Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu xuất hiện những tên tuổi lớn như: Denis Freres, Descours Cabaud, Poisard Veyret,… Hơn nữa trong thời kì này, Hà Nội đã xuất hiện những công ty tư bản tài ch
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC XÃ HỘI CẤP NHÀ NƯỚC KX.09
"Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
và giá trị lịch sử - văn hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,
phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô".
4 ThS Nguyễn Thị Thế Bình 5 ThS Nguyễn Thị Như Hoa
6 ThS Đào Thu Vân 7 ThS Nguyễn Mạnh Hưởng
8 ThS Nguyễn Văn Ninh 9 ThS Lê Hiến Chương
10 Phạm Ngọc Anh 11 Đoàn Thị Kim Thuỷ
12 Nguyễn Thu Hiền 13 Nguyễn Quốc Vương
14 ThS Hồ Công Lưu, Khoa Việt Nam học
15 ThS Trần Văn Kiên, Khoa Việt Nam học
16 Nguyễn Quỳnh Anh, Khoa Việt Nam học
6955-6
22/8/2008
Hà Nội, 2005 - 2007
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Hà Nội thời Pháp thống trị 3
(Báo cáo khoa học tổng hợp của Nhánh)
GS-TS Nguyễn Ngọc C¬ + ThS §µo Thu V©n + ThS NguyÔn ThÞ
Thu Thñy, Khoa Lịch sử
2 Chuyên đề 1: Những chứng cứ về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực 70
quy hoạch, xây dựng và mở mang Hà Nội thời Pháp thống trị
ThS Phạm Thị Tuyết, Khoa Lịch sử
3 Chuyên đề 2: Những chứng cứ về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực 100
sản xuất công nghiệp ở Hà Nội thời Pháp thống trị
ThS Đào Thu Vân, Khoa Lịch sử
4 Chuyên đề 3: Những chứng cứ về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực 124
sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Hà Nội thời Pháp thống trị
ThS Hồ Công Lưu, Khoa Việt Nam học
5 Chuyên đề 4: Những chứng cứ về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực 154
sản xuất nông nghiệp ở Hà Nội thời Pháp thống trị
TS Vũ Thị Hoà, Khoa Lịch sử
6 Chuyên đề 5: Những chứng cứ về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực 176
y dược học ở Hà Nội thời Pháp thống trị
Đoàn Thị Kim Thuỷ, Khoa Lịch sử
7 Chuyên đề 6: Những chứng cứ về ứng dụng khoa học trong đời sống 213
của Hà Nội thời Pháp thống trị
Phạm Ngọc Anh, Khoa Lịch sử
8 Chuyên đề 7: Những đặc trưng của giáo dục, văn hoá, xây dựng nếp 239
sống xã hội ở Hà Nội thời Pháp thống trị
ThS Trần Văn Kiên, Khoa Việt Nam học
9 Chuyên đề 8: Các tác phẩm có giá trị xuất bản ở Hà Nội thời Pháp 276 thống trị
Nguyễn Quỳnh Anh, Khoa Việt Nam học
10 Chuyên đề 10: Thực trạng phát triển và kết quả hoạt động của lĩnh 300
vực khoa học kỹ thuật ở Hà Nội trong thời Pháp thống trị
ThS Nguyễn Thị Như Hoa + ThS Nguyễn Văn Ninh + Lê Thị Huyền,
Khoa Lịch sử
11 Chuyên đề 11: Thực trạng phát triển và kết quả hoạt động của lĩnh 327
Trang 3vực khoa học nông nghiệp ở Hà Nội trong thời Pháp thống trị
ThS Đào Thu Vân, Khoa Lịch sử
12 Chuyên đề 12: Thực trạng phát triển và kết quả hoạt động của lĩnh 341
vực khoa học y dược ở Hà Nội trong thời Pháp thống trị
Đỗ Thuỳ Linh + Nguyễn Thu Hiền, Khoa Lịch sử
13 Chuyên đề 13: Thực trạng phát triển và kết quả hoạt động của lĩnh 356
vực khoa học xã hội và nhân văn ở Hà Nội trong thời Pháp thống trị
ThS Lê Hiến Chương, Khoa Lịch sử
14 Chuyên đề 14: Vấn đề trọng dụng nhân tài của Hà Nội trong thời kỳ 387
Pháp thống trị
ThS Nguyễn Mạnh Hưởng, Khoa Lịch sử
15 Chuyên đề 15: Giáo dục thi cử ở Hà Nội thời Pháp thống trị 415 ThS Nguyễn Văn Ninh + ThS Nguyễn Thị Như Hoa + Lê Thị Huyền,
Khoa Lịch sử
16 Chuyên đề 16: Những giá trị truyền thống và bài học về sử dụng 451
nhân tài ở Hà Nội trong nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX
ThS Nguyễn Thị Thế Bình + ThS Nguyễn Văn Ninh, Khoa Lịch sử
17 Chuyên đề 17: Những nhân tài nổi bật ở Hà Nội trong nửa cuối thế 475
kỷ XIX
Nguyễn Quốc Vương, Khoa Lịch sử
18 Chuyên đề 18: Những nhân tài nổi bật ở Hà Nội trong nửa đầu thế 504
kỷ XX
ThS Nguyễn Thị Thế Bình, Khoa Lịch sử
Báo cáo tổng hợp Nhánh 6
Trang 4Ph¸t triÓn khoa häc vµ träng dông nh©n tµi ë Hµ Néi
thêi k× Ph¸p thèng trÞ
I Mét sè nÐt c¬ b¶n vÒ Hµ Néi thêi k× thuéc Ph¸p
Ngày 1-10-1888, vua Đồng Khánh ra Đạo dụ giao quyền sở hữu thành phố Hà Nội cho thực dân Pháp Hà Nội chính thức trở thành nhượng địa của Pháp và mang tính chất của một thành phố thuộc địa Vì thế mà Hà Nội thời kì này mang nhiều dấu ấn của Pháp trong cơ cấu kinh tế, mô hình xã hội, thực trạng văn hóa, chính trị
Về mặt vị trí địa lý, Hà Nội là “cuống họng của Bắc kì” (lời của Tổng đốc thành Hà Nội - Hoàng Diệu năm 1882) Nó là một đầu mối giao thông thủy bộ tỏa đi khắp miền Bắc nước ta và thuận tiện để tư bản Pháp xâm nhập vào vùng Vân Nam (Trung Quốc) Mặt khác, Hà Nội lại nằm giữa một khu vực đông dân cư; tư bản Pháp sớm nhìn thấy sức hấp dẫn của thị trường này, chiếm được Hà Nội chúng sẽ làm chủ một vùng đất rộng lớn, giàu tiềm năng, đem lại những lợi nhuận lớn cho giới tư bản Pháp Trong thời kì này địa giới của Hà Nội đã trải qua 3 lần thay đổi lớn Năm 1899, Hà Nội có khu vực ngoại thành gồm một phần đất đai huyện Thọ Xương và huyện Vĩnh Thuận Nhưng đến năm 1915, vùng đất này mang tên gọi là huyện Hoàn Long và được sáp nhập vào tỉnh Hà Đông Năm 1942, huyện Hoàn Long lại được trả về cho Hà Nội và có tên gọi “Đại lý đặc biệt”, trụ sở đặt ở
ấp Thái Hà Sự mở rộng hay thu hẹp diện tích của Hà Nội có liên quan mật thiết đến tình hình chính trị và sự phát triển kinh tế
Về chính trị, Hà Nội là thành phố cấp 1 và có Hội đồng thành phố, đứng đầu là một viên Đốc lý Viên quan này do Thống sứ Bắc kì đề cử và Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm, được hưởng lương từ ngân sách của Thành phố Quyền hành của viên Đốc lý tương đương như Công sứ đầu tỉnh, có quyền ra Nghị định về vấn đề nào có liên quan đến thành phố mình quản lý Giúp việc, hỗ trợ cho viên quan này còn có 2 viên phó Đốc lý và
1 Hội đồng thành phố gồm 16 người Hội đồng Thành phố được quy định 3 chức năng chủ yếu sau: Bàn bạc, ra biểu quyết và quyết định những vấn đề thuộc riêng thành phố, song những quyết định đó chỉ được thực thi khi Thống sứ Bắc kì thông qua; Góp ý kiến những vấn đề mà cấp trên yêu cầu; Đề đạt những nguyện vọng có liên quan đến lợi ích Thành phố lên cấp trên song tuyệt đối không được bàn đến vấn đề chính trị Hội đồng Thành phố
Trang 5có thể bị giải thể bởi Toàn quyền Đông Dương Trong số 16 ủy viên của Hội đồng Thành phố Hà Nội thì người Pháp chiếm 12 người và người Việt có 4 người, đến năm 1928 số đại biểu người Việt tăng lên 6 người Đó là tỉ lệ khiêm tốn vì 1 đại biểu thay mặt cho 30.000 người Việt Nam Đại biểu tham gia trong Hội đồng cũng phải theo tiêu chuẩn nhất định Nếu là người Pháp thì nhất thiết phải do những tên tư bản Pháp ở Hà Nội trực tiếp bầu ra theo lối phổ thông đầu phiếu, còn những người Việt Nam thì phải có nhiều tiền của,
có địa vị trong xã hội Thậm chí những người đi bầu cử cũng phải có nhà đất, nộp sưu thuế
từ 15 đồng trở lên, là các viên thông phán, kí lục thực thụ từ hạng ba trở lên… Đặc biệt đó phải là những đối tượng chưa bao giờ chống chính quyền thực dân
Hà Nội còn là thủ phủ của Liên bang Đông Dương, một trung tâm hành chính và chính trị quan trọng bậc nhất Nơi đây tập trung nhiều cơ quan, viện nghiên cứu, trường học như: Phủ Thống sứ, Ngân hàng Đông Dương, trường Viễn Đông Bác Cổ, Bảo tàng Nông - Công - Thương nghiệp Maurice Long, … Chính vì thế mà mọi chủ trương chính sách của chính quyền thực dân nhanh chóng được thực thi ở Hà Nội Bên cạnh đó với vị trí và điều kiện như vậy, Hà Nội luôn nhận được sự quan tâm và đầu tư của tư bản Pháp
Về mặt kinh tế, trước khi trở thành nhượng địa của thực dân Pháp, Hà Nội đã có quan hệ buôn bán với các nước như Hà Lan, Anh, Trung Quốc, Inđônêxia, … Khu vực phía Đông Hoàng Thành là nơi tập trung nhiều cửa hàng buôn bán lớn và các phường nghề thủ công Ước tính Hà Nội có khoảng trên 30 nghề thủ công truyền thống Những nghề thủ công như dệt lụa, làm giấy, làm gốm, … được truyền từ nhiều đời đã tạo ra một nền kinh tế phồn vinh và làm nên cuộc sống no đủ của người Hà Nội Một người nước ngoài khi đến Hà Nội thời điểm này đã mô tả khá sinh động: “Các vật phẩm đều có phố riêng cho mỗi loại, mỗi phố lại chia cho dân 1, 2 hoặc nhiều làng có đặc quyền buôn bán ở phố đó Cách làm ấy hoàn toàn giống như các công ty hay phường hội các thành phố châu Âu”1 Như vậy Hà Nội thời kì trước năm 1888 đã là một trung tâm phát triển mạnh trong hoạt động công thương nghiệp
Kinh tế Hà Nội trong thời thuộc Pháp đã có những diện mạo mới Bên cạnh sự duy trì các ngành nghề thủ công truyền thống là sự du nhập những kĩ nghệ mới: làm rượu bia, làm diêm bằng máy, in ấn, sửa chữa các máy móc, phương tiện giao thông như ô tô, xe điện, xe lửa, … Do đó nơi đây đã tồn tại cơ cấu kinh tế đan xen giữa khu vực kinh tế hiện đại (sự ra đời và phát triển của công nghiệp) và khu vực kinh tế truyền thống (nghề thủ công và làm nông nghiệp) Mặt khác Hà Nội còn trở thành nơi trung chuyển hàng hóa lớn nhất ở Bắc kì Thành phố này trở thành nơi tập kết các loại hàng hóa nông - lâm - thổ sản
1 Vũ Huy Phúc, Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 - 1945, NXB KHXH, Hà Nội, 1996, tr 35-36
Trang 6từ Tây Bắc, Việt Bắc xuống, từ Thanh Hóa - Nghệ Tĩnh ra, lúa gạo, các mặt hàng thủ công
ở các tỉnh đồng bằng lân cận như: Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Bình, … chuyển đến Đồng thời một hệ thống chợ đầu mối như chợ Gạo, chợ Đồng Xuân, chợ Cầu Đông, cảng Hà Nội, Cầu Paul Dumer bắc qua sông Hồng (1898-1902), … đã nhanh chóng được củng cố
và xây dựng mới Năm 1891, thành phố Hà Nội có 8 nhà buôn bán trong đó có 3 người buôn gạch, vôi, gỗ, 2 người làm đường và đến năm 1894 đã tăng lên 44 người2 Và từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 có 52 công ty tư bản kinh doanh ở Hà Nội, trong đó có 43 công
ty của tư bản Pháp kinh doanh hoặc có chi nhánh ở Hà Nội Do đó Hà Nội đã sớm nhận được sự đầu tư, bỏ vốn của tư bản Pháp Từ năm 1859-1902, tư bản Pháp đã bỏ ra 12,5 triệu frăng cho kĩ nghệ và 20 triệu frăng cho thương mại của Hà Nội3
Xã hội Hà Nội thời thuộc Pháp cũng có một mô hình đặc trưng với sự đan xen của giai cấp cũ, mới Mỗi giai cấp, tầng lớp đều có những ưu thế nhất định Tư bản thực dân Pháp ở Hà Nội với hai bộ phận chính Một là những quan chức thuộc địa nắm giữ các chức vụ quan trọng trong các cơ quan dân sự, quân sự của bộ máy thống trị ở Đông Dương đặt tại Hà Nội như: Phủ Toàn quyền, Phủ Thống sứ, Đốc lý Hà Nội, Sở Mật thám Đông Dương, Ngân hàng Đông Dương, … và hàng loạt các phòng, ban, Hội đồng, Ủy ban trực thuộc khác Phần lớn các quan chức thuộc địa đều có cổ phần trong các tập đoàn tư bản lũng đoạn Pháp (ví dụ: Toàn quyền Maurice Long có cổ phần trong Hãng rượu Fongten có nhà máy sản xuất ở Hà Nội) Họ vừa đại diện cho lợi ích chính trị của thực dân Pháp lại vừa có lợi ích kinh tế gắn chặt với tư bản Pháp
Bộ phận thứ hai trong giới tư bản Pháp là chủ các doanh nghiệp có cơ sở kinh doanh, sản xuất (nhà máy, xí nghiệp) hoặc chi nhánh, văn phòng trên địa bàn Hà Nội Năm 1891 ở
Hà Nội mới có 64 hãng và công ty tư bản Pháp sang thăm dò thị trường Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu xuất hiện những tên tuổi lớn như: Denis Freres, Descours Cabaud, Poisard Veyret,… Hơn nữa trong thời kì này, Hà Nội đã xuất hiện những công ty tư bản tài chính lớn như: Ngân hàng Đông Dương (xây dựng xong trụ sở vào năm 1930), Ngân hàng Pháp - Hoa, Công ty thổ địa Đông Dương, Liên hiệp tài chính Viễn Đông thành lập vào những năm 20, …
Tư bản Pháp ở Hà Nội trong thời gian này đã nhanh chóng bỏ vốn đầu tư vào một số ngành nghề như: chế biến thực phẩm, làm rượu bia, nước giải khát như Hãng bia Hommel, Nhà máy nước đá Larue; sản xuất vật liệu xây dựng có Công ty Gạch ngói Đông Dương (SARIC), nghề
in có nhà máy IDEO, TAUPIN, xưởng sữa chữa ôtô và các phương tiện giao thông vận tải AVIAT, STAI, Số lượng người Pháp và người nước ngoài ở Hà Nội tăng nhanh đã làm
2 Nguyễn Công Bình, Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959, tr 24
3 J.Aumiphin - Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859-1939) – Hội Khoa học lịch sử Việt Nam–Hà Nội - Năm 1994, tr 53
Trang 7xuất hiện những nhu cầu mới về hàng tiêu dùng, hàng thủ công mĩ nghệ, hàng thực phẩm chế biến, …
