Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài của thăng long hà nội phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long thời nhà Trần
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC XÃ HỘI CẤP NHÀ NƯỚC KX.09
"Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
và giá trị lịch sử - văn hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,
phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô"
-
ĐỀ TÀI KX.09.08: "Phát triển khoa học và
trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà Nội"
***************
ĐỀ TÀI NHÁNH 2:
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
VÀ TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI
Ở THĂNG LONG THỜI NHÀ TRẦN
Thực hiện: 1 TS Nguyễn Thị Phương Chi (chủ trì)
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Về phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long thời 2
nhà Trần (Báo cáo khoa học tổng hợp của Nhánh)
TS Nguyễn Thị Phương Chi
2 Chuyên đề 1: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong 50
lĩnh vực xây dựng ở Thăng Long thời nhà Trần
PGS-TS Tống Trung Tín, Viện Khảo cổ học
3 Chuyên đề 1 thêm: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học 75
trong lĩnh vực xây dựng ở Thăng Long thời Trần
TS Đinh Khắc Thuân, Viện Nghiên cứu Hán Nôm
4 Chuyên đề 2: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong 86
lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Thăng Long thời Trần
PGS-TS Tống Trung Tín, Viện Khảo cổ học
5 Chuyên đề 3: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong 112
lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở Thăng Long thời Trần
TS Nguyễn Thị Phương Chi
6 Chuyên đề 4: Những đặc trưng của giáo dục, văn hoá, xây dựng nếp 118
TS Nguyễn Thị Phương Chi
7 Chuyên đề 5: Các tác phẩm có giá trị trong thời nhà Trần 145
TS Nguyễn Thị Phương Chi
8 Chuyên đề 6: Thực trạng trọng dụng nhân tài ở Thăng Long trong 161
thời nhà Trần
TS Nguyễn Thị Phương Chi
9 Chuyên đề 7: Những khoa thi trong thời nhà Trần 178
TS Nguyễn Thị Phương Chi
10 Chuyên đề 8: Những giá trị truyền thống và bài học về trọng dụng 193
nhân tài của Thăng Long trong thời nhà Trần
TS Nguyễn Thị Phương Chi
11 Chuyên đề 9: Những nhân tài nổi bật ở Thăng Long thời nhà Trần 204
TS Nguyễn Thị Phương Chi
12 Chuyên đề thêm: Thực trạng trọng dụng nhân tài ở Thăng Long 232
trong thời nhà Hồ
TS Nguyễn Thị Phương Chi + CN Đỗ Danh Huấn
Trang 3Bỏo cỏo tổng hợp Nhỏnh 2
về phát triển khoa học
và trọng dụng nhân tài
ở Thăng Long thời nhà Trần
(Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử - Viện Sử học
38 Hàng Chuối, Hà Nội)
Vương triều Trần từ khi thành lập (ngày 12 tháng 12 năm ất Dậu-1225), đến khi suy vong (năm 1400) tồn tại được 175 năm Trong quá trình xây dựng đất nước, triều Trần đã có nhiều nỗ lực, đưa đất nước Đại Việt phát triển trên nhiều lĩnh vực Gần hai thế kỷ tồn tại, quân và dân thời Trần đã lập nên nhiều kỳ tích, tiêu biểu là
ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông-Nguyên thắng lợi, xây dựng nhà nước độc lập, tự chủ và thân dân
Trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, triều đại Trần đã làm phong phú thêm lịch sử dân tộc bằng việc đề ra một số “chủ trương” độc đáo, như chế độ thái thượng hoàng, chế độ hôn nhân nội tộc và chế độ thái ấp - điền trang Thái Thượng hoàng - vua cha tồn tại với tư cách là “cố vấn”, có quyền hành rất lớn Thái Thượng hoàng có thể phế vua con đang trị vì đất nước, nếu nhà vua mắc lỗi hoặc lơ là việc nước Về chế độ hôn nhân nội tộc, giới nghiên cứu đã có nhiều công trình đề cập Đa số ý kiến cho rằng kiểu hôn nhân nội tộc chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi chính trị của dòng họ Trần Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nhà Trần xuất thân từ tầng lớp dân chài, giống như trên thế giới, các bộ tộc chài lưới thường có tục kết hôn với nhau Và, chế độ thái ấp - điền trang, bổng lộc dành cho các quý tộc, tôn thất Những chế độ đặc biệt này trong chừng mực nhất định chi phối hoạt động của bộ máy nhà nước và đội ngũ quan lại, nhưng nó cũng tạo nên diện mạo độc đáo của một triều đại quân chủ Việt Nam - triều Trần Triều Trần đã ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc, một triều đại “đẹp” ít thấy với nhiều danh nhân, nhiều vua tài, tướng giỏi, nhiều thành công trên nhiều phương diện
Trong chuyên luận tổng hợp “Về phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài
ở Thăng Long thời nhà Trần”, chúng tôi trình bày hai nội dung chính: 1 Về trọng
Trang 4chế độ đãi ngộ nhân tài; 2 Những chứng cứ nhà Trần xây dựng kinh đô Thăng Long qua tư liệu khảo cổ học
I Về trọng dụng nhân tài thời Trần
I.1 Đào tạo
Nhà Trần có nhiều cách đào tạo nhân tài Đào tạo trong gia đình, dòng tộc;
đào tạo thông qua hệ thống giáo dục Nho học; đào tạo bằng thực tế công việc Những cách thức đào tạo này, nhà Trần tiến hành đồng thời, nhằm tạo nên đội ngũ quan lại nói chung, nhân tài nói riêng đủ năng lực và tài đức phục vụ đất nước
1 Đào tạo trong gia đình, dòng tộc
Trong các chuyên đề viết về nhà Trần, chúng ta thấy đội ngũ quý tộc nhà Trần là những người nổi tiếng tài giỏi Tuy nhiên, không có tư liệu nào cho biết họ
được đào tạo như thế nào
Thực tế lịch sử cho thấy, với cách thức triều đình cử các vương hầu tôn thất đi trấn trị ở các địa phương bằng chế độ phân phong thái ấp Các vương hầu tôn thất
điều hành công việc một cách toàn diện ở địa phương nơi có thái ấp, trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội Thông qua việc điều hành ở địa phương, một mặt đây
là biện pháp thực tế để triều Trần rèn luyện các vương hầu tôn thất Mặt khác, qua
công việc thực tế, họ có cơ hội và điều kiện thể hiện tài năng và đức độ của mình
Điểm đặc biệt là, nhà Trần không ban cấp thái ấp tràn lan, mà rất coi trọng
chọn những người tài giỏi, để vừa cấp thái ấp vừa giao cho họ trấn giữ và bảo vệ những vùng đất quan trọng của đất nước Ban cấp thái ấp là sự kết hợp độc đáo giữa chính trị, quân sự, kinh tế và môi trường tự nhiên Những người được phong tước
vương, hầu nhưng không phải là tôn thất họ Trần thì cũng không được ban thái ấp
Ví dụ: Đại vương Phùng Tá Chu, Quan nội hầu Phạm Kính Ân cả hai đều là các đại
thần triều Trần, đều được phong tước vương, hầu nhưng đều không được ban thái ấp
và không được triều đình cử đi trấn trị ở địa phương như các tôn thất khác Xem xét
vị trí địa lý và tên tuổi của những người được ban cấp thái ấp như chúng tôi dẫn sau
đây, chúng ta hình dung được chiến lược “cài người” của nhà Trần như thế nào Dựa
vào Đại Việt sử ký toàn thư (viết tắt là ĐVSKTT), Khâm định Việt sử thông giám
cương mục (viết tắt là Cương mục) kết hợp với nguồn tư liệu địa phương, chúng ta
biết được 12 thái ấp được bố trí như sau:
- Thái ấp của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương)
Trang 5- Thái ấp của Tá thánh Thái sư Trần Thủ Độ ở Quắc Hương (nay là làng Thành Thị, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam)
- Thái ấp của Huệ Võ vương Quốc Chẩn ở Chí Linh
- Thái ấp của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ở Thanh Hóa
- Thái ấp của Tĩnh Quốc Đại vương Quốc Khang ở Diễn Châu
- Thái ấp của Văn Huệ vương Trần Quang Triều ở Gia Lâm (nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội)
- Thái ấp của Tướng quốc Thái úy Trần Nhật Hạo ở Dương Xá (làng Dàng, xã Hoàng Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)
- Thái ấp của Thượng tướng quân Trần Khát Chân ở Cổ Mai (còn gọi là Kẻ Mơ) (nay là các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động và phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội)
- Thái ấp của Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải ở Độc Lập (nay thuộc xã Mỹ Thành, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam)
- Thái ấp của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư ở Dưỡng Hoà (nay thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam)
- Thái ấp của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng ở Tĩnh Bang (thôn Vạn Niên, Vĩnh Bảo, Hải Phòng)
- Thái ấp của các Trưởng công chúa ở Bạch Hạc (Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày nay)
Các thái ấp này đều ở những vị trí trọng yếu của đất nước: các cửa ngõ phía Nam và Bắc Thăng Long, đặc biệt là phía Nam Thăng Long Trong đó các thái ấp trên trục đường nước Thăng Long - Thiên Trường lại nhiều hơn cả Điều này thể hiện nhà Trần rất chú trọng bảo vệ con đường nước Bắc - Nam nối hai trung tâm chính trị lớn nhất nước lúc bấy giờ: Thăng Long - Thiên Trường1 Cho nên, những người cai quản thái ấp phải tài giỏi mới có thể đảm trách được nhiệm vụ quan trọng
là bảo vệ triều đình và hoàng tộc, cũng là bảo vệ đất nước độc lập, tự chủ
Họ ở các thái ấp, nhưng vẫn chịu sự lãnh đạo tối cao của nhà vua
Mặc dù cho đến nay không có tư liệu nào cho biết cách thức học hành của họ thế nào mà trên thực tế công việc cả văn lẫn võ họ đều nổi tiếng đến vậy
2 Đào tạo thông qua hệ thống giáo dục Nho học
Nhà Trần sau khi thay thế nhà Lý quản lý đất nước đã có ý thức chú trọng
đến nền giáo dục của nước nhà Buổi đầu của nhà Trần, hệ thống giáo dục bao gồm nhiều nội dung nhưng Nho học là chủ yếu, học Nho giáo và học chữ Nho Học chữ
Trang 6Nho để đọc Kinh sách của Phật giáo và phục vụ cho các nghi lễ của Đạo giáo Sự phát triển cực thịnh trở thành quốc giáo của Phật giáo từ thời Lý và sự tồn tại của
Đạo giáo không chỉ được phản ánh trong sinh hoạt cộng đồng mà còn được phản
ánh trong giáo dục khoa cử Ví dụ: sách ĐVSKTT chép: "Đinh Hợi, năm thứ 3
(1227) Thi con các nhà tam giáo (nghĩa là những người nối nghiệp các nhà Nho
giáo, Đạo giáo, Phật giáo -TG)"2 Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại
chí chép: "Đời Lý Trần, đều chuộng Phật giáo và Đạo giáo, cho nên buổi ấy chọn người muốn được thông cả hai giáo ấy, dù là chính đạo hay dị đạo, đều tôn chuộng không phân biệt, mà học trò đi thi khoa ấy (khoa tam giáo) nếu không học rộng biết nhiều thì cũng không đỗ được"3 Nội dung tư liệu này cho chúng ta biết hai thông
tin: một là, Phật giáo và Đạo giáo đều được tôn chuộng không phân biệt; hai là, các học trò đi thi nếu muốn đỗ đạt đều phải học rộng biết nhiều Khoa thi tam giáo thứ
hai được tổ chức vào năm 1247 Và từ đó trở đi không thấy sử cũ chép đến thi tam giáo nữa Tuy nhiên, từ những thông tin trong tư liệu nêu trên có thể cho chúng ta một suy nghĩ là, những khoa thi Tam giáo này trong chừng mực nào đó là nơi cung cấp nhân tài cho nhà nước?
