1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu luận cứu khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

254 610 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu luận cứu khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả TS. Hồ Đức Việt, GS.TS. Nguyễn Minh Thuyết, PGS.TS. Trịnh Thị Hoa Mai, TS. Đỗ Văn Vĩnh, TS. Mai Hà, TS. Bùi Văn Long, CN. Đào Bích Hạnh, GS.TSKH. Vũ Hy Chương, ThS. Trần Chí Đức, TS. Nguyễn Văn Đức, ThS. Hoàng Minh Thức, KS. Dương Quang San, GS.TS. Bùi Công Quế, KS Nguyễn Đức Tâm, TS. Trần Việt Hùng, TSKH Vũ Đào Hùng, TS. Phan Minh Tâm, TS. Nguyễn Thanh Thịnh, TS. KTS. Tô Thị Toàn, CN. Trịnh Ngọc Cường, TS. Lê Đình Tiến, TS. Trần Ngọc Ca, Nguyễn Mai Phương, Nguyễn Thanh Tùng, TS. Bạch Tân Sinh, ThS. Nguyễn Võ Hưng, TS. Nguyễn Văn Học, Nguyễn Văn Phú, TS. Hoàng Xuân Long, TS. Đinh Văn Ân, TS Lê Đăng Doanh, ThS. Vũ Xuân Nguyệt Hồng, TS. Nguyễn Tuệ Anh, ThS. Đặng Thu Hoài, CN. Ngô Minh Tuấn, TS. Nguyễn Nghĩa, ThS. Đỗ Xuân Cương, KS. Nguyễn Văn Điến, KS. Nguyễn Tuấn Hưng, TS. Ngô Đặng Nhân, KS. Phạm Hồng Trường, GS.TS. Đào Văn Lượng, ThS. Nguyễn Võ Hưng, ThS. Phan Thu Nga, CN. Nguyễn Hữu Phép, CN. Trần Thu Bích, CN. Trần Thị Thu Thủy, TS. Hồ Đức Việt, TS. Lê Xuân Thảo, TS. Trần Văn Bình, KS. Bùi Ngọc Hoan, TS. Nguyễn Văn Tri, TS. Vũ Minh Mão
Trường học Uỷ Ban Khoa Học Công Nghệ Và Môi Trường Của Quốc Hội
Thể loại báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 254
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình triển khai đề tài, nhiều kết quả nghiên cứu của đề tài đã được ứng dụng vào việc xây dựng, thẩm tra các dự thảo luật Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật

Trang 1

UỶ BAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG

CỦA QUỐC HỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC

NGHIÊN CỨU LUẬN CỨ KHOA HỌC CHO CÁC CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP

XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trang 2

NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN Chủ nhiệm đề tài: TS Hồ Đức Việt

GS.TS Nguyễn Minh Thuyết (Chủ nhiệm nhánh 1, Bản chất và đặc điểm của thị trường

KH&CN),

PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai; TS Đỗ Văn Vĩnh; TS Mai Hà; TS Bùi Văn Long; CN Đào Bích Hạnh

GS.TSKH Vũ Hy Chương (Chủ nhiệm nhánh 2, Năng lực sáng tạo của các tổ chức KH&CN),

ThS Trần Chí Đức; TS Nguyễn Văn Đức; ThS Hoàng Minh Thức; KS Dương Quang San; GS.TS Bùi Công Quế; KS Nguyễn Đức Tâm

TS Trần Việt Hùng (Chủ nhiệm nhánh 3, Nhu cầu và khả năng tiếp nhận công nghệ của

doanh nghiệp),

TSKH Vũ Đào Hùng; TS Phan Minh Tâm; TS Nguyễn Thanh Thịnh; TS KTS Tô Thị Toàn;

CN Trịnh Ngọc Cường

TS Lê Đình Tiến (Chủ nhiệm nhánh 4, Các chính sách và cơ chế KH&CN hiện nay liên quan

tới sự hình thành và hoạt động của thị trường KH&CN),

TS Trần Ngọc Ca; Nguyễn Mai Phương; Nguyễn Thanh Tùng; TS Bạch Tân Sinh; ThS Nguyễn Võ Hưng; TS Nguyễn Văn Học; Nguyễn Văn Phú; TS Hoàng Xuân Long

TS Đinh Văn Ân (Chủ nhiệm nhánh 5, Các chính sách và cơ chế kinh tế hiện nay liên quan

đến sự hình thành và hoạt động của thị trường KH&CN),

TS Lê Đăng Doanh; ThS Vũ Xuân Nguyệt Hồng; TS Nguyễn Tuệ Anh; ThS Đặng Thu Hoài;

CN Ngô Minh Tuấn;

Các cơ quan phối hợp:

Viện NC Tài chính; Viện NC Thương mại; Bộ Công nghiệp; một số doanh nghiệp

TS Nguyễn Nghĩa (Chủ nhiệm nhánh 6, Kinh nghiệm tổ chức thị trường KH&CN của các

TS Hồ Đức Việt (Chủ nhiệm nhánh 8, Những giải pháp pháp lý để tổ chức và quản lý thị

trường KH&CN ở Việt Nam),

TS Lê Xuân Thảo; TS Trần Văn Bình; KS Bùi Ngọc Hoan; TS Nguyễn Văn Tri; TS Vũ Minh Mão

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……….4

PHẦN I………6

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC&CÔNG NGHỆ 6

I.1 Bối cảnh đề xuất vấn đề 6 I.2 Nội dung nghiên cứu 7 I.3 Phương pháp nghiên cứu 8 I.4 Tổng quan tình hình phát triển thị trường công nghệ các nước trên thế giới 9 I.4.1 Hiện trạng phát triển của thị trường công nghệ ở Trung Quốc 10

I.4.2 Hiện trạng phát triển của thị trường công nghệ ở Hàn Quốc 15

I.4.3 Hoạt động chuyển giao và thương mại hoá công nghệ ở CHLB Đức 18

I.4.4 Tổ chức hội chợ kinh tế (có nội dung công nghệ) ở các nước 20

I.4.5 Nhận xét chung 21

I.4.6 Bài học rút ra 22

PHẦN II 24

CƠ SỞ KHOA HỌC, YẾU TỐ, ĐIỀU KIỆN THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM……….24

II.1 Cơ sở khoa học hình thành và phát triển thị trường KH&CN……….… … 24

II.1.1 Khái niệm thành quả KH&CN (sản phẩm KH&CN)……….24

II.1.2 Chuyển hoá thành quả KH&CN và chuyển giao công nghệ……… 25

II.1.2.1 Chuyển hoá thành quả KH&CN……….25

II.1.2.2 Chuyển giao công nghệ……… 25

II.1.2.3 Quản lý chuyển hoá thành quả KH&CN, chuyển giao công nghệ………27

II.1.3 Thị trường KH&CN……….……… 28

II.1.3.1 Khái niệm thị trường công nghệ ……… ……… 28

II.1.3.2 Các yếu tố cơ bản của thị trường KH&CN 29

II.1.3.2 Các hoạt động chủ yếu trên thị trường KH&CN 30

II.1.3.3 Chức năng của thị trường KH&CN 32

II.1.3.4 Đặc điểm của thị trường KH&CN……… ……….33

II.2 Các nhân tố thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường KH&CN… ……… 35

II.2.1 Năng lực sáng tạo của bên “cung"… ……… ………35

II.2.2 Nhu cầu và năng lực tiếp nhận công nghệ của bên “cầu"……….…………37

II.2.3 Nhu cầu phát triển các tổ chức môi giới, tiếp thị, tư vấn và hỗ trợ phát triển…….42

II.2.4 Hệ thống văn bản pháp lý về thị trường KH&CN………45

II.2.5 Môi trường phát triển kinh tế - xã hội và chính sách phát triển KH&CN………… 45

PHẦN III 49

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM VÀ KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ ĐẢM BẢO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 49

III.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động của thị trường KH&CN ở Việt Nam thời gian qua Những kinh nghiệm bước đầu……… 49

III.1.1 Thực trạng 49

III.1.2 Nguyên nhân thị trường khoa học & công nghệ Việt Nam chưa phát triển 58

Trang 4

III.1.3 Những kinh nghiệm bước đầu có thể rút ra 64

III.2 Các chính sách, cơ chế về quản lý hoạt động KH&CN……… 65

III.2.1 Chính sách đầu tư và phát triển nghiên cứu KH&CN 66

III.2.2 Chính sách khuyến khích chuyển giao và ứng dụng thành tựu KH&CN 71

III.2.3 Chính sách và cơ chế quản lý các nguồn lực KH&CN 73

III.3 Các chính sách, cơ chế về kinh tế có liên quan 76

III.3.1 Chính sách đối với đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp 77

III.3.2 Chính sách tài chính liên quan đến khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ 78

III.3.3 Cơ chế quản lý kinh tế liên quan đến khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ và tiếp nhận chuyển giao thành tựu KH&CN của trong nước 80

PHẦN IV 81

KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN, TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 81

IV.1 Một số chính sách, cơ chế thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường KH&CN……….81

IV.1.1 Chính sách và cơ chế phát triển năng lực sáng tạo công nghệ của các tổ chức KH&CN 81

IV.1.2 Chính sách và cơ chế đối với khu vực sản xuất, ứng dụng công nghệ 90

IV.2 Xây dựng và tổ chức một số mô hình thị trường KH&CN ở Việt Nam……… 92

IV.2.1 Xây dựng một số mô hình chợ công nghệ và thiết bị 96

IV.2.2 Phối hợp thí điểm tổ chức thị trường KH&CN theo mô hình thích hợp 101

IV.3 Một số giải pháp cụ thể cho việc tổ chức thị trường KH&CN ở Việt Nam……… 102

IV.3.1 Xây dựng cơ chế quản lý thị trường KH&CN ở Việt Nam 102

IV.3.2 Xây dựng cơ chế quản lý hoạt động môi giới 103

IV.4 Tăng cường vai trò điều tiết và quản lý của Nhà nước đối với thị trường KH&CN 105 IV.4.1 Điều tiết thị trường KH&CN bằng các chính sách 107

IV.4.2 Xây dựng trật tự thị trường 108

IV.4.3 Lưu thông và mở cửa thị trường 109

IV.4.4 Cung cấp thông tin thị trường 109

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHẦN PHỤ LỤC 114

Phụ lục 1: Bản khuyến nghị của đề tài về cơ chế chính sách 114

Phụ lục 2: Quy chế về tổ chức và quản lý chợ công nghệ 121

Phụ lục 3: Đề án quản lí hoạt động dịch vụ môi giới KH&CN 133

Phụ lục 4: Trích khuyến nghị của các đề tài nhánh 139

Phụ lục 5: Danh mục các báo cáo chuyên đề 174 Phụ lục 6: Danh mục kết quả điều tra, khảo sát, mô hình, mẫu phiếu 177

