1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong chương trình truyền hình của đài pt – th hà giang

80 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong chương trình truyền hình của đài phát thanh - truyền hình Hà Giang
Tác giả Ngô Mai Ánh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Trường
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Báo chí học
Thể loại Đề cương luận văn thạc sĩ báo chí học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 266,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGÔ MAI ÁNH THÔNG TIN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH C[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

CỦA ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH HÀ GIANG

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

CỦA ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH HÀ GIANG

Ngành : Báo chí học

Chuyên ngành : Phát thanh – Truyền hình

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌCNgười hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Trường

HÀ NỘI - 2022

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu công bố trong luận văn hoàn toàn chính xác, chưa từng công bố trong bất cứ tài liệu nào, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGÔ MAI ÁNH

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xã hội hiện đại, thông tin trở thành nhu cầu không thể thiếu đối vớicon người Thông tin là yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội Thông tin pháttriển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Nền sản xuất xã hội càng pháttriển, trình độ văn minh càng cao thì nhu cầu thông tin càng lớn về số lượng vàđòi hỏi về chất lượng, về tính nhanh nhạy kịp thời ngày càng cao hơn Sự pháttriển nhanh chóng, từng phút, từng giờ của các phương tiện thông tin đại chúng

đã góp phần tạo nên một kỷ nguyên thông tin trên toàn cầu Người ta đón nhậnthông tin từ nhiều chiều và theo những cách thức khác nhau

Trong đó, truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tảithông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằngsóng vô tuyến điện Hiện nay, truyền hình đã có mặt ở hầu khắp các quốc gia vàvùng lãnh thổ, trở thành kênh tuyên truyền quảng bá vô cùng hiệu quả trên toànthế giới Qua các thể loại như tin, phóng sự, phỏng vấn… truyền hình đã kịp thờicung cấp, phản ánh đưa thông tin một cách đầy đủ, khách quan, sinh động, đápứng kịp thời nhu cầu thông tin của công chúng

Hà Giang là mảnh đất địa đầu của Tổ quốc của 19 dân tộc anh em, việc bảotồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số đối với đời sống đồng bào dân tộcthiểu số nói riêng và nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang nói chung vô cùngquan trọng Trước tình hình đó, báo chí Hà Giang, trong đó Đài PT – TH HàGiang đóng vai trò quan trọng, góp phần làm nên những kết quả truyền thôngtrong việc đem lại những giá trị bền vững cho đồng bào DTTS Hiện nay, cáctin, bài phóng sự ở Đài viết về ĐSVH của DTTS địa phương ngày càng tốt hơnnhưng vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra như thiếu sâu sắc về nội dung, chưa phản ánhđồng bộ các khía cạnh giá trị văn hóa của địa phương, ít đề xuất đóng góp về cơchế, chính sách để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của đồng bào DTTS; thiếu

Trang 7

tính đa dạng, phong phú về thể loại tác phẩm, thiếu sức sáng tạo đổi mới các tácphẩm…

Trong bối cảnh của công cuộc đổi mới được khởi xướng từ Đại hội VI củaĐảng, vai trò văn hóa được nhìn nhận một cách biện chứng và tích cực Hội nghịTrung ương lần thứ V – Khóa VIII khẳng định văn hóa vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực của sự phát triển, là nền tảng tinh thần của xã hội Trên cơ sơ xác định

vị trí, vai trò trọng yếu của văn hóa trong đời sống chính trị, xã hội, kinh tế của

đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước đưa ra các giải pháp để xây dựng đời sống văn hóa tỉnh Hà Giang Trên nền tảng của các chủ trương, chính sách

lớn của Đảng và Nhà nước, các địa phương đã vận dụng để đưa ra các giải phápxây dựng đời sống văn hóa phù hợp với các đặc điểm, điều kiện về mọi mặt củađịa phương mình, từ đó đã tạo nên phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ

sở Cùng với truyền hình trên cả nước, trong những năm qua, truyền hình củatỉnh Hà Giang, đã có nhiều cố gắng thực hiện chức năng thông tin - giải trí, phục

vụ đắc lực cho xây dựng đời sống, văn hóa của tỉnh

Với mong muốn thông tin về ĐSVH của đồng bào DTTS trên sóng truyềnhình của Đài PT – TH Hà Giang thực sự có chất lượng đi vào cuộc sống, tác giả

lựa chọn đề tài: “Thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong chương trình truyền hình của Đài PT – TH Hà Giang” nhằm khảo sát,

phân tích, đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượngnội dung, hình thức thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu sốtrên sóng truyền hình của Đài PT-TH Hà Giang

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cần trình bày các nghiên cứu thuộc 3 nhóm sau:

2.1 Những nghiên cứu về truyền hình và chương trình truyền hình

2.2 Những nghiên cứu về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số

2.3 Những nghiên cứu về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu

số trên truyền hình

Trang 8

Những năm qua, vấn đề đời sống văn hóa dân tộc đã được nhiều tác giả,nhiều công trình nghiên cứu đề cập với nhiều góc độ khác nhau Trên lĩnh vựcbáo chí truyền thông, có một số công trình sau:

Ở Việt Nam, đã có những công trình đi sâu vào nghiên cứu các nhómngười, nhóm công chúng như Bế Trường Thành, “Vấn đề dân tộc và công tácdân tộc”,- Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Xuân An Việt về “Thông tin về dântộc miền núi trên VTV1 – Đài THVN, năm 2001, tại Học viện Báo chí và tuyêntruyền đã khảo sát chương trình về đề tài dân tộc và miền núi của Đài THVNtrong 3 năm 1999-2001

- Năm 2005, tại Học viện Báo chí và tuyên truyền, tác giả Phạm Ngọc Bách

có luận văn thạc sỹ với tiêu đề “Chương trình Dân tộc và miền núi trên sóngVTV1-Đài Truyền hình Việt Nam.”

- Tác giả Đỗ Thanh Phúc với “Vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộcthiểu số trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Hòa Bình”,Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng

Trong xu thế phát triển của đất nước, để đáp ứng nhu cầu bạn xem truyềnhình nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số; chúng tôi nhận thấy cần tiếp tụcnghiên cứu sâu, từ đó có các giải pháp điều chỉnh chương trình truyền hình đểđạt hiệu quả hơn trong thời đại bùng nổ và cạnh tranh thông tin

Qua thống kê trên cho thấy, cho đến thời điểm hiện tại đã có nhiều côngtrình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đề tài thông tin về đời sống văn hóa.Mỗi công trình nghiên cứu đã đề cập tới những khía cạnh khác nhau của thôngtin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên đến hiện tại

chưa có một công trình nào nghiên cứu về đề “Thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong chương trình truyền hình của Đài PT – TH

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu,tập trung vào những vấn đề lý luận và thực tiễn truyền thông về đời sống vănhóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong chương trình truyền hình

- Khảo sát thực trạng vấn đề thông tin về đời sống văn hóa của đồng bàodân tộc thiểu số qua các chương trình truyền hình tại Đài PT - TH Hà Giang

- Trên cơ sở khảo sát thực trạng, chỉ ra những thành công, hạn chế vànguyên nhân của thành công, hạn chế, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nângcao chất lượng thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu sốtrong chương trình truyền hình của Đài PT-TH Hà Giang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thông tin về đời sống văn hóa của đồngbào dân tộc thiểu số chương trình truyền hình của Đài PT – TH Hà Giang

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các chương trình truyền hình có nộidung thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số của Đài PT –

TH Hà Giang Trong đó, tập trung khảo sát 3 chương trình: Thời sự, Xây dựngNông thôn mới, Văn nghệ giải trí Sắc màu văn hóa Thời gian khảo sát từ tháng8/2021 đến tháng 8/2022

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về báo chí,truyền thông; quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc vàmiền núi. 

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Thứ nhất: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, giúp cho người nghiên cứu

nắm được phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện trước đây, có thêm kiến

Trang 10

thức sâu rộng về lĩnh vực đang nghiên cứu và làm rõ hơn đề tài nghiên cứu củamình.

- Thứ hai: Phương pháp khảo sát thực tế, được sử dụng để khảo sát thực

trạng thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong chươngtrình truyền hình của Đài PT – TH Hà Giang

- Thứ ba: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, sử dụng để

phân tích, đánh giá thực trạng, rút ra những thành công và hạn chế của chươngtrình Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về đờisống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong chương trình truyền hình củaĐài PT – TH Hà Giang

- Thứ tư: Phương pháp phỏng vấn sâu, đối tượng phỏng vấn là những

người làm công tác quản lý, các phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên thựchiện chương trình có nội dung thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dântộc thiểu số trong chường trình truyền hình của Đài PT-TH Hà Giang Cụ thể,tác giả luận văn phỏng vấn lãnh đạo, phóng viên (bao nhiêu người, để làm gì?)

