1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề : Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long Hà Nội thời nhà Lý

195 565 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long - Hà Nội
Tác giả Nhóm tác giả gồm: PGS-TS Trịnh Khắc Mạnh, TS Nguyễn Cụng Việt, TS Phạm Văn Thắm, TS Đinh Khắc Thuận, TS Trương Đức Quả
Trường học Viện Nghiên Cứu Hán Nôm
Chuyên ngành Lịch sử, Xây dựng đất nước, Quản lý hành chính
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà Lý, với thời gian hơn hai trăm năm nắm giữ vương quyền củng cố và xây dựng nước Đại Việt, các vương triều nhà Lý bên trong phải giữ vững quyền lực của vương triều, quyền lợi của các

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC XÃ HỘI CẤP NHÀ NƯỚC KX.09

"Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

và giá trị lịch sử - văn hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,

phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô"

-

ĐỀ TÀI KX.09.08: "Phát triển khoa học và

trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà Nội"

***************

ĐỀ TÀI NHÁNH 1:

PHÁT TRIỂN KHOA HỌC

VÀ TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI

Ở THĂNG LONG THỜI NHÀ LÝ

Thực hiện: Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trang 2

MỤC LỤC

1 Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long thời nhà Lý

(Báo cáo khoa học tổng hợp của Nhánh)

PGS-TS Trịnh Khắc Mạnh

2 Chuyên đề 1: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong

lĩnh vực xây dựng ở Thăng Long thời nhà Lý

TS Đinh Khắc Thuân

3 Chuyên đề 2: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong

lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Thăng Long thời nhà Lý

TS Đinh Khắc Thuân

4 Chuyên đề 3: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong

lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở Thăng Long thời nhà Lý

TS Phạm Văn Thắm

5 Chuyên đề 4: Những đặc trưng của giáo dục, văn hoá, xây dựng nếp

sống xã hội trong thời nhà Lý

Trang 3

thời nhà Lý

TS Đinh Khắc Thuân

8 Chuyên đề 7: Những khoa thi trong thời nhà Lý

TS Nguyễn Công Việt

9 Chuyên đề 8: Những giá trị truyền thống và bài học về trọng dụng

nhân tài của Thăng Long trong thời nhà Lý

TS Nguyễn Công Việt

10 Chuyên đề 9: Những nhân tài nổi bật ở Thăng Long thời nhà Lý PGS-TS Trịnh Khắc Mạnh

Trang 4

Thăng Long là đất ngàn năm văn vật, đến thế kỷ thứ XI, vào năm 1010, khi

Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long thì nơi đây trở thành thủ đô của nước

Đại Việt gần mười thế kỷ Nhà Lý, với thời gian hơn hai trăm năm nắm giữ vương quyền củng cố và xây dựng nước Đại Việt, các vương triều nhà Lý bên trong phải giữ vững quyền lực của vương triều, quyền lợi của các vương hầu, quý tộc quan lại,

mở mang phát triển kinh tế, văn hoá; bên ngoài phải thường xuyên đối phó với các cuộc xâm lược của nhà Tống ở phía Bắc và Chiêm Thành, Chân Lạp ở phía Nam;

đồng thời đưa đất nước tiến lên một bước nhất định trên con đường phát triển kinh

tế, văn hoá là thành tựu to lớn của nhà Lý trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

1- Tổ chức Nhà nước

Ngay từ những năm đầu liên tiếp thu vương quyền từ nhà Tiền Lê, Lý Công Uẩn đã lập tức có những chính sách để xây dựng thiết chế quyền lực tạo những bước tiến mới so với thời kỳ trước đó nhằm xây dựng một Nhà nước quân chủ, tự chủ vững mạnh

Sau khi kinh đô Thăng Long tạm ổn định: Tháng 12 năm 1010 Lý Công Uẩn quyết định đổi 10 đạo hành chính trước đó chia thành 24 lộ, đổi tên gọi Châu (Hoan), Châu (ái) thành trại Bước cải cách chia đặt các đơn vị hành chính từ buổi

đầu này đã được duy trì suốt thời kỳ nhà Lý

Trang 5

Về cơ cấu mô hình tổ chức Nhà nước, nhà Lý tiếp thu mô hình tổ chức Nhà nước của nhà Tiền Lê Mô hình này chịu ảnh hưởng cơ cấu tổ chức Nhà nước của nhà Đường, Tống Trung Quốc

Để quản lý các công việc chuyên môn, có các Bộ chuyên trách, buổi đầu nhà

Lý chưa phân đặt đủ 6 Bộ (Binh, Lại, Công, Hình, Lễ, Hộ) Bên cạnh đó nhà Lý đặt thêm Viện khu mật (cơ quan chuyên tư vấn giúp vua bàn định những chính sách quan trọng của đất nước) và Viện Hàn lâm (cơ quan lo các việc soạn thảo Công văn giấy tờ, chiếu biểu và một số việc khác) Ngoài ra còn một số các cơ quan chuyên môn quy mô nhỏ khác

Quan chức trong bộ máy Nhà nước thời kỳ cũng đã được định ngạch khá rõ ràng gồm có 9 phẩm, từ Nhất phẩm đến Cửu phẩm, có Chánh và Tòng, như vậy thực chất có 18 bậc, phân định theo hai ngạch chính: ngạch văn và ngạch võ Đứng đầu ngạch văn, buổi đầu đặt chức Tướng Công, sau đổi tên là: Kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự; thứ đến là quan chức các Bộ và các đơn vị hành chính

Trong thời nhà Lý đã có một số Thiền sư có trình độ học vấn được mời tham gia vào việc họạch định các chính sách đối nội và đối ngoại của nhà Lý Năm 1072

Lý Nhân Tông vừa lên nối ngôi đã có chỉ dụ: Chọn các sư hay thơ và người giỏi chữ nghĩa trong tăng quan để bổ dụng Năm 1088 phong nhà sư Khô Đầu làm Quốc sư

để hỏi việc nước

2- Tư tưởng chính trị:

Thời nhà Lý đã có sự tiếp thu cả ba hệ thống tư tưởng Phật giáo, Nho giáo và

Đạo giáo.Tuy nhiên thực tế lịch sử cho thấy tư tưởng Phật giáo ở thời kỳ này chiếm

ưu thế chủ đạo Thời nhà Lý Phật giáo trở thành “Quốc đạo” Các vua quan thời nhà

Lý rất tin sùng đạo Phật, họ đã cho xây dựng rất nhiều chùa tháp ở rất nhiều nơi trong toàn quốc Điều này cũng lý giải những tác phẩm văn học của thời Lý còn lại

đến nay đa phần tuyên truyền giáo lý, hoặc mang nặng tư tưởng Phật giáo

Trang 6

Tuy nhiên sau mấy chục năm xây dựng vương quyền các vua nhà Lý tiếp theo cũng đã nhận thức được sự hạn chế của đạo Phật trong mục tiêu xây dựng một Nhà nước phong kiến tập quyền vững mạnh Mặc dù tin sùng đạo Phật nhưng họ đã nhận thấy ở Nho giáo có những tác dụng thực tế hơn trong việc xây dựng một Nhà nước phong kiến cường thịnh và một xã hội ổn định

3- Những thành tựu nổi bật về kinh tế, giáo dục và văn hoá thời nhà Lý

a- Về ứng dụng khoa học dể phát triển kinh tế:

đây, các nhà khảo cổ còn phát hiện và sưu tập được một số lưỡi cầy ở nhiều vùng

thuộc tỉnh Hà Tây giống như lưỡi cầy Cổ Loa, điều này cho thấy các nhân tố kỹ

thuật canh tác mới đã được áp dụng vào trong sản xuất

Việt Nam nằm trên đường giao lưu giữa 2 nền văn minh lớn của thế giới: nền văn minh ấn Độ và văn minh Trung Hoa nên đã tiếp nhận được nhiều tinh tuý của hai nền văn minh ấy, trong đó có các tri thức về sản xuất nông nghiệp Thông qua chữ viết ( chữ Hán được sử dụng rộng rãi hơn), chúng ta có thể biết được trình độ

Trang 7

khoa học và việc ứng dụng khoa học của nước nhà qua mỗi thời đại Trong kho thư tịch cổ của Việt Nam không có một chuyên khảo nào viết về nông nghiệp thời Lý Nhưng qua các nguồn tư liệu ít ỏi, chúng ta cũng có thể chắt lọc những cứ liệu có liên quan đến lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn này:

Mùa xuân năm Canh Tý, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, nhà vua nhận thấy thành Hoa Lư chật hẹp nên đã xuống chiếu cho dời đô Trong bài chiếu dời đô, nhà vua đã nhắc số lần dời đô của các vương triều cổ đại của Trung Quốc từ nhà Thương đến

đời Thành vương Mục đích của việc dời đô không phải là theo ý riêng tư mà là để mưu nghiệp lớn, làm cho dân cư khỏi khổ vì tối tăm, muôn vật có điều kiện phát triển tươi tốt phồn thịnh Qua nội dung bài chiếu, ta thấy Lý Công Uẩn rất coi trong vận dụng các tri thức điều hành đất nước của nước Trung Hoa cổ vào thực tiễn nước nhà trong đó có nông nghiệp Ngay sau khi nhà vua dời đô, liền năm đó nhà vua

xuống chiếu truyền cho cho kẻ trốn tránh phải về quê ( Đại Việt sử ký toàn thư

Nxb.KHXH.H 1998) Con người được an cư là yếu tố đầu tiên mà nhà vua quan tâm cho thấy một phần chính sách của nhà vua đối với việc ổn định cuộc sống cho

người dân Các vua kế nối đều theo tinh thần của vua cha Theo Đại Việt sử ký toàn

thư [ bản khắc in năm Chính Hoà 18 (1697)] vào các năm 1032, 1038, 1043, nhà

vua đích thân đi cầy ruộng tịch điền, năm 1042 xuống chiếu phạt kẻ ăn trộm trâu cày 100 trượng, năm 1056 xuống chiếu khuyến nông Tất cả những điều ghi chép trên cho thấy sự trọng nông của nhà Lý Tư tưởng trọng nông đã được thể hiện trong

bài văn khắc trên tấm bia ( Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế sùng thiện diên linh tháp

bi) dựng năm Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121) trên đỉnh núi Đọi ( nay thuộc xã Đọi Sơn

huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam) Nội dung bài văn khắc trên bia ca ngợi Lý Nhân tông, một ông vua ở ngôi trị vì 56 năm, luôn phấn đấu cho sự toàn vẹn lãnh thổ của

đất nước, cho sự phồn vinh của dân tộc

Thời kỳ này ruộng đất, chủ yếu tập trung trong tay các tầng lớp quý tộc của Hoàng tộc và quan lại Để tạo điều kiện tốt hơn cho sản xuất nông nghiệp, Nhà Lý

