1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề : Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long thời nhà Nguyễn

256 422 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long - Hà Nội thời Nhà Nguyễn
Tác giả PGS-TS Nguyễn Văn Nhật, TS Hà Mạnh Khoa, PGS-TS Tống Trung Tớn
Trường học Viện Sử Học
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2008 - 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 256
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài của thăng long hà nội phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long thời nhà Nguyễn

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC XÃ HỘI CẤP NHÀ NƯỚC KX.09

"Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

và giá trị lịch sử - văn hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,

phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô"

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long - Hà Nội 2

thời Nguyễn (Báo cáo khoa học tổng hợp của Nhánh)

PGS-TS Nguyễn Văn Nhật, Viện Sử học

2 Chuyên đề 1: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong 33

lĩnh vực xây dựng Thành Hà Nội thời Nguyễn

PGS-TS Tống Trung Tín, Viện Khảo cổ học

3 Chuyên đề 2: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong 59

lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Thăng Long thời Nguyễn

PGS-TS Tống Trung Tín, Viện Khảo cổ học

4 Chuyên đề 3: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong 91

lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn

TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học

5 Chuyên đề 4: Những đặc trưng của giáo dục, văn hoá, xây dựng nếp 104

sống xã hội trong thời nhà Nguyễn

TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học

6 Chuyên đề 5: Các tác phẩm có giá trị trong thời nhà Nguyễn 128

TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học

7 Chuyên đề 6: Thực trạng trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà 160

Nội thời Nguyễn

TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học

8 Chuyên đề 7: Những khoa thi trong thời nhà Nguyễn 175

TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học

9 Chuyên đề 8: Những giá trị truyền thống và bài học về sử dụng nhân 202

tài của Thăng Long trong thời nhà Nguyễn

TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học

10 Chuyên đề 9: Những nhân tài nổi bật ở Thăng Long thời nhà Nguyễn 215

TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học

Trang 3

Bỏo cỏo tổng hợp Nhỏnh 5

PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI

Ở THĂNG LONG - HÀ NỘI THỜI NGUYỄN

Thời Nguyễn kéo dài 143 năm (1802-1945) Nhưng trên thực tế triều đại nhà Nguyễn chỉ tự chủ và kiểm soát được đất nước trong 80 năm đầu của thế kỷ XIX (1802-1883) với 4 đời vua là Gia Long (1802-1820), Minh Mạng (1820-1841), Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883) Trong khoảng thời gian đó, nhà Nguyễn đã đề ra hàng loạt các chính sách về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội…và trên thực tế các chính sách đó đã để lại những dấu ấn lịch sử không bao giờ phai mờ trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, bang giao quốc tế…

Sau khi chiếm được Bắc Thành, Gia Long không định đô ở Thăng Long mà quyết định chọn Phú Xuân làm kinh đô của cả nước Thế là kể từ năm 1010 khi Lý Thái Tổ rời Hoa Lư chọn Thăng Long làm kinh đô của Đại Việt kộo dài gần 800 năm, đến đây (1802) Thăng Long không còn là kinh đô mà trở thành lỵ sở của trấn Bắc thành và đến năm 1831 dưới đời vua Minh Mạng trở thành tỉnh Hà Nội

Nhưng cho dù :

“Thiên nhiên cự thất thành quan đạo

Nhất phiến tân thành một cố cung”

(Bà Huyện Thanh Quan)

Mặc dù không còn là kinh đô, nhưng mảnh đất thiêng này “Do thị Thăng

Long cựu đế kinh” (Vẫn là Thăng Long chốn Đế kinh xưa) và mãi mãi:

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn vẫn là một trung tâm lớn, góp phần không nhỏ đưa đất nước tiến lên trên con đường phát triển về kinh tế - văn hoá xã hội

I Vài nét về Thăng Long- Hà Nội thời Nguyễn

Tuy vẫn giữ lại tổ chức Bắc Thành, nhưng Gia Long rút lại chỉ còn 5 nội trấn

là Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương và 6 ngoại trấn

Trang 4

Tháng 8 năm Nhâm Tuất (1802), tại phủ Phụng Thiên, nơi đóng lỵ sở của Bắc Thành, Gia Long cho đặt một An phủ sứ và một Tuyên phủ sứ thống trị hai huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức Trong đó An phủ sứ là võ quan, hàm Tòng Tứ phẩm, Tuyên phủ sứ là văn quan cũng hàm Tòng Tứ phẩm Như vậy, mặc dù Gia Long bỏ chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên đặt từ thời Lê, nhưng vẫn đặt viên quan đứng đầu ở phủ này có phẩm hàm ngang gần với quan đứng đầu các trấn (Các tri phủ đứng đầu các phủ trong trấn chỉ có hàm Chánh lục phẩm) và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc

ngang với trấn tức trực thuộc trung ương Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), tiến

hành một đợt cải cỏch hành chớnh lớn, bỏ Bắc Thành (gồm 11 trấn và 1 phủ trực

thuộc) ở miền Bắc, chia thành 15 tỉnh trực thuộc trung ương Tỉnh Hà Nội gồm phủ

Hoài Đức, phủ Ứng Hoà, Thường Tớn, Lý Nhõn

- Phủ Hoài Đức gồm 3 huyện: Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liờm

- Phủ Thường Tớn gồm 3 huyện: Thượng Phỳc, Thanh Trỡ, Phỳ Xuyờn

- Phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện: Sơn Minh (nay là Ứng Hũa), Hoài An (nay là phớa nam Ứng Hũa và một phần Mỹ Đức), Chương Đức (nay là Chương Mỹ), Thanh Oai

- Phủ Lý Nhõn gồm 5 huyện: Nam Xang (nay là Lý Nhõn), Kim Bảng, Duy Tiờn, Thanh Liờm, Bỡnh Lục

Đến thời điểm này, Hà Nội có 102 tổng và 1.037 phường, xã, thôn, trại, sở (Thiếu số liệu của huyện Nam Xang, nay là Lý Nhân) Tờn gọi Hà Nội bắt đầu cú từ bấy giờ (1831) Đến năm 1888, thực dân Pháp đổi hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận làm huyện Hoàn Long và đổi tên tỉnh Hà Nội là Hà Đông Năm 1890 lại tách phủ Lý Nhân đặt làm tỉnh Hà Nam

Vào thời điểm này, Thọ Xương và Vĩnh Thuận là vùng đất cơ bản của kinh thành Thăng Long xưa Huyện Thọ Xương có 8 tổng, 194 phường, thôn, trại Huyện Vĩnh Thuận có 5 tổng, 56 phường, thôn, trại Tổng cộng phủ Hoài Đức, tức kinh thành Thăng Long cũ, gồm 13 tổng, 239 phường, thôn, trại và nay tương ứng với các quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, và một phần phía Đông của quận Ba Đình,

Đống Đa và vùng ven Hồ Tây của Thủ đô Hà Nội Trong thành có rất nhiều người Hoa sinh sống và buôn bán Hà Nội là một địa phương có số người Hoa đông nhất Bắc kỳ

II Kinh tế

1 Sản xuất nông nghiệp Trong thời Nguyễn, Việt Nam vẫn là một nước

nông nghiệp Nông nghiệp là nguồn sống chủ yếu của hơn 90% cư dân và là nguồn thu nhập chính của Nhà nước và hệ thống quan lại của nó Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn là một đô thị lớn bậc nhất của cả nước nhưng vẫn mang một kết cấu

Trang 5

kinh tế xã hội kết hợp nông - công - thương Bên cạnh các phường, thôn làm nghề

thủ công, buôn bán vẫn có những phường, thôn đậm chất nông nghiệp và có thể kết hợp buôn bán và làm nghề thủ công Tuy đã phát triển trở thành một trung tâm thư-

ơng nghiệp, thủ công nghiệp… lớn nhất cả nước trong thời kỳ này, “nhân dân đều

có nghề chuyên, nhiều nhất là nghề làm ruộng” 1 Vì vậy sản xuất nông nghiệp vẫn

là nguồn kinh tế quan trọng của Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn và có những tiến

bộ hơn các thời kỳ trước do đã áp dụng được những tiến bộ về quản lý đất đai và kỹ thuật

Với mong muốn sớm ổn định và phát triển sản xuất nông nghiệp, ngay từ những năm đầu tiên, Gia Long đã lệnh cho quan lại địa phương khuyến khích, nông dân cày cấy ruộng đất Từ đó về sau, nhà Nguyễn đã đề ra và thực hiện nhiều chính sách, biện pháp để phát triển sản xuất nông nghiệp Trong đó có một biện pháp cực

kỳ quan trọng đó là tiến hành lập sổ địa bạ

Theo “Đại Nam nhất thống chí”, vào đầu thời Nguyễn, Hà Nội có 393.066

mẫu ruộng và đến năm 1897 thì số ruộng đất thống kê được là 275.380 mẫu, số đinh

là 60.257 người1 Riêng hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận theo thống kê địa bạ lập dưới thời Nguyễn (địa bạ chủ yếu được làm vào năm Gia Long thứ 4 (1805), không kể những loại đất không tính thuế như mộ địa, đê, đường, thành luỹ…) tình hình ruộng đất như sau 2:

- Huyện Thọ Xương có tổng diện tích là 1.947 mẫu 4 sào 3 thước 4 tấc (1417,3 ha) Đến năm Đồng Khánh là 1.904 mẫu Trong tổng số ruộng đất thống kê thì tư điền có hơn 202 mẫu (10,39%); công điền thổ có hơn 500 mẫu (25,72%); các loại khác hơn 1.244 mẫu (63,89%) Trong diện tích tư điền phân bố cho 146 chủ sở hữu Bình quân mỗi chủ sở hữu là hơn 1 mẫu 3 sào 12 thước… Trong 146 chủ sở hữu đó thì chủ có từ 20 đến 50 mẫu chỉ có 1; từ 10 đến 20 mẫu là 1; từ 5 đến 10 mẫu là 6; từ 3 đến 5 mẫu là 4; từ 1 đến 3 mẫu là 42 và dưới 1 mẫu là 92

- Huyện Vĩnh Thuận có tổng diện tích là 3.931 mẫu 6 sào 9 tấc (1417,3 ha) Trong tổng số ruộng đất thống kê thì tư điền có hơn 272 mẫu (6,94%); công

điền thổ có hơn 1943 mẫu (49,44%); các loại khác hơn 1.943 mẫu (43,62%) Trong diện tích tư điền phân bố cho 179 chủ sở hữu Bình quân mỗi chủ sở hữu là hơn 1 mẫu 4 sào 10 thước… Trong 179 chủ sở hữu đó thì chủ có từ 10 đến 20 mẫu là 1; từ

5 đến 10 mẫu là 5; từ 3 đến 5 mẫu là 13; từ 1 đến 3 mẫu là 73 và dưới 1 mẫu là 87 Qua đó ta thấy bình quân chủ sở hữu ở đây rất thấp, trong khi đó ở Hà Đông là hơn 3 mẫu 5 sào Do đó cách sử dụng đất để sản xuất của người dân Thăng Long-Hà

1 Đại Nam nhất thống chí Nxb KHXH, H 1971, T III, tr 164

Trang 6

Nội không chỉ trồng cây lương thực mà còn trồng nhiều loại cây khác có giá trị kinh

tế cao

Huyện Vĩnh Thuận tuy là một huyện của đô thị cổ Hà Nội, nhưng kinh tế nông nghiệp vẫn giữ một vị trí quan trọng Nhiều phường trại của tổng Nội, tổng Trung, tổng Hạ, tổng Thượng đều là những vùng nông nghiệp trồng lúa kết hợp với trồng hoa màu, cây ăn quả, trồng hoa và làm vườn Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Yên Phụ, Quảng Bá, Nghi Tàm, Võng Thị là những làng hoa nổi tiếng từ lâu đời của Hà Nội Phường Nghi Tàm nổi tiếng với nghề trồng quất; phường Thịnh Quang nổi tiếng với nghề trồng nhãn

Thời tiết, khí hậu Thăng Long - Hà Nội về cơ bản rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Nhưng lụt và hạn hán là những tai hoạ tự nhiên luôn gắn liền với sản xuất nông nghiệp Từ năm 1803 đến 1883, riêng vùng Hà Nội đã xảy ra gần 30 lần

bị vỡ đê, bão lớn, ngập lụt

Vì vậy trong thời Nguyễn, nhà nước đã bỏ nhiều công sức cho việc đắp đê phòng lụt Số lượng đê được đắp của Thăng Long - Hà Nội vào thời Nguyễn (chủ yếu ở 2 sông Nhị và sông Hát) như sau: huyện Vĩnh Thuận đắp 945 trượng; huyện Thọ Xương đắp 270 trượng…1

Bên cạnh việc đắp thêm đê mới, sữa chữa đê cũ, việc khai thông các dòng

n-ước, mở cống thoát nước… đều được làm thường xuyên Theo thống kê của năm

1829, riêng ở Bắc Thành “tổng hợp số đê cũ và đê nhà nước đắp từ thời Gia Long

năm thứ 2 (1803) đến nay ở 742 xã, thôn, phường, trang, trại cả thảy dài gần 240.000 trượng Cống ngầm công ở đê gồm 40 cửa… Đê các sông con giao cho dân kết nhận là hơn 174.000 trượng; cống 17 cửa”1

Nhìn chung, thời Nguyễn, sản xuất nông nghiệp, vẫn bảo lưu những mô hình

và kinh nghiệm của các thời kỳ trước, song bên cạnh đó đã xuất hiện những phương thức sản xuất mới và bắt đầu ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật của phương Tây Và trong sản xuất nông nghiệp, người Thăng Long - Hà Nội, ngoài trồng cây lương thực cổ truyền đã xuất hiện những vùng chuyên trồng những loại cây ăn quả, các loại hoa theo hướng chuyên canh

Ngoài nghề nông là chủ yếu, đến thời kỳ này kinh tế công thương nghiệp của Thăng Long - Hà Nội không được bằng như các thời kỳ trước Các phường, thôn chuyên nông nghiệp và kết hợp nghề thủ công chủ yếu tập trung ở phía Tây và Nam Khu vực buôn bán dồn về phía Đông và mở rộng phía Đông Nam gần bờ sông Hồng

Trang 7

2 Thủ công nghiệp Từ những thế kỷ XVII, XVIII, thủ công nghiệp đã có ở

kinh thành Thăng Long và tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XIX

- Nghề đúc đồng

Sang thế kỷ XIX, nghề đúc đồng vẫn tiếp tục phát triển trong các lò đúc ở Thăng Long - Hà Nội Trong những năm đầu của triều đại Gia Long, ngoài việc đúc các đồ dùng bằng đồng, còn có cả việc nhà nước giao cho việc đúc tiền nữa Theo

đó, Nhà nước “sai những thợ đúc tiền mua sắm đồng riêng, dựng lò để đúc, y theo kiểu mẫu đồng tiền mới mà đúc, mỗi lò thu thuế 1 vạn quan Đây là hình thức Nhà nước gia công cho các thợ đúc tự do, quy chế khá rộng rãi so với những điều lệ về