6 Đóng góp mới của đề tài

Đây là đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên về thông tin đời sống văn hóacủa đồng bào dân tộc thiểu số trong chương trình truyền hình của Đài Phát thanh– Truyền hình tỉnh Hà Giang Việc khẳng định những thành công, hạn chế vàqua đó tìm ra nguyên nhân của những ưu điểm, nhược điểm thông tin về đờisống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong chương trình truyền hình đượckhảo sát cùng với những giải pháp, khuyến nghị được nêu ra cũng là nhữngđóng góp mới của đề tài nghiên cứu này, có thể góp phần trực tiếp vào việc nângcao chất lượng hoạt động của chương trình truyền hình của Đài

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài là sự vận dụng tổng hợp những kiến thức về lý luận báo chí, truyềnthông đã được trang bị trong chương trình đào tạo thạc sĩ để giải quyết nhữngvấn đề đang đặt ra trong thực tiễn đời sống báo chí Việt Nam hiện đại Nếu thực

Trang 11

hiện thành công, đề tài nghiên cứu này có thể dùng làm tài liệu tham khảo chocác nhà trường và các trung tâm có đào tạo về truyền hình trong cả nước.

Với bản thân tác giả luận văn, quá trình hoàn thành nghiên cứu này là sựvận dụng hệ thống lý luận báo chí – truyền thông đã được tiếp thu trong cả khóahọc để nghiên cứu một vấn đề cụ thể Đó cũng là quá trình tự hoàn thiện thêm vềphương diện lý thuyết và các vấn đề thực tiễn đang đặt ra ở cơ sở, từ đó tạo cơ

sở nền tảng cho hoạt động tuyên truyền của tác giả luận văn sau này tại địaphương

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số

trên truyền hình: Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn;

- Chương 2: Thực trạng thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân

tộc thiểu số trong chương trình truyền hình của Đài PT – TH Hà Giang hiện nay;

- Chương 3: Vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về

đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trên truyền hình hiện nay

Trang 12

Chương 1 THÔNG TIN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN TRUYỀN HÌNH

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu.

1.1.1 Thông tin

Khái niệm “thông tin” được bắt nguồn từ chữ La tinh Infometio, gốc của từtiếng Anh information Hai ông Philipppe Brton và Serge Proulx trong cuốnsách “Bùng nổ thông tin và sự ra đời một ý thức hệ mới” giải thích rằng: Kháiniệm này có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là, nói về một hành động cụ thể để tạo ramột hình thái (frome), thứ hai là, nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một kháiniệm hay biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạolập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt, đây là tiêu biểu cho

sự phát minh của tiếng Latinh Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật

và kiến thức [tr 38]

Theo Từ điển tiếng Việt thì thông tin với nghĩa là động từ là truyền tin cho nhau để biết; và với nghĩa danh từ là điều được truyền đi cho biết, tin truyền

đi (ví dụ bài báo có lượng thông tin cao) [54, tr 1220]

Theo giáo trình Cơ sở lý luận báo chí của tác giả Tạ Ngọc Tấn chủ biên,

“Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo.Hoạt động thông tin không chỉ có trong hoạt động loài người Ngay trong thiênnhiên cũng có những hoạt động thông tin phức tạp, đa dạng của các loài độngvật khác nhau” [42, tr.19]

Thông tin báo chí được hiểu theo hai nghĩa:

Thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thựccuộc sống Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hộiđược báo chí phản ảnh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của conngười

Trang 13

Thứ hai, đó là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới côngchúng.

Trong hoạt động báo chí, thông tin là mục đích chủ yếu Thông tin trởthành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng Căn cứ việc phân loại theo phươngthức thể hiện, người ta chia thông tin báo chí thành các loại hình: Thông tinbằng chủ yếu chữ viết (báo in); thông tin chủ yếu bằng hình ảnh (truyền hình);thông tin trên mạng internet (đa phương tiện)

Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều dạng khác nhau: cókhi chỉ là tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng vấn; có khi là mộtchương trình phát thanh, truyền hình Ngay cả các tiêu đề, vị trí của tác phẩmtrên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữtrên các tờ báo… đều chứa đựng thông tin

1.1.2 Văn hóa

Văn hóa có gốc từ tiếng Latinh: “Cultura” (có nghĩa là cải tạo, xử lý, vuntrồng, phát triển, sùng kính, giáo dục), khái niệm đa nghĩa và được sử dụng rấtthường xuyên trong ngôn ngữ hằng ngày và trong ngôn ngữ khoa học Văn hóa

là trình độ quan hệ đã hình thành trong tập thể, tức các chuẩn mực và khuônmẫu ứng xử được truyền thống mang lại

Theo UNESCO đưa ra: "Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động vàsáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy

đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - nhữngyếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [42, tr 23-24] Định nghĩa nàynhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiếntrình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạonên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗicộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc

Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ họcthức, lối sống Theo nghĩa chuyên biệt, nó được dùng để chỉ trình độ phát triểncủa một giai đoạn Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả mọithứ, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối

Trang 14

sống Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa ViệtNam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Vănhóa - Thông tin, năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần docon người sáng tạo ra trong lịch sử" [Nguồn???].

Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loàingười mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoahọc, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc,

ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức

là văn hóa” [Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 3,tr.431]

Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụ thể và đầy đủhơn Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồncũng như mục đích của cuộc sống” [36, tr 458], những hoạt động sống đó trảiqua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán,chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tíchlũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bản sắcriêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại.Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nền củathế giới tự nhiên Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cáchhiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của conngười Văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, vănhóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ,

tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phươngtiện… Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của vănhóa

1.1.3 Đời sống văn hóa

Sau đại hội V, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trở thành một phong tràophát triển sâu rộng trên địa bàn dân cư, đơn vị sản xuất, công tác, học tập tácđộng trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo

Trang 15

văn hoá trong đời sống của mọi tầng lớp nhân dân Từ đó, khái niệm về đời sốngvăn hoá ngày một sáng tỏ

Năm 1987, cuốn sách Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản

Việt Nam đã luận giải: “Đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu hiện

một trình độ văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng

cá nhân, nhằm mục đích văn hóa tức là hoàn thiện con người” [Nguồn???]

Năm 2000, cuốn Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao

gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế vănhóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt độngvăn hóa của nó) [Nguồn???]. 

Năm 2007, cuốn Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng cho rằng

đời sống văn hoá bao gồm 4 yếu tố: văn hoá vật thể và phi vật thể; cảnh quanvăn hoá; văn hoá cá nhân; văn hoá của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng, từ đóđưa ra khái niệm: “Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội, baogồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tácđộng qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoátrong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người”[Nguồn???]

Con người sinh ra và trưởng thành, muốn cho đời sống cá nhân được phongphú, lành mạnh thì tất yếu người đó có quan hệ đến:

- Đời sống vật chất: đảm bảo yếu tố cho người đó sinh tồn

- Đời sống tinh thần: nhằm thỏa mãn nhu cầu ý thức về tình cảm, lý trí,nghị lực, tư tưởng của người đó

- Đời sống xã hội: xã hội hình thành nhân cách con người Bản thân mỗingười đều muốn sống với cộng đồng, thông qua cộng đồng để chứng minh,khẳng định phẩm chất, năng lực của mình và hoàn thiện bản thân

Đời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con ngườitác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng conngười vươn lên theo qui luật của cái đúng, cái đẹp, cái tốt, của chuẩn mực giá trị

Trang 16

chân, thiện, mĩ, đào thải những biểu hiện tiêu cực tha hoá con người Đời sốngvăn hóa là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các hoạt động văn hóa nhằmnâng cao chất lượng sống của con người Đó là quá trình các yếu tố văn hóa màcon người tiếp thu được tác động vào đời sống vật chất để con người biến đổimôi trường tự nhiên tạo lập môi trường nhân văn, làm ra được nhiều sản phẩmvật chất cho xã hội; tác động vào đời sống tinh thần để con người thỏa mãn nhucầu chủ quan đáp ứng các yêu cầu về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống; tácđộng vào đời sống xã hội để xây dựng một hệ thống các giá trị chuẩn mực xãhội; tác động vào chính bản thân đời sống cá nhân, điều chỉnh hành vi ứng xửcủa cá nhân và cho cá nhân phương thức lựa chọn hướng đi tốt nhất cho chínhcuộc đời mình.

Đời sống văn hóa bao giờ cũng có tính kế thừa Kế thừa các giá trị truyềnthống tốt đẹp của các thế hệ đi trước tạo ra sự ổn định và tiền đề khẳng địnhnhững giá trị mới

Đời sống văn hóa bao giờ cũng có tính đổi mới, bởi lẽ con người luôn luôn

có khát vọng vươn lên cái tốt đẹp, chỉ có mạnh dạn sáng tạo, mạnh dạn cải đổimới mong đáp ứng nhu cầu càng cao về vật chất và tinh thần của con người

Từ những phân tích nêu trên, tác giả cho rằng: Đời sống văn hóa là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người.