đã chú trọng việc đắp đê, ngăn lũ lụt và đào sông Năm 1029 Lý Thái Tông cho đào

Trang 8

kênh Đãn Nãi ở châu ái (Thanh Hoá ngày nay) Năm 1108 Lý Nhân Tông sai đắp đê

ở phường Cơ Xá (đê Phúc Xá Hà Nội ngày nay) Năm 1192 Lý Cao Tông cho đào sông Tô Lịch Để bảo vệ sản xuất nông nghiệp, những năm 1117, 1123 Lý Nhân Tông ra lệnh cấm giết mổ trâu ăn thịt

+/ Phát triển các ngành nghề thủ công

Thủ công nghiệp thời Lý bao gồm hai bộ phận, một của tư nhân, một thuộc về nhà nước Lực lượng lao động trong thủ công nghiệp nhà nước là thợ bách tác Sản phẩm làm ra là của nhà vua và hoàng cung Họ làm các việc như đúc tiền, chế tạo binh khí, chiến thuyền và các đồ dùng như tơ lụa và phẩm phục của triều đình Nhà nước có kho riêng như quyến khố ty là ty coi kho tơ lụa của triều đình Sản phẩm của họ làm ra được áp dụng kỹ thuật cao, khá tinh xảo, nhưng chủ yếu không phải

để trao đổi trên thị trường Nhiều công trình kiến trúc và điêu khắc thời Lý do triều

đình tổ chức xây dựng có kiểu dáng gần giống về quy mô và phong cách là các nghệ nhân, thợ bách tác làm ra Năm 1145, nhà vua cấm các thợ bách tác không được làm

đồ dùng theo kiểu của nhà nước tự tiện bán cho dân gian (Toàn thư, t.1, tr.316)

Thủ công nghiệp tư nhân thì khá phổ biến Sản phẩm của họ làm ra để tự túc hay trao đổi trên thị trường Trong số họ có thợ chuyên nghiệp, hành nghề trong dân gian, đồng thời cũng được cho gọi làm các công trình nhà nước Chẳng hạn thợ khắc bia đá, có người được ghi rõ là tượng nhân (thợ đá), có người chỉ là phường thợ chuyên nghiệp của làng xã nào đó, thậm chí có người chỉ là thợ nghiệp dư của địa phương Sau đây xin nêu lên một số ngành nghề và sản phẩm tiêu biểu của thủ công nghiệp Thăng Long thời Lý

- Tham gia xây dựng kinh đô, thợ nghề và kỹ thuật xây dựng kinh đô thời Lý cũng như trước đây chủ yếu là thợ thủ công, trong đó có loại chuyên nghiệp của nhà nước và các phường thợ trong dân gian Họ được điều động về tham gia xây dựng kinh thành, và các vùng phụ cận Việc xây dựng kinh đô Thăng Long được các

nguồn tài liệu thư tịch ghi chép khá chi tiết, chẳng hạn Đại Việt sử kí toàn thư, bộ sử

Trang 9

của nước Đại Việt thời đó ghi chép như sau: “Năm Canh Tuất Thuận Thiên 1 (1010), mùa thu tháng 7, vua xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức, Lại xây dựng các cung điện trong kinh thành Thăng Long, phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ Sau điện Càn Nguyên dựng hai điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ Dựng kho tàng, đắp thành, đào hào Lại ở trong thành làm chùa ngự Hưng Thiên và tinh lâu Ngũ Phượng Ngoài thành về phía nam dựng chùa Thắng Nghiêm” và “Năm 1024, sửa chữa kinh thành Thăng Long” hay “Năm 1029,

đổi điện Càn Nguyên thành Thiên An, cho mở rộng quy mô Bên tả dựng điện Tuyên Đức, bên hữu dựng điện Diên Phúc, thềm trước gọi là Long Trì (thềm rồng) Bên ngoài đắp một lần thành bao quạnh gọi là Long Thành” v.v

- Cùng trong nghề thổ mộc, thợ thủ công thời Lý đã có kỹ thuật dựng cầu,

đóng thuyền với trình độ kỹ thuật khá cao Thư tịch cổ đã ghi lại rằng năm 1035, xuống chiếu bắc cầu Thái Hòa ở sông Tô Lịch Tháng 9, cầu bắc xong, vua ngự đến xem, sai các quan hầu làm thơ (tr 257) Chúng ta thử hình dung việc bắc một cây cầu qua sông lớn quanh Hà Nội ngày nay phức tạp, khó khăn biết nhường nào mặc

dù đã có khá đầy đủ điều kiện kỹ thuật và nguyên vật liệu hiện đại, thì càng trân trọng tài nghề của thủ công nghiệp thời Lý khi đã bắc được những cây cầu mà được vua sai quan đến làm thơ Việc đóng thuyền cũng là một kỳ công của thợ thủ công thời Lý Tài liệu thư tịch ghi, năm 1037, mùa đông, tháng 12, đóng thuyền Nhật Quang (tr 259) Năm 1043, xuống chiếu đóng các chiến thuyền hiệu Long, Phượng, Ngư, Xà, Hổ, Báo, Anh Vũ hơn vài trăm chiếc (tr 265) Năm 1119, tháng 7, đóng 2 chiếc thuyền Cảnh Hưng và Thanh Lan Xuống chiếu cho các quân đóng thuyền chiến, sửa đồ binh giáp, vua muốn thân đi đánh động Ma Sa (tr 289) Năm 1173,

đóng thuyền Ngoạn thủy (tr 325) Rất tiệc là các sản phẩm này ngày nay không còn, song thuyền bè được vua ngự dùng đi chinh phạt nơi xa, hẳn đã được làm khá vững chắc đảm bảo vượt trùng dương, chống được sự tấn công của kẻ thù

Trang 10

- Nghề đúc đồng và nghề khai thác khoáng sản, hiện chưa có tài liệu cụ thể nào ghi chép việc khai thác khoáng sản, nhất là khai thác mỏ vàng, bạc Song thực

tế lượng vàng, bạc, đồng có được để đúc tượng Phật và làm đồ trang sức là vô cùng

to lớn Thời đó đã biết khai thác vàng, bạc và đồng, nhưng chủ yếu khai thác thủ

công, lộ thiên Các tài liệu thư tịch ghi chép khá sinh động về sản phẩm này Đại

Việt sử ký toàn thư (Toàn thư) chép: Năm 1010, phát bạc ở kho 1.680 lạng để đúc

chuông lớn treo ở chùa đại Giáo (tr 242) Năm 1014, Mùa thu, tháng 9 xuống chiếu phát 310 lạng vàng trong kho để đúc chuông treo ở chùa Hưng Thiên Mùa đông, tháng 10, xuống chiếu phát trăm lạng bạc trong kho để đúc hai quả chuông treo ở chùa Thắng Nghiêm và tinh Ngũ Phượng Đắp thành đất ở bốn mặt kinh Thăng Long (tr 244) Năm 1033, xuống chiếu đúc quả chuông một vạn cân để ở lầu chuông Long Trì (tr 256) Năm 1056, làm chùa Sùng Khánh Báo Thiên, phát 1 vạn

2 nghìn cân đồng để đúc chuông lớn Vua thân làm bài minh (tr 270) Năm 1080, mùa xuân, đúc chuông lớn cho chùa Diên Hựu Chuông đúc xong, đánh không kêu, nhưng cho rằng nó đã thánh khí, không nên tiêu hủy, bèn đem bỏ ở Quy điền (ruộng rùa) của chùa Ruộng ấy, thấp ướt, có nhiều rùa, người bấy giờ gọi là chuông Quy

điền (tr 281) Năm 1040, sai tạc hơn nghìn pho tượng Phật, vẽ hơn nghìn bức tranh Phật, làm bảo phướn hơn 1 vạn lá (tr 262) Năm 1041, vua sai phát 7.500 cân đồng trong kho để đúc tượng Phật Di lặc và hai vị Bồ tá Hải Thanh và Công Đức cùng chuông để vào viện ấy (tr 262) Năm 1135, vua ngự đến quán Ngũ Nhạc để khánh thành tượng Tam tôn bằng vàng bạc (tr 308) Năm 1137, Lý Công Tín dùng 1 khối vàng sống nặng 47 lạng

Làng đúc đồng Ngũ Xã thờ vị tổ nghề là Nguyễn Minh Không và Dương Không Lộ, đây cũng là hai vị tổ nghề đúc đồng cả nước Nghề đúc đồng ở Việt Nam xuất hiện từ rất sớm, từng hưng thịnh ở thời Đông Sơn với sản phẩm trống đồng độc

đáo, song về sau chính hai ông có công lớn phát triển nghề đúc đồng rực rỡ từ thời nhà Lý Hai vị này vốn là hai nhà sư sống cùng thời vào đầu thời Lý, tương truyền nhờ có túi thần mà hai ông đã mang hết kho đồng ở Bắc quốc về dạy cho dân đúc ra

Trang 11

An Nam tứ khí - bốn đồ vật quý nước Nam là Chuông Quy Điền (chùa Một Cột), vạc Phổ Minh (Nam Định), đỉnh tháp Báo Thiên, chuông chùa Quỳnh Lâm 1 Đúc

đồng là một quá trình gia công nóng bao gồm nhiều giai đoạn và nhiều thao tác kỹ thuật đòi hỏi độ chính xác cao Trong điều kiện Việt Nam xưa kia, người thợ chủ yếu sản xuất theo phương thức cá thể, từng gia đình và hoàn toàn làm theo cách thủ công Qua các khâu: Chọn nguyên liệu, làm khuôn, làm nồi đúc, dựng lò đúc và làm nguội Cùng với nghề đúc đồng, là nghề khảm chạm của thợ thủ công ở Thăng Long thời Lý khá nổi tiếng Các phường thợ ở đây được triều đình sức làm các đồ nghi trượng tinh xảo, như năm 1035, mùa thu, tháng 4, xuống chiếu làm chiếc ghế chéo hình bát giác thếp vàng (Toàn thư, tr 257) Năm 1122, chế dải mũ bằng bạc sung vào đồ nghi trượng, năm 1123, sai làm chiếc lọng che mưa cán cong (tr.291)

- Về nghề dệt, tài liệu cổ còn ghi chép: Năm 1013 vừa lên ngôi được 3 năm, vua Lý Thái Tổ đặt thuế khóa trong cả nước, trong đó có thuế bãi dâu, một nguồn thu nhập quan trọng của triều đình Có nghĩa là nghề dệt tơ lụa đã phổ biến, trồng dâu nuôi tằm đã chiếm một diện tích ruộng đất khá lớn Nghi Tàm chính là tên của làng đã mang nghĩa của sự phồn thịnh của nghề nuôi tằm dệt lụa Thần tích địa phương này cho biết thần làng cũng là tổ nghề trồng dâu nuôi tằm là bà Từ Hoa, con gái vua Lý Thái tông, bởi chính bà đã dạy cho dân vùng này biết trồng dâu dệt vải