Bên cạnh bộ phận tư sản người Pháp thì Hà Nội còn là nơi cư trú, kinh doanh buôn bán của một bộ phận tư sản ngoại kiều là người Hoa, người Ấn, người Nhật Trong đó chiếm số lượng đông đảo và có chỗ đứng về kinh tế là tư sản Hoa kiều Từ thế kỉ XVIII, người Trung Quốc đã sang sinh sống, lập nghiệp ở Hà Nội Năm 1803 họ xây dựng “Hoa thương hội quán” ở phố Hàng Buồm Họ sớm mở các cửa hàng buôn bán nhiều thứ khác nhau hoặc làm đại lý cho các Hãng Trung Quốc ở Hương Cảng, Thượng Hải, … Hai tuyến phố Hàng Ngang, Hàng Buồm là nơi tập trung đông nhất các cửa hiệu của tư sản Hoa kiều Năm 1891, Hà Nội có 72 hãng buôn của Hoa kiều Số lượng Hoa kiều cũng tăng nhanh vào những năm 20, từ 2380 người năm 1921 lên 4428 người năm 1928 4 Dù tư sản Hoa kiều cũng có những thế mạnh trong kinh doanh, sản xuất nhưng vẫn chịu sự chèn ép của tư bản Pháp Trong khi đó tư sản Ấn kiều ở Hà Nội khá ít ỏi Năm 1891 có 4 hãng buôn Ấn kiều chủ yếu kinh doanh tơ lụa và tập trung đông ở khu phố Hàng Đào, Tràng Tiền Đối với đội ngũ tư sản Nhật kiều chiếm số lượng không đáng kể và chỉ hoạt động mạnh khi Nhật nhảy vào Đông Dương (tháng 9 năm 1940) Một số công ty tư bản độc quyền của Nhật đã có mặt ở Hà Nội như: Hãng Mitsưi, Mitsubishi, Đại Nam Kosi, …
Tư sản Việt Nam ra đời sau giai cấp vô sản và trở thành một giai cấp thực sự từ sau chiến tranh thế giới 1 (1914-1918) Thành phần xuất thân của tư sản Việt Nam cũng rất đa dạng: Họ có thể là người sản xuất nhỏ giàu có lên, thương nhân làm ăn phát đạt, hoặc là địa chủ tư bản hóa và cũng có đối tượng làm thầu khoán cho tư bản đế quốc mà giàu có, tích lũy được nhiều của cải Thành phố Hà Nội là nơi tư sản tập trung đông nhất miền Bắc
Tư sản ở đây cũng phân hóa thành hai bộ phận: là tư sản dân tộc và tư sản mại bản Tư sản mại bản ở Hà Nội ra đời sớm Ngay từ khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội thì một số các công ty tư bản Pháp đã vào thăm dò thị trường và nó đã nảy sinh một lớp người đứng trung gian làm môi giới cho tư bản Pháp và người bản xứ Họ nhận bao thầu cho đội quân viễn chinh Pháp, thầu khoán các công trình xây dựng của Pháp, mở đại lý thu gom nguyên liệu cho các công ty tư bản Pháp,… Một số gương mặt tiêu biểu cho bộ phận này là: Vũ Văn An đại lý độc quyền tơ lụa Pháp, góp cổ phần vào công ty Rượu, nước mắm Hoàng Kim Quy, Mai Văn Hàm hợp tác với tư sản Nhật lập Công ty Thương mại kĩ nghệ Bắc kì (năm 1941), Hoàng Trọng Phu hùn vốn vào Công ty nông nghiệp, …
Tư sản dân tộc ở Hà Nội xuất hiện muộn hơn Họ phần đông là tư sản thương nghiệp Mặt hàng mà họ kinh doanh chủ yếu là hàng thủ công nghiệp trong nước như:
4 Trần Huy Liệu (cb) – Lịch sử thủ đô Hà Nội – NXB Sử học – Viện Sử học – Hà Nội – Năm 1960, tr 113
Trang 8Công ty Quảng Hưng Long thành lập năm 1907 vừa có hiệu buôn vừa có xưởng thợ Hay hãng buôn Quảng Hợp Ích buôn the, tơ lụa, xa xuyến, vóc, nhiễu, … Trong thời kì này cũng xuất hiện một số tư sản dân tộc kinh doanh các ngành vận tải, dệt, in, sản xuất gạch ngói như: Bạch Thái Bưởi, Đào Thao Côn, Ngô Tử Hạ, Mạc Đình Tư, Nguyễn Văn Vĩnh, Năm Giệm, Trần Văn Thanh, … Dù đã có nhiều cố gắng trong sản xuất nhưng vai trò của
tư sản dân tộc vẫn rất nhỏ bé và ít nhiều còn phụ thuộc vào đế quốc thực dân
Công nhân Việt Nam là con đẻ của cuộc khai thác thuộc địa do thực dân Pháp tiến hành Vì thế mà vào những năm 90 của thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng những cơ
sở kinh tế đầu tiên như nhà máy điện, nhà máy nước, nhà máy sợi, … thì đội ngũ công nhân Hà Nội cũng bắt đầu hình thành Nguồn gốc của họ trước hết là nông dân, thợ thủ công ở các làng xã giữa thành phố, bị tư bản tước đoạt ruộng đất xây dựng nhà máy, mở mang thành phố Ví dụ: Công nhân làm trong nhà máy Rượu bia Hommel, Nhà máy thuộc
da đều là dân các làng xung quanh như Thụy Khuê, Đại Yên, Liễu Giai, Ngọc Hà,… Sau
bộ phận công nhân có nguồn gốc trên là nông dân, thợ thủ công ở các vùng lân cận Hà Nội như: Hà Đông, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương bị thực dân Pháp và địa chủ chiếm ruộng, bị hàng hóa của Pháp tràn vào làm cho phá sản hàng loạt và phần đông là không chịu nổi mức sưu cao thuế nặng nên phải bỏ ra thành phố bán sức lao động, duy trì cuộc sống Nhiều nhà máy ở Hà Nội như nhà máy rượu bia, nhà máy sản xuất gạch ngói đã tập trung hàng trăm công nhân và có thời kì số công nhân ở đây lên tới 3 vạn người Bên cạnh đội ngũ công nhân thực thụ thì Hà Nội còn tồn tại một đội quân “bán vô sản” là những người lao động, không có tư liệu sản xuất, không có nghề thủ công và phải đem sức mình
ra làm đủ mọi thứ nghề linh tinh Trong số đó có rất ít người có được một công việc ổn định Họ thường xuyên bị thất nghiệp và đây thực sự là đội quân hậu bị đông đảo, sẵn sàng
bổ sung cho đội ngũ công nhân Hà Nội
Tiểu tư sản của Hà Nội được phân hóa thành ba bộ phận: Một là tiểu tư sản lớp dưới bao gồm: dân nghèo thành thị, người buôn bán linh tinh Họ về cơ bản là có cuộc sống bấp bênh, nghèo khổ và có mối quan hệ gần gũi với công nhân, nông dân Hai là tiểu
tư sản lớp giữa gồm tiểu thương, tiểu chủ, viên chức nhỏ (có những người tham gia làm công việc bàn giấy trong các nhà máy, xí nghiệp của Pháp) Đời sống của tầng lớp này cũng khá bấp bênh và bất kì lúc nào cũng có thể bị rơi xuống tầng lớp dưới cùng của xã hội Ba là tầng lớp tiểu tư sản lớp trên gồm các viên chức cao cấp, trí thức lớn Bộ phận này thuộc về lớp thượng lưu trong xã hội và có nhiều quan hệ với chính quyền thực dân
Bên cạnh các giai cấp, tầng lớp xã hội mới trên thì Hà Nội vẫn tồn tại hai giai cấp
cũ là địa chủ và nông dân Bộ phận địa chủ quan lại ở Hà Nội chiếm một số lượng đông và đây là cơ sở xã hội được thực dân Pháp quan tâm từ sớm Chúng dành cho bộ phận này
Trang 9nhiều đặc quyền đặc lợi như: được hựn vốn kinh doanh với tư bản Phỏp, cú “chõn” trong Hội đồng thành phố, Hội đồng kinh tế, … Cũn tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ thỡ tập trung chủ yếu ở khu vực ngoại thành Họ cú thể sống bằng ruộng đất, búc lột tụ tức hoặc mở cửa hàng buụn bỏn trong thành phố
Sự du nhập phương thức sản xuất mới và sự thay đổi trong diện mạo kinh tế của Hà Nội đó khiến cho nụng dõn ngoại thành khụng cũn bị trúi chặt vào ruộng đất nữa Nhiều vựng ngoại thành của Hà Nội đó trở thành nơi cung ứng nụng phẩm hàng húa và lao động làm thuờ cho thành phố Họ vào cỏc nhà mỏy, xớ nghiệp để làm việc và gia nhập đội ngũ cụng nhõn Tuy nhiờn cũng cú một bộ phận nụng dõn đi ra thành phố nhưng khụng tỡm được việc làm và lại quay trở về lĩnh canh ruộng đất từ tay địa chủ, chịu nộp tụ cao nhằm duy trỡ cuộc sống
Cú thể núi rằng, chớnh những yếu tố và điều kiện trờn đó tỏc động đến nhiều lĩnh vực của Hà Nội trong thời kỡ này Hà Nội đó nhanh chúng du nhập nhiều kĩ nghệ, kiến thức mới về văn húa, xó hội Những nhõn tố này sẽ cú tỏc động hai chiều: tớch cực và tiờu cực đến quỏ trỡnh phỏt triển của Hà Nội Chớnh nú sẽ làm cho Hà Nội mang một diện mạo mới, khỏc hẳn thời kỡ trước
II Tổng hợp một số vấn đề nổi bật về việc phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ ở hà nội thời pháp thuộc
1 Công nghiệp, thủ công nghiệp
1.1 Công nghiệp
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành cuộc khai thác lần thứ nhất ở Việt Nam Đối với ngành công nghiệp, tư bản Pháp bỏ vốn vào trên cơ sở: nền công nghiệp thuộc địa chỉ đóng vai trò bổ sung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp ở chính quốc Về cơ bản, sự phát triển công nghiệp ở Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng tại thời điểm này
đều bị giới hạn trong khuôn khổ nhất định Do đó, trong suốt thời kỳ Pháp thống trị, ở Hà Nội
dù đã xuất hiện các phương tiện, máy móc hiện đại: máy bơm nước, máy điện, lò hơi, xe ô tô,
xe lửa, nhưng số lượng rất ít ỏi và không phải nhà máy, xí nghiệp sản xuất nào cũng có
1.1.1 Công nghiệp điện, nước
Ngay từ đầu, thực dân Pháp đã chăm lo xây dựng nhà máy điện và nhà máy nước ở Hà
Nội, nhằm mục đích: “Cải thiện sinh hoạt cho người Bắc Kỳ”5 Nhưng, thực chất là để cải thiện cuộc sống của tư bản Pháp sinh sống và làm việc ở Hà Nội
5
Lời toàn quyền Lanetxăng Dẫn theo Nguyễn Khắc Đạm - Sđd, tr.200
Trang 10Năm 1895, nhà máy điện ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm được hai người Pháp - Hermenter và Pranté bỏ vốn xây dựng6 Quy mô của nhà máy vào buổi đầu rất nhỏ bé: công suất 500kw
và chỉ đủ thắp 523 ngọn đèn điện cho khu phố người Âu Sang năm 1913, tư bản Pháp phải mua thêm máy mới và nâng công suất của nhà máy lên 800kw
Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918, do nhu cầu dùng điện ngày càng lớn, tư bản Pháp buộc phải nhập thêm máy điện 100 mã lực của Thụy Sĩ Điện được cung cấp cho sinh hoạt tối thiểu: thắp đèn, chạy quạt ở Hà Nội năm 1937 có 26.500 cái quạt (riêng quạt trần là 16.800 cái)
Như vậy, đến đầu thế kỷ XX, ở Hà Nội, sản xuất và phân phối điện đã được phổ biến trong các khu phố người Tây và một phần ở khu phố sinh hoạt của người Việt Điện được sử dụng cho việc thắp sáng đường phố, quạt điện trong các cơ quan chính quyền và vận hành máy móc Nó tạo ra nét khởi sắc cho nền sản xuất công nghiệp của Hà Nội
Việc xây dựng nhà máy nước ở Hà Nội đã được người Pháp quan tâm đến rất sớm Từ năm 1889 đến năm 1910, đã có nhiều dự án nghiên cứu tìm nguồn nước từ sông Hồng, từ các
hồ lớn của Hà Nội hay nước lấy từ các mạch ngầm bằng cách đào giếng Cuối cùng, dự án của Grall - Lafont theo cách đào giếng được thực thi
Năm 1900, nhà máy đào được 3 giếng đầu để lấy nước và sau đó thêm 3 giếng nữa vào năm 1906 Năm 1910, cả thành phố mới có 437 ống dẫn nước vào nhà riêng của người Pháp và 95 vòi nước công cộng Năm 1927, do dân số Hà Nội tăng nhanh, mức tiêu thụ nước lớn nên Pháp cho đào thêm hai giếng và đặt máy bơm điện lấy nước từ sông Hồng lên được 4000m3/ngày
Vấn đề nước ở Hà Nội vào đầu thế kỷ XX đã giải quyết một phần nhu cầu sinh hoạt của người Pháp: ăn uống, tắm giặt, Trong khi đó phần lớn nhân dân dân lao động vẫn sử dụng nước giếng khoan, nước ở các ao hồ và nước máy vẫn là thứ xa xỉ với cuộc sống của
họ
1.1.2 Công nghiệp chế tạo cơ khí
Trong toàn bộ chính sách về kinh tế, công nghiệp mà thực dân Pháp đưa ra cho Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng đều nhấn mạnh một điểm: không phát triển kĩ thuật luyện kim dù chúng biết rằng ở phía Bắc nước ta có rất nhiều mỏ khoáng sản Bởi, nếu phát triển lĩnh vực này thì sẽ gây tổn hại cho nền công nghiệp Pháp
Từ thực tế đó nên trong suốt một thời gian dài, đã không có một xí nghiệp chế tạo cơ khí hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó ở Việt Nam Có chăng chỉ là một số xưởng sửa chữa máy móc, dụng cụ, hay thay thế phụ tùng cho ôtô, xe lửa và xưởng đóng tàu của tư bản Pháp
6
Ngày nay, vị trí của nhà máy chính là trụ sở Sở Điện Lực Hà Nội trên đường Đinh Tiên Hoàng
Trang 11Đầu thế kỷ XX, ở Bắc Kỳ đã có xưởng của công ty Mácty và d'A-ba-đi (Marty et d'Abbadie) độc quyền lĩnh vực vận tải đường sông với nhiệm vụ là đóng tàu Cơ sở của nó
có đủ máy công cụ của một xưởng cơ khí, xưởng lắp, xưởng điện đặt ở gần cảng Hải Phòng Tuy nhiên, số lượng các xưởng cơ khí có quy mô như trên là cực kì ít ỏi Đến năm
1908 cả Bắc Kỳ có “14 xưởng cơ khí, thiết bị máy móc 1100 mã lực, tư bản danh nghĩa 5.700.000 phrăng”7
Năm 1918, chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, để thực hiện công cuộc khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, tư bản Pháp đã bỏ vốn, lập một số công ty sửa chữa, chế tạo cơ khí tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn: công ty Xích Đông Dương, tức là hãng Béc-xê (Berset) (1919) làm xe đạp, phụ tùng xe đạp với những nhãn hiệu xe đạp quen thuộc như: Saint-Etienne, Peugeout, Sterling, ; xưởng sửa chữa và bảo dưỡng ô tô Aviat (Garage AVIAT)8 (1/5/1919); xưởng ôtô Stai (thuộc công ty vận tải ôtô Đông Dương)9 Công việc chủ yếu của xưởng Stai là thay thế phụ tùng cho các xe ôtô từ Pháp đã dùng, rồi gửi sang Việt Nam
Năm 1923, ở Hà Nội đã ra đời một công ty sản xuất săm lốp ôtô (Sociéte d' Application des procédes - FIT) Công ty có số vốn khoảng 150.000 phrăng và chuyên tái sinh cao su, chế biến các sản phẩm từ cao su, đặc biệt là săm lốp ôtô
Như vậy, những xưởng sửa chữa ôtô được lập ra chủ yếu để giải quyết nhu cầu về thay thế phụ tùng, sửa chữa hỏng hóc nhẹ của ôtô cho chính quyền thực dân, một nhóm các nhà tư bản Pháp và một nhóm người thuộc tầng lớp trên ở Hà Nội Đồng thời, nó cũng
đảm bảo sự tiêu thụ ôtô một cách ổn định cho công nghiệp ôtô ở chính quốc
Nhìn chung, qui mô của các xưởng cơ khí rất nhỏ bé và không chuyên hẳn về chế tạo máy móc mà thường phối hợp với các công ty kinh doanh về vận tải Những nhà máy xe điện
Hà Nội, xe lửa ở Gia Lâm hay công ty hỏa xa Đông Dương và Vân Nam, xưởng đóng tàu của Bạch Thái Bưởi, là những ví dụ điển hình
Từ năm 1899, công ty Điền địa Đông Dương (Société foncière de I'Indochine) được phép thành lập một công ty xe điện ở Hà Nội với hệ thống gồm 3 đường Năm 1904, tư bản Pháp mở thêm đường nối tới Hà Đông, Bờ Hồ - Cầu Giấy Lực lượng công nhân trong nhà máy không nhiều, bao gồm một số bộ phận làm hành chính và các thợ đốt lò phát động máy điện, thợ rèn, thợ bảo dưỡng toa xe