Tuy nhiên, càng ngày triều đình càng chú trọng đến giáo dục Nho giáo Nếu như khoa thi Tam giáo được tổ chức ngay sau khi triều Trần thành lập (1227), thì 5 năm sau (1232), khoa thi Thái học sinh đầu tiên được tổ chức Mặc dù, về mặt văn hóa, đạo Phật vẫn giữ địa vị chủ đạo trong đời sống tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân Đạo Giáo với những nghi lễ thần bí, dầu chưa được tôn sùng như một quốc giáo nhưng lại rất phổ biến đối với nhân dân Song, với đạo trị nước thì các vua Trần
đã không tìm thấy đường lối trong các giáo lý ấy Vì thế học tập đạo Nho đã ngày càng trở nên phổ biến Các khoa thi Thái học sinh (tức thi Tiến sĩ), là một trong những phương thức tuyển chọn nhân tài được nhà Trần thực hiện tuy không đều đặn như ghi chép trong sử cũ (7 năm một lần) nhưng số lượng các khoa thi đã gấp nhiều lần so với thời Lý Từ khoa thi đầu tiên vào năm 1232 và đến khoa cuối cùng - năm
1393, nhà Trần đã tổ chức được 12 khoa thi Thái học sinh và một kỳ thi Đình các Tiến sĩ4 Nhà Trần đã thực sự thông qua giáo dục Nho học để tuyển chọn nhân tài
2
ĐVSKTT, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr.8
3 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Phần Khoa mục chí, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1992, tr.152
4
Trong bài: Vài nét về giáo dục khoa cử thời Lý Trần, NCLS, số 2-1977, tr 28, tác giả Nguyễn Danh Phiệt có dẫn lại tư liệu của Nguyễn Hoãn, tác gia thế kỷ XVIII trong Đại Việt lịch triều
đăng khoa lục về các khoa thi Tiến sĩ và người đỗ Tiến sĩ thời Lý và Trần như sau: Thời Lý là 3
khoa - 22 người đỗ, thời Trần là 10 khoa - 273 người đỗ, biệt lục và bổ di thời Lý 1 khoa - 5 người
đỗ, thời Trần 4 khoa - 9 người đỗ, tổng cộng thời Lý 4 khoa - 27 người đỗ, thời Trần 14 khoa -
282 người đỗ Nhưng theo thống kê của tôi trong ĐVSKTT thì có 12 khoa thi Thái học sinh (như
Trang 7phục vụ đất nước và cũng thông qua học Nho học để từng bước truyền bá hệ tư tưởng Nho giáo Giáo dục Nho học thời nhà Trần không phát triển ồ ạt mà đi dần từng bước đặt nền móng cho sự phát triển cực thịnh vào thời Lê sau đó
Các loại hình trường học Nho giáo tồn tại chủ yếu ở Kinh thành gồm: Trường
học do nhà nước tổ chức có Quốc tử viện, Quốc học viện Thời gian đầu, học ở
Quốc tử viện và chỉ dành cho con em các văn quan và tụng quan vào học, đến năm
1253 thành lập Quốc học viện thì cho tất cả các nho sĩ trong nước vào học Nội
dung học gồm Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung dung (Tứ thư) và Ngũ kinh gồm: Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Xuân Thu Theo tư liệu này thì nội dung học tập của các Nho sĩ như trên cũng khá qui củ
Năm 1281, một trung tâm đào tạo nữa được lập ở Thiên Trường - Kinh đô thứ hai của nhà Trần Sử cũ không ghi rõ đối tượng được vào học mà chỉ cho biết những người thuộc hương Thiên Thuộc không được vào học vì sợ khí lực kém đi, không thích hợp cho việc tuyển quân
Bên cạnh trường quốc lập còn có những trường tư như trường của Chu Văn
An, trường của Chiêu Quốc vương Trần ích Tắc Các trường học ở kinh thành đã thu hút nhiều nho sĩ đến học Học trò của Chu Văn An có người đỗ đạt cao và đều giữ trọng trách trong triều đình
Trường học ở các địa phương có thể đã được tồn tại trên thực tế, song tiếc
thay chúng ta lại không có tư liệu nào cho biết thực trạng ra sao, cách thức tổ chức
như thế nào, mãi đến năm 1397 mới thấy sử cũ chép đến việc nhà Trần đặt chức
giáo thụ ở châu và trấn, chứng tỏ việc giáo dục ở các địa phương đến đây đã được
chú trọng và thực hiện quy củ Tháng 5 năm Đinh Sửu (1397), vua Trần Thuận Tông
lại xuống Chiếu đặt học quan ở các châu huyện Chiếu viết: "Đời xưa, nước có nhà
học, đảng có nhà tự, toại có nhà tường (đảng là 500 nhà; toại là làng - tự và tường là tên trường học), là để tỏ rõ giáo hóa, giữ gìn phong tục, ý trẫm rất mộ Nay quy chế
ở Kinh đô đã đủ mà ở châu huyện thì còn thiếu, làm thế nào mở rộng giáo hóa cho dân được? Nên hạ lệnh cho các lộ phủ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, đều đặt một
Tiến sĩ đời sau) và 01 khoa thi Đình các Tiến sĩ Theo tư liệu cho biết thì thi Đình là để chọn ra Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa như ghi chép trong ĐVSKTT, tập 2, sđd, tr.183 về Khoa thi
Đình năm 1374: "Thi đình các tiến sĩ, cho Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên, Lê Hiến Phủ đỗ Bảng
nhãn, Trần Đình Thâm đỗ Thám hoa, cho bọn La Tu đỗ Hoàng giáp cập đệ và đồng cập đệ; đều cho ăn yến và áo xấp, cho xuất thân theo thứ bậc khác nhau Dẫn ba người đỗ đầu đi chơi phố 3 ngày Theo lệ cũ, Thái học sinh 7 năm một lần thi, lấy 30 người đỗ mà thôi Thi Trạng nguyên thì không có định lệ nhưng thuộc quan ở tam quán, thái học sinh, thị thần học sinh, tướng phủ học sinh và người có tước phẩm đều được vào thi cả" Đây là khoa thi Đình có nhiều đối tượng dự thi
Trang 8học quan, cho ruộng công theo thứ bậc khác nhau ( ) Quan lộ và quan đốc học dạy bảo học trò cho nên tài nghệ, cứ đến cuối năm chọn người nào ưu tú tiến cử lên triều
đình, trẫm sẽ thân hành thi để lấy dùng"5 Theo nội dung Chiếu này thì đến cuối
năm chọn người học giỏi gửi lên triều đình Qua đó chúng ta thấy, việc giáo dục ở các địa phương vào cuối thời Trần không chỉ nhằm đào tạo tầng lớp quan lại Nho học mà còn nhằm tuyển người tài giỏi ở các địa phương cho triều đình Rất tiếc
Chiếu này trong thực tế đã không được thi hành Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn: "Bấy giờ
có chiếu lệnh này, còn gì tốt bằng nữa Song không thấy thi hành, không phải là bản
ý của vua, chỉ là Quý Ly muốn làm việc cướp ngôi, mượn việc ấy để thu phục lòng người mà thôi"6
Các khoa thi cùng với nội dung thi cử được quy định rõ ràng, cụ thể, đã giúp cho nhà Trần có cơ hội tuyển chọn được một đội ngũ trí thức Nho học có tri thức và trình độ phục vụ nhà nước quân chủ Trong những khoa thi, triều đình chọn những người tiêu biểu có trình độ học vấn và có đạo đức cho vào hầu vua Sử chép: "Tháng
8 năm 1236, chọn nho sinh thi đỗ cho vào chầu hậu (hầu vua -TG), sau thành định lệ" và "Tháng 12 năm Giáp Tuất (1274), chọn người Nho học trong nước người nào
có đức hạnh sung vào hầu Đông cung"7
Có những chức quan trọng như chức Hành khiển, đặt ở Thăng Long và Phủ Thiên Trường lúc đầu chỉ dùng hoạn quan Tuy nhiên, hoạn quan được tin dùng là bởi lòng trung thành, mẫn cán và không đòi hỏi quyền lợi nhưng lại tỏ ra dốt nát
Đến thời Trần Thánh Tông, niên hiệu Thiệu Long (1258-1272) mới thay thế bằng những người văn học đỗ đạt như Nguyễn Trung Ngạn, Lê Cư Nhân hoặc những người thực tài (chưa đỗ đạt) như Đoàn Nhữ Hài Thời vua Trần Nhân Tông sử cũ chép đến sự kiện Hành khiển Lê Tông Giáo khi ra tuyên đọc tờ chiếu của vua do Hàn lâm viện sĩ phụng chỉ Đinh Củng Viên soạn thảo nhưng Đinh Củng Viên đã cố tình dấu đi không đưa cho Lê Tông Giáo đọc trước nên khi ra tuyên đọc không biết
âm nghĩa thế nào phải chờ Đinh Củng Viên nhắc cho từng chữ và tiếng nhắc của Củng Viên càng to thì tiếng đọc của Tông Giáo càng nhỏ Sự kiện này thể hiện sự bất lực của tầng lớp hoạn quan so với tầng lớp nho sĩ trong công việc triều chính Về sau, chức hành khiển đã được thay thế bằng những người không chỉ có lòng trung thành mà còn phải thực tài và có học vấn
Từ những thập kỷ cuối thế kỷ XIII trở đi, con đường tuyển chọn người hiền vào việc nước đã đi vào quy củ và ngày càng phát triển Phần lớn họ là những người
Trang 9nổi tiếng như: Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Hứ, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn
Dũ, Phạm Mại (tức Chúc Cố, vì là học trò của Nguyễn Sĩ Cố nên kiêng húy của thầy
đổi làm Mại), Phạm Ngộ (tức Chúc Kiên, vì tránh tên của phán thủ Huệ Nghĩa, đổi tên là Ngộ), Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Lê Duy (người xã Cổ
Định, huyện Nông Cống), Trương Hán Siêu, Lê Cư Nhân Chính sử chép là “nhân
tài đầy dẫy "8 Các khoa thi lấy đỗ tiến sĩ rất nhiều Khoa thi năm 1247: 48 người, khoa thi năm 1256: 43 người, khoa thi năm 1266: 47 người, khoa năm 1275: 27 người, khoa năm 1304: 44 người v.v Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu đã
được nhà vua giao cho biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và bộ Hình thư vào năm
Kỷ Mão (1339) (tiếc thay nay không còn) Điều đó đã chứng tỏ rằng trình độ của các Tiến sĩ thời Trần như thế nào Rất tiếc những tác phẩm này đã thất lạc không còn lưu truyền đến ngày nay
Nguyễn Trung Ngạn từng giữ nhiều chức quan trọng, trong đó có thời kỳ ông
là người đứng đầu quản lý Kinh đô Thăng Long với chức Đại Doãn Kinh sư9 Lê Văn Hưu đỗ Bảng nhãn khoa thi năm 1247 Lê Văn Hưu là người chấp bút viết bộ
sử nổi tiếng của nước ta là bộ Đại Việt sử ký, 30 quyển từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu
Hoàng vào năm Nhâm Thân (1272)
Đến cuối thời Trần, kỳ thi tiến sĩ tháng 8 năm 1400, chúng ta thấy nổi tiếng
là Nguyễn Trãi Ông sinh năm 1380, mặc dù ông chưa có điều kiện đem tài năng phục vụ triều Trần vì trước đó (tháng 3-1400) triều Trần sụp đổ, Hồ Quý Ly lên ngôi vua, thiết lập nên triều Hồ Nhưng thời gian ông học tập để đỗ đạt lại là khoảng thời gian 20 năm cuối triều Trần Tài năng và những cống hiến của ông đối với triều
Lê Sơ mãi mãi lưu truyền sử xanh và muôn đời con cháu mai sau Ngô Thì Sĩ đã nhận xét: "Xem những người đỗ về các khoa cuối đời Trần thì Nguyễn ức Trai là nhất, văn chương mưu trí của ông đã giúp cho triều Lê buổi đầu dựng nước Sau nữa như Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Phan Phu Tiên, Nguyễn Thiên Túng, đều là văn chương cự phách một thời"10 v.v
Giáo dục khoa cử của nhà nước đã tạo cơ hội cho Nho sĩ không chỉ có điều kiện thi thố tài năng, tiến thân trên con đường quan chức mà quan trọng là qua đó nhà nước tuyển chọn được người tài giỏi phục vụ đất nước Ngô Thì Sĩ đã viết: "Thế
8
ĐVSKTT, tập 2, sđd, tr.147
9
Nguyễn Trung Ngạn, danh nhân thời Trần, người một thời đứng đầu Kinh sư Thăng Long và có
nhiều đóng góp cho Thăng Long, nhưng hiện nay đường Nguyễn Trung Ngạn lại chỉ là một ngõ của phố Nguyễn Công Trứ, rất ngắn, khoảng vài chục mét, không tương xứng với đóng góp của
Trang 10mới biết từ Tam đại (nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu -TG) về sau chọn người giỏi bằng khoa cử thì văn nghệ không thiếu được"11
3 Đào tạo bằng thực tế công việc
Hình thức đào tạo này khá phong phú, có người là Nho sinh, có người là quý tộc, có người là Thái học sinh Đối với Nho sinh, không qua thi cử, nhà Trần tuyển chọn qua thực tế công việc như trường hợp Đoàn Nhữ Hài12 Nhưng trải qua công việc đó cũng chính là hình thức đào tạo cụ thể bằng thực tế công việc Công việc thật tình cờ đối với Đoàn Nhữ Hài, đó là làm giúp vua Trần Anh Tông bài Biểu tạ
tội “Nghĩ Anh Tông hoàng đế tạ thượng hoàng biểu” (Thay lời vua Anh Tông làm
biểu tạ Thượng hoàng)13 Nội dung tờ Biểu chứa đựng sự am hiểu kiến thức sâu rộng
và tài năng khác thường của Ông Ngay sau đó Ông được vua Anh Tông trọng dụng, phong cho chức Ngự sử trung tán khi mới 20 tuổi, rồi Tham tri chính sự (năm 1303), Tri khu mật viện sự và đỉnh cao là chức Hành Khiển mà lệ cũ là chỉ dùng hoạn quan Tài năng nổi tiếng của Ông thể hiện trên nhiều lĩnh vực: ngoại giao, nội trị, quân sự và văn học Trong quan hệ của nhà Trần với các nước Chiêm Thành, Ai Lao, Đoàn Nhữ Hài đã đóng góp một phần công sức quan trọng