1.1.4 Đồng bào

Theo Wikipedia thì từ “đồng bào” là một cách gọi của người Việt Nam,Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản có ý coi nhau như con cháu của cùng tổtiên sinh ra Theo nghĩa đen, "đồng bào" có nghĩa là "cùng một bọc" hay là

"cùng một bào thai" và chỉ anh em ruột thịt cùng cha cùng mẹ Từ này để gọingười Việt Nam với nhau ở trong nước nhưng đối với người Việt nhưng ở nướcngoài thì phải gọi là kiều bào hay thông dụng hơn là Việt kiều

Trang 17

Trong từ vựng tiếng Việt chữ “đồng” (cùng) làm thành hệ thống từ ghépđồng nghĩa phong phú bậc nhất (so với từ vựng các nước khác): đồng bào, đồngtâm, đồng chí, đồng ý, đồng tình, đồng lòng, đồng hương, đồng cảm, đồng điệu,đồng hành, đồng đội, đồng hao, đồng môn, đồng nghiệp, đồng khởi, đồng diễn,đồng ca…

Hán-Việt tự điển của Thiều Chửu (NXB TPHCM, 1993, tr 522) giảng: bàolà: “[cái] bọc, anh em cùng một cha mẹ gọi là đồng bào (anh em ruột) Nói rộng

ra, anh bố gọi là bào bá (bác ruột), em bố gọi là bào thúc (chú ruột) Người trongmột nước cũng gọi là đồng bào, nghĩa là cùng là con cháu một ông tổ sinh ra vậy[Nguồn???]

Hình như không có quốc gia nào trên thế giới có sự tích nguồn gốc “đồngbào”, ngoài Việt Nam Có lẽ với họ, tâm thức về hai chữ “đồng bào”, nếu có thìchỉ là cách để nói về những đứa con cùng cha cùng mẹ, cùng sinh từ một bàothai; có mối quan hệ tình cảm trong phạm vi huyết thống Nhưng với người Việt,đồng bào là tất cả những người con đất Việt Những người có cùng nguồn gốc từbọc trứng của mẹ Âu Cơ, năm xưa chia nhau lên rừng xuống biển, sinh sống vàgiữ gìn non sông gấm vóc ở khắp mọi miền Tổ quốc

Tóm lại, đồng bào có thể được hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, đó là nhữngngười có cùng quốc tịch, có nguồn gốc, lai lịch là người Việt Nam

1.1.5 Dân tộc thiểu số

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững: “Dân tộc là sản phẩm của quá trình lịch

sử phát triển lâu dài của xã hội loài người Khái niệm dân tộc cũng được hiểutrên nhiều quan điểm, ở những thời kỳ và những bình diện khác nhau Ở phươngTây, khái niệm dân tộc xuất hiện cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa Ở nước ta, do đặc thù quá trình phát triền, khái niệm dân tộcđược hình thành rất sớm Cho đến nay, trên góc độ lí luận chủ nghĩa xã hội khoahọc, khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa

Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinhhoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét VH đặc thù; xuất hiện sau

bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tốc tộc người ở bộ lạc, bộ

Trang 18

tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của cộng đồng dân cư đó Theonghĩa này, DT được hiểu như một tộc người hay một DT trong quốc gia đa DT.Với cách hiểu này, Việt Nam gồm 54 DT hay 54 tộc người.

Hai là, chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh

tổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thốngnhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyềnthống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâudài dựng nước và giữ nước.” [6, tr 229 – 230]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, khái niệm “dân tộc thiểu số” là “dântộc ít người (có thể từ hàng trăm, hàng nghìn cho đến hàng triệu) cư trú trongmột quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc có số dânđông nhất” [42, tr.820] Đây là khái niệm dùng phổ biến trong các văn kiệnchính thức của Đảng và nhà nước ở Việt Nam

Trên bình diện quốc tế, thuật ngữ “dân tộc thiểu số” được Liên hợp quốc đềcập tới trong “Tuyên ngôn về quyền của người thuộc nhóm thiểu số về dân tộchay tộc người, tôn giáo và ngôn ngữ, theo đó, “dân tộc thiểu số” xác định dùng

để chỉ một nhóm người “cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà

họ là công dân; duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống,thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của mình; đủ

tư cách đại diện nhóm dân tộc của họ mặc dù số lượng ít hơn ở nước này, cómối quan tâm đến bảo tồn bản sắc chung của mình, bao gồm các yếu tố văn hóa,phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ” [26, tr.24]

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Khoản 2 Điều 4 Nghị định số05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc đã đưa rakhái niệm “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa

số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Khoản 2

và Khoản 3 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc thì “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; “Dân tộc đa số là dân tộc

có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước theo điều tra dân số quốc gia

Trang 19

Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, một dân tộc được coi là dân tộc thiểu số khi

số dân của dân tộc đó nhỏ hơn hoặc bằng 50% tổng số dân của cả nước (tínhtheo kết quả điều tra dân số quốc gia) Và người dân tộc thiểu số được hiểu làngười dân của các dân tộc có số dân nhỏ hoặc bằng 50% tổng số dân của cả

nước Tại nước ta hiện nay, “Dân tộc đa số” đó là dân tộc Kinh với 85,7% dân

số cả nước còn lại các dân tộc khác đều là dân tộc thiểu số

Tiến sĩ Bế Trường Thành, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban dân tộccũng nói về khái niệm dân tộc thiểu số qua bài viết “Dân tộc thiểu số hay dântộc ít người” trong cuốn “Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc” như sau: “Ở ViệtNam chúng ta không có thổ dân, dân bản xứ (dân bản địa) vì các dân tộc ViệtNam đều là những cư dân – chủ nhân của đất nước Việt Nam, không phân biệtnguồn gốc)

Như vậy khái niệm dân tộc thiểu số được hiểu là những dân tộc có số dân

ít, chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dân số cả nước, đa số các dân tộc thiểu số đều tậptrung sinh sống ở những khu vực giáp biên giới, vùng sâu vùng xa, có điều kiệnkinh tế khó khăn, vấn đề giáo dục, chăm sóc sức khỏe người dân còn nhiều hạnchế

Ngoài ra cộng đồng các dân tộc thiểu số ít người thường khó hòa nhập do

họ sử dụng ngôn ngữ riêng, nhận thức còn hạn chế, có nhiều phong tục tập quán

cổ hủ

1.1.6 Đời sống văn hóa của đồng bảo dân tộc thiểu số

Phần này phải trình bày khái quát để hiểu thế nào về khái niệm chứ khôngphải là đi giới thiệu về Hà Giang và đồng bào dân tộc ở Hà Giang! Đây đang làphần hình thành khái niệm, giải thích thuộc chương lý luận

Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, Việt Nam Năm 2018, HàGiang là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 48 về số dân và là tỉnh nghèotrong số 6 tỉnh nghèo nhất cả nước Hà Giang có vị trí địa lý: phía Đông giáptỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp các tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáptỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp Trung Quốc Tổng diện tích tự nhiên của Hà

Trang 20

Giang là 7.884,37 km2 Trong đó theo đường chim bay, chỗ rộng nhất từ Tâysang Đông dài 115km và từ Bắc xuống Nam là 137km Dân số toàn tỉnh có trên649.000 người, với 19 dân tộc cùng sinh sống tạo nên một sự đa dạng về bản sắcvăn hóa Hà Giang duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khác, thu nhập bình quânđầu người năm 2021 đạt 30 triệu đồng, tăng 57,4% so với năm 2015 Trong đótoàn tỉnh hiện có 19 dân tộc cùng sinh sống; trong đó, đồng bào Mông chiếm tỷ

lệ cao nhất, 31,5% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là dân tộc Tày (26%), Dao (15,4%),Kinh (12%) và các dân tộc khác

- Đồng bào dân tộc thiểu của tỉnh Hà Giang có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm; đã và đang tích cực tham gia xây dựng, phát triển quê hương.