Phụ lục 7: Danh mục sản phẩm của Đề tài 178

Trang 5

MỞ ĐẦU

Trong thế giới ngày nay, toàn cầu hoá về kinh tế đã trở thành xu thế không thể đảo ngược Đây là hệ quả của cuộc cách mạng khoa học & công nghệ (KH&CN) lần thứ 3, đặc biệt là của sự bùng nổ công nghệ thông tin, đánh dấu sự chuyển đổi từ nền kinh tế hậu công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Trong bối cảnh này, đương nhiên thị trường KH&CN trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng mang đặc điểm toàn cầu hoá, giao dịch công nghệ càng gia tăng…

Ở nước ta, chuyển giao công nghệ và tiếp nhận công nghệ là một quá trình tất yếu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, trình độ công nghệ là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia và sự phát triển kinh tế, là điều kiện sống còn đối với mỗi doanh nghiệp trước sức ép của quy luật cạnh tranh, trước các đối thủ nặng cân trên thị trường thế giới

Việc chuyển giao công nghệ và tiếp nhận công nghệ đã được quan tâm từ khi đất nước đổi mới, mở cửa hội nhập; nhất là từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành Nhưng thị trường KH&CN nghệ chưa thực sự hình thành và phát triển như mong muốn Đặt vấn đề “nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, tập thể nghiên cứu mong muốn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cấp thiết về lý luận và thực tiễn đang đặt ra hiện nay, tìm tòi những quyết sách đúng đắn để thực hiện nhiệm vụ xây dựng, và phát triển thị trường KH&CN, tăng cường năng lực nội sinh của nền kinh tế nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế

Đề tài được thực hiện trong bối cảnh đã có một số đề tài cấp nhà nước nghiên cứu về kinh tế thị trường và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Do đó, đề tài không bàn trở lại những vấn đề đã được giải quyết mà tập trung phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn để xây dựng chính sách phát triển thị trường KH&CN, kiến nghị giải pháp thúc đẩy sự phát triển của thị trường này

Trang 6

Trong quá trình nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn ở nước ngoài, một số chuyên gia trong tập thể nghiên cứu thấy rằng nhiều nước, kể cả Trung Quốc -một nước đang chuyển đổi mô hình kinh tế và đầu tư nghiên cứu, chỉ đạo phát triển thị trường công nghệ như nước ta - chỉ sử dụng thuật ngữ “thị trường công nghệ” và trên thực tế chưa có “thị trường KH&CN” Tuy nhiên, với mục đích tìm tòi, nghiên cứu căn cứ khoa học xây dựng “thị trường KH&CN” như chữ dùng trong văn kiện của Đảng và Nhà nước, đề tài vẫn được triển khai theo hướng đã đăng ký ban đầu với Bộ Khoa học và Công nghệ - cơ quan giao đề tài, với cách hiểu thuật ngữ “thị trường KH&CN” linh động hơn

Các đơn vị và tổ chức thực hiện đề tài gồm: Thường trực Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thuộc Văn phòng Quốc hội, Viện Chiến lược & Chính sách KH&CN thuộc

Bộ KH&CN, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh

Các đơn vị và tổ chức có cán bộ tham gia đề tài gồm: Viện Chính sách và Chiến lược (Bộ Công nghiệp), Viện Nghiên cứu Tài Chính (Bộ Tài chính), Viện Nghiên cứu Thương Mại (Bộ Thương mại), Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa

TP HCM và một số doanh nghiệp

Trong quá trình triển khai đề tài, nhiều kết quả nghiên cứu của đề tài đã được ứng dụng vào việc xây dựng, thẩm tra các dự thảo luật (Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử) và xây dựng các báo cáo giám sát của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội (Báo cáo thuyết trình của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường về tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta; Báo cáo thuyết trình của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường về tình hình các cơ sở nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ ở nước ta)

Trang 7

PHẦN I

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ I.1 Bối cảnh đề xuất vấn đề

Trong thế kỷ 21, vai trò của tiến bộ khoa học và công nghệ đối với sự tiến trình phát triển kinh tế và xã hội đã ngày càng trở nên rất rõ rệt Xu thế hội nhập trong tiến trình phát triển trên toàn thế giới vừa đặt đất nước ta với nền KH&CN còn tương đối lạc hậu đứng trước những thách thức chưa từng có, vừa tạo ra những cơ hội để có thể đón đầu theo kịp phát triển của thế giới bằng cách tận dụng những thành quả KH&CN cao, những tri thức tiên tiến và làm cho đất nước

ta có thể bỏ qua mô hình phát triển truyền thống Trình độ KH&CN là thể hiện sức mạnh tổng hợp của một quốc gia Trong thời đại nền kinh tế tri thức, sự đóng góp của tiến bộ KH&CN ngày càng to lớn, đặc biệt là tác động mang tính quyết định của công nghệ cao trong phát triển nhanh chóng và bền vững của một quốc gia

Đổi mới là linh hồn của tiến bộ một dân tộc, là động lực bất tận của quốc gia khởi sắc phát triển Đổi mới công nghệ là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế, là nguồn lực chủ yếu tăng trưởng kinh tế quốc gia, tạo ra của cải cho nhân loại, thúc đẩy thịnh vượng kinh tế toàn cầu Khi trở thành phương pháp có hiệu quả nâng cao sức cạnh tranh trung tâm của doanh nghiệp và thực hiện phát triển bền vững, đổi mới công nghệ có tác dụng rất then chốt trong quá trình chuyển đổi cơ bản phương thức thực hiện tăng trưởng kinh tế Chính là do thông qua đổi mới công nghệ, doanh nghiệp mới có thể phát huy lợi thế của mình, tạo ra đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng và bền vững nền kinh tế quốc dân nước ta Nhưng so với doanh nghiệp trên thế giới, năng lực đổi mới công nghệ doanh nghiệp nước ta còn rất yếu

Việc Việt Nam gia nhập WTO mang lại những cơ hội và thách thức mới cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Một mặt, nó không chỉ làm doanh

Trang 8

nghiệp nước ta không ngừng nâng cao ý thức đổi mới công nghệ, mà còn làm tiến bộ công nghệ phát triển theo phương hướng quốc tế hoá và có tác dụng thúc đẩy nhất định đối với đổi mới công nghệ doanh nghiệp; mặt khác, cũng bộc

lộ ra những vấn đề tồn tại về phát triển doanh nghiệp nước ta và về đổi mới công nghệ của nó Ngày nay, doanh nghiệp nước ta trong quá trình đổi mới công nghệ phải đối mặt với vấn đề về các khía cạnh sau đây: nhân tài đổi mới công nghệ và vốn đổi mới thiếu, thiết bị công nghệ lạc hậu, chủ thể đổi mới công nghệ doanh nghiệp xáo lộn, thiếu mạng lưới trung gian và hợp tác, còn chưa hình thành hệ thống hỗ trợ chính sách pháp quy hoàn chỉnh

Kinh nghiệm phát triển kinh tế các nước trên thế giới và sự thực của các doanh nghiệp thành công đều hùng biện chứng tỏ đổi mới công nghệ là động lực

to lớn phát triển kinh tế, là nguồn lực tăng trưởng của cải xã hội, là con đường tất yếu sinh tồn và phát triển doanh nghiệp Chính vì vậy mà thông qua nghiên cứu thị trường KH&CN, phát hiện các yếu tố thúc đẩy đổi mới công nghệ của nó, làm cho Chính phủ, các bộ/ngành và doanh nghiệp nắm vững được tình hình chung đổi mới công nghệ của doanh nghiệp và cung cấp những căn cứ cho Chính phủ, bộ/ngành ban hành chính sách và chiến lược đổi mới công nghệ tương ứng, thúc đẩy tạo ra những thành quả KH&CN, xây dưng hệ thống dịch vụ trung gian làm cầu nối thúc đẩy nhanh chóng chuyển hoá thành quả KH&CN vào sản xuất nhằm nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh trạnh của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng

I.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Mã số ĐTĐL – 2003/22 , thời gian thực hiện 9/2003 - 9/2006

Căn cứ mục tiêu của đề tài “xác lập cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về KH&CN, pháp luật về kinh tế và cơ chế quản lý để tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam; đề xuất các

Trang 9

giải pháp pháp lý tổ chức và quản lý thị trường KH&CN ở Việt Nam”, đề tài đã tập trung nghiên cứu những nội dung chính như sau:

1) Những vấn đề cơ bản về thị trường, kinh tế thị trường, bản chất, đặc điểm, điều kiện hình thành, phát triển, chức năng của thị trường KH&CN

2) Những vấn đề liên quan tới năng lực sáng tạo của các tổ chức KH&CN, các yếu tố quyết định tới nguồn cung sản phẩm KH&CN

3) Nhu cầu và năng lực tiếp nhận công nghệ của khối doanh nghiệp (khách hàng chính và quan trọng nhất của phía cầu công nghệ), những nguyên nhân hạn chế việc tiếp nhận và chuyển giao công nghệ

4) Nghiên cứu, phân tích các chính sách và cơ chế điều tiết hoạt động KH&CN hiện nay của Nhà nước liên quan đến sự hình thành và hoạt động của thị trường KH&CN

5) Các chính sách và cơ chế kinh tế hiện nay liên quan tới sự hình thành

và hoạt động của thị trường KH&CN

6) Kinh nghiệm tổ chức thị trường công nghệ một số nước có thể chọn lọc, học hỏi và áp dụng vào Việt Nam

7) Nghiên cứu và tổng kết một số mô hình thị trường KH&CN (Chợ công nghệ & thiết bị)

8) Đề xuất những giải pháp pháp lý để tổ chức và quản lý thị trường KH&CN ở Việt Nam

I.3 Phương pháp nghiên cứu

Khối lượng công việc trong mỗi nội dung không ít; đặc điểm và tính chất cũng khá riêng biệt, nên đề tài tổ chức thực hiện 8 nội dung nói trên thành 8 đề tài nhánh Các đề tài nhánh đã lựa chọn phương pháp thích hợp để tiếp cận, giải quyết vấn đề cho phù hợp với thực tiễn Có đề tài nhánh đã phải tổ chức điều tra, khảo sát ở trong nước (đề tài nhánh 2: điều tra, khảo sát về năng lực sáng tạo công nghệ ở 50 tổ chức KH&CN thuộc các Viện, các trường Đại học; đề tài Nhánh 3: khảo sát, điều tra nhu cầu và khả năng tiếp nhận công nghệ mới của