Trường hợp của Nguyễn Trung Ngạn cũng vậy, mặc dù đỗ Thái học sinh, làm quan trong triều đình nhưng vẫn có khoảng thời gian tương đối dài đi thực tế ở địa phương Tính từ năm 1224 đến 1241, Nguyễn Trung Ngạn có tới 17 năm làm việc ở
địa phương và kiêm một số công việc khác ở triều đình Điều đó có thể thấy, nhà Trần rất coi trọng việc đào tạo quan lại bằng công việc thực tế
Trần Hưng Đạo tuyển người làm việc dưới trướng theo “công thức” như sau:
“Tài người nào có thể vượt 100 người thì làm trưởng trăm người, vượt được một nghìn người thì làm trưởng nghìn người, vượt qua nghìn người thành một quân thì
có thể đối phó cơ sự ở một mặt, có thể đảm đương sức chống ở một mặt, đủ làm trưởng cả quân Quân có lúc cô, thì tướng cần có thể một mình, cho nên người khéo dùng tài thì những chức thiên tì (tức thiên tướng và tì tướng) cũng đều là đại tướng
11
Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, phần Khoa mục chí, sđd, tr.154
12 Trong cuốn: Khảo lược về kinh nghiệm phát triển đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, chương III: Việc đào tạo và sử dụng nhân tài trong buổi đầu xây dựng nhà nước quân chủ độc lập từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, ở trang 55, đã viết:
“ có nhiều nhân tài nổi bật xuất thân khoa cử như Phùng Khắc Khoan, Phạm Sư Mạnh, Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi ”, theo tôi, Phùng Khắc Khoan là nhân tài nhưng không phải ở các thế kỷ X- XIV Đoàn Nhữ Hài cũng là nhân tài nhưng chưa hề đỗ đạt qua khoa cử
13 Thơ văn Lý –Trần, tập II, quyển Thượng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr 726-727
Trang 11cả”14 Và, với cách thức trên thì muốn thể hiện tài thì không có cách gì khác là phải trải qua công việc
II Tuyển chọn nhân tài và người thực giỏi vào bộ máy nhà nước
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, triều đình nhà Trần trong quá trình củng cố và xây dựng nhà nước quân chủ đã tỏ rõ chủ trương trọng dụng người tài, không cứ là tôn thất, không cứ là người đỗ đạt, nếu tài giỏi vẫn được triều đình trọng dụng Người không đủ tài dù có thân cận với nhà vua đến đâu cũng không được giao cho trọng chức, như tư liệu đã nêu trên
Trong quá trình nghiên cứu về nhà Trần, trên cơ sở tư liệu hiện có, chúng tôi khái quát về phương thức tuyển dụng nhân tài thời Trần ở 4 nội dung cơ bản sau:
1 Tuyển chọn quý tộc tôn thất tài giỏi
2 Tuyển chọn nhân tài qua các kỳ thi Thái học sinh
3 Tuyển chọn các nho sinh có tài
4 Tuyển chọn bằng cách tiến cử
Trong quá trình dùng người, nhà Trần không nhất thiết căn cứ vào phương thức tuyển dụng nào, mà những phương thức đó kết hợp, bổ trợ cho nhau miễn làm sao cung cấp cho bộ máy nhà nước những người vừa có đức, vừa có tài giúp triều
đình điều hành, lãnh đạo đất nước
1 Tuyển chọn quý tộc tôn thất tài giỏi
Triều đỡnh Trần vừa là nhà nước quân chủ quý tộc đồng tộc vừa là nhà nước quân chủ quan liêu Khi mới thiết lập vương triều, nhà Trần sử dụng đội ngũ quý tộc
đồng tộc vào bộ máy của triều đình trung ương Tầng lớp quý tộc tôn thất, được triều đình trọng dụng và đãi ngộ ưu hậu Họ được giữ những chức vụ cao trong triều như các chức Tam thái, Tam thiếu, Tam tư, đứng đầu hai ban văn võ “Chức tể tướng thì chọn trong tôn thất người nào tài giỏi, có đạo đức nghệ thuật, thông hiểu thi thư thì cho làm”15 Chức Phiêu kỵ tướng quân thì chỉ có hoàng tử mới được đảm nhận Vai trò của tôn thất là rất quan trọng, họ là chỗ dựa chính yếu của vương triều Trong khoảng thời gian thế kỷ XIII, những đại thần đều là người tôn thất Các
đại thần tôn thất đều được lãnh những chức vụ cao trong triều Và, xét trong chính
sử ta thấy, những tôn thất được triều đình sử dụng vào việc nước đều tài giỏi Những
Trang 12chức vụ trọng yếu trong bộ máy nhà nước đều do tôn thất đảm nhiệm như Trần Thủ
Độ, Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Trần Quang Triều, Trần Khánh Dư, hoặc người được ban quốc tính như Trần Khát Chân, v.v Họ đều là những người văn võ song toàn Mặc dù, họ không phải là đội ngũ được tuyển chọn qua khoa cử Nho học, nhưng sự tài giỏi của họ trong quá trình xây dựng đất nước đã
đưa triều Trần đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân
sự, văn hoá và xã hội Vua Trần Nhân Tông là người sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm, chắc hẳn phải nghiên cứu kinh Phật đến độ thiên kinh vạn quyển Trần Thủ
Độ được các sử thần nhà Lê nhận xét: Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn "Khi làm tể tướng mà phàm công việc không việc gì là không để ý Vì thế mà giúp nên nghiệp vương, giữ được tiếng tốt cho đến chết Thái Tôn có làm bài văn bia ở sinh từ để tỏ quý mến khác người"16 Trần Hưng Đạo được Ngô Thì Sĩ hết lời ca ngợi: “ Tài văn võ đủ làm phép cho muôn nước, mà không dám cậy tài năng; Anh hùng nổi tiếng hai nước mà không dám nhận công nghiệp Thế lực có thể lật sông núi, đuổi sấm sét, mà lúc nào cũng coi uy nhan vua ở trước mặt Nay xem ra theo nghĩa phải mà không theo lời cha Biết có nước mà không biết đến nhà, bẻ mũi gậy để đi theo hầu vua, giơ gươm
mà kể tội con Lòng trung thành sáng như mặt trời”17 Phan Huy Chú nhận xét về Trần Quang Khải: “Công lao thu phục được nước, ông đứng thứ nhất Ông nghe rộng biết nhiều, hiểu các tiếng người nước Phiên Mỗi khi sứ sang ta, ông được chọn vào thù tiếp Ông rất chăm học hay làm thơ”18 Trần Khánh Dư được vua Trần Nhân Tông khen là người vừa tài trí lại mưu lược và lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi của thiên tử) và được phong chức Phiêu kỵ Thượng tướng quân, một chức chỉ dành riêng cho hoàng tử Và, cố nhiên còn khá nhiều tư liệu khác khen ngợi sự tài giỏi của các tôn thất nhà Trần, nhưng trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin được chứng minh phần nào
Tuy nhiên không phải cứ là tôn thất thì đều được trọng dụng Nếu là tôn thất
mà không có tài thì triều đình cũng không giao chức vụ Cung Túc vương Dục, con trưởng của vua cũng không được chọn để kế tục ngai vàng vì "là người phóng đãng quá", không đủ tư cách và uy tín Bảo Hưng vương là người tôn thất được vua Trần
Anh Tông rất yêu quý, nhưng không được vua ủy cho làm việc chính sự “vì là
Trang 13Những tôn thất được triều đình trọng dụng đều nổi tiếng tài giỏi đương thời Danh tiếng của họ đến ngày nay vang vọng khắp non sông đất nước Ta đã thấy Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn không chỉ là thiên tài quân sự, vị tướng cầm
quân tài giỏi mà kiến thức về binh pháp của ông còn được soạn thành tập Vạn Kiếp
tông bí truyền thư Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư làm bài tựa đã ngợi ca hết lời:
"Phàm người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu), nhờ đó trăm trận trăm thắng Cho nên đương thời phía Bắc làm cho Hung nô (chỉ quân Mông Cổ) phải sợ, phía Tây làm cho Lâm ấp Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết "20 Tư
tưởng của nhà quân sự lỗi lạc thể hiện trong Binh gia diệu lý yếu lược (Binh thư yếu
lược): “Thương người, dốc chí làm việc thì được sự yêu mến Nghe lời nói phải, xa
kẻ gièm pha, thì người xa đến với mình Đo tính trước sau rồi mới làm, đó là đề phòng khi có biến cố Có tội phải răn, có công phải thưởng mới có thể uốn nắn được người Thông việc trước, suốt việc sau mới có thể giáo dục được quân chúng Rẻ sắc
đẹp, trọng con người mới được lòng dân Bỏ lợi tư theo lợi chung mới giữ được nước” “Thanh liêm của cải, tiết kiệm tiêu dùng, ít say về rượu, giữ mình theo lễ, thờ
bề trên cho trung, có việc lo chung với quân chúng, lấy của địch mà không tích trữ (cho mình), bắt phụ nữ địch mà không tiêu dùng (cho mình)”21 Trần Hưng Đạo còn
là một thiên tài văn học Hịch tướng sĩ và các tác phẩm của Ông là những di sản văn
hóa quý giá của dân tộc Đánh giá công lao của Trần Quốc Tuấn, Ngô Thì Sĩ đã viết: “ Tài văn võ đủ làm phép cho muôn nước, mà không dám cậy tài năng; Anh hùng nổi tiếng hai nước mà không dám nhận công nghiệp Thế lực có thể lật sông núi, đuổi sấm sét, mà lúc nào cũng coi uy nhan vua ở trước mặt Nay xem ra theo nghĩa phải mà không theo lời cha Biết có nước mà không biết đến nhà, bẻ mũi gậy
để đi theo hầu vua, giơ gươm mà kể tội con Lòng trung thành sáng như mặt trời”22
Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật là nhà ngoại giao nổi tiếng, nhà văn hóa lớn của Đại Việt Ông không chỉ giỏi ngoại ngữ mà khi giao tiếp với người nước ngoài hoặc tiếp đãi sứ thần nhà Nguyên mà kiến thức uyên bác của Ông được thể hiện qua những lần tiếp đãi đó “Nhật Duật học qua Ngũ kinh và Chư sử, tinh thông lời huyền diệu của Đạo gia, hiểu biết âm nhạc, đời bấy giờ khen là người học thức
20
ĐVSKTT, tập II, sđd, tr.94 –95; Thơ văn Lý –Trần, tập II, quyển Thượng, sđd, tr.600
Trang 14rộng rãi, lại hiểu tiếng các nước Nhân Tông thường nói: "Chú Chiêu Văn (Nhật Duật là con Trần Thái Tông bằng vai với Thánh Tông nên Nhân Tông gọi là chú) có
lẽ là hậu thần của người bộ lạc Phiên" Mỗi khi nói chuyện giao thiệp với sứ thần nhà Nguyên, không cần dùng người thông ngôn, thường tay cầm tay, uống rượu với nhau, vui vẻ như bạn quen biết Sứ nhà Nguyên nói: "ông hẳn là người Chân Định sang làm quan bên này?" Nhật Duật cố chối không nhận, họ vẫn không tin, vì họ thấy hình dáng và tiếng nói của Nhật Duật đều giống hệt người Chân Định Nhật Duật là người có độ lượng, hòa nhã, dù mừng hay giận không bao giờ lộ ra nét mặt; lại còn không ưa những sự thỉnh thác; lúc gặp việc thì tùy cơ ứng biến, rất mạnh dạn
hoàn Kinh sư (Phò giá về Kinh); Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh (Tiễn sứ Bắc Sài
Trang Khanh); Tặng Bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đằng (Tặng sứ Bắc Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn); Đề Bạch Mã từ (Đề đền Bạch Mã); Đề dã thự (Đề thơ
ở biệt thự đồng quê); Lưu Gia độ (Bến đò Lưu Gia); Xuân nhật hữu cảm (Cảm hứng ngày xuân) và Phúc Hưng viên (Vườn Phúc Hưng) Phan Huy Chú nhận xét về Ông:
“Công lao thu phục được nước, ông đứng thứ nhất Ông nghe rộng biết nhiều, hiểu
các tiếng người nước Phiên Mỗi khi sứ sang ta, ông được chọn vào thù tiếp Ông rất chăm học hay làm thơ”24 Trân trọng công lao của ông đối với đất nước, vua Trần
Thánh Tông đã làm bài thơ: Tặng Trần Quang Khải bằng hai câu thơ:
Nhất đại công danh thiên hạ hữu Lưỡng triều trung hiếu thế gian vô
Nghĩa là: Công danh trọn một đời, thiên hạ còn có người như ông
Tấm lòng trung hiếu đối với hai triều vua thì thế gian không ai có
2 Tuyển chọn nhân tài qua các kỳ thi Thái học sinh
Nhà Trần không chỉ tuyển chọn nhân tài trong đội ngũ quý tộc đồng tộc, mà
sau khi thiết lập vương triều, triều đình đã chú trọng tuyển chọn nhân tài qua các kỳ
thi Thái học sinh Nhà Trần đã thực sự thông qua khoa cử để tuyển chọn nhân tài
phục vụ đất nước Chúng ta thử xét ví dụ một số khoa thi, những người thi đỗ đều
được triều đình bổ làm quan trong triều Khoa thi năm 1247, triều đình lấy đỗ 48
Trang 15người (sách Lịch triều đăng khoa ghi đỗ chỉ có 40 người), trong đó có những người
giỏi nổi tiếng như Nguyễn Hiền, Lê Văn Hưu Lê Văn Hưu là người chấp bút viết bộ
sử Đại Việt sử ký gồm 30 quyển vào năm Nhâm Thân (1272)