Tỉnh Hà Giang có 19 dân tộc cùng sinh sống tạo nên một sự đa dạng vềbản sắc văn hóa Trong đó, chiếm chủ yếu dân số là dân tộc Mông với 31,5%,Tày chiếm 26%, Dao chiếm 15,4%, Kinh chiếm 12% và các dân tộc khác Đồngbào dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang luôn tự hào và nêu cao tinh thần, truyềnthống đoàn kết trong đấu tranh chống thù trong giặc ngoài và đấu tranh chinhphục thiên nhiên Trải qua hàng tram năm, đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh đãcùng nhau khai phá, xây dựng và phát triển vùng đất nơi địa đầu của Tổ quốc.Luôn giúp đỡ, chia sẻ những lúc thuận lợi cũng như khó khăn về điều kiện kinh

tế, thiên nhiên khắc nghiệt Trong thời kỳ lịch sử của kháng chiến chống thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, được Đảng lãnh đạo đồng bào các dân tộcthiểu số tỉnh Hà Giang đã cùng nhau chiến đấu quên mình để góp phần vàochiến thắng lịch sử 30/4/1975 Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh HàGiang đã trở thành nơi nuôi giấu cán bộ, nhiều cán bộ và đồng bào dân tộc thiểu

số đã hi sinh anh dũng cho công cuộc cách mạng Để tiếp bước truyền thống anhhùng, ngày nay đồng bảo dân tộc thiểu số của tỉnh đã, đang và sẽ ra sức phấnđấu trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế xã hội, cùng giúp đỡ nhau trongcông cuộc xóa đói giảm nghèo, tiến bộ cùng nhau

Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, song các thế lực thù địch vẫn lợi dụng địabàn biên giới hiểm trở, cư dân thưa thớt, nhất là ĐSVH của đồng bào DTTS…

Trang 21

hoạt động của các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá cách mạng nước ta,mục đích nhằm vô hiệu hóa các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhànước Tuy nhiên, trước “Đường lối chính trị đúng đắn của Đảng ta đã từng bướccảm hóa mạnh mẽ và thu hút được tất cả các DTTS Hà Giang đi theo con đườngđấu tranh và xây dựng để có dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng vàvăn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

- Đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang tuy từ lâu đã sống đan xen, hòa nhập cùng nhau nhưng do yếu tố lịch sử và tập tục sinh hoạt, đến nay phần lớn các dân tộc vẫn cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.

Trong các cuộc kháng chiến, nơi này thường là căn cứ, là cái nôi của cáchmạng Cán bộ, chiến sỹ cách mạng được đồng bào DTTS đùm bọc, nuôi dưỡng,bảo vệ, đồng bào luôn gắn bó với Đảng với cách mạng, góp sức người, sức củagiải phóng quê hương Đồng bào cảm ơn Đảng vì đã đem lại độc lập, tự do, hòabình, cuộc sống ấm no hạnh phúc Đây là cơ sở để Đảng xây dựng khối đoàn kếtcác dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, làm thất bại âm mưu chia rẽdân tộc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

Tuy nhiên, địa bàn đồng bào DTTS sinh sống chủ yếu là những vùng sâu,vùng xa, vùng biên giới, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, giao thông đi lại khókhăn cùng với đó là kết cấu hạ tầng kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất,canh tác lạc hậu, tốc độ tang trưởng kinh tế thấp, văn hóa xã hội chậm phát triểnnên đời sống đồng bào DTTS nói chung còn gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó,trong một bộ phận dân cư, thậm chí là trong cả đội ngũ cán bộ, đảng viên ngườiDTTS ở địa phương còn khá nặng nề suy nghĩ an phận thủ thường, hài lòng vớinhững thứ đang có, không có ý thức vươn lên

- Đồng bào DTTS ở Hà Giang có trình độ học vấn thấp.

Theo báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Giang lầnXVII, nhiệm kỳ 2020 – 2025 thì trình độ học vấn của đồng bào DTTS như sau:Trình độ Tiểu học chiếm 40%, Trung học cơ sở chiếm 32,7%, Trung học phổthông trở lên chiếm 27,3%

Trang 22

- Tình hình tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào DTTS tỉnh Hà Giang còn diễn biến phức, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định an ninh trật tự trên địa bàn.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang chỉ có 2 loại hình tôn giáo đang hoạtđộng là Tin lành và đạo Công giáo Số lượng đồng bào DTTS theo đạo nàychiếm chưa tới 10% dân số toàn tỉnh Tuy nhiên do trình độ dân trí của đồng bàotheo đạo thấp nên nhiều người còn chưa hiểu hết được lễ nghĩ cơ bản của đạomình nên việc hành đạo chủ yếu tự phát, đức tín chưa sâu sắc Phần đông đồngbào không xác định được mục đích theo đạo và nội dung sinh hoạt đạo chủ yếuphụ thuộc vào số trường điểm nhóm Các đối tượng cầm đầu hệ phái, tổ chứctôn giáo trong và ngoài nước gia tang các hoạt động, âm mưu thực hiện ý đồ

“tôn giáo hóa vùng DTTS”, tranh giành tín đồ nhằm mở rộng phạm vi ảnhhưởng Các cấp chính quyền tỉnh Hà Giang đã sớm nhận biết được vấn đề nàynên đã chỉ đạo các lực lượng chức năng đấu tranh, triệt phá các loại tà đạo xâmnhập nhằm giữ vững ổn định cuộc sống, trật tự an toàn của toàn tỉnh

Những đặc điểm trên đây về dân số, dân cư và mối quan hệ dân tộc chưaphải là tất cả, song đó là những đặc điểm nổi bật cần được xem xét, tính đếntrong giải quyết các vấn đề dân tộc, và quan hệ dân tộc, hoạch định và thực hiệntốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trên con đường đổi mới

1.1.7 Chương trình

Theo từ điển Tiếng Việt, Chương trình được hiểu là: “Toàn bộ nội dungnhững dự kiến hoạt động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhấtđịnh, nêu một cách vắn tắt” [51, tr.186]

Chương trình là toàn bộ những nội dung dự kiến hành động theo một trình

tự nhất định và trong một thời gian nhất định

Chương trình còn được định nghĩa là một loạt các hoạt động được thựchiện với sự hỗ trợ của các nguồn lực nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể chocác nhóm khách hàng, nhóm đối tượng đã được định sẵn

Thuật ngữ chương trình “program” trong chương trình truyền hình đượchiểu gồm các chương trình như: chương trình “Thời sự”, chương trình “Kinh

Trang 23

tế”, “Văn hóa”, “Quân đội”, “Phụ nữ”, “Thiếu nhi”, “Trò chơi”,… được phẩn bổtheo các kênh chương trình và được thể hiện bằng những nội dung cụ thể quatin, bài, tác phẩm truyền hình.

Mặt khác, chương trình theo cách hiểu của truyền thông như là một thế giớiphong phú, vô tận nhưng biểu hiện trong bản chất vốn có của nó Các loại hìnhtruyền thông đại chúng như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng có sựkhác biệt trong phương thức phản ánh và tái tạo hiện thực Bởi mỗi loại hình báochí ngoài những nét chung đều có những đặc thù riêng Đặc thù đó tạo ra nhữngnét riêng từ việc sản xuất, tiếp nhận và tiêu dùng sản phẩm

1.1.8 Truyền hình

Thuật ngữ Truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng

Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là “ở xa” còn “videre” là “thấyđược”, còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại thành

“Televidere” có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp

là “Television” Như vậy, dù phát triển bất cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọitruyền hình cùng có chung một nghĩa là nhìn được từ xa

Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và phát triển với tốc độ như vũbão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thôngtin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiếtyếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hình trở thành công cụ sắcbén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, anninh, quốc phòng

Theo cuốn Truyền thông đại chúng của GS.TS Tạ Ngọc Tấn, truyền hìnhđược hiểu như sau: “Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đạichúng chuyền tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh Nguyên nghĩa củathuật ngữ vô tuyến truyền hình “television” bắt đầu từ hai từ tele có nghĩa là “ởxa” và vision “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [41, tr.57]

Đặc trưng của truyền hình chính là hình ảnh và âm thanh Thực chất cộinguồn trực tiếp của truyền hình chính là điện ảnh Điện ảnh cung cấp cho truyềnhình những ý tưởng, phương thức truyền thông cũng như hệ thống phương tiện

Trang 24

ngôn ngữ phong phú, giúp truyền hình nhanh chóng trở thanh một loại truyềnhình truyền thông phổ biến, có sức truyền tải cao.