đúc tiền trong thời gian sau này

- Nghề vàng bạc

Theo những điều kiện hiểu biết của chúng ta cho đến ngày nay, có lẽ cơ sở làm nghề vàng bạc sớm nhất của kinh thành Thăng Long là làng Định Công (thuộc Thanh Trì, Hà Nội) Nghề vàng bạc ở Thăng Long - Hà Nội đã đạt đến trình độ kỹ thuật khá tinh vi Người ta phân chia thành 3 khâu kỹ thuật khác nhau: nghề chạm (chạm trổ hàng vàng bạc), nghề đậu (kéo vàng bạc thành sợi nhỏ để trang trí) và nghề trơn (chế tác đồ vàng bạc không chạm trổ) Đối tượng phục vụ của các thợ kim hoàn chủ yếu là các tầng lớp quan lại

- Nghề gốm Bát Tràng

Từ sử dụng lò ếch, đến giữa thế kỷ XIX, ở Bát Tràng xuất hiện kiểu lò mới là

lò đàn Nhiệt độ lò đàn có thể đạt được từ 1250oC đến 1300oC Đầu thế kỷ XX

người Bát Tràng lại chuyển sang xây dựng loại lò bầu (hay lò rồng) Đây có thể nói

là một trong những khâu đột biến về ứng dụng và phát triển kỹ thuật của nghề gốm Bát Tràng

- Nghề làm giấy

Làm giấy là một ngành thủ công nghiệp lớn của Thăng Long - Hà Nội Đây

là một làng chuyên nghiệp thủ công khá điển hình của Hà Nội Vào những năm 30 của thế kỷ XX người ta đã ước lượng ở Bưởi có khoảng 2000 thợ sống về nghề làm giấy Một tài liệu khác ước tính làng Bưởi có tới vài trăm vạc, cối và lò làm giấy, tương đương với số hộ thủ công sinh sống bằng nghề này

Trang 8

Trong khi hầu hết các nghề thủ công cổ truyền ở Thăng Long - Hà Nội đều có một lịch sử lâu đời, thì nghề khảm xà cừ ở Hà Nội lại là một nghề tương đối mới, xuất hiện cách đây chỉ khoảng chừng 150 năm về trước Nghề khảm xà cừ ở phố Hàng Khay xuất hiện tương đối muộn, rất ít khả năng trước thế kỷ XIX, có thể là vào khoảng gần giữa thế kỷ này, khi Thăng Long đổi tên thành Hà Nội

Tuy ra đời tương đối muộn, nghề khảm xà cừ ở phố Hàng Khay đã phát triển nhanh chóng trong nửa sau của thế kỷ XIX, đưa nghề thủ công này lên tới địa vị của một nghề thủ công chủ yếu của Hà Nội cũ, với một kỹ thuật và một nghệ thuật tinh xảo hiếm có

trung

Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khi giáo sĩ Bissachère đến Thăng Long và các tỉnh Bắc Kỳ, thì kỹ thuật của các nghề dệt ở đây có thể đã đạt tới mức cực thịnh

của nó Viên giáo sĩ này kết luận: “Ngành nghề mà người ta đã thành công hơn cả

là nghề dệt vải lụa … Những vải bông ở Bắc kỳ hơn hẳn những vải bông ở Nam Kỳ, rất mịn và đẹp đến nỗi người ta thích hơn cả những đồ tơ lụa, và người ta đã mua

nó với giá đắt hơn … Nghề dệt vải, tơ lụa dệt tại Trung Quốc Những tấm sa tanh (lĩnh) của Bắc Kỳ … thật là đẹp, chắc bền …”

Cho đến cuối thế kỷ XIX, mặc dù Hà Nội không còn là kinh đô của cả nước, nhưng vẫn rất nổi tiếng trong nghề dệt vải lụa

Ngoài những nghề thủ công kể trên, ở Thăng Long - Hà Nội còn có một số nghề thủ công khác như nghề làm vàng mã, nghề làm lược, nghề làm đồ thiếc, nghề làm hương, nghề nấu rượu, nghề làm bún, nghề nấu kẹo mạch nha, nghề làm bánh kẹo…

Và ngoài ra còn có “xưởng” đúc tiền Ngay sau khi diệt nhà Tây Sơn và lên ngôi vua, năm 1803, Gia Long đã khẩn trương cho mở một cục đúc tiền ở Bắc Thành (Bắc Thành tiền cục) Sự thành lập mau chóng của một xưởng đúc tiền tại Thăng Long và việc sớm cho lưu hành một loại tiền mới, nhằm mục đích tiêu diệt tận gốc ảnh hưởng của nhà Tây Sơn và khẳng định quyền uy của Triều đại mới, nhất

là đối với dân chúng Bắc Hà Một Tràng đúc tiền được xây dựng trên một khu đất

Trang 9

rộng, ngày nay tương đương với một ô đất giáp các phố Tràng Tiền (Bắc), Phạm Sư Mạnh (Nam), Phan Chu Trinh (Đông) và Ngô Quyền (Tây) Nó gồm có những lò

đúc tiền và kho tạm chứa

Dưới triều Thiệu Trị, Cục Bảo tuyền đổi tên thành Cục Thông bảo Hà Nội

Đến 1887, thực dân Pháp đã huỷ bỏ Tràng Tiền, lấy đất chia cho bọn tư bản xây nhà

và mở cửa hiệu Hoạt động của Tràng Tiền kéo dài trong gần suốt cả thế kỷ XIX Tóm lại, các ngành nghề thủ công cổ truyền của Thăng Long - Hà Nội là rất phong phú và khá tinh xảo, đúng như câu ngạn ngữ xưa “Khéo tay hay nghề, đất lề

Kẻ Chợ” Nó sản xuất ra những mặt hàng để thoả mãn gần như hầu hết các nhu cầu sinh hoạt thường ngày và xa xỉ cho mọi tầng lớp xã hội của thành phố Ngoài ra, một số mặt hàng sản xuất hàng loạt đã được trao đổi với các thị trường xa Tuy nhiên dù số lượng và loại hàng các sản phẩm thủ công này có nhiều đến đâu chăng nữa, thì trong nhiều thế kỷ, nó vẫn không thoát được quy mô và cách thức của một nghề thủ công nghiệp cơ bản mang tính chất gia đình trong một nền sản xuất hàng hoá nhỏ

3 Công trình xây dựng tiêu biểu

- Thành Hà Nội Năm Gia Long thứ 4 (1805), Gia Long cho phá thành cũ (do

nhà Lê xây đắp) và xây lại thành mới Thành có hình gần vuông, có chu vi 1295 trượng (khoảng 5km) Tường thành cao 1 trượng 3 thước 2 tấc (khoảng trên 4 m), dầy 4 trượng (khoảng 16m) Chân thành được xây bằng đá xanh, phía trên bằng gạch, có 5 cửa: Bắc, Đông, Tây, Đông Nam và Tây Nam Xung quang thành có hào nước rộng khoảng 4 trượng (khoảng 16m)

Bên trong thành, chính giữa có điện Kính Thiên Điện này chỉ mở khi Vua ngự giá Bắc tuần hoặc tiếp sứ thần phương Bắc Phía trước điện có cửa Đoan Môn Hai bên Đông, Tây là công đường, dinh thự, kho tàng và doanh trại Trước mặt Đoan Môn là Kỳ Đài tức Cột Cờ ngày nay Toàn bộ Cột Cờ cao 33,4m (cả trụ treo cờ là trên 41m)

Thành Hà Nội đời Nguyễn được ca ngợi “Đây là một kiệt tác của nền kiến

trúc An Nam”

Năm 1848, Tự Đức cho tháo dỡ hầu hết những cung điện trong thành, chuyển tất cả các đồ quý giá về Huế Đến năm 1895, thực dân Pháp phá hủy thành

- Đền Ngọc Sơn Đây là một quần thể kiến trúc được xây dựng vào các năm

1841-1842 dưới thời Thiệu Trị Vào năm 1864-1965, Nguyễn Văn Siêu đứng ra sửa lại đền và tạo dựng thêm một số công trình văn hóa như làm cầu từ đền vào bờ và

đặt tên là cầu Thê Húc Trên núi Độc Tôn, ông cho xây một ngọn tháp bằng đá xanh, hình giống cây bút lông nên gọi là Tháp bút và thân tháp viết 3 chữ lớn “tả thanh thiên”

Trang 10

- Văn Miếu Hà Nội cũng được tu bổ Năm 1802, Gia Long cho xây Khuê

Văn các, đổi nhà Thái học làm điện Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử

- Trường học đến đầu nhà Nguyễn chuyển về khu vực phố Trường Thi (địa

điểm Thư viện Quốc gia) Đến năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), xây gạch xung quanh trường Trường có chu vi 182 trượng 1 thước (728m), bên trong có 21 tòa, đường, sảnh, viện

Ngoài ra thời kỳ này còn có rất nhiều các công trình kiến trúc khác do các tổ chức quyên góp và cá nhân tự xây dựng, góp phần tạo nên bộ mặt Hà Nội “phố phường dọc ngang như bàn cờ, lòng đường lát gạch, nhà ngói như bát úp, nhà cửa san sát, cư dân đông đúc, nhân vật phồn thịnh”

công trình xây dựng đều mang đậm phong cách thời Nguyễn, được xây dựng bằng 4 loại vật liệu chính: đá xanh, gạch vồ, gạch chỉ và đá ong Việc sử dụng từng loại vật liệu được kết hợp vào từng vị trí thích hợp Vật liệu kết dính có sự tham gia của vôi vữa, gạch vụn và đất sét Hình dáng, kỹ thuật xây dựng thành hoàn toàn mới, nhưng vật liệu và kỹ thuật vẫn là truyền thống Việt Nam

III Văn hóa

1 Về tư tưởng Để đề cao Nho giáo trong việc học hành, triều Nguyễn cho

lập Văn Miếu ngay tại Kinh đô Huế ở hầu khắp các tỉnh trong nước đều có Văn Miếu, thậm chí tại các phường xã cũng có các Văn Chỉ để tôn vinh đạo Nho Chưa bao giờ trong lịch sử, Nho giáo lại có ảnh hưởng rộng lớn và sâu sắc như vậy đối với xã hội Việt Nam

2 Nhà Nguyễn luôn thể hiện thái độ trân trọng, tự hào đối với nền văn hoá

dân tộc Các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều đề cao văn hoá dân

tộc Chính vua Thiệu Trị đã từng tuyên bố: “văn vật nước ta không kém gì Trung

Quốc”

Dưới thời Nguyễn, các di tích, di vật đều được quản lý rất tốt, rất nhiều di tích

được dựng lại hoặc được sửa sang tu bổ thêm Mạng lưới các đình làng, nơi sinh hoạt cộng đồng văn hoá làng xã đều được dựng lại hoặc tu bổ thêm dưới triều Nguyễn Đặc biệt, tất cả các đền miếu trong nước đều được ban sắc, phong thần để xác định sự chứng thực của nhà nước Năm 1809, Gia Long ban sắc thần cho các làng xã để thờ làm thành hoàng Cơ chế, chính sách của nhà Nguyễn đối với di sản văn hoá đã được khái quát hoá khá đầy đủ trong bộ luật Gia Long và các chỉ dụ của các vua nhà Nguyễn kế tiếp, thể hiện sự nối tiếp truyền thống tôn trọng, giữ gìn, bảo

vệ, tôn tạo và phát triển các di sản văn hoá dân tộc trong thời kỳ phong kiến Theo

Trang 11

thống kê trong thời Nguyễn, trên đất Thăng Long - Hà Nội hiện nay vào thời kỳ đó các di sản văn hoá là lăng mộ, đền miếu, chùa quán… được tôn tạo tu bổ và xây dựng mới rất nhiều Nó không chỉ phong phú về số lượng, quy mô, có giá trị về văn hoá, lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật… mà còn các dấu ấn thể hiện sự kế tiếp truyền thống của các thời đại trong việc bảo tồn các di sản văn hoá Trong đó tiêu biểu là:

Đền thờ Lý Ông Trọng; đền Đồng Cổ; đền Bạch Mã; đền Cao Sơn; đền Ngọc Sơn;

đền Hai Bà Trưng; đền thờ Chu Văn An; Văn Miếu, Hoàng thành…, Chùa Một cột; chùa Trấn quốc; chùa Quán sứ; chùa Kim Liên; chùa Láng…và các danh thắng cổ tích như: Núi Nùng; sông Tô Lịch; sông Kim Ngưu; hồ Hoàn Kiếm; hồ Bảy Mẫu;

hồ Trúc Bạch; thành Cổ Loa; thành Đại La; đàn Nam Giao; bến Chương

Dư-ơng…Và dưới thời Nguyễn hàng loạt các công trình văn hoá được xây dựng thêm và

đến nay đã trở thành những di sản văn hoá nổi tiếng có giá trị không chỉ đối với Hà Nội và cả nước mà cả thế giới đều biết đến

3 Xây dựng những cơ quan hoạt động khoa học năng động và đạt hiệu quả cao

Quốc Sử Quán: Quốc sử quán là cơ quan do triều đình thành lập để chuyên

biên soạn Quốc sử Hàng chục công trình lớn như: Đại Nam Thực Lục, Đại Nam Nhất Thống Chí… đã được Quốc sử quán biên soạn công phu với tính học thuật cao

Về mặt thể loại, các bộ sách do Quốc sử quán biên soạn bao gồm cả sách biên niên

sử, thực lục, hội điển, toát yếu, gia phả Quốc sử quán là một cơ quan chuyên trách nhưng lại rất đa năng trong hoạt động Căn cứ vào kết quả hoạt động của cơ quan

này, có người đã đánh giá rằng, Quốc sử quán là một viện Hàn Lâm về khoa học xã

hội và nhân văn của Việt Nam trong thế kỷ XIX

Thái Y viện: Thái Y viện được thành lập từ năm 1802, năm 1804 được bổ

sung thêm để hoàn thiện về tổ chức Thái Y viện là cơ quan chuyên chăm sóc sức khoẻ cho vua và Hoàng gia nhưng dưới thời Nguyễn, cơ quan này đã có vai trò rất quan trọng trong việc kế thừa và phát triển nền y học truyền thống của dân tộc

Khâm Thiên giám: là cơ quan chuyên về lịch pháp và thiên văn của triều

Nguyễn, được thành lập từ đầu thời Gia Long (1802 – 1820), hoạt động chủ yếu của Khâm Thiên giám là xem các hiện tượng tự nhiên để báo điềm lành dữ, chọn ngày tốt xấu, dự báo về thời tiết, thuỷ văn và đặc biệt là làm lịch

Việc làm lịch ở nước ta, trước năm 1810 đều được soạn ra trên cơ sở lịch của Trung Quốc Từ sau năm 1810, triều Nguyễn đã giao cho Khâm Thiên giám nghiên cứu sách Đại Thanh Lịch Tương Khảo Thành do Nguyễn Hữu Thận đi sứ Trung Quốc đem về để biên soạn bộ lịch mới phù hợp hơn Đặc biệt, bộ lịch này có tham chiếu cả lịch phương Tây nên rất chính xác