Toàn thư ghi: Năm 1040, vua sai dạy cung nữ dệt được gấm vóc Phát gấm vóc

trong kho ra để may áo ban cho các quan, từ ngũ phẩm trở lên thì áo bào bằng gấm,

từ cửu phẩm trở lên thì áo bào bằng vóc, để tỏ là vua không dùng gấm vóc của nước Tống nữa (tr.261) Điều đó chứng tỏ, nghề dệt, may dưới thời Lý đã đạt đến trình độ cao, có thể thay thế được sản phẩm thường phải nhập từ triều Tống Chính sau đó tơ lụa do người Việt Nam làm ra là một trong vật phẩm dùng trong lễ tiến cống nhà

1 Tục truyền: Nước An Nam có bốn vật là: tháp Báo Thiên, bụt Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh, chuông Quy Điền không muốn mất sự thực nên ghi lại từ đầu Đó cũng thấy được việc làm cho dân vất vả (Bụt Quỳnh Lâm: Bụt đặt tại chùa Quỳnh Lâm tỉnh Hải Dương, nay đã mất Vạc Phổ Minh: Tục truyền vạc này

do Nguyễn Minh Không lấy đồng đúc đặt ở chùa Phổ Minh, Nam Định, nay đã mất Chuông Quy Điền: Chuông đúc thời Trần Nhân Tông, đúc xong đánh không kêu bèn thả xuống ruộng sâu ở trước chùa Diên

Hựu Ruộng này có rất nhiều rùa nên gọi tên như vậy) Đại cương Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục,

Trang 12

Tống Thư tịch cổ đã ghi được rằng trong lần tuế cống năm 1156, có tới 850 tấm toàn màu thắm, có hoa hồng cuốn

- Về nghề gốm: Vật liệu xây dựng, khá đa dạng, trong đó tiêu biểu là đất nung, gốm trang trí cao cấp Gạch ngói làm vật liệu xây dựng có số lượng lớn, loại hình đa dạng, chất lượng cao Ngày nay chúng ta tìm lại được khá nhiều viên gạch

cỡ lớn trên đó có ghi niên hiệu vua Lý, có loại vuông 35 x 35 x 6 cm, có loại gạch hình tròn hay hình chữ nhật có đường kính khoảng 25cm Chúng thường có hoa văn trang trí như rồng, cúc dây, hoa sen, tượng Phật khá sinh động Gốm hoa nâu, men trong suốt, được sử dụng tiêu biểu trong trang trí chùa tháp Diên Hựu và tháp Sùng Thiện Diên Linh Điều này được văn bia chùa tháp Sùng Thiện Diên Linh ghi lại như sau: Sở chùa Diên Hựu ở sân trước cầu xây dựng tháp báu lưu li

Sưu tập đồ gốm thời Lý phát hiện tại di tích Hoàng thành đã đem lại nhiều nhận thức mới về trình độ và kỹ thuật làm gốm của hca ông ta thời kỳ này Bởi lẽ xưa nay, người ta thường chỉ biết đến gốm hoa nâu là do người Việt Nam sản xuất, ngoài ra các loại gốm cao cấp khác như gốm men trắng và men ngọc đẹp và tinh xảo như gốm thời Tống (Trung Quốc) thì hoàn toàn do nhập từ phía Bắc tới Do quan niệm cho rằng thời Lý công nghệ sản xuất gốm sứ ở Việt Nam chưa phát triển, nên những loại gốm men trắng và gốm men xanh ngọc của thời kỳ này đều xếp vào

hệ gốm Tống Thực tế, khu di tích khảo cổ học Hoàng thành phát lộ nhiều gốm sứ cao cấp mà chất lượng không thua kém đồ gốm nhà Tống, trong đó có sản phẩm có chất lượng rất cao, hoa văn tinh xảo, mang tính vương quyền có thể là đồ ngự dụng -

đồ cao cấp dùng cho vua và hoàng tộc Đây có thể là một dòng gốm cung đình được hình thành dưới thời Lý

Đồ gốm men trắng: Nhóm đồ gốm men trắng thời Lý này có nhiều loại, gồm bát, đĩa, đài sen, hộp có nắp, đĩa đèn, mô hình hình tháp Men của những đồ gốm này có độ trắng mịn và óng mượt như gốm Tống và phần lớn đã đạt tới trình độ sứ thời Tống Có một số tiêu bản trắng xanh có hoa văn như gốm Nam Tống ở lò Cảnh

Đức Trấn Sự khác nhau của gốm trắng Tống và gốm trắng thời Lý chủ yếu được

Trang 13

phân biệt qua sắc độ đậm nhạt của màu men hay xương gốm và kỹ thuật chế tác Thêm nữa, các hình trang trí rồng và hoa lá trên gốm gốm Lý có nét riêng cùng phong cách với các bức chạm trên đá ở các kiến trúc khác thời Lý như tháp Chương Sơn, chùa Phật Tích Mảnh bệ tháp sứ trắng trang trí hình rồng và mảnh bệ tháp sứ trang trí hình tiên nữ là minh chứng sinh động sản phẩm gốm sứ của Việt Nam thời nhà Lý, thể hiện một trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất khá cao Ngoài ra còn

có không ít bát đĩa và đồ dùng bằng men sứ khác phát hiện được được ở di tích Hoàng thành trong trạng thái bị méo, hoặc bị cháy do quá lửa Điều đó cho thấy sản phẩm này đã được sản xuất tại chính nơi đây Cụ thể như ở hố khai quật Khu D (Hoàng thành) phát hiện được hàng nghìn mảnh bao nung gốm, cùng nhiều loại con

kê, dụng cụ thử men, đặc biệt là những đồ gốm lớn bị sống men, như chiếc đĩa lớn

có đường kính miệng xấp xỉ 40cm cho thấy khả năng đã có những lò sản xuất gốm thời Lý ở quanh khu vực Hoàng thành Ngoài khu di tích Hoàng thành ra, các nhà Khảo cổ học còn phát hiện được khá nhiều địa điểm có gốm sứ thời Lý ở khu vực

Hà Nội như các khu vực khai quật Quần Ngựa, Vạn Phúc, Ngọc hà, Kim Mã,

Đồ gốm men xanh ngọc: tiêu biểu là nhóm bát, đĩa trang trí văn in hoa cúc dây như kiểu gốm Tống và nhóm bát, đĩa khắc chìm hoa sen mang đặc trưng trang trí thời Lý Đây là loại gốm có chất lượng cao, men phổ biến có màu xanh ngọc sắc

đậm và kỹ thuật tạo chân đế có nhiều điểm khác biệt với gốm thời Trần Đặc trưng phổ biến của loại gốm này là có hoa văn trang trí in khuôn hoặc khắc chìm rất tinh xảo giống như gốm thời Tống Trung Quốc Đồ án hoa sen, hoa cúc dây là đề tài rất

được ưa chuộng Các đề tài này mang đậm yếu tố Phật giáo, bởi đây là thời kỳ cực thịnh của nền nghệ thuật Phật giáo ở Việt Nam Bằng chứng sản xuất tại chỗ của loại gốm này là những phế thải, nhất là mảnh khuôn in hoa cúc dây phát hiện được

ở hố khai quật D6 khu Hoàng thành Hoa văn trên khuôn in này có phong cách như hoa văn trên đĩa men ngọc tìm thấy trong giếng thời Lý cùng khu Hoàng thành

Đồ gốm men xanh lục: Đây là loại gốm đặc biệt cũng được phát hiện ở khu di tích Hoàng thành Gốm có màu men xanh mịn, hoa văn trang trí khá đẹp với các đề

Trang 14

tài hoa lá, rồng được thể hiện rất sinh động, kỹ thuật tinh xảo Tiêu biểu trong số đồ gốm này là nắp hộp gốm phát hiện ở hố A9M là một tiêu bản đặc biệt của gốm men xanh lục phát triển cao ở thời Lý Phong cách chạm khắc trên nắp gốm này tương tự trang trí trên mảng chạm đá trang trí ở tháp Chương Sơn (Nam Định) có niên đại

đầu thế kỷ XII

+/ Xây dựng thành quách, cung điện, đền đài, lăng tẩm

Từ khi dời đô ra Thăng Long, nhà Lý bắt tay vào việc xây dựng kinh thành với các quần thể kiến trúc cung đình, sinh hoạt tôn giáo, văn hoá xã hội và hoạt

động kinh tế Trong các hạng mục công trình này, nổi bật hơn cả là xây dựng kinh thành, đền đài và chùa tháp Những chứng tích hiện còn có thể tìm thấy trong các nguồn thư tịch, cũng như di tích khảo cổ học, nhất là di tích khảo cổ học Hoàng thành tại số 18 Hoàng Diệu, Hà Nội

- Về các công trình kiến trúc, trước hết là quần thể kiến trúc tại kinh thành Thăng Long xưa, được ghi chép khá phong phú trong các nguồn thư tịch cổ Trong

đó, phần lớn các sự kiện xây dựng, mở rộng kinh thành Thăng Long thời Lý đều

được ghi chép trong các bộ sử lớn như Việt sử lược, Đại Việt sử kí toàn thư, chẳng

hạn một đoạn ghi chép sau:

“Tháng giêng, cải nguyên là Thuận Thiên năm đầu (1010) Trong kinh Thăng Long xây điện Triều Nguyên, bên trái dựng điện Tập Hiền, bên phải dựng điện Giảng Vũ, bên trái mở cửa Phi Long, bên phải mở cửa Đan Phượng, chính bắc mở Cao Điện Thềm gọi là Long Trì, trong hai bên Long Trì có hành lang chạy chung quanh Phía sau điện Càn Nguyên, dựng hai điện Long An, Long Thụy, bên trái xây

điện Nhật Quang, bên phải xây điện Nguyệt Minh, đằng sau có cung Thúy Hoa Bốn phía thành mở bốn cửa: Phía Đông gọi là Tường Phù, phía Tây gọi là Quảng Phúc, phía Nam gọi là Đại Hưng, phía Bắc gọi là Diệu Đức ở trong thành lại xây chùa Hưng Thiên, lầu Ngũ Phượng tinh, ở phía Nam thành xây chùa Thắng Nghiêm

(Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, tái bản 2005, H tr.70-71)

Trang 15

Như vậy, nhà Lý đã xây dựng Thăng Long thành kinh đô to lớn và lâu bền cho Đại Việt Quy mô rộng lớn đó đòi hỏi mặt bằng rộng lớn để quy hoạch kiến thiết Vì vậy đã có không ít người dân phải di dời ra ven đô để nhường đất cho triều

đình xây dựng kinh thành Một trong số dấu tích của những cư dân gốc kinh thành xưa ấy là dân châu Cơ Xá, nay thuộc phường Bắc Biên quận Long Biên thành phố

Hà Nội Người dân ở phía bắc, nhưng thực ra vốn ở phía nam rồi sử dụng cả hai bên

bờ sông Hồng, ngay sát kinh thành Thăng Long xưa Nơi đây hiện có ngôi chùa An Xá, có một quả chuông đồng đúc năm Chính Hoà 11 (1690) Trên 4 ô lớn phía trên chuông và cả một phận trong lòng chuông khắc lại các sắc chỉ từ đời vua Lê Hồng

Đức thế kỷ XV đến nhà Mạc niên hiệu Quảng Hoà 4 và 5 (1544, 1545), cùng các chúa Trịnh vào niên hiệu Vĩnh Tộ, Đức Long, Phúc Thái, Thịnh Đức và Chính Hoà (thế kỷ XVII-XVIII) Các sắc chỉ khắc trên chuông chùa An Xá này cho biết người dân Cơ Xá vốn sống trong nội thành, đã nhường đất để vua Lý Thái Tổ xây dựng kinh thành Thăng Long, mà dời đến bãi Cơ Xá ở giữa sông, sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm và chở đò Các đời vua đều ban sắc miễn trừ sưu thuế và binh dịch cho dân phường Cơ Xá này Nơi đây cũng chính là quê của Lý Thường Kiệt mà tên thật của ông khi nhỏ là họ Ngô Thủa nhỏ ông từng sinh sống, học hành ở đây Người dân Cơ Xá ngay sau khi chuyển đến bãi sông, đã gặp nhiều trở ngại trong các mùa nước lớn, nên thường qua lại sinh sống ở hai bờ Nam, Bắc sông Hồng Trải nhiều

đời, đến thời Lê trở đi người dân Cơ Xá định cư ở phía Bắc sông, mà ngày nay còn

có tên gọi Bắc Biên Các công trình kiến trúc ở Thăng Long ngay sau đó tiếp tục

được mở rộng quy mô, trong đó có một số hạng mục công trình kiến khác được xây mới

Thăng Long là kinh đô, được bao bọc bởi các thành luỹ Vì vậy các vòng thành được nhiều lần bồi đắp Chẳng hạn, năm 1014, đắp thành đất ở bốn mặt kinh thành Thăng Long Năm 1028, trong loạn ba Vương thành bị hư hại, nên năm 1029 xây dựng lại điện Càn Nguyên rồi đổi thành Thiên An, xây dựng thêm một số cung

điện mới và bên ngoài đắp thành gọi là Long Thành; đến năm 1078 sửa lại thành

Trang 16

Đại La Như vậy, cấu trúc thành Thăng Long thời Lý đã dần dần hình thành ba vòng thành khác nhau, bao bọc lẫn nhau:

Vòng ngoài cùng là Đại La hay La Thành bao bọc quanh toàn bộ Hoàng thành Cấm thành và khu dân cư của kinh thành Đại La có nhiều cửa như Triều

Đông (cuối phố Hàng Than), Đoài Môn, cửa Trường Quảng (Ô Chợ Dừa) thời Lý

Hoàng thành là vòng thành bao quanh các kiến trúc cung điện nơi vua, Hoàng tộc và triều đình làm nơi sinh sống, làm việc, nghỉ ngơi và bao quanh cả khu Cấm Thành Hoàng thành thời Lý mở 4 cửa chính: Diệu Đức (Bắc), đại Hưng (Nam), Tường Phù (Đông) và Quảng Phúc (Tây) Về quy mô, Hoàng thành Thăng Long theo kết quả điều tra thực địa và kết quả khai quật khảo cổ học và thư tịch cổ, có quy mô như sau:

Bắc khoảng đường Phan Đình Phùng, Nam ở khoảng đường Trần Phú, dịch sang phía Hàng Đẫy, đường Nguyễn Thái Học Phí Đông ở khoảng phố Thuốc Bắc Phái Tây ở khoảng đường Ông ích Khiêm đến ô Vạn Bảo đường Tây Sơn Cấm thành có tâm điểm là điện Kính Thiên và được nằm trọn trong Hoàng thành Chu vi cấm thành chưa thể xác định được, nhưng có thể biết được ranh giới phía nam là cửa

Đoan Môn, phía tây là khoảng chùa Một Cột

- Về xây dựng cung điện và chùa tháp

Phật giáo được xem là quốc giáo nên các công trình xây dựng đã chịu ảnh hưởng rất nhiều các yếu tố Phật giáo Biểu tượng lá đề, hoa sen, hoa cúc gần như có mặt trong hầu hết các di tích kiến trúc thời Lý Kể từ thời Đinh-Lê và đặc biệt là từ nhà Lý, sau khi giành được độc lập, với chính sách kinh tế cởi mở, cộng với nền chính trị, xã hội ổn định đã đẩy nước ta đến đỉnh cao của sự phát trión Đại Việt đã trở thành một quốc gia hung mạnh trong khu vực Nhà Lý tôn sùng đạo Phật cho nên đã cho xây dựng rất nhiều chùa, tháp ở Thăng Long và khắp mọi nơi Trong đó,

có không ít công trình Phật giáo do chính nhà vua và người trong Hoàng tộc đứng ra xây dựng, như tháp Chương Sơn (Hà Nam) do vua Lý Nhân Tôn xây dựng trong 9

Trang 17

năm liền (từ năm 1108 đến 1117), chùa Lạng (Hưng Yên), chùa Phật Tích (Bắc Ninh), tháp Tường Long (Hải Phòng)

Tài liệu thư tịch đã ghi chép được khá chi tiết về chủ trương và công việc xây dựng chùa quán thời nhà Lý: Năm 1010: nhà vua xuống chiếu lệnh cho các hương

ấp, nơi nào có chùa quán đã đổ nát đều phải sửa chữa lại (Toàn thư, t1, tr.242) 1011,

ở trong thành bên tả dựng cung Đại thanh, bên hữu dựng chùa Vạn Tuế, làm kho Trấn Phúc Ngoài thành dựng chùa Tứ Đại Thiên vương và các chùa Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ (242) Và sau này các chùa quán, kho chứa kinh Phật được liên tục xây dựng, như: Năm 1016, Độ cho hơn nghìn người ở Kinh sư làm tăng đạo Dựng hai chùa Thiên Quang, Thiên Đức và tô bốn pho tượng Thiên Đế (245) Năm

1020, Nguyễn Đạo Thanh đi sứ về, xin được kinh Tam tạng, xuống chiếu cho Tăng thống là Phí Trí sang Quảng Châu đón (246) Năm 1021 làm nhà Bát giác chứa kinh.Năm 1023, xuống chiếu chép kinh Tam tạng để ở kho Đại Hưng (247) 1027, xuống chiếu chép kinh Tam tạng (247) Năm 1031, xuống chiếu phát tiền thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tất cả 150 chỗ (255) Năm 1034, sai dựng kho Trùng Hưng để chứa kinh (256) Năm 1049, Mùa đông tháng 10, dựng chùa Diên Hựu dựng cột đá ở giữa đất, làm tòa sen của Phật Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng (268) Năm 1057, xây bảo tháp Đại Thắng tự thiên cao vài chục trượng, theo kiểu 12 tầng (Tháp Báo Thiên) (272) Năm 1129, hội khánh thành 8 vạn 4 nghìn bảo tháp ở gác Thiên Phù (301)

Tài liệu thư tịch còn cho biết chính bà ỷ Lan phu nhân từng bỏ tiền của dựng hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ khắp nơi.Việc kiến thiết chùa tháp ở thời Lý phần lớn

được văn bia ghi lại Tuy đã bị huỷ hoại nhiều, song văn bia thời Lý liên quan đến xây dựng, tu bổ chùa tháp có cả thảy trên 20 văn bản Hầu hết chúng đã được sưu

tập và công bố trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 1, Viện Nghiên cứu Hán

Nôm 1998 Sự sùng Phật và ứng dụng khoa học để xây chùa Diên Hựu trên 1 cột

lớn, nên gọi là chùa Một Cột Văn bia Sùng Thiện Diên Linh tháp bi dựng năm

Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121) đời vua Lý Nhâj Pông ở núi Đọi (Hà Nam) cho biết

Trang 18

vị Vua này từng huy động các thầy địa lý, thợ đo vẽ, thợ mộc, thợ đẽo đá, thợ đúc chuông và thợ tạc tượng để dựng tháp Sùng Thiện Diên Linh trên đỉnh núi Long Đọi (Hà Nam) Công việc kéo dài suốt trong 3 năm liền từ năm 1118 đến năm 1121 Tháp gồm 13 tầng có 40 cửa, trên đỉnh đặt các hòm xá lỵ Đây là công trình lộng lẫy vừa dành cho để tôn vinh đạo Phật và vừa cho sự trường tồn của các bậc đế vương của triều Lý Đồng thời đây cũng là một trong những công trình hội tụ các tri thức khoa học đương thời

b- Về giáo dục:

+/Việc mở các khoa thi để đào tạo nhân tài

Trước hết phải kể đến một sự kiện trọng đại là vào năm 1070 Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn miếu thờ người khai sáng Nho giáo là Khổng Tử và các môn đồ xuất sắc của ông, đồng thời mở trường Quốc Tử Giám (trường Đại học đầu tiên của nước ta) để đào tạo các trí thức Nho giáo Tiếp đến năm 1074, vua Lý Nhân Tông (1066-1127) đã cho tổ chức khoa thi nho học đầu tiên ở nước ta, đó là thi “Minh kinh Bác học và tam trường”, người đỗ đầu khoa thi này là Lê Văn Thịnh và trở thành người đầu tiên ; rồi năm 1076 cho lập Quốc tử giám để làm nơi học tập cho các quan viên văn chức Từ đây việc đào tạo nhân tài của nhà nước phong kiến Đại Việt có điều kiện phổ biến rộng rãi Sử liệu còn ghi rõ, tiếp theo khoa thi vào năm

1074, thời Lý còn tổ chức thêm các khoa vào các năm: Quảng Hựu thứ 2 (1086) đời vua Lý Nhân Tông, Đại Định thứ 2 (1152) đời vua Lý Anh Tông, Chính Long Bảo ứng thứ 4 (1165) đời vua Lý Anh Tông, Trinh Phù thứ 10 (1185) đời vua Lý Cao Tông, Thiên Tư Gia Thụy thứ 8 (1193) đời vua Lý Cao Tông Các sự kiện này cho thấy bắt đầu từ đây (từ thời nhà Lý) giáo dục đã trở thành một công việc quan trọng của Nhà nước phong kiến và cũng chính vì những quyết sách này của nhà Lý đã tạo tiền đề cho việc Nho giáo trở thành tư tưởng chính thống trong các thời kỳ tiếp sau

đó Theo ghi chép của sử liệu, nhà Lý đã mở sáu khoa thi Nho học và một khoa thi Tam giáo, cụ thể như sau:

Trang 19

Năm năm sau ngày khánh thành Văn Miếu, Lý Nhân Tông người kế vị Thánh

Tông đã mở khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử giáo dục Việt Nam Toàn thư

còn ghi: “ất Mão Thái Ninh năm thứ 4 (1075), mùa xuân tháng 2 xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường Lê Văn Thịnh trúng tuyển cho vào hầu vua học” Ngay sau đó việc mở mang Quốc tử giám, quan tâm đến việc học cũng đã được Lý Nhân Tông và triều thần chú trọng Hơn một năm sau vào mùa hạ tháng tư, Nhân Tông đổi niên hiệu làm Anh Vũ Chiêu Thắng năm thứ nhất, nhà vua xuống chiếu cầu lời nói thẳng và cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ cho quản quan dân Đồng thời chọn quan viên văn chức người nào biết chữ cho vào Quốc tử giám làm việc Như vậy danh từ “Quốc tử giám” bắt đầu chính thức xuất hiện ghi trong sách sử, song việc xây dựng, tổ chức hoạt động như thế nào thì không thấy ghi rõ

Không chỉ mở khoa thi có tính chất quy mô như khoa thi Minh kinh bác học năm 1075, nhà Lý còn chú trọng đến việc thi tuyển lại viên làm việc ở các cơ quan trung ương cũng như địa phương theo quy cách mới ngay những năm sau đó Sử cũ ghi “Đinh Tỵ Anh Vũ Chiêu Thắng năm thứ 2 (1077) Tháng 2 thi lại viên bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật”

Người đỗ khoa thi đầu tiên của Nho học Việt Nam được trọng dụng Đó là Lê Văn Thịnh, ông trải giữ nhiều chức vụ, thăng đến chức Thị lang bộ Binh Đến năm Quảng Hựu thứ nhất (1085) ông được phong làm Thái sư quyền cao chức trọng,

được vua tin dùng Nhưng đến năm Hội Phong thứ 5 (1096) Lê Văn Thịnh bị ghép vào tội mưu phản và chịu đi đày ở Thao Giang rồi mất tại đó Điều này phải chăng ít nhiều phản ánh thực trạng xã hội và quan điểm chính trị của các vua Lý và đại thần

ở thời kỳ mà Phật giáo vẫn đang hưng thịnh và Nho học buổi đầu hình thành nhưng phải nếm trải gian nan

Khoa thi thứ hai cũng được tổ chức ở triều Lý Nhân Tông Chính sử cũng đã ghi lại việc này “Bính Dần, Quảng Hưu năm thứ 2 (1086) Mùa thu tháng 8 thi

Trang 20

người có văn học trong nước, sung làm quan ở Hàn Lâm viện, Mạc Hiển Tính trúng tuyển bổ làm Hàn Lâm học sĩ”

Phải đến hơn một nửa thế kỷ sau các khoa thi kế tiếp mới được thực hiện Khoa thi thứ 3 vào năm Đại Định thứ 13 (1152) và Khoa thi thứ 4 năm Chính Long Bảo ứng thứ 3 (1165) đời Lý Anh Tông được sách sử ghi chép sơ sài chỉ mấy câu ngắn ngủi “mùa thu tháng 8 thi học sinh” Hai mươi năm sau khoa thi kế tiếp mới

được tổ chức và chính sử có ghi chi tiết hơn: “ất Tỵ Trinh Phù năm thứ 10 (1185)… mùa xuân tháng giêng thi sĩ nhân trong nước, người nào 15 tuổi mà thông thi thư thì

được vào hầu học ở ngự diên Lấy đỗ bọn Bùi Quốc Khái, Đặng Nghiêm 30 người” Gần 10 năm sau, khoa thi cuối cùng về Nho học của triều Lý được thực hiện mà các

sử gia ghi lại chép liền với việc khảo khóa các quan tướng: “Quý Sửu Thiên Tư Gia Thụy năm thứ 8 (1193) Khảo khóa các quan văn võ trong ngoài, để rõ nên giáng hay thăng Thi các sĩ nhân trong nước để chọn người vào hầu vua học”

ở cuối thời Lý còn một khoa thi đặc biệt nữa mà một số sách sau này không thấy ghi Nhưng tìm kỹ ở chính sử ta sẽ thấy đấy là khoa thi Tam giáo3 được ghi vẻn vẹn mấy chữ, “ất Mão Thiên Tư Gia Thụy năm thứ 10 (1195)… thi Tam giáo, cho

đỗ xuất thân”1

Việc khảo khóa các quan văn võ cũng được nhà Lý chú trọng chủ yếu ở thời

kỳ cuối cùng của vương triều này Như năm 1162 tiến hành khảo khóa các quan văn

võ, đồng thời là việc phân loại quan chức các cấp Năm 1179 khảo xét công trạng các quan, những người giữ chức siêng năng tài cán nhưng không có chữ nghĩa làm một loại, người có chữ nghĩa làm một loại, người tuổi cao hạnh thuần biết rõ việc xưa nay làm một loại, cứ theo thứ tự mà trao cho chức vụ trị dân coi quân khiến quan chức không lạm nhũng Việc khảo khóa các quan văn võ năm 1193 gắn liền với khoa thi cuối cùng ở năm này chứng tỏ vấn đề khảo khoá quan chức thời Lý cũng ít nhiều gắn với việc giáo dục khoa cử, nhất là ở giai đoạn đầu khi mà giáo dục khoa cử đang định hình, xây dựng và phát triển ở những vương triều tiếp nối

1

Thi Tam giáo: Chỉ khoa thi về cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo

Trang 21

Như vậy kể cả khoa thi Tam giáo, thời Lý tổng cộng có 6 khoa thi mà chính

sử đã ghi sơ lược như cách ghi về một số sự kiện lịch sử khác mà sử quan phải làm

ở đây ta muốn tìm hiểu về vấn đề tổ chức thi cử hoặc danh sách những người đỗ đạt thời Lý thì chắc chắn không tìm được lượng thông tin mà ta mong muốn; Do đó chúng ta phải tìm hiểu vấn đề này qua tài liệu thư tịch Hán Nôm và tư liệu hiện vật văn bia Những cứ liệu này hiện nay chủ yếu được lưu giữ trong kho bảo quản Viện Nghiên cứu Hán Nôm

+/ Bài học về trong dụng nhân tài:

Ngay từ khi dời đô ra Thăng Long, nhà Lý đã lo mở khoa thi Nho học để tuyển dụng nhân tài, mặc dù vẫn biết rằng ở thời Lý, Phật giáo là quốc giáo và phát triển rất thịnh hành, nhưng để có được người tài, tham gia vào việc quản lý trong bộ máy của vương triều thì phải cần đến các trí thức Nho học Nhưng muốn tìm hiểu việc tuyển chọn và sử dụng nhân tài thời Lý, chúng ta không thể không tìm hiểu hệ tư tưởng Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo ở xã hội Việt Nam lúc đó Thời Lý Phật - Nho - Đạo là ba dòng mạch tư tưởng cốt yếu chi phối toàn bộ tinh thần và đời sống của dân tộc Việt, trong đó Phật giáo chiếm ưu thế tuyệt đối Phải nói rằng giáo lý nhà Phật có nhiều mặt tích cực có quá trình tồn tại lâu đời, được thể chế quân chủ nhà Lý đề cao và quảng đại quần chúng dễ dàng tiếp thu Đó là tư tưởng bình đẳng bác ái từ bi hỷ xả, nó trùng lặp và gần gũi một cách tự nhiên với tinh thần bác ái của dân tộc và làng xã cổ truyền Việt Nam bao đời Đồng thời bản chất của Phật giáo cũng làm giảm bớt đi rất nhiều tính chất hà khắc của chế độ quân chủ phong kiến buổi đầu được thiết lập Như vậy đương nhiên ở thời Lý giới tăng lữ được đề cao, các hoà thượng được đặc biệt coi trọng và ngay từ nhỏ đã được định hướng học tập kinh điển giáo lý toàn diện Chính vì lẽ đó, nhân tài đất Việt, nhân tài Thăng Long thời kỳ này phần nhiều gắn kết với đạo Phật Họ vừa là một hoà thượng lại vừa là một cố vấn chính trị xã hội, hoặc nữa là một nhà sư lại vừa là một đạo sĩ hay thày thuốc, thày giáo, văn sĩ, quan lại Họ không chỉ giỏi kinh Phật mà uyên thâm cả về Nho học, Triết học, Y học, Lý số học Ngay ở nơi tu hành hoặc ở một vị trí nào họ

Trang 22

cũng đều có ý thức chính trị, xã hội, tinh thần dân tộc và ít nhiều đều có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của Thăng Long nói riêng và đất nước nói chung Phải nói rằng hầu hết các vua thời Lý không chỉ lấy Phật giáo làm chỗ dựa tinh thần mà còn tìm đến những hoà thượng nổi danh để tham bác lý luận tôn giáo và bàn bạc chính sự Những người đứng đầu nhà nước phong kiến thời Lý đã đánh giá cao trình độ của các nhà sư này và coi đó là những nhân tài của đất nước Hầu hết các hoà thượng tên tuổi được trọng dụng, một số được phong chức trong thể chế giáo cấp hoặc giữ các chức vụ trong hệ thống quan liêu của nhà nước phong kiến trước khi xuất gia

Nói đến các thiền sư nổi tiếng thời Lý là nói đến ba nhân vật đặc biệt là Từ

Đạo Hạnh, Dương Không Lộ, Nguyễn Nguyên ức và Nguyễn Giác Hải Họ không chỉ uyên thâm về Phật đạo mà còn tinh thông nhiều lĩnh vực khác như y thuật, triết học, chính trị, xã hội Họ đã được các vua Lý tin phục, hỏi bàn những việc quan trọng Họ cũng gắn bó với đất Thăng Long, như Từ Đạo Hạnh trú quán tại làng Láng huyện Từ Liêm, phủ Đông Đô Hoà thượng này từng giữ chức Tăng quan đô

án triều Lý Tuy nhiên đây là ba nhân vật để lại nhiều truyền thuyết kỳ lạ, cứ liệu

lịch sử còn lại rất ít không thể nói rõ hơn được Xin giới thiệu đoạn văn Thiên hạ

hưng vong trị loạn chi nguyên luận của Nguyễn Nguyên ức trong đó có nói đến việc trọng dụng nhân tài; ở đây ông đã gọi người hiền tài là quân tử, kẻ bất tài là tiểu nhân: “Bàn về nguồn gốc hưng vong, trị loạn của thiên hạ Thiên hạ cũng giống như