Trang 10

100 doanh nghiệp…) và tham quan khảo sát, học tập kinh nghiệm ở nước ngoài Cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của mỗi đề tài nhánh có khác nhau, nhưng phương pháp nghiên cứu đều theo định hướng của đề tài là:

- Thu thập, tổng hợp thông tin, kết quả các đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước từ các nguồn hiện có (lưu trữ và trên mạng…), phân tích, đánh giá, rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết

- Nghiên cứu, thẩm định, phân tích số liệu đã thu thập khi điều tra, khảo sát thực tiễn; so sánh giữa thực tiễn và văn bản hiện hành, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất khuyến nghị

- Hội thảo lấy ý kiến chuyên gia để hoàn thiện đề xuất, khuyến nghị; phối hợp thí điểm áp dụng (đóng góp ý kiến có liên quan hoạt động KH&CN và thị trường KH&CN…trong các dự án Luật; tổ chức Chợ công nghệ & thiết bị)

I.4 Tổng quan tình hình phát triển thị trường công nghệ các nước trên thế giới

Thị trường công nghệ là một hình thức mới thúc đẩy liên kết khoa học với sản xuất có sự can thiệp của Nhà nước Trong hơn thập kỷ vừa qua, các nước đều ra sức tìm kiếm con đường hữu hiệu gắn khoa học với sản xuất và đẩy nhanh quá trình áp dụng các thành quả KH&CN vào sản xuất và đời sống ở trình độ phát triển kinh tế khác nhau và hình thức sở hữu khác nhau, mỗi nước cũng có cách đi riêng của mình Vấn đề là làm sao có thể nhanh chóng tìm được hướng đi và bước đi thích hợp để áp dụng vào tình hình cụ thể của nước ta trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc

là những nước đã xây dựng và phát triển thị trường công nghệ và đã đạt được một số kết quả đáng quan tâm nghiên cứu Trong khuôn khổ bài tổng quan này xin trao đổi một số thông tin về kinh nghiệm về xây dựng, hình thành và phát triển các phương thức và hình thức giao dịch công nghệ của Trung Quốc, Hàn Quốc, CHLB Đức và một số nước khác trong thời gian gần đây

Trang 11

I.4.1 Hiện trạng phát triển của thị trường công nghệ ở Trung Quốc

Thực hiện thương mại hoá thành quả công nghệ, mở cửa thị trường công nghệ là bước đột phá lớn trong cải cách thể chế KH&CN Trung Quốc, là biện pháp quan trọng tăng cường cải cách đồng bộ thể chế KH&CN và thể chế kinh

tế, khai thác và giải phóng lực lượng sản xuất số 1 đó là KH&CN

Sự phát triển thị trường công nghệ Trung Quốc được chia thành 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn 1, tức là giai đoạn thai nghén (1978-1982) Tại Hội nghị Khoa

học Toàn quốc năm 1978, đã trình bày rõ ràng quan điểm mác-xít rằng khoa học

và công nghệ là lực lượng sản xuất, và rằng hiện đại hoá khoa học và công nghệ

là chìa khoá cho việc thực hiện 4 hiện đại hoá Quan điểm mác-xít này đã đặt nền móng cho việc thương mại hoá thành quả công nghệ và phát triển thị trường công nghệ về mặt lý luận và tư tưởng Do đó hoạt động mua bán công nghệ đã hướng vào thành quả công nghệ khi thị trường công nghệ bắt đầu nảy nở Tại giai đoạn này, hoạt động thị trường công nghệ được đặc trưng bởi sự tự nguyện hợp tác giải quyết các vấn đề khó giữa các viện nghiên cứu và các đơn vị sản xuất Các viện nghiên cứu bắt đầu chuyển giao có hoàn trả các thành quả công nghệ cho các đơn vị sản xuất, tham gia vào các dịch vụ tư vấn kỹ thuật và các dịch vụ khác, và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc giải quyết các vấn đề kỹ thuật trong sản xuất

Giai đoạn 2, tức là giai đoạn khởi động (1982-1985) Tại Hội nghị Khen

thưởng KH&CN Quốc gia tổ chức vào năm 1982, đã đưa ra nguyên tắc chiến lược “xây dựng kinh tế phải dựa vào khoa học và công nghệ và công tác khoa học và công nghệ phải hướng vào xây dựng kinh tế” Nguyên tắc này đã thúc đẩy phối hợp phát triển giữa khoa học và công nghệ, kinh tế và xã hội và thúc đẩy hình thành thị trường công nghệ Hoạt động của thị trường công nghệ tại giai đoạn này bắt đầu được chỉ đạo và tổ chức Do đó, đã xuất hiện các mô hình

và kênh quản lý khác nhau, quy mô và phạm vi của thị trường công nghệ thường xuyên được mở rộng, và thị trường công nghệ bắt đầu được hình thành

Trang 12

Giai đoạn 3, tức là giai đoạn phát triển thị trường công nghệ (1985-đến nay) Tháng 1/1985, Chính phủ đã công bố “Quy định tạm thời về thương mại

hoá thành quả công nghệ” Tháng 3/1985 ”Quyết định của UBTW ĐCS Trung Quốc về cải cách hệ thống quản lý KH&CN” đã tiếp tục chỉ ra:”Thị trường công nghệ là thành phần cơ bản của thị trường hàng hoá XHCN Trung Quốc.” Do đó,

vị trí và vai trò của thị trường công nghệ đã được khẳng định đầy đủ Đột phá khẩu quan trọng trong một số vấn đề mang tính nguyên tắc về thương mại hoá thành quả công nghệ đã được thực hiện Thị trường công nghệ của Trung Quốc

đã nhanh chóng phát triển cùng với sự đẩy mạnh cải cách

Những thay đổi to lớn đã diễn ra trong hệ thống kinh tế và hệ thống khoa học công nghệ của Trung Quốc trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế Một số lớn các kết quả khoa học và công nghệ đã được giao dịch trên thị trường và góp phần vào phát triển nền kinh tế Qua hơn 10 năm mở cửa, thị trường công nghệ của Trung Quốc đã đạt được sự phát triển nhanh chóng từ điểm xuất phát gần như con số không và ngày càng được mở rộng Thống kê về thị trường công nghệ của 30 tỉnh, khu vực tự trị và thành phố trực thuộc Chính phủ Trung ương trong cả nước cho thấy tính đến 20/12/2003, 267997 hợp đồng công nghệ đã được ký trên toàn quốc, tăng 13% so với năm trước Doanh thu của các hợp đồng công nghệ tăng đáng kể, đạt kỷ lục đầu tiên vượt 100 tỷ Yuan = 12 tỷ USD (108,47 tỷ năm 2003 = 13 tỷ USD), tăng 22,7% so với năm trước, đây là năm có mức tăng cao nhất sau năm 2000 Doanh thu trung bình của mỗi hợp đồng công

nghệ là 404.700 Yuan = 48.750 USD, tăng 9,4% so với năm trước

Số liệu ở trên cho thấy rằng quy mô tổng thể và mức độ trao đổi các hàng hóa công nghệ của Trung Quốc tăng lên liên tục; thị trường công nghệ phát triển vững chắc Trong những năm gần đây, sự phát triển của thị trường công nghệ

đã thể hiện những đặc trưng đáng chú ý sau:

− Hợp đồng công nghệ chiếm vị trí hàng đầu trong mua bán công nghệ

và xu hướng này liên tục gia tăng

− Khi tỷ trọng đầu tư vào nghiên cứu và triển khai (R&D) của Trung Quốc liên tục tăng, và việc thực hiện hàng loạt các chính sách ưu đãi khuyến

Trang 13

khích đổi mới khoa học, kỹ thuật, ý thức về đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp đã được nâng lên rất nhiều, phát triển công nghệ đã trở thành một động lực thực tế trong phát triển doanh nghiệp Doanh thu từ các hợp đông phát triển công nghệ chiếm vị trí hàng đầu trong 4 hình thức hợp đồng năm 2003, khoảng 42.607 tỷ Yuan = 5,13 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước; 58.591 hợp đồng đã được ký kết, tăng 21% so với năm trước

− Thị trường công nghệ đã dần trở thành các kênh quan trọng trong việc công nghiệp hóa các kết quả từ các dự án của các kế hoạch KH&CN ở tất cả các cấp

− Có 33.113 kết quả từ các dự án của các chương trình KH&CN của các chính quyền các cấp được đưa ra thị trường công nghệ năm 2003, chiếm 12,4% tổng số các hợp động công nghệ trong năm; tỉ lệ các kết quả thuộc các dự án KH&CN tại tất cả các cấp được chuyển giao và chuyển hóa thông qua thị trường công nghệ đã tăng đáng kể, doanh thu của hợp đồng đạt 20,7 tỉ Yuan = 2,5 tỷ USD, tăng 62,7% so với năm trước, chiếm 19,2% giá trị giao dịch của các hợp đồng công nghệ

− Doanh thu từ hợp đồng công nghệ của các doanh nghiệp tiếp tục được quan tâm hàng đầu, các doanh nghiệp trở thành chủ thể của quá trình đổi mới công nghệ

− Số liệu về doanh thu từ hợp đồng công nghệ của các nhà cung cấp trên thị trường năm 2003 cho thấy các hợp đồng công nghệ do các doanh nghiệp kí đạt 73.390 hợp đồng, tăng 27,7% so với năm trước, với doanh thu là 51,87 tỉ Yuan = 6,25 tỷ USD, tăng 44,7% so với năm trước, và thị phần đã tăng lên 47% so với năm ngoái là 40%

− Thị trường công nghệ trở thành một nhân tố quan trọng để các chính quyền khu vực thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực công nghệ đóng góp cho phát triển kinh tế

Trang 14

− Trong thương mại công nghệ năm 2003, đã có 19 tỉnh, vùng tự trị và thành phố tự trị dưới chính quyền TW, đạt doanh thu từ hợp đồng công nghệ trên 1 tỉ Yuan = 120 triệu USD, tăng gấp đôi so với năm 2002 Trong đó đã có vùng tăng 10 lần, đạt hơn 4 tỉ Yuan = 480 triệu USD