Khoa thi năm 1304 lấy đỗ 44 người Đây là khoa thi tập trung sĩ tử lớn nhất từ trước tới đó (330 người) Ba người đỗ đầu còn được dẫn ra cửa Long Môn của Phượng thành đi chơi đường phố ba ngày Trong đó có Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Thám hoa lang Trương Phóng, Nguyễn Trung Ngạn đỗ Hoàng giáp Trung Ngạn đỗ lúc mới 16 tuổi, đương thì gọi là thần đồng Sự tài giỏi và năng lực của Nguyễn Trung Ngạn khá đa dạng Ông không chỉ là người có kiến thức uyên thâm
mà còn là nhà quản lý tài năng, không phải ngẫu nhiên mà triều đình nhà Trần giao cho Ông giữ trọng trách đứng đầu quản lý Kinh đô Thăng Long mà thời đó gọi là
Đại Doãn Kinh sư ĐVSKTT chép: "Mùa Xuân năm Tân Tỵ (1341), lấy Nguyễn
Trung Ngạn làm Đại Doãn Kinh sư (nguyên trước ở Kinh sư đặt Đại An phủ sứ, đến
đây đổi làm Đại Doãn)"25 Nhà Trần rất coi trọng chức vụ đứng đầu kinh thành này
và có một chế độ tuyển chọn rất cẩn thận: muốn đứng đầu cơ quan cai trị Thăng Long, người đó phải trải qua công tác thực tế cai trị các lộ, các phủ trong nước, đủ lệ khảo duyệt thì được cử về làm An phủ sứ phủ (lộ) Thiên Trường là quê hương nhà Trần và có cung của Thượng hoàng nhà Trần; Lại đủ lệ khảo duyệt thì bổ làm Thẩm hình viện sự rồi mới được làm Kinh sư đại an phủ sứ (hay Kinh sư đại doãn) Nhờ thế, dưới triều Trần, nhiều viên quan cai trị Thăng Long có đức, có tài
Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng là Lưỡng quốc Trạng nguyên Ông được triều đình nhà Trần hai lần cử đi sứ nhà Nguyên vào các năm 1308 và 1324 Lúc này, nhà Nguyên đời Vũ Tông là lúc triều Nguyên vẫn còn thịnh Vua Vũ Tông lại là vị vua trọng văn tài, chuộng thơ phú, do đó vai trò ngoại giao của Mạc Đĩnh Chi là hết sức quan trọng Bản tính thông tuệ lại tài thơ văn, Ông đã khiến cho vua quan nhà Nguyên từ chỗ khinh bỉ đến chỗ nể phục Đó là lần đi sứ thứ nhất vào năm 1308, tức
là sau 4 năm đỗ Trạng nguyên, Mạc Đĩnh Chi người thấp bé, người Nguyên nhìn thấy thì khinh bỉ Một hôm tể thần mời vào trong phủ cùng ngồi Lúc ấy đương khoảng tháng 5, tháng 6, trong phủ có treo cái màn mỏng, thêu hình con chim tước vàng đậu trên cành trúc Đĩnh Chi giả lầm là chim tước thật, vội chạy đến bắt Người Nguyên đều cười ồ, cho là người phương xa bỉ lậu Đĩnh Chi kéo cái màn xuống xé đi Mọi người đều lấy làm lạ hỏi là tại sao Đĩnh Chi trả lời: "Tôi nghe người xưa có vẽ mai tước (tước đậu cành mai), chưa thấy vẽ trúc tước (tước đậu cành trúc) bao giờ Nay trong trướng của tể tướng lại thêu chim tước đậu cành trúc Trúc là quân tử, tước là tiểu nhân, tể tướng đem trúc tước mà thêu vào trướng, thế là
Trang 16để tiểu nhân lên trên quân tử, tôi sợ rằng đạo của tiểu nhân ngày lớn thịnh lên, đạo của quân tử ngày mòn mỏi đi, cho nên tôi trừ giúp bọn tiểu nhân cho thánh triều" Mọi người đều phục là nhanh trí khôn Đến khi vào chầu vừa gặp người nước ngoài
đem dâng quạt Vua Nguyên sai làm bài minh Đĩnh Chi cầm bút viết xong ngay bài Phiến minh Vua Nguyên xem xong gật gù khen mãi và phê từ chữ "Y" (Ôi!) trở xuống bốn chữ "Lưỡng quốc trạng nguyên" và từ chỗ khinh bỉ, người Nguyên càng
nể phục Ông từng làm quan và hoạt động dưới 4 triều vua Trần: Trần Anh Tông (1293-1314), Trần Minh Tông (1314-1329), Trần Hiến Tông (1329-1341) và Trần
Dụ Tông (1341-1369) trong suốt gần 40 năm Làm quan đến chức Nhập nội hành khiển Hữu ty Lang trung, Tả ty Lang trung đời vua Trần Minh Tông Bùi Mộ khi mới đỗ được sung chức chi hậu bạ thư mạo sam (mạo sam: mũ và áo của chức bạ thư), sung nội lệnh thư gia Trương Phóng làm hiệu thư quyền miện, sung nhị tư (quyền miện: mũ của chức bạ thư) Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), còn có tên là Cốt, là một trong những nhân tài nổi tiếng của triều Trần, từng làm Đại Doãn Kinh sư (nguyên trước ở Kinh sư đặt đại An phủ sứ, đến đây đổi làm Đại Doãn), tức là người đứng đầu cai quản Kinh đô Thăng Long Ông cùng với Trương Hán Siêu biên
định bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn bộ Hình thư Sau, kinh qua các chức
Kinh lược sứ trấn Lạng Giang, nhập nội đại hành khiển, thượng thư hữu bật kiêm tri
Khu mật viện sứ, thị Kinh diên đại học sĩ, trụ quốc khai huyện bá
Để có thể hình dung sơ lược bức tranh khoa cử và nhân tài của triều Trần, chúng tôi thống kê các khoa thi Thái học sinh, số người đỗ đạt và những người đỗ cao ở bảng sau:
Bảng thống kê các kỳ thi Thái học sinh (Tiến sĩ) thời Trần
Lịch các khoa thi
Số người đỗ Những người đỗ cao
Diễn, Trịnh Phẫu, Trần Chu Phổ
Trang 17Các vua nhà Trần rất sắc sảo trong việc sử dụng người thực tài Từ đầu thế kỷ XIV trở đi, đội ngũ quan lại được tuyển chọn qua khoa cử đã tham gia nhiều hơn vào bộ máy nhà nước, thay thế dần những chức vụ quan trọng mà trước đây chỉ dành cho các tôn thất Tính chất nhà nước chuyển dần từ quân chủ quý tộc sang quân chủ quan liêu26 Trong triều đình và ngoài xã hội xuất hiện những nhân tài, những tên tuổi đỗ đạt qua các kỳ thi Thái học sinh Sử chép: năm 1323 "Bấy giờ quan ở trong triều như bọn Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Hứ, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Dũ, Phạm Mại, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Lê Duy (người xã Cổ Định, huyện Nông Cống), Trương Hán Siêu, Lê Cư Nhân nối nhau làm quan, nhân tài đầy dẫy "27
3 Tuyển chọn các nho sinh có tài
26 Xem thêm: Nguyễn Thị Phương Chi: Tác động của chế độ quân chủ quý tộc và quân chủ quan
liêu đối với xã hội thời Trần thế kỷ XIII- XIV, tham luận tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ
2 tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7- 2004
Trang 18Con đường khoa cử không phải là duy nhất để nhà Trần tuyển dụng nhân tài,
mà triều đình còn có hình thức tuyển chọn các nho sinh có tài Vấn đề này đã được Phan Huy Chú nhận xét như sau: "Thời Trần đã đặt khoa cử, nhưng sự bổ dụng không bắt buộc phải có khoa cử, các chức ở sảnh, viện, quán, cục đều dùng những nho sĩ hay chữ để làm, hoặc dùng học sinh vào Trung thư sảnh (như đời Thánh Tông cho Đỗ Quốc Tá là chân Nho sĩ được làm chức Trung thư lệnh), hoặc dùng người bình dân lên làm Mật viện (như đời Anh Tông, Đoàn Nhữ Hài là người bình dân
được cất vào tham dự chính sự), nhảy lên địa vị cao quý không câu nệ ở tư cách "28 Nhận xét của Phan Huy Chú hẳn là muốn nhấn mạnh đến đường xuất thân,
nhưng không thể phủ nhận thực tế là những Nho sinh có kiến thức và trình độ luôn
được triều đình tuyển dụng Trường hợp Đoàn Nhữ Hài là một ví dụ tiêu biểu Ngoài
ra, còn phải kể đến một số danh nhân như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát, Trương Hán Siêu
Phạm Sư Mạnh còn có tên là úy Trai, người làng Giáp Thạch, huyện Giáp
Sơn, Hải Dương (nay là phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương) Không rõ năm sinh và năm mất của ông là năm nào ông là học trò của Chu Văn An, thi đỗ Thái học sinh29 đời Trần Minh Tông năm Đại Khánh thứ 10 (1323), rồi được triều đình Trần cho làm ở sảnh Viện và được cử đi sứ nước Nguyên Năm Thiệu Phong thứ 5 (1345), đời vua Trần Dụ Tông, có sứ nhà Nguyên sang hỏi về việc cột đồng, ông vâng mệnh sang để biện bạch Kết quả là ông đã khuất phục được sứ nhà Nguyên Năm 1346, ông được thăng chức Chưởng bạ thư (tức giữ sổ hộ tịch toàn quốc) kiêm chức Tham chính Viện Khu mật Năm Đại Trị thứ nhất (1358), ông được thăng chức Nhập nội hành khiển, trông coi việc ở Viện Năm Đại Trị thứ hai (1359), đổi làm Lang trung ở Tả ty Năm thứ 5 (1364) ông lại làm việc ở Viện Khu mật, thăng chức Nhập nội nạp ngôn ông vâng chiếu chỉ nhà vua đi tuyển duyệt quân ở 5 lộ (không
rõ là những lộ nào) để chấn chỉnh việc biên phòng Phạm Sư Mạnh là người không chỉ nổi tiếng có tài hùng biện mà còn nổi tiếng về văn thơ; đi bất cứ đâu cũng ngâm thơ khắc để lại
28
Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, sđd, tr.539
29
Theo Phan huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
– 1992, tr.227 Nhưng ở trang 539, Phan Huy Chú chép rõ là học sinh xuất thân như chú thích ở sau Nhưng trong ĐVSKTT, tập II, tr.176-177 trong khi chép về các học trò của Chu Văn An có chép là đến những học trò đỗ đại khoa trong đó có Phạm Sư Mạnh và Lê Bá Quát: "An (người
huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh Trì)) tính người cương trực ( ) học trò đầy cửa; thỉnh thoảng có người đỗ đại khoa, vào chính phủ như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát đã làm hành khiển
mà đều giữ lễ học trò, khi có đến thăm hỏi vẫn lạy ở dưới giường, được An hỏi chuyện vài câu rồi
đi ra, rất lấy làm mừng"
Trang 19Lê Bá Quát còn gọi là Lê Quát, tự là Bá Đạt, hiệu là Mai Phong, người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Không rõ ông sinh và mất năm nào Phạm Sư Mạnh cùng Lê Quát là những người nổi tiếng về văn học và đạo đức thời Trần và đều là học trò của Chu Văn An Lúc còn nhỏ, Lê Quát được học ở kinh sư, thi đỗ30, rồi được triều đình bổ làm quan, từng giữ chức Hữu Bộc xạ (Thượng thư) Năm 1366, vua Trần Dụ Tông cử ông đi Thanh Hóa xét định sổ đinh Nhân chép
việc này, ĐVSKTT còn cho biết thêm: "Quát là người Thanh Hóa, lúc trẻ tuổi du học
ở Kinh sư, có người bạn sang sứ Yên kinh, Quát tiễn bài thơ rằng: Dịch lộ tam thiên
quân cứ an; Hải môn thập nhị ngã hoàn san, Trung triều sứ giả yên ba khách; Quân
đắc công danh ngã đắc nhân (Đường trạm ba nghìn bác cưỡi an; Mười hai cửa biển
tớ về ngàn, Kẻ sang sứ Bắc người mây nước; Bác được công danh tớ được nhàn) Người thức giả biết là Quát thế nào cũng sẽ được quý hiển Quả nhiên Quát thi đỗ làm quan nhanh hơn người bạn kia"31 được thăng chức Thượng thư hữu bật, Nhập nội hành khiển Đương thời hai ông Lê Bá Quát, Phạm Sư Mạnh đều là những người nổi tiếng, được người đời khen là "Lê Phạm" v.v
Trương Hán Siêu tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Am, huyện Yên Khánh (nay là Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình) Chưa rõ năm sinh, mất năm 1354 Ông làm môn khách Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn Năm 1308, được triều đình trao giữ chức Học sĩ Viện Hàn lâm Năm 1339 lãnh chức Thị lang môn hạ sảnh Thời Trần
Dụ Tông, ông cùng với Nguyễn Trung Ngạn biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn bộ Hình thư Năm 1342, được thăng chức Lang trung ở Tả ty, kiêm kinh
lược sứ Lạng Giang Năm 1345 thăng chức Tả gián nghị đại phu Năm 1351 lại
được thăng Tham tri chính sự Năm 1353, Chiêm Thành vào cướp châu Hóa, quan quân nhà Trần không thu được thắng lợi, vua triệu ông bàn mưu tính kế, rồi cử ông cầm quân Thần Sách đến trấn giữ châu Hóa, bờ cõi được yên Sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét: "Trương Hán Siêu là kẻ văn học hơn người "32
có Đĩnh Chi, Trung Ngạn là người khoa giáp, còn bọn Hán Siêu, Sư Mạnh, Lê Quát, Phạm Mại
đều do học sinh xuất thân), chỉ cần người dùng được, chứ không câu nệ ở đường xuất thân Nhân tài và văn học được thịnh, cũng vì thế chăng” Trong các khoa thi Thái học sinh được ghi trong
ĐVSKTT cũng không thấy ghi tên tuổi của hai người Nên, tôi tạm xếp vào mục Nho sinh có tài
Trang 20Thời Trần, chưa có tư liệu nào cho biết nhà vua có chỉ dụ về việc tiến cử người hiền lành ngay thẳng, nhưng Phan Huy Chú đã viết: "Việc cử người hiền giao cho các quan, các đời đều thế cả"33 Triều Lê Sơ, lệ tuyển bổ được quy định rõ ràng Ngoài việc tiến hành thi cử để chọn nhân tài, triều đình Lê sơ còn rất chú trọng đến việc thực hiện tuyển chọn theo chế độ bảo cử, tiến cử và đặt thành "lệ" hẳn hoi Có nghĩa là các đại thần văn võ đều cử người hiền lành ngay thẳng cho nhà vua Bảo cử