Năm 1900, nhà máy cơ khí của công ty hỏa xa Việt Điền được xây dựng gần đường lớn đi Bắc Ninh10 Trong nhà máy có một hệ thống các xưởng rèn, tiện, nguội, mộc nối
Trang 12liền nhau bởi hai đường ray Nhiệm vụ chính của nhà máy là sửa chữa những chỗ hư hỏng nhẹ của đầu máy, toa xe còn việc đóng khung toa xe mới rất hạn chế
Điều đáng chú ý là, trong thời thuộc Pháp, tất cả các xí nghiệp của tư bản Pháp ở
Hà Nội đều phải nhập khẩu nhiều vật liệu, công cụ, phụ tùng và máy móc từ Pháp gửi sang như: cửa kính toa xe, bộ phận đúc bằng sắt, thép, nồi hơi, xi lanh, pit-tông, mô-tơ, Đây
là kết quả tất yếu của chính sách công nghiệp mà thực dân Pháp đề ra Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, đều là nơi tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp của ngành cơ khí chế tạo Pháp
Nó thể hiện tính chất phụ thuộc và không đồng bộ của ngành cơ khí chế tạo ở Hà Nội
Tuy nhiên, đứng ở một khía cạnh khác ta cũng thấy một số điểm tích cực Tư bản Pháp vào Việt Nam và để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của chúng nên những phương tiện máy móc mới, hiện đại đã được du nhập nhanh chóng Dù thực dân Pháp luôn duy trì chính sách: không phát triển công nghiệp ở thuộc địa nhưng trên thực tế (đặc biệt là thời kì chiến tranh thế giới thứ nhất): Công nghiệp thuộc địa được đẩy mạnh vì công nghiệp chính quốc không có điều kiện xuất khẩu các sản phẩm sang
Bên cạnh sự đầu tư của tư bản Pháp vào ngành công nghiệp cơ khí chế tạo một cách
có chừng mực thì tư bản Việt Nam cũng bước đầu quan tâm đến lĩnh vực này Tiêu biểu là Bạch Thái Bưởi với ngành đóng tàu, vận chuyển trên đường sông Năm 1917, hãng tàu của Bạch Thái Bưởi đã sản xuất được tàu Bình Chuẩn với trọng tải 560 tấn
Như vậy, ngành công nghiệp cơ khí chế tạo ở Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng thời thuộc Pháp chỉ mới dừng lại ở bước 1: sửa chữa máy móc, thay thế phụ tùng
bị hỏng hóc Nó chưa đạt đến mức tự sản xuất được một loại máy móc hay phương tiện vận chuyển hoàn chỉnh
1.1.3 Công nghiệp chế biến
Tư bản tài chính Pháp giữ tư tưởng chủ đạo trong việc xây dựng ngành công nghiệp chế biến là lợi dụng những tài nguyên sẵn có ở nước ta và chế biến ra loại sản phẩm không cạnh tranh với công nghiệp Pháp, có khả năng tiêu thụ trên thị trường một cách
có lợi hơn là chế biến ở chính quốc
Trước năm 1918, sự góp vốn của tư bản tư nhân vào ngành công nghiệp chế biến, sản xuất ra những vật phẩm tiêu dùng (chế biến lúa gạo, nấu rượu, dệt, diêm, ) vẫn còn yếu Nhưng bước sang giai đoạn 1931-1939, nó trở thành quan trọng và thu hút lớn tư bản tư nhân đầu tư vào
Công nghiệp chế tạo gạch ngói và sản phẩm chịu lửa
Dưới thời Pháp thuộc, ở Hà Nội không có được một nhà máy xi măng lớn như ở Hải Phòng nhưng do nhu cầu của việc xây dựng các dinh thự kiên cố, cầu, đập, bến cảng nên
đã khuyến khích những xí nghiệp gạch, ngói ra đời
Trang 13Năm 1909, “Công ty vô danh ngói Đông Dương” được thành lập Đối tượng sản xuất của nhà máy là gạch ngói, ca-rô, ống máng, bình lọ bằng đất tráng men, cửa lò (creusets) bằng đất chịu lửa và bằng than chì, gạch ngói bằng xi măng nèn, Đến đầu chiến tranh thế giới thứ hai, nhà máy của công ty ngói Đông Dương ở Hà Nội được tách ra làm 3 bộ phận: bộ phận lò gạch chạy liên tục dùng than ăng-tơ-ra-xít, bộ phận lò nung đồ
sứ chế tạo carô lát tường và xưởng làm gạch ngói bằng xi măng nèn Năng lực sản xuất đạt
40 tấn gạch ngói bằng đất nung, 20 tấn carô, gạch lát nền và ống máng bằng xi măng
Bên cạnh nhà máy gạch ngói do tư bản Pháp mở ra, ở Hà Nội còn xuất hiện 2 xí nghiệp sản xuất gạch ngói của người Việt Nam: nhà máy gạch Giêm của Nguyễn Văn Giêm (hoặc Giệm) thành lập năm 1921, chuyên sản xuất gạch với công suất 1,8 triệu viên/ năm, ngói 540.000 viên/ năm, gạch hoa và một số loại vật liệu xây dựng khác; nhà máy gạch Hưng Ký của Trần Văn Thanh thành lập ở Yên Viên năm 1921, mỗi năm nhà máy bán ra 2,6 triệu viên gạch ngói
Các nhà máy, xí nghiệp gạch ngói được xây dựng đã tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có và thường đặt ở gần sông để vận chuyển dễ dàng Đồng thời, tư bản Pháp và tư bản dân tộc muốn lợi dụng nguồn nhân công rẻ mạt có ở ngay địa phương Trong các nhà máy nhiều kĩ thuật: nung, nén , và máy móc: máy hơi nước, máy ép được sử dụng phổ biến Các sản phẩm gạch ngói đủ chủng loại đã trở thành vật liệu xây dựng dành cho các công trình kiến trúc, cầu cống như: phủ Thống sứ, Nhà hát lớn, cầu Đume (Cầu Long Biên),
Ngành công nghiệp sản xuất gạch ngói và các sản phẩm chịu lửa đã có tác động tới ngành thủ công nghiệp làm gạch ngói, đồ gốm ở các vùng ven Hà Nội Tư bản Pháp áp dụng kĩ thuật tráng men tiên tiến và nguyên liệu tốt hơn nên chế tạo ra những sản phẩm tốt hơn, nắm độc quyền sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cao cấp về gạch ngói, đồ gốm Trong khi
đó kĩ thuật làm gốm của nhân dân lao động vùng Bát Tràng lại dần bị mai một Từ khi Pháp sang, qui trình sản xuất gạch ngói về cơ bản là không đổi nhưng mẫu mã, sản phẩm
có thay đổi Đó là sự xuất hiện loại gạch có lỗ, gạch hoa tráng men, ngói Tây (hay còn gọi
là ngói móc) Gạch ngói được sản xuất trên máy móc đã ra đời nhưng sản lượng vẫn còn ít
ỏi khi so sánh với gạch ngói sản xuất bằng phương pháp thủ công, cổ truyền Giới cầm
quyền Pháp xác nhận: “Những thợ thủ công An Nam bắt chước được phần nào phương thức chế tạo và sản phẩm của công nghiệp ấy của người Trung Quốc nhưng ngay đến bây giờ họ cũng không thể cạnh tranh nổi về những sản phẩm thông dụng, phẩm chất trung bình (với sản phẩm người Pháp) Những người thủ công ấy, cũng như những người trong tất cả các nghề thủ công, đều là nô lệ của sự thủ cựu, họ không làm một nghiên cứu hay tìm tòi nào cả để cải tiến nghề chế tạo của họ cũng như lợi dụng tốt hơn những vật liệu mà
Trang 14họ sử dụng”11
Công nghiệp dệt, sản xuất bông vải
Năm 1891 xuất hiện nhà máy sợi đầu tiên ở Hà Nội do hãng Bourgoin Meiffre quản lý với 10.732 cọc sợi12 Lao động trong nhà máy chủ yếu là nữ với khoảng 200 người
Năm 1900, Công ty bông vải Bắc Kỳ (Société Cotonière du Jonkin) được thành lập
và đối tượng hoạt động kinh doanh tất cả các ngành có liên quan đến kĩ nghệ dệt Mục
đích của tư bản Pháp khi lập nhà máy sợi ở Hà Nội hay ở một số nơi khác trên đất nước ta
đều vì muốn lấy một sản phẩm địa phương thay thế cho sợi bông Bông-bay (Bom bay - ấn
Độ) mà sợi chính quốc không thể thay thế được Sợi sản xuất ra được gặp ngay một thị trường tiêu thụ sẵn có là vùng dệt ở lân cận Hà Nội gồm có: Hà Đông, Nam Định, Thái Bình Pháp còn cung cấp khung dệt tay, khung dệt máy và khung dệt kim cho các vùng đất
địa phương
Như vậy, đi liền với sự xuất hiện của công nghiệp sợi, nhà máy sợi lập ra là sự mở
ra của nhà máy dệt vải nhằm lợi dụng nguồn nguyên liệu sợi sản xuất tại chỗ, nhân công giá rẻ, vải chất lượng trung bình và tương đối thông dụng (vải phin trắng, phin đen, kaki, hạng xấu, ) được dùng phổ biến cho tầng lớp cư dân thành thị, tầng lớp trên ở nông thôn
Sự “mạnh bạo trong việc sản xuất sợi và dệt vải của tư bản Pháp” đã thể hiện rõ rệt mục
đích: độc quyền thị trường sợi và một phần thị trường vải ở Bắc Kỳ (trong đó có Hà Nội),
đồng thời tác động mạnh mẽ đến nghề dệt cổ truyền
Tóm lại, công nghiệp dệt, bông vải, sợi ở Hà Nội ít nhiều đã được phát triển vào đầu thế kỷ XX nhưng nó không nổi trội như ở Nam Định, Hải Phòng Nhà máy lập ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, may mặc trong một bộ phận dân chúng và thu lợi nhuận cao Tư bản Pháp sản xuất vải xấu cho người nghèo; vải tốt dành cho giới thượng lưu Chúng không dại gì mà đem hàng từ Pháp sang bán vì khi đó giá cả sẽ cao, nhu cầu mua giảm sút, lãi ít Đó không phải là điều mà tư bản Pháp mong đợi ở thị trường này
Hà Nội thời thuộc Pháp còn có một số xưởng dệt tư nhân: xưởng dệt lụa Lưu Khánh Vân có 26 máy dệt sa và vải màn với 32 công nhân thành lập năm 1916; xưởng dệt Châu Thụy của Đào Thảo Vỹ ở ấp Thái Hà (1920),
Công nghiệp cất chế rượu, bia
Rượu là một sản phẩm tiêu dùng phổ biến và lâu đời trong nhân dân ta, dùng trong những dịp giỗ chạp, cưới hỏi, ma chay và phần nào trong cuộc sống hàng ngày Tư bản thực dân Pháp đã nhận thấy, đây là sản phẩm dễ tiêu thụ và ràng buộc nhiều với phong tục
Trang 15tập quán của người Việt Nam Vì thế, ngay từ buổi đầu, khi mới đặt chân lên đất nước ta, thực dân Pháp đã tìm nhiều cách để thu thuế, kiếm lời từ ngành này
Năm 1864, Pháp giao việc độc quyền nấu, bán rượu cho một số ít người Hoa ở Nam
Bộ Đến năm 1900, Pháp đã ra sắc lệnh bắt mọi nhà nấu rượu phải có nhà xây bằng gạch và tường đắp xung quanh Sắc lệnh trên đã tác động mạnh mẽ đến những nhà nấu rượu nhỏ ở Việt Nam và buộc họ phải bỏ nghề vì thiếu vốn
Năm 1902, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thiết lập chế độ độc quyền nấu - cất và bán rượu trên toàn cõi Đông Dương Theo đó, bất kể cá nhân hay công ty nào muốn kinh doanh ngành này đều phải xin phép Sở Thương Chính và độc quyền Đông Dương Nếu cá nhân, đơn vị đó xin giấy phép mà ngừng sản xuất thì sau 6 tháng phải xin cấp lại Rượu bán ra phải có tem dán trên chai
Thời thuộc Pháp, Hà Nội có 2 nhà máy rượu, bia lớn: nhà máy rượu bia Hommel và
nhà máy rượu Phông-ten (thuộc “Công ty cất rượu Đông Dương”)
Nhà máy rượu bia Hommel13 thành lập vào năm 1892 ở trên khu vực núi Voi (hay còn gọi là núi Thái Hòa) Quy mô của nhà máy ban đầu còn nhỏ, đến năm 1911 mới được
mở rộng thêm, trang bị một số máy móc mới Nhân viên người Âu có khoảng gần chục người làm bàn giấy, đốc công, phụ trách kĩ thuật Công nhân trong nhà máy khoảng 60 người
và chủ yếu là người đến từ các làng lân cận, chia làm 3 kíp sản xuất/ ngày Đa phần trong số
họ là làm công việc xúc rửa chai, thợ mộc, điện, thợ nề
Nhà máy rượu Phông-ten (Công ty cất rượu Đông Dương) được thành lập năm 1901 ở Hà Nội Hãng này có 4 nhà máy ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Chợ Lớn Trong quá trình kinh doanh nấu cất, bán rượu, hãng Phông-ten đã thu được nguồn lãi khổng lồ, số vốn tăng nhanh chóng (Năm 1901: 2 triệu phrăng; năm 1940: 100 triệu phrăng) Ngân hàng Đông Dương và một số viên quan cai trị như toàn quyền Maruie Long cũng có cổ phần trong công ty
Chính sách độc quyền về cất chế rượu và bán nó đã có tác động mạnh đến cuộc sống của nhân dân ta Trước kia, dân ta nấu rượu bằng gạo tẻ, nhưng nay, họ phải uống rượu có độ nặng (400) và bị cưỡng ép uống một số rượu nhất định: “Năm 1903, dân cư Bắc kì và miền Bắc Trung kì uống 12.380.000 lít rượu 40 0 , năm 1913 là 18.870.000 lít”14 Dù người ta đã van xin đừng bắt uống rượu vì đến cái ăn còn chưa có thì làm gì có tiền mua
rượu nhưng nhân viên sở thuế vẫn khẳng định, trả lời rằng: “Chúng mày quen ăn ba bữa một ngày, chúng mày chỉ cần bữa rưỡi để uống rượu cho chính phủ”15 Đến năm 1933, thực dân Pháp buộc phải bãi bỏ chế độ độc quyền về rượu vì gặp sự phản đối mạnh mẽ
Trang 16trong dân chúng Từ lúc này ai có đủ vốn, điều kiện sẽ được tự do kinh doanh nghề nấu rượu Nhưng thực dân Pháp lại có yêu cầu cao về: vệ sinh, an toàn với sản phẩm nên chỉ một số ít các nhà tư sản Việt Nam mở được công ty như: Văn Điển, Quốc Bảo, Nam Đồng ích
Công nghiệp thuộc da
Hà Nội thời kì này đã xây dựng công ty thuộc da trên đất làng Thụy Khuê vào năm
1912 Công ty trực thuộc “Công ty thuộc da Đông Dương” (Société des tanneres de I'
Indochine) Sản phẩm ban đầu của nhà máy còn ít ỏi, chỉ đủ cung cấp da thuộc cho nhà binh và làm dây curoa, một phụ tùng bằng da cho nhà máy dệt Nam Định Về sau khi qui mô của nhà máy được mở rộng thì da còn được cung cấp cho các cửa hàng giày dép ở Hà Nội Đến năm 1945, số lượng công nhân tăng lên 300 người Giám đốc nhà máy là người Thụy Sỹ, nhân viên kĩ thuật là người Pháp16
Các ngành công nghiệp khác
Công nghiệp làm thuốc lá
Vào những năm cuối của thập niên 90 thế kỉ XIX, nhà máy thuốc lá đầu tiên ở Hà Nội được xây dựng Trong nhà máy, số nhân viên người Pháp không nhiều chỉ có giám
đốc quản lý xí nghiệp và vài kĩ sư chuyên môn Công nhân chủ yếu là người Việt mà đa số
là phụ nữ làm ở các bộ phận chọn lá, dọc lá, ủ men, xấy thuốc, thái và quấn thuốc Đàn
ông đảm nhận phần việc đốt lò, thợ điện, thợ mộc Công nhân nhà máy là người làng Yên Phụ, Thụy Khuê
Thuốc lá sản xuất là các loại xỡ gà hộp gỗ, thuốc quấn bao giấy nhãn hiệu Metropole, Favorite và đưa bán ở khắp các thành phố lớn của Đông Dương Vào những năm 1929-1930, cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra và nhà máy thuốc lá phải
đình sản xuất
Công nghiệp làm diêm
Năm 1921 ở Hà Nội có nhà máy Diêm Achi và công ty Manufacture D' Allumettes Achi et Compagnie Đây là nhà máy của Hoa kiều với số vốn 30.000 đồng, sử dụng 190 nam,
435 nữ công nhân (1925) Nhà máy trực thuộc Công ty gỗ và diêm Đông Dương (SIFA), sản