Trang 12

Hàng năm, sau khi biên soạn và in ấn lịch của năm tới xong, triều Nguyễn đều

tổ chức lễ ban lịch mới (ban Sóc) rất long trọng tại Ngọ Môn (ngày 1 tháng 12) sau

đó lịch sẽ được phát hành cho toàn quốc, từ các cơ quan công sở trung ương đến tận các địa phương Hoạt động của Khâm Thiên Giám có ý nghĩa rất thiết thực đối với ngành nông nghiệp của nước ta, nhất là về mặt đảm bảo thời vụ, dự báo khí hậu thuỷ văn…

4 Về văn học Đây là một trong những thời kỳ phát triển rực rỡ của nền văn

học Việt Nam Văn học thời Nguyễn bao gồm cả hai dòng văn học: văn học dân gian và văn học cung đình đều phát triển rực rỡ

+ Văn học cung đình: xuất hiện hàng loạt tác gia với những tác phẩm phong phú, trong đó nổi bật trong các tác giả của Hoàng gia là Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự

Đức, Miên Thẩm, Miên Trinh, Mai An, Huệ Phổ, Miên Thanh, Miên Định, Miên Bửu…; trong hàng ngũ quan lại thì có các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Văn Siêu, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Phan Thanh Giản, Đoàn Hữu Trưng

+ Văn học dân gian: cũng đặc biệt phát triển với đầy đủ các thể loại thơ, ca,

hò vè, tục ngữ, phương ngữ…Các lễ hội dân gian truyền thống được duy trì và khuyến khích phát triển

Bên cạnh dòng văn học chữ Hán hết sức phát triển, văn học chữ Nôm thời Nguyễn cũng hết sức thịnh đạt Thế kỷ XIX, văn học chữ Nôm Việt Nam được vinh danh với các tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, thơ của Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát… Thời kỳ này Thăng Long - Hà Nội xuất hiện nhiều tác gia nổi tiếng Tiêu biểu nhất là “Thần Siêu, Thánh Quát” (tức Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát)

Nhà Nguyễn rất chú trọng việc in ấn xuất bản sách Có thể nói số lượng sách

được xuất bản trong thời Nguyễn có số lượng nhiều gấp nhiều lần so với các thời kỳ trước Các sách đó là một nguồn tài liệu vô cùng quý giá trên nhiều lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, khoa học đến đời sống xã hội…mà không ít các tác phẩm do người Thăng Long - Hà Nội là tác giả và được in ấn tại nơi này Trong số lượng đồ

sộ các tác phẩm, tác giả được in ấn và phổ biến của thời Nguyễn có thể đơn cử một

số sách tiêu biểu như sau:

Trang 13

3 Thương sơn thi tập Gồm 10 tập (56 quyển), do Nguyễn Miên Thẩm (1819-

7 Tốn Am thi sao Gồm 4 quyển, do Bùi Văn Dị (1832- ?) soạn, in năm 1894

8 Hoàng Việt thi tuyển Khắc in năm Minh Mạng thứ 6 (1825) Tác giả: Bùi

Huy Bích (1744- 1818), quê ở làng Định Công, huyện Thanh Trì, Hà Nội

9 Hoàng Việt văn tuyển Khắc in năm Minh Mạng thứ 6 (1825) Sách khổ

25x15, Tác giả: Bùi Huy Bích (1744- 1818), quê ở làng Định Công, huyện Thanh Trì, Hà Nội

10 Danh thi hợp tuyển Do Trần Công Hiên ( ?- 1817) và Trần Huy Phát

(1754-1834) biên soạn Sách in năm Gia Long thứ 13 (1814), do nhà in Hải Học

đường in Bộ sách gồm 12 quyển, có 1.669 bài luật thi

11 Cấn Trai thi tập Do Trịnh Hoài Đức (1765- 1825) soạn, in năm 1819

Đây là toàn tập thơ của Trịnh Hoài Đức, có 3 tập

12 Kim Vân Kiều truyện (thường gọi là truyện Kiều) Do Nguyễn Du (1766-

1820) soạn, là một tác phẩm văn học nổi tiếng nhất trong thời Nguyễn

13 Ngọa du sào tập Do Nguyễn Thông (1827-1894) soạn, sách in năm

1882 Tất cả gồm 106 bài thơ, chia làm 3 quyển

Văn hoá dân gian

1 Nam quốc phương ngôn tục ngữ bí lục Một quyển, không rõ tác giả, in

năm 1914 Sách tập hợp nhiều thành ngữ Việt Nam, gồm 25 mục và một số câu đối Nôm

2 Tang thương ngẫu lục Gồm 2 quyển, 90 thiên, do Phạm Đình Hổ và

Nguyễn án soạn, in năm 1896

Sách Lịch sử

1 Khâm Định Tiễu bình lưỡng kỳ nghịch phỉ chính biên: 153 quyển Cơ mật

viện, Binh bộ, Nội các toản tập, sách in năm Minh Mạng thứ 17 (1836)

2 Đại nam thực lục chính biên: 3 quyển Không ghi tên tác giả, sách in ván

gỗ, giấy Vũ Di Trung Quốc (25ì14)

3 (Khâm Định) Việt sử thông giám cương mục, 53 quyển Sử quán triều Nguyễn soạn Sách in bản gỗ năm 1884, Việt sử thông giám cương mục là bộ sử

Trang 14

biên niên lớn của nước ta Phần Tiền biên chép từ đời Hùng Vương (năm 2879

TCN) đến hết năm Kiền Đức, Tống Thái tổ (967); Phần Chính biên chép từ năm Mậu Thìn, Đinh Tiên Hoàng năm thứ nhất (968) đến năm Kỷ Dậu Lê Mẫn đế năm Chiêu Thống thứ ba (1789)

4 Việt sử cương giám khảo lược, 7 quyển Nguyễn Thông (1827-1894) soạn

đời Tự Đức, sách in ván gỗ năm 1877, giấy Trung Quốc

5 Việt Sử tổng luận (còn có tên là Đại Việt lịch đại tổng luận) Do các quan ở

Viện Tập hiền (thời Nguyễn) biên soạn, in năm Nhâm Tý (1912)

6 Việt sử thặng bình, 1 quyển Nguyễn Đức Đạt soạn, người làng Trung

Cần, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, sinh năm 1823 Sách in đời Tự Đức (Tân

Tị - 1881)

7 Đại Nam Quốc sử diễn ca Do Lê Ngô Cát (1827-1875) soạn Sách được in

vào năm 1873

Sách Luật pháp, Hành chính

1 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, 262 quyển Nội các triều Nguyễn biên

soạn Bộ Hội điển này làm theo chỉ dụ của nhà vua các năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Thiệu Trị thứ 6 (1846), Tự Đức thứ 3 (1850), đến năm Tự Đức thứ 4 (1851) thì làm xong Sách biên chép tất cả các dụ chỉ, sắc lệnh, chiếu chỉ… đã đem thi hành, kể từ

năm 1802 đến năm 1851

2 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (tục biên) Gồm 60 quyển và quyển

mục lục, in năm Khải Định thứ 2 (1917)

3 Hoàng Việt luật lệ, 22 quyển, do Đinh thần triều Nguyễn Gia Long là Tiền

quân Bắc thành Tổng trấn Nguyễn Văn Thành (1757-1817) làm Tổng tài và Vũ Trinh (1769-1828), Trần Hựu soạn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua Gia Long Sách

in bản đầu tiên năm 1812 ở Trung Quốc, giấy Vũ Di (khổ 31ì20), và in lần thứ hai vào đời vua Minh Mạng

4 Ngự chế văn tập Do Minh Mạng soạn, gồm 2 tập, là những đạo dụ do

Minh Mạng soạn thảo và ban ra từ khi lên ngôi (1820) đến khi qua đời (1840) In xong tháng Sáu năm 1841

Sách Giáo dục

1 Hương thí văn tuyển: Nhiều tác giả không ghi tên, sách in ván gỗ năm

1855, giấy bản thờng ( khổ 25ì15), khắc in rõ ràng

2 Khải đồng thuyết ước, 2 quyển (thượng, hạ) Phạm Vọng (thế kỉ XIX)

soạn, người làng Kinh Đô, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, Ngô Thế Vinh nhuận sắc, sách in ván gỗ năm 1881

3 Việt sử tân ước toàn biên, 2 quyển, Hoàng Đạo Thành soạn, người làng

Kim Lũ, huyện Thanh Trì, sách in năm 1906

Trang 15

4 Trung học Việt sử toát yếu, 4 quyển Do Ngô Giáp Đậu, Phạm Văn Thụ

duyệt đính Sách được in năm 1911 tại Hà Nội

5 Quốc triều chính biên Do Quốc sử quán nhà Nguyễn biên soạn bằng chữ

Hán, năm Khải Định thứ 9 (1925) Nội dung cuốn sách chép các việc từ khi Nguyễn

ánh mới ra đời (1761) cho hết đời vua Đồng Khánh (1888), gồm 6 cuốn

6 Quốc triều sử toát yếu, 7 quyển, Tu thư cục (thuộc Quốc sử quán) triều

Duy Tân soạn Sách này là một bộ sử tóm tắt của triều Nguyễn, từ đầu các chúa Nguyễn đến hết đời Đồng Khánh, in năm đầu niên hiệu Thành Thái (1889)

7 Quốc triều khoa bảng lục, 5 quyển, Cao Xuân Dục, tự Tử Phát, hiệu Long

Cương soạn Sách in ván gỗ năm 1894

8 Quốc triều hương khoa lục, 8 quyển (kể cả quyển thủ và hai quyển tục

biên) Cao Xuân Dục soạn

9 Ước Trai văn tập Gồm 2 quyển, do Bùi Xuân Nghi soạn, in năm 1898

3 Nghệ An ký Tác giả: Bùi Dương Lịch (1758-1827) Sách được xuất bản

vào khoảng đời Tự Đức (1848-1883)

4 Hoàng Việt địa dư chí Do Phan Huy Chú (1782-1840) soạn Gồm 2

quyển, in năm Minh Mạng thứ 14 (1833)

5 Thanh Hoá kỷ thắng, 1 quyển, Vương Duy Trinh soạn, in năm 1904

6 Gia Định thành thông chí Do Trịnh Hoài Đức (1765-1825) soạn trong

khoảng thời gian từ 1805-1808, gồm 6 quyển

3 Tự học cầu tinh ca Một quyển, do Đỗ Huy Uyển soạn, in năm 1880

4 Thiên tự văn giải âm Một quyển, không có tên tác giả, in năm 1890

5 Đại Nam quốc ngữ Một quyển, do Hải Châu tử (Nguyễn Văn San) biên

tập, in năm 1899

6 Tự học giải nghĩa ca Gồm 13 quyển, do Tự Đức soạn, nhưng đến năm

Thành Thái thứ 10 (1898) mới in

Trang 16

7 Nam phương danh vật bị khảo Gồm 2 quyển, do Đặng Xuân Bảng soạn

năm 1901, in năm Nhâm Dần (1902)

Tôn giáo triết học

1 Nam Sơn tùng thoại, 4 quyển Do Nguyễn Đức Đạt soạn, in năm Tự Đức

thứ 33 (1880)

2 Nhân thế tu tri, 8 quyển, do Cao Xuân Dục (1842-1923), biên tập

3 Đạo giáo nguyên lưu, 3 quyển, biên soạn vào khoảng năm Minh Mạng thứ

6 (1825) và in năm 1846 Tác giả là một Cao tăng không rõ họ tên, pháp danh là An Thiên Ông trụ trì ở chùa Đại Giác Bồ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

4 Tiên phả dịch lục, 1 quyển, do Kiều Oánh Mậu (1854-1912) soạn năm

1910

5 Kim Cương phát nguyện khoá hư quốc âm, 1 quyển, do Phúc Điền hoà

th-ượng Sa Môn An Thiền dịch ra quốc âm Gồm nhiều bộ sách gộp lại Sách in từ năm

1840 đến năm 1861

Sách khoa học kỹ thuật

1 Tân thuyên Hải Thượng Y tông tâm lĩnh toàn trật: 66 quyển (nhưng hiện

bản in chỉ còn 55 quyển) Lê Hữu Trác soạn, nhưng năm 1885 mới được in, nên nó

có nhiều tên

IV Giáo dục, khoa cử và trọng dụng nhân tài

1 Giáo dục, khoa cử

- Coi trọng giáo dục

ở Việt Nam, giáo dục và khoa cử ngay từ khi mới ra đời đã được Nhà nước coi

là phương tiện chủ yếu để đào tạo và tuyển dụng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Năm 1802, nhà Nguyễn trị vì đất nước Sau khi lên ngôi,

năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long ra chỉ dụ xác định: “Khoa mục là con đường

bằng phẳng của học trò, thực không thể thiếu được Phải giáo dục thành tài sau thi Hương, thi Hội lần lượt được cử hành thì người hiền tài nối nhau lên giúp việc” 1 Chế độ giáo dục và khoa cử triều Nguyễn đã tạo nên một hệ thống quan lại tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đào tạo và tuyển chọn những người có đủ năng lực và phẩm chất để cống hiến cho dân tộc trước những biến động

và thử thách của thời cuộc

Ngoài trường Quốc Tử Giám, một mạng lưới các trường công được đặt dưới quyền cai quản của bộ Lễ được thiết lập ở khắp các tỉnh trong nước ở các doanh, trấn (sau là tỉnh) đến cấp phủ, huyện đều có chức quan của triều đình coi về việc

1 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, T1, Nxb Giáo Dục, HN 2002, tr 527

Trang 17

học (Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo) Ngoài ra, việc mở các trường tư ở làng xã, rất

được khuyến khích Đây là những nguyên nhân khiến cho việc giáo dục học hành thời Nguyễn rất phát triển Dưới triều Nguyễn có nhiều trường học danh tiếng ở các

địa phương như ở Hà Nội có trường Bái Dương của ông Nghè Ngô Thế Vinh; trường

Hồ Đình của Vũ Tông Phan, bên cạnh hồ Hoàn Kiếm, trường Phương Đình của Nguyễn Văn Siêu…và rất nhiều những thầy dậy học nổi tiếng

- Cách thi cử

Phép thi cử và tuyển chọn có nhiều thay đổi và rất chặt chẽ Năm 1807, vua Gia Long cho mở khoa thi Hương đầu tiên, phép thi phỏng theo phép thi cử đời Lê

Kỳ thi Hương đầu tiên dưới triều Nguyễn được tổ chức vào năm 1807, cả nước

có 6 trường thi đặt ở 6 địa điểm, trong đó trường Kinh Bắc (thi chung cho cả Hà Nội, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng) Đến năm Quý Dậu (1813), trường Thăng Long thi chung cho thí sinh Hà Nội, Kinh Bắc, Sơn Tây, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoài Đức, Hưng Hoá Năm Giáp Ngọ (1834), trường