Do đó có thể nói rằng việc chuyển giao và phổ cập các kết quả KH&CN đã

có tác động tích cực lên môi trường kinh doanh của Trung Quốc hiện nay Các nghiên cứu khoa học cũng đã tạo định hướng cho sản xuất, và ngược lại sản xuất cũng khuyến khích nghiên cứu khoa học (1) Thị trường tạo ra “không gian” - tức là tạo ra chỗ để các kết quả nghiên cứu KH&CN được ứng dụng và phổ biến rộng rãi vào thực tế sản xuất; (2) Các chính sách đã mở đường - tức là tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng và phổ biến rộng rãi các kết quả nghiên cứu KH&CN, (3) Dịch vụ trung gian trên thị trường công nghệ tạo cầu nối – tức là mở ra “xa lộ thông tin” để thuận tiện cho giao tiếp liên lạc và trao đổi của các bên trong quá trình phổ cập hóa và ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN Tuy nhiên, thị trường sẽ chọn lựa giữ lại những sản phẩm công nghệ tối ưu và loại bỏ những

“phế phẩm” là điều không thể tránh khỏi trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, và

có thể gây khó khăn cho quá trình phổ cập và chuyển giao những kết quả nghiên cứu KH&CN Do đó, việc nghiên cứu những biện pháp giảm thiểu những tác động không mong đợi trong quá trình sự phát triển của thị trường công nghệ là hết sức cần thiết

Cơ sở pháp lý để thúc đẩy hoạt động thị trường công nghệ tại Trung Quốc là:

Luật Hợp đồng Công nghệ (1987); Luật Hợp đồng (1999); Luật Thúc đẩy Chuyển hóa Thành quả KH&CN (1996); Điều lệ Quản lý Thị trường Công nghệ (1987-2002); Biện pháp quản lý Chợ giao dịch công nghệ (1991); Biện pháp quản lý đăng ký công nhận hợp đồng công nghệ (2000); Biện pháp tạm thời quản lý người môi giới công nghệ (1998-2002) …

Về mặt luật pháp quy định, Trung Quốc đã xây dựng được một hệ thống luật pháp tương đối đồng bộ, phục vụ quản lý thị trường công nghệ, dễ định dạng các vấn đề cơ bản: Ai được tham gia thị trường công nghệ; Ai quản lý thị

Trang 15

trường công nghệ; Khái niệm về quan hệ giao dịch công nghệ; Nội dung hoạt động của hệ thống dịch vụ giao dịch công nghệ; Người môi giới công nghệ; Định giá tài sản công nghệ; Quyền được hưởng đối với hợp đồng công nghệ; Nội dung hoạt động của chợ công nghệ; Điều kiện tổ chức chợ; Quyền của các pháp nhân và đơn vị được tổ chức chợ; Chức năng quản lý chợ của các cơ quan được giao

Sự hình thành và phát triển thị trường công nghệ ở Trung Quốc, chính là quá trình gia tăng các giao dịch liên quan đến công nghệ giữa các chủ thể tiềm năng (giao dịch giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa trong nước và ngoài nước , nhằm tăng cường đóng góp của KH&CN vào mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Trọng tâm của phát triển thị trường công nghệ là thông qua trung gian môi giới KH&CN để nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp, tăng cường thương mại hoá các kết quả nghiên cứu và gia tăng tính định hướng thị trường của hoạt động nghiên cứu Trong quá trình hình thành và phát triển loại hình thị trường này, Trung Quốc đã tận dụng được công nghệ nhập khẩu để nâng cao năng lực công nghệ nội sinh, phát huy vai trò trực tiếp của đầu tư nước ngoài trong việc nâng cao năng lực công nghệ trong nước, phát triển mạnh mẽ hệ thống môi giới KH&CN, thu hút nhân tài, nhà khoa học, gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà khoa học, nhà môi giới và nhà doanh nghiệp

Vai trò quan trọng của thị trường công nghệ Trung Quốc

1) Thị trường công nghệ đã phá vỡ những hạn chế giữa các Bộ/Ngành và địa phương và sự cản trở giữa thành thị và nông thôn, do đó các thành quả công nghệ đã nhanh chóng được mở rộng và các kênh hàng hoá trí tuệ đã được khai phá

2) Thị trường công nghệ đã thúc đẩy liên kết nghiên cứu khoa học với sản xuất Nó cũng thúc đẩy phối hợp công tác khoa học và công nghệ với xã hội và kinh tế Nó đã làm thay đổi cách suy nghĩ là viện nghiên cứu chỉ có trách nhiệm đạt được thành quả công nghệ chứ không phải lo áp dụng chúng

Trang 16

3) Việc phát triển thị trường công nghệ đã tạo điều kiện để cải cách phương thức cấp kinh phí cho các viện nghiên cứu, để các viện nghiên cứu có thể dần dần tự lực dựa vào kinh phí vận hành của mình Theo đánh giá, riêng năm 1985 thu nhập của các tổ chức nghiên cứu khoa học dân sự đã đạt được

470 triệu Yuan từ việc bán thành quả công nghệ

4) Thị trường công nghệ đã thúc đẩy chuyển giao công nghệ Nó đã trở thành chỗ dựa kỹ thuật cho các doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển sản xuất của các doanh nghiệp Khi các thiết bị hiện tại đã lỗi thời và kỹ thuật đã lạc hậu tại rất nhiều doanh nghiệp của Trung Quốc, thì rất khó áp dụng những thành quả

kỹ thuật và công nghệ mới, đặc biệt tại các doanh nghiệp nhỏ, vừa và các doanh nghiệp nông thôn Trước đây việc mua công nghệ không có chỗ đứng Còn hiện nay các doanh nghiệp có thể thoả mãn yêu cầu về công nghệ của mình thông qua thị trường công nghệ Doanh nghiệp cũng có thể mời thầu các dự án để giải quyết các vấn đề kỹ thuật của mình

5) Thị trường công nghệ đã tao điều kiện thuyên chuyển hợp lý và lưu động của những lao động có tài năng Đó là cơ hội phong phú cho những người mong muốn làm việc cho 4 hiện đại hoá Cán bộ khoa học và công nghệ là những người đi đầu trong việc phát triển lực lượng sản xuất mới Thông qua thị trường công nghệ, những thành quả công nghệ đạt được của các cán bộ KH&CN có thể thường xuyên được chuyển giao vào lĩnh vực sản xuất, và về phần mình, một mặt, khu vực sản xuất cũng hỗ trợ tạo ra những thuyên chuyển các cán bộ giỏi một cách hợp lý và lưu động công việc hợp lý của những người

có tài với số lượng lớn, mặt khác cũng phát huy đầy đủ những sáng kiến của họ trong quá trình chuyển giao các thành quả công nghệ

I.4.2 Hiện trạng phát triển của thị trường công nghệ ở Hàn Quốc

Sau khi Chính phủ Hàn Quốc ban hành Luật Khuyến khích chuyển giao công nghệ (năm 1999), những hoạt động về khuyến khích chuyển giao và thương mại hoá công nghệ đã được thúc đẩy một cách mạnh mẽ và tập trung vào các hướng chính sau:

Trang 17

− Tạo lập hệ thống chuyển giao công nghệ có hiệu quả với chi phí thấp nhằm tăng cường cơ hội gặp nhau giữa người mua và người bán và làm giảm chi phí cho quá trình tìm kiếm đối tác và công nghệ

− Tăng cường hệ thống chuyển giao công nghệ vùng để phát triển các công viên trên toàn quốc như là đầu mối trung tâm công nghệ của vùng

− Tìm kiếm phương thức có hiệu quả để thu hẹp khoảng cách giữa việc nghiên cứu và cơ hội thương mại

Tạo lập hệ thống chuyển giao công nghệ có hiệu quả với chi phí thấp

Từ những năm 1990 một số tổ chức Chính phủ đã nắm bắt được công nghệ qua các hội chợ, các chợ công nghệ qua đó đã giúp cho những nhà sở hữu công nghệ và người mua, các nhà đầu tư gặp nhau được dễ dàng Các sự kiện trên đã giúp cho những nhà sở hữu công nghệ, đặc biệt là các cá nhân và các công ty vừa và nhỏ tiếp cận được các nhà đầu tư, người mua mà không cần phải tạo ra mạng lưới của riêng họ

Điểm yếu của hội chợ hoặc chợ công nghệ là chúng chỉ tổ chức từ 1 đến 2 lần trong một năm và cơ hội gặp nhau giữa người mua và các nhà sở hữu công nghệ bị hạn chế, đồng thời lại không có hoạt động tiếp theo sau những sự kiện

đó Do đó cần phải tạo ra một thị trường công nghệ hoạt động thường xuyên mà

ở đó người mua và nhà sở hữu công nghệ gặp nhau thường xuyên và cần phải

có hệ thống theo đuổi sau đó nhằm hỗ trợ trong đàm phán cũng như giải thích các điều khoản trong hợp đồng và những vấn đề liên quan đến pháp luật

Chợ thương mại hoá công nghệ của Trung tâm chuyển giao công nghệ Hàn Quốc (KTTC) được hình thành và khởi động như là một phần của chương trình thương mại hoá đó nhằm bảo đảm các yêu cầu như vậy về môi trường mở cho người mua tìm kiếm công nghệ Chợ thương mại hoá công nghệ được khép kín giữa các khâu: cung cấp công nghệ; kiểm tra (thẩm định) công nghệ và đầu

tư công nghệ Như vậy nguồn cung cấp công nghệ, người mua và các nhà đầu

tư được kết nối với nhau tạo ra hiệu ứng hoà hợp

Trang 18

Chợ thương mại hoá công nghệ trong thế kỷ 21 (TCM) là nơi, mà ở đó các nhà đầu tư, người bán và người mua công nghệ gặp nhau do đó làm tăng cơ hội gắn kết với nhau Bắt đầu từ tháng 8/2001, TCM21 được tổ chức thường xuyên

1 lần/tuần, phạm vi công nghệ trình diễn được mở rộng gồm các công nghệ của các viện, trường, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cũng như công nghệ của nước ngoài Việc cung cấp thường xuyên cho thị trường sẽ giảm thời gian và những chi phí không cần thiết trong việc tìm kiếm đối tác và công nghệ tiềm năng cũng như tiến tới xây dựng hệ thống chuyển giao công nghệ với chi phí hiệu quả

Từ năm 2000, KTTC được giao xây dựng cơ sở dữ liệu công nghệ từ các trường đại học, các viện nghiên cứu và các công ty Đến tháng 12/2003 có khoảng 13.000 người đăng ký truy cập vào 900 trang thông tin có nội dung chuyên sâu về phân tích thị trường; về xu hướng thị trường trong 230 lĩnh vực công nghệ và gần 5.000 số liệu liên quan đều có thể được cung cấp

Hiện ở Hàn Quốc có 3 loại hình tổ chức chuyển giao công nghệ Đó là:

− Tổ chức chuyển giao công nghệ khu vực công, gồm 16 tổ chức trong

đó có KTTC hiện tại được Chính phủ chỉ định theo Luật khuyến khích chuyển giao công nghệ được giao thực hiện các lĩnh vực công nghệ khác nhau hoặc những phần việc nằm trong quá trình thương mại hoá trên cơ sở năng lực chuyên môn của mỗi tổ chức

− Các cơ quan chuyển giao công nghệ khu vực tư, bất kỳ tổ chức nào có

đủ tiêu chuẩn và có khả năng thực hiện đều được đăng ký làm cơ quan chuyển giao công nghệ Tính đến tháng 1/2004 có 173 cơ quan chuyển giao công nghệ đã được đăng ký

− Các bộ phận làm chức năng phát triển và chuyển giao công nghệ thuộc các trường đại học và các viện nghiên cứu Nhà nước

Tăng cường mạng lưới quốc gia Đã xây dựng nhiều công viên công

nghệ ở nhiều điểm khác nhau trong nước như là trung tâm chuyển giao công nghệ vùng (RTTC) cùng với mạng lưói chuyển giao công nghệ thuộc các viện nghiên cứu và các trường đại học, chức năng của RTTC sẽ như là trung tâm của

Trang 19

vùng Bốn công viên công nghệ đầu tiên đã được thành lập trong năm 2003, năm 2004 sẽ thêm 3 đến 4 RTTC ở các vùng của Hàn Quốc Thực trạng quy mô của R&D của các thành phố tương ứng cũng như số lượng các công ty sản xuất trong vùng sẽ được xem xét lựa chọn phát triển RTTC KTTC đóng vai trò chính

là trung tâm điều hành và kết nối của các trung tâm vùng và chịu trách nhiệm về thủ tục để lựa chọn RTTC

Gắn kết nghiên cứu khoa học với cơ hội thương mại Hầu hết các

công nghệ, đặc biệt là các công nghệ được nghiên cứu từ các trường đại học và các viện nghiên cứu rất cần phát triển nhân rộng hoặc bảo vệ bằng độc quyền sáng chế để áp dụng trong các ngành công nghiệp

Việc đầu tư kinh doanh công nghệ không được hiểu biết rộng rãi trong các trường đại học và các viện nghiên cứu ở Hàn Quốc Tuy nhiên, gần đây nhiều nhà tạo ra công nghệ đã bắt đầu nhận ra rằng không chỉ có việc chuyển giao công nghệ họ quan tâm mà còn phải biết được công nghệ của họ đã được thương mại hoá như thế nào Thay vào đó nhiều viện nghiên cứu đang tìm kiếm

cơ hội liên doanh với một hay nhiều đối tác Điều này được xem như là mô hình mới về chuyển giao công nghệ, do đó khả năng thương mại hoá được nâng lên một bước Sự hợp tác trực tiếp giữa các nhà sáng chế với các đối tác thương mại sẽ tăng cơ hội thương mại hoá công nghệ lên mức cao nhất Gần đây đã thành lập Liên doanh giữa Viện Nghiên cứu Năng lương Nguyên tử (KAERI) với Công ty Kolmar của Hàn Quốc (cổ phiếu của Công ty này được niêm yết trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc), KAERI sẽ đầu tư nghiên cứu công nghệ, Kolmar sẽ cung cấp vốn

I.4.3 Hoạt động chuyển giao và thương mại hoá công nghệ

ở CHLB Đức

Đối với CHLB Đức, do nền kinh tế cơ bản là nền kinh tế thị trường, nên họ không quá nhấn mạnh hay phân biệt thị trường KH&CN, thị trường công nghệ

Về cơ bản, ở Đức đã có đầy đủ các thị trường, và Nhà nước khi cần can thiệp

để khuyến khích chuyển giao công nghệ thì ban hành các chính sách cụ thể cho từng thời kỳ CHLB Đức đặc biệt quan tâm tới việc chuyển giao công nghệ từ

Trang 20

phòng thí nghiệm ra đến sản xuất đại trà Vấn đề được đặt trọng tâm đúng mức,

đó là Nhà nước lãnh nhận trách nhiệm đầu tư mạo hiểm cho nghiên cứu và phát triển, tạo tính đồng bộ của các yếu tố thị trường, trong đó có hệ thống dịch vụ tư vấn và bảo hiểm chuyển giao công nghệ, đồng thời thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Vai trò của Nhà nước trong việc thành lập và cấp đa số vốn hoạt động (khoảng 70-100%) cho các cơ sở nghiên cứu cấp Liên bang, cấp Bang, cấp Bộ

Sự kết hợp hữu cơ giữa các viện nghiên cứu và các trường đại học, các doanh nghiệp là rất rõ Điểm mấu chốt ở đây là: Nhà nước đã trao cho các viện quyền

tự chủ trong hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ

Các kết quả nghiên cứu được công bố rộng rãi trên mạng và các trang chủ, qua đó có thể dễ dàng tìm hiểu và mua bán sản phẩm KH&CN

Mọi hoạt động chuyển giao công nghệ, các chợ công nghệ đều được thực hiện theo qui định của pháp luật Không có cơ quan thực hiện chức năng quản lý việc chuyển giao công nghệ

Một số nét cơ bản về đầu tư phát triển và chuyển giao công nghệ tại CHLB Đức có thể được tóm lược như sau:

− CHLB Đức chủ trương Nhà nước phải đầu tư cho các nghiên cứu phục

vụ phát triển, bảo đảm cấp kinh phí cho các nghiên cứu có tính rủi ro

− Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu phát triển công nghệ phục vụ phát triển kinh tế (với ý nghĩa là Nhà nước cũng được thụ hưởng lợi ích xã hội do kinh tế quốc gia tăng lên, và toàn dân được nâng cao đời sống bởi các sản phẩm do doanh nghiệp cung cấp)

− Nhà nước không đóng vai trò quản lý, mà là người cung cấp thông tin cho nhu cầu nghiên cứu, nhu cầu ứng dụng, và là người nâng đỡ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, đầu tư cho phát triển công nghệ và nâng trình độ nghiên cứu ở các viện và trường đại học

Trang 21

− Mức đầu tư của ngân sách hiện nay cho KH&CN chiếm 3% GDP, đây

là số kinh phí do Bộ Liên bang về Giáo dục và Nghiên cứu nắm; ngoài

ra các Bộ liên bang về ngành sản xuất cũng được duyệt kinh phí nghiên cứu riêng từ ngân sách Nhà nước Các bang cũng có ngân sách tương tự cho KH&CN Quốc hội quyết định hàng năm tăng thêm 7% mức kinh phí cấp cho KH&CN, do đó điều kiện cho hoạt động KH&CN ngày càng tốt hơn

I.4.4 Tổ chức hội chợ kinh tế có nội dung công nghệ ở các nước

Hội chợ, triển lãm kinh tế kỹ thuật, cũng như máy móc, thiết bị, phương tiện…là hoạt động bình thường của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Hội chợ, triển lãm ở các nước, là dịp tiếp xúc, tìm hiểu giữa bên “cầu” và bên “cung” công nghệ, mà nguồn cung chủ yếu là các hãng lớn Nhiều hãng lớn của các nước công nghiệp pháp triển thường tiếp thị theo hình thức mở cửa đón các đoàn tham quan đến thăm (như hãng Boing của Mỹ, hãng Thomson của Pháp…) Cách tiếp thị này không ngoài mục đích giới thiệu chất lượng sản phẩm của Hãng do ứng dụng những công nghệ tiên tiến, hiện đại Có hãng sản xuất (như Thomson) còn mua lại (thưởng bằng tiền) những ý tưởng, những cải tiến

kỹ thuật và công nghệ đối với sản phẩm của hãng mà khách hàng (thường là viện nghiên cứu, trường đại học) trong quá trình sử dụng đã đề xuất hoặc cải tiến

Nói chung, các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển không can thiệp, không quản lý hành chính thị trường công nghệ mà tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ Có nước sử dụng chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế để thúc đẩy việc phát triển thị trường công nghệ (CHLB Đức không quá chú ý về khái niệm là thị truờng KH&CN hay chỉ là thị trường công nghệ; mà vấn đề quan trọng là thực hiện thuờng xuyên việc chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học tiếp xúc với doanh nghiệp; thúc đẩy doanh nghiệp đặt yêu cầu với các nhà khoa học; lập các trung tâm tư vấn ráp nối quan hệ giữa hai bên, hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 22

để thực hiện R&D của doanh nghiệp với mức hỗ trợ thường là 50% nhu cầu kinh phí thực hiện)

Có nước sử dụng chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế để thúc đẩy việc phát triển thị trường công nghệ (ví như các hợp đồng dịch vụ tư vấn KH&CN ở Ấn Độ,

từ năm 1996 trở về trước, khi tư vấn trong nước chưa phát triển mạnh, Chính phủ đã áp dụng chế độ miễn giảm 50% thuế thu nhập cho mọi hợp đồng tư vấn

ký với các cơ quan Chính phủ Với các hợp đồng xuất khẩu dịch vụ được miễn 50% thuế thu nhập Riêng trong lĩnh vực phần mềm và ngành chế tạo, kể cả các công ty tư vấn KH&CN, từ năm 1997 thu nhập bằng ngoại tệ -các hợp đồng với nước ngoài- được miễn 100% thuế thu nhập, đây là một quyết định đột phá của Chính phủ Ấn Độ nhằm tăng cường khuyến khích xuất khẩu dịch vụ trong đó có

cả dịch vụ tư vấn)

Kinh nghiệm của OECD cũng cho thấy, chỉ riêng chính sách KH&CN không đủ sức thúc đẩy hoạt động KH&CN nói chung và phát triển thị trường công nghệ nói riêng Các chính sách kinh tế (tài khoá-tiền tệ, cạnh tranh, đầu tư, hội nhập và chính sách công nghiệp) giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển thị trường công nghệ

I.4.5 Nhận xét chung

Đa số các nước công nghiệp phát triển thường xuyên tổ chức thị trường KH&CN dưới dạng Hội chợ triển lãm sản phẩm, trong đó các đơn vị nghiên cứu khoa học cũng như doanh nghiệp có tiềm lực đều bình đẳng tham gia Hội chợ, đôi khi có quốc gia có chú ý riêng đến thành quả KH&CN nên đã tổ chức Hội chợ triển lãm thành quả công nghệ cao như TechnoMart IV tại Phúc Châu Trung Quốc, năm 2001 Về phía Nhà nước, thông thường chỉ xây dựng các thiết chế chủ yếu hỗ trợ cho hoạt động này, chứ không xây dựng thị trường KH&CN cố định mà chỉ tổ chức các Hội chợ triển lãm;