xuất khoảng 72 triệu bao/năm Năm 1940, nhà máy ngừng sản xuất
Công nghiệp in ấn
Từ năm 1884 ở Hà Nội đã xuất hiện xưởng in báo "L' Avenir du Tonkin" (Tương
lai xứ Bắc kì) Quản lý là Jules Cousin, mỗi tháng ra 3 số và từ năm 1886 nó trở thành tuần
16
Năm 1954, công ty được bán lại cho một nhà tư sản Việt Nam Năm 1958, theo chính sách cải tạo công thương tư hợp doanh và đến năm 1975 là một xí nghiệp quốc doanh, được cải tạo, mở rộng hơn Ngày nay, trụ sở cảu công ty thuộc da là Nhà máy Da giầy Hà nội ( 151 Thụy Khuê)
Trang 17báo Công nghệ in bước đầu đuợc tìm hiểu khi nhà in đầu tiên do Schneider sáng lập vào năm 1892 Nhà in của Schneider chuyên thầu in sách báo cho chính phủ, in giấy tờ công văn Năm 1906, ông không đủ kinh phí để tiếp tục công việc nên nhà xưởng phải bán lại cho chính phủ bảo hộ để lập trường Bưởi
Năm 1929, Công ty in Viễn Đông (IDEO) được lập trên cơ sở của nhà máy thuốc lá
Hà Nội Thiết bị trong nhà máy được mua từ Pháp sang nhiều máy in kiểu mới, công suất lớn, chữ in đẹp và tranh ảnh rõ Số thợ in hoạt động trong nhà máy lên tới con số vài trăm người Nhà in hoạt động đến năm 1945
Bên cạnh hai nhà in lớn trên, ở Hà Nội cũng xuất hiện nhiều xưởng in tư nhân của Mạc Đình Tư (sau là Lê Văn Tân), Ngô Tử Hạ, Tân Dân, Về sau, ở Hà nội còn xuất hiện nhiều nhà in của tư nhân khác nhằm đáp ứng nhu cầu in báo chí, sách vở ngày càng nhiều
Công nghiệp sơn
Năm 1920, xưởng sơn của công ty Hiệp ích do Nguyễn Tiến Ân làm chủ được lập ở
Hà Nội Công ty đã chế đủ mọi loại sơn màu để sơn xe ô tô, xe ngựa và các đồ gỗ Xưởng còn vẽ những bức tranh bằng sơn đem bán ra bên ngoài Đến đầu năm 1921, một công ty bột màu và sơn kim loại Pháp đã đặt trụ sở tại Hà Nội Nhà máy mở ở Gia Lâm chuyên sản xuất các loại bột màu, sơn công nghệ và sơn kim loại, sở hữu 800 ha đồn điền ở Thanh Hoá để trồng nguyên liệu
Như vậy, trong thời kì thực dân Pháp xâm chiếm, khai thác và thống trị nước ta, công nghiệp Hà Nội cũng có nhiều thay đổi Lần đầu tiên người dân Hà Nội được biết tới nước máy, đèn điện thắp sáng, giầy da, xe ô tô, xe điện Đó là những hình ảnh lạ lẫm và mới mẻ với họ Bóng dáng của nền văn minh công nghiệp đã thấp thoáng xuất hiện
Có thể nói rằng, trong quá trình xâm chiếm và khai thác thuộc địa, tư bản Pháp đã vấp phải những mâu thuẫn không thể giải quyết vì sợ tổn hại đến công nghiệp chính quốc Nhưng trong suốt một quãng thời gian dài (1873-1954), ở Hà Nội đã tập trung một lực lượng lớn tư bản Pháp, Hoa Kiều, Nhật Kiều Và để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của bộ phận đó (năm 1929 có 4554 người Châu Âu), Pháp đã có sự đầu tư về kĩ nghệ chế biến, xuất hiện các xưởng sửa chữa cơ khí quy mô vừa và nhỏ; điện thắp sáng thay cho
đèn dầu Chúng ta có thể liệt kê một số công nghệ mới liên quan tới lĩnh vực sản xuất công nghiệp được du nhập vào Hà Nội17:
1 Công nghệ làm gạch có lỗ, ngói Tây (hay còn gọi là ngói móc)
2 Nghề thủy tinh và công nghệ tráng gương soi
17
Theo sự thống kê của giám đốc Trung tâm dạy nghề Hà Nội năm 1917 trong cuốn: "Các công nghệ xứ Đông Dương
thuộc Pháp Những khái niệm cơ sở về các khoa học ứng dụng"
Trang 18Bên cạnh đó, ở Hà Nội còn tồn tại một số ngành nghề có sự đan xen giữa kĩ nghệ hiện
đại với cổ truyền như: chưng cất rượu; làm giấy, cơ khí chế tạo Trên cơ sở các công nghệ mới
được du nhập, Hà Nội đã bước đầu xây dựng cho mình một nền sản xuất công nghiệp hiện đại
và được ứng dụng rộng rãi, nhanh chóng: công nghiệp điện, nước; công nghệ chế tạo, sửa chữa cơ khí, máy móc; kĩ nghệ in ấn, kĩ nghệ làm gạch ngói,
Công nghiệp ở Hà Nội thời thuộc Pháp đã có những dấu ấn rõ nét của việc ứng dụng khoa học, kĩ nghệ Nó tạo nên những luồng trao đổi tinh thần, kĩ nghệ và tài chính giữa giới tư bản Pháp và dân cư ở đây Các ứng dụng khoa học: sử dụng máy móc, thiết bị
và ngành nghề mới: in, thuộc da, nấu rượu, làm bia, đã tạo nên diện mạo mới của công nghiệp Hà Nội thời thuộc Pháp
Trên cơ sở tìm hiểu về sản xuất công nghiệp của Hà Nội thời kì thuộc Pháp, chúng
ta có thể nhận thấy một vài điểm đáng lưu ý, đó là: sự phát triển mạnh về kĩ nghệ chế biến của Hà Nội; Nhiều máy móc, công nghệ mới của Pháp đã được du nhập nhanh chóng vào
Hà Nội; Công nghệ mới đã làm thay đổi diện mạo của Hà Nội và có tác động tích cực tới
đời sống dân cư Dù rằng trong quá trình đầu tư phát triển công nghiệp ở Hà Nội, tư bản chỉ chú trọng đầu tư cho một bộ phận người châu Âu nhưng trên thực tế những ứng dụng của nó đã được lan toả ra một bộ phận dân cư và có tác động nhất định đối với sự phát triển của công nghiệp Hà Nội
1.2 Thủ công nghiệp
Trang 19Năm 1897, thực dân Pháp bắt tay vào thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất Chính quyền thuộc địa vừa khuyến khích để khai thác, vừa can thiệp để giành lấy những lợi ích kinh tế cho tư bản thực dân Chính sách hai mặt này luôn bao hàm cả sự bóc lột vơ vét với sự phát triển Thực dân Pháp cũng có những biện pháp tích cực để kích thích thủ công nghiệp phát triển Mặc dù vậy, cho đến năm 1930, chính quyền Pháp vẫn chưa hề
hoạch định một chính sách rõ rệt và hệ thống về ngành kinh tế này “Chính phủ Pháp không có chính sách kinh tế theo đúng nghĩa của từ này Chính phủ đã thúc đẩy ngày càng mạnh một số kỹ nghệ địa phương bằng các quyền bảo trợ và để suy vong một số công nghệ khác mà không có lý do chính đáng nào cho sự phân biệt đối xử đó”18 Tất nhiên, trong
điều kiện một nền công nghiệp lệch lạc, thiếu cân đối nơi thuộc địa như vậy thì rõ ràng thủ công nghiệp vẫn trở nên quan trọng hơn bao giờ hết để bù đắp và đảm đương những thiếu thốn đó
Từng bước dưới sự cai trị của thực dân Pháp, Hà Nội từ vị trí là một thành thị phong kiến dần trở thành một đô thị thủ phủ của Bắc Kì, một thành phố trung tâm và là thủ phủ của toàn xứ
Đông Dương Với chính sách biến thị trường Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng thành nơi cung cấp, tiêu thụ sản phẩm, thì dù muốn hay không, thực dân Pháp cũng phải có những biện pháp khuyến khích kinh tế thủ công nghiệp phát triển Do vậy, bộ mặt thủ công nghiệp Hà Nội cũng đã có không ít sự biến đổi dưới tác động của những khoa học mới ứng dụng trong ngành này
Hàng hóa công nghiệp hiện đại này vượt xa về chất lượng các hàng thủ công cổ truyền
đồng loại Sự du nhập các ngành nghề thủ công nghiệp của phương Tây vào trong sự phát triển của kinh tế thủ công nghiệp Hà Nội đã tạo nên tính mới mẻ đan xen cổ truyền Cùng với sự biến đổi của tính chất xã hội Việt Nam, thủ công nghiệp Hà Nội bước sang thời kỳ mới, phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Và cũng chỉ đến lúc này, khái niệm thủ công nghiệp mới thực sự xuất hiện với đúng nghĩa của nó
Tuy nhiên, sự xuất hiện và phát triển của các nghề thủ công mới cũng làm cho nhiều nghề thủ công cổ truyền bị mai một, như: các nghề tiện đồ gỗ, đúc đồng, in sách chữ Hán, làm bút lông, làm lọng, giầy, dép kiểu cũ
18
P Bernard Le problème économique Indochinois Paris 1934, tr 171
Trang 20Thứ hai, đó là sự ứng dụng khoa học vào trong sản xuất thủ công nghiệp ở Hà Nội
Đây thực chất là quá trình học hỏi những kinh nghiệm, du nhập, cải biến những ngành nghề mới của nước ngoài phù hợp, phục vụ cho việc phát triển thủ công nghiệp dân tộc Từ sau 1860, nhiều người Việt Nam ra nước ngoài mua tàu chạy hơi nước, rồi qua Pháp (Toulon), Hương Cảng học nghề Trong số không ít người Việt ra nước ngoài, đặc biệt phải kể đến Đặng Huy Trứ (1825-1874), người đã thành lập nhiều thương điếm ở Hà
Nội để xuất cảng hàng nước ta ra ngoài Ông đã mở hiệu ảnh “Cảm hiếu đường” tại phố
Thanh Hà Đây cũng là hiệu ảnh đầu tiên trong lịch sử nước ta và cũng được coi là bộ môn nghệ thuật mới đã giúp cho đời sống văn hóa, nghệ thuật Hà Nội sinh động phong phú lên
Công nghệ in cổ truyền ở Hà Nội vốn đã có từ rất sớm, tuy nhiên với sự xuất hiện của kỹ thuật in phương Tây, chúng ta không ngại học hỏi, sáng tạo, đưa kỹ thuật in hiện
đại vào góp phần nâng cao năng suất sản phẩm
Thứ ba là sự kết hợp một cách tích cực, có hiệu quả giữa thủ công nghiệp cổ truyền
với thủ công nghiệp hiện đại
Xuất phát từ lợi ích của tư bản thực dân, Pháp liên tiếp mở rộng các ngành công nghiệp, giao thông vận tải và đô thị hóa trên nhiều miền đất nước Chủ trương mở rộng quy mô công nghiệp đã có những bổ trợ cho sản xuất thủ công nghiệp Chúng khuyến khích hiện
đại hóa nền thủ công nghiệp truyền thống ở thuộc địa bằng cách cho chính quyền Đông Dương vay tiền đầu tư thiết bị (Budget des Emprunts) một cách có quy mô Điều này đã giúp cho thủ công nghiệp Hà Nội có thể đưa kỹ thuật mới áp dụng cho ngành rèn thủ công truyền
thống: sự thay thế bệ kéo bằng bệ quay, than củi đốt lò được chuyển thành “than tây” hay than
đá, gạo chưng cất thành rượu Công nghệ thuốc lá làm bằng máy do Pháp du nhập và phát triển cùng với công nghệ thuốc lá làm bằng tay cổ truyền Công nghệ làm trà đen, trà mộc, cũng được kích thích nhờ sự du nhập của máy móc Nghề giấy cổ truyền có sự ứng dụng công
cụ sản xuất mới của Pháp du nhập, nghề kéo sợi và dệt vải bông cổ truyền có các ứng dụng công cụ sản xuất mới
Sự kết hợp đan xen công nghệ cổ truyền với công nghệ hiện đại, nằm trong lợi ích chung của Chính phủ Pháp, mang lại cho chính quốc những sản phẩm thủ công có giá trị, nhiều về số lượng, tốt về chất lượng Sản phẩm thủ công được xuất khẩu, quảng cáo ra nước ngoài thông qua các hội chợ triễn lãm (đấu xảo), qua giao dịch buôn bán của giới thương nhân Pháp không ngần ngại mở hàng loạt các trường Kỹ nghệ ở Hà Nội cùng nhiều địa phương khác, phổ biến kỹ thuật, giới thiệu các loại máy móc hiện đại
Ngày 27/10/1924 Toàn quyền Đông Dương ký nghị định thành lập Trường Mỹ thuật Đông Dương đặt tại Hà Nội Trường nhằm mục tiêu đào tạo những nghệ nhân thủ công mỹ nghệ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và xuất khẩu Chương trình đào tạo khóa đầu
có 12 học sinh học trong 3 năm Từ năm 1926, chương trình học tập kéo dài thành 5 năm
Trang 21Năm 1927, có thêm ngành kiến trúc
Năm 1928, bắt đầu nghiên cứu nghệ thuật sơn mài Lúc này, học sinh không chỉ học mỹ thuật kiến trúc mà có cả mỹ nghệ đặt trên cơ sở sự nghiên cứu kết hợp tự nhiên với truyền thống ở một phương diện nghề nghiệp nữa phải kể tới việc thành lập các trường dạy nghề
Cho tới năm 1929, ở Bắc Kỳ có 2 trường chính: trường nghệ thuật ứng dụng Hà Nội
239 học sinh và trường công nghệ thực hành Hải Phòng 179 học sinh
Có thể nói, sự kết hợp này đã tạo nên gương mặt mới trong làng thủ công Hà Nội,
đây cũng chính là cơ sở để sau ngày hòa bình lập lại Hà Nội nhanh chóng phát huy được thế mạnh của mình, trở thành chỗ dựa vững chắc cho miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị của chúng đã ổn định, chính quyền thực dân ra sức tuyên truyền cho thuộc địa Đông Dương của chúng với thế giới
Cuộc đấu xảo lần thứ nhất của thực dân Pháp mở ở Hà Nội (15/11/1902 - 30/06/1903), trưng bày hàng hóa của Đông Dương và hầu hết các nước ở Viễn Đông Cuộc
đấu xảo lần đầu tiên này được mở trên khu đất rộng giữa các đường Hàng Lọng, Hàng Kèn, và các hồ Bảy Mẫu, Thuyền Quang Do điều kiện chiến tranh, mãi tới năm 1918, thực dân Pháp mới mở lại hội chợ Từ 1918 đến 1921 đã có 3 kỳ hội chợ liên tiếp, trong các năm 1922, 1923, 1924, 1925, 1926 đều có hội chợ ở Hà Nội Năm 1927, hội chợ được
tổ chức ở Sài Gòn Những năm sau đó 1928, 1929, 1932, 1934, 1936, 1938, 1940 đều có hội chợ ở Hà Nội
Một điểm rất tích cực cho sự phát triển thủ công nghiệp ở Hà Nội đó là, trong các cuộc đấu xảo, Pháp còn gửi các đồ mỹ nghệ sang chính quốc tham gia hội chợ Paris Việc này được mở đầu từ năm 1893 với cuộc hội chợ tại Lyon, trung tâm kỹ nghệ dệt lớn nhất nước Pháp Hoặc như năm 1907, Hội chợ Paris đã giới thiệu đồ khảm và cả các thợ khảm giỏi của Việt Nam với quốc tế Điển hình sau đó còn phải kể đến cuộc đấu xảo lớn ở Paris năm 1925, cuộc triễn lãm thuộc địa tại Paris năm 1931, 1937, ở Califorinia (Mỹ) năm 1939…Tại đây, những sản phẩm thủ công nghiệp trong các gian hàng Đông Dương và tài khéo léo, kỹ thuật tinh xảo của thợ thủ công Việt Nam lại được dư luận đánh giá cao và
khen ngợi “Danh dự bội tinh” do Toàn quyền Đông Dương đặt ra đã thể hiện cho những
bước phát triển mới của thủ công nghiệp Hà Nội, của dân tộc
Các hoạt động trên đều tác động tới sự tồn tại và phát triển của thủ công nghiệp Hà Nội nói riêng Tuy nhiên, nói một cách chính xác thì Pháp chỉ để ý tới tài năng thủ công nghiệp, đến việc chào hàng và mua bán sản phẩm thủ công nghiệp Chính quyền thuộc địa chưa có một chính sách nào rõ rệt về con đường đi lên của thủ công nghiệp Dẫu sao, các biện pháp của nhà cầm quyền cũng là những nhân tố kích thích sự tồn tại và phát triển
Trang 22bình thường của thủ công nghiệp truyền thống
Các nghề thủ công nghiệp Hà Nội đã có ý thức vươn lên mạnh mẽ về kỹ thuật, thợ
mỹ nghệ và thợ công nghệ ở đây đã nhanh chóng học được các phương pháp sản xuất theo lối tây Âu, những tiến bộ đã được thể hiện cụ thể trong sản xuất, trong việc trình bày hàng hóa, những mặt hàng thủ công ở đây bán rất chạy Việc mang chủ nghĩa tư bản du nhập vào
Hà Nội làm cho tình hình kinh tế nói chung được đẩy mạnh lên một bước quan trọng, chi phối các hoạt động kinh tế ở Thủ đô, trong đó hoạt động sản xuất thủ công nghiệp là một biểu hiện sinh động
Ngoài sự có mặt của Pháp với tư cách là kẻ đi xâm lược, ở Hà Nội lúc này các hoạt
động kinh tế của thương nhân một số nước khác cũng diễn ra sôi nổi, mà điển hình là hoạt
động kinh tế của thương nhân Hoa Kiều, ấn Độ hay Nhật Bản Dù muốn hay không thì sự
có mặt này cũng đã tác động nhất định đến chính sách kinh tế thuộc địa của Pháp nói chung cũng như chính sách đối với thủ công nghiệp ở Hà Nội Cho đến năm 1891, Hà Nội đã
có 72 hãng buôn của người Hoa Trước khi thực dân Pháp xâm lược và thống trị Hà Nội, người Hoa Kiều phần lớn tập trung ở các phố Hàng Buồm, Hàng Ngang, Hàng Bồ, Phúc Kiến Những hàng hóa họ đưa từ Trung Quốc qua phần nhiều là thuốc bắc và vải Họ đã sinh cơ lập nghiệp ở đây hết đời này qua đời khác, và có nhiều kinh nghiệm buôn bán cho nên họ nắm những nguồn thương mại quan trọng
Khi thực dân Pháp mới sang, bọn tư bản Pháp phải đương đầu với 400, 500 nhà buôn Hoa kiều ở Hà Nội và Hải Phòng Vì thế, đến khi tư Bản Pháp bắt đầu mở mang những xí nghiệp và cơ sở thương mại của chúng ở Hà Nội thì chúng buộc phải thi hành chính sách thuế quan để bảo vệ ưu thế cho hàng của chúng, Pháp tìm cách hạn chế và chèn ép hoạt
động kinh tế của thương nhân Hoa Kiều; điển hình như việc Pháp mua lại nhà máy rượu Hà Nội do Trần Trúc Sơ người Hoa xây dựng nên, hay bán lại nhà máy diêm cho Hoa kiều sau khi đã xây dựng và làm ăn thua lỗ…Ngoài những hoạt động kinh tế của Hoa Kiều, còn có những hoạt động của ấn kiều và Nhật kiều Hoạt động đáng kể nhất trong số thương nhân này là buôn vải của người ấn, các đồ gốm sứ - hương liệu của người Nhật Bản
Tuy không đóng vai trò chủ đạo để có thể nắm độc quyền nền kinh tế thủ công nghiệp ở Hà Nội như đội quân xâm lược thực dân Pháp Thế nhưng, trên thực tế các hoạt
động kinh tế của thương nhân Hoa, ấn hay Nhật Bản đã góp thêm phần kỹ thuật nhất định vào những nghề đã có ở Hà Nội như: nghề may mặc, dệt tay, đồ vàng bạc, thủy tinh, làm tương, đậu phụ, giấy trang kim, các đồ gốm sứ…Các sản phẩm thủ công nghiệp của Hà Nội luôn được đòi hỏi phải tự cải tiến mẫu mã để phục vụ cho giao lưu trao đổi thương mại, đồng thời đó cũng là một phương pháp cạnh tranh lâu dài
Qua tìm hiểu những chứng cứ về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực thủ công nghiệp
Trang 23ta nhận thấy rằng: thủ công nghiệp Hà Nội thời Pháp thống trị đã có những bước phát triển hơn bản thân nó dưới thời quân chủ nửa đầu thế kỷ XIX và cả trước đó Nhiều ngành nghề hoàn toàn mới lạ xuất hiện, kỹ thuật trong sản xuất thủ công được cải tiến đưa thủ công nghiệp tiến tới tiểu công nghệ, khiến cho sự phân công lao động giữa thủ công nghiệp và nông nghiệp thêm mạnh mẽ, đẩy nhanh sự tăng truởng số lượng thợ thủ công Yếu tố khoa học đã tạo nên một sinh khí mới trong ngành sản xuất thủ công nghiệp ở Hà Nội vì ta biết rằng đầu thế kỷ XIX việc sử dụng máy móc công cụ cơ khí đã phổ biến ở phương Tây, nhưng điều đó chưa hề có ở Hà Nội
Dưới thời Pháp thống trị, thủ công nghiệp lại gần như trở thành một bộ phận của nền sản xuất thủ công nghiệp thế giới, được châu Âu, châu á, châu Phi biết tới Sự xuất nhập khẩu
được quan hệ với khá nhiều nước không bó hẹp như trứoc kia, đó thực sự là những nhân tố rất tích cực khuyến khích cho sự phát triển công nghệ thủ công nghiệp Hà Nội Qua các chính sách ưu tiên kinh tế cho thủ công nghiệp (thuế, cho vay vốn, mở các trường đào tạo), các sáng kiến tổ chức tiếp thị (triển lãm mặt hàng thủ công nghiệp Hà Nội qua các cuộc đấu xảo phạm
vi trong nuớc và nước ngoài), từ đó các mẫu mã, mặt hàng thủ công nghiệp luôn được cải tiến, không ngừng sáng tạo Nhiều ngành nghề thủ công vì thế mà tiếp tục có điều kiện để phát triển như gốm Bát Tràng, đồ thêu mỹ nghệ, vàng bạc xứ Định Công, nghề làm ren mới được
du nhập…Đây là bài học kinh nghiệm tốt trong chính sách phát triển thủ công nghiệp dân tộc cả thời gian dài sau này
Có thể thấy, bên cạnh những người thuộc bộ máy bóc lột kinh tế của thực dân Pháp,
ở Hà Nội xuất hiện một loạt người khác, kể cả một số sỹ phu yêu nước thấy cần phải lao vào làm ăn theo lối mới để tranh giành quyền lợi với thực dân Pháp Vì thế, họ cũng ngày càng giàu có lên, họ đã mở được những xưởng in, làm mũ, đóng giày Âu, dệt thảm, thêu, dệt vải lụa bằng máy, những lò sành, sứ, nhiều người khác còn mở xưởng đan len, làm ren,
đăng ten Sự du nhập khoa học của Pháp vào trong sản xuất thủ công nghiệp ở Hà Nội cũng đã làm xuất hiện một số chủ tư sản trong lĩnh vực thủ công nghiệp, mà trong thực tế cho đến đầu thế kỷ XIX chưa hề có Một số cửa hàng lớn đã mọc lên như Đồng Lợi Tế, Hồng Tân Hưng, những công ty hùn vốn như Quảng Hưng Long, Đông Thành Hưng, Quảng Hợp ích Một số công thương gia Việt Nam cũng đã nghiên cứu sản xuất được những hàng nội hóa
để thay thế cho hàng ngoại quốc như các loại vải may âu phục, dầu để pha sơn, nhựa gắn, sơn dầu véc ni Chế độ thuê mướn nhân công cũng đã xuất hiện trong trung tâm gốm Bát Tràng Tại đây có khoảng 20 lò gốm, trung bình mỗi lò thuê 30 – 40 nhân công Có thế lực kinh tế, nhiều người trong số họ trở thành Hội viên thành phố, nghị viên dân biểu Bắc Kỳ, thành viên Hội nghị lý tài Đông Dương, hoặc được phẩm hàm của vua nhà Nguyễn Dưới tác động của chế độ thực dân nói chung, kết cấu dân cư xã hội đô thị có không ít thay đổi, sự xuất hiện ngày càng nhiều của những tầng lớp, giai cấp mới như tư sản, tiểu tư sản thành thị làm đậm
Trang 24thêm lối sống và sinh hoạt đô thị Những tư tưởng, tác phong mới từng bước được hình thành ở người Việt Nam nói chung và đặc biệt là người Hà Nội nói riêng qua sự tiếp xúc bắt buộc với nền văn minh phương Tây
Thế nhưng, cũng trong khi đó một lớp người khác bị sa sút về chính trị và kinh tế,
đời sống của họ bị đảo lộn, đây là mặt hạn chế trong quá trình du nhập khoa học, các kỹ nghệ thủ công mới vào trong thủ công nghiệp truyền thống của Hà Nội Với việc sử dụng
đất để thành lập các nhà máy, khu cư trú, “khu phố Tây” xuất hiện để cho không biết bao
nhiêu người ở xung quanh và phía Nam Hồ Hoàn Kiếm phải mất cơ nghiệp, tha phương cầu thực hoặc phải đi làm thuê Đặc biệt, không biết bao nhiêu người trước sự tràn ngập của hàng hóa Pháp và ngoại quốc khác, chất lượng tốt hơn, đáp ứng thị hiếu mạnh hơn hàng thủ công nên đã phải bỏ nghề hoặc làm bất cứ một công việc gì để sống cho qua ngày đoạn tháng, nhiều phường chuyên nghiệp trước kia cũng bị sa sút hoặc bị phá vỡ, nhiều nghề thủ công nghiệp cổ truyền đã mất đi như giấy làng Bưởi, dòng tranh dân gian Hàng Trống, nghề thêu cổ truyền, vải dệt Lĩnh Bưởi…
Nhìn lại Thăng Long – Hà Nội của chúng ta đã trải qua quá trình lịch sử truyền thống trải dài gần 1000 năm Với thời gian đó, vai trò khoa học ngày càng được khẳng
định và trở thành nhân tố thường trực không thể thiếu cho sự phát triển chung Tìm hiểu những chứng cứ về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực sản xuất TTCN ở Hà Nội thời Pháp thống trị góp phần khẳng định nhận định này
2 Nông nghiệp
2.1.Vài nét về chính sách nông nghiệp của thực dân Pháp
Mục tiêu của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp ở Đông Dương là coi
Đông Dương là thuộc địa quan trọng bậc nhất và dành riêng cho thị trường Pháp Vì vậy, một bộ phận tư bản Pháp đã nhanh chóng đầu tư vào nông nghiệp vì ngành này không đòi hỏi nhiều vốn mà lại thu lợi nhuận cao
Chính sách cơ bản nhất mà thực dân Pháp áp dụng cho lĩnh vực nông nghiệp là chính sách cướp đoạt ruộng đất diễn ra phổ biến và trắng trợn Thông qua một loạt các Nghị định cụ thể như: Nghị định năm 1888 của Toàn quyền Đông Dương, triều đình Huế
kí điều ước nhượng cho Pháp quyền khai khẩn đất hoang (năm 1897) Vì vậy, đến năm
1902 chỉ tính riêng Bắc Bộ tư bản Pháp đã chiếm được 182.000 héc ta, trong đó có hơn 50.000 héc ta ở những vùng trù phú nhất đồng bằng sông Hồng Ruộng đất chiếm đoạt đều
được tư bản Pháp dùng để lập đồn điền trồng lúa là chủ yếu và một số ít là trồng cây cao
su, cà phê
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh hơn chính sách chiếm đoạt ruộng đất và lập đồn điền Năm 1926, một nghị định mới
Trang 25của toàn quyền Đông Dương cho phép “bán đấu giá” những lô đất rộng trên 300 héc ta với
giá 1 – 2 đồng/héc ta Sắc lệnh ngày 4/11/1928 và nghị định kèm theo ngày 28/3/1929 còn quy định: chính phủ Pháp có quyền cấp từ 4000 héc ta đất trở lên; Toàn quyền Đông Dương từ 1000 – 4000 héc ta; Thống sứ, Khâm sứ các kì được quyền cấp từ 1000 héc ta trở xuống, trên 300 héc ta đất thì không phải trả đồng nào Tất nhiên những quy định về
cấp đất trên chỉ là “đặc quyền”, áp dụng cho công ty tài chính Pháp, chủ tư bản Pháp và
một số quan lại người Việt thân Pháp
Tư bản Pháp lập ra nhiều đồn điền và phương thức canh tác chủ yếu là phát canh thu tô, bóc lột nặng nề người lao động Trong số hàng nghìn đồn điền của Pháp chỉ có một
số ít là áp dụng được phương thức canh tác tiên tiến: sử dụng máy nông nghiệp, phân bón hóa học và du nhập giống cây mới như cao su (1897), canh ki-na (1930 – 1940), khoai tây, rau quả ôn đới…và một số giống vật nuôi: bò Ôgôn, sin, lợn Yoocsai, ngựa Arập, cừu Vân Nam…
Bên cạnh đó, trong quá trình cai trị ở Việt Nam nói riêng và xứ Đông Dương nói chung, người Pháp đã có nhiều kết quả nghiên cứu khoa học về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của kinh tế nông nghiệp Đây được xem là những tri thức quý báu, đặt nền tảng cho lĩnh vực khoa học nông nghiệp Việt Nam, như: về sử dụng đất của R.Pasquier, về thú y của A.Yersin, về chăn nuôi của Narvard – Duclos, về cây ăn quả của A.Chevalier, Ch.Lemarié…Ngoài ra, tư bản Pháp đã cho mở trường đào tạo cán bộ chuyên môn về nông nghiệp và lập viện nghiên cứu như: túc mễ cục Đông Dương, Viện Hải dương học ở Nha Trang…
Như vậy, trên cơ sở các chính sách về nông nghiệp nói chung và khoa học nông nghiệp nói riêng đó đã tác động không nhỏ đến tình hình sản xuất, thành tựu trong nông nghiệp của Việt Nam Nó đặt nền móng cho sự phát triển của khoa học nông nghiệp nước nhà ở thời kì sau
Xuất phát từ chính sách chung này thì Hà Nội, với vai trò là thủ phủ của Đông Dương, có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khoa học nông nghiệp trong một chừng mực nhất định
2.2 Thực trạng phát triển của khoa học nông nghiệp ở Hà Nội dưới thời Pháp thống trị
Hà Nội thời kì trước khi thực dân Pháp xâm lược đã đạt được ít nhiều thành tựu trong nông nghiệp: một năm làm từ 2 đến 3 vụ và có tiến hành thâm canh, tăng năng suất
từ 10 - 11ta/ha/vụ (thế kỉ XI) lên 15 - 20tạ/ha/vụ (thế kỉ XIX)19 Bên cạnh đó, nhân dân Hà
Nội còn tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi mang “dấu ấn” riêng như: lúa Mễ Trì, gà
19
Bách khoa thư Hà Nội, Tập 6, Khoa học và công nghệ, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1999, tr 30
Trang 26Đông Cảo, giống rau thơm ở Láng…
Chính điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp của Hà Nội là cơ sở cho nhiều giống cây trồng từ vùng ôn đới, cận nhiệt đới có thể phát triển được Tuy rằng nền nông nghiệp ở Hà Nội đã phát triển nhưng về cơ bản nó vẫn là nền nông nghiệp tự nhiên, tự cung tự cấp là chủ yếu
Nông nghiệp và khoa học nông nghiệp (KHNN) Hà Nội từ 1873 đến 1954 đã có những thay đổi nhất định: xuất hiện một bộ phận nông nghiệp sản xuất nông sản hàng hóa xuất khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho chính quốc và sự tiêu dùng cảu tư bản Pháp ở Hà Nội Nội dung KHNN ở Hà Nội thời Pháp thuộc bao gồm một số vấn đề cơ bản: giống cây trồng, vật nuôi, bảo vệ thực vật, thú y và kĩ thuật canh tác, máy nông nghiệp mới được đưa vào thử nghiệm Mỗi chuyên ngành có sự phát triển theo những hướng khác nhau nhưng đều chung mục đích: đem lợi nhuận cao nhất cho các nhà tư bản Pháp
a Vấn đề nhân lực
Chính quyền Đông Dương trong quá trình thực hiện quyền quản lý nhà nước về sản xuất, nghiên cứu phát triển khoa học kĩ thuật nông nghiệp đã thành lập nhiều cơ quan nghiên cứu mang tính chuyên ngành và bước đầu xây dựng nguồn nhân lực cho lĩnh vực này
- Về tổ chức quản lý
Toàn quyền Đông Dương thành lập Tổng tanh tra nông nghiệp, chăn nuôi và các cơ quan quản lý mang tính chuyên ngành hẹp như: Cục tằm tang về dâu tằm, Túc mễ cục về lúa gạo…ở cấp kì có Sở canh nông, Sở thú y…và tại cấp tỉnh có Ty thú y, Ty canh nông…Hệ thống
tổ chức các cơ quan được tiến hành chặt chẽ
- Về tổ chức nghiên cứu KHNN
Ngày 20/10/1937, toàn quyền Đông Dương đã kí Nghị định thành lập Viện khảo cứu nông lâm (IRAPI) Viện tập trung nghiên cứu: bón phân hóa học cho cao su, cà fê, thử nghiệm hiệu lực phân phốt phát…nhằm phục vụ cho sản xuất trong các đồn điền của Pháp Bên cạnh Viện khảo cứu nông lâm tại Hà Nội đầu thế kỉ XX đã xuất hiện những vườn ươm cây và nhà bảo tàng nông công thương
Vườn ươm cây được xây trên đất làng Thụy Khuê, ở trước mặt và mé phía Tây của trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An)20 Vườn ươm cây Laforge là nơi ươm giống hoa nhập từ châu Âu như cẩm chướng, violet, hoa bướm Hoa trồng để cung cấp cho các quan Tây trong dịp lễ, Tết hoặc được trồng tại công viên, đường phố lớn Về sau vườn ươm này
20
Nó vốn là một cơ sở kinh doanh của thành phố nhưng sau đó giao lại cho một viên quản lý tên là Laforge Vì thế cái tên Laforge được gắn liền với tên vườn ươm cây
Trang 27được mở rộng và trồng thêm một số giống rau Tây như su hào, bắp cải, cần tây và nuôi khoảng 20 con lợn nhập ngoại
Xung quanh khu vực hồ Tây còn có một cơ sở thí nghiệm cây trồng khá lớn, đó là vườn Bách Thảo Vườn này được khởi công từ năm 1890 Tại đây có khoảng 3000 loại thảo mộc, phần lớn là giống cây nhập từ nước ngoài về, các loại cây công nghiệp, cây cảnh, cây hoa đẹp
Bảo tàng nông công thương nghiệp Maurice Long được thành lập theo sáng kiến của Crévost (nay là cung văn hóa Hữu nghị Việt – Xô) Bảo tàng được sử dụng làm nơi trưng bày những mẫu hàng thủ công nghiệp và nông nghiệp của xứ Đông Dương Một
điểm khá đặc biệt của bảo tàng này là nó trở thành trường dạy nghề thủ công, phổ biến tri thức mới về nông nghiệp cho người nông dân các vùng lân cận Hà Nội trong một thời gian ngắn hạn
- Về tổ chức đào tạo
Trong thời kì này, chính quyền thực dân đã mở một số trường nhằm đào tạo cán bộ
kỹ thuật nông nghiệp nhưng số lượng còn ít ỏi Vào cuối thế kỉ XIX, ở khu vực Lò Đúc đã xây dựng trạm thú y và trạm chế vắc xin phòng dịch cho gia súc ở Ngã Tư Vọng, sau đó một số lớp đào tạo sơ cấp nhân viên thú y đã được mở Năm 1905, chính quyền bảo hộ Bắc Kì thành lập trường cán bộ y tế đặt tại ấp Thái Hà và sáp nhập trạm thú y vào một bộ phận của trường nhằm đào tạo cán bộ y, chăm sóc và phòng dịch bệnh cho gia súc Đến năm
1918, trạm này được nâng cấp lên thành trường Cao đẳng thú y, đào tạo thú y sĩ Đông Dương Địa điểm của trường đặt ở khu vực phố Lò Đúc và phố Nguyễn Công Trứ Năm
1936, trường Đại học nông lâm Đông Dương được thành lập ở Hà Nội nhưng hàng năm chỉ tuyển trên dưới 10 sinh viên Mọi người muốn vào học cần phải đỗ tú tài và qua một kỳ sát hạch Nội dung đào tạo được xây dựng theo chương trình các trường chuyên nghiệp ở Pháp nhưng bằng cấp, chế độ lương bổng vẫn thua xa những người Pháp có cùng trình độ chuyên môn
Như vậy, lĩnh vực KHNN của Hà Nội dưới thời Pháp thống trị đã có một số điều kiện thuận lợi để phát triển như hệ thống quản lý và tổ chức nghiên cứu khoa học được thành lập quy
củ, nhiều công trình nghiên cứu đã ra đời trên cơ sở này Một mặt khác chúng ta đã có được một
đội ngũ cán bộ KHNN dù số lượng còn nhỏ bé
b Vấn đề kỹ thuật công nghệ
- Giống cây trồng
Dưới thời Pháp thống trị, giống cây trồng của Hà Nội khá đa dạng với giống nội
địa, giống nhập ngoại và người ta đã nghiên cứu, tuyển chọn, lai tạo và nhân ra được nhiều giống tốt
Trang 28Giống lúa
Chính quyền thực dân đã giành cho cây lúa một sự quan tâm đặc biệt bởi họ hiểu rằng ở xứ này cây lúa là cây lương thực có địa vị quan trọng Để nâng cao năng suất cũng như chất lượng lúa gạo, các cơ quan chuyên môn như Sở canh nông Bắc Kì, sở canh nông
và thương mại Đông Dương đã du nhập và trồng thử nghiệm một số giống lúa nhập từ Thái
Lan như K38, Saibinbao Đồng thời cũng kết hợp cải tạo các giống lúa bản địa, chọn lọc
chúng theo phương pháp tiên tiến đem lại kết quả tốt
Năm 1930 toàn quyền Đông Dương đã kí sắc lệnh thành lập Sở túc mễ Đông Dương Từ đó cơ quan này đã tiến hành chương trình nghiên cứu giống lúa một cách có hệ thống qua các bước
Trên thực tế Sở túc mễ Đông Dương bấy giờ đã nhập được 200 giống lúa nước ngoài và đem về thí nghiệm so sánh giống trong nước và đã chọn được giống ngắn ngày (125 - 130 ngày) như: Puung Nseon, Same, Tunsart đem trồng thử nghiệm ở cả Nam Kì, Bắc Kì trong đó có khu vực ngoại thành Hà Nội
Giống bông của địa phương ban đầu thì trồng phổ biến giống bông của địa phương
với tên gọi là bông cỏ cho năng suất thấp chỉ khoảng 120 - 150 kg/ha Về sau đã nhập ngoại một số giống bông để nâng cao năng suất sản lượng cũng như chất lượng Chẳng hạn vào các năm 1895 - 1898 đã thí nghiệm nhập giống bông sợi dài (Gossypium Hirsatun) của Mĩ và Ai Cập giống bông sợi ngắn của Mĩ, ấn Độ về trồng thử nghiệm ở Bắc Kì Năm 1903, Pháp lại nhập thêm giống bông lai Cara vonica của úc (lai giữa bông Pêru với bông Mêxicô) trồng thử ở nhiều điểm nhưng do không hợp khí hậu, thổ nhưỡng cho nên không đem ra trồng đại trà được
Việc nhập nội và đưa vào sản xuất các giống bông mới nói trên, cũng như tiếp tục duy trì các giống bản địa đã góp phần tăng năng suất, sản lượng bông cả nước Năm 1906 Việt Nam đã xuất khẩu bông thông qua cảng Sài Gòn và đến 1913 đã xuất khẩu được 5938 tấn bông hạt
Giống đay phổ biến là loại đay xanh quả dài và được trồng nhiều ở Gia Lâm Năm
1905, giống đay Vôngvang của ấn Độ được trồng thử nghiệm ở La Phù, Phú Thụy Đến năm 1945, giống đay trên được trồng phổ biến ở Bắc Kì nhờ đặc tính ưu việt là khả năng chịu rét cao
Giống dâu tằm
Các cơ quan canh nông đã chọn được hai giống dâu mới cho năng suất cao, đó là giống dâu Tàu và giống dâu tím Kĩ thuật trồng dâu cúng có nhiều cải tiến: trồng theo khóm, đốn thấp, khoảng cách 1m20 x 0,6m (khác với cách trồng cũ là theo rạch hàng) Về con tằm, sở canh nông Bắc kì đã chọn loại tằm kén vàng, kén trắng cho năng suất kén và
Trang 29tơ cao
Giống rau
Bên cạnh những giống rau nội địa và vùng trồng rau quen thuộc: rau vị đông (làng Láng), rau muống (Kim Liên), rau cần, su hào, bắp cải, cà bí (Thanh Nhàn), thì Hà Nội đã xuất hiện nhiều giống rau ôn đới để phục vụ cho nhu cầu của người Pháp Những giống rau Tây được ưa chuộng và trồng nhiều ở ven sông Tô Lịch, vùng Quảng Bá, Gia Lâm như: su hào mềm, su hào trắng lá nhỏ, bắp cải nhánh, cà rốt đỏ không lõi, tỏi thước, xà lách cuốn, cà chua Hồng Thúy Lĩnh…
Bên cạnh một số giống cây trồng được phổ biến và đưa vào Hà Nội trong thời kì 1873 – 1954 còn có những giống cây ăn quả, giống ngô, lạc, đỗ được trồng thử nghiệm
- Giống gia súc, gia cầm
Ngoài các giống lợn, trâu bò, gà vịt có nguồn gốc nội địa, người ta đã nhập và lai tạo một số giống mới
Giống bò nhập ngoại ôn đới châu Âu Marmand, Hollandais, Tarentais, Nivernais,
Australien, Fribourgeocis…và giống bò Sind của ấn Độ
Giống lợn nội địa mõm ngắn, lông đen, tai nhọn, lưng võng, bụng phệ, chóng lớn,
mắn đẻ, khả năng chịu đựng thời tiết cao được lai với giống lợn Yorksite (Anh) xương nhỏ, mau lớn tạo ra giống lợn lai cho năng suất thịt cao Các giống lợn ngoại có thể trọng lớn cho năng suất cao cũng được nhập vào Việt Nam như giống Craonais (1920), Béc-sai (1932), Yorksite (1936) Nhìn chung trong cơ cấu vật nuôi, lợn vẫn là vật nuôi có số lượng
đầu con cao nhất trong đó đồng bằng Bắc Bộ chiếm tới 58%
c Kĩ thuật nông nghiệp
Dưới thời Pháp thuộc, kĩ thuật nông nghiệp của Hà Nội có nhiều thay đổi: nhiều loại máy móc, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu được đưa vào và trình độ thâm canh phát triển lên một bước
Những công cụ, máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp đã được du nhập: công cụ
đào xúc đất như cuốc bàn, xẻng, xà beng…công cụ tưới nước kiểu bình hoa sen thay cho gầu vẩy cổ truyền, một số thiết bị nửa cơ khí và cơ khí để chế biến bơ, sữa bò, cà phê Ngoài ra, một số máy động lực (động cơ hơi nước, động cơ nổ) và một số máy chế biến nông sản cũng được du nhập
Bên cạnh máy móc thì vấn đề phân bón cũng được quan tâm Loại phân bón được nhân dân ta sử dụng nhiều là phân hữu cơ nhưng từ khi thực dân Pháp vào nước ta, phân hóa học đã được du nhập và sử dụng
Dưới thời thuộc Pháp, vấn đề bảo vệ thực vật cũng đã xuất hiện Tưới tiêu, làm cỏ,
Trang 30chăm sóc cây trồng được đúc rút thành qui trình trồng trọt Mặt khác, trình độ thâm canh
được đẩy lên một bước nên tác hại của sâu bệnh thể hiện rõ hơn, thường xuyên hơn Một
số tác giả như Du Pasquier viết về sâu hại và L.Roger viết về bệnh hại cây Trong thực tế hoạt động sản xuất, người dân ở vùng ngoại thành Hà Nội đã áp dụng biện pháp cày gốc rạ, để ruộng ải nhằm diệt trừ mầm mống sâu bệnh…
Trong công tác chăn nuôi thú y ở Hà nội thời kì Pháp thuộc thì thành tựu nổi bật là các cơ quan nghiên cứu đã phát hiện các loại bệnh gia súc như : bệnh dịch tả trâu bò (1897), bệnh
tụ huyết trùng (1868), lở mồm long móng(1868), bệnh dại (1890), thí nghiệm, sản xuất thành công và đưa vào sử dụng các loại vắc xin và huyết thanh phòng trị bệnh dịch tả, tụ huyết trùng, lở mồm long móng ở trâu, bò, lợn, vắc xin phòng bệnh dại cho chó Năm 1936 sản xuất
được 269.712 liều và năm 1939 sản xuât được 207.356 liều vắc xin phòng bệnh gia súc cho cả nước và 78.200 liều huyết thanh các loại
Khi tìm hiểu về KHNN ở Hà Nội thời Pháp thống trị chúng ta còn phải chú ý đến công tác thủy lợi bởi lẽ Hà Nội nằm bên bờ sông Hồng Hà Nội từng chứng kiến nhiều trận
lũ lớn Vì thế, những biện pháp phân lũ, chặn lũ bằng cách: củng cố, tôn cao đê và xây dựng đập tràn được đặt ra Năm 1933, đập Đáy được xây dựng nhằm chặn lũ sông Hồng
để sông Đáy làm trục tiêu, khi lũ sông Hồng trên 11,5m thì đập được mở để phân lũ, giảm bớt nguy cơ vỡ đê Năm 1937 việc xây dựng đập được hoàn tất
Có thể thấy, mục đích của thực dân Pháp khi xâm lược và thống trị Việt Nam không phải là thực hiện sứ mạng khai hoá như những học giả thực dân từng tô vẽ mà thực chất là nhằm biến nước ta thành thị trường thuộc địa, vơ vét tài nguyên phục vụ cho nền kinh tế tư bản của nước Pháp Trong công cuộc khai thác thuộc địa đó, ngành nông nghiệp luôn chiếm giữ một vị trí đặc biệt Những thủ đoạn bóc lột thực dân đã làm cho nhiều tầng lớp nhân dân khốn khổ đặc biệt là người nông dân Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng trên thực tế, trong một chừng mực nhất định người Pháp đã có công lao trong việc
đem đến khoa học kĩ thuật, thử nghiệm và áp dụng vào sản xuất nông nghiệp Những nội dung khoa học kĩ thuật đó bao gồm từ giống cây trồng vật nuôi, thủy lợi, bảo vệ thực vật, thú y, phương pháp-kĩ thuật canh tác, chăn nuôi Trong từng lĩnh vực này đều đã đạt được những kết quả nhất định Đối với Hà Nội, với vị trí là trung tâm khoa học nơi đặt trụ sở của nhiều trung tâm khoa học nông - lâm nghiệp thì những thành tựu trong khoa học nông nghiệp được thể hiện rất rõ Khoa học kĩ thuật nông nghiệp Hà Nội thời kì Pháp thống trị (1873 - 1954) đã đạt được một số kết qủa cụ thể trên nhiều mặt: tổ chức, quản lí, giống, kĩ thuật canh tác, chăn nuôi những thành tựu tích cực này đã góp phần không nhỏ vào việc làm phong phú thêm các sản phẩm nông nghiệp của nước ta, nâng cao năng suất sản lượng phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu
3 Xây dựng và giao thông vận tải
Trang 313.1 Xây dựng
3.1.1 Quá trình đầu tư xây dựng của thực dân Pháp
Hiệp ước ký ngày 15 tháng 3 năm 1874 đã cho phép người Pháp đặt lãnh sự quán ở
ba nơi đó là Hà Nội, Hải Phòng và Quy Nhơn, mỗi lãnh sự 100 người ở Hà Nội, triều
đình phải cắt cho Pháp một khu đất gọi là "Nhượng địa" ở phía Đông Nam thành phố, vốn
là đồn thuỷ quân bên bờ sông Hồng Mặc dù chưa chiếm được hẳn Hà Nội nhưng với mục
đích biến Hà Nội thành một trung tâm chính trị, quân sự ở Bắc Kỳ, ngay từ tháng 10 năm
1875, thực dân Pháp khởi công xây dựng các công trình kiên cố trên khu Nhượng địa, chính thức mở đầu thời kỳ xây dựng của chúng ở Hà Nội
Khu nhượng địa Đồn Thuỷ này được xây dựng gồm các nhà của Công sứ rồi Tổng sứ Pháp, hành dinh tổng chỉ huy quân đội, trại lính, bệnh viện quân sự, cơ sở hậu cần Các công trình này xếp thẳng dọc theo một trục song song với bờ sông Hồng, được xây dựng kiên cố và
có kiến trúc đơn giản, mặt bằng hình chữ nhật, xung quanh có hành lang rộng Đây là loại kiến trúc thực dân ở thời kỳ đầu
Tháng 6 năm 1883, con đường đầu tiên được mở để nối Nhượng địa với khu vực Trường Thi và Hoàng Thành cũ – nơi đặt trụ sở của bộ máy chỉ huy quân sự Các phố Tràng Tiền, Hàng Khay nằm trên trục đường ấy đã được chính quyền thực dân Pháp chú trọng đầu tư ngay từ những năm 1884-1886 Đây là hệ thống đường phố đầu tiên ở Hà Nội
được trang bị kỹ thuật hạ tầng, làm cơ sở cho sự phát triển khu trung tâm hành chính Hà Nội thời thực dân ở phía đông Hồ Hoàn Kiếm
Trong Hoàng Thành, thực dân Pháp triệt phá các dinh thự cũ để lấy chỗ xây trại lính và các công trình quân sự khác Năm 1885, điện Kính Thiên bị phá dỡ để xây dựng Sở chỉ huy pháo binh Công trình được xây dựng bằng gạch kiên cố và không có những chi tiết trang trí phức tạp Trừ Cột Cờ được giữ lại để phục vụ cho mục đích liên lạc quân sự còn các kiến trúc khác thời phong kiến đều đã bị phá huỷ hoàn toàn, biến thành khu vực quân sự của chính quyền thực dân
Từ năm 1888 – 1920, là thời kỳ thực dân Pháp tập trung nỗ lực xây dựng, mở rộng
Hà Nội để biến Hà Nội không chỉ là thủ phủ hành chính, chính trị của xứ Bắc Kỳ mà còn
là thủ đô của Liên bang Đông Dương Có thể nói đây là giai đoạn xây dựng lớn của người Pháp ở Hà Nội được mở đầu bằng sự cổ vũ của toàn quyền Đông dương Pôn Dume (1897-1902)
Trong những năm 1894-1897, chúng đã phá huỷ nốt phần còn lại của Hoàng Thành, chỉ để lại cổng chính Bắc Các công trình công cộng được xây dựng thời kỳ này, một mặt đã quyết định bộ mặt cơ bản của các khu phố Pháp ở Hà Nội, mặt khác đặt nền tảng về phong cách kiến trúc, kỹ thuật và vật liệu xây dựng cho các khu vực khác
Trang 32Năm 1898, nhằm biến Hà Nội thành thị trường tiêu thụ, thực dân Pháp đã tiến hành xây chợ Đồng Xuân Cùng thời gian, Pháp tập trung hoàn thiện xây dựng khu trung tâm hành chính, chính trị ở phía đông Hồ Gươm, gồm các cơ quan hành chính, chính trị đầu não của bộ máy chính quyền thực dân ở Hà Nội: Toà Đốc Lý (nay là Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội) (1886-1887), Dinh Thống Sứ (Bắc Bộ phủ, Nhà khách chính phủ hiện nay), Phủ thống Sứ (nay
là Bộ Thương binh xã hội), Sở kho bạc, Bưu điện, Ngân hàng Đông Dương, Sở Công chính, Khách sạn chính quốc (khách sạn Metropole) và vườn hoa Pôn Be Những công trình kiến trúc này kết hợp với vườn hoa tạo thành một tổng thể trung tâm trọn vẹn được thiết kế và xây dựng hoàn toàn theo phong cách quy hoạch và kiến trúc Pháp
Năm 1901, thực dân Pháp cho xây dựng Nhà Hát Lớn Công trình có quy mô lớn với phòng khán giả gần 900 chỗ ngồi và một hệ thống các không gian phụ rất phong phú theo kiểu các nhà hát Châu Âu đương thời Phong cách kiến trúc cổ điển Châu Âu được xem như hình ảnh thu nhỏ của của nhà hát Opêra ở Pari tuy không hoàn toàn là một sự sao chép hay rập khuôn
Năm 1902, thực dân Pháp xây dựng xong hai công trình Ga Hàng Cỏ và Trụ sở công ty xe lửa Đông Dưong và Vân Nam (Nay là trụ sở Tổng Công Đoàn), nhằm tăng cường cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp
Cũng trong năm này, Phủ Toàn Quyền (nay là Phủ Chủ Tịch), được xây dựng ở phía bắc Thành phố Công trình mang phong cách cổ điển Châu Âu (Phong cách thời Phục Hưng) do kiến trúc sư Vilđiơ (Henri Auguste Vildieu) ban đầu và về sau có được Ebơra bổ sung, xây dựng mất hơn 5 năm mới xong
Song song với việc hoàn thiện khu vực trung tâm Hồ Hoàn Kiếm, người Pháp đã
tiến hành chỉnh trang khu vực “36 phố phường”
Từ năm 1920 đến 1945, việc triển khai xây dựng Hà Nội không dừng lại ở các điểm công trình phân tán mà tập trung hoàn chỉnh các khu vực trung tâm dành riêng cho người Pháp ở Hà Nội Khu phố Pháp trên vị trí Hoàng Thành xưa, xung quanh Phủ Toàn quyền
đã được thiết kế chi tiết với hệ thống đường phố kẻ ô cùng những trục bố cục chính chạy theo đường chéo cắt ngang hệ thống đường phố kẻ ô bình thường Các trục chính giao nhau tạo nên những quảng trường lớn được bố cục dưới các dạng hình học khác nhau có trục đối xứng Các công trình kiến trúc quan trọng đều được bố trí ở vị trí án ngữ các trục chính và tạo nên những điểm nhấn quan trọng trong tổng thể không gian khu phố Khu phố này đã trở thành một khu phố thoáng đạt với các tiêu chuẩn về tiện nghi cao nhất của
Hà Nội thời bấy giờ và về thẩm mỹ đô thị cũng gây được ấn tượng tốt
Cùng thời gian, một khu phố mới ở phía Bắc Hoàng Thành cũ, tức phố Phan Đình Phùng hiện nay đã dược hình thành trên cở sở lấp các hồ ao ở giữa phố cửa Bắc và Chùa Châu Long Một khu phố khác cũng được lập nên ở khu phố hàng Đẫy Riêng ở phần phía
Trang 33nam Hồ Hoàn Kiếm, người Pháp tập trung hoàn thiện khu phố kiểu Âu, biến khu phố này thành khu phố trung tâm của Hà Nội với đầy đủ tiện nghi đô thị phục vụ cho các hoạt đông kinh tế và nhu cầu cư trú chủ yếu cho người Pháp và một số người Việt ở tầng lớp trên
Từ năm 1930, thực dân Pháp tiến hành mở rộng thành phố về phía nam Một loạt các đường phố đã được xây dựng: phố Hàng Bài (Boulevard Đồng Khánh), phố Huế (Route de Hue), phố Ngô Quyền (Henri Riviere), phố Ngô Thời Nhậm (Rue Jacquin), phố Phan Chu Trinh (Rialan), phố Lò Đúc (Rouseau), phố Bà Triệu, phố Quang Trung Các
đường phố cắt ngang theo hướng Đông -Tây như các phố: Hàm Long, phố Nguyễn Du, phố Lê Văn Hưu, phố Trần Nhân Tông, phố Trần Xuân Soạn, Phố Tuệ Tĩnh, phố Hoà Mã, Phố Tô Hiến Thành, phố Nguyễn Công Trứ Cùng với các phố nhỏ khác theo hướng Bắc – nam như phố Bùi Thị Xuân, phố Triệu Việt Vương, phố Mai Hắc Đế… đã tạo thành hệ thống đường phố theo dạng ô cờ không đồng đều với các ô phố có quy mô nhỏ Đây là khu vực xây dựng chủ yếu cho người Việt Nam Cấu trúc mạng ô phố trong khu phố này không
đồng đều, quy mô các phố nhỏ hơn và mật độ xây dựng cao hơn so với khu phố Pháp
Cùng với quá trình mở rộng hệ thống đường phố, thực dân Pháp cũng tiếp tục xây dựng những toà nhà phục vụ nhu cầu của chúng Năm 1925, thực dân Pháp xây dựng toà nhà chính của trường Đại học Đông Dương; trụ sở của Sở tài chính (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao); chuẩn bị thiết kế cho nhà Bảo tàng Lui Phino và nhà thờ cửa Bắc Tới năm 1930, thực dân Pháp hoàn thành trụ sở nhà Băng Đông Dương; nhà Pháp – Hoa ngân hàng, viện Paster, nhà Bảo tàng của trường Viễn Đông Bác Cổ, nhà thương Bạch Mai; Nhà Thờ Cửa Bắc
Kế hoạch xây dựng thành phố Hà Nội của thực dân Pháp tới chiến tranh thế giới thứ
2 thì dừng lại và sau chiến tranh thì không phát triển thêm được nữa
3.1.2 Đặc điểm và kết quả hoạt động của lĩnh vực xây dựng
Trong quá trình xây dựng Hà Nội trở thành thủ phủ của Việt Nam và Đông Dương nhằm phục vụ cho mục đích cai trị của thực dân Pháp, chúng đã có áp dụng những yếu tố khoa học kỹ thuật mới, hiện đại vào trong xây dựng, đồng thời cũng không ngừng tìm hiểu
về âm dương địa lí khí hậu của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng
- Những thức kiến trúc kiểu Pháp lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam với dáng vẻ
khoẻ mạnh khiêm tốn một cách trang nhã của các “thức” đô rích Hy-La là ở mặt chính
Toà án Hà Nội và ở Nhà Hát lớn nhiều mô típ trang trí như vòng hoa bánh tròn, và nhiều hình đắp khác cũng xuất hiện rất mới mẻ ở Hà Nội
- Những công trình xây dựng lúc này đã áp dụng kiểu vì kèo sắt, sàn nhà bằng dầm sắt, chèn vào giữa hai dầm là những hàng gạch rỗng xếp cạnh nhau thành hình cuốn Những cửa chớp bằng gỗ cũng lần đầu tiên xuất hiện ở Hà Nội và cho tới ngày nay đã
được áp dụng rộng rãi trong mọi công trình xây dựng
Trang 34Các công trình xây dựng khi được tiến hành ở Hà Nội không chỉ phản ánh những nét mới trong kỹ thuật xây dựng mà còn phản ánh sự khéo léo của đôi tay người thợ Việt Nam khi không còn sử dụng kỹ thuật xây dựng truyền thống là đắp những phù điêu rồng phượng mà còn khéo léo những gờ chỉ tế nhị của kiến trúc mô đéc hay tô điểm những đầu cột rất phức tạp Hơn thế, những công trình này cũng thể hiện sự tiếp thu những cái mới trong nền kỹ thuật xây dựng bằng sắt đã rất phát triển trên thế giới
Xét về mặt kỹ thuật xây dựng, từ những năm 1920 trở về sau, trên các công trình xây dựng người ta thấy kỹ thuật xây dựng nguyên vẹn nhập khẩu từ Pháp mất dần vị trí
độc tôn, bắt đầu xuất hiện phong cách kết hợp á - Âu, tức là kỹ thuật xây dựng được kết hợp khai thác các đặc điểm kiến trúc địa phương, truyền thống cũng như chú ý đến những
đặc điểm khí hậu địa phương Đó chính là xu hướng khai thác đặc điểm kiến trúc Phương
Đông và nhiệt đới, kết hợp với kỹ thuật xây dựng phương Tây, để xây dựng một phong cách kiến trúc mới, khác với các phong cách kiến trúc thuần tuý Pháp: Trường Đại học
Đông Dương (1923-1925); Bảo Tàng Lui Phinô nay là Bảo Tàng Lịch sử (1928 -1932)
Đặc điểm cơ bản của phong cách kiến trúc này là thể hiện ở sự cấu tạo hệ mái dốc lợp ngói với nhiều lớp ngói đa dạng, kể cả mái sảnh và mái ôvăng, với hệ dầm côngxon đỡ mái, cùng các chi tiết hoa văn trang trí trên bề mặt tường, hành lang, lan can, tất cả đều phỏng theo những đặc điểm quen thuộc của kiến trúc Phương Đông Nó rất phù hợp với khí hậu, thời tiết của Hà Nội Hê-bơ-rơ đã giải quyết tốt vấn đề chống mưa, nắng, gió và thông thoáng tự nhiên cho công trình nhờ hệ thống mái cửa hãm và cửa thông hơi dưới cửa sổ
Trước khi bị xâm lược, Hà Nội là một đô thị truyền thống tiêu biểu của Việt Nam
Về mặt không gian đô thị, gồm có khu Hoàng Thành, các làng xóm xen kẽ và những khu cảnh quan thiên nhiên khác
Trong những năm xâm chiếm, thực dân Pháp đã tiến hành hoạt động xây dựng ở Hà Nội Với sự du nhập các kỹ thuật xây dựng, các hình thúc kiến trúc và phương pháp quy hoạch phương Tây dẫn đến việc hình thành và làm biến đổi những đặc điểm hình thái không gian truyền thống của Hà Nội Hoàng Thành cũ vốn là một thành phần chiếm ưu thế về hình
thái không gian thì nay không còn nữa trong khi đó "khu phố Tây" ngày càng phát triển và
trở thành bộ phận quan trọng trong cấu trúc đô thị Hà Nội
Cùng với quá trình xây dựng và mở rộng Hà Nội, hệ thống đường phố rộng rãi được quy hoạch theo mạng ô cờ, được rải đá rồi rải nhựa ở lòng đường, hai bên đường phố đều
có vỉa hè lát gạch Các chợ được tập trung vào những khu riêng biệt với diện tích rộng rãi
có mái che với những nơi riêng dành cho từng loại hàng Hà Nội dần hình thành những khu chức năng như: khu thương nghiệp, dịch vụ trung tâm trên trục đường Tràng Tiền - Hàng Khay, khu hành chính chính trị ở phía đông hồ Hoàn kiếm và các khu vực kho tàng, nhà máy rải rác trong thành phố
Trang 35Các đường phố được quy hoạch thẳng tắp, thông suốt, có lòng đường riêng cho xe
cộ và hai bên vỉa hè dành cho người đi bộ Các nhà cửa làm mới đều bắt buộc phải theo
đúng quy hoạch chứ không được tự phát mọc như trước Còn ở những phố chính, nhà cửa
được xây dựng theo kiểu mới, ba tầng có bao lớn với cửa kính và cửa chớp sơn màu, quét vôi dần dần mọc lên xen kẽ vào các nhà kiểu cũ Thay thế vào những cửa hiệu có hàng hoá bày lên những tấm phản trước kia là những cửa hiệu có tủ kính nhiều tầng bóng lộn
đèn điện nhấp nháy…Đặc biệt là khu phố Tây, nhà cửa được xây dựng theo lối biệt thự thuộc đủ kiểu khác nhau giữa các vườn cây xanh tốt có luống trồng hoa khiến cho thành phố càng thêm đa dạng
Bên cạnh những yếu tố tích cực mà quá trình xây dựng của thực dân Pháp mang lại thì cũng có những hạn chế Bởi, mục đích chính của thực dân Pháp khi đầu tư vào xây dựng là để phục vụ cho chính bọn thực dân sống tại Hà Nội là để thống trị, khai thác thuộc
địa một cách hiệu quả nhất chứ không phải xây dựng để phát triển thuộc địa và đưa những yếu tố mới của kỹ thuật xây dựng vào Hà Nội Điều mà chúng ta không thể phủ nhận là, hơn nửa thế kỷ chiếm đóng Hà Nội, thực dân Pháp đã ra sức xây dựng Hà Nội thành một thành phố phục vụ cho chính sách bóc lột thuộc địa, tuy đánh dấu một bước tiến trong kỹ thuật xây dựng theo sự phát triển chung của cách mạng khoa học kỹ thuật thế giới trong hoàn cảnh thâm nhập của tư bản nước ngoài và sự phát sinh chủ nghĩa tư bản ở trong nước, nhưng số lượng những công trình đó thật là ít ỏi
Khi thi công các công trình xây dựng của thực dân Pháp, nếu việc san phá thành, luỹ cũng như lấp hào, hồ ao nói chung được hoan nghênh thì việc lấp sông Tô Lịch, một con
đường nước thiên tạo xuyên qua khu phố đông dân lại tỏ ra rất thiển cận vì nó làm cho mật độ dân ở đây vốn đã cao lại càng cao hơn, làm mất đi vẻ mỹ quan của thành phố, và cả một môi trường điều hoà không khí cho nhân dân
Khi xây dựng khu phố Tây để có nơi trú ngụ đàng hoàng cùng với những con đường rộng thênh thang cắt nhau ngang dọc đã gây bao bất bình cho nhân dân Muốn lập khu phố Tây, việc tất yếu phải đuổi cư dân ở đó đi chỗ khác gây nên bao sự xáo trộn trong đời sống của nhiếu người dân gốc Hà Nội Số tiền mà bọn thực dân đền bù thực tế chẳng giải quyết
được gì cho việc an cư lập nghiệp mới của họ Rồi không biết bao nhiêu công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, tôn giáo và nghệ thuật, toàn bộ tường thành Hà Nội đã bị chúng san bằng và chỉ để lại được có cửa Bắc, Cột Cờ và Đoan Môn Bao nhiêu cung điện cũ trong thành nhất là điện Kính Thiên đều bị phá huỷ để lấy chỗ xây trại lính, các cơ quan quân sự