Hà Nội chỉ dành cho thí sinh thuộc Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn Tây, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hưng Hoá

Từ năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807) đến năm Mậu Ngọ, Khải Định thứ 3 (1918), nhà Nguyễn đã tổ chức 47 kỳ thi Hương lấy đỗ 5.208 người Trong đó Thăng Long - Hà Nội có 450 người đỗ

Nhà Nguyễn lập kinh đô ở Huế Tất cả các kỳ thi Hội đều được tổ chức ở kinh thành Thi Đình quy định thi tại sân rồng trong cung điện nhà vua

Định kỳ và thể thức thi vẫn theo quy định của nhà Lê, nhưng theo lệ “tứ bất”

(bốn không) do Gia Long đặt ra là : Không lập Hoàng hậu; không đặt Tể tướng;

không lấy Trạng nguyên và không phong tước vương cho người ngoài Hoàng tộc

Như vậy, người thi đỗ đầu kỳ thi không được mang danh hiệu Trạng nguyên mà chỉ

có danh hiệu từ Bảng nhãn trở xuống Năm Nhâm Ngọ (1822), vua Minh Mạng tổ chức khoa thi Hội đầu tiên dưới triều Nguyễn

- Kết quả thi cử

Từ năm Nhâm Ngọ (1822), vua Minh Mạng tổ chức khoa thi Hội đầu tiên đến năm Kỷ Mùi, đến năm Khải Định thứ 4 (1919), nhà Nguyễn tổ chức được 39 khoa thi Hội, lấy đỗ được 558 người Trong số 558 người đỗ Đại khoa có: 292 Tiến sĩ (Đệ nhất giáp 11 người: Bảng nhãn 2 người, Thám hoa 9 người; Đệ nhị giáp - Hoàng giáp 54 người; Đệ tam giáp (đồng Tiến sĩ xuất thân) 227 người); Phó bảng 266 ng-

ười

Trong số các sĩ tử Thăng Long- Hà Nội “lều chõng” đi thi tại Huế có 39 người

được vinh dự đạt học vị từ Phó bảng trở lên tại 22 khoa thi (các khoa thi cuối cùng

Trang 18

của triều Nguyễn tổ chức vào các năm 1916, 1919, Hà Nội không có người thi) Đó

là:

1 Hoàng Tế Mỹ, người xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Ông đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), khoa Bính Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826)

2 Vũ Tông Phan (1804 -?), người thôn Tự Tháp, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên, nay thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm Ông đậu Cử nhân khoa ất Dậu Khoa Bính Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826), Vũ Tông Phan

đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân

3 Nguyễn Văn Thắng (1803-1861), người phường Yên Thái, huyện Vĩnh Thuận, nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ Ông đậu Cử nhân khoa ất Dậu (1825) Khoa Bính Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826), Nguyễn Văn Thắng đỗ

Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

4 Phạm Văn Hợp (1705-?), người xã Minh Cảo, nay là thôn Xuân Tảo, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Tý (1828) Khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Mạng thứ 10 (1829), Phạm Văn Hợp đỗ Phó bảng

5 Phạm Gia Chuyên (1791-1862), người xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Ông đỗ Cử nhân khoa Tân Mão (1831) Khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Minh Mạng thứ 13 (1832), Phạm Gia Chuyên đỗ Đệ tam giáp

đồng tiến sĩ xuất thân

6 Nguyễn Văn Lý (1795- ?), người phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, nay thuộc phường Trung Tự, quận Đống Đa Ông đỗ Cử nhân khoa ất Dậu (1825) Khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Minh Mạng thứ 13 (1832), Nguyễn Văn Lý đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

7 Lưu Quỹ (1811-?), người xã Nguyệt áng, nay là thôn Nguyệt áng, xã Đại

áng, huyện Thanh Trì Ông đỗ Cử nhân khoa Tân Mão (1831) Khoa ất Mùi niên hiệu Minh Mạng thứ 16 (1835), Lưu Quỹ đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

8 Nguyễn Văn Tùng (1810-1840), người xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Ông đỗ Giải nguyên khoa Đinh Dậu (1837) Khoa Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (1838), Nguyễn Văn Tùng đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

9 Nguyễn Siêu (Nguyễn Văn Siêu) (1799-1872), người làng Kim Lũ, nay là thôn Kim Lũ (Lủ Trung), xã Đại Kim, huyện Thanh Trì; trú quán phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương nay thuộc phố Ngõ Gạch, phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm Ông đỗ Cử nhân khoa ất Dậu (1825) Khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (1838), Nguyễn Siêu đỗ Phó bảng

Trang 19

10 Ngô Điền (1814-?), người xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, nay là thôn Tả Thanh Oai, xã Thanh Oai, huyện Thanh Trì Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1840) Khoa Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị thứ 1 (1841), Ngô Điền đỗ Hội nguyên

Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)

11 Trần Vĩ (1814-?), người xã Thượng Cát, nay là thôn Thượng Cát, xã ợng Cát, huyện Từ Liêm Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1840) Khoa Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị thứ 1 (1841), Trần Vĩ đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

Thư-12 Vũ Tá An (1816-?), người xã Thổ Khối, nay là thôn Thổ Khối, xã Cự Khối, huyện Gia Lâm Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1840) Khoa Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị thứ 1 (1841), Vũ Tá An đỗ Phó bảng

13 Hoàng Đình Tá (1816-?), người xã Linh Đường, nay là thôn Linh Đàm, xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1840) Khoa Nhâm Dần, niên hiệu Thiệu Trị thứ 2 (1842), Hoàng Đình Tá đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)

14 Vũ Văn Tuấn (1803-1860), người xã Bát Tràng, nay là thôn Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm Ông đỗ Cử nhân khoa Đinh Dậu (1837) Khoa Quý Mão, niên hiệu Thiệu Trị thứ 3 (1843), Vũ Văn Tuấn đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

15 Nguyễn Văn Phú tức Nguyễn Tư Giản (1822-1890), người xã Du Lâm, huyện Đông Ngàn, nay là thôn Du Nội, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh Ông đỗ Cử nhân khoa Quý Mão (1843) Khoa Giáp Thìn, niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 (1844), Nguyễn Văn Phú đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)

16 Nguyễn Hữu Tạo (1809-?), người xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Ông đỗ Cử nhân khoa Tân Sửu (1841) Khoa Giáp Thìn, niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 (1844), Nguyễn Hữu Tạo đỗ Đệ tam giáp đồng tiến

sĩ xuất thân

17 Trịnh Đình Thái (1823-?) tức Trịnh Lý Hanh, người xã Định Công, nay là thôn Định Công, xã Định Công, huyện Thanh Trì Ông đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1846) Khoa Đinh Mùi, niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847), Trịnh Đình Thái đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp)

18 Trịnh Xuân Thưởng (1816-1871), người xã Danh Lâm, huyện Đông Ngàn, nay là thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh Ông đỗ Cử nhân khoa Quý Mão (1843) Khoa Đinh Mùi, niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847), Trịnh Xuân Thưởng đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

Trang 20

19 Trương ý (1819-?), người phường Thịnh Hào, huyện Vĩnh Thuận, nay là phường Hàng Bột, quận Đống Đa Ông đỗ Cử nhân khoa Nhâm Dần (1842) Khoa

Đinh Mùi, niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847), Trương ý đỗ Phó bảng

20 Lê Đình Diên (1824-1883), người làng Hạ Đình (làng Mọc Cựu), xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân Ông đỗ

Cử nhân khoa Mậu Thân (1848) Khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1849), Lê

Đình Diên đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)

21 Hoàng Đình Chuyên (1812-?), người xã Linh Đường, nay là thôn Linh

Đàm, xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Thân (1848) Khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1849), Hoàng Đình Chuyên đỗ Đệ tam giáp

đồng tiến sĩ xuất thân

22 Phạm Quang Mãn (1817-1858), người xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Ông đỗ Cử nhân khoa Quý Mão (1843) Khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1849), Phạm Quang Mãn đỗ Đệ tam giáp

25 Hoàng Xuân Hiệp (1825-?), người phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, nay là phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm Ông đỗ Cử nhân khoa Đinh Mùi (1847) Khoa Tân Hợi, niên hiệu Tự Đức thứ 4 (1851), Hoàng Xuân Hiệp đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, Đệ tam danh (Thám hoa)

26 Trần Huy Tích (1829-?), người phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, nay

là phố Mã Mây, phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tuất (1850) Khoa Cát sĩ năm Tân Hợi, niên hiệu Tự Đức thứ 4 (1851), Trần Huy Tích đỗ khoa Bác học hoành tài, Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

27 Hoàng Tướng Hiệp (1836-1885), người xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Ngọ (1858) Khoa ất Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), HoàngTướng Hiệp đỗ Đệ tam giáp

đồng tiến sĩ xuất thân

28 Nguyễn Tuyên tức là Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902), người xã Kim Lũ, nay là thôn Kim Lũ (làng Lũ Trung), xã Đại Kim, huyện Thanh Trì Ông đỗ Cử

Trang 21

nhân khoa Mậu Ngọ (1858) Khoa ất Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), Nguyễn Tuyên đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

29 Thành Ngọc Uốn (1835-1893), người phường Bạch Mai, huyện Thọ Xương, nay thuộc phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng Ông đỗ Cử nhân khoa ất Mão (1855) Khoa ất Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), Thành Ngọc Uốn đỗ Phó bảng

30 Vũ Nhự (1840-1886), người phường Kim Cổ, huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm Ông đỗ Cử nhân khoa Tân Dậu (1861) Khoa Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868), Vũ Nhự đỗ Đình nguyên, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp)

31 Nguyễn Kham (1844-1886), người xã Du Lâm, huyện Đông Ngàn, nay là thôn Du Nội, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh Ông đỗ Giải nguyên khoa Canh Tý (1860) Khoa Tân Mùi, niên hiệu Tự Đức thứ 24 (1871), Nguyễn Kham đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

32 Đỗ Huy Điển (1836-?), người xã Tây Mỗ, nay là thôn Tây Mỗ, xã Tây

Mỗ, huyện Từ Liêm Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Ngọ (1870) Khoa ất Hợi, niên hiệu Tự Đức thứ 28 (1875), Đỗ Huy Điển đỗ Phó bảng

33 Nguyễn Dự (1844-1884), người xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Dần (1878) Khoa Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879), Nguyễn Dự đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

34 Nguyễn Khuê (1857-?), người làng Hạ Đình (làng Mọc Hạ), xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân Ông đỗ Cử nhân khoa Bính Tuất (1878) Khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Thành Thái thứ 1 (1889), Nguyễn Khuê đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

35 Đặng Tích Trù hay Hữu Trù (1854-?), người xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, nay là thôn Đa Tốn, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm Ông đỗ Cử nhân khoa Giáp Thân (1884) Khoa ất Dậu, niên hiệu Hàm Nghi (1885), thi Hội ông đỗ trúng cách Vào thi Đình chưa kịp yết bảng thì kinh thành thất thủ Đến khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Thành Thái thứ 1 (1889), Đặng Tích Trù lại dự phúc thi và đỗ Phó bảng

36 Nghiêm Xuân Quảng (1869-1941), người xã Tây Mỗ, nay là thôn Tây

Mỗ, xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm Ông đỗ Cử nhân khoa Giáp Ngọ (1894) Khoa ất Mùi, niên hiệu Thành Thái thứ 7 (1895), Nghiêm Xuân Quảng đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

Trang 22

37 Lê Đình Xán (1866-?), người xã Hạ Đình, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1900) Khoa Tân Sửu, niên hiệu Thành Thái thứ 3 (1901), Lê Đình Xán đỗ Phó bảng

38 Nguyễn Sĩ Cốc (1888-1974), người xã Kim Lũ, nay là thôn Kim Lũ (làng

Lũ Trung), xã Đại Kim, huyện Thanh Trì Khoa Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân thứ 4 (1910), Nguyễn Sĩ Cốc đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

39 Hoàng Tăng Bí (1881-1939), người xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Ông đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1906) Khoa Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân thứ 4 (1910), Hoàng Tăng Bí đỗ Phó bảng

Rất nhiều người trong số họ về sau đã trở thành nhà văn hóa, chính trị, ngoại giao… của thời kỳ này và thực sự đã đóng góp lớn lao cho sự phát triển của dân tộc

2 Trọng dụng nhân tài

- Sự nghiệp của các “ông Nghè” Thăng Long - Hà Nội

Phần lớn những người đỗ đạt trong các kỳ thi Hương, thi Hội đều được bổ dụng vào các chức quan trong chính quyền nhà nước Trong số đó giữ chức Thượng thư có:

- Nguyễn Văn Phú (Nguyễn Tư Giản), đỗ khoa Giáp Thìn, niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 (1844), là Thượng thư bộ Lại

- Nguyễn Tuyên (Nguyễn Trọng Hợp), đỗ Tiến sĩ, khoa ất Sửu, niên hiệu Tự

Được cử làm Tế tửu và Tư Nghiệp Quốc tử giám là:

- Phạm Gia Chuyên, đỗ khoa Bính Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 13 (1812),

được cử làm Tư nghiệp

- Nguyễn Văn Phú, (Nguyễn Tư Giản), đỗ khoa Giáp Thìn, niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 (1844), được cử làm Tế tửu

Trang 23

Đó là những người được cử giữ các chức vụ cao cấp trong triều đình Còn rất nhiều người khác tuy không đỗ Đại khoa nhưng với tài kinh bang tế thế đã được nhà Nguyễn trọng dụng và cử giữ các chức vụ khác nhau Nghiên cứu nguồn gốc của

468 vị quan văn của 24 tỉnh trong cả nước (Thời Nguyễn cả nước chia thành 29 tỉnh) thì Thăng Long - Hà Nội có 35 người chiếm 7,48%, đứng sau Thừa Thiên, Nghệ An, Bắc Ninh, Thanh Hoá, Hà Tĩnh

Những người Thăng Long - Hà Nội có công trong sự nghiệp giáo dục:

Cũng như bao nhà Nho khác, sau khi lận đận trên con đường thi cử, hoặc chán cảnh “quan trường” cáo lão về hưu, các Nho sĩ của Thăng Long - Hà Nội không ít người trở thành thầy giáo Tiêu biểu là:

- Vũ Tông Phan (1800-1851), người thônTự Tháp (nay thuộc phường Hàng

Trống, quận Hoàn Kiếm) Sau khi thi đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 6 (1826), Vũ Tông Phan được bổ làm Tham hiệp Đến năm 1833, ông

được bổ làm Đốc học Bắc Ninh và đến năm 1838 thì “Thục xá ngẫu hứng” (Ngẫu

hứng ở nhà dạy học) mở trường Hồ Đình bên cạnh hồ Hoàn Kiếm Để mang trí thức

của mình dạy dỗ cho thế hệ sau nối tiếp con đường:

“Khoa mục khởi năng hoàn học trái Thi thư thiết hỷ kế gia thành”

nghĩa là: “Thi cử thành công là để trả nợ học, vui mừng vì nối được truyền thống

sách vở, chữ nghĩa của gia đình” (Vũ Thế Khôi dịch)

Trường học của ông chỉ gồm có 5 gian nhà lá mà “Học trò bốn phương đến

đầy nhà” (Nguyễn Văn Siêu), đông tới hàng ngàn Chính trong thời gian này mà

những kiến thức uyên bác của Vũ Tông Phan đã truyền cho hậu thế Trường Hồ

Đình của ông trở thành nơi “tụ thuỷ như tụ nhân”, cho “ra lò” nhiều Cử nhân, Tiến

sĩ nổi tiếng như: Thượng thư Nguyễn Tư Giản, Đốc học Lê Đình Diên, các Phó bảng Phạm Hy Lượng, Dương Danh Lập, Ngô Văn Dạng, Nguyễn Huy Đức…

Công lao đào tạo thế hệ trẻ của ông đã được vua Tự Đức đánh giá là “Đào

thục hậu tiến” (có công lao đào tạo rèn luyện cho lớp hậu sinh tiến lên)

- Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) Nguyễn Văn Siêu, người làng Kim Lũ, nay

là thôn Kim Lũ (Lũ Trung), xã Đại Kim, huyện Thanh Trì; trú quán phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương nay thuộc phố Ngõ Gạch, phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm Ông đậu Cử nhân khoa ất Dậu (1825) Khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (1838), Nguyễn Văn Siêu đỗ Phó bảng Năm 1854, Nguyễn Văn Siêu đệ đơn

từ quan trở về Hà Nội và từ đó đến cuối đời với trường Phương Đình do ông mở trở thành một trung tâm giáo dục lớn của đất Hà thành Ông là tác giả của nhiều tập

sách nổi tiếng như: Phương Đình thi tập, Địa dư toàn biên, Tuỳ bút lục, Vạn lý

Trang 24

tập… Nguyễn Văn Siêu có công lớn trong việc phát triển nền văn hoá Thăng Long

thời Nguyễn Đài Nghiên, tháp Bút ở khu vực hồ Hoàn Kiếm ngày nay là do ông cho xây dựng

- Nguyễn Văn Lý (1795- ?), người làng Đông Tác (nay thuộc phường Trung

Tự, quận Đống Đa) Ông đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Minh Mạng thứ 13

(1832) Ông là người “việc học rất ngay thẳng, dốc đạo lại trung thực” và là một thầy giáo nổi tiếng “Ông trước sau làm việc giảng học 20 năm có lẻ, người tới học

thành tựu cũng nhiều” (Đại Nam liệt truyện chính biên, T4, Nxb Thuận Hoá, Huế

1993, tr 144) Tiêu biểu như : Cử nhân Nguyễn Huy Đức (1824-1898), phường Vũ Thạch; Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902), người Kim Lũ

- Lê Đình Diên (1824-1883), người làng Hạ Đình (nay là phường Hạ Đình,

quận Thanh Xuân) Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ

2 (1849) Đến năm 1860, ông được bổ làm Đốc học Hà Nội, hàm Tư Nghiệp Năm

1870, ông cáo quan về hưu và mở trường dạy học Học trò của ông có nhiều người thành đạt

- Bùi Xuân Nghi (1822-1891), người làng Vân Canh (xã Xuân Phương,

huyện Từ Liêm) Ông đỗ Cử nhân khoa Đinh Mão, niờn hiệu Tự Đức thứ 20 (1867) Bùi Xuân Nghi tiếp đi thi Hội nhưng không đỗ liền về quê mở trường dạy học Năm

55 tuổi ông được bổ nhiệm chức Thụ giáo ở huyện Thường Tín Là thầy giáo có đức

độ và nổi tiếng dạy giỏi khắp vùng nên 3 năm sau ông được cử làm Đốc học Sơn Tây rồi thăng Tu soạn Tiếp đó ông lần lượt được cử giữ chức Hàn lâm thị giảng, Quốc sử quán biên tu, Tu thu sở, Phó đốc biện… Khi bị bệnh, ông về quê nghỉ nhưng lại tiếp tục mở trường dạy học Học sinh của Bùi Xuân Nghi có nhiều người thành đạt và ông cũng để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị về văn học và vùng đất ngoại thành Hà Nội ngày nay

Các trường học những thầy giáo nổi tiếng đó đã góp phần đào tạo nên những thế hệ Nho sinh Thăng Long - Hà Nội không chỉ là những ông Cử, ông Nghè được

cử những chức quan cao cấp trong bộ máy nhà nước thời Nguyễn như: Thượng thư

bộ Hình Nguyễn Trọng Hợp; Thượng thư bộ Lại: Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Tuyên (Nguyễn Trọng Hợp); Khâm sai Vũ Duy Ninh,… mà còn sản sinh ra nhiều nhà văn hoá lớn làm rạng rỡ đất Thăng Long - Hà Nội Đó là:

- Vũ Danh Thuận, người làng Kiêu Kỵ (xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm), là

người truyền bá và phát triển nghề “luyện kim ngân” ở làng Kiêu Kỵ Ông là nhà

thực nghiệp và từ thiện đáng kính của đầu thế kỷ XIX

- Bùi Huy Tùng (1794-1862), người ngõ Phất Lộc, quận Hoàn Kiếm Ông là

người học giỏi nhưng đi thi Hương chỉ đỗ Tam trường Ông là người có công rất lớn trong quá trình tạo dựng Văn chỉ huyện Thọ Xương, tu bổ đình Phất Lộc…

Trang 25

- Lý Văn Phức (1785-1849), người làng Hồ Khẩu (nay là phường Bưởi, quận

Tây Hồ) Ông đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão (1919) Sau khi giữ chức Hữu thị lang bộ

Hộ, đến năm 1829 ông được cử đi sứ Từ đây cuộc đời của ông là cuộc đời của “vị

sứ thần lữ khách” Ông để lại hàng loạt tác phẩm có giá trị được sáng tác trong thời

gian đi sứ Ông là người đại diện cho khuynh hướng văn chương Nho giáo và mở

đường cho thể loại ký viết về thế giới bên ngoài

- Cao Bá Quát (1809-1854), người làng Phú Thị (nay là xã Quyết Chiến,

huyện Gia Lâm) Ông đỗ Cử nhân năm 1831, nhưng khi thi Hội thì trượt Là người

có tính cách khác thường nên sau khi ra tù và xuất dương đi Cămpuchia và Inđônêxia theo đoàn của Đào Tri Phú, năm 1843 ông về Thăng Long - Hà Nội Năm

1847 ông được triệu về Kinh, nhưng rồi đến năm 1853, lại lấy cớ mẹ già ốm đau để xin về quê Là người thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân dân trước thiên tai và sự hà hiếp của tầng lớp quan lại địa phương, Cao Bá Quát đã tập hợp lực lượng, tiến hành khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn Và cuối cùng cuộc khởi nghĩa bị thất bại

5 Những nhân tài tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội

Mặc dù không còn là kinh đô của cả nước, Thăng Long - Hà Nội vẫn là nơi hội

tụ khí thiêng sông núi, nơi sản sinh và cư trú của nhiều danh nhân nổi tiếng Thăng Long thời Nguyễn vẫn là một trung tâm đóng góp cho đất nước nhiều nhân tài góp phần làm rạng rỡ đất Thăng Long - Hà Nội

- Phạm Đình Hổ (1768-1839)

Phạm Đình Hổ sinh năm 1876, mất năm 1839, tự là Tùng Niên, Bỉnh Trực, hiệu là Đan Sơn, Đông Dã Tiếu, quê ở làng Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thư-ợng Hồng (nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương)

Phạm Đình Hổ xuất thân trong một gia đình quyền thế Họ nội ông vốn nổi tiếng trong vùng là dòng họ giầu có, hay chữ, nối tiếp nhau theo nghiệp Nho gia Họ ngoại của ông, dòng họ Phạm ở làng Vẽ (tức là làng Đụng Ngạc, huyện Từ Liêm) nổi tiếng là dòng họ hiển đạt Ông ngoại Phạm Đình Hổ làm quan thời Lê, chức Hiển cung đại phu,Tham nghị tán trị thừa Chánh sứ ty Cha Phạm Đình Hổ là Phạm Giáp, biệt hiệu là Diệc Hiên tiên sinh, một người văn võ toàn tài, một ông thầy nổi tiếng hay chữ của vùng Thăng Long, đỗ Hương cống và sau đó được bổ làm Huấn

đạo phủ Quốc Oai Năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756), ông đỗ khoa tuyển cử và được

bổ vào làm việc trong phủ Chúa Trịnh (đời Minh Đô vương Trịnh Doanh) Từ đó

ông được thăng đến Hiến sát phó sứ Sơn Nam, Tuần phủ SơnTây, Hoằng Tín đại phu Thái bộc tự khanh

Phạm Đình Hổ là người đọc rộng biết nhiều, lớn lên trong lúc nước nhà đầy biến động, thi cử lại lận đận, không đỗ Nhưng Phạm Đình Hổ để lại cho hậu thế

Trang 26

nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Lê triều hội điển; Bang giao điển lệ; An Nam chí;

Càn khôn nhất lãm; Ai Lao sứ trình; Đạt man quốc địa đồ (tức Chân Lạp địa đồ);

Hi Kinh trắc lãi; Nhật dụng thường đàm; Vũ trung tuỳ bút; Tang thương ngẫu lục

(soạn cùng với Nguyễn án); Quốc sử tiểu học; Hành tại diện đối; Quần thư tham

khảo; Châu Phong tạp khảo; Châu Phong thi tập…

Sự nghiệp văn chương đã đưa Phạm Đình Hổ trở thành một trong hai nhân vật

nổi tiếng nhất của Bắc thành được vua Minh Mạng biết đến: “Trẫm nghe nói học

vấn văn chương ở Bắc thành có Phạm Thích, thứ đến là Phạm Đình Hổ”

Năm 1820, khi mới lên ngôi, vua Minh Mạng đã cho truyền Phạm Đình Hổ,

Nguyễn Đăng Sở, Ngô Thì Du, Phan Huy Chú, Đoàn Hồng Nguyên, Đỗ Huy Ngạc vào kinh Lúc này Phạm Đình Hổ đang bị bệnh Năm 1821, Minh Mạng ra Bắc thành, ông được tiếp kiến và được bổ làm Hàn lâm viện biên tu, tước Bình Phong tử:

“Năm Minh Mạng thứ 2, vua đi tuần ra Bắc, nghe tiếng gọi vào ra mắt ở hành tại,

được vua hỏi chuyện, Đình Hổ bầy tâu xứng ý Vua sai cấp lương cho Hổ theo lệ ương cống hành tẩu ở 6 bộ” (2) Năm 1826, Phạm Đình Hổ được thăng làm Hàn lâm viện thừa chỉ, Quốc tử giám Tế tửu, tước Bình Phong bá Năm sau vì bệnh tật ông xin nghỉ Đến năm 1831, Phạm Đình Hổ lại phải ra nhận chức Hàn lâm viện thị giảng học sĩ Nhưng rồi đến năm 1832, ông xin từ quan

H-Phạm Đình Hổ học nhiều, khảo cứu rộng, kiến thức uyên bác, cuộc đời và trước tác của ông để lại cho đời sau đã phần nào chứng minh ông là một con người

mà “Văn học vượt trội, tính tình ngay thẳng, không xu phụ quyền trọng”.(Chiếu chỉ

Năm 1807, Lý Văn Phức bắt đầu đi thi và đỗ Tam trường (tú tài), rồi đến năm

Kỷ Mão (1819) ông lại đi thi và đỗ Hương tiến (Cử nhân), khi ấy ông 34 tuổi

Cuộc đời làm quan đại thần nhà Nguyễn của Lý Văn Phức bắt đầu từ năm

1820, ông được bổ làm Hàn lâm Biên tu, sung Sử quán, rồi trải các chức vụ: Lễ bộ kiến sự, Hộ bộ Hữu thị lang, thụ hàm Hữu tham tri Từ năm 1821 đến 1840, Lý Văn Phức liên tục được cử sứ các nước trong khu vực Đông Nam á và Trung Quốc Đến năm 1843, Lý Văn Phức được cử làm chủ khảo trường Nghệ An; năm 1848 được thăng Lang trung biện lý coi việc trong bộ Lễ; năm 1849 được thăng Quang lộc tự khanh rồi mất khi đang tại chức, được truy thụ Lễ bộ Hữu thị lang (thọ 64 tuổi)

Trang 27

Là một tác gia tiêu biểu của giai đoạn văn học Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX,

Lý Văn Phức đã để lại một di sản văn học bao gồm một số lượng lớn những tác phẩm Hán và Nôm đa dạng

- Bùi Huy Tùng (1794-1862)

Bùi Huy Tùng (1794-1862) hiệu là Như Trai, tự là Tú Lĩnh Ông là một nhà từ thiện nổi tiếng của Hà Nội nửa đầu thế kỷ XIX, ở giáp Tiên Hạ, thuộc thôn Dũng Thọ, phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương Ông hiếu học, quảng bác song không thành đạt về khoa cử Ông luôn làm những việc từ thiện công đức

Đặc biệt với các di tích lịch sử thì Bùi Huy Tùng có đóng góp quan trọng Xin nêu hai di tích lớn: văn chỉ huyện Thọ Xương, tu bổ chính ngôi đình Phất Lộc Ngoài ra, Tú Lĩnh còn góp công của tu bổ một số di tích khác như: đình Xã Đàn,

đình Văn Quán (thị xã Hà Đông), đình Kim Bài (Thanh Oai - Hà Tây)…

Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng là một nhà văn hoá và một nhà từ thiện rất đáng trân trọng của Hà Nội nửa đầu thế kỷ XIX(1)

- Nguyễn Văn Lý (1795-1868)

Nguyễn Văn Lý, quê ở phường Đông Tác, huyện Thọ Xương của kinh thành Thăng Long (nay là một phần địa bàn của ba phường Phương Liên, Kim Liên và Trung Tự thuộc quận Đống Đa) Nguyễn Văn Lý tự Tuần Phủ, hiệu Chí Đình, Chí

Am, Chí Hiên, biệt hiệu Đông Khê, sinh năm 1795 Năm 1825 Nguyễn Văn Lý đỗ

cử nhân, năm 1832 đỗ tiến sĩ Từ đấy bắt đầu cuộc đời làm quan khá lận đận của

ông nhưng lại có nhiều hoạt động văn hoá xã hội đáng trân trọng Sau thời gian tập

sự ở Huế, mùa xuân năm 1833, Nguyễn Văn Lý được bổ làm tri phủ Thuận An (nay

là vùng Gia Lâm - Thuận Thành)