và tiến cử cũng có điểm khác nhau Theo Phan Huy Chú : "Cử người làm quan có
hai lối: một là tiến cử thì lấy người tài đức hơn hẳn mà không cứ thân phận, hai là
bảo cử thì lấy người danh vọng rạng rệt mà phải theo tư cách Hai lối ấy giống nhau
mà thể thức hơi khác Lệ bảo cử bắt đầu từ đời Hồng Đức Bấy giờ việc ấy làm thận trọng, mà trừng phạt lại nghiêm, cho nên không ai dám bảo cử thiên tư các chức đều xứng đáng, rốt cùng thu được hiệu quả là chọn được người"34
Việc tiến cử người tài được tiến hành dựa trên uy tín của người tiến cử, những người được tiến cử đều có một thời gian “thử thách” trong quá trình làm việc và họ
đều được triều đình trọng dụng Sau kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba Khắc Chung đã tiến cử em là Thiên Hứ đi sứ nước Nguyên và được vua chấp thuận
"Mùa Đông, tháng 10 năm Mậu Tý (1288), sai Đỗ Thiên Hứ (Thiên Hứ là em Khắc Chung sang sứ nước Nguyên Đỗ Khắc Chung trước đây đi sứ sang Nguyên có
công, đến nay Khắc Chung tiến em là Thiên Hứ (TG nhấn mạnh) Vua y theo"35 Trần Hưng Đạo đã tiến cử môn khách của mình là Trần Thì Kiến làm Đại an phủ Kinh sư sau khi đã kinh qua An phủ sứ Thiên Trường Những môn khách của Trần Hưng Đạo như Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực đều là những người tài giỏi được Trần Hưng Đạo tiến cử với triều đình Sử chép: "(Quốc Tuấn - TG chú) lại hay vì nước tiến cử người hiền như Dã Tượng và Yết Kiêu là gia thần có dự công dẹp Ô Mã Nhi và Toa Đô, Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực là môn khách, đều do văn chương chính sự nổi tiếng với đời, là bởi (Quốc Tuấn- TG.chú) đã có tài mưu lược hùng võ lại dốc một lòng trung nghĩa vậy" 36 Năm 1389, dưới triều vua Trần Thuận Tông, khi cử Phạm Cự Luận làm Thiêm thự Khu mật viện sự, Ông đã tiến cử em là Phạm Phiếm cùng một số người
có danh tiếng và đức vọng để triều đình dùng làm thuộc viên trong Khu mật viện như Vương Khả Tuân, Dương Chương, Hàn Tử Tây, Nguyễn Sùng, Nguyễn Thư,
Trang 21Nguyễn Cảnh Chân, đều là người có danh tiếng đức vọng có thể dùng được, trong
đó Đỗ Tử Mãn là hơn cả
Công bằng và nghiêm minh trong việc tuyển chọn quan lại và trọng dụng
người tài là nét văn hóa đặc sắc của nhà Trần Những người đã được triều đình
trọng dụng nếu phạm lỗi kể cả người ấy giữ chức vụ cao trong triều đều bị nhà vua trách phạt theo mức độ Người thì bị vua đánh trượng như Phí Mạnh can tội tham ô
Đánh trượng xong vua lại cho kiêm chức cũ và sau đó, Phí Mạnh lại được tiếng là Thanh liêm, công minh37 Người thì bị phạt tiền như Trương Hán Siêu, vì tội loan tin người khác ăn hối lộ đến khi nhà vua điều tra ra không đúng như lời Trương Hán Siêu nói liền bị phạt 300 quan tiền Người thì giáng chức và cho đi cai quản ở địa phương, không được làm việc trong cung Thánh Từ nữa như trường hợp của Nguyễn Trung Ngạn, nhưng do có tài nên được Thượng hoàng “chiếu cố” không bắt tội, mà chỉ bị đuổi ra làm quan ở bên ngoài Đoàn Nhữ Hài cũng bị phạt khi phạm lỗi
Những cách thức tuyển chọn nhân tài, quan lại nêu trên đã giúp cho nhà Trần
có được đội ngũ những người tài giỏi giúp nước, giúp dân Những quan lại thời Trần không chỉ góp phần làm rạng danh triều đại mà còn là bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Phương thức tuyển chọn quan lại thời Trần rất kỹ lưỡng, cẩn thận, không ồ ạt
và cẩu thả Cách tuyển chọn binh lính cũng vậy "quân cần tinh không cần nhiều" Trong quá trình sử dụng, thưởng phạt nghiêm minh là cách mà triều đình lựa chọn
để rèn luyện và đào tạo quan lại
III trọng dụng người thực tài vào việc nước không câu nệ vào một phương thức tuyển dụng nào
Tuyển chọn và trọng dụng người thực tài là điểm đặc biệt của triều Trần Như trên chúng tôi đã nêu, về cơ bản nhà Trần tuyển chọn nhân tài chủ yếu bằng nhiều hình thức và sự trọng dụng nhân tài có thể nêu lên những đối tượng chính được trọng dụng như sau:
1 Quý tộc tôn thất
2 Những người đỗ đạt qua các kỳ thi Thái học sinh
3 Những nho sinh chưa đỗ đạt nhưng có tài
4 Những quan lại cũ của triều Lý
Trang 22Tuy nhiên, trong các trường hợp nêu trên, thì tầng lớp quý tộc đồng tộc được
ưu tiên trọng dụng hơn cả, nhất là khoảng thời gian từ khi nhà Trần thành lập đến
đầu thế kỷ XIV Từ đầu thế kỷ XIV trở đi, tầng lớp trí thức đỗ đạt khoa cử Nho giáo ngày càng tham gia nhiều hơn vào bộ máy nhà nước, và rồi, các quý tộc vương hầu sau kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên thắng lợi trở về sống tại các thái
ấp (trừ những người làm việc ở triều đình) và lẽ tất nhiên công việc triều chính tham gia ngày một ít hơn Sự thế chân dần dần của tầng lớp trí thức Nho giáo đối với tầng lớp quý tộc vương hầu trong triều đình là một thực tế Để từ đó tính chất nhà nước Trần chuyển dần từ quân chủ quý tộc thành quân chủ quan liêu
Tầng lớp quý tộc đồng tộc được triều đình trọng dụng theo chế độ quyền cao, chức trọng và được duy trì theo chế độ tập ấm Nhưng không phải ai là tôn thất cũng
được trọng dụng Nếu không đủ tài đức thì nhà vua cũng không giao cho trọng chức Trần Quốc Khang là anh vua Trần Thánh Tông và cũng là anh của Trần Quang Khải, mặc dù "Quốc Khang tuổi lớn hơn, nhưng tài đức tầm thường cho nên cho Quang Khải làm tướng"38 Vua Trần Thái Tông từng muốn cho anh của Trần Thủ
Độ là Trần An Quốc là tướng nhưng Trần Thủ Độ đã nói: "An Quốc là anh thần, nếu là người hiền thì thần xin nghỉ việc, nếu cho thần là hiền hơn An Quốc thì không nên cử An Quốc Nếu anh em cùng làm tướng thì việc trong triều sẽ ra sao"39
Sự trọng dụng người hiền tài của nhà Trần thật là nghiêm túc Danh vọng và chức tước là cần nhưng triều đình không trao cho tràn lan mà dùng người là để xây dựng và bảo vệ đất nước cũng tức là bảo vệ tổ tông Hai vấn đề này tuy hai nhưng là một Nên sự cẩn trọng trong dùng người của nhà Trần rất được triều đình đề cao
Cũng cần thấy thêm một điều là, nhà Trần trọng dụng người tài nên những người không phải là tôn thất, không qua thi cử và không thuộc diện mua quan bán chức nhưng tài giỏi thì vẫn được triều đình trọng dụng Đó là những đại quan thời
Lý như Phùng Tá Chu được phong Đại vương, tước Quan nội hầu, Phạm Kính Ân làm Thái úy, tước Quan nội hầu nhưng ban cho mũ áo Đại vương
Điều dễ thấy là, các nhân tài được triều đình trọng dụng đều được trao cho quyền cao chức trọng Trần Thủ Độ được phong Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sự, là người giữ chức thái sư đầu tiên của triều Trần vào năm 1226 Quyền lực của Thái sư chỉ sau Thượng hoàng và là chức quan đứng đầu trong triều
Đến năm 1234, được thăng chức Thống quốc thái sư tri Thanh Hóa phủ sự, cai quản vùng đất quan trọng Thanh Hóa của Đại Việt Năm 1290, sau kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên lần thứ ba thắng lợi, Hưng Đạo vương Trần Quốc
38
ĐVSKTT, tập 2, sđd, tr.34
39 ĐVSKTT, tập 2, sđd, tr.36-37
Trang 23Tuấn được triều đình tiến phong là Đại vương Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật
được phong làm Tá thánh Thái sư Năm 1271, dưới triều vua Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải được phong Tướng quốc Thái uý, lúc 32 tuổi (tính theo tuổi Âm lịch) rồi thăng Thượng tướng Thái sư dưới triều vua Nhân Tông (năm 1282) Trần Khánh Dư được vua Trần Nhân Tông khen là người vừa tài trí lại mưu lược và lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi của thiên tử) và được phong chức Phiêu kỵ Thượng tướng quân, một chức chỉ dành riêng cho hoàng tử Năm 1324, dưới thời vua Trần Minh Tông, Trần Quang Triều được phong chức Nhập Nội kiểm hiệu tư
đồ, một trong những chức quan đầu triều, v.v
Trương Hán Siêu làm đến chức Hành khiển Nguyễn Trung Ngạn từng làm
Đại Doãn Kinh sư Phạm Sư Mạnh làm đến chức Nhập nội nạp ngôn Lê Bá Quát từng giữ chức Hữu Bộc xạ (Thượng thư) Đoàn Nhữ Hài được trao cho chức Tham tri chính sự, lúc mới có 20 tuổi
Như vậy, có thể khái quát rằng triều đình nhà Trần trọng dụng tất cả những người hiền tài, không kể đến đường xuất thân và không nhất thiết là cứ phải qua thi
cử Các tầng lớp nhân tài được trọng dụng là: tôn thất, những người đỗ đạt qua khoa
cử, những nho sinh và những quan lại cũ của triều Lý Đây là điểm độc đáo của nhà
Trần mà ta sẽ không thấy ở các triều đại sau Triều Lê, Nguyễn tuyển chọn và trọng dụng những người qua thi cử Người tài đức đều được triều đình trọng dụng Người không đủ tài thì không giao trọng chức Vì vậy, suốt trong thời gian tồn tại, vương triều Trần đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đó là bài học về tuyển chọn nhân tài không chỉ riêng cho vương triều Trần mà còn có giá trị đến ngày nay Đúng như lời nhận xét của Phan Huy Chú:
“Triều Trần dùng người thật là công bằng Tuy đã đặt khoa mục mà trong việc kén dùng chỉ cốt tài là được, cho nên những nho sĩ có chí thường được trổ tài của mình, không đến nỗi bị bó buộc hạn chế vì tư cách, như khoảng đời Long Hưng (1293)
Đại Khánh (1314) nhân tài có rất nhiều, mặc áo triều, ở ngôi trọng, học sinh với khoa giáp ngang nhau, lịch duyệt trên đường làm quan chưa từng khác nhau (làm quan ở triều bấy giờ duy có Đĩnh Chi, Trung Ngạn là người khoa giáp, còn bọn Hán
Siêu, Sư Mạnh, Lê Quát, Phạm Mại đều do học sinh xuất thân), chỉ cần người dùng
được, chứ không câu nệ ở đường xuất thân Nhân tài và văn học được thịnh, cũng vì thế chăng – (TG nhấn mạnh)”40
Trang 24IV Chế độ đ∙i ngộ
Chế độ đãi ngộ của nhà Trần được triều đình quy định thành "lệ", như Lệ cấp bổng cho các quan văn, võ; Lệ khảo khóa cho các quan trong triều đình và ở các địa phương; chế độ bổng lộc đối với các tôn thất
1 Đãi ngộ đối với các quan văn võ
Quan văn, võ làm việc trong triều cũng như ở các lộ, tùy theo cấp bậc mà nhà nước cấp bổng bằng tiền, lấy từ tiền thuế "Trần Thái Tông, năm Thiên ứng chính bình thứ 5 (1236), định lệ cấp bổng cho các quan văn võ trong ngoài và các quan ở cung điện lăng miếu, chia tiền thuế ra, theo thứ lớp ban cấp"41 Nhưng cụ thể như thế nào thì không có tư liệu nào cho biết
"Năm thứ 13 (1244), lương định bổng cho các quan trong ngoài và quan túc vệ" Ngô thì Sĩ nhận xét: "đặt quan để làm việc, tất phải có lương bổng để nuôi, rồi sau mới bắt phải thanh liêm được" Đây đã định cấp bổng cho các quan, năm thứ 13 lại định bổng cho bách quan và quan túc vệ Bàn về bổng lộc, thật rõ ràng Chính sự nhà Trần làm việc này thật rất phải, thực rất đáng khen"42
Đến năm 1316, nhà Trần còn ban thêm lệ cấp hộ khẩu cho các quan văn, võ:
"Minh Tông, năm Đại khánh thứ 3 (1316), xét định các quan văn võ, cấp cho hộ khẩu theo thứ bậc khác nhau"43 Cấp cho hộ khẩu tức là có thể cấp cho một số ruộng
và số dân để hưởng bổng lộc, hoặc chỉ một số dân để cung cấp bổng lộc cho quan lại
Những tư liệu trên cho thấy, nhà Trần trọng dụng nhân tài và đãi ngộ họ được chú ý ngay sau khi thiết lập vương triều không lâu Và, quan văn, võ là những người
được nhà nước quan tâm cấp bổng lộc bằng tiền và ruộng đất (hoặc nông dân)
Ngoài ra, nhà nước cũng quy định Lệ khảo khóa đối với các quan văn, võ
ĐVSKTT chép: đời Trần Thái Tông, năm Thiên ứng chính bình thứ 15 (1246),
"tháng 3, khảo duyệt các quan văn võ trong ngoài, cứ 15 năm một lần duyệt, định
