang phong phú và đa dạng Trong 3 ngành thì Basidiomycota chiếm ưu thế tuyệt đối, gặp 12 bộ, 20 họ, 44 chi và 104 loài chiếm 87,39% loài đã xác định
Bảng 4.1 Sự phân bố các taxon trong các ngành
TT Tên ngành Số lớp Số bộ Số họ Số chi Số loài
Bảng 4.2 Sự phân bố các taxon trong các lớp
bộ Ganodermatales gặp 13 loài chiếm 10,92%
Bảng 4.3 Sự phân bố các taxon trong các bộ
Trang 28Hai họ Coriolaceae và Ganodermataceae là những họ đa dạng nhất trong 24
họ Trong đó, Coriolaceae chiếm ưu thế nhất, với 32 loài chiếm 26,89% số loài đã xác định; Ganodermataceae gặp 13 loài, chiếm 10,92%
Đa dạng ở mức độ chi và loài
Sự đa dạng ở mức độ chi của các ngành thể hiện qua tỉ lệ số loài trung bình của mỗi chi Tính đa dạng ở mức độ chi cao nhất ở ngành Basidiomycota là đa dạng nhất, tiếp đến là ngành Ascomycota, cuối cùng là ngành Myxomycota (Bảng 4.6)
Bảng 4.5 Các chi đa dạng nhất
Trang 29Bảng 4.6 Đánh giá tính đa dạng loài của các ngành
Đa dạng về mức độ họ Đa dạng về mức độ chi
Tỷ lệ số loài trung bình/họ
Tỷ lệ số loài trung bình/chi
1 Myxomycota 2 (4 loài/2 họ) 1,33 (4 loài/3 chi)
2 Ascomycota 5,5 (11 loài/2 họ) 2,75 (11 loài/4 chi)
3 Basidiomycota 5,2 (104 loài/20 họ) 2,36 (104 loài/44 chi)
4.2.2 Sự phân bố nấm lớn trong các sinh cảnh
Qua kết quả nghiên cứu khu hệ nấm lớn ở huyện Phú Vang, kết hợp với sự phân vùng địa lý thổ nhưỡng, phân vùng khí hậu tự nhiên và hệ thực vật trong các sinh cảnh khác nhau, chúng tôi có thể chia khu hệ nấm lớn ở huyện Phú Vang thành các hệ nấm lớn dựa vào sự phân bố của chúng theo các sinh cảnh sau:
1 Các loài nấm lớn mọc ở vùng đồng bằng
2 Các loài nấm lớn mọc ở vùng đầm phá
3 Các loài nấm lớn mọc ở vùng ven biển
Trang 30đã tạo điều kiện cho nấm sinh trưởng và phát triển, tạo thành một hệ nấm phong phú
về thành phần loài nhất trong các sinh cảnh
Các loài thường gặp như các loài hoại sinh trên cây chuối: Psathyrella musae, Crepidotus fulvotomentosus Một số loài Linh chi có giá trị như: Ganoderma philippii, G lobatum, G ungulatum Vùng này thường bắt gặp một số loài hoại sinh phá hoại gỗ như: Perenniporia subacida, P robiniophila, P medulla – panis
Đặc biệt, trên địa bàn các xã Phú Xuân, Phú Lương, Phú Hồ, Phú Đa là nơi
có các hộ dân trồng nấm với số lượng lớn, nên cũng hay bắt gặp các loài nấm ăn
như: Volvariella volvacea, Auricularia fuscosuccinea, A polytricha, Tyromyces amygdalinus
4.2.2.2 Vùng đầm phá
Phú Vang có nhiều đầm phá như đầm Sam, đầm Chuồng, đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú nằm trong hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Trang 31Gồm các loài đặc trưng ở vùng đầm phá như: Lentinus tigrinus, L ciliatus là
những loài nấm thực phẩm, có lối sống hoại sinh trên gỗ mục Bên cạnh đó, loài
Pluteus cervinus, P murinus là nấm hoại sinh trên đất chỉ có ở vùng này Ở đây có rất nhiều rừng tràm, là giá thể cho rất nhiều loài Linh chi như: Ganoderma calidophilum, G koningsbergii, G flexipes
4.2.2.3 Vùng ven biển
Vùng đất cát ven biển Phú Vang chạy dọc theo đường bờ biển của huyện, từ Thuận An cho đến Vinh An Đây là loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, mực nước ngầm nông, đất rất nghèo mùn và các chất dinh dưỡng Bên cạnh đó, đất đai bị nhiễm mặn, phèn cùng với nền nhiệt cao, bốc hơi nước nhanh Nơi đây thường xuyên chịu ảnh hưởng của thên tai, có gió nóng, cát bay , thảm thực vật ở đây tương đối đơn điệu Vì vậy, thành phần loài nấm lớn ở đây nghèo nàn, gặp 26 loài, chiếm 21,85%
Các loài đặc trưng ở vùng cát ven biển như nấm hoại sinh trên gỗ:
Hymenochaete reflexa, Inonotus circinatus gây mục trắng; Lentinus squarrosulus là
loài nấm hoại sinh trên gỗ, nấm ăn bắt gặp nhiều Các rừng tràm, phi lao, thông được trồng dọc theo đường bờ biển, có tác dụng chắn sóng, chắc cát; nơi đây bắt
gặp nhiều loài như: Trametes scabrosa, T lactinea, Ganoderma lobatum
Ngoài các loài phân bố theo từng sinh cảnh, có một số loài có khu phân bố rộng, chúng có sự thích ứng rộng với nhiều điều kiện khác nhau, gặp ở nhiều sinh
cảnh khác nhau như các loài: Dalnidia concentrica, Hypoxylon haematostroma, H howeianum, H nummularium, Auricularia fuscosuccinea, A polytricha, Ganoderma philippii, G lobatum, G fulvellum, Hexagonia apiaria, Pycnoporus sanguineus, Trametes scabrosa, Lentinus squarrosulus, Schizophyllum commune
Qua từng sinh cảnh cho thấy, các sinh cảnh sống khác nhau có điều kiện tự nhiên khác nhau thì sự phân bố các loài nấm trong sinh cảnh đó cũng khác nhau Vì địa hình mỗi vùng lại có những đặc điểm riêng nên hình thành những loài nấm đặc trưng cho vùng đó Vùng đồng bằng có những đặc điểm như: hệ thống sông ngòi, kênh rạch, nhiệt độ, độ ẩm không khí khá cao, những nơi có nguồn giá thể phong phú gặp nhiều loài hơn vùng đầm phá và vùng cát ven biển Điều này cho thấy độ
ẩm và giá thể là hai yếu tố quyết định đến sự phân bố của nấm lớn
4.2.3 Phương thức sống của nấm lớn huyện Phú Vang
Căn cứ vào phương thức sống của nấm lớn để chia thành 3 nhóm dinh dưỡng: nhóm nấm hoại sinh, nhóm nấm cộng sinh và nhóm nấm ký sinh Trong đó