Đầu năm 1841, ông làm án sát tỉnh Phú Yên Tháng 5 năm Giáp Thìn (1844),

có kẻ dựng chuyện, vu cho ông nhận hối lộ, bị cách, lưu vào làm ở Viện Hàn lâm Tháng 6 năm Bính Ngọ (1846), ông được khôi phục làm Hành tẩu ở Nội các Cuối năm 1848, ở tuổi 53, ông lại cáo bệnh xin nghỉ giả hạn ở Thăng Long và mở trường dạy học Nguyễn Văn Lý và Vũ Tông Phan trở thành là hai ông thầy nổi tiếng thời đó ở Hà Nội Năm 1856, triều đình cử ông làm Giáo thụ phủ Thường Tín rồi làm Đốc học tỉnh Hưng Yên Nguyễn Văn Lý qua đời năm 1868

- Vũ Tông Phan (1800-1851)

Vũ Tông Phan, sinh năm 1800, nguyên quán ở làng Hoa Đường, huyện

Đường An (nay là huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương), trú quán ở thôn Tự Tháp, phủ

1 Tham khảo gia phả họ Bùi do ông Bùi Huy Hoạt biên soạn

Trang 28

Báo Thiên, huyện Thọ Xương nay thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, tự là Hoán Phủ, hiệu là Lỗ Am, Đường Xuyên

Tổ ba đời của Vũ Tông Phan từng làm “Thị nội văn chức” cho chúa Trịnh Khi còn nhỏ, Vũ Tông Phan thường theo cha là Tú tài Vũ Tông Cửu đi dạy học ở nhiều nơi

Năm 19 tuổi, Vũ Tông Phan thi đỗ Tú tài, 25 tuổi đỗ Cử nhân và 26 tuổi đỗ Tiến sĩ

Sau khi thi đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 6 (1826),

Vũ Tông Phan được bổ làm Tham hiệp Đến năm 1833, ông được bổ làm Đốc học

Bắc Ninh và đến năm 1838 thì “Thục xá ngẫu hứng” (Ngẫu hứng ở nhà dạy học)

mở trường Hồ Đình bên cạnh hồ Hoàn Kiếm Ông đã được vua Tự Đức đánh giá là

“Đào thục hậu tiến” (có công lao đào tạo rèn luyện cho lớp hậu sinh tiến lên)

Vũ Tông Phan được bạn bè quý mến, quan dân trong miền tin phục vì ông là một vị thầy đầy uy tín, một người đi tiên phong trong việc mở rộng và khơi sâu những hoạt động văn hoá, giáo dục trên đất Thăng Long - Hà Nội nửa đầu thế kỷ

XIX Ông là một trong những thủ lĩnh có uy tín nhất trong “Văn hội Thọ Xương”

Vũ Tông Phan còn là một tác gia lớn của thời kỳ này Đó là: Tô Khê tuỳ bút (Tuỳ bút sông Tô Lịch); Lỗ Am di cảo thi tập gồm 359 bài thơ: Kiếm hồ thi tập;

Giang Đình thập nhị vịnh; Thăng Long hoài cổ thập tứ thi; Tự Tháp Vũ tiên sinh thi tập…

Năm Gia Long thứ 2 (1803), Ngô Thì Vị được giữ chức Thiêm sự bộ Lại1

Kỷ Tỵ, năm Gia Long thứ 8 (1809), ông làm Phó sứ cùng Nguyễn Hữu Thận đi

sứ nhà Thanh Tháng 7 năm 1813 ông làm Hiệp trấn Tuyên Quang (Đốc trấn), tháng Chạp năm đó chuyển làm Hiệp trấn Lạng Sơn Cuối năm 1817 ông được triệu về kinh, thăng chức Hữu tham tri bộ Lại Tháng 7 năm Kỷ Mão 1819 làm Đề điệu trường thi Gia Định Tháng 9 năm Canh Thìn 1820 là Chánh sứ sang nhà Thanh Tháng 11 năm đó qua ải Nam Quan đến Nam Ninh Ngày 27 tháng 11 năm 1821 mất tại Quảng Tây

1

Quốc sử quán triều Nguyễn “Đại Nam thực lục”, T1, Nxb Giáo dục, H2002, tr 558

2 Quốc sử quán triều Nguyễn “Đại Nam thực lục”, T1, Sđd, tr 749

Trang 29

Tác phẩm của ông có: Mai Dịch trâu dư văn tập, Thành phủ công thi văn tập

Lạng trình ký thực và một số bài văn, thơ khắc trên vách đá động Nhị Thanh, động

Tam Thanh Ngô Thì Vị là nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu có tài

- Nguyễn Văn Siêu (1799-1872)

Nguyễn Văn Siêu, sinh năm 1799, ban đầu có tên là Định, sau đổi là Siêu, tự

là Tốn Ban, hiệu là Phương Đình, người làng Kim Lũ (tên Nôm là làng Lủ), nay là Kim Lũ (Lũ Trung), phường Đại Kim, quận Hoàng Mai; sau dời về làng Cổ Lương, phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương nay thuộc phố Nguyễn Văn Siêu, phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm Năm 1825, khi đã 26 tuổi, Nguyễn Văn Siêu dự kỳ thi Hương khoa ất Dậu, Minh Mạng thứ 6 (1825), đỗ á nguyên (Cử nhân đứng thứ 2) Thi Hội năm Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (1838), Nguyễn Văn Siêu đỗ Phó bảng

Sau khi đỗ Phó bảng, Nguyễn Văn Siêu được bổ làm Kiểm thảo Hàn lâm viện Năm 1839, ông được làm Chủ sự ở bộ Lễ Năm 1840, Nguyễn Văn Siêu được thăng lên Viên ngoại lang

Vốn biết tài của Nguyễn Văn Siêu, nên khi vừa lên ngôi, Thiệu Trị đã bổ ông làm Thừa chỉ trong Nội các ít lâu sau, Nguyễn Văn Siêu kiêm luôn cả chức Thị giảng, phụ trách việc giảng sách cho các Hoàng tử Hồng Bảo, Hồng Nhậm…

Năm 1849, Nguyễn Văn Siêu được cử làm Phó sứ sang cống nhà Thanh (Trung

Quốc) Trước khi lên đường, vua Tự Đức có dặn riêng Nguyễn Văn Siêu: “Khanh

học vấn uyên bác, chuyến này sang sứ, xem xét non sông, phong tục, nên ghi chép

kỹ, khi về tiến lãm”

Năm sau, 1850, hoàn thành công việc đi sứ đồng thời Nguyễn Văn Siêu đã làm tốt việc vua Tự Đức căn dặn trước lúc lên đường Ông đã dâng lên Tự Đức quyển

Vạn lý tập dịch trình tấu thảo Và được thăng Học sĩ Tập Hiền viện

Sau đó, Nguyễn Văn Siêu được thăng làm án sát tỉnh Hà Tĩnh, rồi án sát tỉnh Hưng Yên kiêm quản chức Tuần phủ

Thời gian làm quan ở tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn Siêu trực tiếp chứng kiến cảnh đói khổ của nhân dân do thiên tai gây ra Nguyễn Văn Siêu đã làm bản điều trần gửi về kinh đô, song không hợp ý vua Và từ đó ông bị thất sủng và giáng chức Năm 1854, Nguyễn Văn Siêu đệ đơn từ quan khi mới 55 tuổi trở về Hà Nội

Từ đó đến cuối đời (1872), gần 20 năm gắn bó với đất Hà Nội, ông chuyên tâm soạn

sách và dạy học Ông là tác giả của nhiều tập sách nổi tiếng như: Phương Đình địa

dư chí (sử, địa); Phương Đình thi tập (văn); Phương Đình văn tập (văn, sử);

Trang 30

Ph-ương Đình tuỳ bút lục (văn, sử); PhPh-ương Đình vạn lý tập (văn); Chư kinh khảo ước (văn, sử, triết); Chư sử khảo thích (sử); Tứ thư bị giảng (văn, sử, triết)…

Những công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Siêu đã đưa ông trở thành một

học giả lớn của nước ta thời Nguyễn Bộ Địa dư chí (còn gọi là Đại Việt địa dư toàn

biên) là một tác phẩm mà ông cùng cộng tác với Bùi Quỹ soạn trong hàng chục năm

và hoàn thành vào năm 1862 đã khẳng định Nguyễn Văn Siêu là người uyên bác về

địa lý, lịch sử nước ta từ trước cho đến bấy giờ

Nguyễn Văn Siêu là một trí thức lớn, tài ba trên nhiều lĩnh vực: Là cây đại thụ trong văn đàn Thăng Long - Hà Nội, là nhà nghiên cứu Sử - Địa - Triết uyên bác, nhà giáo dục tâm huyết, gương mẫu, nhà ngoại giao, người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm

- Cao Bá Quát (1809-1854)

Cao Bá Quát, tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên, sinh năm Kỷ Tỵ (1809), mất năm Giáp Dần (1854), quê ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm (nay là xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) Năm Tân Mão (1831),

Cao Bá Quát dự kỳ thi Hương, đỗ á nguyên Nhưng sau đó liên tiếp dự hai lần kỳ

thi Hội, Cao Bá Quát đều không đỗ

Năm Tân Sửu (1841), Cao Bá Quát được triệu vào kinh sung chức Hành tẩu bộ

Lễ Là người giỏi về văn chương Văn thơ và phong cách của Cao Bá Quát nổi tiếng khắp kinh thành Huế Vì vậy ông là một trong những người nổi tiếng của Thi xã Mạc Vân do Miên Thẩm lập ra Cao Bá Quát thường xuyên đến phủ đệ của Miên Thẩm xướng hoạ thơ văn và được Miên Thẩm quý trọng coi như là người bạn không thể thiếu của làng thơ văn lúc bấy giờ

Tháng 8 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), Cao Bá Quát được cử làm Sơ khảo ờng thi Thừa Thiên và bị tội, sau đó được giảm tội và cử đi sứ

trư-Mùa hè năm 1843, Cao Bá Quát và đoàn về nước Ông lại được giao làm việc ở

bộ Lễ Cao Bá Quát làm ở bộ Lễ một thời gian Nhưng có lẽ sau lần bị kết tội, rồi lênh đênh trên đường hải ngoại, ngẫm và suy nhân tình thế thái mà ông sao nhãng công việc nên bị thải hồi

Năm 1847, Cao Bá Quát lại được triệu vào kinh và làm việc ở Viện Hàn lâm Năm 1852, ông lại phải rời kinh đô để đi nhận chức Giáo thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây

Giữa năm Tự Đức thứ 7 (1853), Cao Bá Quát xin thôi dạy học, lấy cớ về chăm sóc mẹ già Vào tháng 6, tháng 7 năm ấy, vùng đồng bằng Bắc bộ mùa màng bị châu chấu phá hoại Một nạn đói lớn đang đến dần từng bước Tiếng ca thán nổi lên khắp nơi Cao Bá Quát bí mật tập hợp lực lượng, nổi dậy và liên hệ với một số thổ

Trang 31

mục vùng Tây Bắc là Đinh Công Mỹ, Bạch Công Trân và suy tôn một người họ Lê

là Lê Duy Cự làm minh chủ, còn ông tự xưng là Quốc sư kêu gọi nhân dân nổi dậy chống lại chính quyền nhà Nguyễn vùng Hà Nội, Sơn Tây

Tháng 12 năm ấy, quân của Cao Bá Quát tiến đánh phủ ứng Hoà và huyện Thanh Oai, nhưng bị thất bại Sau đó quân của Cao Bá Quát vẫn tiếp tục tiến đánh phủ Quốc Oai, rồi rút về vùng Vĩnh Tường, đốt cháy thành Tam Dương Trước sự nổi dậy của dân chúng do Cao Bá Quát cầm đầu, triều đình nhà Nguyễn đã phải tăng cường lực lượng đàn áp Trong cuộc chiến đấu ở vùng Yên Đơn (thuộc phủ Quốc Oai) với quân triều đình do Lê Thuận chỉ huy, Cao Bá Quát đã bị Đinh Thế Quang bắn chết Cuộc nổi dậy của Cao Bá Quát thất bại

Hơn 20 bài văn xuôi và hơn 1300 bài thơ… đã đưa Cao Bá Quát trở thành một trong những tác gia tiêu biểu nhất của thi đàn Việt Nam thế kỷ XIX Di sản thơ văn

của “thánh Quát” và cuộc nổi dậy bất thành của ông luôn được các thế hệ trân

trọng bởi nó được hình thành trong một con người thông minh, tài năng xuất chúng, yêu nước thương dân nhưng không được thời thế trọng dụng

- Nguyễn Tư Giản (1823-1890)

Nguyễn Tư Giản (tên ban đầu là Văn Phú, ông còn có tên là Định Giản), tự Tuân Phúc và Hy Bật, hiệu Thạch Nông và Vân Lộc, người làng Mai Lâm (nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thuộc ngoại thành Hà Nội) Quê gốc của ông

là làng Vân Điềm, tên nôm là làng Đóm, nay thuộc xã Đông Hà, cùng huyện Đông Anh

Năm 19 tuổi Nguyễn Tư Giản đi thi nhưng bị hỏng Ba năm sau mới đỗ Cử nhân ở trường Hà Nội Năm Giáp Thìn (1844), Nguyễn Tư Giản đỗ Tiến sĩ đệ nhị giáp, tức Hoàng giáp

Sau khi thi đỗ, Định Giản vào kinh (Huế) để nhận chức Tu soạn Hàn lâm viện

Rồi được cử vào ban biên tập Thiệu Trị văn quy Năm 1846, ông làm Tri phủ Ninh

Thuận Nhưng vào mùa thu năm 1847, Tự Đức lên ngôi vua và triệu ông về kinh Tại đây trong vòng 10 năm (1847-1857), Nguyễn Tư Giản trở thành một quan chức tham mưu về văn hoá, rồi về hành chính quốc gia Ban đầu giữ chức Khởi cơ chú ở lầu Kinh Diên, rồi Thị giảng học sĩ ở Hàn lâm viện

Trong thời gian ở kinh, Vua Tự Đức ra lệnh cho ông đổi thành Tư Giản Năm

Tự Đức thứ 10 (1857), sau trên một chục năm xa quê, ông xin vua cho về Bắc thăm nhà, Tự Đức chuẩn y nhưng giao cho ông nhiệm vụ nghiên cứu tình hình sông ngòi,

đê điều ở ngoài Bắc Nguyễn Tư Giản đã tiến hành công việc một cách thận trọng, nghiên cứu điều tra rất tỉ mỉ, cụ thể và khi hết hạn nghỉ ở Bắc, ông trở lại Huế với một bản điều trần soạn thảo công phu, kiến nghị mười điểm

Trang 32

Năm Giáp Tý (1864), rời quan trường, Nguyễn Tư Giản về dạy học ở làng Đôn Thư (Thanh Oai - Hà Tây) Sau ba năm nghỉ việc, Nguyễn Tư Giản lại được gọi vào Huế và được phục chức, làm Tu soạn ở Viện hàn lâm, rồi làm Thị độc học sĩ ở lầu Kinh Diên Năm 1868 được cử làm Giáp phó sứ trong phái bộ sang sứ nhà Thanh