Quản lý thị trường công nghệ có hệ thống và thống nhất là một hình thức sáng tạo của Bộ KH&CN Trung Quốc trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường

Trang 23

Về mặt tổ chức, tại Trung Quốc đã hình thành mạng lưới quản lý xuyên suốt từ trung ương đến địa phương (tại Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc

có một đơn vị làm nhiệm vụ quản lý thị trường công nghệ - Trung tâm Thúc đẩy Quản lý Thị trường công nghệ Trung Quốc - với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng những văn bản pháp quy quản lý thị trường công nghệ và tổ chức công tác đào tạo, thống kê, đánh giá trong toàn quốc Tại từng tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý toàn diện thị trường công nghệ trong phạm vi của mình phụ trách)

Về mặt luật pháp, Trung Quốc đã xây dựng được một hệ thống luật pháp tương đối đồng bộ phục vụ quản lý thị trường công nghệ Cao nhất là Luật KH&CN, Luật Thúc đẩy Chuyển hoá Thành quả KH&CN, Điều lệ Quản lý Thị trường công nghệ và nhiều văn bản pháp quy khác Riêng tỉnh Quảng Đông cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy bổ sung liên quan đến Thị trường công nghệ như đăng ký hợp đồng công nghệ, cho vay phát triển KH&CN, miễn thuế doanh nghiệp thu nhập chuyển giao công nghệ của đơn vị nghiên cứu, Quy định tạm thời về chính sách ưu đãi thuế sản phẩm mới; Biện pháp kiểm định thành quả KH&CN, Điều lệ quản lý doanh nghiệp KH&CN dân doanh, tăng cường nuôi dưỡng và phát triển thị trường công nghệ; tăng cường phát triển tư vấn công nghệ, nghiệp vụ thông tin KH&CN và dịch vụ công nghệ; Quy định tạm thời quản lý Chợ giao dịch công nghệ; Tăng cường công tác thẩm tra Chợ giao dịch công nghệ

I.4.6 Bài học rút ra

Về mô hình và bước đi để hình thành và phát triển thị trường KH&CN có thể Trung Quốc là quốc gia phù hợp nhất cho Việt Nam nghiên cứu, học hỏi Những bài học là:

− Cần có nhận thức đúng đắn về thị trường, cơ chế thị trường và xác định rõ các bước đi cho phù hợp với tiến trình đổi mới, mở cửa và gia nhập WTO

Trang 24

− Hệ thống luật pháp, các văn bản pháp quy phục vụ cho việc hình thành thị trường KH&CN cần đi trước một bước

− Sớm đào tạo và chuẩn bị lực lượng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Đầu tư nâng cấp cho các viện và trường đại học có thiết bị công nghệ tốt hơn để phục vụ nghiên cứu sáng tạo

− Có chế tài cụ thể, bảo đảm hiệu lực thực thi luật pháp (của các đối tượng tham gia thị trường và đặc biệt là của cán bộ, công chức và các

cơ quan của Nhà nước)

− Coi trọng và tạo điều kiện thành lập nhiều trung tâm tư vấn môi giới, chuyển giao công nghệ, các tổ chức dịch vụ trung gian

− Việc lồng ghép nội dung quảng bá và giao dịch công nghệ trong các Hội chợ, Triển lãm kinh tế, kỹ thuật là dịp tốt cho các đối tượng “cung-cầu” công nghệ (trong, ngoài nước), tìm đối tác và đặt quan hệ

− Trong điều kiện của Việt Nam, việc quản lý hoạt động của thị trường công nghệ vẫn cần có một tổ chức do Nhà nước quy định và giao chức năng Tổ chức này nên là một đơn vị thuộc Bộ KH&CN, ở các tỉnh là một đơn vị thuộc Sở KH&CN

Trang 25

PHẦN II

CƠ SỞ KHOA HỌC, YẾU TỐ, ĐIỀU KIỆN THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM

II.1 Cơ sở khoa học hình thành và phát triển thị trường KH&CN

II.1.1 Khái niệm thành quả KH&CN (sản phẩm KH&CN)

Thành quả KH&CN (sản phẩm KH&CN) là sản phẩm của hoạt động tư duy vận dụng tri thức khoa học đã có, thông qua điều tra, quan sát, thí nghiệm hoặc phép biện chứng để khám phá những bí mật và quy luật của tự nhiên, xã hội, giải quyết những vấn đề trong quá trình phát triển xã hội loài người

Đặc trưng cơ bản của thành quả KH&CN là tính mới, tính tiên tiến, tính áp dụng công nghiệp Tính mới là tính đổi mới của thành quả KH&CN, tức là yêu cầu phải có lý luận mới, phương pháp mới, sản phẩm mới, không làm lại hoặc sao chép lại thành quả của người khác Tính tiên tiến là trình độ học thuật của thành quả KH&CN và trình độ công nghệ phải so sánh với trình độ dẫn đầu đã

có, cụ thể là thành quả KH&CN đồng thời lại phải cao hơn trình độ thành quả đã

có Tính áp dụng công nghiệp là giá trị học thuật, giá trị kinh tế và giá trị xã hội của thành quả KH&CN, tức là thành quả phải có ý nghĩa học thuật đối với việc phát triển một bộ môn nào đó, hoặc trong thực tế sản xuất ứng dụng có thể thu được hiệu quả xã hội hoặc hiệu quả kinh tế thậm chí tốt hơn

Đặc trưng giá trị của thành quả KH&CN biểu hiện qua tính khoa học, tính

xã hội và tính kinh tế của thành quả KH&CN Tính khoa học của thành quả KH&CN là chỉ thành quả là “khoa học”, nhưng không “giả khoa học” Tính xã hội của thành quả KH&CN là giá trị xã hội của thành quả, thành quả liệu có gây hại cho an ninh, văn minh, đạo đức và không gian môi trường toàn cầu hay không Mặc dù trình độ công nghệ một số thành quả KH&CN rất cao, giá trị kinh tế rất cao, nhưng việc ứng dụng nó vi phạm nguyên tắc của tính xã hội, thì thành quả

Trang 26

như vậy cũng phải cấm hoặc kiểm soát nghiêm ngặt Tính kinh tế là hiệu quả kinh tế sản xuất cần thiết của việc nhân rộng và ứng dụng thành quả

Thành quả KH&CN (sản phẩm KH&CN) có thể là:

a) Các sản phẩm hữu hình như máy móc, thiết bị, vật liệu, v.v…

b) Các sản phẩm vô hình như quy trình công nghệ, bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích, bí quyết kỹ thuật, công thức hoá học, phần mềm máy tính, v.v…

II.1.2 Chuyển hoá thành quả KH&CN và chuyển giao công nghệ

II.1.2.1 Chuyển hoá thành quả KH&CN

Chuyển hoá thành quả KH&CN là các hoạt động tiếp theo thí nghiệm, phát triển, ứng dụng, mở rộng, thậm chí hình thành sản phẩm mới, công nghệ mới, vật liệu mới và phát triển ngành công nghiệp mới được tiến hành đối với thành quả KH&CN có giá trị sử dụng công nghiệp do nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tạo ra để nâng cao trình độ, sức sản xuất

II.1.2.2 Chuyển giao công nghệ

Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ (Luật Chuyển giao công nghệ Việt Nam, 2006)

Quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra trong nghiên cứu phát triển hoặc trong sản xuất Chủ thể chuyển giao công nghệ là bên cung và bên cầu, bao gồm cơ quan nghiên cứu phát triển, doanh nghiệp, đại học trong và ngoài nước Trong phần lớn các trường hợp chuyển giao công nghệ, bên cung thường là cơ quan nghiên cứu phát triển hoặc trường đại học, bên cầu là doanh nghiệp Tuy vậy, cũng không hiếm trường hợp doanh nghiệp vừa tiếp nhận công nghệ từ cơ quan nghiên cứu phát triển và trường đại học, vừa chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp khác

Trang 27

Công nghệ sở dĩ cần chuyển giao, hơn thế nữa cũng có thể chuyển giao,

là vì chuyển giao công nghệ là giai đoạn then chốt thương mại hóa thành quả công nghệ, và chỉ có thực hiện thương mại thành quả công nghệ, thông qua nâng cao sức sản xuất và hiệu quả sản xuất, thì giá trị kinh tế và giá trị xã hội của tiến bộ KH&CN mới có thể có được sự thể hiện cuối cùng biến chuyển giao công nghệ ở quy mô lớn, phạm vi lớn thành khuếch tán công nghệ

Về mặt lý luận, một doanh nghiệp riêng lẻ cũng có thể không chuyển giao công nghệ do mình nghiên cứu chế tạo ra, một mình hoàn thành toàn bộ quá trình từ nghiên cứu cho đến thương mại thành quả công nghệ Nhưng kết quả của nó là nâng cao sức sản xuất và hiệu quả sản xuất của bản thân doanh nghiệp này và chỉ có thông qua chuyển giao công nghệ và khuếch tán công nghệ mới có thể nâng cao được sức sản xuất và hiệu quả sản xuất của toàn doanh nghiệp thậm chí của toàn quốc Từ góc độ quản lý vĩ mô, các cơ quan chủ yếu của Chính phủ càng phải nhận thức rõ điểm này, ban hành những chính sách có lợi cho chuyển giao công nghệ Luật chuyển giao công nghệ Mỹ nói ở phần trên

có tác dụng như vậy

Các yếu tố thành bại chủ yếu trong chuyển giao công nghệ gồm: mức độ trưởng thành công nghệ, năng lực “dịch vụ sau bán hàng” của bên cung, năng lực học tập của bên cầu, mức độ trưởng thành của trung gian công nghệ

Mức độ trưởng thành của công nghệ chuyển giao: điều này liên quan đến công nghệ ở các giai đoạn khác nhau, là công nghệ nguyên hình phòng thí nghiệm hay là công nghệ phát triển thành công, là công nghệ có thể dùng để sản xuất loạt lớn hay là chỉ có thể tiến hành chế thử loạt nhỏ

Bên cung công nghệ trong quá trình chuyển giao công nghệ phải có thể cung cấp năng lực đào tạo và năng lực “dịch vụ sau bán hàng”

Năng lực học tập của bên cầu đối với công nghệ chuyển nhượng, bao gồm năng lực tiêu hoá hấp thụ và năng lực phát triển lần thứ 2 và năng lực sản xuất và tiếp thị