Về mặt kỹ thuật, truyền hình được hoạt động theo nguyên lý hình ảnh về sựvật được máy quay ghi nhớ lại biến đổi thành tín hiệu điện trong đó mang thôngtin về độ sáng tối, màu sắc Đó là tín hiệu hình (tín hiệu video) Sau khi được xử

lý, hình ảnh được truyền đi trên sóng truyền hình nhờ máy phát sóng hoặc hệthống dây dẫn Tại nơi nhận, máy thu hình tiếp nhận tín hiệu rồi đưa đến đènhình để biến đổi ngược từ tín hiệu thành hình ảnh trên màn hình Phần âm thanhcũng được thực hiện theo nguyên lý trên rồi phát tín hiệu qua loa

Như vậy, truyền hình là một công nghệ thuộc lĩnh vực điện tử viễn thông,

nó bao gồm tập hợp nhiều thiết bị điện tử Có khả năng thu nhận tín hiệu sóng

vô tuyến cũng như truyền dẫn các tín hiệu điện mang hình ảnh và âm thanh được

mã hóa, được phát dưới dạng sóng vô tuyến hoặc thông qua hệ thống cáp quang,hoặc cáp đồng trục Truyền hình đáp ứng cùng một lúc cả hai chức năng nghe vànhìn, những hình ảnh sẽ được trình chiếu trên các màn hình và âm thanh đượcphát trên hệ thống loa

1.2 Nội dung, hình thức, phương thức thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trên truyền hình

1.2 Nội dung, hình thức, phương thức thông tin về ĐSVH của đồng bào DTTS trên truyền hình

1.2.1 Nội dung thông tin về ĐSVH của đồng bào DTTS trên truyền hình

Báo chí luôn bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, bám sát nhiệm vụkinh tế xã hội của đất nước để chuyền tải đến công chúng những định hướngquan trọng của Đảng trong phát triển kinh tế - xã hội trong thực hiện công cuộcđổi mới Những chủ trương lớn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn được cơquan báo chí tập trung tuyên truyền mạnh mẽ và chuyên sâu Đối với Đài PT –

TH Hà Giang cũng đã xây dựng các chương trình, chuyên trang, chuyên mục,tin, bài về đời sống văn hóa; đa dạng hóa các hình thức thông tin phổ biến, tuyêntruyền văn hóa

Trang 25

+ Đảm bảo thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào DTTS đúng địnhhướng của Đảng, Nhà nước; đảm bảo tính thời sự, tính chính xác, phong phú, đadạng, hấp dẫn, khách quan chân thật Tập trung thông tin về các nội dung chủ đềsau:

Thứ nhất, thông tin về quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhànước, cấp ủy, chính quyền các cấp về đời sống văn hóa của đồng bào DTTS.Thứ hai, thông tin, phản ánh về các hoạt động văn hóa, những giá trị vănhóa truyền thống của các DTTS thông qua các nội dung như: Lễ hội, phong tụctập quán, trang phục truyền thống, các điệu dân ca, dân vũ…

Thứ ba, cổ vũ, biểu dương các gương điển hình tiên tiến, các mô hình hay,cách làm sáng tạo, hiệu quả về bảo tồn và phát huy bản sắc, giá trị văn hóa củaDTTS; về lao động, sản xuất; về phòng tránh thiên tai;… để khuyến khích, kíchthích năng lực sáng tạo, năng lực tự bảo vệ của bà con trong bối cảnh và điềukiện hiện tại để phát huy những giá trị tốt đẹp, xây dựng có cuộc sống ngày mộttốt hơn

Thứ tư, phản ánh các nguy cơ mai một giá trị văn hóa của đồng bào DTTS;ngăn chặn các hành vì xâm hại đến đời sống cũng như văn hóa

+ Đảm bảo thông tin về ĐSVH của đồng bào DTTS đúng tôn chỉ, mục đíchcủa cơ quan báo chí; thông tin về ĐSVH các DTTS được thực hiện đúng quytrình, kế hoạch, hài hòa với các nội dung thông tin khác trên báo in, tạo thànhchỉnh thể tờ báo thống nhất

+ Ngoài ra, báo chí cần tham gia giám sát, phản biện, giúp Nhà nước hoànthiện các cơ chế, chính sách trong việc bảo tồn và phát huy

1.2.2 Hình thức thông tin

- Ngôn ngữ, văn phong sử dụng trong các tác phẩm báo chí về ĐSVH củaDTTS phải đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp nhận, phù hợp với mọi lứa tuổi, mọi đốitượng, tầng lớp, dân tộc trong xã hội

- Thông điệp ngắn gọn

- Truyền hình với thế mạnh là hình ảnh và âm thanh với chất liệu sinhđộng, tươi mới, tạo cho người xem cảm giác như đang tiếp xúc trực tiếp với

Trang 26

người trong cuộc Các hình ảnh liên kết với nhau theo tuyến tính thời gian.Trong truyền hình, hình ảnh là nội dung, là hành động bao hàm nhưng nguyênnhân của cách xây dựng khuôn hình, thay thế từ hình này bằng hình khác Vìvậy, khi thông tin một vấn đề nào đó liên quan đến ĐSVH chỉ cần thông quahình ảnh, người xem đã hiểu vấn đề gần như đầy đủ chỉ cần thêm một chút tiếngđộng hay lời bình là có thể hiểu được vấn đề đó.

Một là, đầu đề của tác phẩm phải đơn giản, dễ hiểu đối với bà con, ngắngọn, hàm súc, nêu bật nội dung, chủ đề của vấn đề ĐSVH cần thông tin Thường

sẽ là vấn đề, và địa điểm nơi tồn tại vấn đề (trả lời cho câu hỏi: Cái gì? Ở đâu?)Hai là, yêu cầu về lời dẫn của biên tập viên trong trường hợp quay hoặccủa phóng viên ngoài hiện trường Lời dẫn trường quay thường là dẫn đầu vàdẫn kết, dẫn đầu để giới thiệu khái quát nội dung ban đầu cho người xem dễ theodõi và dẫn kết là kết luận những nội dung đã triển khai trong tác phẩm truyềnhình

Ba là, lời bình sử dụng trong tác phẩm phải dễ hiểu, đơn giản, phù hợp vớiloại hình báo truyền hình, nghĩa là ngắn gọn, biểu cảm, làm nổi bật ý nghĩa củahình ảnh; dễ hiểu đối với bà con, tránh sử dụng những ngôn từ phức tạp màkhông có giải thích hoặc có hàm ý phân biệt vùng miền, dân tộc như bản địa,ngu dốt…

Bốn là, hình ảnh, âm thanh trong tác phẩm phải phù hợp với lời bình, bổtrợ cho nhau giúp truyền tải thông tin đến bà con dễ dàng, dễ hiểu

1.2.3 Các phương thức thông tin về ĐSVH của đồng bào DTTS trên truyền hình

Có 2 phương thức thông tin chính mà các đài truyền hình thường áp dụngvào sản xuất chương trình:

Phương thức trực tiếp: thông tin nhanh, thường áp dụng với các sự kiệnlớn, quan trọng, có tính thời sự cao

Phương thức không trực tiếp: sản xuất trước phát sau, là cách làm phổ biếnđối với các chương trình truyền hình không đòi hỏi sự cấp bách về tính thời sự Cần viết dài thêm

Trang 27

1.3 Vai trò của truyền hình địa phương trong việc thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số

Bàn về vai trò của truyền hình với văn hóa, đã có nhiều công trình nghiêncứu, nhiều hội thảo, bài báo khoa học…

Trong bài tham luận tại Hội thảo “VH truyền thông trong thời kỳ hội nhập”(Hà Nội ngày 22/2/2012); nhà báo Phan Quang khẳng định: “VH có từ khi hìnhthành xã hội loài người Báo chí mới ra đời bốn, năm trăm lại đây Nó lớn mạnhnhanh, cống hiến nhiều cho phát triển, nghiễm nhiên trở thành một bộ phận cấuthành VH, đồng thời là phương tiện thực thi, quảng bá VH…”

PGS.TS Nguyễn Văn Dững thì cho rằng: “Các giá trị VH có thể được giaolưu, truyền tải qua nhiều kênh khác nhau như trường học, các tổ chức trong thểchế xã hội, trong cộng đồng Nhưng trong xã hội hiện đại, các giá trị VH giaolưu và truyền tải qua báo chí – truyền thông là con đường và phương thức nhanhnhất, hiệu quả nhất Bởi vì, do những đặc trưng vốn có của mình, báo chí vàtruyền thông đại chúng là những kênh có sức tác động nhanh chóng và kịp thờinhất; tác động đến đông đảo người nhất; trên phạm vi rộng lớn nhất; với cácphương thức, phương tiện đa dạng và phong phú nhất; ảnh hưởng thường xuyên

và liên tục nhất” [6,tr 193]

Tập trung nói rõ hơn về vai trò của truyền hình địa phương Ví dụ:

- Đài truyền hình địa phương có khả năng phản ánh sâu sắc về các vấn đềvăn hóa xã hội của địa phương, nhất là những thông tin về đời sống vănhóa của đồng bào dân tộc thiểu số (điều mà đài trung ương không làmđược)

- Đài truyền hình địa phương có khả năng phản ánh nhanh chóng, kịp thờinhững thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số

- Ngôn ngữ thể hiện tác phẩm, chương trình về đời sống văn hóa sát thực,gần gũi với ngôn ngữ của đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số…

- Đài truyền hình địa phương có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn,phát huy các giá trị văn hóa trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểusố

Trang 28

xã hội, an ninh quốc phòng.