10 năm thăng tước một cấp, 15 năm thăng chức một bậc Chức quan nào khuyết thì cho chức chánh kiêm chức phó; nếu chánh phó đều khuyết thì lấy quan khác tạm giữ, đợi đủ hạn khảo duyệt thì bổ cho chức ấy Bấy giờ nhà nước vô sự, nhân dân yên vui, người làm quan ở mãi một chức, người ở quán các 10 năm mới được xuất thân "44
Trang 25Phan Huy Chú nhận xét: "Phép khảo khóa đời Lý đời Trần, niên hạn đều chậm lâu Nhà Lý lấy chín năm làm một khóa, còn là phép đời xưa Đến như nhà Trần lấy mười năm một lần xét, thì chậm trễ quá Tại sao vậy? Kỳ hạn cấp bách cố nhiên không phải là phép tốt Nhưng sự thăng quan hay giáng chức để lâu quá thì người hiền tài không khỏi bị chìm lấp, mà kẻ vô tài thường được tạm nương thân, không phải là chính sách khuyến khích người ta đổi mới Kinh Thư nói: ba năm một lần xét công, ba lần xét công mới thăng giáng Đến nhà Chu thì ba năm thi hành phạt hay thưởng Phép của nhà Lý nhà Trần lại không theo như thế Huống chi việc
đời ngày càng nhiều, nếu không thời thường thúc đẩy răn bảo, sao có thể lâu mà không sinh tệ "45
Sự đãi ngộ còn được nhà Trần chú ý đến quy định kiểu xe kiệu, mũ áo, người hầu cho các tôn thất và các quan văn võ Cho dù quy định này thuộc về "lệ" nhưng
được hưởng như thế nào đều dựa vào phẩm hàm chức tước lớn nhỏ Như vậy, cũng
có thể hiểu thêm một khía cạnh nữa là sự đãi ngộ được nhà Trần quy định hẳn hoi
Sử chép: "Tháng 8 năm Mậu Tuất (1238), định ra kiểu thuyền xe của các vương hầu, công chúa, các quan văn võ và người tôn thất"46 Nhưng sử cũ không chép rõ quy định như thế nào Đến năm 1254 mới quy định cụ thể: "Giáp Dần, năm thứ 4 (1254) Mùa hạ, tháng 5, định quy chế xe kiệu mũ áo và người hầu của người tôn thất và các quan văn võ theo thứ bậc khác nhau: từ tôn thất đến quan ngũ phẩm đều
được đi kiệu, ngựa và võng; Tôn thất thì kiệu đầu đòn chạm phượng sơn son; Tướng quốc thì kiệu đầu đòn chạm anh vũ sơn then, lọng màu tía; Từ tam phẩm trở lên thì kiệu đầu đòn chạm mây, lọng xanh; Từ tứ phẩm đến lục phẩm thì kiệu đòn bằng
đầu; ngũ phẩm trở lên thì lọng xanh; lục thất phẩm thì lọng giấy đen Người theo hầu nhiều thì 1.000 người, ít thì 100 người"47 Đến năm 1396, triều đình nhà Trần lại có quy định mũ áo cho các quan văn võ Lúc bấy giờ triều đình đều do Hồ Quý
Ly điều khiển, vai trò của các tôn thất đã không còn quan trọng như thời gian đầu, thậm chí còn là đối tượng để Hồ Quý Ly loại bỏ, nên trong quy định này không thấy nhắc đến tầng lớp tôn thất "Tháng 6 năm Bính Tý (1396), định thể thức mũ áo các quan văn võ: Nhất phẩm thì áo sắc tía; nhị phẩm sắc đại hồng; tam phẩm sắc đỏ hoa
đào; tứ phẩm sắc lục; ngũ lục thất phẩm sắc biếc; bát cửu phẩm sắc xanh Duy nội thị thì dùng quần hai ống, không dùng xiêm Người không có phẩm hàm và hạng hoành nô thì dùng sắc trắng Văn quan và tụng quan, chức tước từ lục phẩm trở lên
đội mũ cao sơn; chánh lục phẩm được thắt đai đi hia Về sắc mũ, chánh thì sắc đen,
45
Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, sđd, tr.583
Trang 26tòng thì sắc xanh Người tôn thất thì đội mũ phương trắng màu đen Võ quan, tước lục phẩm thì đội mũ chiết xung, tước cao mà không có chức được thắt đai đội mũ giác đính; thất phẩm trở xuống đội mũ thái cổ; tòng thất phẩm đội mũ toàn hoa Vương hầu đội mũ viễn du; ngự sử đài đội mũ khước phi"48
2 Đãi ngộ đối với các vương hầu quý tộc
Trong quá trình tồn tại của nhà Trần, như sử cũ cho biết, thời kỳ đầu (từ khi thành lập đến đầu thế kỷ XIV), việc quản lý đất nước chủ yếu nằm trong tay nhà vua và các quý tộc đồng tộc Những chức vụ quan trọng trong triều đều do người tôn thất nắm giữ Thái ấp - điền trang là hình thức đặc quyền, đặc lợi dành cho vương hầu, quý tộc Nhà Trần rất coi trọng việc ban cấp thái ấp ở những vùng đất trọng yếu của đất nước cho con em trong dòng họ Trần Vương triều Trần không những
đảm bảo quyền lợi về kinh tế (ban cấp thái ấp, lập điền trang) cho đội ngũ quý tộc, tôn thất, mà còn đảm bảo quyền lợi chính trị (trao cho quyền cao chức trọng trong triều) Khi những quyền lợi ấy không là nguyên nhân để tranh giành, tranh chấp thì ngược lại nó lại là nhân tố tạo nên sức mạnh đoàn kết nội bộ triều đình, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chống ngoại xâm thắng lợi, tạo nên hào khí
Đông A lẫy lừng Nhiều sự kiện trong chính sử chứng minh cho vấn đề này: Trần Thủ Độ được phong Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sự, là người giữ chức thái sư đầu tiên của triều Trần vào năm 1226 Quyền lực của Thái sư chỉ sau Thượng hoàng và là chức quan đứng đầu trong triều Năm 1290, sau kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên lần thứ ba thắng lợi, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được triều đình tiến phong là Đại vương Năm 1302, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật được phong làm Thái uý Quốc công."49 Năm 1271, dưới triều vua Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải được phong Tướng quốc Thái uý, lúc 32 tuổi (tính theo tuổi Âm lịch), rồi thăng Thượng tướng Thái sư (1282) Trần Khánh Dư
được vua Trần Nhân Tông khen là người vừa tài trí lại mưu lược và lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi của thiên tử) và được phong chức Phiêu kỵ Thượng tướng quân, một chức chỉ dành riêng cho hoàng tử Năm 1324, dưới thời vua Trần Minh Tông, Trần Quang Triều được phong chức Nhập Nội kiểm hiệu tư đồ, một trong những chức quan đầu triều, v.v Lời bàn của Ngô Sĩ Liên như sau: “Chế độ nhà Trần, tước vương, tước hầu đều ở dinh thự riêng tại các làng Khi triều yết thì về kinh, khi xong việc lại trở về dinh thự riêng của mình Đến lúc vào làm tể tướng trong triều mới thống lĩnh hết cả mọi việc trong nước, nhưng cũng chỉ giữ đại cương
mà thôi, còn quyền xếp đặt thì thuộc chức hành khiển, như thế thì người chức nhỏ
48
ĐVSKTT, tập 2, sđd, tr.218
49 ĐVSKTT, tập II, sđd, tr.34
Trang 27lại giữ việc nặng, người chức lớn lại giữ việc nhẹ Bởi vì muốn bảo toàn cho tể tướng, nên không muốn để tể tướng phải phiền lòng về nhiều việc Vả lại, xem như năm Nguyên Phong, giặc Nguyên sang cướp, các vương hầu đều đem hương binh và thổ hào sung vào đội Cần vương; việc chính biến năm Đại Định, vương hầu lại đem dân các thôn trang sắm sửa nghi trượng (tử tú long đại) để đón vua mới Như thế thì chế độ nhà Trần cũng làm tăng được sức mạnh của khí thế "duy thành”50”51
Về kinh tế, các quý tộc vương hầu được ban ruộng đất rộng lớn cùng số dân sống trong thái ấp để hưởng bổng lộc theo chế độ thái ấp - điền trang Các quý tộc tôn thất đã dốc hết tâm sức phục vụ triều đình và tổ tiên Sự ưu đãi đối với tầng lớp
tôn thất là điểm đặc biệt của nhà Trần Đây cũng là điểm khác với nhà Lý trước đó
và nhà Lê Sơ sau đó Quyền lợi kinh tế của tầng lớp Nho sinh và trí thức Nho giáo thường không được như các tôn thất Ví như, họ không được ban cấp ruộng đất theo kiểu thái ấp, họ chỉ được cấp một ít ruộng và một ít tiền Tuy nhiên, mặt hạn chế của
nó là, quá trình thực hiện chế độ phân phong thái ấp cũng tức là quá trình Nhà nước quân chủ quý tộc Trần phân tán những vương tài, tướng giỏi đi trấn trị ở các địa phương, đồng thời là quá trình triều đình tạo nên khả năng chia sẻ sức mạnh, phân tán thế lực của mình, nên từ thế kỷ XIV trở đi, tầng lớp quý tộc tôn thất Trần dần
mất vị trí và vai trò lãnh đạo đất nước
Như vậy có thể thấy, nhân tài thời Trần được tuyển dụng bằng nhiều hình
thức và không câu nệ bởi phương thức nào, không giống như thời Lê, Nguyễn về
sau, tuyển chọn quan lại qua thi cử Nho học là chính
Chế độ đãi ngộ mặc dù có ưu tiên đặc biệt đối với tầng lớp quý tộc tôn thất, nhưng đãi ngộ đội ngũ quan lại được triều đình quy định cụ thể và thực hiện nghiêm minh
Sự đãi ngộ đi liền với việc thưởng phạt công bằng, không loại trừ trường hợp nào, kể cả tôn thất
Trọng dụng người thực tài vào việc nước được triều đình coi trọng và thực
hiện nghiêm túc, công bằng nên những nhân tài triều Trần đều được thể hiện tài năng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa Di sản văn hóa các
50 Duy thành: Thơ bản trong thiên "Tiểu nhã kinh thi" có câu "Tông tử duy thành", người tôn thất
như cái thành bảo vệ triều đình Người làm vua nên lấy đạo nghĩa đối đãi tôn thất, thì cái thành mới vững
Trang 28nhân tài thời Trần để lại đến ngày nay không những là những trang sử hùng tráng về
cuộc đời và sự nghiệp đầy tài năng mà còn để lại những tác phẩm thơ văn quý giá52
52
Mặc dù đã bị thất lạc nhiều nhưng có thể thống kê những sáng tác của các tác giả đã sống trong vòng hơn một thế kỷ, kể từ nhà Trần lên ngôi (1226) cho đến khoảng đầu đời vua Trần Dụ Tông
(1341) được in trong Thơ văn Lý, Trần, tập II, Quyển Thượng như sau:
1 Trần Cảnh (Trần Thái Tông): gồm 2 bài thơ, 2 bài tựa cho hai cuốn sách Thiền tông chỉ
nam, Kim cương tam muội kinh tự và nội dung cuốn Khóa hư lục (gồm quyển Thượng, quyển
Trung, quyển Hạ) Riêng cuốn Khóa hư lục được giới thiệu từ trang 37 đến trang 223
2 Trần Tung (Tuệ Trung Thượng sĩ): gồm 50 tác phẩm Trong đó có một cuốn sách
Thượng sĩ ngữ lục và 49 bài thơ dưới nhiều đề tài và nhiều thể loại
3 Lê Văn Hưu: gồm 30 đoạn luận (nhưng giới thiệu 26 đoạn còn 4 đoạn bình về Triệu Đà, Lữ Gia, Sĩ Nhiếp và về việc lập vua nước Chiêm Thành là tạm gác lại)
4 Hưng Đạo vươngTrần Quốc Tuấn: 3 tác phẩm còn giữ được đến nay là Dụ chư tỳ tướng
hịch văn (Hịch tướng sĩ), Đáp quốc vương tặc thế chi vấn (Trả lời nhà vua hỏi về thế giặc), Lâm chung di chúc (Căn dặn trước khi mất)
5 Trần Hoảng (Trần Thánh Tông): Là người yêu thích và giỏi thơ văn Ông có soạn các
tập: Di hậu lục, Cơ cầu lục, Thiền Tông liễu ngộ ca, Phóng ngưu, Chỉ giá mình, nhưng đều đã thất
lạc hiện chỉ còn 7 bài thơ được giới thiệu trong quyển Thượng
6 Trần Quốc Toại: 3 đoạn còn lại của tác phẩm Sầm Lâu tập đã bị thất lạc (Ông hiệu là
Sầm Lâu)
7 Trần Quang Khải: 9 bài thơ Tập thơ Lạc đạo của Ông đã bị thất lạc chỉ còn lại 11 bài
8 Đinh Củng Viên: tác phẩm hiện còn là 1 bài thơ
9 Lê Củng Viên: tác phẩm hiện còn là bài văn bia Phụng Dương công chúa thần đạo bi
minh tính tự (Văn bia thờ công chúa Phụng Dương) được khắc vào năm1293 và khắc lại năm
1822
10 Trần Khâm (vua Trần Nhân Tông): 31 bài thơ, hai cặp câu thơ lẻ, một bài minh và một
bài tán, hai bài văn Nôm biền ngẫu, một đoạn văn ngữ lục trong Thánh đăng ngữ lục và một lời
phát biểu của Ông với sứ giả Trương Lập Đạo đo chính vị sứ giả đó ghi lại
16 Trần Thuyên (Trần Anh Tông): 15 bài
17 Nguyễn Chế Nghĩa: 1 bài
18 Khuyết danh: 2 bài
19 Đỗ Khắc Chung: 3 bài
20 Trần Khánh Dư: 1 bài (Đề tựa sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư)
Trang 29Những thành tựu mà quân và dân thời Trần đạt được trong quá trình xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc là kết quả của một thời đại trọng dụng nhân tài để làm nên một triều đại lừng danh, độc đáo trong lịch sử dân tộc - triều Trần
II Những chứng cứ Nhà Trần xây dựng kinh đô Thăng Long (1226-1400)
Nhà Trần xây dựng kinh đô Thăng Long như thế nào, trọng dụng nhân tài ra sao để xây dựng kinh đô? Điều đó sử sách nước ta không hề ghi chép, hoặc là ghi chép rất ít và chung chung Vì vậy, muốn tìm hiểu việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong lĩnh vực xây dựng Thăng Long dưới thời Trần, chúng ta buộc phải lần tìm kỹ lưỡng trong thư tịch cổ, văn bia (vốn đã rất hiếm) thời xưa và đặc biệt là hướng tới các cuộc điều tra, thám sát và khai quật khảo cổ học