đồ dùng dặt chỗ yên thì được yên, đặt chỗ nguy ắt gặp nguy; cốt yếu là hành vi của bậc nhân chủ như thế nào mà thôi Nếu đức hiếu sinh hợp với lòng dân thì dân yêu như cha mẹ, ngửa trông như mặt trời mặt trăng: Đó là đặt thiên hạ vào chỗ yên vậy! Nước trị hay loạn cốt ở trăm quan; được nười thì nước trị; mất người thì nước loạn, thần trải xem các bậc đế vương thời trước, chưa từng có ai không dùng quân tử mà hưng được nghiệp, không dùng tiểu nhân mà bị tiêu vong Tuy nhiên nguồn gốc dẫn

đến những sự hưng vong đó không phải là cái cớ một chiều một sớm Chúng xuất hiện dần dần Ví như trời đất không thể nóng hay rét bất thần được mà phải biến

Trang 23

chuyển dần dần qua mùa xuân mùa thu Vua chúa cũng không thể bất thần hưng hay vong mà phải dần dần do làm thiện hay gây ác Các bậc thánh vương đời trước đều biết như thế nên đều bắt chước trời không ngừng trau đức để sửa mình; bắt chước

đất không ngừng trau đức để yên dân Sửa mình cẩn thận ở trong lòng run sợ như dẫm trên băng mỏng Yên dân thì yên mến người dưới, hãi hùng như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn Làm đúng thế thì không thể không hưng, làm trái thế thì không thể không vong Quá trình dần rà của sự hưng vong là ở chỗ đó1

Trọng dụng nhân tài thời Lý luôn gắn liền với việc tuyển chọn nhân tài, trong

đó triều đình nhà Lý đã mở sáu khoa thi Nho học và một khoa thi Tam giáo Bắt đầu

từ khoa ất Mão niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075) đời Lý Nhân Tông thi tuyển Minh kinh bác học và Nho học Tam trường Nhân tài đầu tiên xuất hiện qua con đường cử nghiệp ở khoa thi này là Lê Văn Thịnh người làng Đông Cứu huyện Yên Định lộ Bắc Giang Sau khi trúng tuyển ông được vào cung dạy vua học, nhà vua cùng triều thần biết được tài năng của ông nên đã tin dùng thăng dần lên đến chức Thị lang bộ Binh Đến năm Quảng Hựu thứ nhất (1085) ông được nhà vua phong chức Thái sư

Đây là một trong các điển hình nhân tài được trọng dụng qua thi cử và đã đạt được một vị trí chức vụ cao nhất Song ở vào một thời kỳ Phật giáo đang thịnh, Nho học mới định hình nên kết cục đối với nhân tài Lê Văn Thịnh cũng không được tốt đẹp Bên cạnh việc chọn tuyển nhân tài qua các khoa thi, nhà Lý còn áp dụng một

số hình thức khác như xuống chiếu cầu lời nói thẳng, tìm người hiền lương có tài văn võ rồi cất nhắc cho quản quan dân, đồng thời chọn quan viên văn chức người nào biết chữ cho vào Quốc tử giám làm việc Đó là những con người tài ba, trung thực, thẳng thắn như Mâu Du Đô sống trải hai triều vua Lý Thần Tông và Lý Anh Tông giữ chức Gián nghị Đại phu tước Đại Liêu ban, năm 1144 được thăng đến chức Thái sư vì có nhiều công trạng Hoặc như Trần Trung Tá là người tài đức chỉ biết chăm lo việc công, từng giữ chức Gián nghị Đại phu rồi được Tô Hiến Thành tin tưởng trước khi mất tiến cử lên chức Thái uý

Trang 24

Việc tuyển chọn nhân tài thời Lý còn thông qua việc tổ chức thi võ Tuy diễn

ra không quy mô và không theo hệ thống quy định, song từ đấy cũng đã tìm được người giỏi võ thuật Một tướng tài khác nhờ giỏi võ thuật mà thành sự nghiệp, đó là

Lê Phụng Hiểu người thôn Bưng - Hoằng Hoá - Thanh Hoá Ông lên kinh thành Thăng Long dự võ thí và được trúng tuyển, sau được thăng lên chức Vũ vệ tướng quân Năm 1028 Lý Thái Tổ mất, các vương tử tranh ngôi làm loạn Ông chỉ huy cấm quân dẹp tan, bảo vệ được ngôi vua và được Lý Thái Tông phong chức Đô thống Năm 1043 ông theo Thái Tông chinh phạt Chiêm Thành thắng lợi về được ban thưởng nghìn mẫu đất, câu chuyện "Thác đao điền" này còn truyền tụng đến nay

Tuyển chọn và sử dụng nhân tài thời Lý, thời kỳ mở đầu của việc xây dựng nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền trong đó lịch sử khoa cử Việt Nam cũng bắt

đầu hình thành để tuyển chọn nhân tài Song ở vào thời kỳ Phật giáo hưng thịnh, Nho giáo chưa đặt được nền móng vững chắc, Đạo giáo cùng tồn tại song hành nên chưa thể có được mô hình đào tạo - tuyển chọn sử dụng nhân tài như các triều đại sau này Nhưng những việc làm của nhà Lý đã đem lại những kinh nghiệm về giáo dục đào tạo nhân tài cho nhiều thế hệ sau và đã tạo nhiều cơ hội cho các nhân vật nổi tiếng phát triển tài năng của mình

+/ Những nhân tài nổi tiếng

Để có được một Thăng Long cổ kính, hào hoa, là trung tâm văn hóa, chính trị

và là nơi đào tạo nhân tài cho cả nước ngay từ khi được định đô, để ngày nay chúng

ta tự hào, trước hết phải kể đến những con người có công lao gây dựng Thăng Long

và con người của Thăng Long Hơn nữa, theo chúng tôi nhân tài Thăng Long thời

Lý, ở đây phải được hiểu là những người tài, tuy quê ở nơi khác, nhưng có công lớn trong việc gây dựng nên kinh thành Thăng Long và những người tài quê đất Thăng Long thời Lý Những nhân tài này, có thể là những nhà khoa bảng hoặc không phải

là nhà khoa bảng, nhưng đều là những người gắn cuộc đời mình với đất Thăng Long, hiểu như vậy mới thấu đáo được khái niệm “Nhân tài Thăng Long thời Lý”

Trang 25

Do vậy, chúng tôi xin giới thiệu những nhân tài đất Thăng Long thời Lý gồm những người sau: Lý Công Uẩn (không phải là người đất Thăng Long, nhưng lại là người có công khai dựng kinh đô Thăng Long), Lý Thường Kiệt (người kinh thành Thăng Long và có công lao trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ quốc gia Đại Việt), Lý Ngọc Kiều (bà người kinh thành Thăng Long, tuy là phụ nữ nhưng

đã trở thành một tác gia văn học thời Lý) và Lê Thị ỷ Lan (bà là vợ vua Lý Thánh Tông, người xứ Kinh Bắc nhưng có nhiều việc làm được dân chúng thành Thăng Long mến mộ tài đức của bà và là một tác gia văn học thời Lý)

- Lý Công Uẩn (974 – 1028) người châu Cổ Pháp lộ Bắc Giang (nay thuộc

xã Đình Bảng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh) Ông sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình thứ 5 thời Đinh (tức ngày 8 tháng 3 năm 974) và mất ngày

3 tháng 3 năm Mậu Thìn niên hiệu Thuận Thiên thứ 9 thời Lý (tức nagỳ 31 tháng 3 năm 1028), thọ 55 tuổi Miếu hiệu là Lý Thái Tổ

Hiện chúng ta mới biết được mẹ của Lý Công Uẩn, mà chưa biết được cha của ông Mẹ của Lý Công Uẩn được sử chép là Phạm thị (Bà họ Phạm) và ghi rằng:

Bà đi chơi chùa Tiêu Sơn, người cùng thần giao hợp, rồi bà có chửa và sinh ra vua

Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẫm đến nhà Lý

Khánh Văn, Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi Vua từ nhỏ đã thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường Lúc còn nhỏ đi học nhà sư ở chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh thấy khen rằng: Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ” Khi trưởng thành, Lý Công Uẩn trở thành một trong những nhân vật quan trọng trong triều đình nhà Tiền Lê, ông làm quan đến chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ và trở thành một người được nhiều người tin trọng, nhất là giới tăng lữ Năm 1009, vua Lê Long Đĩnh (Lê Ngọa Triều) qua đời, Lý Công Uẩn được sự ủng hộ của giới tăng lữ mà đứng đầu là nhà sư Vạn Hạnh, lên ngôi hoàng đế, láy nien hiệu là Thuận Thiên và đại xá thiên hạ Năm

1010, vào một ngày thu tháng tháng bảy, Lý Công Uẩn quyết định rời đô từ Hoa Lư

về Thăng Long và khai sáng ra kinh thành Thăng Long - Kinh đô quốc gia Đại Việt

Trang 26

Khi vua quyết định dời đô về Thăng Long, đều được các bề tôi ủng hộ “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế lâu dài, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông dúc giầu có, điều lợi như thế ai dám không theo”

Từ đây, Lý Công Uẩn gắn bó cuộc đời của mình với đất Thăng Long và ông thành “người Thăng Long”, một nhân tài kiệt xuất khi viết về lịch sử Thăng Long, không ai là không nhắc tới Vua Lý Công Uẩn ở ngôi 18 năm (1010 – 1028), khi lên ngôi vua, ứng với mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người khoan thứ nhân từ, tinh tế hòa nhã, thực bậc đế vương Khi vua lý Công Uốn mất, đặt thụy

là Thuần Vũ Hoàng Đế, miếu hiệu là Thái Tổ

Lý Thái Tổ sinh thời có nhiều đóng góp xây dựng quốc gia Đại Việt và mở mang bờ cõi Vua là nhà hoạt động chính trị, có tài kinh bang thế tế và là một nhà văn lỗi lạc Tác phẩm của Lý Thái Tổ có bài chiếu bất hủ, là một tài liệu lịch sử quan trọng, khi nhắc đến thế địa linh của đất Thăng Long sách sử nào cũng phải

trích dẫn Đó là bài Thiên đô chiếu, bằng lối văn chính luận sâu sắc, lập luận chặt

chẽ, Lý Thái Tổ đã chỉ rõ những hạn chế của kinh đô Hoa Lư và chỉ ra những ưu thế

địa linh của thành Đại La “Chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương, cũng là nơi kinh

đô bậc nhất của đế vương muôn đời”

- Lý Thường Kiệt (1019 - 1105), theo ghi chép trong thư tịch Hán Nôm,Lý Thường Kiệt vốn tên là Ngô Tuấn , tự là Thường Kiệt và được ban quốc tính họ Lý Sau này, thường gọi là Lý Thường Kiệt Ông quê ở lang An Xá huyện Quảng Đức thành Thăng Long (nay thuộc quận Ba Đình thành phố Hà Nội) Lý Thường Kiệt là nhà chính trị, nhà quân sự và là nhà văn Ông làm quan trải ba triều vua: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông

Triều Lý Thái Tông, năm 21 tuổi Lý Thường Kiệt đã được đã được giữ chức

Kỵ mã Hiệu úy, năm 23 tuổi được giữ chức Hoàng môn Chi hậu trong quân túc vệ, rồi được thăng Kiểm hiệu Thái bảo

Trang 27

Triều Lý Thánh Tông, năm 1069, Lý Thường Kiệt được phong Đại tướng và cầm quân đi đánh Chămpa, thu được 3 châu (Bố chính, Địa Lý và Ma Linh) và ông

được phong là Phụ quốc Thái phó Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc Khai quốc công

Triều Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt giữ cương vị Tể tướng Ông được giao trọng trách lớn lao, trức tiếp chỉ huy cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của nhà Tống (Trung Quốc) Khi biết rõ âm mưu của nhà Tông muốn xâm lược nước ta, năm 1075, Lý Thường Kiệt đã chủ động tấn công trước vào nước Tống (châu Khâm

và châu Liêm), nơi mà nhà Tống hội quân chuản bị xâm chiếm nước ta Để khích lệ

quân sĩ, Lý Thường Kiệt đã soạn bài Phạt Tống lộ bố văn (Lời tuyên bố đánh Tống),

bài văn đã truyền đi và đem đến một không khí khắp nơi tham gia đánh giặc Cuộc tập kích của Lý Thường Kiệt giành được thắng lợi hoàn toàn và ông quyết định rút quân về nước Nhưng nhà Tống vẫn ngoan cố xâm lược nước ta, biét rõ âm mưu của nhà Tống, Lý Thường Kiệt cho xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu)

và đánh tan những đợt xâm lăng của quân xâm lược Tống (1076-1077)

Sau kháng chiến chống Tống thắng lợi, ông góp nhiều công sức vào việc hoàn thiện bộ máy hành chính, phát triển kinh tế, xây dựng đường xá, cầu cống và chùa chiền Nhiều bài văn bia sáng tác thời kì này đã ghi lại công tích của ông

Đời vua Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt được coi như là em vua và được vua ban Thiên tử nghĩa đệ Khi mất, ông được phong tặng Kiểm hiệu Thái úy Bình chương quân quốc trọng sự, Việt quốc công và được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ,

được sử sách ghi công

Bài văn bia An hoạch sơn Báo Ân tự bi ký đã viêt về Lý Thường Kiệt như sau:

“Nay có Thái uý Lý công(1) giúp vua thứ tư triều Lý(2), được trao chức: Suy thành, Hiệp mưu, Bảo tiết thủ chính, Tá lý dực đới công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ khâm đồng tam ty, nhập nội nội thị sảnh đô đô tri, Kiểm hiệu Thái uý, kiêm ngự sử đại phu, dao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự,

Trang 28

thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, thực thực phong bốn nghìn hộ(3) Ông đứng trước tiết lớn, vâng mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, uỷ thác mệnh lệnh ngoài trăm dặm(4) Rồi đó ông thề trước ba quân: phía Bắc đánh quân Tống xâm lược, phía Tây

đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt bảy lần đều thả(5) Đâu phải riêng nhà Hán có công huân Hàn, Bành(6), nước Tề có sự nghiệp Quản, án(7) Riêng ông giúp vua thì nước nhà giàu thịnh nhiều năm Đó chính là công tích rực rỡ của đạo làm tôi có thể để lại nghìn đời sau vậy Đến năm Nhâm Tuất (1082), nhà vua đặc biệt ban thêm một quận Thanh Hoá cho ông làm phong ấp, châu mục đều ngưỡng mộ phong thanh, muôn dân đều mến đức chính ở phía Tây Nam huyện, có một quả núi lớn và cao gọi là núi An Hoạch, sản xuất nhiều đá đẹp,

đó là sản vật quí giá của mọi người Sắc óng ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại thì còn mãi nghìn đời Thế là Thái

uý Lý công sai một thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao suất lĩnh người hương Cửu Chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm Tiết tháo được thể nghiệm nên dân qui phụ, vậy mà vẫn luôn luôn dè dặt như đi trên băng mỏng; chăm lo đầy đủ khiến mình trong sạch, thế nhưng vẫn băn khoăn như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn Tự xét mình rằng: Lượng khí nhỏ mà quyết đoán việc quan trọng; tài trí hèn mà gánh vác việc lớn lao Chứa hạt bụi nhỏ mà không chùi, sẽ thành năm núi lớn; rót từng giọt nước mà không nghỉ, sẽ tràn bốn biển khơi Phương chi lại đội ơn vua ban cho vượt bậc, biết lấy gì báo đền Cho nên tất cả những người ở xứ này, hiền ngu lần lượt, giàu nghèo đúng phiên đều san đất dẫy cỏ, dựng một ngôi chùa gọi là chùa Báo Ân Giữa đặt tượng Phật, dưới đặt tượng Bồ Tát, sắc ánh như vàng, đẹp như tranh vẽ”

Lý Thường Kiệt là vị anh hùng dân tộc có công trong việc bảo vệ và xây dựng

đất nước, ông được nhân dân Đại Việt kính trọng và cũng là một nhà văn thời kỳ

Trang 29

này Tác phẩm của Lý Thường Kiệt còn lại đến nay có bài văn Phạt Tống lộ bố văn

và trước đây thường cho là ông soạn bài thơ Nam quốc Sơn hà

- Lý Ngọc Kiều (1041-1113), theo ghi chép trong thư tịch Hán Nôm, Lý

Ngọc Kiều sinh năm 1041 và mất năm 1113, quê ở hương Phù Đổng huyện Tiên Du (nay thuộc xã Phù Đổng huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội) Lý Ngọc Kiều là con gái đầu của Phụng Càn vương (tức Lý Nhật Trung) Sau Lý Ngọc Kiều được vua Lý Thánh Tông nuôi dạy ở trong cung Đến khi Lý Ngọc Kiều trưởng thành, vua Lý Thánh Tông gả cho một người họ Lê làm Châu mục ở châu Chân Đằng (nay thuộc vùng Tam Nông tỉnh Phú Thọ)

Khi ông họ Lê mất, bà thề thủ tiết không tái giá Một hôm bà nói rằng: “Ta xem tất cả các pháp trong dân gian đều như mộng ảo, huống gì là những thứ vinh hoa phù phiếm mà có thể trông cậy được sao?” Từ đó bà đem tư trang, gia sản cho mọi người Rồi bà cắt tóc xuất gia, tìm đến xin thụ giới Bồ Tát với thiền sư Chân Không ở hương Phù Đổng Bà được thiền sư Chân Không chỉ bảo, đặt cho bà pháp hiệu là Diệu Nhân ni sư và đưa đến trụ trì ở Ni viện Hương Hải Bà tu hành được chính định, trở thành bậc mẫu mực trong hàng ni sư thời bấy giờ

Sau Lý Ngọc Kiều trở thành người đứng đầu thế hệ thứ 17 dòng thiền Nam phương Có thể nói, Lý Ngọc Kiều đã trở thành người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đất Thăng Long có những hoạt động xã hội, có tấm lòng nhân hậu, coi vinh hoa phú quí

là thứ phù phiếm ở đời Với tư chất nhưn vậy, Lý nGọc Kiều luôn xứng đáng là tấm gương mà người đời sau luôn học hỏi ở bà ở vào thời điểm lịch sử mà cách chúng

ta gần 1000 năm, khi mà lễ giáo phong kiến đang ràng buộc thân phận người phụ nữ,

có một người phụ nữ như vậy, đáng để cho chúng ta khâm phục và tự hào, đáng

được tôn xưng là người tài của đất Thăng Long

Lý Ngọc Kiều không những là người hoạt động xã hội, bậc mẫu mực trong hàng ni sư, mà bà còn là nhà thơ, tác phẩm của bà còn 1 bài kệ Theo ghi chép trong

Thiền uyển tập anh: ngày 01 tháng 6 năm Hội Tường Đại Khánh thứ 4 (1113), Ni sư

Trang 30

Diệu Nhân lâm bệnh và bà gọi tăng chúng đến đọc bài kệ Đọc xong, bà tắm gội sạch sẽ và ngồi kiết già mà viên tịch, thọ 72 tuổi

- Lê Thị Yến (? - 1117), theo ghi chép trong thư tịch Hán Nôm, Lê Thị Yến sinh năm nào chưa rõ và mất ngày 22 tháng 10 năm 1117 (tức ngày 25 tháng 9 năm

Đinh Dậu), bà quê ở hương Thổ Lỗi lộ Bắc Giang (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) Tên gọi ỷ Lanlà tên do vua Lê Thánh Tông (1054-1072) đặt cho và sau này thường gọi là Lê Thị ỷ Lan

Theo truyền thuyết, khi vua Lý Anh Tông đi tuần du, vua đến hương Thổ Lỗi thì mọi người đều đều đổ ra đường để xem Riêng có một người con gái không đi xem mà đứng tựa vào gốc dâu hát Vua lấy làm lạ, cho mời tới, thấy đẹp liền đón vào cung, lập làm phu nhân và đặt hiệu là ỷ Lan (dựa gốc cây lan), sau vua lại phong bà là Linh Nhân

Lê Thị ỷ Lan không phải chỉ là một người con gái làm say long nhà vua, mà

bà còn là người có tri thức, tài cao sắc xảo và đặc biệt là bà là người rất có bản lĩnh Theo ghi chép của sử sách, Lê Thị ỷ Lan thường đàm đạo với vua Lý Thánh Tông

về cách trị nước, về lòng khoan dung của bề trên với kẻ dưới để cho quốc gia vững mạnh và dân giàu yên vui Uy tín của bà Lê Thị ỷ Lan trong cung vua, trong hoàn tộc luôn được mọi người kính nể

Lúc vua Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, với cương vị là Nguyên Phi,

bà được trao quyền điều hành triều chính Nhờ có kế sách đúng đắn, bà đã làm cho quần thần kính nể và người dân ngưỡng mộ, đất nước được yên vui Khi Lý Thánh Tông dột ngột qua đời, Thái tử Càn Đức con nhỏ tuổi, ỷ Lan trở thành Hoàng Thái hậu Nhiếp chính, bà đã thi hành những biện pháp chính sự tốt đẹp làm cho thế nước mạnh và dân yên ấm Mặc dù ở địa vị cao, nhưng bà luôn nghĩ đến những người dân nghèo khói Tương truyền rằng, bà đã bỏ tiền trong nội cung để chuộc những người con gái nghèo phải đi ở đợ và gả cho những người chưa vợ Bà còn chú ý đến cuộc sống của dân chúng và từng khuyên vua ra lệnh cấm giết trâu bò bừa bãi, để dân có

Trang 31

trâu cầy bừa Cả cuộc đời, bà luôn làm điều thiện, có công mở kho thóc phát chẩn cho dân nghèo và được dân chúng ca ngợi, tôn bà là Phật Quan Âm Bà là người hâm mộ đạo Phật, từng đi du ngoạn nhiều nơi để chiêm ngưỡng cảnh đẹp và cho xây dựng nhiều chùa tháp ở Thăng Long và các nơi khác