Truyền hình mặc dù là một loại hình báo chí, bên cạnh những điểm chungcủa báo chí, còn có những đặc tính riêng biệt của truyền hình Truyền hình với

tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thôngtin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác Với truyền hình,

sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó đang diễn ra, người xem có thể quansát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình và cầu truyền hình

Truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24h trong ngày, mang đếncho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhậtnhững tin tức mới nhất Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loạihình báo chí khác

Trong xã hội hiện nay nhờ các thiết bị kĩ thuật hiện đại truyền hình nên cóthể truyền trực tiếp cả hình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùngmột sự kiện, sự việc Chính vì thế, có ý kiến khái quát về thế mạnh của các loạihình báo chí rằng: “khi sự kiện diễn ra phát thanh báo tin, truyền hình trình bày

và báo tin giảng giải nó” Do vậy truyền hình trở thành một phương tiện cungcấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi, nhận thức củacon người trước sự kiện

Đối với lĩnh vực thông tin về ĐSVH của đồng bào DTTS ở tỉnh Hà Giang,trong những năm qua cùng với sự vào cuộc của các cấp ủy, chính quyền và cáccấp lãnh đạo đã bám sát ĐSVH của tỉnh, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên

Trang 29

truyền, quảng bá, giới thiệu về đề tài ĐSVH DTTS, góp phần quan trọng vàoviệc nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân; là động lực để thúc đẩy

sự phát triển của xã hội Cùng với việc thông tin kịp thời các tin tức, sự kiện,truyền hình còn phản ánh chân thực, có chiều sâu nét đẹp văn hóa trong cácphong tục, tập quán, các lễ hội truyền thống của đồng bào DTTS ở tỉnh

Thông qua việc tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, truyền hình đã làm chobạn bè quốc tế thấy được những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc trong giaolưu, hội nhập về văn hóa với các quốc gia, dân tộc trên thế giới Nhiều bài báo,phóng sự truyền hình đã giới thiệu, phổ biến những mô hình xã hội hóa hoạtđộng tốt, những cơ quan, tổ chức và cá nhân tích cực trong hoạt động xã hộihóa Do vậy, ngày càng có nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân ở trong nước cũngnhư ngoài nước muốn đến trải nghiệm những lễ hội, phong tục của các dân tộc ởtỉnh Hà Giang

Ngoài tuyên truyền, quảng bá hình ảnh văn hóa thì truyền hình còn có vaitrò phê phán những hủ tục lạc hậu Một số hủ tục lạc hậu để lại quá lâu dài, “tụccướp vợ”, “thách cưới”, … đã được phản ánh rõ nét, chân thực, giúp người dânnhận thức rõ hơn về những bất cập, nguy hại do tục lệ này để lại

Thông qua truyền hình biết được những giá trị văn hóa của từng dân tộcnhư: Lễ hội Lồng tồng, lễ hội Gầu Tào, lễ hội Cầu Trăng, lễ hội Cấp Sắc, Lễ hộiChợ tình Khâu Vai…; tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thểdục thể thao quần chúng trong vùng đồng bào dân tộc; phát huy vai trò củangười làm kinh tế giỏi để tuyên truyền vận động, giáo dục con em học tập nếpsống văn minh, tiến bộ

* Nội dung thông tin về ĐSVH của các DTTS đều có những phương thức biểu hiện cụ thể, riêng biệt:

+ Thứ nhất, ĐSVH biểu hiện ở phong tục tập quán

Phong tục tập quán chính là toàn bộ thói quen mà những thói quen đóthuộc về đời sống của con người, các thói quen này được hình thành từ lâu đời

Trang 30

và được công nhận bởi một cộng đồng, quần thể và họ đều coi đó giống như mộtnếp sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tùy theo mỗi địa phương

và tín ngưỡng khác nhau, phong tục tập quán ở mỗi một cộng đồng, quần thểcũng đều sẽ có những sự khác biệt với nhau

Phong tục là một bộ phận của văn hoá, đóng vai trò trong việc hình thànhnên truyền thống của một địa phương cụ thể hay một quốc gia nói chung, củamột dân tộc nhằm mục đích đích để điều chỉnh hành vi xử sự của các chủ thể lànhững cá nhân trong các quan hệ xã hội về tài sản và về nhân thân của các chủthể đó. 

Những biểu hiện cụ thể của phong tục tập quán gồm các luật tục, hệ thốngtín ngưỡng dân gian, hệ thống tôn giáo bản địa, lễ hội tộc người, cách ứng xử…

+ Thứ hai, ĐSVH biểu hiện qua trang phục truyền thống

Trang phục truyền thống là quần áo và trang phục truyền thống củamột dân tộc Nó thể hiện bản sắc, nét đẹp riêng, độc đáo của mỗi tộc người

+ Thứ ba, ĐSVH biểu hiện qua ẩm thực

Mỗi DTTS đều có những món ăn truyền thống riêng, mang đậm sắc tháicủa dân tộc mình Người H’Mông có món mèn mén, người Tày nổi tiếng vớithắng cố, người Thái được biết đến nhiều qua các món nướng như: cá, gà, thịtlợn…

Thông qua những sản phẩm ẩm thực đó mà người ta biết đến ĐSVH tinhthần cũng như điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên của vùng đất ấy

+ Thứ tư, ĐSVH biểu hiện qua tiếng nói, chữ viết

Tiếng nói, chữ viết là hồn cốt của mỗi tộc người. Tiếng nói, chữ viết củacác dân tộc phản ánh phong tục, tập quán và mọi mặt đời sống văn hóa, xã hội,tâm linh giúp chúng ta hiểu thêm về một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Nó là phương tiện giao tiếp, giao lưu, ghi lại lịch sử quá trình hình thành, pháttriển của dân tộc đó từ đời trước sang đời sau

+ Thứ năm, ĐSVH biểu hiện ở văn hóa – nghệ thuật trình diễn

Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận”

Trang 31

Văn hóa – nghệ thuật trình diễn chính là hình thức nghệ thuật sử dụng cơthể, tiếng nói, âm thanh, nhạc cụ, những điệu dân ca trong đời sống hàng ngàycủa những người DTTS Mỗi dân tộc đều có những nét đặc sắc riêng trong sinhhoạt văn hóa – nghệ thuật trình diễn Nội dung là những lời ca, tiếng hát, truyện

kể, sự tích… đều có nguồn gốc từ chính cuộc sống của đồng bào DTTS

+ Thứ sáu, ĐSVH biểu hiện ở văn hóa xây dựng

Xây dựng nhà là sáng tạo văn hóa vật chất quan trọng của cộng đồng, liênquan chặt chẽ đến chất lượng sống, không gian sinh tồn, sinh hoạt văn hóa củađồng bào Bên cạnh yếu tố môi trường thì quan niệm sống, phong tục tập quáncủa đồng bào là những yếu tố chi phối, quyết định hình thành nên nét riêng, độcđáo trong văn hóa xây dựng của đồng bào DTTS Vieejc bố trí, sắp xếp vị tríngôi nhà, đồ đạc trong đó cũng mang đậm nét đời sống, văn hóa, quan niệm củamỗi dân tộc

1.4 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin về đời sống, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trên truyền hình

1.4.1 Tiêu chí về nội dung

Tiêu chí đánh giá tác phẩm báo chí chất lượng cao, được các cơ quan quản

lý nhà nước nghiên cứu quy định cụ thể, đó là: “Những tác phẩm mang lại hiệu quả thiết thực cho toàn xã hội hoặc một vùng miền, địa phương; có nhiều tìm tòi, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày; có nội dung phù hợp, hấp dẫn người đọc, người nghe, người xem; phù hợp với quan điểm chỉ đạo, tuyên truyền, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước” [28].

Trong cuốn Báo chí truyền thông hiện đại, tác giả Nguyễn Văn Dững đưa

ra tiêu chí về chất lượng nội dung thông tin một tác phẩm báo chí hay, hấp dẫncông chúng “sự kiện được phản ánh trong tác phẩm nóng hỏi, bức xúc, liên quanđến nhiều người và được dư luận xã hội quan tâm, cần được thông tin cần đượcgiải thích và giải đáp ngay [8, tr.19] Có thể đưa ra những tiêu chí cơ bản về chấtlượng nội dung thông tin về ĐSVH của đồng bào DTTS trên truyền hình nhưsau:

Trang 32

- Thông tin có tính thời sự, nhanh chóng, cập nhật: Bản chất để làm nên cácchương trình truyền hình đó là tính nhanh nhạy của thông tin Giá trị của thôngtin nằm ở chỗ thông tin đó có mới hay không Trong xu thế cạnh tranh thông tinnhư hiện nay, ngoài phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử thì các trangmạng xã hội (Facebook, Tiktok…) cũng có khả năng cập nhật thông tin rấtnhanh Nếu không phát huy được lợi thế của mình, đài sẽ mất đi công chúng.Chủ đề, sự kiện, vấn đề phải phong phú, đa dạng: Cho một chương trìnhtruyền hình truyền thông về ĐSVH nếu chỉ đề cập đến một vấn đề, hoặc mộtnhóm vấn đề sẽ dẫn đến sự nhàm chán Chính vì vậy, thông tin trên chương trìnhtruyền hình phải đảm bảo cân đối giữa nội dung thông tin văn hóa, đời sống địaphương.

- Thông tin quan trọng phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu: Đặc thù của truyềnhình đó là hiện một lần, vì vậy nếu không kịp theo dõi từ đầu người xem rất khó

có thể hình dung được nội dung của thông tin Nếu quá dài, không chỉ làm đốitượng khó tiếp nhận, khó nắm bắt nội dung mà còn chiếm thời lượng củachương trình khác

- Thông tin phải thiết thực, bổ ích với công chúng: Đây là một yếu tố rấtquan trọng Nếu như trước đây thông tin trong chương trình truyền hình cơ bản

là một chiều, thì ngày nay thông tin của báo chí là đa chiều Nếu thông tin đưalại không có nội dung hoặc nội dung không hấp dẫn, gần gũi, thiết thực thì sẽdẫn đến sự nhàm chán

1.4.2 Tiêu chí về hình thức

- Một là, ngôn ngữ phải rõ ràng mang tính đại chúng: ngôn ngữ trong tác

phẩm hay đầu đề của tác phẩm phải đơn giản, ngắn gọn, nêu bật nội dung, chủ

đề về ĐSVH của đồng bào DTTS

- Hai là, hình ảnh rõ nét, bố cục hợp lý, mang ý nghĩa: hình ảnh luôn phảiphù hợp với lời bình và bổ trợ lẫn nhau trong quá trình truyền tải thông tin đếncông chúng Hình ảnh luôn được xem là yếu tố đầu tiên về loại hình để phân biệtvới báo in và báo phát thanh Hình ảnh trong tác phẩm còn là phương tiện để tácgiả biểu thị ý đồ, tư tưởng, do vậy cần bao hàm một ý nghĩa, một nội dung nào

Trang 33

đó hoặc là nguyên nhân, diễn biến, hoặc là kết quả của quá trình phát triển sựkiện trong cuộc sống.

- Ba là, âm nhạc; tiếng động hiện trường sử dụng hợp lý, nổi bật thông tin:tiếng động trong tác phẩm làm tăng tính chân thưc, do vậy cần phải sử dụngđúng cường độ, đúng lúc, tránh sử dụng tiếng động quá to sẽ át lời bình gây khóchịu cho công chúng, làm giảm hiệu quả của tiếng động Âm nhạc có tác dụnglàm tôn them hình ảnh và sự kiện, chỉ sử dụng lúc cần thiết Âm nhạc khi sửdụng phải phù hợp với kết cấu, ý đồ cũng như chủ để tư tưởng cua tác phẩmtruyền hình, phải phù hợp với nội dung, hình ảnh trong tác phẩm truyền hình

- Bốn là, yêu cầu về lời dẫn của biên tập viên trong trường quay hoặcphóng viên ngoài hiện trường Lời dẫn trường quay thường là dẫn đầu và dẫnkết Dẫn đầu để giới thiệu khái quát nội dung ban đầu cho người xem dễ theodõi và dẫn kết là kết luận những nội dung đã triển khai trong các tác phẩmtruyền hình hoặc đặt ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết

- Đối với các sự kiện lớn, cần có kế hoạch tổ chức bài bản, tăng cường quảng bá để người dân biết và chủ động đón xem khi sự kiện diễn ra

- Kết hợp truyền thông bằng nhiều loại hình để người dân tiếp nhận sự kiện đời sống văn hóa bằng nhiều cách khác nhau: truyền hình, phát thanh, qua báo điện tử, mạng xã hội… (học tập cách mà VTV sử dụng app VTVgo…)

……

Đặc điểm của đồng bào DTTS ở Hà Giang là mặt bằng dân trí thấp, điềukiện và khả năng tiếp cận thông tin khó khăn, trở ngại về ngôn ngữ… nên khi

Trang 34

sản xuất các chương trình truyền hình luôn phải quan tâm đến lợi ích và tínhthiết thực Nghĩa là nội dung các chương trình phải góp phần nâng cao nhậnthức, giúp ích trong sản xuất, đời sống, trong việc xóa đói, giảm nghèo cho đồngbào dân tộc

Muốn vậy, thông tin phải nhanh nhạy, vấn đề thông tin phản ánh sự kiện,vấn đề, thông tin bổ ích “đúng, nhanh và hấp dẫn”

Đúng: Công tác tuyên truyền đúng theo quan điểm, đường lối, chủ trươngchính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọngcủa công chúng Thông tin phải chính xác và khách quan, mang lại lợi ich chungcho cộng đồng và xã hội

Nhanh: Đáp ứng nhu cầu thông tin một cách nhanh nhạy, kịp thời, tuân thủtính định hướng và đạo đức báo chí cách mạng Việt Nam

Hấp dẫn: Mọi thông tin trong chương trình phải có chất lượng tốt, tận dungmọi ưu thế của truyền hình

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả luận văn đã nêu ra những quan niệm đáng chú ý vềthông tin, ĐSVH, đồng bào DTTS, truyền hình; nêu bật vai trò và ưu thế củatruyền hình trong thông tin về ĐSVH của đồng bào DTTS, xác định nội dung vàphương thức thông tin, tuyên truyền về ĐSVH trên sóng truyền hình đồng thờilàm rõ các yêu cầu đối với hoạt động này

Thông tin về ĐSVH của đồng bào DTTS trên sóng truyền hình phải đượcnghiên cứu vị trí, tâm lý tiếp nhận sản phẩm thông tin, tuyên truyền của côngchúng, thông tin, tuyên truyền về ĐSVH phải mang tính toàn diện, nghiên cứunhu cầu công chúng trước để có kế hoạch thông tin, tuyên truyền với từng nhómđối tượng, thời điểm và nội dung phù hợp nhằm đạt kết quả tốt

Trên cơ sở kết quả đã đạt được của chương 1, chương 2 của luận văn sẽ đi sâu khảo sát thực trạng thông tin về ĐSVH của đồng bào DTTS tỉnh Hà Giang trongcác chương trình thời sự, chuyên đề, văn nghệ giải trí trên sóng truyền hình, Đài

PT – TH tỉnh Hà Giang

Trang 35

(Vì chương 1 đang chưa nói được nhiều nên tiểu kết cũng chưa nói được nhiều)

Chương 2 THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PT – TH HÀ GIANG HIỆN NAY

2.1 Khái quát về Đài PT – TH Hà Giang và các chương trình khảo sát

Năm 1991, cùng với sự chia tách tỉnh Hà Tuyên, tái lập tỉnh Hà Giang,Đài PT – TH tỉnh Hà Giang được chia tách từ Đài PT – TH Hà Tuyên Đài phátsóng kênh riêng (logo HTV giờ thành HGTV) từ ngày 2/9/2013 với thời lượng

18 tiếng/ngày và nhiều chương trình phong phú mang đậm bản sắc văn hóa dântộc của một tỉnh vùng cao biên giới, được phủ sóng toàn quốc, trong đó thờilượng tự sản xuất trên 5 tiếng/ ngày Trụ sở cơ quan đóng trên địa bàn tổ 7,

Trang 36

phường Trần Phú, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang; phía Bắc giáp đườngTrần Hưng Đạo; phía Nam giáp Viện KSND tỉnh; phía Đông giáp đường LâmĐồng; phía Tây giáp đường Nguyễn Thái Học Tổng diện tích cơ quan là 2.080

m2

- Cơ cấu tổ chức bộ máy

Hiện nay, cơ cấu tổ chức bộ máy của Đài PT-TH Hà Giang gồm BanGiám đốc và 8 phòng chuyên môn nghiệp vụ; 3 đơn vị trực thuộc, cụ thể nhưsau:

- Phòng Thông tin điện tử

* Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc

- Trung tâm phát sóng PT-TH Núi Cấm;

- Trung tâm tiếp sóng PT-TH Cổng Trời Quản Bạ;

- Trung tâm sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc

Trang 37

Biên chế

Hiện nay, Đài PT-TH Hà Giang có 101 viên chức và 20 hợp đồng laođộng

Đảng bộ Đài có 10 chi bộ với 87 đảng viên Ban Chấp hành Đảng bộ có

08 đồng chí Công đoàn có 121 đoàn viên Chi đoàn có 28 đoàn viên

2.1.2 Chương trình Thời sự

Đối với Đài PT – TH Hà Giang, chương trình thời sự được coi là xươngsống của Đài Hiện Đài phát sóng 4 chương trình thời sự mỗi ngày vào cáckhung giờ: 6h05, 11h40, 16h55, 20h Trong đó, chương trình Thời sự 20h làchương trình quan trọng nhất trong ngày, được khán giả quan tâm nhất Đài PT– TH Hà Giang hiện đang duy trì 02 chương trình thời sự truyền hình chính mỗingày

Chương trình thời sự sáng có thời lượng 25 phút – phát sóng lúc 6h05 hàngngày

Chương trình thời sự trưa có thời lượng 15 phút – phát sóng lúc 11h40hàng ngày

Tiếp tục là chương trình thời sự chiều với thời lượng 15 phút – phát sónglúc 16h55

Cuối cùng là chương trình thời sự tối – chương trình quan trọng nhất cóthời lượng 25 – 30 phút mỗi ngày – phát sóng 20h00

Thời lượng chương trình thời sự của Đài duy trì từ 15 – 25 phút/chươngtrình, tùy vào sự kiện quan trọng của tỉnh có thể kéo dài hơn Chương trình thời

sự tối là chương trình quan trọng nhất trong ngày, được chú trọng trong khâu

Trang 38

sản xuất, các tin, phóng sự ngắn trong chương trình này được chọn lọc nhất và làchương trình thu hút khán giả nhiều hơn cả Nội dung chương trình tập trungphản ánh những vấn đề thời sự về tất cả các lĩnh vực chính trị - kinh tế - văn hóa– xã hội của tỉnh.