1 Những chứng cứ thư tịch cổ viết về nhà Trần xây dựng kinh đô Thăng Long
Sử cũ (Việt sử lược, bản dịch 1960, Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch năm
1983) đều cho biết nhà Trần thay nhà Lý bằng sự kiện Lý Chiêu Hoàng trao ngôi vua cho chồng là Trần Cảnh (Trần Thái Tông) vào mùa đông năm 1225 Một chính biến trọng đại nhưng hết sức hoà bình trong lịch sử Việt Nam
21.Bùi Tông Hoan: 3 bài
22.Trần Quang Triều: 11 bài
25 Đồng Kiên Cương (Pháp Loa): 7 bài
26 Lý Đạo Tái (Huyền Quang): 25 bài
27 Nguyễn Thị Điểm Bích: 1 bài
Trang 30Điều đó dường như được hiểu là kinh đô nhà Trần sẽ được thừa hưởng nguyên vẹn của nhà Lý suốt 200 năm để rồi sau đó nhà Trần chỉ việc tu bổ, sửa sang xây dựng thêm
Nhưng, thực ra không phải vậy Những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XII và
đầu thế kỷ XIII, nội chiến cuối thời Lý diễn ra ác liệt Kinh đô nhiều lần bị đốt phá, thiêu hủy Tình hình đốt phá dữ dội đến mức có lần vua Lý không có chỗ để ở phải dựng thảo điện ở ngoài thành
Cho nên, khi lên nắm giữ quyền bính, nhà Trần đã dần dần cho tu sửa, xây dựng lại kinh đô Lần xây dựng kinh đô đầu tiên của nhà Trần sau 5 năm điều hành
(nơi vua ở)…(Đại Việt sử ký toàn thư, tập II,1983, tr.10)
Sau lần xây dựng lớn đầu tiên đó, sử biên niên còn ghi được một số lần xây dựng lẻ tẻ khác như sau:
Năm 1237: “Tháng 2, dời dựng điện Linh Quang ở Đông Bộ Đầu, gọi là điện Phong Thủy, phàm khi xa giá dừng ở đây, các quan đưa đón, đều dâng trầu cau và
trà, nên tục gọi là điện Trà” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II 1983, tr.14)
Năm 1243: “Tháng 2, đắp thành nội, gọi là thành Long Phượng, và trùng tu
Quốc Tử Giám” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II 1983, tr.17)
Năm 1248: “Mùa hạ, tháng tư, làm cầu Lâm Ba ở chùa Chân Giáo, qua hồ
Ngoạn Thiềm, đến quán Thái Thanh, cung Cảnh Linh, cực kỳ tráng lệ” (Đại Việt sử
Trang 31Thanh Phụ (cá giếc) Đặt chức Khánh Đô để trông coi”(Đại Việt sử ký toàn thư, tập
II 1983, tr.142)
Năm 1364: “Mùa xuân, tháng 2, xây dãy khách lang ở Tây điện, thẳng đến
cửa Hoàng Phúc” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, 1983, tr 142)
Năm 1368: “Tháng 3, làm hành lang dài suốt từ gác Nguyên Hiền đến tận cửa
Đại Triều phía Tây để tiện cho các quan vào chầu tránh nắng mưa” (Đại Việt sử ký
toàn thư, tập II, 1983, tr 145)
Năm 1371, quân Chiêm Thành tiến công kinh đô Thăng Long, đốt trụi cung
điện nhà cửa (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, 1983, tr 154)
Năm 1377, quân Chiêm vào kinh đô lần thứ 2
Năm 1378, quân Chiêm tiến vào kinh sư lần thứ 3
Đợt xây dựng năm 1230 Đây là đợt xây dựng nhằm khắc phục các công trình
kiến trúc đã bị thiêu hủy một phần lớn dưới thời Lý
Đợt xây dựng thứ hai, năm 1288, sau khi đánh thắng quân Nguyên lần thứ
hai Đợt này, sử không ghi chép cụ thể về tình hình xây dựng lại kinh đô Nhưng ta
có thể biết được chắc chắn điều đó vì 2 chi tiết trong sử cũ:
Một là sử ghi đánh thắng xong quân giặc, khi quay về Thăng Long, vua phải
ở hành lang thị vệ vì cung điện đã bị quân Nguyên đốt phá tất
Hai là, cùng năm sử cho biết vua trị tội những người hàng giặc, một số bắt đi làm gạch ngói xây dựng cung điện Do kinh sư bị đốt phá hết cho nên đây chính là
đợt xây dựng Thăng Long thứ hai dưới thời Trần
Ngoài ra sử còn ghi một số đợt xây các công trình khác như: Cầu Lâm Ba (1248), hành lang giải vũ (1364 và 1368) điện Song Quế (hay điện Lạc Thanh) (1363), điện Thụy Chương (1391) …
Như vậy qua sử sách chúng ta biết ít nhất có 2 lần xây dựng lớn nhất: Đó là
đợt năm 1230 và đợt xây dựng năm 1288 khôi phục kinh đô sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai
Trang 32Có một đợt kinh thành bị cháy trụi nữa vào năm 1371, nhưng sử không ghi chép một chút nào về đợt xây dựng này, nhưng chúng ta có thể tin chắc là nhà Trần phải xây dựng lại kinh đô Thăng Long
Nhìn chung, việc ghi chép về tình hình xây dựng Thăng Long của sử cũ là rất
ít Nhưng nhờ những dòng sử quý giá này mà chúng ta biết được đôi điều về diện mạo kiến trúc kinh thành dưới thời Trần như sau:
- Kinh thành Thăng Long thời Trần được xây dựng và mở mang trên cơ sở vị trí và quy mô của kinh thành Thăng Long dưới thời Lý
Điều này được thể hiện rõ qua sự kiện năm 1225, Lý Chiêu Hoàng đã làm lễ trao ngôi vua cho Trần Thái Tông tại điện Thiên An Đây là toà điện quan trọng nhất, toà điện trung tâm của kinh thành, là nơi thiết triều của nhà Lý Sau đó ta thấy
điện Thiên An tiếp tục là nơi thiết triều trong suốt thời Trần
Điện Thiên An chính là vị trí trung tâm của kinh thành Thăng Long, cho nên
có thể thấy Thăng Long thời Trần được xây dựng và mở mang trên cơ sở vị trí và quy mô của Thăng Long thời Lý
Về quy mô ta thấy sử ghi rõ trong thời Trần có sự mở rộng thành Đại La năm
1230 Thành Đại La là vùng thành ngoài cùng của kinh thành Tuy nhiên sử không ghi rõ được là mở mang như thế nào, rộng bao nhiêu và mở về phía nào
- Diện mạo của kiến trúc kinh thành về cơ bản đã thay đổi hoàn toàn so với thời Lý:
Đợt năm 1230, sử ghi rất rõ là xây dựng cung điện, lầu, gác nhà lang vũ ở hai bên phía đông và tây
Có thể hiểu đây là đợt xây dựng hoàn toàn mới vì kiến trúc thời Lý đã bị cháy trụi Điều đáng tiếc là biên niên sử đã ghi được rất rõ bố cục và tên các kiến trúc thời Lý, nhưng lại không ghi được kiến trúc thời Trần ở Thăng Long được xây dựng theo nguyên tắc đăng đối và xuất hiện các kiến trúc có chức năng mới Chế độ nhà Trần là chế độ Thượng hoàng (có 2 vua) Do đó ở kinh đô có 2 cung đối xứng hai bên là cung Thánh Từ (nơi Thượng hoàng ở), cung Quan Triều (nơi vua ở) Ngay cả
ở quê hương Tức Mặc - Thiên Trường (Nam Định) cũng phải có 2 cung cho 2 vua ở
Điều này là mới và khác hoàn toàn so với nhà Lý
Nhà Lý xây dựng một hệ thống cung điện chia làm nhiều đợt: Những đợt lớn
là năm 1010 và 1029 và cuối thời Lý (không kể các lần lẻ tẻ) Những đợt xây dựng này đều có một hệ cung điện rất đầy đủ ở đối xứng quanh điện Thiên An Đáng chú
ý là nhà Lý xây cung vua ở sau điện Thiên An Còn nhà Trần lại xây dựng nơi vua ở (cung Quan Triều) ở bên hữu điện Thiên An và xây thêm nơi Thượng hoàng ở (cung Thánh Tứ) đối xứng với cung Quan Triều
Trang 33Xem như thế, thì ta biết rằng về phương diện cung điện, Thăng Long thời Trần đã xây lại mới rất nhiều và có những điểm rất khác so với nhà Lý Nguồn tài liệu khảo cổ học sẽ chứng minh việc xây dựng rất nhiều ở Thăng Long dưới triều Trần
2 Những chứng cứ nhà Trần xây dựng kinh đô Thăng Long qua tư liệu khảo cổ học
2.1 Tình hình phát hiện và nghiên cứu các di tích kiến trúc kinh đô Thăng
Long Những chứng cứ khảo cổ học nhà Trần xây dựng kinh đô Thăng Long
Việc phát hiện các dấu tích kiến trúc thời Trần ở Thăng Long là rất khó khăn bởi toàn bộ dấu tích kinh thành thời Trần đã bị hủy hoại hoàn toàn từ rất lâu rồi
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, việc dựng và mở mang thành phố Hà Nội của người Pháp đã tìm thấy khá nhiều dấu tích của kinh đô Thăng Long dưới lòng đất Tuy nhiên, thời đó lại không có các cuộc khai quật khảo cổ học nào cả Người Pháp chỉ tiến hành thu lượm các di vật lẻ tẻ trong quá trình đào móng xây dựng Do đó không thể thấy các vết tích kiến trúc thời Trần mặc dù quan sát khối di vật người Pháp để lại ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Pháp ở Paris ta thấy
có khá nhiều di vật thuộc về kiến trúc thời Trần
Sau đó, khảo cổ học Việt Nam đã tiến hành thăm dò, khai quật một số vị trí ở khu vực Quần Ngựa Các tư liệu từ các cuộc khai quật này cho thấy vẫn không tìm thấy các vết tích nền móng kiến trúc mà chủ yếu là các di vật từ Đại La cho đến thời Nguyễn Điều đó có thể do các cuộc khai quật thời đó còn quá nhỏ hoặc do khu vực này không có nhiều kiến trúc của thời Trần
Từ năm 1998 đến năm 2002, khảo cổ học Việt Nam đã khai quật các địa
điểm như Đoan Môn, Bắc Môn, Hậu Lâu, 62-64 Trần Phú, 11 Lê Hồng Phong, Tràng Tiền Plaza, 47 Hàng Dầu, … thì chúng ta bắt đầu tìm thấy các dấu tích móng nền kiến trúc thời Trần Các dấu tích kiến trúc thời Trần điển hình được tìm thấy ở
địa điểm Đoan Môn, khu A, khu B và khu D của địa điểm 18 Hoàng Diệu ở ngoại thành Hà Nội, tại chùa Báo Ân (Gia Lâm), các nhà khảo cổ học đã khai quật tìm thấy dấu tích kiến trúc thời Trần ở đây
Các dấu tích kiến trúc này là các bằng chứng cơ bản về việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực xây dựng Thăng Long dưới thời Trần Có thể dẫn ra những dấu tích kiến trúc sau:
- Con đường lát gạch “hoa chanh” ở Đoan Môn
Tầng văn hóa
Trang 34Lớp văn hóa thời Lý - Trần: bao gồm các lớp 4-5, dày khoảng 0,25-0,30m
đến 0,70 nằm ở độ sâu từ 1,8-2,50m Lớp văn hóa này đất sét màu nâu, nâu vàng hoặc nâu đen có lẫn nhiều than tro, gạch bìa, gạch lát nền, ngói vật liệu trang trí kiến trúc, gốm sứ, sành có niên đại thuộc thời Lý - Trần (thế kỷ 11-14) Trong lớp này ở độ sâu 1,90-2m có đường lát gạch hoa chanh và nhiều hố đất đen và các lớp móng lót đường lát gạch khá dày
- Đất sinh thổ: từ độ sâu 2,60m trở xuống là đất cát vàng và nước bắt đầu xuất hiện
Đoạn đường đi lát gạch
Nằm ở độ sâu 1,90m, sâu hơn nền gạch vồ 70cm, cách mép đáy nền gạch vồ 2m
Vật liệu xây dựng đoạn đường này gồm có các loại gạch bìa, ngói dẹt và ngói
ống và ngói bò nóc
Về các loại gạch bìa có các cỡ như sau: Viên phổ biến 38cm x 19,5cm x 6cm Một số viên chưa đo được chiều rộng có kích thước như sau: 41cm x 5cm, 38cm x 5cm; 37,5cm x 5cm; 36cm x 5cm
Ngoài ra còn một số viên vỡ dùng để xây xếp có viên dày 7cm, có viên dày 3,5cm
Các mảnh ngói dẹt dày: 1,5-2cm
Các mảnh ngói ống dày: 2-2,5cm
Cấu trúc hai dải gạch hoa chanh: Đường đi chạy theo hướng bắc nam, dài
15,8m và nằm khoảng chính giữa Đoan Môn Cách tạo đường gạch này khá cầu kỳ Viền hai bên đường là hai hàng gạch bìa xếp đứng cách nhau 2,38-2,40m Gạch
được xếp viên lành xen viên vỡ không có quy luật nhất định Sát hai viên viền gạch
là 2 đường ô vuông xếp theo hình hoa chanh ở giữa lát gạch bìa
Đường gạch đã bị phá và xây lại ở phía nam phá hủy nặng nề nhất và mất gần hết các ô vuông Cụ thể như sau:
Phía bên đông còn 21 ô gạch hoa chanh xếp liền nhau từ bắc xuống nam Sát vách nam còn vết tích 2 ô Như vậy có khoảng 5 ô bị phá hủy nặng ở phía tây còn
17 ô liên tục từ bắc xuống nam, riêng ô số 14 bị bóc mất toàn bộ gạch bên trong Gần vách nam vết tích của 3 ô vuông khác
ở cả hai phía các ô gạch hoa đều bị phá hủy mạnh ở phía nam
Đặc biệt ở phía tây nam, các ô gạch hoa đã bị phá hủy hết và xuất hiện một cung tròn gồm các viên gạch bìa được cấu trúc theo kiểu mới hoàn toàn Tuy nhiên, cấu trúc này cũng bị phá và chỉ còn 3 mảng nhỏ Các mảng gạch này được cắm
đứng và bố trí theo kiểu múi cam và xếp hơi dốc từ tây sang đông Cung tròn dài 5,40cm, chỗ cao nhất là 0,30m Một múi gạch còn rõ rộng 0,90m; cao 0,58m
Trang 35Múi khác rộng 1,15; cao 0,76 (Viên gạch bìa còn lành đo dài 37cm; rộng 5cm; 19x3,5cm)
Cung tròn này cắt phá lên đường gạch hoa chanh phía tây nam
ở phía đông không có cung tròn mà lại xuất hiện thêm đường gạch bìa gồm hai hàng gạch cắm đứng mép gạch hoa chanh 24cm Đường gạch này dài từ vách nam xuống phía bắc dài 3,50m, sau đó đứt đoạn không còn thấy vết tích nữa
- Như vậy, các ô vuông trang trí hình hoa thị đã bị phá mất một số chỗ, đặc biệt là phía nam Giữa các bên, hai ô trang trí không thẳng hàng với nhau
Cấu trúc lòng đường: lòng đường rộng 1,30m, được lát hoàn toàn bằng gạch
bìa Lòng đường cũng bị phá hủy nghiêm trọng tạo thành nhiều đoạn rất khác nhau
Có thể thấy có tất cả 8 đoạn tính từ bắc xuống, hiện trạng mỗi đoạn như sau:
- Đoạn 1: 85cm xác định được còn vết tích của 3 lớp gạch nằm ở độ sâu 2,13m Bên dưới là lớp đất sét nâu
2,02 Đoạn 2: Tiếp theo đến 2,60m ở độ sâu 1,91m là một lớp gạch vỡ Cách một lớp đất là lớp gạch ở độ sâu 1,98m Hai bên gạch đã bị xây bóc mất chỉ còn lẫn các mảnh gạch, ngói và một vài mảnh gốm men và sành ở độ sâu 2,22m là đất sét màu nâu vàng
- Đoạn 3: Từ 2,60-4,10m Đoạn 3 tìm thấy lớp gạch thứ nhất ở độ sâu 1,98m dày 6cm, lớp gạch thứ 2 ở độ sâu 2,06m dày 6cm Độ sâu 2,13m thấy hai lớp gạch bìa chồng xít lên nhau (gạch 30cm x 19cm x 6cm) Độ sâu 1,23-2,19m là lớp gạch dưới cùng Các lớp gạch này tiếp liền với ô hoa chanh phía tây, phía đông bị mất
- Đoạn 4: Từ 4,10-6,40m Đoạn này thấy 5 lớp nằm ở độ sâu 1,92-2,17m Lớp một còn 1 viên (38,5cm x 20cm x 6cm) Lớp 2 và lớp 3 nằm liền nhau, gạch bị vỡ Lớp 4 và 5 chồng khít liền mạch và còn tương đối nguyên vẹn Các lớp gạch này ăn liền với các ô trang trí phía tây, còn phần phía đông gạch lót đều bị mất, chỉ có các mảnh gạch ngói vỡ lẫn với đất sét
bị phá huỷ đã được đào sâu xuống để kiểm tra thì gặp cấu trúc nền móng như đã mô tả
Trang 36Cấu trúc móng của đường gạch hoa chanh: để nghiên cứu địa tầng của đường
gạch hoa chanh, đoàn khai quật đã đào thêm 6 hố thám sát nhỏ Các hồ này có diện
tích nhỏ và đều lợi dụng vị trí bị phá hoại không có gạch lát nền
Qua 6 hố thám sát có thể thấy đường lát gạch hoa chanh có cấu trúc rất kiên
cố, được rải 12 lớp vật liệu nhiều loại đan xen nhau tạo thành một lớp móng dày 0,86m Bên ngoài đường gạch hoa chanh không thấy có lớp móng như vậy
2.2 Dấu tích kiến trúc Trần, hố B16, 18 Hoàng Diệu
Hố B16, 18 Hoàng Diệu đã được phát hiện dấu tích kiến trúc thời Trần được xây chồng lên nền kiến trúc Lý Dấu tích kiến trúc này hiện đã được làm lộ toàn bộ
bề mặt trong phạm vi hố khai quật với một hệ thống mặt bằng gồm 16 móng trụ sỏi trên đó còn giữ lại được 6 chân tảng hoa sen phân bố theo 4 trục Bắc - Nam và 4 trục Đông - Tây Khoảng cách giữa các bước cột rất thống nhất: đều là 520cm theo trục Đông - Tây Riêng trục Nam - Bắc, lòng nhà ở giữa là 750cm, còn hai bên là 350cm
- Các móng sỏi cột kiến trúc Trần ở đây được gia cố rất kiên cố Chúng được
đào hố xuyên qua nền sét đắp dày150cm, rộng mỗi chiều 140cm (gần vuông) Sau
đó chân tảng đỡ cột mới đặt lên Các chân tảng này kiến trúc này đều được điêu khắc hình cánh sen, kích thước dày và thô to hơn chân tảng thời Lý Đặc biệt, trong
hệ thống chân tảng của kiến trúc này có một chiếc có dấu kê xà hình chữ thập chỉ 4 hướng Đông - Tây - Nam - Bắc Rất có thể đây là một chân tảng trung tâm, là trụ cột chính của kiến trúc (chân tảng C2) Phía Nam của chân tảng này lại có một bộ
đế cửa (?) bằng đá
Nền nhà của kiến trúc được đắp bằng đất sét dày 1-1,50m, xung quanh được
bó vỉa bằng mảnh gạch xây khá dày từ 7 đến 10 lớp gạch hình chữ nhật Nền nhà
được bằng gạch vuông
Mặt tiền quay hướng Nam lên khoảng 9o, chia thành 3 bậc lên xuống (tam cấp) Hè sau và sân trước đều có cống rãnh thoát nước xây bằng gạch loại đặc chủng: gạch hình bình hành, có thể đảm bảo cho cống lúc nào cũng vững chắc kín
đáy
Điều đáng lưu ý là gạch dùng để xây cho đơn nguyên kiến trúc này có những loại được sử dụng lại trong đó có loại gạch “Giang Tây quân” thời Đại La, và gạch thời Lý có niên đại 1057 với niên hiệu “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” Điều đó chứng tỏ ở đây vào thời Trần người ta đã tận dụng những vật liệu xây dựng sẵn có cho các kiến trúc của mình
Hiện nay do khống chế mặt bằng khai quật nên chúng ta chưa thể hình dung
được toàn bộ kiến trúc Song với tài liệu đã có cho phép khẳng định vào thời Trần
Trang 37nơi đây cũng đã tồn tại một kiến trúc đồ sộ được xây cất ngay trên cùng một vị trí của các kiến trúc trước đó
2.3 Dấu tích kiến trúc Trần ở hố A1 18 Hoàng Diệu
Dấu tích kiến trúc Trần ở A1 là một số cấu trúc gạch hình hoa chanh như con
đường ở Đoan Môn
Các đường hoa chanh này bị phá hủy nhiều và có chỗ chồng lên nhau rất khó xác định hình dáng Có hai vết tích cấu trúc hoa chanh đáng lưu ý nhất như sau:
a Có 3 dải cấu trúc hoa chanh có tạo thành một mặt bằng hình chữ U Dấu
hoa chanh phía nam dài 16,23m, đoạn giữa của dải hoa chanh bị phá mất một đoạn dài 2,62m Cách cấu trúc hoa chanh vẫn tương tự như ở Đoan Môn 1 ô hoa chanh rộng 69,5cm Các ô hoa chanh được dùng vật liệu chủ yếu là gạch kết hợp với ngói Hiện còn 21 ô hoa chanh
Dải hoa chanh phía bắc song song với dải hoa chanh phía nam dài 14,81cm Toàn bộ dải này chỉ còn có hàng gạch bìa xếp đứng Đầu phía tây có một ô hoa chanh vừa có thể coi là ô bắt góc của dải này rộng 57cm được xây xếp bằng gạch và ngói
Về đầu phía đông có các dải gạch hoa chanh bị phá nhiều chỗ, hoa chanh chỉ còn từng đoạn nhỏ có cấu trúc tương tự như nhau Từ bắc xuống nam dài 17,80m Các dải hoa chanh này xây đè lên các trụ sỏi thời Lý một lớp móng dày 26cm
b Dải hoa chanh hình vòm cuốn:
Vòm cuốn này có cấu trúc khá lạ và đã bị phá hủy rất mạnh Còn thấy rõ vòm cuốn còn 1/2 phía đông (nửa phía tây không rõ có hay không Vòm cuốn được đắp bằng đất sét dài 14,45m Mặt ngoài của vòm cuốn còn 3 ô hoa chanh được xếp bằng gạch bìa 3 ô hoa chanh còn khá rõ cấu trúc như nhau” (Rộng 1,08m, vòng cung rộng 1,25m, 97,5cm - 1,29m ở giữa có một đoạn tường đỡ vòm cuốn dài 8,26m, cao 0,78m đều xếp bằng gạch Lý - Trần
2.4 Dấu tích kiến trúc Trần ở khu D 18 Hoàng Diệu
ở khu D cũng có những dải hoa chanh tương tự Dải hoa chanh còn rõ nhất dài 34,50m, rộng 15,80m Ô hoa chanh ở đây được cấu trúc rất đẹp: 1 ô trong hình
có kích thước 45cm x 47cm được nhồi chặt hoàn toàn bằng ngói mỏng
2.5 Di tích kiến trúc chùa Báo Ân
Năm 2002 và 2003, khảo cổ học đã khai quật chùa Báo Ân và tìm thấy dấu tích kiến trúc thời Trần
Trang 38Di tích nằm ở tả ngạn sông Thiên Đức, thuộc địa phận thôn Trung, xã Dương Quang, huyện Gia Lâm Diện tích thám sát và khai quật 360m2, chiếm một phần nhỏ trên tổng diện tích di chỉ
Dấu tích móng và một số lượng phong phú vật liệu trang trí kiến trúc thời Trần nằm ở độ sâu từ 1,2 đến 1,6m Móng thời Trần được xếp gạch chữ nhật, có màu đỏ tươi, kích thước 32cm x 14cm x 4cm và 19,38cm x 19,4cm x 3,5cm và cũng không dùng chất kết dính, tương tự như cách xếp móng của thời Lê Đáng chú ý, có chỗ ở dưới đáy của móng được xếp thêm một hàng gạch nghiêng ở phía ngoài để gia
cố Nhìn chung, lớp móng thời Trần đã bị giai đoạn sau phá huỷ nặng nề Chúng tôi cũng ghi nhận hiện tượng bóc dỡ và tái sử dụng vật liệu thời Trần ở những thời sau,
đặc biệt là thời Lê Trung Hưng Bên cạnh lớp gạch bó móng, trong các hố khai quật còn tìm được những mảng nền được lát bằng gạch vuông, kích thước 31cm x 34cm, dày 5cm Những mảng nền còn lại rộng 5-7m2 và còn ăn sâu vào vách hố đào
Tuy chưa tìm được toàn bộ các cạnh của móng, nhưng đã phát hiện được hai góc của mặt bằng kiến trúc, cho phép đoán định kiến trúc có hướng quay phía tây, nhìn ra sông Thiên Đức Trong lòng kiến trúc không còn chân tảng nhưng vẫn nhận
ra được dấu vết gia cố bằng ngói và gạch đập nhỏ Những vết gia cố này cho phép nghiên cứu các bước gian của kiến trúc thời Trần
Ngoài móng và thềm kiến trúc thời Trần, còn thấy rất nhiều hệ thống ống dẫn nước khá nguyên vẹn chạy ngang và ở các cấp khác nhau trong hố đào ống nước
được xếp thẳng và liên kết với nhau bằng các đoạn ống đất nung hình trụ, dài trung bình 20cm, đường kính 14-15cm Có những đường ống một đầu được dẫn vào một
“hố ga” hình vuông bó bằng gạch bìa Kiểu ống dẫn nước này đã từng bắt gặp ở khu
di tích thời Trần Côn Sơn - Kiếp Bạc Hệ thống cống đó là bằng chứng cho thấy, vào thời Trần, các nhà xây dựng rất lưu ý đến việc cấp thoát nước và vệ sinh môi trường
Cùng với những dấu tích kiến trúc trên, còn có một mảng gia cố bằng gạch và ngói, được xếp thành hình tròn, có đường kính khoảng hơn 3m Mảng gia cố đó
được ken chặt bằng gạch thẻ và ngói mũi hài theo kiểu nêm cối Cách gia cố này giống hệt ở di tích Đoan Môn (Thành cổ Hà Nội) do Viện Khảo cổ học khai quật năm 2000 và trong khu di tích Ba Đình hiện đang được khai quật (Theo Ngô Thế
Phong và Nguyễn Văn Đoàn: Tìm lại chùa Báo Ân Trong Xưa và Nay, số 203 -
204, 2004, tr.57-58)
2.6 Giếng nước thời Trần ở hố A9 18 Hoàng Diệu
Giếng hình tròn, toàn bộ giếng được xây bằng gạch Thành giếng được xếp loại gạch hình chữ nhật theo kiểu xếp hình “xương cá” Toàn bộ đáy giếng được lát
Trang 39bằng gạch vuông Đây là chiếc giếng to và đẹp nhất trong hệ thống 11 giếng nước
đã được phát hiện tại 18 Hoàng Diệu
2.7 Dấu tích cống thoát nước ở hố D7 18 Hoàng Diệu
Tại hố D7, đã tìm thấy hệ thống cống nước lớn ở lớp L.5
Hệ thống cống nước này gồm có 2 bộ phận nối liền nhau Bộ phận thứ nhất nằm ở phía Bắc hố D7 kéo dài một phần sang phía Nam Bộ phận thứ hai nằm ở phía Nam của hố D7 Cả hai bộ phận này đều nằm trên trục dọc theo hướng Bắc-Nam, hai đầu Bắc và Nam của hệ thống cống tiếp tục chạy vào các vách Bắc và Nam của hố Phía Đông của hệ thống cống cách vách Đông của hố: 8,55m Phía Tây của hệ thống cống cách vách Tây của hố: 6,08m Điểm cao nhất của hệ thống cống cách mặt bằng O giả định của hố D7 là: 2,13m
Dưới đây xin mô tả chi tiết cấu trúc, hình dáng hai bộ phận của hệ thống cống nêu trên
a Bộ phận cống phía Bắc:
Như đã nói ở trên, bộ phận cống này kéo dài từ vách Bắc sang đến phần Nam của hố với tổng chiều dài còn đo được là: 7,4m
Đoạn rộng nhất của cống còn đo được là: 0,75m
Chiều sâu nhất của cống còn đo được là: 0,34m
Chiều rộng trung bình của đáy cống là : 0,42m
Đoạn này có cấu trúc như sau: Hai bên xây bằng gạch bìa xếp nghiêng tạo thành hình lòng máng, tuy nhiên có vẻ không được đồng nhất lắm, ở phía đầu Bắc của công trình người ta xếp gạch bìa theo chiều ngang, còn ở phía Nam của công trình ở phía bên hữu (nhìn theo hướng chảy của cống) đoạn: 2,14m cuối cùng người
ta lại xếp gạch bìa theo chiều đứng, phía đối diện của đoạn này một số viên gạch xây thành cống đã bị mất nhưng còn một phiến đá tận dụng lại để xây thành cống nằm ở vị trí cuối của cống (cửa cống) Phần đáy của cống được lát bằng cả hai loại gạch bìa và gạch vuông ở đoạn cuối của cống ở phía Nam chúng tôi thấy một viên ngói âm được đặt nằm ngửa lát theo chiều dọc của cống, đầu to của viên ngói quay
về phía Nam có lẽ được dùng như một thứ đầu máng xả nước Viên ngói này có kích thước như sau: Chiều dài còn đo được 36cm; chiều rộng nhất còn đo được 30cm; chiều hẹp nhất còn đo được 23cm; chiều dày nhất của viên ngói còn đo được 1,8cm Viên ngói này có màu đỏ gạch (đơn sắc), phía trong lòng viên ngói có dấu vải
Trang 40Hiện tại, có thể còn đo được kích thước của các loại gạch xây cống còn đo
Cống được xây bằng gạch bìa và gạch vuông, theo cạnh xếp giật cấp lùi dần
ra hai bên, lớp trên lùi sâu so với lớp dưới tạo thành dáng thoai thoải Ở vách phía Tây của cống hiện chúng tôi còn đếm được 16 lớp gạch với tổng chiều cao của thành cống phía Tây là : 0,88m Ở vách này các lớp gạch thường được xây giật cấp lùi vào từ 5cm đến 6cm
ở vách phía Đông của cống hiện còn tổng số 11 lớp gạch với tổng chiều cao của thành cống phía Đông còn đo được là: 0,82m Ở thành cống phía Đông các lớp