Đi sứ về lại được thăng Thị lang bộ Lại kiêm phó Tổng tài Quốc sử quán Chính Nguyễn Tư Giản là người tham gia biên soạn và xét duyệt lần cuối bộ sử lớn của

nhà Nguyễn Việt sử thông giám cương mục Việt sử thông giám cương mục là bộ sử

biên niên lớn của nước ta

Năm 1873, ông được bổ chức Thượng thư bộ Lại sung cơ mật viện đại thần Mùa hạ năm ấy, triều đình Huế cử một phái bộ sang Pháp để điều đình chuộc lại Nam Kỳ Nguyễn Tư Giản được cử làm Chánh sứ, nhưng ông dâng sớ thoái thác Nhưng rồi 5 năm sau (1878) Nguyễn Tư Giản được khôi phục, triệu về Huế, trao chức Thị giảng học sĩ và uỷ nhiệm phụ trách việc khánh tiết cũng như việc soạn thảo các văn bản trong lễ ăn mừng Nhưng 3 năm sau (1881), ông xin về nghỉ

Năm 1886, khi thực dân Pháp đã hoàn thành cơ bản việc xâm lược nước ta, chúng thúc ép Kinh lược sứ Nguyễn Trọng Hợp phải dụ một số danh nhân ra làm việc, thế là Tư Giản phải ra làm Tổng đốc Ninh Thái (Bắc Ninh – Thái Nguyên) Nhưng không đầy một năm, Nguyễn Tư Giản xin nghỉ với lý do già yếu Sau đó ông

về dạy học ở Ninh Bình và đến năm 1890 ông mất tại đây, thọ 68 tuổi

Nguyễn Tư Giản là một tác gia có một số lượng tác phẩm khá lớn so với

đương thời Các tác phẩm đó không chỉ thể hiện tài năng văn chương và cốt cách của ông, nó còn phản ánh một giai đoạn lịch sử đầy biến động và khẳng định Nguyễn Tư Giản là một nhà chính trị, nhà văn hoá, ngoại giao, danh nhân nổi tiếng của Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XIX

V Một vài nhận xét

Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn, tuy không còn là kinh đô của cả nước, nhưng vẫn là trung tâm kinh tế văn hoá xã hội lớn của đất nước Với truyền thống của người đất kinh kỳ cho nên dù không còn những điều kiện thuận lợi như ở các triều đại trước, Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn đã để lại những dâu ấn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước

- Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, ngoại giao của phía Bắc

Tổ quốc

- Là nơi có truyền thống giáo dục và đào tạo nhân tài Đã cung cấp và đóng góp cho quốc gia nhiều nhà giáo, nhà khoa bảng, nhà ngoại giao, nhà văn hóa lớn của đất nước

Trang 33

Ngoài các trường học do nhà nước lập ra ở tỉnh, phủ, huyện, các làng xã đều

có trường học để cho con em theo đòi nghiệp bút nghiên Nhiều trường nổi tiếng

đào tạo được các “nho sinh” trở thành “ông Nghè’, “ông Cử”, như các trường: Trường Hồ đình ở thôn Tự Tháp; Trường Phương đình của Nguyễn Văn Siêu; Trường Vũ Thạch …

Có nhiều thầy giáo dạy giỏi nổi tiếng cả nước như: Vũ Tông Phan, Nguyễn

Văn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Lý, Lê Đình Diên, Bùi Xuân Nghi, …

Nhiều người đỗ đạt cao được cử giữ chức vụ quan trọng của nhà nước và không ít người trở thành những danh nhân văn hoá tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội và cả nước như: Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lý, Lê Đình

Diên, Bùi Huy Tùng, Trần Văn Vi, Nguyễn Tư Giản, …

Thời Nguyễn ở Thăng Long - Hà Nội đã sản sinh ra những danh nhân tiêu biểu của đất nước, tiếp tục phát triển những tinh hoa văn hoá của đất kinh thành, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Hơn thế nữa những người trải qua trường ốc ngoài chữ “thánh hiền” còn được truyền kế những tâm hồn và khí phách, “cốt cách” của các “ông đồ” luôn mang trong tâm trí tinh thần và khí phách của “sĩ phu” đất “Tràng An” để rồi đến mùa thu tháng Tám năm 1945, cùng cả dân tộc đứng lên lật đổ chế độ thực dân, phong kiến và Hà Nội lại trở về là thủ đô của nước Việt Nam mới

Người viết tổng hợp

PGS TS Nguyễn Văn Nhật

Trang 34

Chuyờn đề 1

Những chứng cứ lịch sử

về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực xây dựng

thành Hà Nội thời Nguyễn

- PGS TS Tống Trung Tín

I Những chứng cứ lịch sử nhà Nguyễn xây dựng thành Hà Nội qua thư tịch cổ và Tài liệu của các tác giả Phương Tây

a Thành Hà Nội qua thư tịch cổ

Thành Hà Nội được xây dựng vào những năm Gia Long thứ 3 (1804), thứ 4 (1805) Sử biên niên thời Nguyễn chép rất rõ cuộc xây dựng này

Đại Nam Thực Lục Chính biên, chính sử của nhà Nguyễn chép:

Năm Gia Long thứ 3 (1804) “Sửa Cung Bắc Thành ở Bắc Thành, trước dùng

điện Kính Thiên nhà Lê làm hành cung Đến nay, sai làm thêm một toà ở sau điện làm nơi cư trú chân trong khi vua đi tuần thú(2)

Năm Gia Long thứ 4 (1805) “Sai xây các cửa thành Thăng Long (Cửa Đông Nam, Cửa Tây Nam, Cửa Đông, Cửa Tây, Cửa Bắc) Mỗi cửa đều dựng bia để ghi”(3)

Đại Nam Nhất Thống chí, một bộ sách địa lý do Quốc sử quán triều Nguyễn

biên soạn vào đời Tự Đức (1848 - 1883) chép: “Thành tỉnh Hà Nội: chu vi 432 trượng(4) linh, cao 1 trượng 1 thước 2 tấc, hào rộng trên dưới 4 trượng, mở 5 cửa, ở

địa phận hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận(5) Từ đời nhà Lê về trước, kinh đô

đều đặt ở đây Lại có tên là thành Phụng Thiên, ở trong thành Đại La Thành lâu năm sụt đổ, đến đời Tây Sơn, theo nếp cũ đắp thành quãng từ cửa Đông Hoa đến cửa

Đại Hưng; bản triều đầu đời Gia Long lấy làm lỵ sở của Bắc Thành Năm thứ 3 (1804) triều thần bàn rằng thể chế xây thành của Tây Sơn không hợp quy củ, tâu xin sửa đổi Năm thứ 4 (1805) sai quan đốc sức xây đắp Trong thành dựng kỳ đài và

2 Đại Nam thực lục chính biên NXB Sử học, 1963, tập III, tr 180

3 Đại Nam thực lục chính biên NXB Sử học, 1963, tập III, tr 235

Trang 35

hành cung với hai điện, một tả vu, một hữu vu(6), mặt sau dựng ba toà Nội Điện, một tả vu một hữu vu, sau điện dựng lầu Tĩnh Bắc; quanh Nội điện đều xây tường gạch Lại đằng trước chính điện xây tường đá đến thẳng cửa Đoan Môn, có biển bằng đá khắc hai chữ “Đoan Môn” đấy là di tích từ đời Lý; ngoài cửa dựng nhà bia, xây kỳ

đài, quy mô rộng lớn Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) chia tỉnh hạt lấy thành này làm tỉnh thành Hà Nội Năm thứ 16, cho rằng thân thành quá cao, giảm bớt đi 1 thước 8 tấc Các đời Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị dùng thành này là nơi bang giao

Bắc Thành Dư Địa chí, một cuốn sách địa lý khuyết danh biên soạn vào đời

Nguyễn cũng chép: “Năm ất Sửu, (Gia Long) thứ 4, sai quan đốc sức đắp thành, chu

vi 1958 tầm(7) 2 thước 5 tấc, xây bằng gạch đá Ngoài thành đều đào hào bao quanh Thành mở 5 cửa: Đông Nam, Tây Nam, Chính Đông, Chính Tây, Chính Bắc, xây bằng gạch đá, bốn bề cao và bằng, một lối ra vào xây bằng đá, trên tròn dưới vuông Trên cửa dựng nhà gạch làm lầu canh Ngoài cửa thành đều xây lăng giác thành(8) ở Cửa Chính Đông dựng một toà nhà gạch, cắt lính thay phiên canh gác … ở cửa

Đông Nam dựng 2 toà gạch gọi là Diệp Nghị Đường Hàng tháng vào ngày 27, các quan lại làm việc ở trong thành tụ tập ở đó Phàm quan, dân các phường huyện, trấn

ai có việc thì đến đây tâu trình Nhà bên phải công đường đặt sáu phòng nho lại lưu giữ, trình gửi công văn Lại đặt trạm dịch (nền cũ đình Quảng Văn thời Lê) một nhà gạch bốn mái (tiến sĩ các khoe treo bảng tại đây): Đặt quân luân phiên canh trực, khi có chiếu thư, truyền lệnh cũng dán ở đây ở Lăng Giác thành cửa Chính Bắc cũng dựng một nhà gạch dài, bên trong chứa công lương, tục gọi là Mang Cá Trong thành, dựng hoàng cung trên núi Nùng gồm 2 toà chính điện, một tả vu một hữu vu Phàm gặp ngày lễ lớn và ngày rằm, mùng một quan lại trong thành đều ăn mặc phẩm phục có mặt đầy đủ làm lễ bái vọng ở Vọng Cung(9) Phía sau dựng 3 toà Nội

điện, một toà Hậu điện, hai tả vu hai hữư vu Bốn mặt hoàng cung xây tường gạch ngang hai bên tả, hữu chính điện, đều mở cửa ngách để đi vào bên trong Trước sân

có thềm 9 bậc với 4 con rồng đá(10) hướng về phía trước Một con đường cho vua đi lát bằng đá chạy thẳng tới cửa Đoan Môn (thể chế cửa này: trước đây, hai bên xây cửa gạch, ở giữa xây 5 cửa, 3 cửa giữa chạy thẳng vào bên trong, hai cửa bên tả và hữu đi vào khúc khuỷu, đến bên trong mới ăn thông với 3 cửa giữa) Hai chữ “Đoan Môn” phía trên cửa là di tích từ thời Lý

6 Tả vu hữu vu: ngôi nhà phụ ở bên phải và trái điện

7 Tầm = 8 thước ( 3 thước = 1mét) Theo số liệu này thì chu vi thành Hà Nội là 5221 mét Số liệu này gần phù hợp với chu vi thành này trên thực địa

8

Lăng giác là thành: còn gọi là Dương mã thành hay Mang Cá

9 Vọng Cung: ở chính điện trên núi Nùng

10 Thực tế chỉ có 2 con rồng đá, tác giả sách này chép lầm

Trang 36

Long Biên bách nhị vịnh được biên soạn vào năm Đinh Mùi, đời Thiệu Trị

(1847) cũng chép về việc xây dựng thành Hà Nội như sau:

“Sử chép, năm Canh Tuất, năm đầu tiên niên hiệu Thuận Thiên (1010), Vua

Lý Thái Tổ ngự giá từ động Hoa Lư đến định đô ở Long Biên(11) có rồng vàng hiện

ra ở thuyền ngự, bèn đặt tên là thành Thăng Long Cửa Đại Hưng ở phía Nam thành, nay ở phía Bắc đình Quảng Minh(12) Cửa Tường Phù ở phía đông sau đổi là cửa

Đông Hoa, nay là Cầu Chợ Đông(13) Cửa Quảng Đức nay là đường thành cổ Giảng

Võ(14) Cửa Diệu Đức ở phía Bắc sụt lở xuống sông không còn khảo cứu được ở giữa là núi Nùng Trên núi dựng điện Thị Triều(15) Phía trước điện là Long Trì(16) Phía trước Long Trì là cửa Ngũ Môn(17) Trước cửa Ngũ Môn là cửa Tam Môn(18),

đều xây bằng đá Đời Trần, Lê đóng đô ở đó Hoàng triều (nhà Nguyễn) dựng đô ở Phú Xuân Năm Gia Long thứ 3 (1804) sai xây dựng Bắc Thành, lấy núi Nùng làm tâm để định 4 góc thành, dỡ bỏ cửa Tam Môn, cửa Đại Hưng, cửa Đông Hoa để xây bốn mặt năm cửa Ngoài cửa xây cầu vòm bằng gạch đá Thành được đổi tên là thành Thăng Long(19) Xét thành Thăng Long dựng từ năm đầu niên hiệu Thuận Thiên đời Lý (1010) đến khi trùng tu, đổi thành Thăng Long cộng 794 năm Đời Minh Mệnh chia tỉnh, đặt tên là thành tỉnh Hà Nội”

b Thành Hà Nội qua các ghi chép của các tác giả phương Tây (20)

Thành Hà Nội đời Nguyễn được mô tả trong nhiều tác phẩm của người Pháp

vào cuối thế kỷ XIX Trong cuốn “Hà Nội trong giai đoạn anh hùng” (1873 -

1888), André Masson dẫn đoạn chép của Chapotot, một sĩ quan Pháp, về thành Hà Nội ngày 15/11/1875 như sau:

“Hình dáng chung của thành là một hình vuông lớn Mỗi cạnh của hình vuông bao gồm ba đoạn đắp như pháo đài, nghĩa là ba đoạn tường nối hai nửa pháo

đài(21) Những đoạn giữa các cạnh Bắc, Đông và Tây và những đoạn sát hai đầu cạnh Nam được che chở bằng những hình bán nguyệt không thu nhỏ

11 ở đây địa danh Long Biên nên hiểu là Đại La

12 Tức đình Quảng Văn được xây vào thời Lê Thánh Tông ở ngoài cửa Đại Hưng, nay ở vào khu vực vườn hoa Cửa Nam

13 Cầu Đông nay là ngã tư phố Hàng Đường, phố Ngõ Gạch và phố Hàng Cá

14 Có thể cửa này không nằm trên đoạn đường thành qua làng Giảng Võ ngày nay Toàn thư chép cửa Quảng Phúc là cửa của cấm thành

15 Tức là điện Kính Thiên, nơi vua ra chầu

16 Long Trì: nghĩa là sân rồng, đời Lê gọi là Đan Trì

17 Cửa Ngũ Môn: tức là cửa Đoan Môn, do có 5 cửa lớn ra vào nên cũng gọi là cửa Ngũ Môn

18 Tam Môn: tức là cửa Chính Nam của cấm thành, do đó 3 lối ra vào nên cũng gọi là cửa Tam Môn

19 Chữ Long là Rồng đổi thành chữ Long là Thịnh

20 Dẫn theo Phạm Hân Tìm lại dấu vết thành Thăng Long Hà Nội, 1990, tr 21

21 Pháo đài là các góc thành, nửa pháo đài là những đoạn thành nhô ra ngoài ở cả 2 nơi này đều có ụ bắn

Trang 37

Những pháo đài này có một đường men chân thành rộng từ 6 đến 7 mét Bờ thành ở trên đường men chân thành cao khoảng 5 mét Bờ thành được xây bằng gạch