và cơ sở hậu cần Nhiều công trình kiến trúc ở ngoại thành cũng bị phá một cách không thương tiếc Chùa Báo Ân bị san phẳng để lấy đất xây Phủ Thống Sứ, khách sạn Chính quốc (khách sạn thống nhẩt ngày nay); Chùa Sùng Khánh Báo Thiên cũng bị dỡ bỏ để xây Nhà Thờ lớn, và rất nhiều chùa khác bi di dời hay cắt xén, thu nhỏ lại giữa những nhà cửa
Trang 36dân dụng, không còn giữ được tính chất gì là danh thắng nữa… Hẳn rằng việc hiện đại hoá của các thành phố cổ ở những nước châu á còn giữ được độc lập như Thái Lan, Nhật Bản…phải theo những nguyên tắc khác với những nguyên tắc mà thực dân Pháp áp dụng tại các thành phố Việt Nam, đặc biệt là thành phố Hà Nội
3.2 Giao thông vận tải
3.2.1 Quá trình đầu tư của thực dân Pháp vào giao thông vận tải
Những hoạt động mang tính khoa học kỹ thuật của giao thông vận tải bao gồm sự xác lập
và phát triển các mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, cầu phà,và các phương tiện giao thông trên bộ, dưới nước, đặc biệt là kỹ thuật xây dựng…
Năm 1890, chính quyền thực dân Pháp quyết định cho đặt đoạn đường sắt đầu tiên
ở Bắc Kỳ là tuyến Hà Nội - Đồng Đăng, được chính thức đưa vào chạy từ năm 1902, dài
163 km, tổng chi phí hết 41 triệu Frăng Năm 1901, tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng
được khởi công xây dựng, hoàn thành sau 1 năm
Năm 1901, tuyến Hà Nội - Lào Cai cũng bắt đầu được khởi công, trải qua 3 giai
đoạn xây dựng mới hoàn thành Trong đó, đoạn từ Hà Nội - Việt Trì làm trong khoảng thời gian 1901-1903; Việt Trì - Yên Bái (1903-1904) và Yên Bái - Lào Cai (1904-1906), toàn tuyến dài 206 km, chi phí hết 56 triệu Frăng
Tuyến Hà Nội - Sài Gòn là tuyến đường sắt dài nhất Việt Nam và Đông Dương, thời gian xây dựng tuyến xuyên Việt này phải trải qua nhiều giai đoạn, kéo dài 36 năm mới hoàn thành Tuyến đường sắt này được xem như là xương sống của Đông Dương, con đường sẽ là cở
sở của thương mại, là đòn gánh của cái cân, đồng thời cũng tạo ra sợi dây liên lạc vật chất giữa các vùng khác nhau của thuộc địa
Đường thuỷ
Trang 37Trước khi thực dân Pháp có hệ thống đường sắt và đường bộ thì giao thông đường thuỷ qua sông Hồng ngay từ đầu đã được khai thác Và để hỗ trợ thêm cho các tuyến
đường bộ, tận dụng khai thác sông ngòi, nhất là vùng châu thổ sông Hồng, năm 1875 Công Ty đường sông Bắc kỳ thành lập, để khai thác vận tải trên sông Hồng, sông Thái Bình Công ty này có nhiều tàu chạy từ Hà Nội đi Nam Định, Lào Cai, Tuyên Quang, Phủ Lạng thương Việc mở rộng các cảng trên sông tiến hành chậm Năm 1910 mới bắt đầu hình thành thiết kế cảng Hà Nội, mặc dù tư bản Pháp đã có dự án từ năm 1899 Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Pháp mở rộng cho một số nhà tư sản Việt Nam thành lập những công ty chạy đường sông Cho đến năm 1929, hãng tàu của Nguyễn Hữu Thu đã có hơn 10 chiếc tàu và xà lan trở khách, hãng tàu của Bạch Thái Bưởi có thời gian quản lí trên 25 tàu chạy các đường Hà Nội - Hải Phòng, Nam Định - Chợ Bờ - Tuyên Quang - Hòn Gai và có chi nhánh ở Hà Nội, Nam Định, Tuyên Quang
Để phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các tuyến đường bộ và đường sắt hoạt
động, những cây cầu kiên cố cũng được xây dựng Năm 1902, thực dân Pháp xây xong cầu Long Biên Trong điều kiện kinh tế xã hội đầu thế kỷ XX, sự hiện diện của những cây cầu bằng thép, ximăng như cầu Long Biên ở Hà Nội là một cố gắng rất lớn thể hiện trình độ kỹ thuật tiên tiến của người Phương Tây trên đất nước ta
Năm 1904, mở thêm đoạn từ Hà Nội - Hà Đông Năm 1929, mở thêm tuyến Kim Liên - Yên Phụ Năm 1943, mở thêm đoạn từ Kim Liên đi Quán Thánh
Về các phương tiện vận chuyển
Ngoài phương tiện vận chuyển bằng xe điện thì ở Hà Nội phương tiện vận chuyển phổ biến nhất là xe tay Xe tay là công cụ của người nghèo dùng để trở khách nhưng thuộc
sở hữu của những chủ lớn cho thuê ở Hà Nội có những chủ cho thuê xe tay như Hưng Ký
92 xe; Nguyễn Thi Hảo 35 xe; Bùi Văn Quế 35 xe; Vũ Văn Giai 28 xe Vào những năm hai mươi của thế kỷ XX, Hà Nội cũng đã có hãng sản xuất xe kéo 300xe/năm21
Năm 1886, ở Hà Nội xuất hiện phương tiện giao thông ôtô
Sự có mặt của các phương tiện kể trên là một bước tiến của giao thông vận tải, song mới chỉ ở bước đầu Các loại xe mới nhập về chủ yếu phục vụ cho nhu cầu đi lại của tầng
1
Bộ GTVT, Lịch sử giao thông vận tải Việt Nam, NXBGTVT, Hà Nội, 1999
Trang 38lớp cầm quyền và các người giàu có Những xe vận tải hàng hoá, chở khách phục vụ nhu cầu đại chúng còn rất ít Ngoài ra, ở Hà Nội còn có những phương tiện vận chuyển khác là
xe bò, xe đạp
- Hệ thống cống
Cùng với việc mở thêm hệ thống đường, thực dân Pháp cũng mở thêm hệ thống cống ngầm Tới năm 1902, cả Hà Nội có 19 km cống ngầm Từ năm 1902 - 1905, thực dân Pháp mới xây được thêm 7km cống ngầm nữa nhưng cũng chỉ ở khu vực người Âu Năm
1911, thực dân Pháp mới xây dựng được một hệ thống cống ngầm, dài khoảng 26km Đến năm 1927, thực dân Pháp xây dựng thêm hệ thống cống ngầm từ đường Cột Cờ qua phố Chu Văn An, ra Hàng Đẫy và chảy vào những đầm lớn ở Thái Hà ấp
Mặc dù, ở khu phố người Âu, các đường phố đã được rải nhựa, có hè, cồng rãnh
điện nước đầy đủ, khu phố của người Việt Nam vẫn không có gì cả Mãi đến 1933 hầu hết các đường phố Hà Nội mới được rải đá, rải nhựa và có cống rãnh, hè ximăng Nhưng khu phố lao động vẫn ở nguyên tình trạng như cũ Cho tới trước đại chiến thế giới thứ hai, tổng
số đường trong thành phố Hà Nội chừng 144 km mà chỉ có 66 km có cống ngầm
3.2.2 Kết quả hoạt động
Giao thông vận tải là trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của thực dân Pháp vì nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình bình định cũng như khai thác làm giàu cho nước mẹ đại Pháp Với công sức và tính mạng của người dân thuộc địa, cộng với nền văn minh công nghiệp Phương Tây lúc bấy giờ, thực dân Pháp đã xây dựng được một mạng lưới giao thông ở Hà Nội Nhiều tuyến giao thông mới được đưa vào xây dựng và khai thác, góp phần tạo nên một mạng lưới đồng bộ, hiện đại và hết sức tiện lợi so với trước kia Sự hiện diện của hệ thống đường sắt, đường xe điện là một nét mới, một bước tiến trong quá trình hiện đại hoá và hoàn chỉnh mạng lưới giao thông ở Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng Rồi những phương tiện vận chuyển mới như xe tay, xe điện, tàu thuỷ, xe lửa,
ôtô, xe đạp…xuất hiện cũng làm cho bộ mặt thành phố khác xưa Từ một thành phố phong kiến lạc hậu, qua một thời gian đã có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt là giao thông vận tải ở một góc độ nào đó, những hệ thống giao thông vận tải nó còn mang nhiều yếu tố tích cực rõ rệt,
đăc biệt là khoa học kỹ thuật Trải qua nhiều thập kỷ, những thành tựu ấy đến hôm nay nhìn lại sau nhiều biến đổi kinh tế - xã hội, những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, những công trình giao thông vận tải của chính quyền thực dân cho dù không còn phục vụ mục đích thực dân nữa, thì những thành tựu về khoa học kỹ thuật và hiệu quả khai thác của nó cũng có giá trị nhất định cần được nhìn nhận, xem xét một cách nghiêm túc để kế thừa và phát triển
Nhìn nhận một cách khách quan chúng ta không thể phủ nhận được những yếu tố kỹ thuật mới trong giao thông vận tải mà quá trình xây dựng của Pháp đem lại Song bên cạnh đó
nó cũng không tránh khỏi những hạn chế mà chúng ta cũng dễ dàng nhìn thấy Đó là trong
Trang 39quá trình xây dựng, kế hoạch phân bổ của thực dân Pháp chưa thực sự khoa học: đường giao thông thì rất nhiều và rất thừa so với tiêu chuẩn đường xá của một thành phố văn minh (vì lúc
đó Hà Nội có 114 cây số đường, chiếm 23% tổng diện tích thành phố, trong khi đó ở những thành phố đạt tiêu chuẩn đường chỉ chiếm 18,2% diện tích thành phố)22, nhưng lại hoá ra rất thiếu để vận chuyển được nhanh chóng là vì không những các đường thành phố đã hẹp, ngắn, lại bố trí lộn xộn lắm ngã ba, ngã tư, ngã năm thậm chí ngã sáu Không những thế thành phố
Hà Nội còn bị đường xe lửa cắt ngang làm trở ngại cho sự giao lưu giữa hai khu vực ở ven
đường và đường xe điện đặt qua các phố đã chật hẹp lại đông đúc như Hàng Ngang, Hàng
Đào, Chợ Đồng Xuân, Hàng Gai, Hàng Bông…ảnh hưởng không ít tới sự chuyển vận và sự an toàn của các phố đó
Về hệ thống đường sắt, Pháp đã thu được nguồn lợi to lớn, lưu thông kinh tế giữa các vùng đã trở nên nhanh chóng và thuận tiện trong bất cứ điều kiện thời tiết nào, đồng thời phục vụ rất đắc lực cho công cuộc thống trị và khai thác của chúng Nhưng ngược lại, việc xây dựng đã được tiến hành với sự khảo sát, thiết kế chưa được kỹ lưỡng và việc đầu tư vào công trình mới ở mức độ sử dụng được Đầu máy xe lửa là loại hơi nước đã lạc hậu
Do đó sau này khi khôi phục lại đường sắt, nhà nước ta đã tốn hết nhiều công sức, tiền của
và cũng phải đầu tư nhiều hơn nữa trong tương lai Mỗi một km đường sắt thời thuộc Pháp, hay từng viên đá rải, ở từng đường hầm xuyên núi…trên hệ thống đường sắt ấy đều thấm
đượm mồ hôi, nước mắt và tính mạng của nhân ta Gần một thế kỷ thống trị, thực dân Pháp chỉ đem lại các hệ thống đường bộ, đường sắt, đường biển và các phương tiện vận tải ở trình độ rời rạc, thấp kém và chủ yếu phục vụ cho quyền lợi của chúng
4 Giáo dục, y tế
4.1 Giáo dục
4.1.1 Chính sách giáo dục, đào tạo nhân tài ở Hà Nội dưới thời Pháp thống trị
Mục đích xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp là nô dịch nhân dân Việt Nam, biến nước ta thành một thị trường độc chiếm, một căn cứ quân sự, một nơi bóc lột và đầu
tư “bỏ vốn một, lãi mười” Tuy nhiên, điều làm cho bọn thực dân Pháp băn khoăn, lo lắng
là làm thế nào để đô hộ được một dân tộc có một trung tâm văn hoá, chính trị Hà Nội lâu
đời hơn nước Pháp Chúng đã vạch ra kế hoạch, nếu “chỉ có chinh phục đất đai thì không
đủ, mà còn cần phải chinh phục cả tâm hồn nữa…cần phải thuyết phục và lôi kéo lý trí và quả tim người bản xứ vốn đã bị mọi cách đầu tiên làm cho khiếp đảm”23 Công cuộc
“chinh phục tâm hồn” đó chính là giáo dục - một công cụ mạnh nhất và chắc chắn nhất ở
trong tay những kẻ đi chinh phục
Trang 40Do nhu cầu về giao dịch để tăng cường sự bóc lột, thực dân Pháp buộc phải “phát triển giáo dục” ở Bắc Kỳ, mà trung tâm là Hà Nội Chữ Pháp và chữ quốc ngữ được đưa
vào giảng dạy Việc dùng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ trong giao dịch đó là do xuất phát từ lợi ích của bọn thực dân quyết định, chứ không phải vì quyền lợi của Việt Nam hay vì
“khai hoá văn minh” cho người Hà Nội
Thực hiện âm mưu đó, thực dân Pháp ra sức mua chuộc, lôi kéo tầng lớp sĩ phu là những người có uy tín trong xã hội Việt Nam bấy giờ Nhưng, những âm mưu và ý định ấy
đều bị thất bại, chúng luôn vấp phải sự bất hợp tác của các sĩ phu Thất bại trong âm mưu này, thực dân Pháp buộc phải đặt ra một hệ thống giáo dục khác để có thể đào tạo nhanh chóng một đội quân phò tá mới, đồng thời mau chóng thoát khỏi ảnh hưởng thù địch của các tầng lớp sĩ phu Vì lẽ đó, trường đào tạo Thông ngôn ở Hà Nội được mở ra (1905), vịêc dạy chữ quốc ngữ cho người Việt Nam, phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa cũng được đẩy mạnh
Để che đậy âm mưu nô dịch người dân, và thực hiện cho cái gọi là “khai hoá văn minh” ở xứ Bắc Kỳ, sau trường đào tạo Thông ngôn và trường dạy chữ quốc ngữ thì Pháp cũng mở mang một số trường học: Đông Dương cao học cục (1907) ở Đồn Thuỷ, thuốc
Thú y, Luật, Hành chính, Sư phạm, Nông lâm, Thương mại (1917), trường Cao đẳng Nông
- Lâm (1918), trường Sư phạm Hà Nội (1918)…
Năm 1922, chúng lập thêm 2 trường: Trường Khoa học thực hành và Trường Thương mại thực hành nhằm đào tạo cử nhân chuyên môn cho công cuộc khai thác Đông Dương lần thứ hai của thực dân Pháp Năm 1924, thực dân Pháp bỏ trường Đại học Luật và Hành chính, thay vào đó là Trường Cao đẳng Văn chương
Tính đến năm 1925, tổng số sinh viên tốt nghiệp của các trường Đại học ở Hà Nội rất ít ỏi: Y dược có 231 sinh viên, Thú y 83 sinh viên, Luật 163 sinh viên; Sư phạm 70 sinh viên, Canh nông 49; Công chính 308; Khoa học thực hành; Thương Mại thực hành 28
Cuối năm 1925, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội cũng ra đời, phương tiện của nhà trường lúc đầu rất khiêm tốn Khoá đầu chỉ có khoa Mỹ thuật gồm hội hoạ và điêu khắc
Từ những năm 1938 - 1939 trở về sau, do nhu cầu cần những viên chức giúp việc cho Pháp trong cuộc Chiến thế giới thứ hai và ý định của bọn thực dân không muốn cho sinh viên Việt Nam sang Pháp Mặt khác, để gây ảnh hưởng chính trị cho chúng chống lại ảnh hưởng của phát xít Nhật, số lượng sinh viên học ở Hà Nội dần dần có tăng hơn trước Tuy vậy, theo các nguồn tài liệu thì trong năm học 1941 - 1942, toàn Đông Dương chỉ có vẻn vẹn 03 trường
đại học, đều đặt ở Hà Nội với tổng số sinh viên là 834 người, sinh viên Việt Nam có 628 người