Mục tiêu nghiên cứu Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn khái quát về các loại hình tổ chức NC&PT ở Việt Nam Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của tổ chức ngh
Trang 1Bộ khoa học và công nghệ
viện chiến l−ợc và chính sách KH&CN
báo cáo tổng kết đề tài kh&cn cấp cơ sở
nghiên cứu sự phát triển của tổ chức
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hệ thống tổ chức KH&CN nói chung và các tổ chức NC&PT nói riêng ở Việt Nam
đã được nhiều tác giả nghiên cứu (Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn Học 1981-1985,
1986-1990, 1997-1998, Đặng Duy Thịnh 1999, Hoàng Trọng Cư 2004, Hoàng Văn Tuyên
2005, Hoàng Xuân Long 2005, Phạm Quang Trí 2004, Bạch Tân Sinh 2003-2004) Các nghiên cứu này xuyên suốt từ thời cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung đến giai đoạn quá độ chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay Ví dụ Nguyễn Văn Học 1997-1998 về cơ chế chuyển viện nghiên cứu vào doanh nghiệp, Bạch Tân Sinh 2003-2004 về cơ chế doanh nghiệp đối với viện NC&PT, Nguyễn Văn Học 1998-1999 về hệ thống tổ chức NC&PT trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
Giai đoạn 1986-1996, trong xu hướng cải cách cơ chế kinh tế sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, các nghiên cứu về hệ thống và mạng lưới tổ chức KH&CN đã đặt cơ sở cho việc ban bố các chính sách quản lý theo hướng pháp trị Chúng
ta có thể thấy Chỉ thị 199-CT ngày 25/6/1986 là kết quả của một đề tài thuộc Chương trình 60A.01 về hoàn thiện tổ chức KH&CN Bên cạnh đó, các chính sách được đưa ra tại Nghị định 35 HĐBT ngày 28/1/1992 được xem như là “mốc son” về tự do hóa, tự chủ trong hoạt động KH&CN nói chung và tổ chức NC&PT nói riêng Tiếp theo, Quyết định
324 CT ngày 11/9/1992, Quyết định 782 TTg ngày 24/10/1996 cũng đã được ban hành…
Giai đoạn 10 năm gần đây, các nghiên cứu thường tập trung vào mục tiêu làm rõ
cơ chế, chính sách cụ thể đối với từng loại hình tổ chức NC&PT Có thể nói các nghiên cứu trên đều có mối quan hệ biện chứng với nhau với mục tiêu chung là đưa ra một bức tranh toàn cảnh, đa chiều về đối tượng nghiên cứu- các tổ chức NC&PT Đối tượng này hoặc đã đưa vào phân tích trong trạng thái “tĩnh”, hoặc được xem xét trong trạng thái
“động” với các quan hệ nhân quả cũng như liên kết với hệ thống lớn –hệ thống kinh tế xã hội Các nghiên cứu trước đây (1986-1996) tuy đã bị ảnh hưởng bởi cơ chế hành chính xơ cứng song đã bước đầu đưa ra các biện pháp mềm dẻo để quản lý hành vi (hoạt động) theo hành lang pháp lý
Gần đây, việc cải cách cơ chế quản lý KH&CN diễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi phải nhìn nhận lại một cách hệ thống các loại hình tổ chức KH&CN nói chung và tổ chức NC&PT nói riêng Dưới tác động của việc chuyển đổi cơ chế quản lý KH&CN (NĐ 81/2002/NĐ-
CP ngày 17/10/2002, NĐ 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005, Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 về việc phê duyệt Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, ), đã xuất hiện nhiều nhân tố mới như tổ chức NC&PT tư nhân, tổ chức NC&PT nước ngoài, các tổ chức hỗ trợ ươm tạo công nghệ, các hoạt động đa dạng mới bên trong tổ chức NC&PT đã đặt ra nhiều câu hỏi nghiên cứu như: liệu tổ chức như hiện nay có phù hợp hay không? Và dưới tác động mạnh mẽ hơn của hội nhập quốc tế, các tổ chức NC&PT Việt Nam sẽ có những thay
Trang 3đổi gì và xu hướng như thế nào? Chính nhu cầu của thực tế là điều kiện cần thiết khách quan để tiến hành nghiên cứu này Như vậy, nghiên cứu so sánh sự phát triển các tổ chức NC&PT ở một số nước và Việt Nam không nằm ngoài mục tiêu tìm ra các giải pháp cho
sự phát triển các tổ chức NC&PT của Việt Nam
Các tổ chức NC&PT của các nước như CHLB Đức, Trung Quốc sẽ được chọn là trường hợp nghiên cứu theo một quá trình, tương ứng với các điều kiện hình thành và phát triển, bối cảnh lịch sử và cơ chế tác động, cũng như các khía cạnh khác Nói cách khác, nghiên cứu về mạng lưới và hệ thống NC&PT sẽ hoàn toàn mang tính “động” trong nghiên cứu này nhằm làm rõ quá trình phát triển và các bài học kinh nghiệm Nghiên cứu
sẽ nhằm làm rõ các vấn đề sau (vấn đề nghiên cứu hay còn gọi là câu hỏi nghiên cứu):
- Sự phát triển của các tổ chức NC&PT của các nước lựa chọn qua nghiên cứu các điều kiện hình thành và phát triển của tổ chức NC&PT; bài học cho Việt Nam khi nghiên cứu so sánh là gì?
- Các yếu tố tác động dẫn đến sự thay đổi của các tổ chức NC&PT và xu hướng phát triển của hệ thống tổ chức NC&PT của các nước lựa chọn, bài học cho Việt Nam khi nghiên cứu so sánh là gì?
- Các lý thuyết và vấn đề lý luận có liên quan đến sự hình thành và phát triển các tổ chức NC&PT là gì ?
2 Mục tiêu nghiên cứu
Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn khái quát về các loại hình tổ chức NC&PT ở Việt Nam
Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của một số nước và Việt Nam, từ đó đề ra giải pháp cho Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các loại hình tổ chức NC&PT
Giới hạn nghiên cứu: Nghiên cứu về các loại hình tổ chức KH&CN trên thế giới không thể bao trùm hết các quốc gia, hơn nữa nghiên cứu đó cũng không có ích nhiều nếu không thể vận dụng để nhận diện hệ thống đó ở Việt Nam Hơn nữa, giới hạn về kinh phí cũng không cho phép xem xét quá nhiều quốc gia Vì vậy, đề tài sẽ giới hạn việc hệ thống hoá các loại hình tổ chức KH&CN ở một số nước có điều kiện chuyển đổi so sánh với Việt Nam, mặc dù việc lựa chọn các quốc gia nào cũng là một vấn đề cần thiết bởi nó đảm bảo tính hiệu quả của nghiên cứu Xuất phát từ nhận định này, đề tài lựa chọn hai nước CHLB Đức và Trung Quốc làm hai trường hợp nghiên cứu Một nước chuyển đổi đến một mô hình kinh tế thị trường đã định hình, trong khi một nước chuyển đổi theo mô hình tự tìm kiếm sáng tạo nhưng có kinh nghiệm trước Việt Nam một vài thập kỷ
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp nghiên cứu thông dụng trong phân tích như phương pháp
Trang 4phân tích so sánh, mô tả, chuyên gia, chuyên khảo, phân tích lịch sử, duy vật biện chứng…, đề tài còn sử dụng các phương pháp sau:
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn đã được tiến hành trên thế giới và Việt Nam về loại hình tổ chức KH&CN
- Tham vấn chuyên gia trong cùng lĩnh vực (peer review) Sau khi các bản dự thảo báo cáo hoàn thiện, sẽ cần ý kiến góp ý và phản biện của các chuyên gia cùng lĩnh vực thông qua các hình thức phản biện và góp ý trong hội thảo các chuyên đề,…
Trang 5CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI CƠ QUAN NC&PT
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là các loại hình tổ chức NC&PT và sự hiện diện của chúng trong mạng lưới tổ chức NC&PT nói riêng và mạng lưới tổ chức KH&CN nói chung Trong quá trình phân tích, đòi hỏi phải có một cách nhìn hệ thống về đối tượng nghiên cứu kết hợp với các phương pháp nghiên cứu để làm rõ các thành phần tạo hệ cùng các mối tương tác trong mạng lưới Các tổ chức NC&PT sẽ được xem xét dưới góc độ là một thực thể kinh tế-xã hội, có các mối tương tác bên trong cũng như bên ngoài tổ chức, mang tính đa chiều Kết quả cuối cùng nhằm vẽ lên được một bức tranh chung về mạng lưới cơ quan NC&PT của Việt Nam cùng với các nhận dạng từng loại hình tổ chức NC&PT, động thái phát triển và các mối tương tác giữa chúng
Các lý thuyết liên quan đến sự hình thành và phát triển của mạng lưới cơ quan NC&PT được đề cập đến trong đề tài sẽ bao gồm:
- Lý thuyết về hệ thống đổi mới quốc gia, hay nói cách khác dùng cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia để phân tích hệ thống cơ quan NC&PT của Việt Nam;
- Các lý thuyết kinh tế thể chế, các lý thuyết kinh tế về ứng xử của các nhóm lợi ích như chi phí giao dịch, liên kết ngang (horizontal integration), liên kết dọc (vertical integration) như là các công cụ quan trọng trong cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia
I Hệ thống đổi mới quốc gia và áp dụng cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia trong phân tích mạng lưới cơ quan NC&PT
1.1 Hình thành khái niệm về NIS và cách tiếp cận NIS
Khái niệm về hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) và ứng dụng cách tiếp cận hệ thống đối mới quốc gia trong phân tích và xây dựng phát triển mạng lưới cơ quan NC&PT gần đây được thảo luận sôi nổi trên các diễn đàn về KH&CN Điểm mấu chốt ở đây là xem xét mạng lưới cơ quan NC&PT như là thành phần của NIS, trong đó nhấn mạnh đến mối tương tác giữa mạng lưới cơ quan NC&PT với các thành phần tạo hệ khác Như vậy, cách tiếp cận NIS mở rộng hơn cách tiếp cận hệ thống truyền thống bởi các mối tương tác đa chiều, trong khi cách tiếp cận hệ thống truyền thống xem xét các mối tương tác theo thứ bậc, trên dưới…
Có nhiều định nghĩa về NIS và tương ứng với nó là các kiến giải về NIS khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh một nền kinh tế cụ thể Một cách chung nhất, hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) được hiểu là tập hợp tất cả các thể chế và cơ chế (công và tư), tương tác với nhau để kích thích và hỗ trợ cho các đổi mới sản phẩm và hệ thống ở trong nền kinh tế quốc dân Xem xét NIS cho thấy KH&CN, tri thức và các kỹ năng/hiểu biết để áp dụng tri thức, cùng với những động lực chính khác cho sự thay đổi, là những động lực đổi mới của các ngành và các quốc gia trong thời đại hiện nay Hiệu quả của NIS chính là thành công trong việc biến tri thức thành những đổi mới ở trong nền kinh tế Không chỉ có
Trang 6NC&PT, mặc dù là rất quan trọng, mà còn nhiều nhân tố khác bao gồm chất lượng/hiệu quả của quan hệ tương tác giữa các thành phần nằm trong hệ thống cũng đóng vai trò quan trọng cho quá trình đổi mới
Như vậy, “đổi mới” là một yếu tố quan trọng trong NIS Theo cách hiểu của đề tài,
đổi mới là một quá trình sáng tạo ra cái mới nhằm cải thiện những điều kiện hiện tại để đáp ứng tốt hơn nhu cầu hiện tại và hướng tới tương lai Đề tài cũng như nhiều nghiên
cứu khác đã xem xét “Đổi mới phần nhiều mang ý nghĩa kinh tế, bao gồm đổi mới công nghệ và đổi mới tổ chức” Như vậy “Đổi mới” có vai trò quan trọng làm tăng nhanh năng suất lao động, giá trị sản phẩm, tăng hiệu quả của công tác quản lý “Đổi mới công nghệ” thể hiện ở việc truyền bá các nhân tố tri thức cùng với năng lực khoa học và công nghệ cũng như sự “chuyển đổi” các nhân tố này sang các sản phẩm hoặc các quá trình sản xuất Trong khi đó, “đổi mới tổ chức” thể hiện ở việc làm thu gọn lại quá trình tác động của các quyết định hành chính tới quá trình sản xuất nhằm tăng cường hiệu lực của quản lý và hỗ trợ tối đa các đối tượng quản lý Như vậy, đổi mới theo ý nghĩa trên vừa là khái niệm trừu tượng, vừa là khái niệm hữu hình Phát triển khái niệm của “Hệ thống đổi mới quốc gia” theo chiều hướng này, khái niệm này được hiểu là một tập hợp các đổi mới ở các ngành/lĩnh vực trong một quốc gia với chức năng hỗ trợ/huy động có hiệu quả các nguồn lực quốc gia để đổi mới, đặc biệt là bắt chước và tạo ra kết quả KH&CN phục vụ phát triển kinh tế xã hội
Để có được NIS thành công, cần 2 điều kiện cơ bản như sau:
và tam giác liên kết như Nguyễn Văn Học, 1997
Xem xét cụ thể hơn cấu thành của NIS, có nhiều cách lý giải khác nhau và vẫn chưa tìm được thống nhất chung Song nhìn chung, NIS tại các nền kinh tế điển hình cho thấy các thành phần của nó gồm:
- Chính phủ với chức năng cấp tài chính và xây dựng thể chế trong đó có thể chế KH&CN, thực hiện nhiều hoạt động khác nhau để vừa thúc đẩy, vừa điều chỉnh các thay đổi công nghệ/kỹ thuật,
- Các trường đại học với chức năng nghiên cứu và phát triển, và các tổ chức NC&PT, có nhiệm vụ thực hiện nghiên cứu cơ bản và phát triển các tri thức và kỹ năng ở mức cao, nghiên cứu ứng dụng,
- Các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động tạo ra sự
Trang 7thay đổi,
- Các tổ chức công và tư có nhiệm vụ đào tạo phổ cập và dạy nghề, truyền bá kỹ năng,
- Các quỹ vốn mạo hiểm để cấp vốn cho các hoạt động đổi mới
Tương tác giữa các thành phần này thể hiện ở việc thực hiện chức năng của từng thành phần và trao đổi giữa chúng với nhau trong một khuôn khổ thể chế nhất định nhằm hướng đến một cái đích cuối cùng là thực hiện đổi mới Các tương tác bao gồm cả tương tác bên trong một nhân tố, hoặc tương tác giữa các nhân tố nhằm hướng tới một mục tiêu
chung là khuyến khích “đổi mới” phát triển Có thể thấy đổi mới bao hàm tất cả các khía
cạnh hoạt động để đưa một ý tưởng mới ra thị trường Công nghệ là một nhân tố rất quan trọng, nhưng còn có những nhân tố khác, kể cả việc thiết kế và tiếp thị, cũng tham gia vào đổi mới
Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra sự xuất hiện của khái niệm NIS, trong đó một số nghiên cứu đã cố gắng áp dụng cách tiếp cận này trong xây dựng chính sách KH&CN của Việt Nam (xem Lê Đình Tiến, 2000) Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (NISTPAS) cũng có những công trình nghiên cứu và thường xuyên cử cán bộ đi dự các cuộc Hội nghị, Hội thảo khu vực và quốc tế về NIS Tựu trung, các nghiên cứu đều thống nhất về sự xuất hiện của NIS bởi các học giả Freeman (1987), Dosi (1988) và được phát triển ở những năm tiếp theo là Lundvall (1992), Nelson (1993), Edquist (1997) v.v Các
tổ chức quốc tế như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC), Trung tâm Chuyển giao Công nghệ châu á-Thái Bình Dương (APCTT) cũng đề ra nhiều sáng kiến thúc đẩy các nền kinh tế thành viên áp dụng cách tiếp cận này để tăng cường đổi mới Ở nước ngoài, từ cuối thập kỷ 90, Trung Quốc đã có Dự án nghiên cứu NIS của mình khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường và đề ra quan điểm “NIS mang các đặc trưng Trung Quốc” Thái Lan, Philippin, Inđônêxia trong các kế hoạch KH&CN mới đây cũng đều đề ra các giải pháp để hoàn thiện và phát huy hiệu quả của NIS
Với tiếp cận NIS, hoạt động đổi mới thường được phân tích theo nghĩa rộng Nó không chỉ chú trọng đơn thuần vào số lượng các đổi mới sản phẩm/quy trình được thực hiện thành công ở trong một quốc gia, mà còn bao hàm các nỗ lực NC&PT của các doanh nghiệp và viện nghiên cứu công, cũng như các nhân tố có vai trò quyết định đến đổi mới,
ví dụ như các quá trình học tập, các cơ chế khuyến khích, nguồn nhân lực có kỹ năng Do vậy, cách tiếp cận hệ thống đối với đổi mới là dựa trên quan điểm coi các quá trình đổi mới là mang tính đa ngành, phi tuyến, trong đó mối quan tâm hàng đầu để xem xét là mối tương tác ở cấp tổ chức, cũng như tác động qua lại giữa các tổ chức và các thể chế
Một khía cạnh quan trọng nữa là bên cạnh sự phổ cập nhanh chóng của cách tiếp cận NIS, các mối quan tâm nghiên cứu để ứng dụng NIS đã được mở rộng và đa dạng hơn, tập trung ở hai xu hướng Thứ nhất, các công trình nghiên cứu theo xu hướng nghiên cứu các mô thức đổi mới đặc thù ở mỗi quốc gia thường được đặt trong bối cảnh lịch sử, chính trị và văn hoá để phát hiện ra những yếu tố không đồng nhất ở các hệ thống Thứ hai, chú trọng chuyển dần sang việc so sánh hiệu quả của các hệ thống chứ không quan tâm nhiều đến những điểm khác biệt về hệ thống Hiện nay, các nghiên cứu có xu hướng
Trang 8hội tụ 2 dòng nghiên cứu tương đối mâu thuẫn nói trên Một mặt, đó là quan niệm mang tính hệ thống về quá trình đổi mới, trong đó chú trọng đến những cơ cấu và phần tử đặc thù của từng quốc gia Mặt khác là sự so sánh các hệ thống, trong đó có phần khái quát hoá những điểm không đồng nhất về hệ thống để đưa ra được những ý kiến tư vấn rõ ràng cho các nhà hoạch định chính sách quốc gia Xu hướng này là một căn cứ quan trọng để tiến hành nghiên cứu của đề tài, tức là nghiên cứu sự hình thành và phát triển mạng lưới
cơ quan NC&PT của Trung Quốc, CHLB Đức theo bối cảnh lịch sử, chính trị và văn hoá trong nghiên cứu so sánh với Việt Nam để có những bài học cần thiết
Đặt mạng lưới cơ quan NC&PT như là một trong những thành phần hữu hình, quan trọng của NIS, với các chức năng đặc trưng trong thực hiện chiến lược phát triển
“thị trường kéo-market pull”, “khoa học đẩy-science push”, với trung tâm của NIS là doanh nghiệp, thực chất là xem xét cơ chế phản hồi phức tạp và những quan hệ qua lại liên quan đến NC&PT, học hỏi, sản xuất, chính sách và nhu cầu Như vậy, yếu tố thể chế
là rất quan trọng trong cách tiếp cận NIS
1.2 Thể chế và vai trò của nó trong hệ thống đổi mới
Trong một số thập kỷ gần đây, các nhà kinh tế học ngày càng chú ý đến vai trò của
“các thể chế” trong khi thực hiện nghiên cứu và thay đổi các hệ thống kinh tế “Các thể
chế” cũng đã trở thành ngày một quan trọng trong lý thuyết đổi mới Thêm nữa, vai trò
của các thể chế trong quá trình đổi mới được xem như yếu tố tác động đến chất lượng của đổi mới, bao gồm cả việc xem xét cản trở thể chế đối với đổi mới cũng như ủng hộ của thể chế đối với đổi mới
“Thể chế” được hiểu chung là tập hợp các quy tắc, luật chơi áp dụng trong một không gian và thời gian nhất định Nhìn nhận khái niệm “thể chế” trong một bối cảnh kinh tế xã hội nhất định ta có thể thấy rằng có hai dạng chủ yếu: một là “thể chế” chính thức – như được công nhận và thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước qua hệ thống văn bản mang tính pháp lý đã ban hành và hai là dạng “thể chế” không chính thức là những thừa nhận rộng rãi mang tính công nhận trong xã hội Nói cách khác, hai dạng của
“thể chế” là thể chế chuyên ngành và thể chế dân sự Người ta luôn luôn có xu hướng so sánh giữa hai dạng thể chế này để điều chỉnh vai trò của cơ quan quản lý nhà nước làm sao cho khuôn khổ của hoạt động chuyên ngành gần hơn với khuôn khổ của hoạt động dân sự Ngoài ra, còn nhiều cách phân loại thể chế như thể chế cứng và thể chế mềm, thể chế cơ bản và thể chế ủng hộ.v.v
Thể chế chính thức và không chính thức
Thể chế “chính thức” thể hiện ở các văn bản luật, quy định về patent, các quy định
của chính phủ về hoạt động ngân hàng, các thể chế chính thức cho các cán bộ của hệ thống dịch vụ công nghệ, các quy định và các phương tiện cho việc lắp đặt thiết bị điện
tử,…) Trong khi đó, thể chế “không chính thức” được hiểu là các lề thói, phong tục, tập
quán, cách thức làm việc, cách thức hợp tác, tục lệ, v.v Những phân biệt này là rất quan trọng bởi vì sự tương xứng giữa các thể chế chính thức và không chính thức có thể không đồng nhất giữa các nước, giữa các lĩnh vực, giữa các doanh nghiệp v.v Các thể chế
chính thức là “hữu hình” hơn các thể chế không chính thức; các thể chế chính thức được
Trang 9hệ thống hoá nhưng các thể chế không chính thức thường phải được trực tiếp theo dõi thông qua sự cư xử của thành phần trong hệ thống là cá nhân/tổ chức
Các thể chế cơ bản và các thể chế hỗ trợ
Các thể chế cơ bản như các quyền cơ bản quy định trong hiến pháp hoặc các nguyên lý làm nền tảng như quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền thừa kế, quyền chuyển nhượng, nguyên lý hợp tác và giải quyết xung đột Trong khi đó, “thể chế ủng hộ” cho rằng quy định sâu hơn các khía cạnh của các nguyên lý cơ bản, ví dụ, những hạn chế về
sử dụng sở hữu tư nhân trong các tình huống đặc biệt và các nguyên lý để quy định các công việc ngoài giờ trong một số ngành đặc biệt
Các thể chế cứng và mềm
Thể chế còn thể hiện dưới dạng thể chế cứng và thể chế mềm Thể chế “cứng” thể hiện dưới dạng các liên kết cứng và các quy định khống chế, trong khi thể chế “mềm”
được nhận thức như các nguyên lý chỉ đường và những đề xuất hơn là mệnh lệnh mà phải chấp hành Bất kỳ đâu một thể chế là mềm hoặc cứng có thể phụ thuộc vào ngữ cảnh Phép tắc ứng xử có thể là rất quan trọng và cần được tôn trọng trong một số trường hợp nghiêm túc, trong khi có thể “du di” trong cuộc sống đời thường Các quyền sở hữu có thể kiểm soát chặt chẽ trong tình trạng khan hiếm song lại được cho phép “thoải mái” trong tình trạng thừa thãi
Với ý nghĩa phân tích, yếu tố thể chế được xem xét trong quá trình đổi mới Yếu tố thể chế có thể là sức đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới, song cũng có thể là ràng buộc và sức cản đối với đổi mới Trên thực tế, xem xét yếu tố thể chế KH&CN của Việt Nam chính là xem xét tương tác với 2 điều kiện cơ bản của NIS, như đề cập ở trên là sức mạnh, sự bền vững của từng thành phần và tương tác giữa các thành phần
1.3 Thể chế trong cách tiếp cận hệ thống đổi mới
Carlsson và đồng nghiệp chia “cơ sở hạ tầng thể chế” liên quan đến mỗi “hệ thống
công nghệ” thành 4 phần: a) nghiên cứu và phát triển công nghiệp; b) cơ sở hạ tầng học
thuật; c) các thể chế khác; và d) chính sách nhà nước
Carlsson và Stankiewicz viết: “Các thể chế là các cấu trúc quy chuẩn thúc đẩy các
mô hình phối hợp hoạt động xã hội bền vững, là giải pháp (quyết định) cần thiết để thực hiện các chức năng xã hội chủ chốt… Bởi vậy, cấu trúc của hệ thống mà chúng tôi muốn nói tới là tổng hòa các thể chế (chế độ và tổ chức) trực tiếp hoặc gián tiếp ủng hộ, khuyến khích, chế định quá trình đổi mới và truyền bá công nghệ” Khái niệm này khá phức tạp
và có vẻ hơi hỗn tạp Nó gồm cả: “các cấu trúc có tính quy chuẩn”, “cách thức” cũng như
“các tổ chức” khác nhau
Lundvall cho rằng: “các thể chế cung cấp các công cụ và tổ hợp các chỉ dẫn hoạt
động” và các thể chế như vậy có thể là lộ trình, hướng dẫn hoạt động hàng ngày trong sản
xuất, phân bổ và tiêu dùng, và chúng được xem như là kim chỉ nam cho đổi mới
Như vậy, thuật ngữ “các thể chế” được sử dụng trong cả hai nghĩa chính Một là
“những thứ mẫu hình cư xử” giống như cách thức, nguyên tắc và luật (Lundvall), và nghĩa
Trang 10khác “các cấu trúc chính thức với mục đích rõ ràng” (Nelson và Rosenberg) Điều này
cũng tương hợp với các phân loại về thể chế như đã đề cập ở trên
1.4 Các chức năng của thể chế trong quan hệ với các đổi mới
3 chức năng cơ bản của thể thế rất quan trọng đến quá trình đổi mới:
- Giảm tính không chắc chắn khi cung cấp thông tin;
- Quy định những xung đột và hợp tác; và
- Cung cấp những khích lệ
Những thể chế cung cấp thông tin và giảm tính không chắc chắn
Trong một không gian và thời gian cụ thể, các thể chế có thể giảm tính không chắc chắn về sự đối xử của những người cung cấp thông tin hoặc giảm thông tin cần thiết Ví
dụ, Luật patent bao gồm các quy định chính xác về quyền sở hữu trí tuệ và quyền sử dụng, giảm tính không chắc chắn của giao dịch Nếu không như vậy, sẽ không khuyến khích hoạt động KH&CN sáng tạo trước các rủi ro về sở hữu trí tuệ cũng như xung đột về lợi ích giữa các đối tác trong liên kết
Thêm nhiều ví dụ có thể đề cập Tuy nhiên, tính không chắc chắn chính xác là một
sự tập hợp không thể tránh khỏi của các hoạt động đổi mới-hầu hết đưa ra các dự án đổi mới là kết thúc thậm chí trước khi khảo nghiệm thị trường, và giữa những điều đó nghiên cứu thị trường hầu như không làm dịch vụ kiểm tra Do đó đo lường, thực tế, các mối quan hệ ổn định giữa các bên, là cần thiết để cung cấp thông tin
Vai trò của việc cung cấp thông tin chính xác không chỉ giảm tính không chắc chắn của liên kết mà với mức độ nào đó, nó còn cho phép hệ thống NC&PT tiết kiệm nguồn lực, tránh lãng phí do trùng lắp, thúc đẩy hợp tác giữa các đối tác và quan trọng hơn là cân đối sự phát triển của hệ thống Một ví dụ có thể thấy là có thể do thiếu cơ chế chia sẻ thông tin giữa các vùng/địa phương, nhiều đề tài nghiên cứu trùng lắp, nhiều thất bại không được chia sẻ, phát triển nhiều tổ chức có cùng chung chức năng, trong khi không tận dụng được sức mạnh của số đông…
Các thể chế cung cấp các khuyến khích
Thể chế có vai trò quan trọng trong việc khuyến khích đổi mới Có nhiều dạng khuyến khích, như khuyến khích cam kết học tập và tham gia vào các quá trình đổi mới, khuyến khích về chế độ lương bổng, trợ cấp, thuế, quy định thừa kế, phân chia lợi nhuận đều ảnh hưởng đến quá trình đổi mới
Trang 11Trong không gian và thời gian cụ thể, các thể chế khuyến khích phải bắt kịp với nhu cầu phát triển của xã hội, đặc biệt là hình thành cộng đồng NC&PT phù hợp với trình
độ phát triển chung của nền kinh tế Hiểu theo nghĩa rộng hơn, thể chế khuyến khích có tác dụng định hướng cho sự phát triển lành mạnh của các thành phần tạo hệ, cũng như mở rộng tổ chức
1.5 Các thể chế gây nên sức cản cho đổi mới
Chúng ta đều biết rằng quá trình đổi mới là không chắc chắn và nhiều xung đột tiềm năng Từ đó đặt ra sự cần thiết phải điều chỉnh bằng thể chế và để nó trở thành một hoạt động ngày một quan trọng hơn Các thể chế thường hướng tới sự ổn định, thậm chí nhiều khi sự ổn định đó tạo nên sự cứng nhắc bất khả kháng cho đổi mới
Trên thực tế, sự thay đổi thể chế thường chậm và kéo dài so với sự thay đổi công nghệ Điều này có thể tạo ra những vấn đề không tương xứng cản trở đối với các đổi mới tiềm năng OECD đã sử dụng khái niệm “xơ cứng thể chế” để nói lên điều này Nó thường xảy ra ở các thể chế chính thức Kết quả phân tích cho thấy năng lực yếu của đội ngũ quản lý, tính ỳ của hệ thống quản lý cũng như các ràng buộc khác nhau giữa các văn bản pháp lý, thiếu chiến lược phát triển lâu dài, thiếu năng lực nhìn trước công nghệ … là nguyên nhân chính của sự “xơ cứng thể chế”
1.6 Các lý thuyết về kinh tế thể chế mới
Thiết lập mối quan hệ kinh tế thông qua hình thức hợp đồng vừa tạo ra các thể chế, vừa chịu ảnh hưởng bởi nhiều thể chế hiện có Các thể chế này là sản phẩm của một chuỗi những đổi mới về tổ chức cũng như kết quả của hoạt động quản lý kinh tế Chúng bao gồm các thỏa thuận nhằm đảm bảo quyền lợi kinh tế và nghĩa vụ dân sự của các bên tham gia, hay nói các khác là đảm bảo giá trị của bản cam kết hợp tác Bản cam kết hợp tác là minh chứng cho những thể chế đã được thừa nhận giữa các bên tham gia Tuy nhiên, để đạt đến được một bản cam kết và cũng như thực thi bản cam kết là cả một quá trình lâu dài, tốn kém cả về thời gian cũng như chi phí vật chất Như vậy, nghiên cứu về các hành
vi kinh tế của các đối tác tham gia vào quá trình hình thành và thực thi cam kết hợp tác dưới hình thức hợp đồng đã cho ra đời nhiều lý thuyết kinh tế trong Kinh tế học mới về thể chế, bao gồm cả kinh tế học về chi phí giao dịch và kinh tế học về liên kết ngang, liên kết dọc
1.6.1 Chi phí giao dịch
Kenneth Arrow đã định nghĩa các chi phí giao dịch là “các chi phí vận hành hệ
thống kinh tế” Cần phải phân biệt các chi phí đó với chi phí sản xuất, vốn là loại chi phí
mà phân tích tân cổ điển luôn luôn quan tâm đến Chi phí giao dịch là yếu tố kinh tế tương đương với sức ma sát trong các hệ thống vật lý Điều không có gì đáng ngạc nhiên
là việc luôn luôn tồn tại lực ma sát trong các hệ thống vật lý, cũng như vậy, chi phí giao dịch luôn luôn tồn tại trong các quan hệ kinh tế Làm rõ hơn bối cảnh phát sinh các chi phí giao dịch còn cho thấy, chi phí giao dịch xuất hiện không những trong các quan hệ kinh tế chính thức, các thể chế chính thức… mà còn trong các quan hệ ngầm ngay giữa các nhóm lợi ích kinh tế (các thỏa thuận độc quyền), giữa giới doanh nghiệp và quan chức
Trang 12chính quyền (quan hệ móc nối tiêu cực)… Chi phí giao dịch không chỉ hình thành khi hình thành giao dịch mà còn tồn tại trong quá trình duy trì giao dịch đó Như vậy có thể nói đề cập đến kinh tế học về chi phí giao dịch nói chung là một lĩnh vực tương đối rộng Hướng vào một lĩnh vực nhỏ hơn là ứng dụng lý thuyết về chi phí giao dịch trong nghiên cứu vận động của các tổ chức NC&PT và các mối quan hệ KH&CN, các học giả như Douglass C.North (1998)1, Williamson (1975), Lundvall (1992)… đã đưa ra khái niệm chi phí giao dịch Trong các hợp đồng chuyển giao KH&CN, chi phí giao dịch phát sinh theo quan điểm “quá trình tạo nên sự tin tưởng lẫn nhau giữa những người tạo ra và sử dụng tri thức thường rất tốn kém”
Về lý thuyết, thực chất “chi phí” sẽ xảy ra khi thị trường xuất hiện nhu cầu “mua”
và “bán” Đó chính là quy luật đơn giản của thị trường, để mua hàng mà mình cần thì ta phải trả cho người có hàng hoá đó một khoản tiền và người ta gọi đó là kinh doanh Trong lĩnh vực KH&CN cũng thế Điều khác biệt ở đây là sản phẩm tạo ra mang nhiều hình thái khác nhau, đó có thể là một quyển sách, một quy luật, một định luật hoặc một kết quả khi đem ra ứng dụng vào trong đời sống thì sẽ đem lại lợi nhuận cho người sử dụng, do đó chi phí của nó cũng mang một ý nghĩa khác Chi phí trong hình thức này có thể không diễn ra trực tiếp như khi mua bán một mặt hàng nào đó trên thị trường mà có thể diễn ra trong một thời gian dài, với chất xám và công sức mà các nhà khoa học cũng như các nhà sản xuất bỏ ra và kết quả thu được có tính mới về khoa học, hoặc một sản phẩm mới với nhiều tính năng vượt trội so với lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường
Thành tựu khoa học công nghệ, với tư cách là hàng hoá, có được thu nhập hợp lý trong lưu thông để bù đắp cho sức lao động bỏ ra trong quá trình ứng dụng công nghệ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi trong tất cả mọi lĩnh vực về đời sống cho những người làm công tác khoa học Tư tưởng kinh doanh của công tác ứng dụng công nghệ là tư tưởng ảnh hưởng trực tiếp tới quyết sách xác định mục tiêu và lựa chọn phương án kinh doanh Từ đó cũng ảnh hưởng tới việc thành bại của công tác ứng dụng công nghệ, thành tích thu được nhiều hay ít và phạm vi ứng dụng lớn hay nhỏ, thậm chí, ảnh hưởng tới sự sinh tồn và phát triển của cơ cấu ứng dụng công nghệ Tư tưởng kinh doanh của việc ứng dụng công nghệ phải phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch của chủ nghĩa xã hội2
Các nguồn lực của nền kinh tế được chi cho việc giao dịch là một lượng rất lớn và ngày càng tăng Vì vậy các chi phí giao dịch cũng được đưa vào trong chi phí sản xuất Chi phí giao dịch càng tăng cao trong trường hợp khi các nhà nghiên cứu khoa học ký kết các hợp đồng với các doanh nghiệp, đơn vị đặt hàng nhưng do điều kiện tiến hành chuyển giao có nhiều bất lợi không thoả mãn được điều kiện chất xám mà các nhà khoa học đã bỏ
ra để tạo nên hàng hoá công nghệ
Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nghiên cứu hay sản xuất nào đều phải xảy ra quá trình thu thập và tìm hiểu thông tin, trong đó bao gồm cả thông tin về nhu cầu của thị trường đối với công nghệ mới, sản phẩm mới… Nắm bắt nhu cầu này, thỏa mãn nhu cầu này chính là lý do dẫn đến ý tưởng lựa chọn công nghệ ứng dụng và triển khai ứng dụng
1 Giáo sư kinh tế học và sử học tại Đại học tổng hợp St Louis
2 Sách „Quản lý khoa học và công nghệ“, trang 299, Trường nghiệp vụ quản lý
Trang 13công nghệ Tuy nhiên, quá trình thu thập và xử lý thông tin đều rất tốn phí Việc tốn kém trong việc thu thập thông tin là chìa khoá dẫn đến các chi phí giao dịch, bao gồm các chi phí đánh giá các thuộc tính có giá trị của những thứ được trao đổi Hơn nữa, chi phí giao dịch cũng bao gồm các chi phí bảo vệ các quyền và chi phí kiểm soát, chi phí cưỡng chế thi hành các thoả thuận
Bản chất của chi phí giao dịch là chi phí để dẫn đến sự mua bán trao đổi thông qua nhiều hình thức khác nhau Do đó khi xảy ra chi phí giao dịch thì cũng có thể coi là một quá trình đem lại kinh nghiệm và lợi ích cho những bên tham gia Ta cũng có thể hiểu theo nghĩa là khi gắn kết nghiên cứu với sản xuất thì tất yếu sẽ dẫn đến những khoản chi phí cho giao dịch của quá trình gắn kết này Bởi vì sự gắn kết này phải dựa trên cơ sở là động lực phát triển của cả hai phía chứ không làm triệt tiêu lẫn nhau, nên tiến hành trả chi phí một cách thoả đáng sẽ dẫn đến đạt được kết quả cao hơn
Nghiên cứu cụ thể hơn trong chuyển giao công nghệ cho thấy khi cả hai bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao có được những thoả thuận nhất định và đều có lợi nhuận thì giao dịch sẽ thuận lợi trong chuyển giao công nghệ Khi đó, chi phí giao dịch có vai trò tích cực thúc đẩy quá trình và tăng cường liên kết nghiên cứu – sản xuất Ngược lại, chi phí giao dịch sẽ trở thành một vấn đề khó có thể vượt qua để hình thành liên kết
Giao dịch trở nên thuận lợi và chi phí giao dịch có vai trò tích cực khi:
- Bộ phận sản xuất có khả năng phù hợp với đặc điểm “phát triển với tốc độ cao” của việc phát triển công nghệ hiện nay Như vậy, bộ phận sản xuất cần phải xây dựng một cơ cấu ứng dụng công nghệ linh hoạt, nhanh chóng thu lại được các thành quả ứng dụng công nghệ một cách tốt nhất và nhanh nhất Các sản phẩm công nghệ gồm những đặc điểm điển hình như: thành tựu công nghệ mới, tốc độ cải tiến công nghệ cao, chu kỳ tuổi thọ sản phẩm ngắn, cạnh tranh thị trường khắc nghiệt, v.v
- Hoạt động phát triển và ứng dụng công nghệ phải phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, từng đơn vị, từng khu vực cụ thể Sự phù hợp không chỉ ở bên nhận chuyển giao mà còn ở bên chuyển giao Đối với bên nhận chuyển giao,
sự phù hợp thể hiện ở chỗ vấn đề cần giải quyết bằng KH&CN phát sinh từ yêu cầu khách quan của việc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội, phù hợp với mục tiêu phát triển của đối tượng Đối với bên chuyển giao, sự phù hợp thể hiện ở năng lực trình độ chuyên ngành, phù hợp với mục tiêu phát triển của đơn vị và tương xứng với nhiệm vụ mà đơn vị đảm nhiệm
- Một môi trường thể chế điều hòa các mối quan hệ kinh tế là rất quan trọng cho giao dịch nếu xảy ra Hay nói khác, lợi ích của hai phía đều được đảm bảo trong một môi trường công bằng và minh bạch Để như vậy, ngoài việc các bên đối tác tham gia phải vận dụng chính sách đúng đắn và lựa chọn phương pháp tối ưu để phân tích về lợi nhuận thu được, đánh giá về kết quả đạt được, hướng tiến hành triển khai công việc, quá trình tham gia giám sát khi triển khai công việc… cần có những thể chế quy định hàng lang pháp lý cho các hành vi trên
Ngược lại, giao dịch sẽ không thuận lợi và chi phí giao dịch sẽ là một cản trở trong
Trang 14các trường hợp:
- Không có sự thống nhất giữa bên “mua” và bên “bán” về phân chia lợi nhuận Nhu cầu của các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về điều kiện chi phí thu hồi, cơ sở vật chất v.v không được đáp ứng đúng khi tiến hành chuyển giao Nhu cầu của bên nhận chuyển giao không được đáp ứng đầy đủ, trong khi còn nhiều sự lựa chọn cung cấp khác
- Tâm lý ngại rủi ro của các doanh nghiệp khi tiến hành thảo luận ký kết các hợp đồng triển khai công nghệ mới khiến các giao dịch hoặc bế tắc hoặc hoàn toàn thất bại
- Một số nhà khoa học nhìn nhận sai về vấn đề làm khoa học, coi sản phẩm nghiên cứu của mình như một loại hàng hoá thông thường trao đổi mua bán trên thị trường, nên yêu cầu những điều khoản mà những đơn vị sản xuất không thể đáp ứng được
- Sự phối hợp không chặt chẽ giữa bên nhận chuyển giao (doanh nghiệp hoặc địa phương), thiếu những hỗ trợ cần thiết để các nhà khoa học thực hiện chuyển giao
Ví dụ như về cơ sở pháp lý của hoạt động sản xuất, hoạt động chuyển giao, điều kiện trang thiết bị vật chất yếu, nhân lực trình độ thấp, thiếu vắng cơ chế khuyến khích thuế, tài chính
- Cơ sở pháp lý cho hoạt động chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất chưa được giới quản lý hình thành và khẳng định Khi đó, hình thức chuyển giao sẽ diễn ra không có tính định hướng, không có căn cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch, dễ xảy ra tranh chấp giữa hai bên mua và bán
Như vậy, chi phí giao dịch trong một quan hệ, nhất là quan hệ hình thành giữa bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao kết quả KH&CN luôn luôn tồn tại và đồng thời mang hai ý nghĩa: là yếu tố tích cực thúc đẩy quá trình chuyển giao và cũng là yếu tố cản trở quá trình chuyển giao Vận dụng lý thuyết về chi phí giao dịch cũng là một cách để có thể giải thích bản chất của quan hệ trong liên kết nghiên cứu – sản xuất, cũng như các
kịch bản phát triển của liên kết đó Như vậy, bài toán thiết lập mối quan hệ liên kết giữa
nghiên cứu và sản xuất sẽ được xem xét dưới khía cạnh đơn giản hơn với việc nhắm tới giảm các khoản chi thuộc chi phí giao dịch của mối liên kết, hoặc hướng các chi phí này phát triển theo các chiều hướng tích cực hơn
Trên thực tế, đã có nhiều loại hình tổ chức NC&PT thuộc phạm vi điều chỉnh của chính sách liên kết nghiên cứu-sản xuất này Đã có những mô hình liên kết cứng như đưa
tổ chức NC&PT trực thuộc doanh nghiệp, hoặc thành lập doanh nghiệp bên trong tổ chức NC&PT, hoặc liên kết mềm bằng việc hình thành các thể chế quy định hành vi ứng dụng
sản phẩm nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất Trong hình thức “liên kết cứng”, bằng việc
hành chính hóa các mối quan hệ, chi phí giao dịch được giảm xuống Trong một số trường hợp, sự giảm này mang lại ý nghĩa tích cực song trong nhiều trường hợp lại mang ý nghĩa tiêu cực không thúc đẩy được mối liên kết Điều này giải thích tại sao một số thuộc mô
hình “liên kết cứng” như vậy lại thành công, trong khi một số khác lại thất bại Trong hình
Trang 15thức “liên kết mềm”, sự hợp tác liên kết giữa nghiên cứu và sản xuất được một số thể chế ủng hộ khuyến khích, đã có nhiều tác động tích cực Tuy nhiên, hệ thống chính sách, thể chế KH&CN vẫn còn thiếu đồng bộ, có lúc thụ động trước sự phát triển đa dạng của thực
tế, nên chi phí giao dịch phát triển ở mức khó kiểm soát Hoặc chi phí giao dịch giữa doanh nghiệp và khối nghiên cứu trong nước trong nhiều trường hợp còn lớn hơn cả chi phí tìm kiếm đối tác từ nước ngoài, vì vậy đã ảnh hưởng tiêu cực đến mối liên kết sản xuất – nghiên cứu
Một ví dụ điển hình nhất cho nghiên cứu lý thuyết về chi phí giao dịch là xem xét
sự phát triển của loại hình tổ chức NC&PT có chứa hoạt động tự tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm NC&PT do họ tạo ra Lý thuyết về chi phí giao dịch cho thấy khi các nhà nghiên cứu khi đã nắm trong tay thành tựu nghiên cứu của mình thì thường có xu hướng muốn tự mình đứng ra tổ chức sản xuất hơn là chuyển giao cho các đối tác khác Cũng cần phải nói thêm rằng, hạn chế của thị trường công nghệ với tư cách là môi trường thực hiện giao dịch giữa nghiên cứu và sản xuất cũng là yếu tố thúc đẩy phương thức tổ chức SX-KD bên trong các viện NC&PT Một mặt, thị trường công nghệ chưa phát triển hạn chế khả năng chuyển giao kết quả nghiên cứu của viện NC&PT ra bên ngoài, nhưng mặt khác, chính điều kiện này lại thúc đẩy hình thức sản xuất kinh doanh bên trong viện NC&PT phát triển Năng lực đáp ứng của các cơ sở R&D trong nước đối với yêu cầu từ sản xuất được đánh giá trên các mặt cung cấp quy trình công nghệ, hỗ trợ cải tiến sản phẩm và công nghệ, tư vấn đánh giá và mua bán công nghệ Trong khi đó, thị trường công nghệ ở Việt Nam còn sơ khai, hầu như thiếu vắng nhiều yếu tố hợp thành của một thị trường hoàn chỉnh, đặc biệt là các tổ chức trung gian, môi giới, cung cấp thông tin về công nghệ, tư vấn mua bán công nghệ, kinh nghiệm trong việc tiếp thị, các kỹ thuật thương thuyết, đàm phán
Như vậy, việc xây dựng những thể chế phù hợp với sự vận động của KH&CN Việt Nam, sự vận động của các loại hình tổ chức NC&PT Việt Nam nhằm giải quyết những khó khăn như đã nêu ra ở trên là cần thiết
1.6.2 Liên kết ngang và liên kết dọc
Giải quyết vấn đề ép giá trong quan hệ hợp đồng (holdup problem) đã được nhiều học giả kinh tế học quan tâm Nhiều lý thuyết kinh tế học đã được phát triển từ đây, trong
đó có lý thuyết kinh tế về liên kết ngang (vertical integration) và lý thuyết kinh tế về liên kết dọc (horizontal integration)
Liên kết dọc là một tình huống trong đó các hãng/doanh nghiệp/tổ chức SX-KD luôn luôn mở rộng hoạt động của mình gắn với một quá trình liên tục chuyển hóa nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng Các công ty trong liên kết dọc có quan hệ với nhau bởi các khâu trong quy trình công nghệ thống nhất Các công ty này liên kết lại với nhau, nói khác đi là liên kết các khâu, các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh để hình thành một quá trình sản xuất hoàn chỉnh từ nguyên liệu đến sản phẩm thương mại cuối cùng Hình thức mở rộng này của hãng/doanh nghiệp/tổ chức SX-KD có thể bằng việc (1)
tự mình mở rộng các khâu sản xuất trong một chuỗi sản phẩm, hoặc (2) liên kết với các đối tác khác trong chuỗi sản phẩm đó theo xu hướng sáp nhập các tổ chức này lại với nhau Bản chất của việc bành trướng chu trình sản xuất hoặc sáp nhập các tổ chức trong
Trang 16cùng chuỗi sản phẩm là nhằm giảm chi phí giao dịch, giải quyết vấn đề ép giá Minh họa thực tiễn của vấn đề ép giá qua ví dụ của McMillan (Đại học Stanford) đưa ra từ những năm 80 (nguồn của ví dụ minh họa: chương trình đào tạo Fulbright, 2005)
Giả sử công ty GM, một nhà sản xuất ôtô, đàm phán với Công ty Fisher trong việc cung cấp động cơ cho xe ôtô của mình Để làm được việc này, Fisher phải thực hiện một
số đầu tư đặc biệt như trang bị lại máy móc, đào tạo lại tay nghề cho công nhân Giá cả hợp đồng được thỏa thuận ở mức cao, đủ để bù cho những phí tổn đầu tư do Fisher bỏ ra Liệu đây có phải là một hợp đồng có lợi cho Fisher hay không?
Để trả lời câu hỏi này, Fisher phải đặt nó vào giai đoạn cuối của quan hệ hợp đồng
và suy luận ngược trở lại về thời điểm ban đầu Giả sử, Fisher lập luận rằng hợp đồng đã
ký và mình đã bỏ vốn vào đầu tư đặc biệt Khi đó, mình sẽ ở vào một vị thế hết sức bất lợi
Vấn đề là ở chỗ, GM biết rằng máy móc của Fisher đã được chuyên dụng hoá, không thể dùng để sản xuất bất cứ cái gì khác, ngoài sản phẩm phục vụ cho GM Khi đó,
GM có thể ở vào vị thế tốt để đòi điều đình lại giá theo hướng thấp xuống, đủ để trả cho chi phí vận hành Nhưng không nhất thiết là đủ cao để bù cho phí tổn đầu tư đặc biệt mà Fisher đã bỏ ra
Tuy nhiên, chính vì lợi ích của mình mà Fisher sẽ buộc phải chấp nhận mức giá thấp, hơn là để máy móc và công nhân nằm chờ Dự đoán trước kết cục như vậy, Fisher
có thể sẽ không ký thoả thuận, mà nếu như thực hiện được, nó có thể đem lại ích lợi lớn cho cả GM và Fisher
Dĩ nhiên, Fisher có thể ký một hợp đồng khác, theo đó, GM không được đàm phán lại về giá Tuy nhiên, hợp đồng không bao giờ là đầy đủ Nó không thể xác định một cách
rõ ràng ai sẽ có quyền gì trong mọi tình huống có thể xẩy ra trong tương lai Và GM có thể lợi dụng những tình huống như vậy như một cái cớ cho việc đàm phán lại về giá
Chẳng hạn, nếu hợp đồng không ghi rõ ai sẽ có trách nhiệm tài chính cho việc thiết kế lại động cơ để đối phó với sự gia tăng không dự đoán trước của giá dầu, thì GM
có thể buộc Fisher phải chấp nhận giá bán thấp xuống như một cách để chia sẻ rủi ro
Có hai kết luận quan trọng nêu ra ở đây Thứ nhất, tính không đầy đủ của hợp đồng mở ra khả năng bị ép giá trong kinh doanh (holdup problem) Thứ hai, do các bên
sợ bị đẩy vào thế yếu trong cuộc điều đình lại về giá cả, họ thường có xu hướng đầu tư thấp vào quan hệ hợp đồng Họ sợ bị bóc lột
Khác với liên kết dọc, liên kết ngang là tình huống trong đó các công ty cùng ngành nghề, cùng lĩnh vực kinh doanh, cùng chức năng trong một khâu của quá trình sản xuất kinh doanh… liên kết lại với nhau Tất nhiên, sự liên kết này nhất thiết phải là liên kết về mặt tài chính, đầu tư chứ không đơn thuần là liên kết hành chính, cơ học Đặc điểm của liên kết ngang cho thấy quá trình phát triển của các hãng/doanh nghiệp/tổ chức được
mở theo chiều rộng Ví dụ mở thêm xưởng sản xuất mới ở địa phương khác, tăng số lượng đối tác cung cấp cùng một loại hàng… Điểm hạn chế của việc mở rộng này là chi phí cố định biên cho việc sản xuất một sản phẩm cùng loại sẽ tăng lên gấp nhiều lần tương ứng với số cơ sở mở rộng, nhưng hạn chế được tác động của việc ép giá bằng việc
Trang 17thúc đẩy cạnh tranh giữa các cơ sở có cùng nhiệm vụ, chức năng, dẫn đến giảm tác động tiêu cực của việc “sợ” đàm phán hợp đồng
Trong trường hợp hợp tác về KH&CN diễn ra, vận dụng lý thuyết liên kết dọc và liên kết ngang có thể cho thấy bản chất của nhiều vấn đề Ví dụ, với đối tượng là nghiên cứu về các loại hình tổ chức NC&PT, lý thuyết về liên kết dọc giải thích cho chúng ta biết
xu hướng tích hợp các bộ phận sản xuất vào bên trong tổ chức NC&PT ở Việt Nam, nhất
là trong bối cảnh vấn đề ép giá dễ dàng xảy ra do thiếu các thiết chế về KH&CN đầy đủ như ở Việt Nam Trong khi đó, lý thuyết về liên kết ngang cho thấy cần phải có chiến lược phát triển KH&CN tập trung vào từng công đoạn nhất định với từng loại hình tổ chức NC&PT đặc thù Một tổ chức tổng hợp bao gồm các khâu từ nghiên cứu cơ bản-nghiên cứu ứng dụng-phát triển công nghệ và sản xuất đại trà được xem là rất tốn kém, đòi hỏi đầu tư tương đối lớn Trong khi đó, tập trung chuyên môn vào phát triển từng khâu, ví dụ nhấn mạnh chỉ đến khâu phát triển công nghệ sẽ tạo điều kiện tập trung nguồn lực…
Vấn đề gợi mở ở đây là sự cần thiết phải thiết kế lại hệ thống các loại hình tổ chức NC&PT phân theo chức năng nhiệm vụ, đi kèm với nó là hệ thống thiết chế KH&CN hoàn chỉnh
Các hành động đổi mới thường có xu hướng vượt ra khỏi khung khổ của thể chế có sẵn, một phần do bởi đặc tính phức tạp của quá trình đổi mới, một phần bởi tính bảo thủ của thể chế hiện hành, hoặc bởi tính lạc hậu/sai sót trong các quy định pháp lý Do vậy, luôn có hai dạng thể chế cứng và thể chế mềm, hay thể chế chỉ quy định khung và thể chế quy định chi tiết cho các mối quan hệ Những thay đổi thể chế thể hiện tính biến động của khung khổ pháp lý, nhiều khi gây ra mâu thuẫn Một mặt, thể chế phải đảm bảo tính nhất quán theo thời gian, theo hành vi, song mặt khác thể chế lại phải đáp ứng các nhu cầu chính đáng của cá nhân/tổ chức trong việc tiến hành hoạt động đổi mới Như vậy, điều này dẫn đến quan điểm: xây dựng khung thể chế đảm bảo nhất quán/ổn định/mềm dẻo của pháp luật, song cũng phải quan tâm sâu sắc đến chất lượng của đổi mới Có thể áp dụng từ nhiều kỹ thuật để xây dựng một thể chế như vậy:
- Thích nghi/nhập khẩu các thể chế tương thích từ nước ngoài thông qua kinh nghiệm của các nhà hoạch định chính sách chính phủ và tư nhân Ta có thể nói về
“sự bắt chước thể chế” khi các thể chế được chuyển giao nhiều hay ít và về “sự thích nghi thể chế” khi những thay đổi được tạo ra để cải thiện thêm các thể chế đã sao chép hoặc tạo cho chúng khớp với cơ cấu thể chế đang tồn tại
- Coi trọng công tác đánh giá chính sách để nhà nước nắm bắt và ứng xử kịp thời nhu cầu phát triển chính đáng của hệ thống cơ quan NC&PT
Trang 18- Coi trọng công tác chiến lược và dự báo/nhìn trước công nghệ nhằm định hướng cho một quá trình phát triển ổn định của mạng lưới cơ quan NC&PT
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng sự phát triển của các thể chế thường là một quá trình lâu dài, bao gồm cả thoả hiệp giữa các nhóm lợi ích cũng như tuyên truyền sâu rộng về chủ trương đường lối quản lý ra toàn xã hội
1.8 Tương quan giữa khái niệm thể chế và khái niệm tổ chức
Có một mối tương quan giữa “thể chế” và “tổ chức” Nếu thể chế được hiểu như là
các khuôn mẫu ứng xử cơ bản và nguyên lý cốt yếu, hay là tập hợp các thói quen chung,
các lộ trình, các nguyên tắc hoặc các điều luật quy định quan hệ và tương tác giữa các cá nhân và các nhóm, thì “tổ chức” không là phần của khái niệm thể chế như được xác định
ở trên Thay vì điều đó, tổ chức được xác định như là cấu trúc chính thức có mục đích rõ
ràng của các ý tưởng sáng tạo
Cá nhân hoặc các nhóm cá nhân tham gia một tổ chức phải có chung một mục đích
để đạt được các mục tiêu chắc chắn Sự đa dạng này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu đổi mới, đơn giản là vì tổ chức bao gồm nhiều loại: các hãng, các trường đại học, các viện nghiên cứu công nghiệp, các phòng R&D trong các hãng lớn, các văn phòng patent và các trường phổ thông phải được xem xét như là các tổ chức - động cơ quan trọng của thay đổi công nghệ
Rõ ràng là có một sự khác nhau nhất định giữa thể chế và tổ chức Sự phân biệt này là cần thiết bởi các thể chế và các tổ chức mang vai trò khác nhau trong quá trình đổi mới và điều đó chúng ta tin tưởng là phức tạp nhưng lại có mối quan hệ quan trọng với nhau Để có thể nghiên cứu sự tác động qua lại này chúng ta phải phân biệt hai khái niệm
II Tổ chức và đổi mới
Phân loại về tổ chức và quan niệm về định hướng phát triển tổ chức có một ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của thành phần này trong cách tiếp cận NIS Thông thường, người ta phân theo quan hệ sở hữu nhà nước và sở hữu ngoài nhà nước, hoặc phân loại tổ chức theo lĩnh vực KH&CN, hoặc phân loại theo chức năng thực hiện… Xem xét hệ thống đổi mới quốc gia cho thấy một thành phần tạo hệ quan trọng là các tổ chức NC&PT với chức năng cơ bản là nguồn cung tri thức phục vụ đổi mới Như vậy, các tổ chức NC&PT như là một hệ thống được đặt trong mối tương tác động với các thành phần khác, hòa quyện vào quá trình đổi mới:
2.1 Khái niệm tổ chức NC&PT
Theo UNESCO thì tổ chức NC&PT là đơn vị cơ sở trong nền sản xuất xã hội, được chuyên môn hoá để thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật một cách thường xuyên và có tổ chức
Theo Y.de HEMPTINE trong cuốn "Những vấn đề then chốt của Chính sách Khoa học và kỹ thuật" thì tổ chức NC&PT là các tổ chức tiến hành các hoạt động khoa học-kỹ thuật một cách thường xuyên và có tổ chức Các hoạt động khoa học-kỹ thuật có thể do
Trang 19các tổ chức NC&PT nhà nước hoặc tư nhân thực hiện Thuật ngữ tổ chức bao hàm một giải rộng các thực thể có tư cách pháp nhân, , viện, viện hàn lâm, trường đại học, hiệp hội, ty, bộ, trung tâm, xưởng thực nghiệm v.v
Theo Bách khoa toàn thư Liên xô (cũ) thì tổ chức NC&PT là các cơ quan tiến hành nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật "là hình thức tổ chức cơ bản để thực hiện hoạt động khoa học một cách có tổ chức" ở đại đa số các nước trên thế giới
Ở Việt nam, khái niệm rộng hơn của tổ chức NC&PT là tổ chức KH&CN được xác định trong Nghị định 35-HĐBT ngày 28/2/1992 Đó là các tổ chức chuyên thực hiện các nhiệm vụ: nghiên cứu, thực nghiệm, triển khai áp dụng các công nghệ mới, các kỹ thuật mới, các sản phẩm mới, các phương pháp mới và biện pháp tổ chức mới; Sản xuất đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ các sản phẩm mới với trình độ công nghệ cao mà các cơ sở sản xuất chưa có điều kiện thực hiện; Thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ về khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý Hiện vẫn tồn tại một quan điểm coi các cơ quan này là đơn vị hành chính sự nghiệp chuyên nghiên cứu khoa học và vì vậy nó được điều chỉnh bởi các chế độ của một đơn vị hành chính sự nghiệp Điều này ảnh hưởng nhiều đến việc tự do hoá hoạt động cũng như đa dạng hoá loại hình tổ chức của các
tổ chức NC&PT và rộng hơn là các tổ chức KH&CN
Theo chúng tôi, cần phải xem xét “tổ chức NC&PT” dưới quan điểm là một tổ chức có tư cách pháp nhân đầy đủ, chuyên sản xuất các sản phẩm khoa học và công nghệ mới mà pháp luật không cấm; chuyển giao và áp dụng các sản phẩm đó vào sản xuất, đời sống; giáo dục và đào tạo khoa học, công nghệ Tổ chức NC&PT cần một môi trường thể chế thích hợp, trong đó đảm bảo đầy đủ 3 chức năng của thể chế
2.2 Khái niệm mạng lưới tổ chức NC&PT và hệ thống tổ chức NC&PT
Thuật ngữ "mạng lưới" tổ chức NC&PT được hiểu là một tập hợp các tổ chức
NC&PT tương tác với nhau thông qua các quan hệ đa chiều, chính thức và phi chính thức, quan hệ hợp tác/liên kết kinh tế, hợp tác/liên kết khoa học, quan hệ tổ chức, quan hệ thông tin… không đơn thuần chỉ có quan hệ quản lý trên xuống/dưới lên, Ngoài ra, tập hợp đó xác định trong một không gian, thời gian và khung khổ thể chế nhất định Phân biệt giữa
hai khái niệm “mạng lưới” tổ chức NC&PT và “hệ thống” tổ chức NC&PT, “hệ thống”
tổ chức NC&PT được hiểu chặt chẽ hơn, với các quan hệ có thứ bậc, trật tự trên dưới,
trong khi “mạng lưới” mang tính mở hơn với các quan hệ đa chiều Khái niệm mạng lưới bao trùm khái niệm hệ thống Trong báo cáo, khi sử dụng khái niệm “mạng lưới” tổ chức NC&PT với ý phân tích các quan hệ mở và đa chiều, trong khi khái niệm “hệ thống” tổ
chức NC&PT sẽ được sử dụng khi muốn nhấn mạnh tới các quan hệ có thứ bậc, trật tự nhất định
Như vậy, nếu coi hệ thống đổi mới quốc gia là một tập lớn thì mạng lưới/hệ thống
tổ chức NC&PT được coi là một tập con với các đặc tính tương đương, song mang những đặc trưng nhất định về chức năng của mình, trong đó nhấn mạnh đến chức năng là nơi tạo
ra tri thức mới phục vụ quá trình đổi mới
Sự phát triển của mạng lưới tổ chức NC&PT có thể thấy qua phát triển đa dạng loại hình theo quan hệ sở hữu, đa dạng loại hình theo lĩnh vực KH&CN, đa dạng loại hình
Trang 20theo ngành kinh tế, đa dạng loại hình theo chức năng thực hiện nhiệm vụ KH&CN, thể hiện ở phát triển chiều sâu của tổ chức như đầu tư tiềm lực hay đẩy mạnh thông tin hỗ trợ liên kết, hay đơn giản là phát triển theo tiêu chí số lượng tổ chức
Nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của mạng lưới/hệ thống tổ chức NC&PT không đơn thuần chỉ xem xét bối cảnh kinh tế – xã hội tác động đến chính mạng lưới/hệ thống này, mà còn đề cập đến so sánh phát triển các chức năng của mạng lưới/hệ thống qua các thời kỳ, ứng với các thể chế khác nhau Cách tiếp cận này phù hợp với quan điểm như đã nêu trong cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia
Trong bất kỳ một thể chế nào, tại một không gian, thời gian nhất định, vai trò của nhà nước-với tư cách là người tạo ra thể chế chính thức (khác với thể chế phi chính thức như đã đề cập ở phần trên)- có vai trò quan trọng trong phát triển của một đối tượng quản
lý, trong đó có mạng lưới/hệ thống tổ chức NC&PT Mạng lưới/hệ thống sẽ phát triển tốt nhất ở một thể chế chính thức-một thể chế mà 3 chức năng của nó được đảm bảo một cách tối ưu
Là một thành phần tạo hệ của hệ thống đổi mới quốc gia, mạng lưới/hệ thống tổ chức NC&PT phải được xem xét trên quan điểm là một thực thể sống động, hình thành và phát triển tuân theo quy luật phát triển chung, có một đặc trưng là tính rất nhạy bén trước một quyết định của chủ thể quản lý cũng như tác động của trào lưu KH&CN bên ngoài Tác động đến mạng lưới/hệ thống tổ chức NC&PT nói riêng và rộng ra là mạng lưới/hệ thống tổ chức KH&CN phải lưu ý đến các điểm đặc trưng sau:
- Mạng lưới/hệ thống các tổ chức NC&PT là một hệ thống và cũng như bất kỳ một
hệ thống xã hội nào, nó có khả năng đặt cho mình mục tiêu, có khả năng tự điều chỉnh, tự thích nghi
- Cũng như tất cả các hệ thống có tổ chức, mỗi cơ quan NC&PT trong mạng lưới là một phân hệ độc lập tương đối, hoạt động để đạt mục tiêu riêng khác với mục tiêu chung của toàn hệ và của các thành phần khác Mỗi một phân hệ đều cần có bộ phận quản lý riêng thể hiện qua các chế định pháp lý về hoạt động của mình, ví dụ như chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức v.v
- Quyền tự trị về mặt khoa học là đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của cơ quan Mọi chỉ đạo mang tính hành chính trong khoa học hầu như chỉ mang đến kết quả gượng ép Như vậy, một hệ thống công cụ quản lý bằng các cấp kinh phí theo đề tài, cùng với cách cấp kinh phí theo quỹ sẽ phải được coi trọng hơn so với cách cấp kinh phí theo tổ chức như đã thịnh hành ở Việt Nam cho đến nay
- Mạng lưới/hệ thống tổ chức NC&PT và thể chế có mối tương quan chặt chẽ với nhau Mạng lưới/hệ thống tổ chức NC&PT hoạt động bên trong một môi trường thể chế song các thể chế cũng hình thành ngay bên trong một tổ chức NC&PT Hai loại thể chế này mà ta tạm gọi là thể chế bên trong, thể chế bên ngoài Thông thường, thể chế bên trong thường là những cái cụ thể hoá của thể chế bên ngoài, song nhiều trường hợp, thể chế bên trong lại thông thoáng hơn thể chế bên ngoài,
là một bài học kinh nghiệm bổ ích cho các nhà lập chính sách xây dựng thể chế bên ngoài Do vậy, khi xem xét một tổ chức NC&PT còn cần phải làm sâu thể chế
Trang 21bên trong của chúng để làm rõ được mối liên kết giữa các thành phần tạo hệ trong một không gian được mô hình hoá để có được các bài học kinh nghiệm cũng như đáp ứng nhu cầu cho phát triển của các thực thể thành viên của mạng lưới
- Mạng lưới/hệ thống tổ chức NC&PT một mặt là một hệ thống, một mặt cũng chỉ là một thành phần tạo hệ của hệ thống đổi mới quốc gia với các mối tương tác đa chiều và luôn biến động Do vậy, biện pháp phát triển hệ thống cơ quan NC&PT kết hợp với những đảm bảo cho tính linh hoạt của hệ thống sẽ cho phép mức độ xã hội hoá cao hơn về đầu tư tiềm lực KH&CN cũng như thực hiện nhiệm vụ KH&CN, đưa khoa học gần hơn với sản xuất
- Một xu hướng chung trong quản lý KH&CN là sử dụng công cụ đánh giá, kể cả đánh giá tổ chức KH&CN và đánh giá nhiệm vụ KH&CN là một công cụ hữu hiệu cho quản lý tổ chức KH&CN với các quyết định tách nhập, giải thể, cũng như đầu
Trang 22CHƯƠNG II NHẬN DẠNG LOẠI HÌNH TỔ CHỨC NC&PT CỦA TRUNG QUỐC
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
I Lịch sử hình thành và phát triển các loại hình tổ chức KH&CN Trung Quốc
Các loại hình tổ chức NC&PT của Trung Quốc được hình thành và phát triển lâu dài, qua nhiều giai đoạn trong nhiều bối cảnh, chịu tác động bởi nhiều sự kiện lịch sử Các
sự kiện chủ yếu có thể liệt kê ra ở đây như việc thành lập nước Cộng hòa Trung Hoa, chuyển tiếp sang thời đại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sau năm 1949, xây dựng các loại hình tổ chức NC&PT theo ảnh hưởng của mô hình Liên Xô, ảnh hưởng của cuộc đại nhảy vọt và tác động của cuộc cách mạng văn hoá trong gần 10 năm đến hệ thống tổ chức NC&PT, và gần đây là những nỗ lực cải cách chuyển đổi các tổ chức NC&PT sang hoạt động theo cơ chế thị trường cùng những nỗ lực cải cách chính sách KH&CN
1.1 Giai đoạn trước năm 1949
“Nước Cộng hoà Trung Hoa được thành lập năm 1912 là mốc đánh dấu sự hình thành và phát triển các loại hình tổ chức NC&PT, ban đầu là những Học viện khoa học hiện đại và Hiệp hội khoa học Thành công quan trọng của Hiệp hội khoa học Trung quốc
là những ảnh hưởng về mặt khoa học góp phần xoá bỏ Nhà nước phong kiến quan liêu, tổ chức ra các hội khoa học như Hội Y học Trung quốc (1915), Hội Nông nghiệp Trung quốc (1917), Hội Địa chất Trung quốc (1922), Hội thiên văn học Trung quốc (1924)…” (Hoàng Trọng Cư, 2000)
Năm 1928-1929, quan điểm của Nhà nước Trung Hoa là cần thiết phải thành lập đơn vị khoa học mang tính mũi nhọn nhằm tập trung nguồn lực và giải quyết các vấn đề khoa học chủ chốt Với quan điểm này, Trung Quốc đã thành lập 2 Viện Hàn lâm khoa học ở Nam Kinh và Bắc Kinh, bao gồm nhiều tổ chức NC&PT trực thuộc Nhiều nhà khoa học được đào tạo cơ bản, đạt trình độ cao từ các nước phát triển được giao trọng trách lãnh đạo các tổ chức NC&PT thuộc 2 viện hàn lâm này Sau đó 19 năm, tức là vào năm 1949, 2 viện hàn lâm này sáp nhập thành Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc, sau
sự kiện thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
1.2 Giai đoạn sau năm 1949 – cuối 1980
Giai đoạn hình thành và đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển của các tổ chức NC&PT
Sự kiện quốc khánh Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 1/10/1949 đã đưa đất nước Trung Quốc vào một giai đoạn mới, thay đổi căn bản nền kinh tế, chính trị
và xã hội Bối cảnh mới này tạo điều kiện thế và lực mới cho công cuộc xây dựng mới và cải cách lại các loại hình tổ chức NC&PT Trung Quốc, hình thành nhiều tổ chức mới trên
cơ sở hệ thống tổ chức NC&PT hình thành và phát triển từ những năm 1912 Chủ trương cách mạng tất cả các lĩnh vực đời sống, chính trị, văn hóa, khoa học,… mang nặng ý chí chủ quan, với cơ chế kế hoạch hóa đặc trưng của chế độ xã hội chủ nghĩa Các loại hình tổ
Trang 23chức NC&PT hình thành ban đầu chịu nhiều ảnh hưởng bởi mô hình Liên Xô Trên cơ sở
đó, cấu trúc tổng thể của hệ thống này của Trung Quốc vào những năm 50 đã phân biệt nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, phản ánh phân chia chức năng và nhiệm vụ giữa Viện Hàn lâm khoa học và các Viện thuộc các Bộ, ngành, địa phương Cơ chế kế hoạch hóa cũng được áp dụng trong việc xây dựng nội dung hoạt động khoa học, thông thường được gọi là kế hoạch phát triển khoa học công nghệ và kế hoạch được lập cho 12 năm Ban đầu, khoa học và công nghệ xác định trọng tâm vào các lĩnh vực bao gồm: máy
vi tính, công nghệ chất bán dẫn, điện tử và tự động hoá, năng lượng nguyên tử và công nghệ phản lực Từ đó nhiều Viện mới của Viện Hàn lâm khoa học được thành lập để đảm trách những mục tiêu phát triển liên quan đến an ninh, quốc phòng, công nghệ vũ trụ và công nghệ hạt nhân
Với chủ trương cải cách và tập trung nguồn lực theo cơ chế kế hoạch hóa, tháng 11/1949, nhà nước Trung Quốc thành lập Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc trên cơ sở sáp nhập 2 viện hàn lâm ở Nam Kinh và Bắc Kinh Ban đầu, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc bao gồm 21 Viện nghiên cứu khoa học trực thuộc, là cơ quan khoa học duy nhất đại diện cho cộng đồng khoa học ở Trung Quốc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc tham gia nghiên cứu cơ bản và những hoạt động nghiên cứu ứng dụng trên cơ sở kế hoạch của Nhà nước, củng cố sự liên kết giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau, thúc đẩy
sự tác động qua lại giữa hoạt động khoa học, ứng dụng và tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển trên thế giới Đầu năm 1950, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc còn được giao nhiệm vụ xây dựng kế hoạch khoa học và công nghệ, tham gia những dự án kinh tế quan trọng của đất nước Tầm quan trọng của Viện Hàn lâm Trung Quốc trong hệ thống khoa học của Trung Quốc có thể được thấy rõ từ thực tế tỷ trọng đầu tư: chiếm 18% nguồn nhân lực khoa học và 70% tổng vốn nghiên cứu khoa học của Trung Quốc
Ngoài Viện Hàn lâm và các Viện, tổ chức NC&PT thuộc Bộ, ngành, địa phương, Chính phủ cũng quan tâm phát triển các Hội khoa học Các Hội chịu sự quản lý của Liên đoàn các Hiệp hội khoa học quốc gia Số lượng các Hội tăng liên tục, từ 12 Hội năm 1949 lên 35 Hội năm 1965 (Hoàng Trọng Cư, 2000)
Cùng với Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc, hoạt động nghiên cứu cơ bản ở các trường đại học cũng được Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ Chính phủ chủ trương cho hình thành những Học viện nghiên cứu thuộc các Bộ như Y tế, Nông nghiệp, Giao thông,
Cơ khí, Luyện kim v.v ngoài ra còn hình thành các Viện nghiên cứu, Sở nghiên cứu ở các tỉnh, khu tự trị, đặc biệt việc phát triển các Viện nghiên cứu trong khu vực quốc phòng, an ninh
“Cao trào đại nhảy vọt”, “đại cách mạng văn hóa” và những ảnh hưởng tới KH&CN Trung Quốc
Theo Hoàng Trọng Cư (2000), “ý tưởng của cao trào đại nhảy vọt (Great leap
forward) là nhấn mạnh sự phát triển công nghiệp cũng như nông nghiệp thông qua việc ứng dụng và phổ biến những thành tựu khoa học và công nghệ trong công nghiệp và nông nghiệp” Chủ trương này do Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra, với ý muốn chủ quan cải
tạo tư tưởng vừa phát triển toàn diện đội ngũ cán bộ KH&CN, đã đưa các nhà khoa học từ
Trang 24thành phố về các vùng nông thôn để hỗ trợ cho phong trào cải tạo và đổi mới “Từ đó việc
tổ chức lại cấu trúc khoa học công nghệ theo kiểu thí điểm, mô hình thực nghiệm để lấp những chỗ trống giữa lao động trí óc và lao động chân tay” (Hoàng Trọng Cư, 2000) Sự
kiện này được tổ chức dưới hình thức của một hoạt động mang tính phong trào, xuất phát
từ tư tưởng chủ quan hơn là tạo cơ chế để KH&CN đi vào đời sống Vì vậy, sau một thời gian “cao trào đại nhảy vọt” đã bị thất bại, đội ngũ cán bộ KH&CN bị nhiều thiệt hại, đòi hỏi nhiều nỗ lực chính sách nhằm khôi phục lại cộng đồng khoa học
Tuy nhiên, thất bại của phong trào này lại là tiền đề để cải tổ lại nền khoa học và công nghệ của Trung Quốc Trung Quốc đã thành lập Uỷ ban năng lượng hạt nhân quốc gia, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, với nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu phục vụ quân sự Nhiều nhà khoa học giỏi, đầu đàn của Viện Hàn lâm được tập trung sang phục vụ công nghiệp quốc phòng, nhằm tạo nên sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ phục vụ quốc phòng Trên cơ sở đó, ngày 16/10/1964, Trung Quốc đã nổ thử thành công quả bom nguyên tử, và thử tiếp quả thứ hai vào ngay năm sau đó Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu và phát triển công nghệ vệ tinh cũng đạt được những thành tựu nhất định và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao nỗ lực đó
Một trong những thành tựu đáng kể trong cải cách thời kỳ này là hoạt động KH&CN không mang màu sắc chính trị, tách quan điểm chính trị ra khỏi hoạt động nghề nghiệp và hoạt động chuyên môn Tuy nhiên, thành tựu này không tồn tại lâu, bị xóa bỏ bởi cuộc đại cách mạng văn hóa do Chủ tịch Mao Trạch Đông phát động năm 1966 Ảnh hưởng bởi cuộc đại cách mạng văn hóa, các tổ chức nghiên cứu và phát triển được xây dựng của 15 năm về trước bị huỷ bỏ, giải thể theo những chỉ thị mang tính chất mệnh lệnh của “Bộ tư lệnh cách mạng văn hoá” Phần lớn đội ngũ trí thức bị phê phán, các giáo sư, cán bộ nghiên cứu khoa học được đưa một cách bắt buộc về các vùng nông thôn xa xôi, các nông trại, nhà máy và những doanh nghiệp công cộng nhỏ liên quan đến sản xuất thủ công để lao động cải tạo bằng những công việc chân tay Viện Hàn lâm khoa học Trung quốc bị xoá sổ tới 60% các học viện nghiên cứu chính, chỉ để lại khoảng 30% viện có liên quan đến công nghệ quốc phòng Các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu cơ bản đều bị tố là ăn bám, vô tích sự và còn được xem như là tội ác và còn bị dư luận xã hội coi thường (Hoàng Trọng Cư, 2000)
Sau sự kiện đại cách mạng văn hóa 10 năm, Trung Quốc dần bước vào giai đoạn khôi phục lại nền kinh tế và tiềm lực của khoa học và công nghệ Các nhà khoa học dần được phục hồi các chức vụ khoa học, Viện Hàn lâm khoa học Trung quốc dần từng bước được ổn định, đồng thời thành lập thêm Viện Hàn lâm khoa học xã hội Trung quốc trên
cơ sở tách Ban Khoa học xã hội, Ban Triết học của Viện Hàn lâm khoa học và sáp nhập với Ban tuyên truyền của Đảng Cộng sản Trung quốc
Ngày 13/3/1985 Trung ương Đảng cộng sản Trung quốc quyết định cải cách thể chế khoa học và công nghệ, trong đó có một số vấn đề liên quan cải cách hệ thống nghiên cứu và phát triển:
- Tạo cho các Viện nghiên cứu và phát triển nhiều quyền lực trong tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ:
- Thiết kế cấu trúc hệ thống nghiên cứu và phát triển gắn kết giữa nghiên cứu - sản
Trang 25xuất và đào tạo Đối với đơn vị sản xuất phải tăng cường năng lực để tiếp thu và phát triển công nghệ
- Thúc đẩy thương mại hoá các thành tựu công nghệ và khai thác thị trường công nghệ để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa
Tư tưởng cải cách và những tác động mang tính tiền đề tới nền KH&CN Trung Quốc
Kế thừa những nỗ lực khôi phục lại nền KH&CN Trung Quốc và rút kinh nghiệm sâu sắc từ những thất bại của việc áp đặt ý chí chủ quan lên một đối tượng quản lý mà bỏ qua các quy luật vận động khách quan của nó, KH&CN Trung Quốc đã dần dần được cải cách Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế cũng như những thay đổi quan trọng của bối cảnh chính trị thế giới đã giúp Trung Quốc nhận thức sâu sắc hơn về các quy luật vận động khách quan của KH&CN Về cơ bản, các tư tưởng cải cách đã được thấm nhuần với:
- Xây dựng và phát triển nền khoa học và công nghệ toàn diện, ngang tầm với các nước phát triển trên thế giới, các hoạt động nghiên cứu và phát triển phải bao gồm hầu hết các lĩnh vực khoa học
- Công tác quản lý phải tập trung hơn, mang bản sắc xã hội chủ nghĩa với sở hữu toàn dân Trong thực tế hiện nay do sự phát triển mất cân đối nên Chính phủ trung ương phải tiến hành cải cách sâu sắc hơn
- Cải cách các tổ chức NC&PT thuộc Chính phủ với hai loại tổ chức NC&PT thuộc Chính phủ và NC&PT thuộc doanh nghiệp, tập trung đầu tư cho KH&CN ở mức 0,7-2% GDP, nhiều hơn cho các tổ chức NC&PT thuộc Chính phủ Tỷ lệ chi cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ sẽ là: 10 - 12%; 25- 35%; 40 - 65%
- Sử dụng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hoạt động NC&PT, dần dần nâng tỷ lệ đầu tư cho KH&CN từ khu vực sản xuất Áp dụng cơ chế này phải có thời gian và theo các bước đi thích hợp
- Quán triệt quan điểm “Phát triển kinh tế phải dựa vào khoa học và công nghệ và khoa học và công nghệ phải hướng tới phục vụ cho phát triển kinh tế”
- Nghiên cứu áp dụng cơ chế tự chủ, tự quản trong NC&PT, kết hợp với việc sử dụng các phương pháp đánh giá tổ chức và đánh giá hoạt động NC&PT từ các mô hình Anh-Mỹ…
1.3 Giai đoạn những năm cuối 1980 trở lại đây
Nền KH&CN của Trung Quốc đã đạt được những thành tựu đáng kể, đặc biệt từ những năm 90, nhiều lĩnh vực KH&CN đã đạt tới trình độ cao và đã khẳng định thứ bậc KH&CN trên thế giới Năm 1997 có thể xem là một năm bội thu, với 2727 đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực lý thuyết, 26244 trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng và 1595 trong các lĩnh vực khác Riêng 7000 chương trình ứng dụng công nghệ đã đem lại cho tổng thu nhập quốc dân 104 tỷ nhân dân tệ, tương đương 12,5 tỷ USD (Đinh Ngọc Lân, 1998)
Trong quá trình phát triển, Trung Quốc đã phải trải qua những thời kỳ khó khăn và
Trang 26đã có những cải cách kịp thời Trước những năm 1980, KH&CN Trung Quốc hoạt động rất rời rạc, không có hiệu quả…, thể hiện ở chỗ3:
- Số lượng các viện NC&PT nhiều gắn kết lỏng lẻo với khu vực sản xuất;
- Tồn tại nhiều viện NC&PT trùng lắp (ở trung ương có viện gì thì ở địa phương cũng có viện tương tự như vậy);
- Cơ cấu tổ chức phức tạp, kinh phí đầu tư chủ yếu từ ngân sách nhà nước, lại dàn trải nên kém hiệu quả trong đầu tư
Chính vì vậy, trong những năm 80, 90, yêu cầu cấp bách đặt ra ở Trung Quốc là phải cải cách thể chế KH&CN nhằm hướng vào việc giảm bớt khoảng cách giữa khu vực nghiên cứu và khu vực sản xuất Để thực hiện được điều đó, nhiều chính sách đã được ban hành như việc khuyến khích ứng dụng thành quả KHKT vào sản xuất Về việc này, Nhà nước dành một tỷ lệ nhất định kinh phí cho việc chuyển hoá thành quả KHKT Những người có công trong việc chuyển hoá thành quả KHKT sẽ được hưởng lợi ích không ít hơn 5%4 từ lợi nhuận mới tăng thêm do việc thực thi thành quả KHKT đó Ngoài
ra còn có các chính sách khác như cho phép thành lập các liên hiệp khoa học - sản xuất, chuyển một số viện nghiên cứu vào các doanh nghiệp, chuyển một số viện nghiên cứu thành doanh nghiệp/ doanh nghiệp KH&CN, có chính sách ưu đãi về thuế, chính sách khen thưởng…
Một thay đổi đáng kể đó là Trung Quốc đã cải cách phương thức cấp kinh phí cho hoạt động NC&PT Cách cấp phát kinh phí chủ yếu từ ngân sách nhà nước đã không mang lại hiệu quả, tạo tâm lý ỷ lại ở các cơ quan NC&PT Vì vậy ở những năm 1990 khi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển dần sang kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ cấp một phần kinh phí cho các viện NC&PT, buộc các viện phải năng động, sáng tạo để đa dạng hoá các nguồn vốn như hợp tác với khu vực sản xuất, hợp đồng liên doanh liên kết
với các tổ chức khác… nhằm thực hiện “quản lý khoa học kết hợp với hiệu quả kinh tế”5 Đây cũng là biện pháp để các viện nâng cao chất lượng kết quả nghiên cứu và tự tìm cách
thương mại hoá kết quả nghiên cứu Nguyên tắc đặt ra là “bịt chặt một đầu và mở rộng
một đầu” có nghĩa là Nhà nước sẽ quản lý chặt phần kinh phí Nhà nước cấp đồng thời
khuyến khích các cơ quan tự mình khai thác tìm các nguồn kinh phí khác Chính vì vậy giai đoạn 1986-1990 phần kinh phí NC&PT của Nhà nước đã giảm đáng kể Theo nghiên cứu của Shulin Gu, 1999, ở một số viện như Viện NC thiết bị năng lượng Thượng Hải, Viện NC cơ khí và công nghệ điện tử Bắc Kinh, Viện NC vật liệu Thượng Hải trong thời gian 10 năm 1984-1994 tổng nguồn thu của các viện tăng lên khá nhiều (tới 10 lần) trong khi đó nguồn từ Chính phủ tăng không đáng kể, thậm chí còn giảm đi Điều đó cho thấy
sự hỗ trợ của Nhà nước là cần thiết song chưa phải là đủ, mà các viện cần tự chủ trong việc tìm các nguồn kinh phí khác từ hoạt động NC&PT của mình
Hệ thống quản lý KH&CN Trung Quốc được hình thành trên cơ sở 2 mặt cắt: dọc
và ngang
3 Bạch Tân Sinh, Chuyển đổi tổ chức NC&PT ở Trung Quốc, Tạp chí hoạt động khoa học số…
4 Luật Chuyển hoá thành quả KHKT Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1996
5 Điều 4 Luật tiến bộ khoa học kỹ thuật Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ngày 2-7-1993
Trang 27Theo mặt cắt dọc, đó là hệ thống quản lý KH&CN quốc gia, bao gồm các cơ quan KH&CN của Chính phủ, cụ thể là Bộ KH&CN (MOST), các viện nghiên cứu, các hiệp hội, uỷ ban… Chính phủ trao quyền quản lý về KH&CN cũng như các hoạt động sản xuất
có liên quan cho Bộ KH&CN Bộ KH&CN là cơ quan quản lý khoa học kỹ thuật chuyên trách của Chính phủ, phụ trách quản lý vĩ mô và điều phối thống nhất công tác KHKT trong toàn quốc Các cơ quan khác của Chính phủ là người có trách nhiệm trong việc thể chế hoá và thực thi chính sách Hệ thống quản lý KH&CN quốc gia được tổ chức trên cơ
sở 3 tầng: những người ra quyết định, các tổ chức điều hành và thực thi, và các tổ chức NC&PT (bao gồm các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp)
Theo mặt cắt ngang, đó là hệ thống kế hoạch và chương trình KH&CN quốc gia
- Hệ thống kế hoạch KH&CN quốc gia thông thường thực hiện các nhiệm vụ: đánh giá hiện trạng KH&CN hiện thời, cải cách hệ thống KH&CN, đào tạo nhân lực, điều kiện và biện pháp hỗ trợ… Thông thường kế hoạch phát triển KH&CN được phân theo từng thời kỳ 5 năm Mỗi thời kỳ sẽ tập trung vào một mục tiêu cụ thể, ví dụ: tăng cường công nghệ công nghiệp và cạnh tranh quốc tế, phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong những lĩnh vực công nghệ trọng yếu; tập trung nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu công nghệ cao chiến lược; năm 2005 chi cho NC&PT phải đạt 1,5% GDP… Để đạt được những mục đích đó, một loạt các hoạt động phải thực hiện như: mở rộng năng lực đổi mới KH&CN bền vững của quốc gia; cải cách hệ thống KH&CN và xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia…
- Hệ thống chương trình KH&CN quốc gia Đây là những chương trình hướng tới hoạt động NC&PT trong chiến lược và kế hoạch phát triển KH&CN quốc gia Các chương trình này được tài chính quốc gia tài trợ và được các chính sách ở tầm vĩ
mô điều chỉnh để thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ đặt ra Một số chương trình gần đây như chương trình 863, chương trình đốm lửa, chương trình ưu tiên nghiên cứu cơ bản quốc gia…
Các tổ chức NC&PT ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo mặt cắt dọc (từ trên xuống) còn thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo mặt cắt ngang trên cơ sở các chương trình KH&CN
II Hiện trạng tổ chức NC&PT
Các loại hình tổ chức NC&PT của Trung Quốc chủ yếu gồm các tổ chức NC&PT
do Chính phủ, các trường đại học và doanh nghiệp thành lập Phần lớn hoạt động NC&PT nói riêng, hoạt động KH&CN nói chung do các tổ chức này thực hiện Ngoài ra còn có tổ chức NC&PT của khu vực tư nhân Tuy nhiên hoạt động của khu vực này còn hạn chế
Từ cuối năm 2001 tổ chức NC&PT tư nhân được công nhận là tổ chức phi lợi nhuận
Năm 1999 có 20.000 nhà khoa học, trong số đó 28,5% thuộc các viện nghiên cứu của Chính phủ, 21,4% thuộc các trường đại học, 42,7% thuộc doanh nghiệp và 7,4% thuộc các tổ chức khác Chi phí hàng năm cho NC&PT chiếm khoảng 900 triệu nhân dân
tệ, trong đó dành cho viện nghiên cứu của Chính phủ là 38,5%, doanh nghiệp chiếm 49,6%, trường đại học 9,3% và khu vực khác là 2,6%
Trang 28Đứng trước nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc và trong bối cảnh thiết lập hệ thống đổi mới quốc gia thì các doanh nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các hoạt động NC&PT
Sơ đồ 1 Mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức trong hoạt động quản lý nhiệm
vụ NC&PT của Trung Quốc
Nguồn: Hội thảo của Trung tâm KH-CN phục vụ phát triển của Trung Quốc (NRCSTD) tại NISTPASS từ ngày 21-23/11/2000
Bảng 1: Chi phí cho NC&PT ở các khu vực (%)
1999 2000 2001 2002
Viện NC&PT 33,4 28,8 27,7 27,3 Trường đại học 8,1 8,6 9,8 10,1 Doanh nghiệp 55,4 60 60,4 61,2 Khu vực khác 3,1 2,6 2,1 1,4
Nguồn: Nguồn: OECD science, technology and industry outlook 2004
Cơ quan quản lý vĩ mô KHCN và giáo dục
Hệ thống thị trường nhân tài, tài chính, vật tư
Cơ cấu tổ chức bộ máy KH&CN
bộ KH&CN
Tổ chức NC
nhà nước Hệ thống NC nông nghiệp Hệ thống NC công nghiệp Thương mại hoá, ngành nghề mới
Trung tâm dịch vụ
Lò ươm công nghệ
Trang 29Tổ chức nghiên cứu của Chính phủ được Chính phủ cấp kinh phí hoạt động, ngoài nguồn này ra còn có nguồn từ các hoạt động thị trường như hợp tác với các doanh nghiệp, trao đổi kỹ thuật và từ việc thành lập doanh nghiệp trong các viện nghiên cứu
Nguồn kinh phí chủ yếu của các cơ quan nghiên cứu gồm:
- Chính phủ cấp một lượng xác định cho kinh phí hoạt động;
- Thực hiện dự án KH&CN cho Chính phủ;
- Từ các loại quỹ KH&CN khác nhau (ví dụ: quỹ khoa học tự nhiên…)
Như vậy kinh phí của Chính phủ không phải là nguồn chính trong tất cả các nguồn kinh phí của cơ quan nghiên cứu, tuy nhiên đối với hoạt động NC&PT kinh phí Chính phủ cấp vẫn là nguồn chủ yếu và đóng vai trò quan trọng
Các chương trình KH&CN của Chính phủ chủ yếu là các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu - triển khai công nghệ cao, công nghệ ngành Những nhiệm vụ này do các viện NC&PT của Chính phủ và trường đại học thực hiện là chủ yếu Đối với những chương trình do quỹ khoa học tự nhiên cấp kinh phí thì các nhà khoa học có thể tự do đăng ký chủ trì thực hiện không nhất thiết phải ở trong cơ quan nghiên cứu của Chính phủ hay trường đại học
Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc (CAS) là cơ quan NC&PT quan trọng nhất, chủ yếu thực hiện nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu công nghệ cao Viện được thành lập năm 1949 gồm có123 viện nghiên cứu về khoa học tự nhiên và công nghệ cao/ mới, 400 doanh nghiệp KH&CN, 3 trường đại học Viện có các phòng thí nghiệm mở ở cấp quốc gia và 20 trung tâm nghiên cứu kỹ thuật cấp quốc gia
Ngoài ra, trong nhiều viện nghiên cứu của Chính phủ và trong các trường đại học, Chính phủ đã cho phép thành lập các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia để phục vụ cho hoạt động NC&PT
Để thiết lập hệ thống đổi mới quốc gia và phân bổ tối ưu nguồn lực KH&CN, Nhà nước đã quyết định cải tổ 380 viện nghiên cứu trung ương có hoạt động chính là phát triển các sản phẩm mới và quy trình mới thành các doanh nghiệp hoặc sáp nhập vào doanh nghiệp hoặc thành các doanh nghiệp công nghệ Chính phủ hỗ trợ cho các viện nghiên cứu vì lợi ích xã hội Đồng thời các viện nghiên cứu địa phương cũng có những thay đổi tương tự
Trang 302.2 Tổ chức NC&PT ở khu vực doanh nghiệp
Các doanh nghiệp thành lập viện phát triển kỹ thuật có chức năng thực hiện hoạt động NC&PT Hoạt động NC&PT trong doanh nghiệp không nhiều, vì thế đã tạo nên có
sự khác biệt lớn với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên theo xu thế phát triển, sự đóng góp về NC&PT của doanh nghiệp đã ngày càng tăng lên rõ rệt Vị trí của các hoạt động NC&PT của Nhà nước ngày càng được khẳng định Việc chuyển các viện
nghiên cứu của Chính phủ thành doanh nghiệp cũng làm mạnh thêm xu thế này
Năm 2000, Trung Quốc công nhận những doanh nghiệp có chi phí cho NC&PT đạt 5% doanh thu bán hàng là doanh nghiệp công nghệ cao và sẽ được cấp chứng chỉ Chính sách này đã khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho NC&PT
Chính phủ đã xây dựng nhiều khu công nghệ cao quốc gia, tính đến năm 2002 là
52 khu với mục đích thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ cao Trong các khu công nghệ cao đó, các doanh nghiệp công nghệ cao chủ yếu là doanh nghiệp khoa học và kỹ thuật vừa và nhỏ có đầu tư lớn cho hoạt động NC&PT
2.3 Tổ chức NC&PT trong các trường đại học
Trong nhiều năm kinh phí dành cho hoạt động NC&PT trong các trường đại học, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản còn thấp Tuy nhiên, những năm gần đây Chính phủ đã chú trọng vào hoạt động NC&PT của trường đại học nên chi phí dành cho NC&PT trong các trường đại học đã tăng lên rõ rệt Tốc độ tăng ở khu vực này đã lớn hơn tốc độ tăng trong phạm vi cả quốc gia Cuối những năm 90, Chính phủ tiến hành điều chỉnh hệ thống đại học trên cả nước, trên 1000 trường đã được điều chỉnh, sáp nhập nên hoạt động NC&PT của các trường đã phát triển
Hoạt động NC&PT trong trường đại học gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm Ở Trung Quốc, Viện Hàn lâm khoa học và hệ thống các trường đại học là những lực lượng chính tiến hành nghiên cứu cơ bản Mục tiêu của Trung Quốc là phát triển khu vực đại học thành lực lượng chính trong nghiên cứu cơ bản trên toàn lãnh thổ Tuy nhiên trường đại học vẫn tiến hành các nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm trên cơ sở kết hợp với giảng dạy
2.4 Tổ chức NC&PT phi lợi nhuận
Đứng đầu là Hiệp hội KH&CN Trung Quốc (CAST) Đây là tổ chức phi chính phủ đồng thời cũng là lực lượng xã hội chủ yếu thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình vì sự phát triển KH&CN của đất nước Hiệp hội KH&CN Trung Quốc thành lập năm 1958 gồm rất nhiều tổ chức, cá nhân, nhóm người (hội) hoạt động trong nhiều lĩnh vực KH&CN khác nhau như khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, công nghệ thiết kế… nhưng cùng có chung một mục đích là phát triển KH&CN quốc gia
Tổ chức NC&PT phi lợi nhuận gồm những tổ chức do các hiệp hội thương mại, nhóm hàn lâm hoặc chính quyền địa phương thành lập Các tổ chức này chủ yếu tham gia vào các hoạt động NC&PT phục vụ cho phúc lợi xã hội Nguồn tài chính cho hoạt động của các tổ chức này chủ yếu từ các hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, các tổ
Trang 31chức nước ngoài… Mặc dù có tham gia vào các hoạt động kinh doanh nhưng không phải
vì mục tiêu lợi nhuận mà chỉ làm phong phú thêm nguồn tài chính của tổ chức
III Chuyển đổi các viện NC&PT ở Trung Quốc
Trung Quốc quyết định tiếp tục cải cách thể chế KH&CN với tư tưởng chủ đạo gắn
kết nghiên cứu với sản xuất Với nguyên tắc “ổn định một đầu, mở rộng một đầu”, Trung
Quốc tập trung đầu tư cho các viện nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu mang tính công ích
(ổn định một đầu) Các viện còn lại khuyến khích chuyển đổi theo hướng thành lập các
doanh nghiệp KH&CN hoặc liên kết với các doanh nghiệp (mở rộng một đầu)6
Việc chuyển đổi trước tiên áp dụng cho các viện nghiên cứu ứng dụng, sau đó mới
xét đến áp dụng đối với các viện công ích có khả năng đem lại lợi nhuận
3.1 Các hình thức chuyển đổi các viện NC&PT
- Viện chuyển thành doanh nghiệp độc lập/ doanh nghiệp KH&CN;
- Viện sáp nhập vào doanh nghiệp, trở thành 1 bộ phận của doanh nghiệp;
- Viện chuyển thành một bộ phận trong trường đại học;
- Viện chuyển thành các đơn vị dịch vụ tư vấn và các hình thức khác
Trong quá trình chuyển đổi, Bộ KH&CN sẽ gợi ý cho các viện chuyển đổi theo
những hình thức phù hợp Đối với các viện NC&PT sáp nhập vào các doanh nghiệp thì
các viện là đơn vị hoàn toàn độc lập trong các doanh nghiệp Các viện có quyền tự quyết
về tài chính, về các hoạt động của viện Vì vậy các viện vẫn thực hiện nghĩa vụ về thuế
đối với thu nhập từ việc bán công nghệ
Bảng 2 Chuyển đổi tổ chức NC&PT Trung Quốc
Số lượng viện Tổng số Trung ương Địa phương
Chuyển vào các doanh nghiệp công nghiệp 340 160 180
Chuyển thành các doanh nghiệp KH&CN lớn 37 33 4
Chuyển thành các trung tâm đổi mới công
Chuyển thành doanh nghiệp KH&CN 511 63 448
Trở thành doanh nghiệp công nghiệp đương
nhiên khi tổ chức mẹ chuyển đổi 26 9 17
Chuyển thành đơn vị trong trường đại học 7 3 4
Trang 32Một số chính sách hỗ trợ quá trình chuyển đổi các viện thành doanh nghiệp:
- Miễn thuế thu nhập 5 năm, miễn thuế đối với doanh thu từ hoạt động chuyển giao công nghệ, miễn thuế sử dụng đất cho hoạt động NC&PT;
- Được tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đã được nhận trước đây;
- Có quyền đăng ký nhận nhiệm vụ KH&CN của Nhà nước
- Được hưởng mọi quyền lợi của đơn vị khoa học trước khi trở thành doanh nghiệp;
- Được chủ động trong việc lựa chọn loại hình tổ chức (có thể là doanh nghiệp độc lập hoặc là thành viên của doanh nghiệp)
Tính đến cuối năm 2002 đã có 1185 viện được đề nghị chuyển đổi và có 946 viện chuyển đổi thành công Trong số đó có 273 viện trực thuộc chính quyền trung ương và
673 viện trực thuộc chính quyền địa phương (xem bảng 2)
3.2 Những hình thức tổ chức mới được tạo ra bởi quá trình cải cách:
Công cuộc cải cách thể chế KHKT của Trung Quốc được bắt đầu từ việc cải cách cục diện và cơ chế nội bộ hệ thống KHKT, sau đó từng bước thâm nhập vào nông thôn, xí nghiệp và các lĩnh vực rộng lớn của tiến bộ KHKT xã hội Về cách làm, lấy cải cách cơ chế vận hành làm trọng điểm, lôi cuốn theo những điều chỉnh cơ cấu tổ chức và cải cách chế độ quản lý cán bộ KHKT Triển khai thương phẩm hoá thành quả KHKT, khai thác thị trường kỹ thuật, thực thi "luật hợp đồng kỹ thuật", "luật patent; cải cách chế độ cấp phát bao cấp tài chính KHKT, bảo đảm quyền tự chủ, năng động của cơ quan nghiên cứu khoa học, có chính sách khuyến khích cán bộ KHKT tìm tòi, sáng tạo; xúc tiến hợp tác theo chiều ngang giưã KHKT và kinh tế; có chính sách thúc đẩy tiến bộ KHKT đối với nông thôn và xí nghiệp Thực thi một loạt chế độ quản lý mới như chế độ tiền vốn khoa học, chế độ hợp đồng kỹ thuật, chế độ bao thầu, chế độ trách nhiệm thủ trưởng, chế độ hạch toán kinh tế, chế độ bổ nhiệm, v.v đồng thời thực thi đồng bộ các chính sách về tài chính, thuế quan công cuộc cải cách các viện NC&PT ở Trung Quốc theo hàng loạt mục tiêu:
- Giảm đáng kể sự phụ thuộc của nhiều viện vào ngân sách ấn định hàng năm của nhà nước;
- Đưa ra các quá trình cạnh tranh, hướng ngoại hoặc hướng theo thị trường trong việc tài trợ;
- Thành lập, trong phạm vi các viện, những ghép nhóm chuyên môn hoá tập trung các đội ngũ chuyên gia cao cấp vào các chương trình "nghiên cứu chiến lược" hoặc phục vụ như phương tiện thương mại hoá các công nghệ
Những tổ chức chính được tạo ra để hoàn thành các mục tiêu này
- Quĩ khoa học tự nhiên quốc gia (NNSF);
- Các phòng thí nghiệm quốc gia chủ chốt được tuyển lựa theo khuyến nghị của NNSF và được tài trợ bởi SSTC, SPC và trong một số trường hợp bởi ngân hàng
Trang 33thế giới;
- Các phòng thí nghiệm nghiên cứu của uỷ ban nhà nước về giáo dục;
- Các trung tâm nghiên cứu kỹ thuật công nghệ do SSTC hỗ trợ;
- Các trung tâm nghiên cứu kỹ thuật do uỷ ban nhà nước về giáo dục hỗ trợ (và một
số sắp được tạo ra với sự hỗ trợ của ngân hàng thế giới)
SSTC đã phác thảo một loạt các "trung tâm nghiên cứu quốc gia" mới, được xây dựng trong kế hoạch 5 năm lần thứ 9, ít nhất xuất hiện ba loại hình tổ chức khác:
- Mạng lưới phân bố theo địa dư, trong đó các viện, các phòng thí nghiệm ở các địa phương khác nhau sẽ liên kết các hoạt động của chúng;
- Tổ hợp ở cùng một địa phương, trong đó các tổ chức khác nhau (các phòng thí nghiệm chủ yếu của quốc gia, các viện đại học, các viện thuộc hiệp hội KH&CN Trung Quốc CAST và các hội thành viên) nối kết với nhau cùng nỗ lực xác định một chương trình nghiên cứu chung dựa trên sức mạnh của các thành viên khác nhau;
- Trung tâm mới với những phương tiện mới, một phiên bản đắt giá hơn, nó thu hút đầu tư vào cơ sở vật chất mới
Ngoài ra, trong xu hướng phát triển hợp tác quốc tế về KH&CN, đặc biệt là tính liên kết quốc tế trong các hoạt động NC&PT của các hãng công nghiệp lớn như Intel, Siemen, Microsoft,… đã hình thành một loại hình tổ chức NC&PT mới ở Trung Quốc
Đó là các tổ chức NC&PT có yếu tố sở hữu nước ngoài, đặt trên lãnh thổ Trung Quốc thực hiện các nhiệm vụ NC&PT theo phân cấp của các hãng mẹ Loại hình tổ chức NC&PT này hình thành từ sự thay đổi chiến lược kinh doanh của các hãng lớn, nhằm phân cấp triệt để theo chuỗi sản phẩm cụ thể
IV Một số bài học qua kinh nghiệm Trung Quốc
Tóm lại, có thể thấy quá trình cải cách tổ chức NC&PT Trung Quốc xuất phát từ nhận thức sâu sắc quy luật vận động khách quan của hoạt động KH&CN cũng như tổ chức NC&PT Quá trình phát triển và cải cách tổ chức NC&PT Trung Quốc là một quá trình tự phát triển và đúc rút kinh nghiệm của chính mình Nhiều bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển không chỉ là các bài học thành công mà còn có các bài học thất bại Tuy vậy, tốc độ phát triển của mạng lưới tổ chức NC&PT không ngừng Như vậy, thông qua nghiên cứu kinh nghiệm Trung Quốc trong cải cách tổ chức NC&PT, có 3 vấn
đề nổi bật cần quan tâm:
- Nhận thức sâu sắc quy luật vận động khách quan của hoạt động KH&CN, kết hợp linh hoạt vai trò của Chính phủ trong quản lý và điều tiết
- Đặt KH&CN quốc gia trong mối tương quan với nền kinh tế và KH&CN thế giới
- Tích cực và chủ động cải cách thể chế KH&CN: Nguyên tắc, kế hoạch, hành động
Về mặt thể chế, nhà nước Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp chính sách khuyến khích các nhà khoa học hoạt động, khuyến khích khu vực công nghiệp đầu tư và
Trang 34ứng dụng công nghệ, nâng cao nhận thức của xã hội đối với hoạt động KH&CN trên thực
tế, để giải phóng năng lực nghiên cứu, Trung Quốc đã kiên trì nguyên tắc “trăm hoa đua
nở, trăm nhà đua tiếng”, bảo vệ tự do học thuật, dân chủ trong cộng đồng khoa học
Cùng với các kế hoạch dài hạn, hàng năm thông qua uỷ ban quỹ khoa học tự nhiên, Trung Quốc hỗ trợ tài chính đối với các dự án nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ đề nghị từ phía cộng đồng khoa học theo định hướng phát triển hàng năm đã được quy định của quỹ đây cũng là biện pháp tạo cơ hội cho các nhà khoa học được tiếp cận trực tiếp tới kinh phí đầu tư và thể hiện ý tưởng của mình kết quả từ các nghiên cứu này
là nền tảng khoa học vững chắc để xây dựng một nền khoa học công nghệ phát triển của quốc gia
Các nguyên tắc được vận dụng triệt để trong xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ NC&PT quốc gia là nguyên tắc hướng đích (bằng các chỉ tiêu-mục tiêu cụ thể, kế hoạch định hướng ), nguyên tắc thứ tự ưu tiên (các chương trình nhà nước, dự án hàng năm ), nguyên tắc lợi ích (phục vụ cho phát triển nền kinh tế); nguyên tắc đảm bảo các nguồn lực tới hạn (xây dựng các phòng thí nghiệm, điều kiện nghiên cứu), nguyên tắc tự do dân chủ, phối hợp trong nghiên cứu (thực hiện kiên trì chủ trương trăm hoa đua nở )
Trong quản lý, các cơ quan bộ phận chức năng có sự phối kết hợp với nhau và phân vai theo mục tiêu quản lý và nội dung công việc ở một đất nước rộng lớn như Trung Quốc với bề rộng và chiều sâu của vấn đề quản lý, chồng chéo về hành chính giữa các cơ quan quản lý là điều không thể tránh khỏi song đã được tối thiểu hoá bằng cơ chế linh hoạt, tuân theo nguyên tắc của loại hình thể chế quản lý KH&CN điều tiết hài hoà
Trang 35CHƯƠNG III NHẬN DẠNG CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC NC&PT Ở CHLB ĐỨC
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
I Lịch sử hình thành và phát triển các loại hình tổ chức KH&CN CHLB Đức
Sự phát triển của KH&CN CHLB Đức gắn liền với sự phát triển của các trường đại học truyền thống từ thế kỷ thứ 14 đến 20 Dưới tác động mạnh mẽ của quá trình phát triển công nghiệp và công nghệ ở thế kỷ 19, hoạt động KH&CN phát triển theo xu hướng tách
ra từ các trường đại học Nhu cầu của thương mại và công nghiệp về nhân lực được đào tạo có hệ thống và huấn luyện tốt nghề nghiệp dẫn đến sự hình thành các tổ chức riêng biệt cho đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ Các trường đại học truyền thống
mở rộng thành các trường đại học kỹ thuật 7/9 trường đại học kỹ thuật được thành lập ở thế kỷ 19
Các tổ chức nghiên cứu khác cũng được thành lập ở ngoài trường đại học Các Bang và Đế chế Đức đã thành lập các viện nghiên cứu Nhà nước riêng biệt phục vụ trực tiếp (thường là gắn với việc giải quyết các vấn đề thực tế) cho công tác điều hành Hàng loạt các viện nghiên cứu và thử nghiệm của Nhà nước được thành lập
Nhằm tập trung nguồn lực nghiên cứu, vào đầu thế kỷ 20 đã nảy sinh khuynh hướng tập trung các viện tách biệt lại nhằm độc quyền nghiên cứu Tiền thân của Hiệp hội
hỗ trợ phát triển khoa học Max Plank đã được thành lập như vậy (1909) và ngay sau đó có tới 20 viện thành viện hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, y học và
4 viện làm công tác nghiên cứu nhân văn
Chiến tranh thế giới lần I đã chấm dứt quá trình phát triển này
Tới năm 1919, những người đứng đầu thương mại, công nghiệp, khoa học và chính trị đã cùng nhau hoạt động nhằm hỗ trợ nghiên cứu và giúp đỡ nền khoa học Đức vượt qua thời kỳ khó khăn do mất mát cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân lực Họ đã sáng lập ra Hội cứu trợ khoa học Đức (1920) (một trong 2 tổ chức tiền thân của Hội nghiên cứu Đức DFG ngày nay) Cũng trong thời gian này Hội đỡ đầu giải thoát hoàn cảnh khó khăn được thành lập nhằm khuyến khích gia tăng quĩ cá nhân cho hoạt động khoa học trong khu vực thương nghiệp và công nghiệp (ngày nay tổ chức này gọi là Hội đỡ đầu phát triển khoa học, nghệ thuật ở nước Đức)
Thập kỷ 30 đã xảy ra nhiều biến cố làm cản trở sự phát triển liên tục của công tác nghiên cứu Thời kỳ này các nhà khoa học phải di cư, di tản; các trường đại học giảm tuyển sinh Đến 1949 việc xây dựng lại đất nước vẫn chưa thực sự bắt đầu Đối với khoa học thì trước hết cần phải tạo dựng lại cơ sở vật chất cho hoạt động nghiên cứu
Hiến pháp 1949 của CHLB Đức đã đảm bảo tự do cho nghiên cứu và giảng dạy Phù hợp với nguyên tắc Liên bang, Hiến pháp chỉ rõ trách nhiệm được phân chia giữa Liên bang và các Bang trong việc cung cấp tài chính cho các trường đại học Thời kỳ này, những nhà lãnh đạo cơ quan khoa học và lãnh đạo Nhà nước phải đương đầu với 2 khó khăn :
Trang 36- Khắc phục thiếu thốn cơ sở vật chất do chiến tranh gây ra và
- Bắt kịp với nhịp điệu phát triển của khoa học trên thế giới
Như vậy để giải quyết vấn đề trên không chỉ gia tăng công tác cấp tài chính mà còn phải tạo ra cơ chế tổ chức thích hợp để hình thành các quĩ phát triển khoa học trên qui mô quốc gia Các Bang và Liên bang đều cố gắng điều hoà, phối hợp nỗ lực của mình trong việc lập kế hoạch và tổ chức chương trình tài chính Trên cơ sở đó cơ quan kế hoạch hoá phát triển và điều hoà đã ra đời Bước đầu một tổ chức tự nguyện về điếu hoà, phối hợp nội bộ giữa các Bang được thành lập với tên gọi là : Hội đồng thường trực của các Bộ trưởng Bộ Đào tạo và Văn hoá của các Bang Các thành viên của nó trong chính phủ Liên bang chính là các Vụ đạo tạo và văn hoá của Bộ Liên bang về các vấn đề nội bộ các Bang
và Bộ đối ngoại Liên bang Năm 1935 một Bộ Liên bang về năng lượng hạt nhân được thành lập (với sự hạn chế đã được đề cập trong Hiến pháp) có trách nhiệm điều hoà một lĩnh vực đặc biệt mới của khoa học Đến năm 1962 Bộ Liên bang này được giao thêm một
số nhiệm vụ từ Bộ các vấn đề nội bộ các Bang và đổi tên thành Bộ Liên bang về nghiên cứu khoa học
Ngay từ 1957 Chính phủ Liên bang và các Bang đã cùng nhau ký hiệp ước về thành lập Hội đồng khoa học - một cơ quan có nhiệm vụ chủ yếu là điều hoà Cơ quan này từ đó với hàng loạt khuyến nghị đã ảnh hưởng có tính quyết định đến quá trình nghiên cứu và giảng dạy và trở thành công cụ có hiệu quả trong công tác điều hoà giữa Chính phủ Liên bang, các Bang và cộng đồng khoa học
Mặt khác Chính phủ Liên bang cũng đã thành lập một Uỷ ban của Chính phủ về nghiên cứu khoa học, đào tạo và huấn luyện Điều này biểu hiện sự quan tâm đặc biệt của các nhà chức trách đối với vấn đề này
Bên cạnh các cơ quan khoa học lớn của Nhà nước, được Nhà nước quản lý, thì còn
có một loạt các cơ quan tự trị có tầm quan trọng đặc biệt đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển khoa học, quốc gia, bao gồm DFG, MPG và FhG
Một phần tương đối lớn các hoạt động nghiên cứu được khu vực tư nhân thực hiện Các hãng công nghiệp lớn tiến hành xây dựng các phòng thí nghiệm nghiên cứu của riêng mình Những hãng trung bình thì cùng nhau liên kết thành lập các viện nghiên cứu chung hoặc ký các hợp đồng vơí các trường đại học hoặc với viện Max Plank; Bên cạnh tự cấp tài chính cho mục tiêu nghiên cứu của riêng mình, công nghiệp và thương mại còn hỗ trợ một phần tài chính khá lớn cho các hiệp hội đỡ đầu nhằm phát triển khoa học và nghệ thuật ở Đức
Một bối cảnh rất quan trọng của nước Đức ngày nay là thời điểm sáp nhập hai nước Đức đầu những năm 90 Đây là giai đoạn mà mô hình tổ chức hệ thống KH&CN được áp dụng từ Tây Đức sang Đông Đức Sự phát triển này thấy rõ ở lịch sử phát triển các tổ chức KH&CN lớn của Đức như FhG, MPG, DFG,…
II Cơ chế chính sách quản lý KH&CN của CHLB Đức
Nhà nước của Đức được tổ chức theo cơ cấu Chính phủ Liên bang và 16 chính phủ bang và cùng thoả thuận đầu tư cho các tổ chức NC&PT để thực hiện các nhiệm vụ
Trang 37nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Qua sơ đồ sau2, ta có thể thấy rõ sự phân chia trách nhiệm đóng góp đầu tư thể hiện qua những tỷ phần giữa liên bang và bang (Trong sơ đồ, các đường ngang là đường đồng mức trách nhiệm phân chia giữa Liên bang
và bang)
Sơ đồ 2 Phân chia trách nhiệm cấp kinh phí hoạt động cho các loại hình tổ chức KH&CN
60:40 DFG(chưa có số liệu) 90:10
FhG(47)
MPG(79 tổ chức) 90:10
IV
V
VI VII
Hiện nay, các nhiệm vụ NC&PT của nhà nước của Đức được thực hiện bởi cả các
tổ chức thuộc nhà nước (gồm các trường đại học công, tổ chức NC&PT thuộc nhà nước)
và các tổ chức ngoài nhà nước (các viện, tổ chức nghiên cứu thuộc khu vực công nghiệp,
tổ chức NC&PT tư nhân) Cả tư nhân và nhà nước đều tham gia và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Công tác tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN của CHLB Đức được tổ chức trên cơ sở Hiến pháp, cụ thể là: tự do cho khoa học và nghiên cứu; bảo vệ tài sản của tư nhân; kinh tế thị trường; nhà nước Liên bang và nhà nước bang cùng phối hợp tổ chức nghiên cứu
Nghiên cứu không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước (nhà nước liên bang, nhà nước bang) mà còn là trách nhiệm của kinh tế, tư nhân (cá nhân, hiệp hội, quĩ) Hàng năm Đức chi cho NC&PT 85 tỷ mác (tương đương 45 tỷ USD) với số lượng cán bộ NC&PT là 460.000 người (1/2 là nhà khoa học và 1/2 còn lại là nhân viên kỹ thuật), 2/3 chi phí này
do công nghiệp cung cấp Năm 1999, tổng kinh phí dành cho KH&CN là 92.634 triệu
DM chiếm 2,4% GDP trong đó nhà nước đóng góp 34% (nhà nước liên bang đóng góp
0:100 Các trường đại học(*) I
Trang 3816.700 triệu DM và nhà nước bang 14.860 triệu DM)7
Đầu tư cho KH&CN CHLB Đức ngày nay được kết hợp giữa hai nguồn cơ bản từ ngân sách nhà nước và đầu tư tài chính từ công nghiệp, trong đó đầu tư từ công nghiệp chiếm tỷ trọng 60-70%
Đầu tư từ ngân sách Nhà nước CHLB Đức cho phát triển KH&CN được thực hiện chủ yếu dưới 3 hình thức: đầu tư theo cơ quan nghiên cứu và phát triển; đầu tư cho thực hiện các chương trình KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đầu tư để thực hiện các chương trình, đề tài thông qua Quỹ KHCN
- Nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế-xã hội chủ yếu do Bộ Liên bang
về đào tạo và nghiên cứu (BMBF) cấp kinh phí Loại đề tài này mang màu sắc kinh
Đánh giá nhiệm vụ cho phép xác định tính hợp lý của nhiệm vụ nghiên cứu Chu
trình đánh giá đối với nhiệm vụ KH&CN do BMBF cấp kinh phí là Trên xuống (yêu cầu của Nhà nước) - Dưới lên (Nhà khoa học đề xuất đề tài phù hợp mục tiêu của Nhà nước đặt ra) - Trên xuống (Nhà nước quyết định đầu tư) Đối với nhiệm vụ KH&CN do DFG cấp kinh phí Đánh giá xác định nhiệm vụ được thực hiện theo chu trình - Dưới lên (Nhà khoa học tự đề xuất đề tài nghiên cứu) - Trên xuống (DFG quyết định đầu tư)
Đánh giá tổ chức KH&CN cho phép CHLB Đức đưa ra các quyết định quản lý
KH&CN hiệu quả theo các hướng: đầu tư mạnh mẽ theo yêu cầu của các tổ chức đạt chuẩn, chuyển đổi nhiều viện nghiên cứu sang hoạt động dưới dạng doanh nghiệp, cơ cấu lại nhiều viện không đạt tiêu chuẩn, giải thể các viện của nhà nước hoạt động kém hiệu quả
Kết hợp hài hoà hai hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN trên đây sẽ đảm bảo xã hội hoá hoạt động nghiên cứu phát triển phát huy tính tích cực sáng tạo của cộng đồng Khoa học vừa đảm bảo phát triển những lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước
Các nguyên tắc cơ bản của nhà nước trong chính sách NC&PT là đảm bảo tính
liên tục (một hướng nghiên cứu theo đuổi nhiều năm) và tính cạnh tranh (tạo ra sự cạnh
tranh thi đua trong hoạt động NC&PT) Hệ thống văn bản pháp luật mà Đức đã ban hành bao gồm: Đường lối chỉ đạo của Liên bang: bao gồm các định hướng, phương hướng phát triển; Thoả thuận giữa liên bang và bang về khuyến khích nghiên cứu; Quy chế về ngân sách liên bang; Luật Cơ bản; Luật thuế; Luật Patăng; Luật thủ tục quản lý hành chính; Luật bảo vệ dữ kiện; Luật về kỹ thuật gen; Luật bảo vệ súc vật
7 Nguồn: cập nhật và xử lý từ báo cáo của TS.Heike Bauer-Văn phòng quốc tế bộ BMBF, Hội thảo tháng 11/2000 tại
Bộ KHCNMT Việt Nam
Trang 39Hiện tại CHLB Đức tổ chức hoạt động NC&PT theo một phổ bao gồm: nghiên cứu dài hạn (NCCB); nghiên cứu trung hạn (NCƯD); nghiên cứu ngắn hạn (TKTN, trình diễn) Điều quan trọng là việc phối kết hợp các nội dung nghiên cứu này với nhau thành một thể thống nhất Người hoạt động ở khâu sau phải biết sử dụng kết quả nghiên cứu của người ở khâu trước và người làm việc ở khâu trước phải biết nhu cầu của người nghiên cứu ở khâu sau cần gì để đặt nội dung nghiên cứu của mình cho phù hợp Khi đã xác định được các nội dung cần nghiên cứu của nhà nước trong một giai đoạn nhất định thì việc bố trí thực hiện có thể tiến hành theo 2 cách:
1 Thành lập ra các viện để thực hiện các hướng nghiên cứu lâu dài mà nhà nước cần theo đuổi, và:
2 Thành lập ra các chương trình, đề tài để thực hiện một số nội dung theo cơ chế thị trường
Hai loại công việc này phải thống nhất với nhau và không được trùng lặp Trên cơ
sở này, Bộ Liên bang về đào tạo và nghiên cứu (BMBF) cấp kinh phí cho hoạt động NC&PT theo cả 2 cách:
1 Cấp theo tổ chức (institutional funding còn gọi là basic funfing) Theo cách này nhà nước lập ra/xác định một số viện với một hướng nghiên cứu lâu dài nhất định rồi cấp lương, cung cấp trang thiết bị, nhà xưởng cho các viện đó nghiên cứu Mức cấp là mức tối thiểu, đủ đảm bảo cho cơ sở đó làm việc liên tục trên một hướng nghiên cứu đã chọn (nguyên tắc liên tục) Sự điều hoà, can thiệp của BMBF ở đây về nội dung nghiên cứu bị hạn chế vì hướng nghiên cứu đã được chọn Chỉ khi hướng nghiên cứu đó quyết định không theo đuổi nữa thì viện đó bị đóng cửa, còn thì phải để viện đó tự chủ nghiên cứu, BMBF phải cấp kinh phí cho họ hoạt động
Cấp theo cách này thì thiếu tính cạnh tranh Những vấn đề gì các cơ quan chính sách (BMBF) không biết được về nội dung cần nghiên cứu thì dùng cơ chế này để cấp kinh phí
2 Cấp theo đề tài (project funding) Theo cách này, nhà nước căn cứ vào tình hình thực tế, ý kiến tư vấn của để lập ra các chương trình nghiên cứu (có mục tiêu nhất định) rồi kêu gọi các cơ quan nghiên cứu tham gia thực hiện theo cơ chế nêu trên Mức can thiệp, quyết định của BMBF theo cách này cao hơn cách trên
Đây là cách cấp kinh phí mang tính cạnh tranh/thị trường (nguyên lý cạnh tranh)
Đề tài cho các viện nhà nước, đại học thực hiện thì được cấp kinh phí 100%; Đề tài do công nghiệp thực hiện thì nhà nước chỉ hỗ trợ không quá 50% kinh phí của toàn bộ đề tài Những vấn đề nghiên cứu gì các cơ quan chính sách như BMBF biết rõ thì dùng cơ chế này để cấp kinh phí Trên thực tế kinh phí này lại quay về các viện nghiên cứu nhưng chỉ
có điều là theo cơ chế khác mà BMBF kiểm soát được tốt hơn
BMBF phối kết hợp sử dụng cả hai cách này để cấp tài chính cho các viện NC&PT hoạt động Hàng năm, BMBF cấp một lượng kinh phí nhất định theo cách thứ nhất cho các viện đang hoạt động, đó là các viện được mặc nhiên thừa nhận đang tiến hành nghiên cứu theo một hướng nghiên cứu lâu dài được giao Còn cấp kinh phí theo cách hai, hằng năm Bộ BMBF có khoảng 20 chương trình nghiên cứu (khoảng 35% tổng kinh phí của
Trang 40nhà nước dành cho NC&PT) Các chương trình này hình thành trên cơ sở đề xuất của các giới thông qua các cuộc đối thoại và đến mức nào đó xét thấy cần thiết thì thành lập nhóm
“đặc nhiệm” (adhoc) để tư vấn cho Bộ trưởng (bao giờ cũng có thành phần công nghiệp,
vì họ chi 2/3 kinh phí cho nghiên cứu) Nhóm tiến hành phân tích các vấn đề cần nghiên cứu, chỉ ra các khả năng giải quyết, xác định mục tiêu khoa học, tài chính cần thiết Chương trình phải chuyển sang Bộ Tài chính xin ý kiến đồng ý và sau đó chuyển lên Quốc hội phê duyệt Chương trình được thông báo rộng rãi cho giới khoa học, công nghiệp tham gia thực hiện bằng cách viết thuyết minh đề tài xin tài trợ Việc tổ chức thực hiện chương trình thường được giao cho Ban Quản lý đề tài (một Ban có thể nhận được nhiều trọng tâm nghiên cứu của các chương trình khác nhau) Ban là một đơn vị do BMBF trả lương nhưng thường được đặt tại một viện nghiên cứu và vẫn chịu sự chỉ đạo của Bộ (thông qua một Ban quản lý ngành – Fachreferat) Ban quản lý đề tài có một lãnh đạo gọi là Projekttraeger Ban tiếp nhận các thuyết minh đề cương đề tài, tổ chức xét duyệt nội dung, theo d”i thực hiện và được quyền quyết định kinh phí của một số đề tài theo sự cho phép của Bộ quy định Chi phí cho bản thân Ban quản lý đề tài không được quá 5% kinh phí của chương trình được giao quản lý (chi từ kinh phí nghiên cứu mà Ban
đang quản lý)
Trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế, các chính sách quản lý KH&CN CHLB Đức cũng theo xu hướng gắn với sự phát triển chung của thế giới Cụ thể ta có thể thấy được mối liên kết chặt chẽ giữa chính sách KH&CN CHLB Đức với chính sách KH&CN của Châu Âu
Năm 2004, tổng kinh phí dành cho NC&PT (GERD) khoảng 54,9 tỷ EUR, chiếm 2,48% GDP, trong đó công nghiệp đóng góp 2/3 kinh phí So với mục tiêu GERD chiếm 3% GDP của châu Âu, tỷ lệ hiện nay của Đức vẫn còn thấp song đã cao hơn mặt bằng chung của Liên minh Châu Âu (1,9% GDP) (Số liệu năm 2004) Năm 2007, ngân sách nhà nước cho hoạt động NC&PT vào khoảng 10 tỷ EUR, trong đó Bộ Nghiên cứu và Giáo dục liên bang quản lý 57%, Bộ Kinh tế quản lý 20%, Bộ Quốc phòng 12%, và phần còn lại 11% do 6 Bộ khác quản lý Như vậy, mức chi tiêu này đạt 2,8% tổng chi ngân sách nhà nước, thấp hơn tỷ lệ 3,3% tương ứng những năm 808
Để đạt mục tiêu GERD đạt 3% GDP, Đức cần tăng thêm 10 tỷ EUR, trong đó từ ngân sách nhà nước là 4 tỷ và từ công nghiệp 6 tỷ Để thực tế hoá mục tiêu này, Chính phủ gần đây đã thông qua “Chiến lược Công nghệ cao của Đức”, với cam kết tăng thêm
15 tỷ EUR cho NC&PT tới năm 2009 Khoản tài chính được trông chờ từ việc tăng thuế VAT từ 16% lên 19% (Luật thuế này chính thức hiệu lực từ tháng 1 năm 2007)
III Hệ thống tổ chức KH&CN của CHLB Đức
Hệ thống cơ quan NC&PT của Đức có đặc trưng:
- Hệ thống tổ chức mang tính chuyên biệt cao Nổi bật là chuyên biệt về chức nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng của các tổ chức nghiên cứu bên ngoài trường
8
Dominik F Schlossstein, Recent developments in Germany’s S&T indicators and S&T policies, BMBF 2006