Theo ghi chép trong Thiền uyển tập anh , mục Quốc sư Thông Biện: vào ngày

rằm tháng hai mùa xuân năm Hội Phong thứ 5 (1096), Phù thánh Linh Nhân Hoàng Thái hậu (Lê Thị ỷ Lan) đến chùa thiết lễ trai tăng Trong khi đàm đạo với các bậc túc tăng kỳ lão, bà đưa ra nhiều câu hỏi về đạo Phật và thiền sư trụ trì chùa trả lời thông thái Thái hậu rất mừng, phong sư là Tăng thống, ban áo cà sa màu tím, ban hiệu là Thông Biện đại sư Sau Hoàng Thái hậu lại phong sư làm Quốc sư và cho vào đại nội để tham vấn Nhờ đó, mà Hoàng Thái hậu hiểu sâu tôn chỉ của Thiền tông

Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Thị ỷ Lan luôn gắn bó với kinh thành Thăng Long, bà là một danh nhân có tài trị nước, có tấm lòng vị tha bao dung, một nhân vật lịch sử không những của đất Thăng Long mà của lịch sử dân tộc Việt Nam Hiện nay ở xã Dương Xá huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội có quần thể di tích gồm chùa,

đền, điện thờ bà ỷ Lan và nhân dân trong vùng thường gọi là chùa “Bà Tấm” hay

đền “Bà Tấm” Bà Lê Thị ỷ Lan còn là nhà thơ, tác phẩm của Lê Thị ỷ Lan còn 1 bài kệ

c- Về văn hoá:

Văn hóa thời Lý là giai đoạn bắt đầu phát triển rực rõ của nền văn hóa dân tốc

Đó là nền văn hóa Thăng Long, hay còn gọi là văn hóa Lý – Trần được khai sáng từ thời nhà Lý

+/ Về văn tự:

Một trong những thành tựu nổi bật thời nhà Lý trong lĩnh vực giáo dục đó là việc: Nhà Lý đã cho thành lập Quốc Tử Giám vào năm 1070 dưới triều vua Lý Thánh Tông: Cho thi tuyển con em người Việt, biết chữ Hán cho vào Quốc Tử Giám

Trang 32

học Đây có thể xem là trường Đại học Quốc gia đầu tiên của Việt Nam Trước đó

sử liệu cũngkhông ghi chép gì nhiều về hệ thống giáo dục ở nước ta Các tầng lớp sư sãi tăng lữ có trình độ học vấn tinh thông chữ Hán có lẽ được đào tạo từ các chùa quán; các trí thức Nho học (không nhiều lắm) chắc là được đào tạo từ các tư gia

Một trong những thành tựu nổi bật về văn hoá trong thời kỳ này đó là hệ thống chữ Chữ nôm Mặc dù đến nay chúng ta chưa tìm thấy một tác phẩm viết bằng chữ Nôm hoàn chỉnh nào của thời Lý.Nhưng với một chứng tích có nhiều chữ

Nôm nhất của thời Lý hiện còn đó là văn bia: Báo Ân thiền tự bi ký ghi niên đại Trị

bình long ứng 5 (Lý Cao Tông -1210 ) trong đó có khoảng 20 chữ Nôm ghi tên đất tên người , đồng thời dựa trên các cứ liệu ngôn ngữ văn tự các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng đến thời nhà Lý chữ Nôm đã hoàn thiện với tư cách là một hệ thống chữ viết của người Việt sáng tạo nên.Một thành tựu đáng kể khác đó là việc nhà nước chính thức quản lý và thể chế hoá các hoạt động tín ngưỡng đặc biệt là tín ngưỡng tôn thờ các vị thần.Năm 1189 vua Lý Cao Tông cho phong hiệu và lập miếu thờ mọi di tích thần linh trong nước

+/ Những tác phẩm còn lại thời nhà Lý:

- Thơ văn:

lý công uẩn -thái tổ ( 974-1028 )

1 Thiên đô chiếu (Chiếu đời đô)

2 Chinh hoàn quá Biện-khẩu, ngộ bạo phong sậu vũ, đảo vu thiên

(Chinh phạt trở về qua cửa Biện, gặp mưa bão , cầu khấn trời)

nguyễn vạn hạnh ( ? - 1018 )

3.Ký Đỗ Ngân(gửi Đỗ Ngân)

4 Khuyên Lý Công Uẩn (khuyên Lý Công Uẩn)

5 Quốc tự ( Chữ “quốc”)

Trang 33

6 Yết bảng thị chúng (Treo bảng nói rõ với mọi người)

12 Thị Chư Thiền lão tham vấn Thiền chỉ (Trả lời các vị Thiền lão hỏi

về yếu chỉ đạo Thiền)

13 Truy tán Tỳ-ni-đa-lưu-chi Thiền sư (Truy tán Thiền sư

lâm khu - thiền Sư huệ sinh ( ? - 1063 )

19 Đáp Lý Thái Tông tâm nguyện chi vấn, I (Trả lời Lý Thái Tông hỏi

Trang 34

24 Cố Động Thiên công chúa, vị ngục lại (Nhìn công chúa Động Thiên,

bảo các cai ngục)

đàm khí - thiền Sư ngộ ấn ( 1020 - 1088 ):

25 Thị tịch (Dặn lại trước khi mất)

mai trực - thiền Sư viên chiếu ( 999 - 1091):

26 Tham đồ hiển quyết (Chỉ rõ bí quyết đạo Thiền cho môn đệ)

30 Cáo tật thị chúng (Có bệnh bảo mọi người)

vương hải thiềm - thiền Sư chân không (1046 - 1100 ):

Trang 35

31 Đáp đệ tử diệu đạo chi vấn (Trả lời đồ đệ hỏi về diệu đạo)

32 Cảm hoài

đào thuần chân ( ? - 1101):

33 Thị đệ tử Bản Tịch (Bảo học trò là Bản Tịch)

lý thường kiệt ( 1019 - 1105):

34 Phạt Tống lộ bố văn (Bài văn lộ bố khi đánh quân nhàTống)

35 Nam quốc sơn hà ( Sông núi nước Nam), tương truyền trước đây

36 Thỉnh đế suất quân thảo Lý Giác (Xin vua cho cầm quân đi đánh Lý

Giác)

đoàn văn khâm ( ? - ? )

37 Tặng Quảng Trí Thiền sư (Tặng Thiền sư Quảng Trí)

38 Vãn Quảng Trí Thiền sư (Viếng Thiền sư Quảng Trí)

39 Điệu Chân Không Thiền sư (Viếng Thiền sư Chân Không)

Trang 36

45 Thị tịch cáo đại chúng (Sắp mất bảo mọi người)

50 Ngôn hoài (Tỏ nỗi cảm hoài)

51 Ngư nhàn (Cái nhàn của làng chài)

khuyết danh

52 Trình sư (Trình thầy):

lý càn đức - nhân tông ( 1066 - 1128 ):

53 Truy tán Vạn Hạnh Thiền sư (Truy tán Thiền sư Vạn Hạnh)

54 Tán Giác Hải Thiền sư, Thông Huyền Đạo nhân (Khen Thiền sư

Giác Hải và Đạo nhân Thông Huyền)

55 Truy tán Sùng Phạm Thiền sư (Truy tán Thiền sư Sùng Phạm)

56 Thỉnh hoàn Vật-dương, Vật-ác nhị động biểu (Biểu đòi hai động

Vật-dương, Vật-ác)

57 Thảo ma-sa động hịch (Hịch đánh động Ma-sa)

58 Lâm chung di chiếu (Chiếu để lại lúc sắp mất)

Trang 37

nguyễn giác hải ( ? - ? ):

59 Bất giác nữ đầu bạch (Ai biết má đào mà bạc tóc)

60 Hoa điệp (Hoa và bướm)

nguyễn tuân - Thiền sư giới không (? - ? ):

nguyễn nguyên ức - Thiền sư viên thông (1080 -1151):

64 Thiên hạ hưng vong trị loạn chi nguyên luận (Bàn về nguồn gốc

hưng vong, trị loạn của thiên hạ)

phan trường nguyên ( 1110 -1165 ):

65 Quy thanh chướng (Về núi xanh)

66 Thị đạo (Nói về đạo)

ngô tịnh không ( ? - 1173 ):

67 Nhất nhật hội chúng (Một buổi họp mặt học trò)

kiều phú -Thiền sư bảo giám (? - 1173):

68 Cảm hoài, I (Cảm hoài, I)

69 Cảm hoài, II (Cảm hoài, II)

bảo giác ( ? - 1173 ):

Trang 38

77 Phát đại nguyện (Nói ra ý nguyện lớn của mình)

78 Kinh trung xuất hình tượng (Bóng hiện trong gương)

79 Nhất quỹ (Một con đường)

lê thước -Thiền sư trí thiền (? - ? ):

80 Thị Thái uý Tô Hiến Thành, Thái bảo Ngô Hoà Nghĩa (Bảo Thái uý

Tô Hiến Thành và Thái bảo Ngô Hoà Nghĩa)

81 Đạm nhiên (Lặng lẽ hồn nhiên)

hứa đại x∙ ( 1119 - 1180):

82 Thạch mã (Ngựa đá)

83 Chân tính

Trang 39

khuyết danh

84 Ngô phụ quốc, Lê Đô quan (Phụ quốc họ Ngô và Đô quan họ Lê)

nguyễn trí bảo ( ? - 1190 ):

85 Tạ Đạo Huệ Thiền sư, I (Cảm tạ Thiền sư Đạo Huệ, I)

86 Tạ Đạo Huệ Thiền sư, II (Cảm tạ Thiền sư Đạo Huệ, II)

87 Đáp nhân tri túc tri vấn (Trả lời người hỏi về hai chữ “Tri túc”)

nguyễn quảng nghiêm ( 1121 - 1190 ):

88 Hưu hướng Như Lai (Đừng theo bước Như Lai)

93 Gián Lý Cao Tông đại hưng lâu các (Khuyên vua Lý Cao Tông đừng

xây dựng cung điện)

phạm thường chiếu ( ? - 1023 ):

94 Tâm

95 Đạo

Trang 40

vò cao ( ? )

96 ømg-minh tr× dÞ sù (ChuyÖn l¹ vÒ ao øng- minh)

chu h¶i ngung ( ThiÒn s− tÞnh giíi ? - 1207 ):

107 Lý HuÖ T«ng dôc tèn vÞ − TrÇn C¶nh chi tranh biÖn (Cuéc tranh

luËn vÒ viÖc Lý HuÖ T«ng muèn nh−êng ng«i cho TrÇn C¶nh)

khuyÕt danh

Ngày đăng: 15/05/2014, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w