Đặc biệt đây còn là kênh thông tin quan trọng để tuyên truyền, phổ biếnchủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung và chính sách của Đảng,Nhà nước về ĐSVH của đồng bào DTTS nói riêng Bên cạnh đó, các tin tức thời

sự, phóng sự phản ảnh nhanh nhạy đã được cập nhật được đầy đủ các thông tin

về ĐSVH các DTTS tại Hà Giang Từ những tấm gương điển hình, mô hình hay

về xây dựng văn hóa DTTS ở cơ sở mà có thể nhân rộng các gương điển hình,

mô hình hay ra toàn tỉnh; Hay những hủ tục lạc hậu cũng được thông tin tớicông chúng khán giả để công chúng nhận thức được những hủ tục văn hóatruyền thống nào cần phải thay đổi như: bắt vợ, tảo hôn, kết hôn cận huyết… Tất

cả được thể hiện rõ nét, sinh động trong chương trình thời sự tối của Đài PT –

TH Hà Giang

Về hình thức, các chương trình Thời sự của Đài PT – TH Hà Giang đềuđược xây dựng theo hình thức một người dẫn chương trình, các tin, bài được sắpxếp theo thứ tự chính trị quan trọng, sau đó đến các tin bài về kinh tế - văn hóa

xã hội, thể thao…

Về thể loại sử dụng trong chương trình Thời sự chủ yếu là các dạng tin:ngắn, văn, sâu… và phóng sự ngắn có thời lượng từ 3-4 phút Trung bình mỗibản tin thời sự tối có thời lượng 25 phút thường có 9 - 10 tin, 3-4 phóng sự ngắn

và phản ánh Các vấn đề xoay quanh các sự kiện trên địa bàn toàn tỉnh diễn ratrong ngày và tập trung đưa thông tin những sự kiến, vấn đề nóng hổi, và tiêubiểu được đông đảo công chúng quan tâm

2.1.3 Chương trình Xây dựng Nông thôn mới

Chương trình Xây dựng Nông thôn mới được ra đời ngay sau khi Chươngtrình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới do Phòng Chuyên đề thựchiện, phát sóng 21h thứ 5 thuộc tuần thứ 2 hàng tháng

Trang 39

Chuyên đề đề cập đến những vấn đề về xây dựng nông thôn mới, nhữngphóng sự dài, không chỉ nêu lên thực trạng mà còn tập trung phân tích nhữngthuận lợi, khó khăn trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnhđặc biệt là vùng có đồng bào DTTS Bên cạnh đó còn nêu lên những điển hình,tấm gương tiêu biểu trong đời sống dân sinh, hoạt động sản xuất, thúc đẩy quátrình xây dựng nông thôn mới ở các vùng cao, khó khăn của tỉnh.

Với thời lượng 15 phút, chương trình phản ánh những chuyển động tại tỉnhtrong quá trình xây dựng nông thôn mới Đó là những câu chuyện về sự thay đổicuộc sống, đặc biệt là những bất cập, khó khăn trong đời sống của người dân ởtỉnh Hà Giang nói chung và người đồng bào DTTS nói riêng Đây là tiêu chí đểphóng viên, biên tập viên thực hiện chương trình Xây dựng nông thôn mới lựachọn đề tài thực hiện Với những vấn đề phức tạp, các phóng viên, biên tập viênthực hiện chương trình luôn nỗ lực cố gắng thực hiện đảm bảo xây dựng đượcnội dung chương trình chất lượng nhất Hơn nữa, các vấn đề đều được thể hiệnmột cách sinh động thông qua từng vụ việc cụ thể mà phóng viên đã bỏ nhiềucông sức để tiếp cận khai thác thông tin Từ đó, thực trạng vấn đề được khẳngđịnh một cách thuyết phục, nhiều câu hỏi đặt ra để khắc phục giai quyết nhữngbất cập, tạo sức ép dư luận lớn

Về hình thức: Chương trình Xây dựng Nông thôn mới được thể hiện dướidạng chương trình chuyên đề, chủ yếu là các phóng sự ngắn Chương trình được

mở đầu bằng hình hiệu quen thuộc, thời lượng khoảng 5 – 10 giây Tiếp theo đó

là một clip hoặc phóng sự ngắn nêu vấn đề hoặc câu chuyện mà chương trìnhmuốn hướng tới Sau đó lần lượt là các phóng sự và các đoạn phỏng vấn đượcphát kế tiếp nhau Cuối chương trình là hình hiệu, bảng chữ người thực hiện đểchào kết chương trình

2.1.4 Chương trình Văn nghệ giải trí

Chương trình Sắc màu văn hóa truyền hình với hình thức phóng sự, chươngtrình ca nhạc dân tộc, thời lượng 30 phút, phát sóng đều đặn vào tối thứ 3 hàngtuần Nội dung chương trình Sắc màu văn hóa bao gồm: giới thiệu nét đẹp củacác vùng đất, lễ hội, phong tục truyền thống, chân dung nhân vật nổi bật, tiếng

Trang 40

hát … Khung giờ phát sóng của Chương trình Sắc màu văn hóa là 21h10 tối thứ

3 hàng tuần, thời lượng chương trình là 30 phút nhưng có số phát sóng chỉ thựchiện được phóng sự 25 – 30 phút; có số lại vượt quá 30 phút do nội dung củamột phóng sự Nội dung trong một chương trình truyền hình Sắc màu văn hóakhông có khung định hướng rõ ràng nào cho từng tuần mà phụ thuộc định hướngtuyên truyền tùy từng thời điểm Ví dụ, tháng 4, tháng 5 với nội dung ngày Giảiphóng miền Nam 30/4 và kỉ niệm Quốc tế lao động 1/5 thì sẽ có nhiều chươngtrình ca nhạc, gặp gỡ, giao lưu với các cựu chiến binh Còn tháng 10 gắn với nộidung chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam thì sẽ có nhiều chương trình ca nhạc,phóng sự tôn vinh những tấm gương có nội dung về đồng bào DTTS…

Một điều thuận lợi khi thực hiện các phóng sự Sắc màu văn hóa là nguồn

đề tài vô cùng phong phú bởi Hà Giang là nơi chung sống của gần 20 dân tộc,mỗi dân tộc lại có những đặc trưng văn hóa rất riêng; phần lớn còn được bảo lưunguyên vẹn và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Hơn thế nữa, có nhiềunghệ nhân, nhiều người vẫn giữ được nét truyền thống, bản sắc văn hóa vốn córiêng của dân tộc họ Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó là không ít khókhăn khi hiện nay đồng bào DTTS đang dần bị ảnh hưởng, tác động của quátrình thương mại hóa và các thế lực thù địch bên ngoài Đi đến từng địa điểmsinh sống có những đồng bào rất vui vẻ, nhiệt tình giúp đỡ nhưng lại có nhữngnơi họ dở đủ trò gây khó khăn như: hỗ trợ kinh phí, cố tình không hiểu tiếngKinh… Đặc thù của các phóng sự Sắc màu văn hóa thường phải lên kịch bản chitiết, có nhân vật, có bối cảnh nên đòi hỏi sự phối kết hợp cao; nếu không có sựnhiệt tình giúp đỡ của bà con thì khó có thể có những phóng sự như mong muốn.Các trang thiết bị kỹ thuật và điều kiện tác nghiệp còn hạn chế, thiếu thốn dođiều kiện của một tỉnh miền núi cũng khó khăn

2.2 Khảo sát thực trạng thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số

2.2.1 Nội dung thông tin

2.2.1.1 Chủ đề về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số

Ngày đăng: 21/04/2023, 21:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số lượng tin, bài phóng sự về ĐSVH của đồng bào DTTS trên sóng truyền hình trong chương trình Thời sự của Đài PT - TH Hà Giang (8/2021 - 8/2022) - Thông tin về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong chương trình truyền hình của đài pt – th hà giang
Bảng 2.1 Số lượng tin, bài phóng sự về ĐSVH của đồng bào DTTS trên sóng truyền hình trong chương trình Thời sự của Đài PT - TH Hà Giang (8/2021 - 8/2022) (Trang 41)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w