Hào ở những đoạn chính, rộng từ 15 đến 18 mét và sâu chừng 5 mét Bờ hào cũng như bờ thành, được xây bằng gạch Bờ hào phía bên ngoài không có gì bao quanh Hào của thành và hào của hình bán nguyệt luôn luôn có nước, sâu không quá 1,2 hoặc 1,3m, không có bờ dốc nghiêng

Thành thông với bên ngoài bằng 5 cửa, ở khoảng giữa các tường nối 2 pháo

đài, được che chở bằng những hình bán nguyệt Ra vào thành bằng cách đi dưới các cửa vòm và những cửa đó được đóng bằng những cánh cửa gỗ lớn vững chắc Người

ta qua hào trên những cầu xây … Cầu không có cầu kéo lên Những cầu này dẫn

đến giữa những hình bán nguyệt Con đường ngắn đổi hướng sang phải và đi ra khỏi các công trình này ở ngoài trời được gìn giữ cẩn thận trong những mặt bên phải và gần cửa thành Những con đường qua lại này có cửa bằng gỗ, hiện thời đang trong tình trạng rất xấu (gỗ lâu đời đã mục, mọt) Người ta vượt qua những hào bán nguyệt cũng như vượt qua hào chính bằng những cây cầu xây bằng gạch không có cầu kéo lên”(22)

Trong cuốn “Chuyến đi Bắc Kỳ” năm 1876, Trương Vĩnh Ký (một viên chức

người Việt làm việc cho chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ thời đó) viết:

“Trong nội có hành cung chính điện hai toà, có tả vu, hữu vu; mặt sau có ba toà

điện, hai bên có tả vu, hữu vu Sau điện có lầu Tĩnh Bắc, bốn bề xây tường gạch; trước chính điện sân xây đá xanh, có bậc đá rồng lộn 9 bậc mà lên điện Ra ngoài có lầu Ngũ Môn, đề chữ Đoan Môn, nhà Lý để lại” “Qua lầu Ngũ Môn đến Kính Thiên, đền ấy nền cao lắm, có 9 bậc xây đá xanh, hai bậc có hai con rồng lộn đầu xuống, cột đều lớn trót ôm, tinh những là gỗ lim cả Ngó ra đằng sau còn thấy một hai cung điện cũ, chỗ vua Lê thủa xưa, bây giờ hư tệ, còn tích lại đó mà thôi(23)

Trong cuốn “Bắc Kỳ trong cuộc chinh phục” (1884 - 1885), Prederic Garcin,

một sĩ quan hải quân Pháp, đến Hà Nội vào tháng 5 năm 1885, viết: “Chúng tôi đến ngôi chùa Tinh Thần của Vua(24) Đấy là một kiệt tác của nền kiến trúc An Nam Trên nóc có những con rắn(25) bằng đá trải dài về bốn góc mà cái nền thì rất là cổ kính Người ta đi đến đấy bằng những bậc thềm rộng Ba dẫy thềm cùng một hướng

và chung quanh được bọc bằng những con rồng to bằng đá Hai chân trước có vuốt

22 André Masson, Hanoi Pendant la periode heroique (1873 - 1888), Paris, 1929, tr 56 - 58

23 Trương Vĩnh Ký, Voyage au Tonkin ne 1876, dẫn trong “Hà Nội xưa nay” của Biệt Lam - Trần Huy Bá,

1956 (ký hiệu VĐ 53, Viện TTKHXH)

24 Tức điện Kính Thiên

25 Tức là con rồng

Trang 38

rất to Từ trên những cái đầu khổng lồ, mõm há rộng và hai mắt mở to Hình như chúng đang rình mồi và chúng sẵn sàng chồm tới Những cái vẩy trên lưng rồng

được dùng làm bệ tì của các bậc thang và đuôi cong lên đến mặt của nền ngôi chùa”(26)

Trong cuốn “Hà Nội trong những giai đoạn anh hùng” (1873 - 1888), Andre

Masson, dẫn đoạn mô tả tỉ mỉ về cửa Đoan Môn, điện Kính Thiên và Cột Cờ của Dumoutier đăng trên tạp chí Revue indochinoise 1901 như sau:

“Bên trong, thành gồm có, ở giữa có nhiều vườn rộng, ao và ruộng lúa, 3 nhóm nhà chính, ở giữa, chùa Nhà Vua(27) và tháp Vọng Lâu(28); phía Tây có những kho chính; phía Đông có nhà ở và nơi làm việc của các quan đại diện cho nhà vua ở trong tỉnh

Chùa Nhà Vua dựng lên ở chỗ lâu đài của triều đại nhà Lý, do Lý Thái Tổ dựng lên đầu thế kỷ XII của kỷ nguyên chúng ta, ở một nơi được lựa chọn với lý do

có nhiều điều kiện kỳ diệu nhất về địa lý và có những bảo vệ màu nhiệm chở che chống lại những ảnh hưởng xấu Người ta ngạc nhiên nhìn đến mặt bằng, rằng chùa Nhà Vua không hoàn toàn ở trong cái trục của thành, mà hướng chính là Bắc - Tây Bắc - Nam - Đông Nam

“Chùa Nhà Vua được bao bọc bằng tường vây, hình chữ nhật mà vài cửa đã

được gìn giữ Chùa Nhà Vua bao gồm từ Nam đến Bắc, ba tòa nhà: cửa Đoan Môn,

điện Kính Thiên và Hậu Lâu Toà thứ nhất trong ba toà ấy là toà duy nhất được giữ lại trong tổng thể của nó, bao gồm một lối vào đền đài có mở 5 cửa lớn, mà 3 cửa chính hiện được xây tường ở trên cái nền vững chắc bằng gạch dựng lên một vọng lâu kiểu Trung Hoa có 2 tầng mà hình dáng đã bị làm xấu đi bởi một hành lang và cánh cửa sổ Một bản vẽ được thực hiện năm 1888 đã thể hiện dáng vẻ của mặt Nam

mà người ta có thể có được với bức ảnh mới đây của mặt Bắc Phía trên cổng chính mặt Nam, người ta còn đọc được hàng chữ: Đoan Môn (cửa chính)

Toà nhà chính giữa, Kính Thiên (kính trời) được dựng trên một cái gò thiêng, núi Nùng, đã hàng thế kỷ được coi như một thứ tượng thần của đô thành, là một công trình nghệ thuật kiến trúc An nam ở những góc mái nhà có những con rắn bằng đá dài, ở sống lưng có vảy răng cưa Đầu rắn ngẩng lên ở bốn góc của đền”

ở giữa, những cột rất cao, to bằng người ôm, tất cả đều bằng gỗ lim” (Petrus

Ky, Chuyến đi Bắc kỳ năm 1876 B.E.F.E.O 8o 3021 trang 7) Điện Kính Thiên đã

bị phá huỷ năm 1886 để làm toà nhà của ban chỉ huy pháo binh hiện nay Bù lại, những bậc thềm rất đẹp hiện vẫn còn và những con rồng đỏ đồ sộ cuốn dọc theo

26

Prederic Garcin, Au Tonkin pendant la conquête (1884 - 1885), Paris, 1891, tr 48

27 Chùa Nhà Vua (Pagode royale), chỉ điện Kính Thiên

28 Tức Cột Cờ

Trang 39

những bậc lên xuống từ thời Lý, theo một truyền thống mà Maspero đã cho biết (Maspéro -Loco-cil p.558) Cũng đáng ngờ là những con rồng ở bậc thềm lăng Gia Long ở Huế cho phép quy định sự rất giống nhau về những con rồng đầu thế kỷ XIX, như phần còn lại của thành

Còn toà nhà thứ ba, Hậu Lâu(29), gọi một cách không chính xác là “Chùa các bà”, đã bị đổ nát từ 1876 khi Petrus Ký ra thăm Hà Nội, đã làm lại hoàn toàn mới để làm chỗ ở cho quân sự

ở phía Nam và trong trục của chùa Nhà Vua có dựng một tháp cao mà chúng tôi gọi chung là vọng lâu và người An Nam gọi là “Cột Cờ” một cách văn vẻ “cái trụ của cờ”, vì ở đó ngày trước người ta cắm cờ vàng của Hoàng đế vào những ngày hội

hè (B.E.F.O ms A81, fol2) do Gia Long xây dựng năm 1812 (B.E.F.O ms A81, fol2)(30) là một công trình xây dựng được giữ gìn cẩn thận nhất của thành, bao gồm ở phía dưới 3 bệ đất hình chữ nhật(31) to dần ra Bệ dưới cùng đo được 42m và bệ trên cao có cạnh dài 15m

Những cửa của bệ đất thứ hai hiện còn, trừ một mặt với những chữ cũ tượng hình:

- Cửa Đông “Nghênh Húc” (nhận ánh sáng bình minh)

- Cửa Nam “Hướng Minh” (quay về phía ánh sáng)

- Cửa Tây “Hồi Quang” (quay lại những tia sáng)

Bệ đất thứ ba dựng một tháp hình bát giác, người leo lên đỉnh tháp bằng cầu thang riêng Hiện nay, chỉ một cầu thang dùng được ở phía trên cửa ra vào, người

ta còn đọc được dòng chữ “Kỳ Đài” (tháp treo cờ)

Những kho chính, ở đó người ta chứa các loại thuế thu bằng hiện vật Những kho này ở về phía Tây, ngày nay là chỗ trường An-be Xa-rô Những kho đó chia ra từng vựa lúa, dùng để trả lương bằng hiện vật cho một số công chức và phân phối công cộng Kho bạc chứa tiền và các thỏi bạc Phần chứa trong các kho đó được giao cho Quan Bố(32) và chỗ làm việc của họ được đặt cạnh cửa Bắc Các quan to khác, tổng đốc, tuần phủ, quan án và đề đốc có dinh thự của họ ở khoảng giữa của thành Dinh tuần phủ hồi 1873 là nơi ở của thống đốc Nguyễn Tri Phương, đại diện của Hoàng Đế

Chạy dài theo thành cổ, người ta còn thấy các bãi tập quân sự Hiện nay gần công sở tài chính có các chuồng voi, dưới chân vọng lâu Nhà tù, ở góc Đông - Bắc,

29 Tức lầu Tĩnh Bắc

30 Chính sử không chép thời gian xây Cột Cờ, Đại Nam Nhất Thống Chí chép gộp vào việc xây thàh năm

1805 Long Biên Bách Nhị Vịnh chép năm 1806 Không rõ trường Viễn Đông Bác Cổ nói xây năm 1812 là căn cứ vào đâu?

31 Trên thực địa là hình vuông

32 Tức Quan Bố chính

Trang 40

trường bắn, kho binh khí và nhiều chùa khác, nhất là chùa Khán Sơn trên quả đồi nhân tạo mang cùng tên, phía sau những kho của tỉnh, Vũ Miếu đền của thần chiến tranh, cuối cùng, gần vọng lâu, một đền nhỏ (đền bà Liễu Hạnh) ẩn dưới một cây đa lớn, một loại cây to, có những cành rất kỳ lạ, có rễ rủ xuống như những cái rào, leo cuốn từ hàng thế kỷ trong những hướng người ta muốn và đạt được một cách kiên nhẫn, cùng thể hiện lên những con rồng và cuốn bám chặt vào như những con rắn

Có những cái cột thẳng đứng đỡ một cái dàn bằng lá cây cuốn leo gợi lên hình dáng những cái ngai, những bàn thờ, tất cả những cái đó bao trùm một khoảng rộng năm mươi bước chân trong tất cả các hướng” (trang 60 -56)

Từ những đoạn ghi chép trong sử sách đời Nguyễn, hồi ký của người Pháp, ta biết:

- Thành Hà Nội đời Nguyễn được xây dựng trên nền cũ của thành Thăng Long

- Thành Thăng Long vẫn ở nguyên vị trí từ khi xây dựng (1010) đến khi bị phá bỏ (1805) với quần thể kiến trúc trên trục tâm của Cấm thành: điện Kính Thiên

- Long Trì - Đoan Môn - Tam Môn

- Di tích của thành Thăng Long là điện Kính Thiên và cửa Đoan Môn, hai kiến trúc chính của quần thể kiến trúc cung điện trong cấm thành được nhà Nguyễn sửa làm “hành cung” và được bao bọc bằng một bức tường gạch

- Thành Hà Nội hình vuông Tường thành xây bằng gạch, cao chừng 5m cấu trúc liên hợp tường thành rồi pháo đài

- Thành mở 5 cửa Đông, Tây, Bắc, Đông Nam và Tây Nam Mỗi cửa thành

đều được che chở bằng một mang cá gọi là Lăng giác thành Cửa thành nối với mang cá bằng những cầu vòm xây bằng gạch Từ mang cá ra ngoài bằng một cửa ngách ở phía bên phải, không có mái che

- Trên đường trục của tâm thành, từ nam lên bắc, là Cột Cờ - cửa Đoan Môn -

điện Kính Thiên

- Chùa Khán Sơn, xây trên một quả đồi phía sau kho tàng thành Hà Nội, nay

là khu vực bãi cỏ trước cửa trường An-be Xa-rô cũ

II Thành Hà Nội thời Nguyễn qua các bản đồ cổ

Thế kỷ XIX, Hà Nội là thủ phủ của Bắc thành trấn (1802-1830) Năm 1831 Minh Mệnh quyết định chia cả nước thành 31 tỉnh trong đó Hà Nội là một trong 31 tỉnh của toàn quốc

Năm 1873 và 1883, người Pháp 2 lần tấn công Hà Nội Năm 1888 Đồng Khánh ký sắc lệnh công bố Hà Nội là đất nhượng địa của Pháp thì số phận Hà Nội

Ngày đăng: 15/05/2014, 15:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê các khoa thi tiến sĩ và số ng−ời đậu tiến sĩ - Chuyên đề : Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long thời nhà Nguyễn
Bảng th ống kê các khoa thi tiến sĩ và số ng−ời đậu tiến sĩ (Trang 143)
Bảng so sánh số l−ợng, tỉ lệ Cử nhân Thăng long - Hà Nội thời Nguyễn - Chuyên đề : Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long thời nhà Nguyễn
Bảng so sánh số l−ợng, tỉ lệ Cử nhân Thăng long - Hà Nội thời Nguyễn (Trang 172)
Bảng thống kê số lượng đỗ Cử nhân của các trường thi thời Nguyễn. - Chuyên đề : Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long thời nhà Nguyễn
Bảng th ống kê số lượng đỗ Cử nhân của các trường thi thời Nguyễn (Trang 186)
Bảng so sánh số l−ợng, tỉ lệ Cử nhân Thăng long - Hà Nội thời Nguyễn. - Chuyên đề : Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long thời nhà Nguyễn
Bảng so sánh số l−ợng, tỉ lệ Cử nhân Thăng long - Hà Nội thời Nguyễn (Trang 187)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm