Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài của thăng long hà nội phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở thăng long thời nhà lê
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC XÃ HỘI CẤP NHÀ NƯỚC KX.09
"Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
và giá trị lịch sử - văn hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,
phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô".
-ĐỀ TÀI KX.09.08: "Phát triển khoa học và
trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà Nội"
***************
ĐỀ TÀI NHÁNH 3:
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI
Ở THĂNG LONG THỜI NHÀ LÊ
Thực hiện: 1 GS-TS Nguyễn Quang Ngọc (chủ trì)
Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
2 TS Tạ Hoàng Vân, Viện Nghiên cứu Kiến trúc
3 PGS-TS Lâm Mỹ Dung, Bảo tàng Nhân học-ĐHQGHN
4 CN Ngô Vũ Hải Hằng, Viện Sử học
5 CN Tống Văn Lợi, Viện Việt Nam học và KHPT
6 CN Vũ Đường Luân, Viện Việt Nam học và KHPT
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Chuyên đề 1: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong 2
lĩnh vực xây dựng ở Thăng Long thời Lê sơ
TS Tạ Hoàng Vân, Viện Nghiên cứu Kiến trúc
2 Chuyên đề 2: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong 35
lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Thăng Long thời nhà Lê
PGS-TS Lâm Mỹ Dung + CN Đặng Hồng Sơn,
Bảo tàng Nhân học - Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Chuyên đề 3: Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong 84
lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở Thăng Long thời nhà Lê
PGS-TS Lâm Mỹ Dung +Bùi Hữu Tiến + Nguyễn Công Khanh,
Bảo tàng Nhân học - Đại học Quốc gia Hà Nội
5 Chuyên đề 4: Những đặc trưng của giáo dục, văn hoá, xây dựng nếp 120
sống xã hội trong thời Lê sơ
CN Ngô Vũ Hải Hằng, Viện Sử học
6 Chuyên đề 5: Các tác phẩm thời Lê sơ 141
CN Tống Văn Lợi, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
7 Chuyên đề 6: Thực trạng trọng dụng nhân tài của Thăng Long trong 178
thời nhà Lê
ThS Nguyễn Ngọc Phúc, Khoa Lịch sử - Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN
8 Chuyên đề 7: Các khoa thi ở Thăng Long thời Lê sơ 196
CN Vũ Đường Luân, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
9 Chuyên đề 8: Những giá trị truyền thống và bài học về trọng dụng 225
nhân tài ở Đông Kinh thời Lê sơ
ThS Phạm Đức Anh, Khoa Lịch sử - Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN
10 Chuyên đề 9: Những nhân tài nổi bật ở Thăng Long thời nhà Lê 250 ThS Đinh Thị Thuỳ Hiên, Khoa Lịch sử - Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN
11 Chuyên đề thêm: Thực trạng trọng dụng nhân tài ở Thăng Long trong 302
thời Mạc thế kỷ XVI
TS Đinh Khắc Thuân, Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trang 3Chuyờn đề 1
Những chứng cứ lịch sử về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực xây dựng ở Thăng Long thời Lê (sơ)
TS Tạ Hoàng Vân
Viện Nghiờn cứu Kiến trỳc
I Vài nét về hiện trạng di tích ở Thăng Long thời Lê sơ (1428 - 1527)
I.1 Bối cảnh Thăng Long thời Lê sơ
Sau 20 năm thuộc Minh và kháng chiến chống quân Minh, kinh đô Thăng Long hoa
lệ thời Lý - Trần trở nên hoang tán, đổ nát Thời Hồ Quý Ly (1397), một số cung điện bị
dỡ chuyển vào Thanh Hoá Mười năm (1397-1407), mặc dù mất vị trí kinh đô nhưng Thăng Long vẫn là trung tâm văn hoá - kinh tế của cả nước Điều đó buộc nhà Lê phải xây dựng lại Đông Đô trên cơ sở có quy hoạch tổng thể Tuy nhiên, công cuộc xây dựng này
đơn giản, sử cũ ít nhắc đến Lê Thái Tổ trong chiếu ban cho các quan đã nói: “Chuộng nhà
cửa lâu đài cao đẹp tất gây nên thói kiêu xa; theo ý mình mà trái lòng người sẽ chuốc lấy mọi oán ghét Trấn rất lo về điểm này, cho nên tự nghĩ, những cung điện tráng lệ huy hoàng đây đều là sức lao động của quân dân, trẫm được ngự yên vẫn lo không xứng”1 Trên thực tế, phải tới thời Lê Thánh Tông (1460-1497) với một kỷ cương chính trị, xã hội
chặt chẽ, Đông Kinh mới được xây dựng đàng hoàng
Tầng văn hoá thời cuối Trần ở Đoan Môn đã tìm thất rất nhiều hố đào và vết tro than đã cho thấy rõ điều đó Nhà Lê gần như xây dựng mới hoàn toàn kinh đô Trên nền cũ kinh đô Lý - Trần, Lê Thái Tổ cho xây dựng điện Kính Thiên, điện Cần Chánh, Tả Điện, Hữu Điện, điện Vạn Thọ Căn cứ vào địa tầng Đoan Môn có thể thấy mặt bằng Thăng Long thời Lê đã được nâng cao ít nhất là 0,7m Vết tích các cung điện thời Lê sơ chưa
đươc tìm nhưng trên thực địa ta có thể thấy ít nhất Đoan Môn và nền điện Kinh Thiên phải
được bắt đầu từ thời kỳ này Các loại vật liệu ngói gạch thời Lê sơ đã tìm thấy đều rất lớn chứng tỏ các kiến trúc Lê sơ đều có bộ khung rất khoẻ Hình thức vật liệu và trang trí khác hẳn so với thời Lý - Trần Rõ ràng, nhà Lê muốn biểu hiện phần nào sự cường thịnh của một Đại Việt thông qua kiến trúc Hoa văn trang trí kiến trúc tuy ít nhưng vẫn tiếp tục truyền thống khoẻ khoắn của thời Trần và không còn chút bóng dáng của hoa văn Phật giáo trước đó
1
Lê Quý Đôn, Lê triều thông sử
Trang 4Sau thời Lê sơ, Thăng Long tiếp tục có nhiều đợt trùng tu và xây dựng mới Thời Lê Trung hưng, đánh dấu bước xây dựng nhiều hơn bao giờ hết, thậm chí trong khu vực Hậu Lâu, thời Lê Trung hưng cho san lấp toàn bộ khu vực ao hồ vùng cả một nền gạch đá đá thời Lê sơ để trên đó xây dựng các nền kiến trúc khác
ở thời kỳ đầu của nhà Lê (1428 - 1527) - thời kỳ phồn thịnh của quốc gia phong kiến tập quyền Thời kỳ thứ hai của nhà Lê (XVI - XVII) - thời kỳ bắt đầu của sự suy thoái quốc gia phong kiến Việt Nam và đến giai đoạn thứ 3 (XVIII) - thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến
Thời Lê sơ là mốc căn bản nối thế kỷ trước (XI-XIV) với thế kỷ sau (XVI-XIX) Nhà Lê kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tập trung mang tính quan liêu chuyên chế Đây là một bước biến đổi lịch sử từ mô hình nền quân chủ quý tộc thời Lý - Trần mang đậm tính Phật giáo màu sắc Đông Nam á sang một nền quân chủ quan liêu Nho giáo Đông á Nhà vua là “con Trời” thay trời trị vì thiên hạ, là người chủ tế duy nhất trong các buổi tế lễ (tế Trời, tế Tôn miếu, tế Khổng Tử), cũng như nắm quyền chỉ huy toàn
bộ quân đội, đích thân cầm quân đánh giặc
Dưới thời Lê, lập đồn điền là chính sách khẩn hoang lớn Đến năm 1481, cả nước có
43 đồn điền phần lớn tập trung ở những vùng đất mới khai phá Các công trình khẩn hoang của nhân dân được đẩy mạnh, nhiều xóm làng được thành lập, đồng ruộng mở rộng thêm, những người có công đứng ra chiêu dân được suy tôn là “tiên công” và thờ làm “thành hoàng” Đây cũng là lý do quan trọng để một loại hình kiến trúc mới ra đời và thịnh hành - kiến trúc Đình Nhà Lê cũng nổi tiếng với con đê Hồng Đức được kè đá chắc chắn, ngăn nước mặn Nhân dân vùng Thanh Hoá có nhiều sông đào được khai từ thế kỷ XV nên còn
mang tên là “sông nhà Lê”
Hoàng Thành Thăng Long được tu sửa, mở rộng vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI,
với nhiều cung điện nguy nga Điện Kính Thiên được xây ở trung tâm Hoàng thành
Không thể không kể tới sự nở rộ của các làng nghề từ nông thôn lên thành thị Các phường nghề, phố nghề đã làm cho bộ mặt Thăng Long được ấn định và chia lại thành 36 phố phường Phường Yên Thái làm giấy, Nghi Tàm dệt vải, lụa, Hà Tân nung vôi, Hàng
Đào nhuộm điều Tuy nhiên khi đó, Thăng Long không còn là đế đô nữa đổi tên là Đông
Đô rồi Đông Kinh để phân biệt với Lam Kinh ở Thanh Hoá Đây cũng là lý do cho những công trình cung điện và lăng tẩm của vua chúa ra đời được quần tụ quanh khu vực Lam Kinh (Thanh Hoá), loại hình chùa - tháp vẫn phát triển theo dòng chảy chung của dòng tôn giáo dân tộc
Trang 5Kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, vương triều nhà Lê lại ra sức xây dựng đất nước Một nền nghệ thuật, kiến trúc, xây dựng nảy sinh từ yêu cầu của thời đại và những khát khao của một vương triều mới hình thành Tiếp tục kế thừa những tinh hoa có từ triều
Lý - Trần, nghệ thuật xây dựng - kiến trúc thời Lê vừa mang yếu tố dân gian, vừa đậm tính kiêu hùng của giai cấp quý tộc Các nhà phê bình nghệ thuật cho rằng, thời kỳ này đã vươn tới đỉnh cao của nghệ thuật dân gian Đây là nhân tố căn bản giúp cho nghệ thuật Lê sơ có
được bản lĩnh và đương đầu với ý thức hệ Nho giáo đương thời và đó cũng là một đặc
điểm của nghệ thuật tạo hình dân tộc Việt Nam
Các công trình xây dựng của Thăng Long đã bị huỷ hoại trong kháng chiến Giặc Minh đã thiêu huỷ toàn bộ kho tàng văn hoá của dân tộc, sách vở, bia ký đều bị đốt sạch Những công trình nghệ thuật to lớn của dân tộc (tứ quý): chuông Qui Điền, vạc Phổ Minh, chùa Long Đọi, tháp Chương Sơn cũng bị phá huỷ Nhà Lê cũng có nhiều chính sách kích thích phát triển kinh tế, lập đồn điền với quy mô lớn, xây dựng công trình thuỷ lợi,
mở rộng nền sản xuất đặc biệt còn tổ chức được những xưởng thủ công riêng để phục vụ cho tầng lớp thống trị mà chủ yếu là vua quan ở kinh đô Đó là các xưởng đúc tiền, đúc
ấm, rèn sắt, đóng thuyền, chạm bạc, đúc tượng bằng vàng vv
Các chợ, mạng lưới buôn bán trong nước, ngoài nước đồng thời mở rộng tạo thành mạng lưới liên vùng Đó là điều kiện trao đổi thuận lợi để kiến trúc và xây dựng nước nhà
có điều kiện phát triển
Phải kể tới sự lấn sân và len lỏi của hệ tư tưởng Nho giáo đương thời Từ thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Nho giáo trở thành nền tảng để xây dựng mọi thể chế chính trị
- xã hội Trong khi đó, Phật giáo, Đạo giáo có điều kiện ẩn mình trong các làng xóm, từ
đây nảy sinh các tác phẩm nghệ thuật dân gian độc đáo
Nhà Lê rất coi trọng và thúc đẩy việc xây dựng, phát triển kiến trúc trên con đường phát triển và khôi phục đất nước Những công trình chùa tháp, lầu gác, cung điện của các tầng lớp thống trị và nhà cửa của nhân dân bị thiêu đốt huỷ hoại nên nhà Lê chú trọng việc
tu sửa, xây dựng các công trình Đòi hỏi xây dựng một kinh đô đàng hoàng và phồn hoa để xứng tầm với kinh đô thời Lý - Trần đã đưa nền kiến trúc dân tộc vào thời Lê sơ lên một giai đoạn mới
Nổi bật trong số các KTS thời bấy giờ là Nguyễn An, người rất có sở trường về công việc xây dựng, người mà sau này đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng thành Bắc Kinh và một số công trình thuỷ lợi lớn
I.2 Các loại hình kiến trúc tiêu biểu
I.2.1 Kiến trúc cung đình
Trang 6Từ năm 1427 - 1527, triều đình nhà Lê đã xây dựng lại tất cả cơ sở vật chất cho nhà nước phong kiến của mình Từ cung điện lầu gác của vua chúa, hoàng tộc đến dinh thự của quan lại từ trung ương đến địa phương, đều được nhà nước đứng ra tổ chức xây dựng theo những quy chế nhất định Tiêu biểu nhất là 2 khu vực lớn: Đông Kinh (Hà Nội) và Lam Kinh (Thanh Hoá)
Đông Kinh (1430) là tên gọi Thăng Long cũ Về kết cấu và bố cục cơ bản vẫn giữ nguyên từ thời Lý - Trần Thành Đông Kinh chia 2 lớp: lớp trong là Hoàng thành - nơi làm việc của vua và triều đình; lớp ngoài là nơi ở của quan lại, sĩ phu và các tầng lớp nhân dân Dưới triều nhà Lê, thành được sửa sang tu bổ lại nhiều lần Năm 1467 - quân ngũ được lệnh xây và sửa Hoàng thành; năm 1474 - cho đắp và sửa phía tây thành trong; năm 1477 -
đắp sửa thành ngoài; năm 1490 - đắp thành trong rộng ra phía ngoài trường đấu võ dài, rộng 8 dặm, làm trong 8 tháng; năm 1499 - cho xây tường phía đông Mọi việc sửa sang, xây dựng mở rộng thành, Lê Thánh Tông giao cho tiến sĩ Vũ Hữu (tiến sĩ năm 1430) đo
đạc, tính toán2
Trong khu vực Hoàng Thành, triều đình đã cho xây, sửa nhiều công trình kiến trúc, cung điện, lầu gác làm nơi ở của vua, hoàng hậu, các cung nữ; những cung điện làm nơi hội họp, bàn bạc vui chơi, nơi làm việc của chính quyền và kho chứa vv
Năm 1428, vua Lê đã cho xây dựng các điện lớn: điện Kính Thiên, Cần Chánh, Vạn Thọ nổi tiếng thời bấy giờ Các vua đời sau xây thêm điện Hội Anh, điện Cẩn Đức, điện Tường Quang, điện Giảng Võ, điện Thuý Ngọc, điện Thừa Hoa, điện Kim Loan, điện Bảo Quang vv Trong đó, gác Thừa Thiên (1488), được người đời khen là “lộng lẫy hơn xưa” Bên cạnh đó còn nâng cấp và mở mang các công trình ngày càng to hơn và thêm phần đẹp
đẽ Điện Kính Thiên là công trình quan trọng trong toàn bộ Hoàng thành được xây dựng trên nền cũ của điện Kính Thiên thời Lý - Trần Năm 1465, Lê Thánh Tông cho làm lại và sửa sang điện đẹp hơn, 2 năm sau cho mở thêm phần lan can đá ở thềm điện
Đầu thế kỷ XVI, nhà Lê bước vào giai đoạn suy thoái, thành Đông Kinh được xây dựng thêm nhiều cung điện, lầu gác để phục vụ cho giải trí, vui chơi vì thế Hoàng Thành trở thành nơi thưởng ngoạn, chơi bời, trác táng ở các triều Lê Hiến Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực
Lê Hiến Tông cho xây thêm nhiều cung điện như: điện Thượng Dương, điện Giám
Trị, điện Đồ Trị, điện Trường Sinh dùng làm nơi nghỉ ngơi đọc sách, ăn chay Xây điện Lưu Bô có cả hệ thống để dẫn nước từ xa về tiện cho chơi bời sinh hoạt
2
Mỹ thuật thời Lê sơ, NXB Văn hoá, 1979, Tr 30
Trang 7Năm 1512, nhà vua tập trung tiền của nhà nước để xây toà Đại điệnlớn hơn trăm nóc, có gác cao và Cửu trùng đài đồ sộ Công việc được giao cho Vũ Như Tô, một kiến trúc sư có tài xây dựng được tiến cử trông coi Ông dựng cả mô hình nhà điện trăm nóc Công việc làm đến năm thứ 5 thì dừng lại vì tiêu tốn quá nhiều nhất là gặp phải cuộc bạo
động cuả nhân dân Các công trình như điện Tường quang, điện Mục Thanh, nhà Chương
Đức cũng được xây vào thời này Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Đắp thành rộng to mấy nghìn trượng, bao vây cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ, chùa Thiên Hoa ở phường Kim Cổ, từ phía đông đến phía tây bắc, chắn ngang sông Tô Lịch, trên đắp hoàng thành, dưới làm cửa cống, lấy ngói vỡ và đất đá nện xuống, lấy đá phiến và gạch làm vuông xây lên, lấy sắt xâu ngang”3
Khu vực rộng lớn phía ngoài Hoàng Thành là nơi làm việc và nơi ở của các quan lại các cấp, của quân đội và tầng lớp nhân dân Ngoài những công đường do triều đình xây dựng cho bộ máy nhà nước như các bộ, tư, giám, công, còn có dinh thự của quan lại, tướng lĩnh, phủ đề, nhà vườn của các công hầu, tư thất của các danh nho, kẻ giàu có và nhà cửa của nhân dân lao động Mặc dù sách sử không ghi lại cụ thể các công việc xây dựng của tư nhân nhưng qua các tài liệu nhưng ít nhiều chúng ta cũng thấy được khu vực này đã được xây dựng khá đông đúc
Nhà Lê chia đất cho các công hầu, tướng lĩnh Tại những địa điểm này, các đại thần thi nhau xây dựng nhà cửa, đền đài Năm 1434, triều đình phải ngăn cấm các triều thần không được lấy vợ và dựng nhà (do để tang Lê Lợi) nhưng có người vẫn lén lút làm Công cuộc xây dựng vẫn tiếp tục và đều đặn trong tầng lớp quan lại, vì thế triều đình có ban sắc lệnh nhằm thư sức dân và chống việc đục khoét người lao động làm phục dịch Năm 1498,
vua Lê Hiến Tông có sắc chỉ: “Tự nay trở đi, phàm có việc xây dựng hay sửa chữa, phải
dự định trước công trình vật hạng, liệu xem việc theo thứ tự, nặng nhẹ hoãn cấp mà làm dần, không nên làm cả một lúc, để thư sức dân”
Tình hình như trên cho ta hình dung, thời Lê sơ, thành Đông Đô chắc hẳn có nhiều dinh thự, điện đài của kẻ giàu sang
I.2.2 Kiến trúc tôn giáo
Thời kỳ này Phật giáo không còn mạnh nữa, nên kiến trúc Phật giáo cũng có phần giảm sút Tuy nhiên, Phật giáo đi vào trong các xóm làng Triều Lê đưa ra quy định nhằm hạn chế số sư sãi, việc đóng góp của nhà nước trong việc xây dựng các chùa, tháp lớn Vì thế, chùa tháp không được dựng mới nhiều nhưng cũng được tu tạo lại
3
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Tập IV, Tr 81
Trang 8Năm Thái Hoà thứ 3 (1445), nhà vua cho sửa chùa Kim Liên và dựng bia ở làng
Nghi Tàm (Hà Nội) Một số chùa lớn khác trong nước cũng được đồng thời tu sửa như
chùa Vô Vi (1490), chùa Bối Khê (1515), chùa Hoà Lạc (1505), chùa Quang Khánh
(1515), chùa Minh Khánh (1515)
Dấu tích chùa thời Lê còn lại ít ỏi ở Thăng Long, có chùa chỉ còn lại duy nhất tấm bia như chùa Kim Liên và dấu tích kiến trúc còn rất hiếm Các tầng tháp thấp, có viền mái
to, phía trong có tượng và ngai đá
Các vua Lê cho ban hành nhiều sắc lệnh, chính sách nhằm duy trì và bảo vệ các
đền, miếu dựng từ các triều đại trước Nhất là các đền miếu ghi danh những người có công với nhân dân như đền thờ Trần Hưng Đạo, Đinh Tiên Hoàng, Phùng Hưng, Ngô Quyền Triều đình cho xây dựng thêm nhiều đền, miếu mới để thờ cúng những công thần, những tấm gương trung quân tiết liệt như đền thờ Lê Lai, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Trịnh Khả,
Lê Thạch vv; đền, miếu thờ những vị thần khác như thần sông, thần núi vv Số lượng các công trình tôn giáo khá nhiều Tại Thăng Long đã có 8 đền thờ được liệt vào loại thượng
đẳng thần: đền thờ Bạch Mã, Đô đại Thành hoàng, Bố Cái, Sơn Minh4 Đến năm 1523, tổng cộng có 113 đền Đó là chưa kể đền, miếu nhỏ do dân tự xây dựng và thờ cúng có nhiều ở các địa phương
Chưa có tư liệu đầy đủ để hình dung kiến trúc đền miếu thời Lê sơ nhưng theo Lê
Quý Đôn, các đền thờ thuộc loại thượng đẳng thần ở Kinh đô thì “đều làm theo chữ công,
tiền đường hậu đường đều 3 gian 2 chái, nhà cầu 2 gian, phòng bếp 3 gian, nghi môn 1 gian”5 Đến nay, những đền, miếu trên đã mất, một vài đền còn giữ lại bia đá
Nho giáo chiếm vị trí độc tôn trong xã hội nên các công trình kiến trúc của Nho giáo cũng được nhà nước chú ý phát triển và mở mang Văn Miếu, nơi thờ Khổng Tử, cũng chính là địa điểm được chú trọng Văn Miếu chỉ có ở Kinh đô được xây dựng thời Lý, nhưng đến thời Lê đã được phát triển rộng khắp các trấn, lộ trong toàn quốc, việc thi tuyển dần được mở rộng
Các công trình kiến trúc Nho giáo được mở mang rộng lớn hẳn Từ năm 1483 -
1484, dưới triều Lê Thánh Tông, nhà vua dựng Văn Miếu và mở mang Quốc Tử Giám thành khu học xá rộng lớn Sử liệu còn ghi lại: Nhà chính của Văn Miếu là điện Đại Thành thờ Khổng Tử, 3 gian 2 chái, lợp bằng ngói đồng Hai bên đông và tây điện Đại Thành, 2 dãy nhà nhỏ hơn để thờ các vị tiên hiền, mỗi dãy gồm 7 gian, đằng sau có cửa nhỏ 1 gian
Điện Canh Phục là nơi túc trực trước khi vào lễ và cũng là nơi để nhà vua thay áo vào lễ, 1 gian 2 chái Nhà bếp 2 gian, kho để chứa đồ tế khí 3 gian 2 chái Nhà Thái Học là trụ sở
4 Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, NXB Sử học, Hà Nội 1962
5
Lê Quý Đôn, Sđd Tr 68-69
Trang 9chính của nhà trường gồm 3 gian, lợp ngói đồng, đằng sau có cửa Thái Học và tường Nhà ngang Hai dãy nhà hai phía đông và tây là nơi trưng bày kho để ván và giữ gìn các bia ghi tên tiến sĩ đậu trong các khoa thi, mỗi dãy đều có 12 gian Khắc sách gồm 4 gian và cửa ngoài 1 gian, xung quanh đắp tường Cửa hành mã (lối ngựa vào), phía ngoài tường ngang gồm 3 gian Nhà Minh Luân 3 gian 2 chái Các cửa nhỏ bên phải và bên trái đều 1 gian, có tường ngang Nhà giảng đường (để giảng dạy) phía đông và phía tây, hai dãy đều 14 gian Nhà Minh luân phía đông 3 gian Phòng ở của học sinh 3 xá bên đông và bên tây nhà Thái Học, mỗi bên 3 dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian gồm hai người ở 6
Vào thời kỳ này, Phật và Đạo giáo không được nhà nước khuyến khích nhưng vẫn
tồn tại và được mọi giới chấp nhận nhất là nhân dân Lê Sát cho xây chùa Thanh Đàm,
chùa Chiêu Độ rộng 90 gian Chùa Báo Thiên ở Kinh thành được mở rộng, rước tượng
Phật từ chùa Pháp Vân về để soạn bia chùa Diên Hựu Bản thân nhà vua Lê Thánh Tông mặc dù rất sùng Nho nhưng vẫn đi thăm viếng chùa chiền, cho dựng lầu Vọng Tiên và thừa nhận: “Giáo lý Phật Lão hết thảy đều mê đời lừa dân, che lấp nhân nghĩa, cái hại của nó
không thể kể xiết mà lòng người vẫn ham rất tin Đạo của Thánh hiền (Nho giáo) đều thiết dụng trong cuộc sống thường ngày mà lòng ham thích của người ta chẳng bằng Phật, Lão” Các đền thờ thần linh, các danh nhân lịch sử văn hoá và các lễ hội vẫn được xây
dựng, tổ chức ở khắp nơi Chính sách độc tôn Nho học của nhà Lê thực tế đã không được thi hành
Văn Miếu Quốc Tử Giám được mở rộng, giáo dục khoa cử Nho học được kiện toàn
Lê Thánh Tông còn ban bố trong nhân dân “24 điều giáo huấn” để củng cố những nguyên
tắc cơ bản về đạo đức và lễ giáo Nho giáo Đợt trùng tu mở rộng lớn nhất vào năm 1483,
khi Lê Thánh Tông cho dựng ở Văn Miếu công trình Đại Thành Môn, nhà Giải Vũ , điện
Canh Phục, kho Khí Tế, nhà bia (năm 1484, cho dựng 10 bia, kể từ khoa 1442) Đối với
Quốc Tử Giám, cho dựng Minh Luân, giảng đường Đông Tất, kho Bí thư, nhà nghỉ cho
giám sinh Nơi đây cũng đặt các chức Tế tửu và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Từ đó, hệ thống
trường học ở các địa phương cũng được xây dựng từ cấp phủ huyện, đến cấp xã
Cuối thời Lê sơ cả khu quần thể này được tu sửa, đáng kể nhất là năm 1511, Lê Tương Dực, sau khi giành được ngôi vua của Lê Uy Mục đã sửa lại điện Sùng Nho ở Quốc
Tử Giám và 2 giải vũ, 6 nhà Minh Luân, phòng bếp, phòng kho, cùng làm mới 2 nhà bia bên đông, bên tây, mỗi gian tả hữu đều một tấm bia.7 Ngoài ra, còn có kiến trúc các trường
thi, như Văn tập đường là nơi vua ngự để hỏi bài tiến sĩ, các thí sinh
Trang 10Ngoài những công trình đồ sộ, thời Lê còn có những công trình có kiến trúc, quy
mô nhỏ hơn, kích thước vừa phải và đẹp được mọi người ca tụng Như Quảng Văn đình (1492) dùng làm nơi treo các pháp lệnh trị dân Lịch triều hiến chương loại chí, có ghi mô tả lại của Bùi Xương Trạch về đình: “Về hình thức, cột rất cao, chạm đục thưa thớt Du
thấp mà không xấu xí, dẫu đẹp mà không lộng lẫy Thế là mẫu mực được vừa phải”8 Các
công trình khác như Nghị Sự đường, Vân Tập đường, Phượng Nghi đường là nơi dùng để
đọc sách và thi cử, hoặc viện Đãi Lậu - nơi các quan ngồi chờ trước lúc vào chầu vua
Một số công trình kiến trúc đáng chú ý khác thời Lê sơ như cầu Ngoạn Thiềm để vào Hoàng Thành, vườn Thượng Uyển là nơi nuôi hươu, các thú vật khác để làm chỗ tiêu
khiển cho nhà vua và triều đình
Tuy nhiên, dấu vết kiến trúc thời Lê ở Văn Miếu không còn thấy, kiến trúc hiện còn chủ yếu từ thời Nguyễn (đầu thế kỷ XX) Do nhu cầu mở đường, xây dựng phố xá, người
ta thu hẹp Văn Miếu Có thể thấy qua 2 thành bậc cửa đá xanh bên ngoài, hình dáng giống cửa nhỏ điện Lam Kinh Thành bậc trang trí mây xoắn, hoa chanh được kết thành một dải băng làm diềm, ở giữa chạm hoa lá Hiện nay, khu Văn Miếu còn 11 tấm bia đá thời Lê sơ, khắc về các khoa thi, tên các tiến sĩ đậu các khoa thi Các bia cỡ trung bình (cao trên dưới 0,5m; rộng trên dưới 1,1m), dáng mảnh, trán bè, đặt trên lưng rùa, trang trí đơn giản, các bia cùng dựng một lần thì giống nhau
Có thể thấy, kiến trúc Nho giáo thời Lê phát triển mạnh hơn các thời trước Các loại hình kiến trúc thời kỳ này phong phú hơn Nhưng những công trình như vậy không nhiều, mặt dù Nho giáo vẫn được trọng dụng là hệ tư tưởng chính thống, nó chỉ có ý nghĩa với các tầng lớp nhi sĩ và giai cấp thống trị Trong nhân dân thờ cúng Khổng Tử không nhiều bởi nguyện vọng chính vẫn là thờ Phật Tuy nhiên, Văn Miếu ở các tỉnh, văn chỉ ở các huyện, các làng không nhiều Tháp - Chùa làng vẫn phát triển rộng tại các thôn quê
Thời Lê sơ, Phật giáo bị chính quyền hạn chế, ngôi chùa Việt lâm vào giai đoạn thăng trầm nay hầu như không còn điều kiện phát triển Phải kể đến cuộc chinh chiến ở thế
kỷ này, giặc Minh đã không tiếc tay tàn phá vô số đền chùa ở nước ta Nho giáo được thế trội lên làm hệ tư tưởng chính thống và như thế Phật giáo trên cơ bản bị đẩy lùi về nơi thôn
dã Dấu vết chùa thời Lê còn lại chỉ là vài tấm bia như chùa Kim Liên (Hà Nội), Chùa Cao (Quốc Oai), chùa Phúc Thắng (Thạch Thất - Hà Tây) Nhưng chùa làng lại không để lại
một minh chứng nào mà chỉ có thể thông qua dáng nét kiến trúc dễ nhận thấy rằng thời gian này chùa vẫn được xây dựng, tuy rất ít ỏi (một số chùa hữu ngạn sông Đáy thuộc huyện ứng Hoà - Hà Tây)
8
Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, NXB Sử học, Hà nội 1960 TI, Tr 205
Trang 11Hầu như ở thời Lê sơ, những quy định khắt khe được đặt lại, không một di tích của làng xã nào được xác định cụ thể trừ vài ba tấm bia, còn tất cả di tích cung đình chủ yếu
gắn với vua Đó là cung điện, lăng mộ
Trong 3 giai đoạn của triều Hậu Lê thì ở giai đoạn 2 (XVI - XVII) nền văn hoá dân tộc lại nổi lên rực rỡ nhất trong đó có kiến trúc Đa số các kiến trúc truyền thống có giá trị còn lại đến ngày nay là được xây dựng từ đời Hậu Lê, hoặc đã có từ đời trước nhưng cũng
được sửa chữa tu bổ nhiều ở đời Hậu Lê Nói đến kiến trúc Hậu Lê, các sử sách cũng như các nhà nghiên cứu nói nhiều đến loại hình kiến trúc mới hình thành và sử dụng rộng rãi
trong các làng mạc, đó là các đình làng như đình Tây Đằng (thế kỷ XVI ở Hà Tây), đình
Chu Quyến (thế kỷ XVII ở Hà Tây), đình Đình Bảng (thế kỷ XVIII ở Hà Bắc).v.v Các
ngôi chùa nổi tiếng như chùa Tây Phương (thế kỷ XVIII ở Sơn Tây), chùa Keo (thế kỷ XVII ở Thái Bình), chùa Trăm Gian (Hà Tây), chùa Ninh Phúc (Bút Tháp - Hà Bắc) v.v Các cung điện Lam Kinh (Lam Sơn - Thanh Hoá), các cung điện và cửu trùng
đài ở Thăng Long Kiến trúc giao thông có các cầu làng như cầu làng Phạm Lâm (Hải
Dương), cầu ngói làng Phu Khê (Hà Nam Ninh), cầu trôi làng Phúc Toại (Hà Bắc), cầu
Phát Diệu hay Nhật Nguyệt Tiên Kiều ở chùa Thầy Kiến trúc lăng mộ có các lăng mộ của
vua Lê ở Lam Sơn - Thanh Hoá
Lăng mộ được coi như nhà ở, được xây dựng chu đáo cẩn thận, thậm chí theo kiểu mẫu quy mô ngôi nhà cổ xưa kia của người đã chết mà còn được chôn theo đồ tuỳ táng, nhiều ít tuỳ theo tầng lớp trong xã hội Vì thế mà nghệ thuật bố trí lăng mộ, theo thuyết nhân quả, tam thân, tam thế của nhà Phật Song tất cả quy tụ vào đức Phật tối cao, quy tụ vào người chết trên cõi niết bàn
Thời Lê, Nho giáo được đề cao, gia đình gia tộc coi trọng, thờ cúng cha mẹ tổ tiên chú ý hết mức nên mồ mả lăng tẩm là việc hệ trọng ở đời Điển hình là Lăng Lê Thái Tổ
(1433) “Điện Lam Kinh đằng sau gối vào núi, trước mặt trông ra sông, bốn bên nước non
xanh biếc, rừng rậm um tùm Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ, Thiên Lăng hay Hương Lăng của
Lê Thái Tông và lăng của các vua khác nhà Lê đều ở đây cả Lăng nào cũng có bia, lấy Tây hồ làm não ”9
Dấu vết điện Đông Kinh bị đập phá thật tang thương, mô phỏng hình nhà chữ Công
do ba nếp nhà lớn đặt song song (36cm x 16,30cm, 7 gian 2 chái, các hàng cột của 5 gian giữa cách nhau 5m) Cột cái các vì kèo cách nhau 6,30m Đây là công trình kiến trúc
gỗ với bộ kết cấu khung đồ sộ theo lối chồng diêm hai lớp mái Sau chính điện còn 9 ngôi lầu đặt cạnh nhau có bố cục độc đáo
9
Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, NXB KHXH, Hà Nội 1992
Trang 12Lăng vua Lê gần chân núi Dầu cách tường bao quanh chân điện hơn 20m, hướng nam, mặt bằng gần vuông (25 - 26m), tường xây dựng bao quanh Mộ sát phía tường trong, chính giữ trục cân đối hai bên có tượng quan hầu và 4 tượng thú: lân, tê giác, ngựa,
hổ Tấm bia đá Vĩnh Lăng - trang sử ghi lại chiến công của nhà Lê, sừng sững ngự trên
lưng con vật huyền thoại của nghệ thuật dân gian người Việt, gợi lại hình tượng quen thuộc của tư tưởng Nho giáo thời Lý - Trần
Trên trục đường thần đạo nối thẳng tiền án hậu chẩm, các công trình trong lăng mộ
được bố trí hai bên tả hữu nhất cân đối Qua cổng tiền vào lớp nền thứ nhất bên phải có hồ, bên trái có nhà bia, có cầu qua hồ, lên bậc tam cấp đến lớp nền thứ hai, giữa nền là một
điện thờ bằng ngói, hình chữ công (I) khá to trên nền cao, điện thờ 7 gian, đại bái 7 gian, ống muống 2 gian Trong điện đặt ban thờ cha mẹ, tổ tiên nhà vua, dưới đặt ban thờ các
đời vua Thuyết tam tài được thể hiện ở 3 cấp nền, cao nhất là nền điện thờ Cũng trên lớp nền thứ hai, phía sau điện thờ, được bố trí xây hình vòng cung khép kín
Gần hết mặt ngang lăng là 9 ban thờ, thờ 9 châu của đất nước theo quan niệm phong kiến Phía sân sau có giếng ngọc ở chính đường thần đạo Lăng chôn nhà vua nằm hơi chếch phía trái Trước mộ, hai bên hai hàng lính canh, voi ngựa, sư tử đá đứng chầu những án thư, sập đá, ngai thờ đó là nghệ thuật hoá cuộc sống
Việc xây dựng các công trình đã làm hao tổn bao nhiều xương máu của nhân dân Lê
Uy Mục bắt dân xây dựng nhiều cung điện đền thờ nguy nga cho bọn ngoại trích như Châu Nguyên điện, Bảo Thuỷ đường ở làng Phù Chẩn, Tuyên Du đường ở làng Hoa Lăng hao
tổn công sức của nhân dân không biết bao nhiêu mà kể xiết Nguyễn Dực trong sách Hồng
thuận trung hưng ký đã than về việc xây nhà dựng trong khi đời sống nhân dân lại khốn
cùng Lê Tương Dực lên ngôi lại hoang dâm lãng phí công sức của nhân dân dựng cung
điện, đào sông đắp thành hưởng lạc Lại cho đòi Vũ Như Tô là người thợ ở Cẩm Giàng lấy nứa xếp thành cung điện có trăm nóc rất đẹp về triều phong làm “đô đốc giám” để xây
dựng Đại Điện và Cửu Trùng đài tráng lệ “Đại điện hơn trăm nóc, có gác, Cửu Trùng đài
lớn lao đẹp đẽ Trước mặt điện có đào hồ thông với sông Tô Lịch vòng quanh khuất khúc Dọc theo sông Tô Lịch thì đắp thành rộng hàng nghìn trượng bao bọc cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ và chùa Kim cổ Thiên Hoa Thành đắp từ đồng nam đến tây bắc, chặn ngang sông Tô Lịch Bên trên có Hoàng Thành, bên dưới thì có cống xây dựng bằng
đá, gạch và sắt chắn suốt bề ngang” 10 Công trình này đến nay đã không còn
Vào thời kỳ này, nhà vua tiếp tục củng cố phát triển kiến trúc ở thời Lý - Trần nhưng
với quy mô nhỏ hơn Tiếp tổng thể kiến trúc thường áp dụng biện pháp "bố cục nhiều lớp"
với trục đối xứng trung tâm - đó là nét đặc trưng của kiến trúc xây dựng đời Hậu Lê
10 Quốc sử quán nhà Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, NXB Văn sử địa, Hà nội 1960
Trang 13Hoàn thiện các mẫu công trình có từ đời trước (cung điện, dinh thự, chùa v.v) đồng thời bắt đầu xây dựng rộng rãi đình làng với ý nghĩa một công trình công cộng nhiều chức năng và có tính chất tôn giáo, cầu ngói kiểu "thượng gia hạ kiều" với chức năng để giao thông và cũng là nơi tụ hội để trao đổi buôn bán
Kiến trúc đình được nhiều nhà nghiên cứu coi đó là hình ảnh tiêu biểu nhất của truyền thống kiến trúc Việt Nam Người ta đặc biệt chú ý cách thức xây dựng để tôn lên vẻ
đẹp kiến trúc của công trình Điều này dễ nhận thấy ở tỉ lệ công trình như mái đình lớn dốc (chiếm tới 2/3 độ cao của nhà) có 4 mái, bờ nóc, bờ chảy và góc mái uốn cong đều có trang trí đắp nổi Kết cấu quan trọng nhất của công trình là bộ vì kèo đỡ mái đình thường
đồ sộ, hệ thống khung cửa không chỉ đỡ mái còn đỡ sàn Bên cạnh đó, tổ hợp nghệ thuật giữa kiến trúc và điêu khắc chạm trổ trong đình đã đạt tới một trình độ cao Ngoài các mô típ rồng, trong nhiều đình còn gặp các bức chạm khắc thể hiện sinh động cảnh sinh hoạt, làm việc vui chơi hội hè đình đám của người lao động nông thôn
Các công trình xây dựng kiến trúc thời Hậu Lê chủ yếu vẫn là kiến trúc gỗ với hệ
thống "cột xà kẻ" vì kèo với mẫu chồng rường Tiền kẻ hậu bẩy được hoàn thiện, kết cấu từ
dạng thô nặng thời Lý - Trần đến đời Lê thì thanh nhẹ và duyên dáng hơn, xuất hiện các
chống chéo ở các bẩy để đảm bảo sự ổn định đỡ phần hiên mái của các bẩy thanh nhẹ
Ngoài kết cấu kèo cột đỡ mái một lớp (4 mái) phát triển hệ kèo cột đỡ mái hai lớp kiểu chồng diềm (8 mái) như chùa Tây Phương Thế kỷ XV được coi là giai đoạn “khuyết” của kiến trúc gỗ trong sự hiểu biết của chúng ta hiện nay
Trong thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến, các dinh thự của bọn quan lại cực kỳ
xa hoa lộng lẫy (xây Cửu Trùng đài) trong khi đó đời sống nông dân khổ cực đói kém, làng mạc xơ xác Kiến trúc xây dựng thể hiện sự mâu thuẫn giai cấp gay gắt trong xã hội
Nghệ thuật kiến trúc thời Hậu Lê phong phú, ngoài thức "cột xà kẻ" truyền thống còn thấy xuất hiện hệ thống "chống đấu" vươn ra đỡ hiên mái (tầng hai, ba gác chuông chùa Keo) theo kiểu "đấu củng" của Trung Hoa Sự phối hợp 2 thức cấu trúc gỗ (Việt -
Hoa) trong gác chuông chùa Keo rất hài hoà
Điêu khắc trong các công trình kiến trúc Hậu Lê đạt được trình độ nghệ thuật cao thể hiện trong các tượng thờ ở chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp trong các phù điêu chạm trổ ở các vì kèo, đình chùa nêu ở trên
Mối quan hệ giữa kiến trúc với khung cảnh thiên nhiên, với địa hình vẫn phát triển
được truyền thống có từ trước
Chúng tôi muốn nhấn mạnh những đóng góp lớn lao của nhà Lê trong sự nghiệp xây dựng đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc Hai mươi năm đô hộ của nhà Minh không bị hoà trộn và lán át nền văn hoá truyền thống trước đó Sự chuyển đổi nhuần
Trang 14như chùa Cói, chùa Thượng Trung, chùa Hội Hạ (Vĩnh Phúc), chùa Hương Trai, cụm di tích chùa Thày và chùa Bối Khê (Hà Tây), nhiều chùa thuộc hệ thống Tứ Pháp ở khu vực Dâu (Hà Bắc), chùa Ninh Hiệp, chùa Đa Tốn (Hà Nội), chùa Mễ Sở, chùa Động Ngọ Côn
Sơn và nhiều chùa khác (Hải Hưng), chùa Phổ Minh (Nam Định), chùa Trà Phương (Hải
Phòng) cùng nhiều chùa ở Hải đảo như chùa An Đông (Quảng Yên) với cả chùa Ngang -
Nghệ Tĩnh được quan tâm làm mới hoặc tu bổ để lại nhiều dấu ấn
Con đường Phật giáo vào Việt Nam là quá trình dàn trải các ngôi chùa trên mảnh
đất này Qua mỗi thời đại cách thức xây dựng đã khác nhau Ngôi chùa thời Mạc, cơ bản còn giống như kết cấu chùa làng ở nửa cuối thế kỷ XIV
I.2.3 Kiến trúc dân gian
Nhà cửa của nhân dân lao động tập trung chủ yếu trong khu 36 phố phường hầu hết
đều là các phường chuyên nghề thủ công, không khí sinh hoạt tấp nập Nhờ vào việc buôn bán, trao đổi hàng hoá, các phường phố trở nên sầm uất Kinh thành có hai chợ lớn là chợ
Đông và chợ Tây là những trung tâm buôn bán, đổi chác, tập trung nhiều người Phố xá mọc lên ngày càng nhiều, mạng lưới chợ san sát Năm 1434, kinh thành bị cháy mất vài trăm nóc nhà ở các địa phương, năm 1477, Lê Thánh Tông phải ra sắc chỉ cho mở thêm nhiều chợ mới, mặt dù chợ đó chưa có trong ngạch cũ
Sự phát triển về xây dựng mạnh đến mức vượt qua cả quy chế hiện hành vì thế triều
đình phải ra sắc lệnh nhằm uốn nắn và hạn chế Năm 1448, triều đình ra lệnh cấm “quan viên quân dân không được chiếm ruộng công để đào ao, làm vườn nhà”
Khu dân cư ở ngoài Hoàng thành cả xã thôn và phố xá đều gọi là phường, có 36 phường
Có thể thấy, tình hình xây dựng kiến trúc trong dân gian thời này trở thành nhu cầu rộng rãi khắp mọi nơi, nhưng về quy chế ngặt nghèo của đất nước nên các kiến trúc còn bị hạn chế về kích thước và trang trí Vì thế giữa nghệ thuật kiến trúc cung đình và nghệ
thuật kiến trúc dân gian đã hình thành và càng sâu sắc, đối lập
I.2.4 Hình thức và chức năng của các công trình kiến trúc
Việc xây dựng các công đường cho chúng ta hình dung chi tiết hơn cả về tình hình xây dựng ở Thăng Long thời Lê sơ Các công trình này tập trung về phía nam Kinh thành
Trang 15và việc xây dựng đã được quy định rõ ràng từ thời Hồng Đức Trong Kiến văn tiểu lục, Lê
Quý Đôn11 đã nói khá rõ về việc xây dựng này
- Tư lễ giám, Tư chế giám, Đô sát giám, Nội phủ giám và Bảo tạng giám mỗi cơ
quan đều có một dãy công đường 3 gian 2 chái, nghi môn đều 1 gian
- Lại bộ: Nội nha môn có công đường 1 dãy 5 gian, ở sau tráng sĩ trực điếm của ti
Thần tý, có nghi môn 1 gian, nhà để sổ của ti Thuyên khảo thanh lại một dãy 3 gian 2 chái Sảnh đường 1 gian, nghi môn 3 gian, chung quanh bao tường
- Hộ bộ: nhà chữ công, đằng trước đằng sau đều 3 gian 2 chái, nhà cầu 3 gian, sảnh
đường 1 gian, nhà lưu trữ thuế vật mỗi dãy 7 gian, nhà để sổ sách của ty Thanh Lại một dãy 3 gian 2 chái, nhà lưu trữ sổ hộ 4 dãy mỗi dãy 11 gian, ngục phòng 3 gian, nghi môn 3 gian, bốn chung quanh bao tường
- Lễ bộ: công đường, đằng trước 3 gian 2 chái, đằng sau 1 gian 2 chái, sảnh đường
một gian, ty nghi chế Thanh lại một dãy 3 gian, phòng , phòng để sổ phía rả phía hữu hai dãy, 7 gian, nghi môn 3 gian, bốn chung quanh bao tường
- Công bộ: nhà chữ Công, đằng trước đằng saud dều 3 gian 2 chái Nhà cầu 3 gian,
sảnh đường 1 gian, nhà để sổ của ty vũ khố thanh lại một dãy 12 gian, nghi môn 3 gian, ngục phòng 3 gian, bốn chung quanh bao tường
- Hình bộ: nhà chữ Công, đằng trước đằng sau đều 3 gian 2 chái, nhà cầu 3 gian,
sảnh đường 1 gian, nhà làm việc của ti 5 dãy, mỗi dãu 3 gian 2 chái, nghi môn 2 gian, bốn chung quanh bao tường
- Đông các: nhà chữ Công, đằng trước đằng sau đều 3 gian 2 chái, nhà cầu 3 gian,
hành lang 1 dãy 9 gian, 2 bên bao tường
- Hàn lâm viện: nhà chữ Công, đằng trước đằng sau đều 3 gian 2 chái, nhà cầu 3
gian, tả điếm và hữu điếm 2 dãy mỗi dãy 5 gian, nghi môn 2 gian 2 bên bao tường
- Ngự sử đài: công đường 5 gian 2 chái, ngục phòng của sở án ngục 1 dãy 3 gian,
để hình 12 đạo công 7 dãy, mỗi dãy 5 gian, nghi môn 3 gian, bốn chung quanh bao tường
- Lục khoa: nhà làm việc 2 dãy, mỗi dãy 8 gian Lại khoa, Công khoa và Hình khoa
đều 2 gian, Sử quán 2 gian, Binh khoa 6 gian, Hộ khoa 3 gian, Lễ khoa 2 gian, nhà lưu trữ
sổ hộ 1 dãy 8 gian, nghi môn 1 gian
- Thông chính sứ ty: công đường 1 dãy 1 gian 2 chái, nghi môn 1 gian, bốn chung
quanh bao tường
11
Lê Quý Đôn, Sđd, Tr 188-191
Trang 16- Đại lý tự: công đường 1 dãy 3 gian 2 chái, quảng đường 3 gian 2 chái, nghi môn 4
gian, bốn chung quanh bao tường
- Hồng lô tự: công đường 1 dãy 3 gian 2 chái, Vọng khuyết đường 1 gian 2 chái,
nghi môn 1 gian, bốn chung quanh bao tường
- Tư thiên giám: Nội linh đài 1 gian 2 chái, ngoại linh đài 1 gian 2 chái, nội giám 3
gian 2 chái, ngoại giám 2 gian 2 chái, nhậm cư (?) 9 gian mỗi dãy 3 gian 2 chái, nội nghi môn 1 gian, ngoại nghi môn 1 gian, bên trong bao tường bốn chung quanh, ngoài thềm đài bao tường bốn chung quanh Đài trắc ảnh 1 toà, nền cao 8 thước, rộng 4 thước, theo thể lệ
do ngũ phủ xây dựng, còn như lầu trắc ảnh của bộ Công ở ngoài cửa Nam Huân
- Thái y viện: công đường 3 gian, nghi môn 1 gian, nhà tế sinh, công dường 3 gian
2 chái, nghi môn 1 gian
- Bắc sứ quán: nhà chữ Công, đằng trước đằng sau đềy 3 gian 2 chái, nhà cầu 3
gian, hành lang phía tả và phía hữu 2 dãy mỗi dãy 7 gian 2 chái, hành lang mặt sau 5 gian
2 chái, nghi môn 3 gian, bốn chung quanh bao tường
- Triều chính: đình 1 dãy, 1 gian 2 chái
- Hội đồng quán: nhà chữ Công, đằng trước đằng sau đều 3 gian 2 chái, nhà cầu 3
gian, hành lang phía tả và phía hữu 2 dãy, mỗi dãy 9 gian, nghi môn 3 gian, bốn chung quanh tường bao
Tuy một số tên gọi của các công trình này chưa rõ chức năng sử dụng của nó, nhưng qua mô tả khá chi tiết trên của Lê Quý Đôn, chúng ta cũng phần nào hình dung
được tình hình xây dựng của các công đường ở Đông Kinh ra sao Việc phân chia ra nhiều ngành nhỏ và sự phong phú của từng loại hình, chứng tỏ bộ máy nhà nước thời đó đã được
tổ chức rất quy củ và ngành kiến trúc đã có vị trí xứng đáng Tuy nhiên, các công đường trên kích thước còn quá nhỏ được dập theo một khuôn khổ quy chế nhất định Chính vì vậy, nhà kiến trúc không có điều kiện để bộc lộ được tài năng và sức sáng tạo của mình
Do đó, các công trình kiến trúc đã gây nên sự đơn điệu và ít thu hút sự chú ý từ bên ngoài
Ngoài các công đường trên đây, triều dình nhà Lê còn cho xây dựng phía nam kinh
đô một số đàn để tế trời đất và các thần Các đàn này có quy chế nhất định
- Đàn Nam Giao: tế trời đất, có điện Chiêu sự 3 gian 2 chái, nhà bên cạnh về phía
đông và phía tây 2 dãy, mỗi dãy đều một gian 2 chái, đông vũ và tây vũ 2 dãy mỗi dãy 7 gian, cửa điện Chiêu sự 3 gian, điện Canh y và trai cung đều 1 gian 2 chái, phòng nhà bếp
3 gian, thứ nữa, cửa giữa 3 gian, cửa tả và cửa hữu đều 1 gian, lại thứ nữa hai cửa ngoài
đều 3 gian, bốn chung quanh đắp tường
Trang 17- Đàn xã tắc, để cầu cho quanh năm được mùa, nền đàn một khu, nội nghi môn 3
gian, cửa nhỏ 2 gian, bốn chung quanh đắp tường, điện Canh y 1 gian 2 chái, nhà túc yết 5 gian 2 chái, kho tế khí và phòng bếp đều 3 gian, ngoại nghi môn 3 gian, bốn chung quanh
đắp tường
- Đàn Phong Vân: để cầu mưa, nền đàn một khu, nhà phụng sự 3 gian 2 chái, nội
nghi môn 1 gian, nhà túc yết 2 dãy, đều 1 gian 2 chái, kho tế khú và phòng bếp đều 3 gian,
1 ngoai nghi môn 1 gian, bốn chung quanh đắp tường.12
Đến nay, cung điện, dinh thự, đàn tế thời Lê sơ không còn lại nữa, tất cả đều bị các
đời sau sang thay thế hết hoặc bị phá huỷ
Hiện nay còn lại thành bậc Kính Thiên gồm 4 thành chạy dài suốt chín cấp từ dưới
đất lên tạo thành 3 lối vào chính điện Nền nóng còn lại tương đối nguyên vẹn Hai dãy thành giữa chạm hình rồng uốn khúc đầu nhô cao, bò từ trên nền điện xuống Rồng có đầu
to, sưng dài có nhánh, bờm mượt cuộn ra sau, lưng rồng có kỳ nổi cao và sắc, mắt lồi, một chân đang cầm râu
Hai dãy thành bậc ở hai bên cũng được chạm thành khối cuồn cuộn nhưng không phải là hình rồng mà chỉ là mây lửa, hoa lá cách điệu, nét chạm sắc sảo, điêu luyện vẫn giữ
được truyền thống chạm đá thời xưa
Thành bậc có chiều ngang 13,7m; chiều dọc 4,45m, cao 2,1m (tính cả chiều cao nền điện) Kích thước thành bậc to cho thấy sự khang trang, rộng lớn của điện Kính Thiên xưa (1467) Công trình phản ánh nền nghệ thuật tạo hình thời Lê sơ - một nền nghệ thuật
có khuôn phép, thấm đợm tinh thần nghệ thuật dân gian
Ngoài thành bậc cửa điện Kính Thiên, còn có thành bậc ở đàn Nam Giao Thành bậc cửa bằng đá, nhỏ hơn các thành bậc cửa ở nền điện Kinh Thiên (dài 2,62m; rộng 0,33m; cao 1,30m) Hình dáng của bậc điện giống thành bậc cửa hai bên nền điện Kính Thiên, có những khối cuộn, ngấn khúc theo dáng các hình mây lửa trang trí mặt cạnh phía ngoài của thành bậc Các trang trí trên mặt cạnh ngoài của nó cũng có nhiều nét khác hơn Phía trên có hình mây xoắn cuộn khúc, có điểm thêm hình mác dài đây là đặc trưng trang trí phổ biến trong nghệ thuật kiến trúc thời Lê sơ Trong vòng tam giác của khung viền hình hoa chanh, đặc biệt có chạm nhiều đề tài mang tính dân gian lành mạnh Đó là hình hai con vịt đang chao mình bơi trên sóng nước, con trước ngoái đầu chờ, con sau
đang dớn cổ bơi nhanh Phía trước nữa là hình chạm theo đề tài cá hoá rồng Nghệ nhân đã chạm một hình cá mình ngập trong nước, còn đầu và đuôi nhô lên cao Đuôi cá có hình giống đuôi cá thật, nhưng đầu lại có thêm râu, mắt, kiểu đầu rồng
12
Lê Quý Đôn, Sđd
Trang 18Tuy chưa rõ niên đại đàn Nam Giao, nhưng qua phong cách chạm khắc ở thành bậc cửa của đàn, chúng ta cũng có thể đoán định được nó phải ra đời vào giai đoạn đầu của triều Lê sơ, giai đoạn mà nghệ thuật còn tiếp thu được truyền thống quý báu của thời Lý - Trần và chưa bị gò bó trong các quy chế khắc nghiệt như về sau
Những di vật kiến trúc ở Đông Kinh thời Lê sơ còn lại ít ỏi nhưng cũng giúp ta hình dung được phần nào lâu đài cung điện thời đó Đây là những di vật hiếm và quí Cùng với các di vật khác ở Lam Kinh chúng phản ánh phần nào kiến trúc thời Lê sơ
Hệ thống lăng mộ thời Lê sơ lại chủ yếu tập chung ở Lam Kinh Nhưng nhìn chung,
các lăng mộ đều theo khuôn mẫu, bố cục đăng đối theo trục dài
Qua những di tích trên, có thể nhận thấy những đặc trưng của thời kiến trúc xây
dựng thời Lê sơ đó là:
+ Các công trình kiến trúc kém phần đồ sộ, bề thế, số lượng lại chưa nhiều Các công trình trong thành Đông Kinh lại xây dựng trên cơ sở nền điện cũ thời Trần, được làm mới hoặc tu bổ thêm Công trình to lớn nhất thời Lê sơ có quy mô 5 gian 2 chái (thông thường chỉ có 3 gian 2 chái), chủ yếu lợp tranh, chung quanh tường đất Tiêu biểu cho kiến
trúc thời kỳ này là toà Đại điện trăm nóc và Cửu trùng đài, những công trình đơn lẻ khác
không hề được nhắc đến hoặc chưa làm xong đã bị quân khởi nghĩa đập phá
+ Hầu hết các công trình tôn giáo có quy mô nhỏ Riêng Văn Miếu được đầu tư mở mang để phục vụ trực tiếp cho nhu cầu thời đó Rõ ràng là, Nho giáo đã có tác động quan trọng đến kiến trúc nước nhà Các kiến trúc sư tài ba đều bị giặc Minh bắt về nước đó là nguyên nhân khiến các công trình kiến trúc thời Lê kém đồ sộ và ít ỏi về số lượng
+ Các công trình có bố cục dập khuôn bởi quy chế ngặt ngèo của xã hội, hạn chế các hoạt động nghệ thuật của nhân dân Quy mô, tỉ lệ công trình bị hạn chế kích thước nên khuôn mẫu có phần khiên cưỡng Các công đường tuỳ theo mức độ quan trọng mà kích thước khác nhau, tuy nhiên đều theo khuôn mẫu sẵn
Trị sở của các bộ, ty đều có bố cục nội công ngoại quốc (1 dãy nhà ngang phía
trước, 1 dãy nhà ngang phía sau và nối hai dãy nhà này là một nhà cầu ngắn hơn), chung quanh có hành lang bao bọc) Bố cục này phổ biến rộng trong các công trình cung điện và kiến trúc tôn giáo
+ Nghệ thuật đăng đối trong các công trình kiến trúc từ thời Lý Trần vẫn được kế thừa, tuy nhiên, không phải lối đăng đối quy tụ và tâm điểm ở giữa mà theo/trên trục dài -
đăng đối theo từng điểm qua trục, đăng đối theo từng lớp, từng khối qua trục Nghệ thuật này khiến công trình có dáng vẻ thâm nghiêm, kín đáo Thể hiện rõ ở những công trình tôn giáo tín ngưỡng, những công trình của quan lại giàu có (dinh thự, cung điện, lăng mộ)
Trang 19+ Thời Lê sơ nghệ thuật dân tộc bị phân hoá rõ rệt (cung đình và dân gian dần đi
đến chỗ cách biệt và đối lập nhau) Kiến trúc cung đình vẫn luôn được coi là dòng nghệ thuật chính thống, chiếm ưu thế trong xã hội
Quy định làm nhà cửa to nhỏ, cấm dân gian chạm khắc lân, phượng vv đã nói lên
sự cách biệt của nền kiến trúc cung đình với kiến trúc dân gian Lối kiến trúc có bố cục tạo nên không khí trang nghiêm nhằm nêu bật uy quyền và sự giàu sang của giai cấp thống trị, nằm trong hệ thống kiến trúc cung đình tách biệt Yếu tố này thể hiện rõ trong trang trí Các mô típ nặng về tính chất vương quyền xa rời đời sống thực tại như tứ linh, tứ quý, hình mây lửa, hoa sen được chạm khắc trang trí trong những bố cục cân xứng trang nghiêm ở thời kỳ đầu, một số mô típ trang trí còn giữ lại nét truyền thống của thời Lý - Trần Hình rồng uốn khúc mềm mại có mào dài, các đề tài cá hoá rồng sinh động Về sau, do ảnh hưởng của nghệ thuật phương Bắc, nhất là thời Lê Thánh Tông, kiến trúc cung đình đã dần
mờ nhạt
Năm 1448, cấm nhân dân mặc màu vàng, đi giày, dùng đồ chạm vẽ lân phượng, vô
lý hơn cấm cả dân gian nuôi gà chọi, khỉ làm trò, bồ câu bay, chim sơn hô, cá văn ban, các vật làm trò chơi; năm 14977 cấm dùng đồ nạm khắc vàng bạc và vẽ rồng, phượng, cấm dùng thuỷ tinh để làm mũ và ống nhổ; năm 1469, cấm làm và bán nón sắc trắng như phấn Trong xây dựng thì hạn chế sư tăng dựng chùa mới, dồn các chùa cũ bị hỏng lại, coi thường tượng Phật, cấm múa hát, cấm biểu diễn trai gái ngoặc chân tay với nhau, đuổi sân khấu chèo ra khỏi cung đình Và bởi những lề thói khắt khe vô lý đó, dân gian không thoả mãn được những khát vọng về văn hoá và nghệ thuật nên họ đã tạo ra đời sống văn hoá mới mà kết quả là đầu thế kỷ XVI, nở rộ tranh tết và những điêu khắc đình làng
Tính dân gian trong nghệ thuật kiến trúc xây dựng thời Lê sơ vẫn len lỏi trong kiến trúc cung đình như hệ thống tượng thờ, tượng thú, chạm khắc ở đình, và trở thành một thành tố quan trọng của nghệ thuật cung đình Ngôi đình thế kỷ XV, từ vật liệu đơn giản bằng tranh tre tiến tới một nghệ thuật kiến trúc đình làng hoàn chỉnh vào thế kỷ XVI
Các công trình kiến trúc cung đình chủ yếu do nhà nước đứng ra xây dựng trong khi kiến trúc dân gian vẫn tồn tại trong làng xã Những công trình kiến trúc mang giá trị nghệ thuật nhân sinh được bàn tay và óc sáng tạo của người thợ nhào nặn là điều cơ bản nhất khiến nghệ thuật dân tộc không bị héo mòn, lạc hướng, mất gốc Xu hướng dân gian được phát triển đậm đà trong nghệ thuật kiến trúc cung đình cuối thế kỷ XVI đã minh chứng hùng hồn điều đó
II Chứng cứ qua kết quả khảo cổ học, di tích và tư liệu
Năm 1428, triều Lê đổi tên kinh thành là Đông Kinh Trong thời Lê sơ, quy mô thành Đại La hầu như không thay đổi, năm 1477 được xây dựng lại Vòng thành giữa được
Trang 20gọi là Hoàng Thành Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, tên Hoàng thành xuất hiện đầu tiên
năm 1463 và sau đó sử biên niên ghi chép vào các năm 1467, 1514, 1516 Đặc biệt, trong
Quốc triều hình luật, việc bảo vệ Hoàng thành được quy định chặt chẽ và nhắc nhiều lần
trong các điều 51,52,53,56,62,80,81,82,91,92,94,9613 Những chứng cứ đó khẳng định tên gọi Hoàng Thành trong thời Lê Tên gọi này được dùng phổ biến cho đến thời Mạc nên nhiều nhà khoa học sử dụng tên Hoàng thành để gọi khái quát vòng thành giữa của các kinh thành mang cấu trúc “tam trùng thành quách”
Một vài địa điểm KCH tiêu biểu ở Thăng Long
* Khảo cổ học Hoàng Thành Thăng Long
Di tích KCH Ba Đình được gọi là Di tích Hoàng Thành Thăng Long cũng theo ý nghĩa khái quát đó Từ thời Lê, thời Mạc đến thời Lê Trung hưng sau đó, Hoàng Thành
được gọi là “Thăng Long thành”
Hoàng Thành đời Lê sơ qua hai lần mở rộng:
Lần thứ nhất (năm 1490): “Năm Giáp Tuất, Hồng Đức thứ 21 (1490) tháng 11, đắp
rộng thêm Phượng Thành theo quy mô thời Lý - Trần Vua cảnh giác về việc Nhân Tông bị hại, nên lấy lính đắp thành đó, đồng thời phía ngoài trường đấu võ, mở rộng đến 8 dặm, sau 8 tháng thì đắp xong”14 Trước đó, trong thời thuộc Minh, chính quyền đô hộ đã mở
“khu diễn võ” bên ngoài phủ thành (tức thành Đông Quan), chu vi 12 dặm, trong đó dựng
đình Diễn Võ và bên ngoài có một thành đất “chạy dài từ đông sang tây, xuống đến nam, hoảng 5 hay 6 dặm, phía đông giáp góc đông nam phủ thành (Đông Quan)”15 Có thể, Lê Thánh Tông đã mở rộng Hoàng Thành về phía tây nam trên cơ sở khu diễn võ của thành
Đông Quan, nay là khu Giảng Võ
Lần thứ 2 (năm 1516): “Bính Tý, năm Hồng Thuận thứ 8 (1516) trước đây vua thích
làm nhiều công trình thỏo mộc, đắp tành rộng lớn mấy nghìn trượng, bao quanh điện Tường Quang, quán Chân Vũ, chùa Thiên Hoa ở phường Kim Cổ, từ phía đông đến phía tây bắc, chắn ngang sông Tô Lịch, trên đắp Hoàng Thành, dưới làm cửa cống, dùng ngói
vỡ và đất đá nện xuống, lấy đá phiến và gạch vuông xây lên, lấy sắt xuyên ngang”16
Trong các cửa Hoàng Thành thì cửa Nam là cửa Đại Hưng vẫn giữ nguyên tên từ thời Lý, cửa Đông gọi là cửa Đông Hoa, sử liệu còn ghi cửa Tây, cửa Bắc Thần, cửa Bảo Khánh
13 Quốc triều hình luật, NXB Pháp lý, Hà Nội 1991, Tr 50-64
14 Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH Hà Nội 1993, TII, Tr 508
15 Cao Hùng Tưng, An Nam chí, EFEO Hà Nội 1932
16
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH Hà Nội 1993, TIII, Tr 74
Trang 21Bản đồ Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông tiến hành trong thời gian niên hiệu Hồng
Đức Năm 1467, nhà vua sai 12 thừa tuyên điều tra địa hình cùng sông núi, sự tích trong vùng rồi vẽ thành bản đồ từng thừa tuyên Trên cơ sở đó, Bộ Hộ tập hợp thành bản đồ cả nước trong đó có bản đồ Đông Kinh, hoàn thành năm 1490 Hiện nay, bản đồ năm 1490 không còn nữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ lại được 11 bản đồ mang ký hiệu
và gắn kiền với những tên sách khác nhau Theo những tấm bản đồ cổ này, Hoàng Thành thời Lê mở rộng sang phía tây, mặt bắc và mặt tây dọc theo bờ sông Tô Lịch, đến khoảng Cầu Giấy thì rẽ sang phía đông theo đường La Thành rồi đường Giảng Võ đến quãng Kim Mã nối với đường thành phía nam qua cửa Đại Hưng Cả khu Giảng Võ được đưa vào
phạm vi Hoàng Thành Phương đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872) mô tả khá rõ về Hoàng Thành đời Lê: “Căn cứ vào bản đồ thành Thăng Long thời Hồng Đức thì
thành này hình thành như thước thợ mộc Ba mặt đông, nam, bắc vuông vắn, mặt tây và nam dài bằng một nửa Cửa Đông bắt đầu từ thôn Đức Môn (trước là thôn Đông Môn) tổng Đồng Xuân, theo hướng bắc đến sông Tô Lịch, theo vờ bên tả qua các cửa Bắc về phía tây đối với phường Nhật Chiêu, theo về phía nam là cửa Bảo Khánh, đến trước bên hữu Văn Miếu, lại qua phía tả là Cửa Nam, đi thẳng về phía đông Đấy là dấu cũ thành Thăng Long”17
Cấm Thành đời Lê gọi là Cung thành, Nguyễn Văn Siêu miêu tả nó gần như hình vuông18 và không thay đổi nhiều so với đời Lý - Trần trước đó tuy nhiên nó cũng được xây dựng và tu sửa
Cấm Thành giành cho vua Lê và nơi cử hành những nghi lễ vương triều, trước mối
đe dọa của khởi nghĩa nông dân (1749), chúa Trịnh cho sửa đắp lại thành Đại La nhưng thu nhỏ lại, loại bỏ Hồ Tây và khu vực phía tây ra khỏi phạm vi kinh thành Đó là thành
Đại Độ, mở 8 cửa19 Từ đó Hoàng Thành bị thu hẹp và sạt lở nhiều, cửa bắc bị lở xuống sông Tô Lịch, cửa Đại Hưng và cửa Đông Hoa cũng bị hư hỏng nhiều Năm 1786, quân Tây Sơn đã đắp lại Hoàng Thành từ cửa Đại Hưng đến cửa Đông Hoa
Tuy nhiên, quy mô và vị trí Cấm Thành vẫn không thay đổi, Đoan Môn và điện Kính Thiên vẫn tồn tại qua những biến thiên cứu lịch sử cuối thời Lê Trung hưng Năm
1786, vua Lê Hiển Tông đã tiếp Bắc Bình vương Nguyễn Huệ tại điện Kính Thiên và Nguyễn Huệ cùng các tướng lĩnh Tây Sơn theo cửa Đoan Môn vào tiếp kiến nhà vua
* Cuộc thăm dò tại khu Thái Học (Văn Miếu - Quốc Tử Giám) ngày 10/4/1999
đã khẳng định thêm niên đại xây dựng Văn Miếu (1070) Quốc Tử Giám (1077) Trong đó,
Trang 22các vật liệu kiến trúc tìm thấy chủ yếu là những viên gạch, ngói có trang trí hoa văn rất
đẹp Gạch lát nền thường có trang trí hoa văn cánh sen hay hoa chanh Ngói có nhiều loại, ngói mũi hài to bản, ngói ống riềm mái đầu trang trí hình cánh sen Các hiện vật này có từ thời Lý - Trần và đến thời Lê được tu bổ và xây dựng lớn Điều này trùng hợp với việc thời
Gạch ốp trang trí thường có màu đỏ, chất liệu tốt, độ nung cao, hình khối chữ nhật
dẹt, một mặt thường in các hoa văn trang trí Hoa văn trang trí có một số kiểu sau:
+ Trang trí hình rồng, các mảnh ốp trang trí hình rồng được gắn chắp lại gồm 3 tiêu bản với 2 kiểu khác nhau:
Kiểu 39cm x 25cm x 2,5cm: hai góc vuông tròn, diềm cạnh có văn khắc chìm, bên trong có khung hình chữ nhật là hai đường gờ nổi, thể hiện hình rồng còn rõ một đoạn thân nhỏ uốn mềm và mây hình khánh
Kiểu 41cm x 21cm x 2cm: hình chữ nhật, hai bên là đường gờ nổi, trong khung là hình một con rồng uốn mềm mại, đầu hướng về phía trước, hai thân thon nhỏ, mắt to, mào dài, bờm nhiều dải, phía trước có một viên ngọc to tròn
+ Trang trí hoa mai, được trang trí chủ đạo ở giữa viên gạch trang trí hoa mai 6 cánh tròn, các móc hoa đơn giản và mảnh
Ngói: tại Hậu Lâu KCH phát hiện những viên ngói ống, ngói âm dương kích thước
nhỏ , xương gốm dày, màu đỏ, độ nung cao Độ dày trung bình 3 - 4cm cho ta thấy độ nặng của viên ngói bò nóc lớn và nặng đến mức nào Đặc biệt là mặt đầu ngói cũng có trang trí:
+ Đầu ngói lợp trang trí hình rồng: Mỗi một đầu ngói đều có hình rồng nằm trong
một đường gờ nổi Thân rồng to khoẻ, mập, uốn khúc hình yên ngựa, chân 4 móng đầu thẳng về phía trước Rồng có 2 tư thế: tư thế uốn lượn ngoảnh đầu về phía sau và tư thế vươn thẳng đầu về phía trước
Trang 23+ Đầu ngói lợp trang trí hình hoa lá: hoa cúc (có 4 cánh to, được in nổi); trang trí
hoa lá cách điệu và những trang trí hình khác như trăng, mây, núi, cây lá vv
+ Đầu ngói lợp không có trang trí: để trơn hoàn toàn Đầu ngói bò có trang trí có
các kiểu hoa văn hổ phù và hoa văn hoa lá
* Khai quật tại Đoan Môn, Bắc Môn
Vật liệu đá được sử dụng rất nhiều trong việc xây móng bó vỉa ở khu vực này
Ngoài những tảng đá ghép ở kiến trúc giữ nguyên tại hiện trường, còn thu được một số chân tảng đá và các thỏi đá được gia công khá kỹ như ở các bộ phận: chân tảng đá, thỏi đá, cối cổng
Có thể nói, vật liệu xây dựng thời Lê sơ (thế kỷ XV) tìm thấy chủ yếu là các loại gạch vồ, gạch bìa và bộ mái Các loại gạch vồ thời Lê sơ đều có kích thước lớn, màu đỏ, màu đỏ xám và khá nhiều gạch bìa Loại ngói ống, ngói âm dương thuộc thời Lê sơ khá phổ biến nhưng ngói mũi sen lại ít Đầu ngói trang trí hình rồng khá phổ biến Ngoài ra có một số viên có trang trí hoa cúc, phong cảnh hoặc để trơn
Những loại ngói ống thế kỷ XV khác với từ khoảng thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII
nó trở nên đặc biệt hơn Hình dáng ngói ống thời kỳ này về cơ bản tương tự như thời kỳ trước nhưng kích thước nhỏ hơn Về chất liệu, ít màu đỏ, màu xám nhiều hơn, phổ biến ngói tráng men vàng và men xanh Các loại ngói tráng men thường có chất liệu màu trắng hồng Về trang trí, loại chất liệu xám phổ biến đầu ngói tròn trang trí hoa cúc, loại tráng men đầu ngói thường trang trí hình rồng Ngói thời này thường có thêm phần diềm ngói và yếm ngói Trang trí cũng gần như ở phần đầu ngói Tại di chỉ Bắc Môn, KCH tìm thấy các yếm ngói trang trí một con rồng cuộn tráng men anh rất đẹp
Loại gạch thời kỳ này, thuần loại gạch vồ có kích cỡ khác nhau, đa số gạch có màu xám, không có trang trí Một số viên có in hình chữ Hán Gạch lát nền đã tìm thất là loại gạch vuông màu đỏ không có trang trí Nhưng thời này không chỉ có gạch vuông lát nền
mà còn sử dụng cả gạch vồ để lát nền Đá xây dựng phổ biến loại đá bề ngoài có màu trắng đục hoặc xám nhạt Chân tảng không có trang trí hoa sen Vào khoảng cuối thế kỷ XVIII có loại ngói mũi màu đỏ xám, mỏng, mũi hơi cong, lưng ngói có in nổi hoa văn
“như ý”
* Bài bi ký về việc trùng tu quán Huyền Thiên xây dựng vào niên hiệu Thiệu
Bình (1434 - 1439) có ghi: “Những năm tháng đổi dời, mưa gió vùi dập, tường vách đã cũ,
kèo cột xiêu vẹo, cơ hồ không đứng được nữa Quyên góp từ các bậc thân sĩ chức sắc đến
bà con Minh Hương trú ngụ, tính ra được hàng vạn nén bạc, hàng vạn quan tiền, chọn mua gỗ lim ở Thanh Hoá, mời thờ khéo khởi công tu sửa, nhà hạ làm mới, phía trong là
Trang 24Những di tích nền kiến trúc và hiện vật kiến trúc được phát hiện vùng với bộ di vật
vũ khí là những phát hiện lớn, chắc chắn có liên quan đến trường huấn luyện quân sự - trung tâm đào tạo, huấn luyện, thao diễn, thi đấu quân sự, phát hiện này gợi ra nhiều giả thuyết khoa học về khu Giảng Võ thời Lê, lý thú nhất là giả thuyết cho rằng đó là nền điện Giảng Võ thời Lê Mặc dù điều đó chưa được xác định chắc chắn song khu vực này là một trung tâm luyện tập, thi võ của triều đình phong kiến nhà Lê là không thể phủ nhận được
Đáng chú ý ở khu vực này còn nhiều dấu tích của thời Lê Trung hưng
Đền Voi Phục ngày nay là một kiến trúc thời Lê Gạch vồ là vật liệu xây dựng chủ
đạo Gạch thấy ở chân móng đền chính, ở tường hồi tả vu đã bị hỏng, ở vách giếng vuông phía cửa đền, ở những bức tường vây quanh di tích Hiện nay hai con rồng đá cửa đền, mấy chân tảng đá chạm cánh sen có xoáy ốc là những sản phẩm điển hình của thời Lê Trung hưng
Từ đền Voi Phục, tiếp nối một dãy gò cao như gò Lim, gò Thành Dài, gò Miếu
Ông, núi Bò đều được gia cố những viên gạch vồ thời Lê ở rải rác khắp dưới chân gò, chân núi
Núi Bò, đổ ra đầu phố Kim Mã, kéo dài hết phố Tây Sơn Đây chính là đoạn thành
được đắp năm 1490 để cắt đôi trường đấu võ Nửa phía Nam để làm trường Giảng Võ, nửa phía Bắc từ 1490 trở thành vườn Thượng uyển của Kinh thành
Các cuộc phát hiện, điều tra nghiên cứu KCH ở khu vực phía Tây Thăng Long đã góp phần minh chứng cho việc từ tìm hiểu, xác định vị trí, quy mô, cấu trúc của thành Thăng Long, kiểm chứng ý kiến của các nhà khoa học bàn về Thăng Long - Hà Nội
Thực tế, các nguồn tư liệu, thư tịch cổ Việt Nam và Trung Quốc, các bản đồ cổ thời
Lê, Nguyễn thì thành Thăng Long được xây dựng khá quy mô với hàng trăm kiến trúc cung điện, lầu gác, đền đài, chùa tháp nay đã không còn Nếu muốn tìm hiểu lại vết tích kiến trúc cũ chỉ có thể dùng phương pháp nghiên cứu KCH
Nhóm vật liệu thời Lê cho thấy sự thay đổi lớn về phong cách và kỹ thuật Tuy nhiên chưa thể nhận thấy rõ mối liên quan của chúng với kiến trúc Việc nghiên cứu so
20
Nguyễn Văn Siêu, Phương đình văn loại, NXB Văn học 2001, Tr50
Trang 25sánh về kỹ thuật và chất liệu cần được tiếp tục để góp phần phân loại vật liêụ của hai thời kỳ: thời Lê và thời kỳ Đại La, đặc biệt là trong các khu vực xáo trộn lớn
II.2 Các loại hình vật liệu xây dựng qua kết quả KCH
Nguồn vật liệu xây dựng chính vẫn là gạch và đá, nhưng từ thời lê, người ta đã biết
sử dụng chất kết dính hỗn hợp vôi, cát, mật, hoặc vôi, cát cho nên những đặc trưng kỹ thuật trong xây dựng đã mang những yếu tố hoàn toàn khác vật liệu xây dựng không cần chế tác cầu kỳ, chuẩn mực về hình dạng, kích thước, thậm chí có thể sử dụng cả những loại vật liệu thứ phẩm, vật liệu vỡ trong xây dựng nhưng nhờe được gắn kết bằng hồ vữa chắc chắn, công trình xây dựng vẫn có độ bền vẽng và rất ít bị sập đổ
II.2.1 Nhóm vật liệu bằng đá
Điêu khắc đá thời Lê sơ tập trung khá nhiều ở Thanh Hoá-mảnh đất đã có những công trình tầm cỡ quốc gia Lam Sơn là nơi tập trung hệ thống kiến trúc đồ sộ và nghệ thuật kiến trúc đá được sử dụng tối đa ở khu vực này nhằm tạo nên sự hoành tráng và bề thế cho khu điện miếu và lăng mộ
Nếu như ở thời Lý - Trần kiến trúc cổ Việt Nam sử dụng kết hợp hai nguồn nguyên
liệu: đá và đất nung Đất đem nung lên để làm vật liệu xây dựng thì còn dễ kiếm nhưng đá
thì không phải chỗ nào cũng có Việc xây dựng thành Thăng Long nằm giữa vùng châu thổ sông Hồng vốn không có núi đá nên chắc rằng, nguồn nguyên liệu này phải chuyển từ nơi khác tới Theo truyền thuyết, cha con Hồ Quý Ly phải dỡ đá từ thành Thăng Long chuyển vào xây thành đá Tây Đô và cho khai thác nguyên liệu ở những dãy núi đá bên bờ sông Mã Những công trình kiến trúc nhỏ lẻ (chùa, tháp) cũng ít khi sử dụng nguyên liệu
đá tại chỗ mà đều từ nơi khác chuyển về Nguyên liệu đá được sử dụng để chế tác ra các thành phần kiến trúc đòi hỏi có độ chịu lực lớn, có khi ở cả ngoài trời để chống chọi với thời gian Đá còn sử dụng làm bia, tạc tượng và chế tác các tác phẩm nghệ thuật Phần nguyên liệu đá được sử dụng trong các thành phần kiến trúc ở các hạng mục như sau:
- Đá dùng làm tảng kê chân cột: Chân tảng có tác dụng chống lún và mục nát cho
kết cấu gỗ của toàn bộ công trình Việc tránh tiếp xúc trực tiếp với mặt đất khiến công trình có tỷ lệ cân đối và duy trì niên đại lâu dài cho bộ khung gỗ ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, chân tảng được chế tạo theo các kiểu khác nhau Thậm chí cùng niên đại, ở di tích khác nhau, chân tảng cũng được chế tạo khác nhau (kể cả quy mô và mẫu) Thời Lê, chân tảng cũng có khi tạc cánh sen, nhưng đa phần chỉ tạc nổi hình tròn ở giữa để đặt chân cột Đến thời Nguyễn chân tảng chỉ có còn là một khối đá vuông thành sắc cạnh
- Lan can đá
- Tay vịn bằng đá
Trang 26- Bậc thềm đá: các di tích bậc thềm đá được mài nhẵn bóng trang trí hoa lá, muông thú
So với thời Lý - Trần, thời Lê đá vẫn còn được sử dụng trong kiến trúc nhưng ít hơn hẳn Chủ yếu chỉ còn lại hệ thống chân tảng và thành bậc
Kỹ thuật chạm khắc đá cũng được chú trọng Biểu tượng thường gặp là Rồng với
đường nét chắc khoẻ, phóng khoáng Nó vừa thể hiện phong thái của tầng lớp trên nhưng lại mang rất nhiều đặc điểm của con rồng dân gian Về kỹ thuật chạm khắc, thân rồng với khúc uốn nhịp nhàng, uyển chuyển, nét chạm khắc tinh xảo chứng tỏ người thợ có một tay nghề vững vàng Quan sát đôi rồng ở nền điện Kính Thiên, được thể hiện đối xứng qua một trục thẳng bổ dọc chia thân rồng ra làm hai phần giống nhau; các bộ phận chi tiết của thân rồng đều tương ứng từng đôi một
Biểu tượng rùa cũng được biểu đạt khá tinh tế về mặt thẩm mỹ và điển hình cho giai
đoạn nghệ thuật thời kỳ này ở một số bộ phận chi tiết, tuy chúng có những đặc điểm khác nhau (có con được trang trí hoa văn trên mai, có con không trang trí) nhưng nhìn chung
đều có đặc điểm: đầu to mập, ngẩng cao, chếch về phía trước, mõm ngắn hơi bè, cong cong như mỏ chim, miệng rộng, hai hàng răng rõ, mắt lồi to, hình bầu dục, trên mí có hoa văn kiểu xoắn ốc Chân rùa ngắn, năm ngón liền với thân Mai rùa cong đều, trên có hoa văn xoắn ốc to, hình khối nổi rõ Tư thế và phương pháp tạo hình rùa gợi cho ta thấy một
vẻ đẹp hoàn mĩ, khoẻ khoắn và thoải mái mặc dù trên thân là một tấm bia lớn Có thể thấy những con rùa này ở Văn Miếu (Hà Nội), nếu so với rùa ở di tích Lam Kinh thì giống nhau chỉ khác về kích thước Nghệ thuật điêu khắc đá đã cho thấy tay nghề điêu luyện, tạo tác nghệ thuật không gây cảm giác trói buộc, nặng nề mà đạt tới trình độ thẩm mỹ cao trong
sáng tác và thể hiện
II.2.2 Nhóm vật liệu bằng đất nung:
chia thành 2 nhóm vật liệu xây dựng
- Vật liệu kiến trúc và Vật liệu trang trí
Nhóm vật liệu kiến trúc chủ yếu là gạch ngói
+ Gạch: có các loại
Gạch xây: thời Lê đã xuất hiện loại gạch vồ (còn gọi là gạch hòm sớ) Màu gạch đỏ
hoặc xám tuỳ thuộc vào từng nguyên liệu
Gạch lát: có từ thời Lê, sang thời Nguyễn gạch lát phần lớn để trơn Riêng thời Mạc
xuất hiện loại gạch lát trang trí hình động vật
Gạch vồ: Gạch thế kỷ XV - XVI đều là loại gạch hòm sớ với các mặt của gạch có
kích thước gần như tương đương nhau Gạch thường có màu xám xanh hơi có sắc vàng
Trang 27có vết cải thưa theo chiều dọc
Một số viên gạch còn nguyên vẹn có in chữ “Tiền” ở đầu viên gạch Có loại chữ
“Tiền” in dương bản, có chữ in âm bản Các loại gạch của quân đội nhà Lê như Tráng Phong quân, Sùng Uy quân đều không thấy có ở khu vực này
Gạch bìa: thấy ít Gạch có đóng dấu quân thứ thời Trần cũng phổ biến thời Lê sơ
+ Ngói: Trên bộ mái kiến trúc có rất nhiều loại ngói khác nhau, mỗi thời kỳ có loại
riêng Nhưng phổ biến vẫn là các loại: ngói bò (lợp bờ nóc và bờ dải), ngói ống (sử dụng lợp ở hàng cuối cùng của bộ mái), ngói âm dương (lợp ở bộ mái), ngói mũi hài (loại ngói mũi hài đơn hoặc kép cũng được lợp ở bờ mái), ngói mũi lá (còn gọi là ngói vảy cá)
Đầu ngói: ngói thời Lê phát hiện được rất ít Một trong số những mảnh ngói thời
này là đầu ngói ống đất nung in nổi hình rồng Đầu ngói màu đỏ, xương mịn, chất liệu gần với chất liệu thời Trần Loại ngói in nổi hình rồng kiểu này phát hiện ở khu di tích Ba
Đình
Diềm ngói: Loại diềm ngói lá đề bề mặt in nổi và đậm hình hoa thị 8 cánh kết hợp
hình móc đơn giản Diềm dài 19cm, rộng 6,5cm, dày 1,3cm Phần ngói ống dày 9cm
Thời Lê Trung hưng, loại ngói ống âm dương lợp ở các hàng bên trong của mái và ngói ống âm dương có diềm lá đề trang trí hình rồng, mặt ngoài tráng men xanh đậm Ngói được làm từ các chất liệu: đất sét trắng và đất sét thường Ngói ống âm dương được tráng các màu vàng đậm, xanh lá cây đậm không phải là màu xanh rỉ đồng như ngói thời
Lê sơ
II.2.3 Nhóm vật liệu trang trí
a Gạch trang trí ốp tường: Loại gạch này đã có ở các công trình thời Lý, tồn tại ở
thời Trần và Hồ cho tới thời Lê Đề tài trang trí chủ yếu: rồng, phượng, hoa lá cách điệu và cả muông thú (Lê - Mạc)
Trang 28Lá đề được trang trí trên bộ mái của kiến trúc với nhiều mẫu mã và kiểu dáng khác nhau Nhưng chủ yếu xuất hiện ở các công trình thời Lý - Trần
b Các mảng phù điêu trang trí đất nung: những mảng đề tài này được trang trí
phong phú về mẫu mã và kiểu dáng Phần chân các tháp thường có phù điêu trang trí sóng nước với nhiều kiểu dáng khác nhau Các mẫu hoa sen, hoa cúc, hoa chanh, cành lá cách
điệu cũng thường được đề cập đến trong các mảng phù điêu đất nung này
c Các loại tượng, con giống : rồng, phượng uyên ương, chim thần garuda
d Đầu đao và một số bộ phận kiến trúc khác: như góc đao, đầu đốc mái, đinh
ngói, hệ thống tạo gió
e Các trang trí kiến trúc: thường thấy các hoa dây hình sin doãng kiểu tay mướp
này đã được phát hiện trong các lò nung gốm ở Kiếp Bạc Loại gạch màu xám nhạt, ám khói, chất liệu khá muộn, có niên đại khoảng thế kỷ XVI
Trang trí kiến trúc có các nhũ đinh trong: trang trí kiến trúc này phổ biến của thế kỷ XVII - XVIII ở kinh thành Thăng Long, hầu như ở địa bàn nào cũng gặp Đây là dạng các thỏi gốm dài, được tráng men xanh đậm ở mặt phải (mặt có các đinh tròn nổi) Các mặt còn lại để mộc Loại trang trí kiến trúc này được làm từ đất sét trắng hoặc đất sét thông thường
Gạch ốp tường trang trí: hình khối chữ nhật, kích thước nhỏ, nhẹ, một mặt trang trí
hoa văn và được dùng xây ốp vào tường hoặc một vị trí nào đó của kiến trúc để trang trí Gạch ốp thường có màu đỏ và màu xám
Thời Lê, có loại gạch vồ cỡ lớn Ngói phổ biến là có ghi các phiên hiệu quân đội thời Lê Thánh Tông Chủ yếu là ngói âm dương Đáng chú ý là trong số đó có loại kích thước rất lớn, màu đỏ có trang trí rồng Cũng vào thời kỳ này bắt đầu xuất hiện loại ngói yếm mà trước đó thời kỳ Lý - Trần không có Trên bộ mái có thêm diềm ngói, những viên gạch ống tường màu đỏ có phủ men xanh xám
Về sau này (Lê - Mạc) các loại ngói này vẫn có hiện diện nhưng trang trí có ghi rõ gạch ngói là thời Lê - Mạc (thế kỷ XVI) chủ yếu là ngói âm dương, có trang trí hình rồng nhưng đường nét đơn giản hơn thời Lê sơ
Các loại gạch vồ cỡ nhỏ vẫn thấy ở thời Lê Trung hưng Chủ yếu là ngói âm dương màu xám Đầu ngói và yếm ngói có trang trí hoa cúc hoặc hoa sen Thời kỳ này không thấy có trang trí rồng, phượng Có loại ngói mũi sen, nhưng độ cong của mũi sen ngắn hơn Xuất hiện loại khối tượng “sấu” lớn, màu xám trang trí trên các bờ dải
Trang 29Có thể nói rằng, VLXD ở Thăng Long thời kỳ này cũng phản ánh giá trị nhiều mặt của lịch sử thủ đô Đó là sự phát triển của kỹ nghệ xây dựng và các nghề thủ công Việt Nam mà trình độ khéo đạt tới đỉnh cao Các VLXD cũng phản ánh nét đặc sắc dân tộc Việt Nam Các biểu tượng trang trí phản ánh đời sống vật chất, tinh thần và đời sống tôn giáo ở Thăng Long ở thời Lý - Trần, Phật giáo và quốc giáo nên hình mẫu lá đề, các phù điêu trang trí hoa sen, hoa cúc Thời Lê, lấy Nho giáo làm chính thống cho nên hình trang trí Phật giáo “lá đề” không còn nữa, Khi chế độ phong kiến tập quyền hùng mạnh thì thời Lê lấy biểu tượng trang trí là con rồng 5 móng Khối vật liệu trang trí ở Thăng Long nói chung còn phản ánh nhiều nét về mối giao lưu văn hoá với các nước, các khu vực lân bang, đặc biệt là dấu ấn văn hoá ChămPa đậm nét
II 3 ứng dụng kỹ thuật, chế tác
Thử điểm qua quá trình chuyển đổi hình thức của các loại VLXD này qua thời gian mới thấy sự linh hoạt của các loại vật liệu này ứng dụng phù hợp với hoàn cảnh cảnh và tình hình xã hội chung
Thời Lê sơ có các loại gạch vồ kích thước lớn và các loại gạch có chữ cái phiên hiệu
quân đội thời Lê sơ, các loại ngói âm dương kích thước lớn, màu đỏ có trang trí hình rồng
Thời Lê - Mạc gạch vồ phân biệt rất khó với thời Lê Trung hưng nhưng có tiêng loại
đầu ngói ống có hoa văn thì ta có thể phân biệt được niên đại Có 2 loại đầu ngói trang trí rồng Mạc ở khu vực Quần Ngựa, trước đây đã tìm được loại gạch vồ có ghi niên đại
“Hương Trị nhị niên”
Thời Lê Trung hưng: gạch xây chủ yếu là gạch vồ Gạch lát chủ yếu là loại gạch
hình vuông màu đỏ không có hoa văn Gạch ống trang trí hoa dây rất phong phú
Ngói: ngói ống, ngói âm dương, ngói mũi sen có 2 sắc độ màu xám và màu đỏ nhạt Hoa văn trên ngói có hình rồng, hoa cúc Ngoài ra còn có hình “linh thú”, các mảng khối trang trí có hình hoa chanh, hoa dây
Trang 30Có thể nói, tất cả những di tích kiến trúc cùng vật liệu xây dựng đều củng cố thêm cho niên đại Lê Trung hưng của sưu tập vũ khí và niên đại của cả bản thân kiến trúc có thể
là Giảng Võ điện được Lê Thánh Tông cho xây dựng từ năm 1481 Trong Đại Việt sử ký
toàn thư: “Tân Sửu, năm thứ 12 (Hồng Đức, trước năm 1481) tháng 10 đào hồ Hải Trì
Hồ này quanh co đến trăm dặm, giữa hồ có Điện Thuý Ngọc, bên hồ làm Điện Giảng Võ
để tập luyện binh và voi”.21
Cùng với kinh tế nông nghiệp, kinh tế ngành nghề thủ công nghiệp, thương nghiệp thời Lê Thánh Tông đã có những chuyển biến Đó là những làng nghề có nhiều thợ thủ công xuất hiện, phần nào đáp ứng nhu cầu kiến thiết các công trình văn hoá, nhà cửa cũng như phục vụ đời sống cộng đồng
Chế tác và trang trí là một trong những ngành thủ công cổ truyền và có nhiều đóng góp cho diện mạo kiến trúc Thăng Long xưa Các nghề như mộc - tiện - sơn đều có kỹ thuật riêng
+ Nghề mộc: là ngành cơ bản trong chế tạo và trang trí đồ gỗ, đóng vai trò quan
trọng trong xây dựng nhà cửa
+ Nghề tiện: dân làng tiện gốc làng Nhị Khê lập cư ở Thăng Long, có đền thờ “Nhị
Khê vọng từ” ở số 11 Hàng Hành Nghề tiện chủ yếu thực hiện bằng phương pháp thủ
công Dùng bàn xoay, có trục để lắp và giữ vật liệu tiện Sản phẩn của nó chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các tầng lớp thị dân phố phường và một số quan lại, các công trình tôn giáo (như các mâm gỗ, chân đền, ống hương), hầu như không dùng ở những hạng mục công trình lớn
+ Nghề sơn: Theo truyền thuyết, ông tổ nghề sơn là Trần Tướng Công (Trần Lư)
người huyện Thường Tín, đi sứ sang Trung Quốc học được nghề sơn son thếp vàng ở tỉnh
Hồ Nam đem về dạy cho người làng Hà Vĩ, Hạ Thái, Duyên Trường Vào thời Lê Huyền Tông có ông Đình Vịnh phụ trách việc sơn thếp và sửa sang cung điện ở Thăng Long22 Các thợ sơn cư trú ở phố Hàng Hòm (chủ yếu có quê gốc làng Hà Vĩ, huyện Thường Tín),
21 Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, TIII, Tr 238
22
Trần văn Giáp, Tìm Hiểu kho tàng Hán Nôm, Hà Nội 1970, Tr 315-316
Trang 31lập ngôi đền thờ tổ nghề sơn Trần Lư Họ mở cửa hiệu làm hòm tráp, hoành phi, câu đối, khám thờ Đồ mộc ở Hàng Hành được chuyển qua Hàng Hòm Các tượng thờ trong đình,
chùa không thể thiếu bàn tay của họ Lái buôn Dampier (thế kỷ XVII) đã thấy: “Những
tác phẩm bằng sơn được làm ở đây (Kẻ chợ) không hề thua kém một nơi nào khác, nếu ta không kể đến đồ sơn của Nhật bản, mà mọi người đều thừa nhận là tốt nhất thế giới”
Những mặt hàng cũng được ưa chuộng ở Anh quốc
Người thợ Thăng Long thường mua sơn sống ở nơi khác, đem về pha màu trước khi sơn đồ gỗ Trước kia có 3 màu chính của sơn ta: sơn then (sơn đen), sơn son, sơn cánh gián Một số màu đó được sử dụng như trắng, vàng, xanh Người ta trộn sơn sống với dầu trầu, hoặc nhựa thông, đổ thêm chất liệu phèn đen hoặc dương định để có màu đen; đổ thêm son (tức thần sa, chua sa) để cho màu đỏ, nửa son nửa phèn sẽ có màu nâu Nghề sơn không làm theo lối mở rộng quy mô sản xuất mà gia công cho các gia đình và đền chùa
+ Nghề gốm: ứng dụng kỹ thuật rõ nhất là chế tác gốm Nghề gốm ở nước ta phát
triển mạnh thời Lý - Trần với nhiều loại gốm quý độc đáo, cao cấp có gốm men ngọc, giản
dị có gốm hoa mây Các loại này chỉ được duy trì trong thời gian ngắn rồi thất truyền Riêng gốm hoa lam phủ men trắng, vẽ trang trí men xanh đã có từ thời Trần còn được tiếp tục duy trì và chế tác tại các lò gốm Bát Tràng, đặc biệt phát triển mạnh thời Lê - Mạc Kỹ thuật chế tác gốm ở nước ta đạt đến trình độ cao với đủ loại mặt hàng (đồ gia dụng, tượng thú ) Chất men tạo ra các sản phẩm này cũng độc đáo: gốm men ngọc trong xanh hay trắng ngà, dáng thanh thoát, khắc chìm một cách điêu luyện dưới lớp men trong và dày Gốm hoa nâu giản dị, hình dáng chắc khoẻ, trang trí theo lối khắc, vạch, tô men nâu từng mảng thoáng đạt trên nền men trắng ngà, tạo phong cách nghệ thuật khoẻ đẹp mang đậm phong cách dân gian Việt Nam
Nguyên liệu làm gốm thời kỳ này cũng nâng cao hơn so với trước Chất đất làm cốt gốm đã được chế biến tinh lọc, sạch mịn Màu men xanh vẽ trang trên đồ gốm là màu pha chế từ chất bột khoáng có trong thiên nhiên Màu này được vẽ trên cốt gốm trước khi phủ men trắng bên ngoài Sau khi nung, hình có màu men xanh vẽ trên gốm sẽ ăn sâu vào cốt gốm qua lớp men trắng trong thường láng phủ cả trong và ngoài đồ gốm Do kỹ thuật láng men đều tay nên men dàn đều, láng bóng mặt gốm khiến sản phẩm có độ trong và tinh khiết Có được sản phẩm này chứng tỏ nghệ nhân thời Lê sơ phải nắm bắt khá kỹ tính năng khoa học của chất liệu gốm cũng như kỹ thuật lò nung (độ lửa) để có sản phẩm như ý muốn Hơn nữa, kỹ thuật này cũng phụ thuộc phần nhiều vào kinh nghiệm của nghệ nhân tạo tác được những tác phẩm để đời
Ngoài kỹ thuật vẽ bằng màu trực tiếp trên gốm, còn sử dụng cả lối trang trí đắp nổi Trang trí trên gốm kết hợp cả hình thức hội họa và điêu khắc Đây cũng là đặc điểm trong
Trang 32chế tác gốm thời Lê Nó cho thấy trình độ kỹ thuật và thẩm mỹ cao Các đồ gốm trang trí phổ biến dùng vào việc thờ cúng (lư hương, chân đèn ) Đồ gốm dùng cho các công trình tôn giáo hoặc dành riêng cho tư thất của quan lại quý tộc về tạo dáng có nét vẽ tinh tế, trau chuốt, tinh vi hơn, nguyên liệu chế tạo cũng đẹp, cầu kỳ, và sang trọng Các sản phẩm gốm phục vụ cho đông đảo nhân dân lại có vẻ đẹp đơn giản, khoẻ khoắn, tự nhiên Các nghệ nhân không bị ràng buộc và bị chi phối bởi quan niệm thần linh tôn giáo hay uy quyền của nhà nước thống trị Hai phong cách nghệ thuật gốm này có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
Nghệ thuật gốm thời Lê sơ cũng kế thừa và phát huy kỹ thuật thời Lý -Trần, tạo phong cách riêng với những hình dáng nhuần nhuyễn, thanh chắc, bố cục theo tỷ lệ cân
đối Các trang trí trên gốm được vẽ bằng bút lông mềm mại, nét bút vẽ trên mặt gốm tự nhiên và thoáng đạt
Các lò gốm nổi tiếng thời Lê sơ (thế kỷ XV) như: làng Bát Tràng chuyên gốm men trắng vẽ xanh; làng Thổ Hà chuyên làm gốm sắc đỏ; làng Phù Lãng chuyên gốm men vàng thấm da lươn Các lò gốm này nổi bật nhất là loại gốm hoa lam Chất đất tính lọc, mịm, tạo dáng thanh chắc, cân đối Trang trí vẽ màu men xanh trực tiếp lên mạt gốm trước khi phủ men trắng Nét vẽ lưu loát, phóng khoáng tự nhiên
Ta cũng thấy những đồ gốm hiện diện trên mái các công trình tôn giáo tín ngưỡng, các bộ phận kiến trúc gắn trên bờ nóc, riềm mái, đầu đao làm bằng đất nung già để mộc, hay tráng men màu vàng thẫm da lươn Những viên gạch vuông to bằng đất nung để mộc, trên mặt in nổi những hình cánh hoa chanh
Chất men màu ngà, màu ngọc đã được các nghệ nhân làm từ thời Bắc thuộc Một
đặc sắc nhất trong men sứ thời Lý và các thợ gốm đã sáng tạo được thứ men xanh như ngọc đến thời Lê được thể hiện kỹ thuật chế tác cao Một đồ sứ men xanh có phần cốt (phần xương) và mền men Ta biết rằng, men ngọc tráng ngoài có sức chịu lửa kém hơn phần cốt bên trong tới hàng trăm độ Vì thế, người thợ nung đã tính toán vấn đề xử lý độ lửa nung Nếu chỉ nung đồ sứ men xanh ngọc đến mức vừa đủ cho men ngọc bọc ngoài chảy đều, thì đất cố bên trong lại chưa kịp chín kỹ Nếu nung già cho đất cốt bên trong đủ sức chín kỹ thì men sứ lại bị cháy bỏng Cho nên chọn loại đất nào làm cốt để thích hợp với độ chịu lửa của men xanh ngọc là quan trọng Người thợ gốm thời Lê đã giải quyết
được bài toán này cho nên các đồ sứ men xanh của ta nói chung men láng đều ổn định mà cốt lại rất chín.23
Cột mốc quan trọng của nghề gốm Việt Nam đời Lê sơ là sự phát triển phồn vinh của nghề gốm làng Bát Tràng Nét mới trong kỹ thuật gốm Việt Nam là thời Lê đã xuất
23
Đỗ Văn Ninh, Tìm lại dấu vết Vân đồn lịch sử, Ty VHTT Quảng Ninh, 1971, Tr 57
Trang 33hiện nhiều đồ gốm có nước men trắng trong, nét vẽ màu xanh chàm Bên cạnh đồ sứ quý, việc sản xuất những vật dụng thông thường bằng đất nung và bằng sành cẫn được tiêp tục trong đời Lê Thợ gốm Việt Nam không ngừng học tập kinh nghiệm từ nghề gốm Trung Hoa, Nhật Bản để áp dụng vào hàon cảnh vụ thẻ của Việt Nam về nguyên liệu truyền thống dân tốc, thị hiếu của thời đại
Thời Lê, các lò gốm đều do dân tự quản, sản xuất ra sản phẩm không chỉ phục vụ cho như cầu sử dụng của nhân dân trong nước mà còn là những sản phẩm làm hàng hoá trao đổi buôn bán giữa các nước vùng Đông Nam á Nhà nước dùng làm quà tặng cho các nước láng giềng
Phải đến thời Hậu Lê nghề thủ công mới phát triển mạnh Nhưng riêng gốm làng Bát Tràng được sáng lập 500 năm nay phát triển ở các thời kỳ và những mặt hàng nổi tiếng nước ngoài
Đặc điểm của Bát Tràng là dùng nguyên liệu trong nước và không mượn của nước ngoài Vì thế mà mặt hàng thể hiện được tính dân tộc Lại thêm, nghề làm sành sứ này kết hợp điêu khắc và hội họa Tạo dáng và trang trí đồ sành Bát Tràng không trùng lặp, không
có dấu vết ngoại lai
Họ sử dụng đất theo ý muốn, thể hiện tính thực tiễn, tính nhân dân: hoa lá, đồ án thêu ren bằng sành, hình rồng uốn khúc vv Người thợ Bát Tràng biết chọn nguyên liệu gần nơi sản xuất để giá thành hạ, biết lựa nguyên liệu để tạo thành phẩm độc đáo Họ còn sáng tạo và cải tiến về chất liệu để nâng cao hơn nữa giá trị sản phẩm, tạo ra những sản phẩm có giá trị cao hơn
Mặc dù, Việt Nam có những mỏ đất cao lanh trắng tốt tại Nga Sơn, Yên Định (Thanh Hoá), Bích Ngôi, Tử Lạc (Hải Hưng) nhưng họ không dùng để tăng giá trị sản phẩm Họ cũng không quan tâm đến sự khéo léo của đồ sứ Trung Quốc hay thời Lý - Trần
để làm mẫu cho đồ gốm của mình Với các sản phẩm có tính chất thẩm mỹ như đèn bàn thờ, lọ lục bình, lư hương bằng sành trang trí nổi, men màu để trưng bày thì hoàn toàn
được tạo tác do sự tình cờ từ cảm hứng đôi bàn tay mà không hề bị chi phối bởi mẫu mã, hình dáng hay kiểu cách trang trí nào Vì thế, các sản phẩm mặc dù hình dáng rườm rà, không được thanh nhã nhưng lại phản ánh đúng chất ngẫu hứng và màu sắc dân tộc Những sản phẩm thường ngày như bát đĩa ăn cơm, chén uống nước, liễn, chậu không có trang trí cầu kỳ
Loại gốm phổ biến vẫn là sành sứ men trắng, hoa lam dưới men, đôi khi còn giữ lại hoa này và một số hoa vẽ nhiều màu trên men Gốm sành sứ hoa men là một sáng tạo độc
đáo của người nghệ sĩ gốm thế kỷ XV - XVI, mở đầu cho truyền thống mới về gốm Việt Nam phát triển sau này
Trang 34Thời Lê sơ có nhiều trang trí trên đá Đó là trang trí ở các thành bậc cửa bằng đá ở những công trình kiến trúc lớn: bia, lăng tẩm, văn miếu, chùa, đền Các hình chạm nổi, chím, nông, sâu, cao, thấp khác nhau Nhưng độ nổi cao nhất cũng không vượt khỏi mặt phẳng chung, nhờ đó độ đậm nhạt của hình vẽ được thay đổi khi có ánh sáng Vì thế, nghệ thuật đục chạm trang trí gây được vẻ gợi cảm của nghệ thuật vẽ trang trí
Những trang trí trên bia của vua, hoàng hậu, thần thánh được chạm nổi, trau chuốt,
có tỷ lệ thì những bia tiến sĩ, công thần, bia ở đền chùa, các trang trí thường chạm nổi ít hoặc nếu có thì khắc chìm đơn giản trên mặt đá phẳng, nhẵn, đường nét tự nhiên không theo khuôn thước nhất định
Có thể nói, hội hoạ và trang trí thời Lê sơ cũng có đóng góp quan trọng trong nền
nghệ thuật kiến trúc của nước nhà Nó cũng thể hiện trình độ và tay nghề điêu liệu của người nghệ sĩ
Ví như bức chân dung Nguyễn Trãi ở đền thờ ông tại làng Nhị Khê) huyện Thường Tín, Hà Tây) (nay bảo quản tại Viện Bảo tàng Lịch sử) được dựng sau khi vua Lê Thánh Tông minh oan cho ông Bức tranh được vẽ bằng nhiều màu trên lụa mịn, tuy nhiên dấu vết thời Lê sơ không còn Nhưng kiểu hoa văn hoa thị bốn cánh lại gặp nhiều ở các công trình kiến trúc thời này Kiểu hoa văn thấy xuất hiện vào thời Trần được chạm trên đất nung và phổ biến thời Lê được chạm trên nhiều thành bậc cửa đá Ngoài ra còn thấy trên
gỗ và đá của nhiều công trình kiến trúc Các công trình thời Lê thường có bản vẽ kỹ thuật,
vẽ mẫu trước khi thi công
Thời Lê sơ và thời Mạc vẫn tiếp tục truyền thống trang trí hoa văn gạch lát Những hiện vật này tìm thấy không nhiều
Hoa văn gạch lát thời Lê sơ đều thuộc loại bố cục theo đường chéo Thể thức trang trí và đường gờ của chúng tương tự như thời Lý - Trần trước đó, khác biệt vẫn là các chi tiết hoa văn trong lòng cánh chanh Lòng cánh chanh là những bông hoa tròn tám cánh đã thu ngắn lại, các móc hoa có đường nét to hơn, khúc uốn ít hơn nhưng mềm mại, đường nét đơn giản, bố cục thoáng khoẻ Thời Lê sơ tồn tại một thế kỷ nhưng chứng tỏ truyền thống sử dụng gạch lát nền trong kiến trúc và trên mặt gạch vuôn vắn là nơi người nghệ sĩ thể hiện sáng tạo và tài năng Sang thời Lê Trung hưng, hình thức thể hiện cơ bản vẫn được giữ nguyên nhưng đường nét và môtíp hoa văn có thay đổi về cơ bản
Trang trí gạch lát thời Lê Trung hưng chủ yếu là một kiểu đồ án mà thể thức trang trí được coi như là hình ảnh thu nhỏ của kiểu bố cục vuông - tròn phóng đại Đặc biệt thời này xuất hiện đề tài trang trí không có ở gạch các thời trước: hình rồng Nhưng viên gạch tìm thấy ở sân Quần Ngựa lại có trang trí hoa văn sóng nước, không có hoa văn các góc
Các chi tiết trang trí phụ bị lực bớt, tập trung vào chi tiết chính được tỉa tót tỉ mỉ
Trang 35Nghệ thuật kiến trúc thời Lê được hun đúc bởi tinh thần dân gian đầy nhựa sống Trong bố cục chung của ngôi chùa lớn vẫn theo công thức cũ: chữ Đinh, chữ Công, chữ Môn, chữ Tam, nội công ngoại quốc nhưng kiến trúc tam quan trang trí kiến trúc chùa,
đình chỉ xuất hiện vào thời Hậu Lê Kiến trúc gỗ thời Lê nhìn chung có quy mô tương đối lớn, trong khi đó những công trình đồ sộ thời Lý - Trần thì đã bị phá huỷ, dấu vết còn sót lại chỉ là 2 công trình nhỏ bé (chùa Thái Lạc (Hưng Yên), đình Bối Khê (Hà Tây) Tỷ lệ của cây gỗ sẽ quyết định tỷ lệ và kích thước ngôi nhà, điều đó đồng nghĩa với việc thay đổi
kỹ thuật xây dựng Đối với công trình to lớn như đình Chu Quyến ở giai đoạn sau này (hàng cột đường kính to 80cm, cao 6-7m) xà, kèo nặng hàng tấn Vì thế để các mộng lắp khít vào nhau là đòi hỏi sự phức tạp và kinh nghiệm cũng như kỹ thuật điêu luyện
Các bộ phận kiến trúc như con đội, cái đấu, con chồng, thượng lương, đầu dư, câu
đầu luôn có những trang trí quan trọng trên đó Có những bộ phận như lưỡng long chầu nguyệt, con kìm, con đao, con sô lại trở thành những tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi sự thể hiện công phu
Sự xuất hiện “tam quan” là bộ phận quan trọng trong bố cục kiến trúc thời Lê cho thấy tài sáng tạo của kiến trúc sư dân gian Các đời vua Lê sau lại xây dựng làm hao công
tổn sức của nhân dân không kể xiết Nguyễn Dực trong sách Hồng Thuận trung hưng ký có nói về việc kiến thiết thời kỳ này như sau: “Xây nhà cửa thì các xứ Thái Nguyên, Tuyên
Quang núi không đủ gỗ để lấp lòng tham, đòi mắm muối thì các miền Nghệ An, An Bang biển không đủ vẩy để che miệng đói”24
x
x x
Có thể đánh giá tổng quan rằng: những hiện vật, di tích thời Lê sơ còn lại đã gợi mở cho các nhà nghiên cứu hiểu thêm về một phong cách nghệ thuật với lối thể hiện rộng rãi, thoáng nhẹ, phá cách những gò bó của thời đại trước Có được những thành công đó phải
kể tới nghệ thuật ứng dụng kỹ thuật dân gian, sự phối hợp tài tình các vật liệu xây dựng truyền thống, sự sáng tạo các loại hình vật liệu xây dựng mới trên cơ sở thời kỳ trước
24
Trích theo Nguyễn Phi Hoanh, Mỹ thuật Việt Nam, NXB Tp Hồ Chí Minh 1984, Tr 136
Trang 36Chuyên đề 2
NHỮNG CHỨNG CỨ LỊCH SỬVỀ ỨNG DỤNG KHOA HỌC
TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở
THĂNG LONG THỜI NHÀ LÊ
CN ĐẶNG HỒNG SƠN
1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nguồn tư liệu về đề tài này không nhiều, nhất là tư liệu thành văn Những tư liệu hiện có hầu như chỉ nói về tên các nghề, nơi sản xuất, tên mặt hàng, ca ngợi tài khéo song hầu như không có hay rất ít đề cập tới kỹ nghệ, công cụ và cách làm Nếu có, cũng chỉ là những đúc kết theo kiểu kinh nghiệm, tri thức dân gian mà niên đại và địa điểm rất mơ hồ, có thể áp dụng vào bất cứ thời đại lịch sử nào, bất cứ địa phương nào và với nhiều ngành nghề khác nhau
Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi soạn dâng vua Lê Thái Tông năm 1435 -
tức 7 năm sau cuộc chiến chống Minh - có đề cập đôi chút tới làng nghề, phường nghề ở Thăng Long: “Phường Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, binh khí, đồ đài mâm, võng, gấm trừu và dù lọng Phường Yên Thái làm giấy Phường Thuỵ Chương và phường Nghi Tàm dệt vải nhỏ và lụa Phường Hà Tân nung đá vôi Phường Hàng Đào nhuộm điều Phường Tả Nhất làm quạt Tây Hồ có cá to Phường Thịnh Quang
có long nhãn Phường Đường Nhân bán áo diệp y Đồ tiến cống có gấm vóc, đồ thêu, các chất thơm cùng ba loài kim”25
Kết quả khảo sát của Hội văn nghệ Dân gian Hà Nội, cuốn sách Tìm hiểu di
sản Văn hoá dân gian Hà Nội, in năm 1994, đề cập tới đặc trưng của các
làng/phường nghề thủ công dân gian truyền thống, lịch sử phát triển và biến đổi, nhưng không chú trọng nhiều đến công nghệ
Sau đó có cuốn Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội cũng đã tập trung
đi sâu nghiên cứu hơn về các nghề thủ công ở Hà Nội Tuy nhiên những nội dung
về sự áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp vẫn chưa được khảo cứu đầy đủ
Đã có một số tác phẩm nói về truyền thống khoa học-kỹ thuật Việt Nam cổ truyền, nhưng những cuốn sách này cũng chỉ đề cập tới một số vấn đề chung, mà
25 Nguyễn Trãi: “Dư địa chí”, trong Nguyễn Trãi toàn tập, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nhà xuất bản Văn học xuất bản, Hà Nội, 2001, tr 458
Trang 37chưa đi sâu vào những tri thức khoa học-kỹ thuật cụ thể của từng ngành sản xuất Hơn nữa, theo GS Hà Văn Tấn “…trong lịch sử, nhân dân Việt Nam cũng đã đạt được một số thành tựu về kỹ thuật Nhưng đề cao quá đáng truyền thống khoa học
kỹ thuật của người Việt Nam xưa thì là một sự tô hồng không thật”26 Do vậy, khi nghiên cứu vấn đề này, cần lưu ý không rơi vào những đánh giá cực đoan Đây là
đề tài nghiên cứu rất quan trọng vì trong xu thế nghiên cứu hiện nay, các nhà nghiên cứu chú trọng vào chủ đề kinh tế chính trị để nhấn mạnh rằng những quan
hệ kinh tế về cơ bản phụ thuộc vào và sau đó kéo theo những mối quan hệ xã hội và chính trị
2 CẤU TRÚC NGÀNH, NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở THĂNG
LONG THỜI LÊ
Trong chuyên đề này chúng tôi đặc biệt lưu ý tới những đặc điểm riêng trong cấu trúc kinh tế - văn hóa - xã hội của Kinh kỳ, Kẻ Chợ Đây là một vùng truyền thống văn hoá đặc biệt, cho đến thế kỷ 16, Thăng Long-Đông Đô-Đông Kinh là đô thị duy nhất của Đại Việt, một nơi vừa là Đô vừa là Thị (với địa danh 36 phố phường bắt đầu từ đây, thay cho 61 phường thời Trần) Đặc điểm này ảnh hưởng rất mạnh tới sự hình thành và phát triển của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp
Có thể thấy cấu trúc và diễn biến ngành nghề ở đây phản ánh những nội dung sau:
- Nguồn gốc: Có hai nguồn chính, tại chỗ và bên ngoài Sức phát triển nội tại
và mức độ giao thoa văn hoá mạnh mẽ Mối quan hệ giữa trung tâm và ngoại vi Nếu như làng nghề với tư cách là một làng nghề chuyên môn hoá có nguồn gốc nội sinh thường phân bố ở các vùng ngoại vi của kinh thành thì các phố nghề lại là sản phẩm của quá trình tụ cư của dân tứ chiếng luôn định cư, sản xuất và buôn bán đặc sản của quê hương tại các tuyến phố bên bờ sông Hồng - nơi tiếp chuyển hàng hoá giữa các vùng với nội thành Thăng Long
Rõ ràng nguồn gốc nội sinh là chắc chắn với sự tồn tại những làng nghề có từ trước khi Thăng Long trở thành kinh đô của nhà nước Đại Việt ví như nghề dệt lĩnh các làng ven sông Tô, như: làng Trích Sài, làng Tần (Tiên Thượng), làng Nghè (Trung Nha), làng Dâu (Vạn Long)…
Trong khi đó, quá trình du nhập các ngành nghề ngoại sinh, chúng ta cũng cần nhấn mạnh trên 2 hướng hội nhập cơ bản của Thăng Long, đó là: hướng các thợ thủ công khắp nơi do nhiều biến cố kinh tế - chính trị - xã hội khác nhau kéo về vùng ngoại đô, tìm chỗ thuận tiện để lập làng dựng nghiệp, như làng gốm Bát
26 Hà Văn Tấn: “Lịch sử, sự thật và sử học”, trong Đến với lịch sử-văn hoá Việt Nam, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội,
2005, tr 16
Trang 38có tiếng như Thăng Long mà một bộ phận lớn thợ thủ công các làng nghề truyền thống ở các địa phương đã gửi đại diện của mình lên đua nghề ganh nghiệp, như phố Hàng Bạc là nơi đúc bạc, đổi bạc, làm nghề kim ngân của thợ thủ công 3 làng Châu Khê (Hưng Yên), Đồng Sâm (Thái Bình) và Định Công (Hà Nội)…
- Mức độ chuyên hoá và tinh hoá: diễn ra với cường độ nhanh, mạnh và sâu
Bên cạnh việc sản xuất hàng loạt, sản phẩm là thương phẩm để đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhiều tầng lớp cư dân, thì ở Thăng Long cũng đã xuất hiện những người thợ sản xuất những mặt hàng tinh xảo để dâng lên vua, để làm quà tặng bang giao giữa Đại Việt với các nhà nước phong kiến khác trong khu vực (Trung Quốc, Ai Lao…)
- Phạm vi sản xuất tiểu thủ công nghiệp: Nhà nước và Bình dân Thăng Long
không chỉ có xưởng sản xuất của các hiệp hội dân cư mà tiếp theo truyền thống đã
có từ thời Lý -Trần, ở thời Lê tiếp tục và phát triển mạnh mẽ những quan xưởng Quan xưởng là các xưởng thủ công của vương triều phong kiến, trong đó tập hợp các thợ thủ công giỏi của cả nước, thậm chí có cả các thợ thủ công giỏi là tù binh trong các cuộc chiến (nhiều nhất là tù binh Chămpa) Những người thợ thủ công này sản xuất với điều kiện kĩ thuật và môi trường thường tốt hơn các làng nghề, phố nghề và sản phẩm của họ chủ yếu là cung cấp cho vương triều phong kiến nhà Lê, một phần không nhỏ được dùng làm quà tặng trong quan hệ ngoại giao của nhà nước Trên các sản phẩm mà họ sản xuất ra thường có khắc chữ “Quan” hoặc viết tên các kho, cung của nhà nước “Trường Lạc khố”, “Trường Lạc cung”… mà chứng cứ khảo cổ học đã phát hiện được rất nhiều di vật có dấu tích đó tại nhiều địa điểm khai quật của Hà Nội ngày nay, như: khu khai quật 18 Hoàng Diệu, khu khai quật Trần Phú…
- Kết hợp sản xuất và buôn bán: mối quan hệ chặt chẽ giữa phường nghề nội
đô/làng nghề ven đô và phố
- Tính chất hội tụ hoá, kết tinh hoá, tinh lọc hoá và vương triều hoá kết hợp
với quá trình biến đổi nhanh, đại trà hoá, tứ chiếng/tứ xứ hoá Trên cơ sở đó dẫn
đến hiện tượng sản phẩm mang tính sành sỏi có, tế vi có nhưng còn xen lẫn sản phẩm mang tính ô hợp, ẩu và thô
- Mức độ phân hoá xã hội trong tầng lớp thợ thủ công chưa cao: tầng lớp cư
dân tiêu biểu của 36 phố phường là tầng lớp thị dân có nguồn gốc xuất thân là thợ
Trang 39thủ công (là chủ yếu) và một số ít là chủ hiệu Tuy nhiên sự phân biệt giữa các loại người này thường không rạch ròi, người chủ hiệu thường kiêm cả sản xuất lẫn buôn bán, hoặc cũng có người đã trở thành chủ hiệu buôn chuyên nghiệp nhưng vốn dĩ trước đây lại là thợ thủ công chuyên nghiệp, giỏi nghề lại có đầu óc tổ chức sản xuất và buôn bán mà lên
Đặc điểm này của phố nghề Thăng Long làm cho tính chất Thị của nó khác biệt hẳn các thành thị châu Âu Tại các thành thị châu Âu, mức độ phân hoá xã hội trong tầng lớp thị dân, và ngay cả trong nội bộ tầng lớp thợ thủ công diễn ra thường xuyên, liên tục và rất mạnh mẽ, và đây chính là cơ sở dẫn đến sự ra đời của chế độ
tư bản chủ nghĩa đầu tiên trê thế giới
- Đặc trưng về mặt kĩ thuật của làng nghề, phố nghề Thăng Long: hoàn toàn
thủ công, chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào tay nghề và kinh nghiệm của người thợ là chính Hơn nữa, một trong những đặc điểm trung của nghề thủ công truyền thống Việt Nam nói chung và Thăng Long nói riêng là quan niệm giữ gìn bí quyết nghề truyền thống, chỉ truyền nghề cho con trai mà không truyền cho con gái, đặc biệt là một số nghề truyền thống quan trọng, như: nghề sản xuất gốm, nghề chế tác kim hoàn…
2.1 Cấu trúc đô thị, khái niệm phường-phố
Quy hoạch một đô thị phải dựa trên nhiều yếu tố, trước hết là yếu tố tự nhiên, rồi đến yếu tố văn hoá, lịch sử, kinh tế Thăng Long vốn là một đô thị đa chức năng, gồm, chức năng thủ đô-trung tâm chính trị-quân sự (thành), chức năng trung tâm kinh tế (thị, Kẻ Chợ) Quy hoạch Thăng Long nổi bật là trong thành, ngoài thị Thành là đô thị quân vương dựng ngay bên bờ sông, lấy sông làm hào bao bọc, luỹ thành cũng là đê Thị, là đô thị dân gian, lấy sông, hồ, các thành và các cửa thành làm hứng mà gióng theo (Bản đồ 1)
Phố ngoài bao bọc thành trong, Cửa Nam, Giám, Bắc, Tây, Đông rõ ràng 27
Quy hoạch Thăng Long trải từ thời Lý sang thời Trần không khác biệt nhau
nhiều Thời Lê, mặc dù dựng thêm một “Lam Kinh”, nhưng triều đình vẫn sử dụng
lại Thăng Long-Đông Đô làm quốc đô Nhà Lê áp dụng mô hình quân chủ chuyên chế Nho giáo nên đã xây dựng lại Đông Kinh (Thăng Long) theo quy cách đế đô của một quốc gia quân chủ chuyên chế, với khu vực Hoàng thành và nhất là Cung thành nằm trong Hoàng thành được kiểm soát ngặt nghèo, khu hành chính quan liêu
27 Trần Quốc Vượng: “Đôi điểm về quy hoạch Thăng Long”, trong Thông báo Khoa học của BTLS Việt Nam số 1 năm 1983, Hà Nội, tr 65-70
Trang 40lan rộng nhiều ra ngoài Hoàng thành, và tập trung xây dựng đền miếu, tổ chức khoa
cử, đề cao văn hoá Nho học Triều Lê cũng thể chế hoá và kiên cố hoá khu vực thành đô, xây dựng lại vòng thành ngoài, mở rộng vòng thành trong, Hoàng thành được xây bằng gạch đá, trên có ụ bắn, mở ba cửa Nhiều công trình kiến trúc cũng được xây dựng Cho dù triều Lê duy trì chính sách trọng nông, ức thương thì Thăng Long-Đông Kinh lúc bấy giờ với tư cách là trung tâm chính trị và kinh tế lớn nhất vẫn đông vui nhộn nhịp, quy hoạch phố phường ổn định và quy chuẩn, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển với tốc độ nhanh và quy mô lớn để đáp ứng nhu cầu của nhà nước và nhân dân Khu đô thị phát triển song song cùng khu thành
và khu sản xuất nông nghiệp Chợ búa và bến cảng là trung tâm giao dịch của đô thị Chợ lớn nhất đô thị là chợ Đông, nằm ngay trước cửa Đông của Hoàng thành Các phường thủ công của đô thị nằm rải rác ở nhiều phố phường, nhưng cũng tập trung ở khu phía đông Các phường nghề dệt, nghề giấy dồn lại quanh vùng Hồ Khẩu (sông Tô thông với Hồ Tây); lan toả xuống phía đông nam là các phường thủ công làm nghề gốm sứ, nung vôi, làm đồ trang sức, mỹ nghệ, đúc đồng, rèn sắt, nghề nề, nghề mộc… Bên cạnh các nghề thủ công dân gian là những xưởng thủ công của nhà nước: đúc tiền, đóng thuyền, làm vũ khí, xe kiệu của vua quan…
- Khái niệm phường: ngoài nội dung chỉ những tổ chức của những người
cùng một nghề, còn dùng để chỉ những khu vực địa lý được coi là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở kinh thành Thăng Long Sử cũ còn ghi Thăng Long đời Trần có
61 phường Đời Lê gộp lại còn 36 phường Dư địa chí của Nguyễn Trãi đã chép cụ
thể: “Thượng kinh là kinh đô vua có 1 phủ lộ, 2 thuộc huyện, 36 phường Phủ là Phụng Thiên, 2 huyện là Thọ Xương và Quảng Đức, mỗi huyện đều có 18 phường”28 Vào cuối thế kỷ 18, kinh thành vẫn được chia thành 36 phường nếu theo
đúng như mô tả của Phạm Đình Hổ trong “Vũ trung tuỳ bút” Nhìn chung, trong
suốt thời Lê, vẫn giữ nguyên sự phân định hành chính 36 phường của phủ Phụng Thiên - Kinh đô Thăng Long
Theo báo cáo kết quả nghiên cứu khảo sát của đề tài nghiên cứu phố nghề của Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội chủ trì, 36 phường Thăng Long có cả nông dân
và thị dân về cơ bản có thể được phân thành ba loại:
1 Các phường làm nghề nông ít biến động, thường giữ nguyên tên gọi và địa giới cho tới gần đây, thậm chí cho tới hiện nay: Phía Bắc có các phường Yên Hoa, Nghi Tàm, Quảng Bá, Tây Hồ, Nhật Chiếu, phía Tây có Xã Đàn, Thịnh Quang, Nhược Công, phía Nam có Kim Hoa, Đông Tác, Quan Trạm
28 Nguyễn Trãi: “Dư địa chí”, trong Nguyễn Trãi toàn tập, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nhà xuất bản Văn học xuất bản, Hà Nội, 2001, tr 457-458