Trang 28

Mức độ trưởng thành của trung gian công nghệ bao gồm: truyền bá thông tin công nghệ và thông tin sáng chế, thúc đẩy liên lạc thông tin 2 bên chuyển giao công nghệ, đánh giá công nghệ, xây dựng thị trường KH&CN và giao dịch công nghệ, xây dựng quy định pháp luật quyền sở hữu trí tuệ

II.1.2.3 Quản lý chuyển hoá thành quả KH&CN, chuyển giao giao công nghệ

a) “Luật Chuyển giao công nghệ Liên bang” của Mỹ

Luật Chuyển giao công nghệ Mỹ ban hành năm 1986 là đạo luật sửa đổi Luật Đổi mới công nghệ Stevenson-Wydler 1980 Luật này khuyến khích phòng thí nghiệm liên bang và giới doanh nghiệp xây dựng đơn vị liên hợp nghiên cứu khoa học, từ đó thúc đẩy chuyển giao công nghệ Luật quy định mỗi phòng thí nghiệm phải trích 0,5% dự toán dùng vào chuyển giao công nghệ, Chính phủ tài trợ xây dựng mạng thông tin giữa các phòng thí nghiệm, kinh phí chuyển nhượng công nghệ không nộp vào ngân khố quốc gia mà được giao cho phòng thí nghiệm sở hữu, chủ sở hữu sáng chế có thể nhận được tiền thù lao lên đến khoảng 15% từ trong chuyển nhượng công nghệ

b) “Luật thúc đẩy chuyển hoá thành quả KH&CN” và “Một số quy định về thúc đẩy chuyển hoá thành quả KH&CN” của Trung Quốc

Tháng 5/1996 Quốc hôi Trung Quốc thông qua “Luật thúc đẩy chuyển hoá thành quả KH&CN” có 6 Chương, 36 Điều Điều 29 quy định: “Đơn vị hoàn thành chuyển giao thành quả KH&CN công vụ nếu muốn chuyển nhượng thành quả chuyển giao KH&CN cho người khác, thì đơn vị này phải trích ra ít nhất 20% thu nhập thực tế đạt được từ chuyển giao thành quả KH&CN để thưởng cho các nhân viên đã hoàn thành và có cống hiến quan trọng đối với việc hoàn thành thành quả KH&CN này.” Đây là sự khuyến khích rất lớn đối với cán bộ sáng tạo

ra sáng chế công vụ

Tháng 3/1999, Bộ KH&CN Trung Quốc ban hành “Một số quy định về thúc đẩy chuyển hoá thành quả KH&CN”, điều chỉnh vấn đề then chốt là quan hệ giữa chuyển hoá thành quả KH&CN và quyền sở hữu tài sản Cụ thể, văn bản này

Trang 29

quy định như sau: (1) Nếu dùng thành quả công nghệ cao góp cổ phần vào công

ty TNHH hoặc doanh nghiệp chế độ phi công ty, thì mức giá của thành quả công nghệ cao có thể đạt tới 35% vốn đăng ký của công ty hoặc doanh nghiệp (trước đây quy định là 20% vốn đăng ký); (2) Khi cơ quan NCKH, trường đại học chuyển hoá thành quả KH&CN công vụ thì phải khen thưởng cho những cán bộ liên quan có đóng góp quan trọng theo luật định; (3) Sau khi hoàn thành thành quả KH&CN 1 năm mà đơn vị không chuyển hoá thì cán bộ KH&CN có thể tự mình chuyển hoá thành quả công vụ căn cứ vào thoả thuận đã ký với đơn vị

c) “Luật Chuyển giao công nghệ” của Việt Nam

Luật Chuyển giao công nghệ của Việt Nam (29-11-2006) giao quyền chủ

sở hữu cho các đơn vị trực tiếp tạo ra thành quả KH&CN, mặc dù việc nghiên cứu công nghệ đó có thể do ngân sách nhà nước cung cấp Khi thành quả KH&CN được thương mại hóa, tác giả được hưởng từ 20% đến 35% số tiền thu được từ hợp đồng chuyển giao công nghệ, phần làm lợi do công nghệ đó tạo ra Sau khi trả thù lao cho tập thể, cá nhân tạo ra công nghệ, chủ sở hữu công nghệ

sử dụng 50% thu nhập còn lại cho đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, 50% cho quỹ phúc lợi, khen thưởng Phần còn lại không phải nộp lại cho Nhà nước mà được giữ lại để phục vụ đầu tư cho nghiên cứu hoặc đầu tư khác của đơn vị

Luật cũng quy định các doanh nghiệp có thể trích một phần lợi nhuận trước thuế phục vụ cho công tác nghiên cứu, đổi mới công nghệ

Ngoài ra, các tổ chức môi giới chuyển giao công nghệ từ đơn vị nghiên cứu đến các doanh nghiệp cũng có thể được hưởng mức thù lao tới 10% giá thanh toán bên mua, bên bán

II.1.3 Thị trường KH&CN

II.1.3.1 Khái niệm thị trường KH&CN

Thị trường KH&CN là không gian thực hoặc ảo diễn ra hoạt động trao đổi hàng hoá KH&CN, sử dụng dịch vụ KH&CN và chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá KH&CN

Trang 30

Hàng hoá lưu thông trên thị trường KH&CN là thành quả KH&CN, bao gồm các sản phẩm hữu hình và vô hình như đã nói ở mục II.1.1

Dịch vụ KH&CN bao gồm:

a) Các dịch vụ liên quan trực tiếp đến sản phẩm KH&CN hoặc hoạt động KH&CN như lắp đặt, duy tu, bảo dưỡng máy móc, thiết bị; hướng dẫn quy trình công nghệ; chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm với tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật; công nhận năng lực của phòng thí nghiệm, phòng hiệu chuẩn

b) Các dịch vụ liên quan trực tiếp đến hoạt động giao dịch mua bán trên thị trường KH&CN như tư vấn, môi giới, định giá CN

Việc giao dịch mua bán sản phẩm KH&CN có thể gắn liền hoặc không gắn liền với việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ

II.1.3.2 Các yếu tố cơ bản của thị trường KH&CN

Các yếu tố cơ bản cấu thành thị trường KH&CN là:

- Sự hiện diện của hàng hoá và các chủ thể trên thị trường (bên bán – bên có năng lực làm ra sản phẩm KH&CN, bên mua – bên có nhu cầu mua sản phẩm KH&CN , và các tổ chức trung gian làm cầu nối giữa “cung” và “cầu”)

- Sự hiện diện của thể chế, đảm bảo hoạt động của thị trường (hệ thống văn bản pháp quy và các tổ chức quản lý, thực thi thể chế …)

Trang 31

Sơ đồ 1: Các yếu tố của thị trường KH&CN

Yếu tố hiện

diện trên

TTCN

• Bên mua (bên có nhu cầu công nghệ)

Các tổ chức trung gian: môi giới, kinh doanh,

tư vấn, dịch vụ

• Bên bán (bên cung cấp công nghệ)

• Hàng hoá bày bán (hữu hình hoặc vô hình)

Yếu tố thể

chế đảm bảo

trên TTCN

• Điều lệ pháp quy cho thị trường hoạt động

trên cơ sở lợi ích bên mua và bên bán theo pháp luật

b) Hoạt động môi giới

Môi giới thường được hiểu là một loại hình hoạt động cung ứng dịch vụ dàn xếp, tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc, giao dịch, trao đổi, ký kết, thực hiện các hợp đồng mua bán các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Quan

hệ môi giới được thiết lập trên cơ sở hợp đồng môi giới bằng văn bản hoặc bằng thoả thuận miệng, tùy theo sự thoả thuận giữa bên cung ứng dịch vụ môi giới và bên khách hàng sử dụng dịch vụ môi giới hoặc theo quy định của pháp luật Hình thức thực hiện môi giới có thể là giao dịch trực tiếp hoặc thông qua phương tiện điện tử hoặc các hình thức khác với khách hàng do các bên thoả thuận

Trang 32

c) Hoạt động định giá công nghệ

Định giá công nghệ là hoạt động xác định giá trị của sản phẩm công nghệ

và tài sản trí tuệ nói chung để phục vụ cho việc chuyển giao công nghệ và đầu tư góp vốn cổ phần Thông thường, định giá công nghệ được thực hiện theo các phương pháp sau đây:

- Phương pháp chi phí (xác định giá trị tài sản trí tuệ theo chi phí vật liệu, nhân công đã sử dụng và tiêu hao tức thời) Phương pháp này thường được áp dụng trong việc định giá các thiết kế công trình, phần mềm máy tính, giấy phép kinh doanh và trong định giá tổn thất liên quan đến tố tụng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

- Phương pháp thị trường (xác định giá trị tài sản trí tuệ thông qua điều chỉnh thích hợp theo giá trị sử dụng và nhu cầu trên thị trường) Đối với những nước mà kinh tế thị trường chưa phát triển như nước ta, việc sử dụng phương pháp này chưa thích hợp

- Phương pháp thu nhập (xác định giá trị tài sản trí tuệ bằng cách lấy thu nhập tạo ra trong kỳ thu nhập tương lai của tài sản trí tuệ trừ đi một tỉ lệ lỗ vốn thích hợp làm giá trị hiện thời) Đây là phương pháp định giá được áp dụng phổ biến hiện nay

d) Hoạt động quản lý thị trường

Hoạt động quản lý thị trường KH&CN bao gồm các nội dung sau: tổ chức xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về thị trường KH&CN ; vận dụng các biện pháp về hành chính, kinh tế để điều hòa vĩ mô và chỉ đạo phát triển thị trường KH&CN; làm đầu mối giám định, đăng ký hợp đồng công nghệ và phụ trách công tác thống kê, phân tích thị trường KH&CN ; phối hợp thúc đẩy xây dựng cơ quan trọng tài hợp đồng CN; phối hợp với cơ quan tài chính và các cơ quan có liên quan khai thác các nguồn kinh tế, phát triển quỹ hỗ trợ nhằm thúc đẩy thương phẩm hóa thành quả KH&CN; phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, phê duyệt và quản lý cơ quan kinh doanh, môi giới, dịch vụ CN; tổ chức chỉ đạo lưu thông thông tin về thương phẩm hóa CN; tổ chức công tác đào tạo

Trang 33

và xây dựng đội ngũ cán bộ cho TTCN; tổ chức và triển khai nghiên cứu lý luận

và tuyên truyền về thị trường KH&CN ; tổ chức việc khen thưởng công tác thị trường KH&CN

II.1.3.3 Chức năng của thị trường KH&CN

Thị trường KH&CN có những chức năng chủ yếu như sau:

Chức năng môi giới

Thị trường KH&CN là cầu nối và sợi dây liên kết giữa KH&CN và kinh tế thúc đẩy liên kết KH&CN với kinh tế bằng quan hệ trao đổi thị trường Cùng với phát triển thị trường KH&CN, tỉ lệ ứng dụng rộng rãi thành quả KH&CN sẽ được nâng cao rõ nét Đưa cơ chế thị trường KH&CN vào lĩnh vực KH&CN đã thúc đẩy chuyển hoá thành quả KH&CN, sơ bộ thay đổi tệ nạn tách rời giữa KH&CN

và kinh tế

Chức năng đánh giá

Thị trường KH&CN là hoạt động và tiêu chuẩn khách quan tạo ra sự đánh giá hàng hoá công nghệ, nó vừa thực hiện giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá công nghệ, vừa kiểm nghiệm giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá công nghệ, làm nhà sản xuất hàng hoá công nghệ và nhà kinh doanh phải chấp nhận đánh giá thị trường, thúc đẩy nâng cao trình độ hàng hoá công nghệ và hợp lý hoá cơ cấu

Chức năng truyền thông tin

Bởi vì là sự tổng hoà của quan hệ trao đổi hàng hoá của thị trường KH&CN, nên đa số hoạt động kinh tế kỹ thuật có thể được phản ánh thông qua thị trường KH&CN, nên hoạt động này là thông tin kinh tế kỹ thuật xã hội quan trọng Một mặt, nhà sản xuất hàng hoá, nhà kinh doanh, khách hàng đều có thể nắm được thông tin này, tiến hành phân tích và dự báo đối với tình hình thị trường để đưa ra quyết định tham gia vào hoạt động thị trường; mặt khác, thông tin kinh tế kỹ thuật có thể phản hồi cho các cơ quan Nhà nước trở thành căn cứ quan trọng để các cơ quan Nhà nước đưa ra các quyết sách về kinh tế và KH&CN

Trang 34

Chức năng khuyến khích

Thị trường là thị trường cạnh tranh, trên thị trường, tốt thắng xấu bỏ là quy luật không thể chống lại Trong điều kiện khuyến khích cạnh tranh thì nhà sản xuất hàng hoá công nghệ và nhà kinh doanh chỉ có không ngừng đưa ra hàng hoá công nghệ tiên tiến thích hợp mới có thể giành được thắng lợi trong cạnh tranh thị trường KH&CN và do đó thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN

Chức năng điều phối lợi ích

Quan hệ tương hỗ giữa giá trị và lưu thông của thị trường KH&CN có thể trở thành cán cân điều tiết sản xuất kinh tế xã hội, làm công cụ phân phối và phân phối lại lợi ích kinh tế giữa nhà sản xuất hàng hoá công nghệ và nhà kinh doanh Thị trường KH&CN còn dùng chức năng phân phối lợi ích này để điều phối mối quan hệ lợi ích giữa nhà sản xuất hàng hoá công nghệ, nhà kinh doanh

và khách hàng

Chức năng điều tiết

Thị trường KH&CN có thể phản ánh kịp thời tình hình cung cầu hàng hoá công nghệ và, ở chừng mực nhất định, điều tiết sản xuất, lưu thông và tiêu thụ hàng hoá công nghệ, giảm thiểu tính mù quáng, làm bừa, thiếu điều tra thị trường trong phát triển công nghệ

II.1.3 4 Đặc điểm của thị trường KH&CN

Theo học thuyết của K Mac thì một sản phẩm chỉ có thể trở thành hàng hoá khi nó thoả mãn ba điều kiện cơ bản:

Một là, nó phải là sản phẩm của lao động, do lao động tạo ra

Hai là, nó có giá trị sử dụng tức là sản phẩm đó phải có công dụng thoả mãn nhu cầu nào đó của con người

Ba là, sản phẩm đó được sản xuất nhằm mục đích trao đổi; không phải để phục vụ mục đích sử dụng của bản thân người sản xuất ra nó

Sản phẩm KH&CN chỉ có thể trở thành hàng hoá và được trao đổi, mua bán trên thị trường khi nó thoả mãn được ba điều kiện trên

Trang 35

Tuy nhiên, do đặc thù của lao động khoa học và của sản phẩm KH&CN,

thị trường KH&CN có một số đặc điểm sau:

(1) Hàng hoá lưu thông trên thị trường là loại hàng hoá phi vật thể, khó giám định, nhanh lạc hậu, dễ lộ bí quyết

Đối với các nước công nghiệp phát triển, hàng hoá công nghệ chỉ là phần mềm Đối với các nước đang phát triển, các thiết bị tiên tiến, hiện đại được nhập ngoại để thay thế cho máy móc, thiết bị đã quá lạc hậu (gọi là đầu tư chiều sâu)…cũng được coi là nhập công nghệ (thiết bị hàm chứa công nghệ), nhưng mức độ hàm chứa công nghệ cũng không dễ xác định

Sản phẩm R&D thường được coi là những hàng hoá công cộng Theo quan điểm kinh tế học, hàng hoá công cộng là những hàng hoá có thể dùng chung và cần phải dùng chung Là hàng hoá công cộng, mỗi sản phẩm phải có một hoặc hai tính chất: một là, tính phi cạnh tranh về phương diện tiêu dùng, chi phí biên để có thêm một người nữa sử dụng là bằng không Hai là, tính không thể loại trừ, nghĩa là người sở hữu hàng hoá công cộng không thể ngăn cấm người khác sử dụng hoặc là phải chấp nhận những chi phí loại trừ rất cao Sản phẩm R&D có đặc điểm thứ nhất và thường cũng có đặc điểm thứ hai Khi được coi là những hàng hoá công cộng thì các sản phẩm R&D thường không đảm bảo lợi ích cho người tạo ra nó Chính vì vậy, động cơ khuyến khích hoạt động R&D

Trang 36

vô hình” là các quy luật của thị trường (lợi nhuận, cạnh tranh, giá trị…) trong thị

trường KH&CN cũng hạn chế

Chính do những đặc điểm này, đối với các nước có nền kinh tế thị trường chưa phát triển, Nhà nước phải có những thể chế phù hợp, giúp cho thị trường KH&CN vượt qua khó khăn trong quá trình hình thành và phát triển

II.2 Các nhân tố thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường khoa học và công nghệ

II.2.1 Năng lực sáng tạo KH&CN của bên “cung”

Nguồn “cung” hàng hoá trong thị trường KH&CN phụ thuộc vào năng lực sáng tạo của đội ngũ khoa học Năng lực sáng tạo của nhà khoa học không chỉ phụ thuộc vào tố chất của họ mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động khoa học (môi trường vi mô và vĩ mô) Môi trường vi mô (tổ chức khoa học, nơi họ làm việc, nơi sáng tạo) thường quan trọng hơn môi trường vĩ mô, nhất là đối với các

tổ chức nghiên cứu ứng dụng Cùng một môi trường vĩ mô (môi trường luật pháp, môi trường kinh tế xã hội) nhưng không ít nhà khoa học, không ít tổ chức khoa học có nhiều kết quả được ứng dụng vào thực tiễn hơn người khác, tổ chức khác

Những tổ chức khoa học được coi là có môi trường sáng tạo thường có một số đặc điểm sau:

1) Ít, nhưng tinh “Một nhà khoa học tài năng còn giá trị hơn cả một viện nghiên cứu với những khoa học gia tầm thường” (J Vlachy, 1978: Frequency Distributions of Scientific Performance - A bibliography of Lotka’s law and related phenomena; Scientometrics 1, 109)

2) Có tầm nhìn (chức năng, nhiệm vụ, kế hoạch hoạt động, tổ chức nghiên cứu và hỗ trợ nghiên cứu, mục tiêu và tính khả thi của chương trình, dự án, đề tài…)

3) Có tính đồng đội cao (các nhóm làm việc-cùng một ý chí, hành động, cùng tiến, cùng chia xẻ, cùng thụ hưởng thành quả…)

Trang 37

4) Có quan hệ sâu, rộng (trong giới khoa học và với các nhà sản xuất) 5) Thủ trưởng có uy tín trong và ngoài tổ chức (về năng lực chuyên môn

và tổ chức công việc, về tầm nhìn của người lãnh đạo, về tính đồng đội, về quan hệ…)

Một dự án nghiên cứu về những nhân tố tạo nên kết quả và những tiêu chuẩn đánh giá kết quả hoạt động của một tổ chức khoa học (nghiên cứu ứng dụng) đã được Viện Nghiên cứu Kỹ thuật hệ thống và Đổi mới (FhG-ISI) của CHLB Đức tiến hành đã nêu ra 9 nhân tố tạo nên kết quả là:

- Định hướng chiến lược, công tác kế hoạch hoá chiến lược, các hoạt động triển khai kế hoạch hoá chiến lược, các kỹ năng (về đội ngũ, về tổ chức),

và phát triển các liên minh chiến lược (trong nước và quốc tế)

- Phát triển công nghệ (năng lực của tổ chức nghiên cứu trong phát triển công nghệ: các hệ thống công nghệ, sản phẩm mẫu, licence, patent, hỗ trợ các

dự án triển khai trong công nghiệp), tham gia các chương trình hỗ trợ và chất lượng quản lý dự án (tiến hành các dự án, lực lượng hợp tác với các công ty hoặc các hợp tác giữa các dự án và tính liên ngành)

- Quan hệ với công nghiệp (những kết quả nghiên cứu để phát triển công nghệ, sự hợp tác với doanh nghiệp hoặc dịch vụ công nghiệp, đóng góp của viện vào các hoạt động đổi mới của doanh nghiệp; sự tham gia các hội đồng về công nghệ)

- Quan hệ với cộng đồng khoa học (chất lượng khoa học của các nghiên cứu và tiếng tăm trong khoa học, sự hợp tác khoa học và hoạt động giáo dục đào tạo, sự tham gia các hội đồng khoa học)

- Những kỹ năng tiếp xúc, trao đổi (Phương thức tiếp xúc, sự phát triển các dạng hợp tác, những nỗ lực công bố, xuất bản và quảng cáo với bên ngoài)

- Về tổ chức và quản lý: kế hoạch hoá chiến lược về mặt tổ chức; phân tích về tổ chức, những quá trình tổ chức công việc, công tác kiểm tra quản lý dự

án

Trang 38

- Nguồn nhân lực: Động cơ, tính sáng tạo, tính đồng đội, sự tham dự, tinh thần độc lập và ý thức trách nhiệm

- Tính đồng bộ và chuyên dụng của trang thiết bị khoa học và kỹ thuật, quan điểm về mua sắm và sử dụng thiết bị, và các thiết bị thông tin khoa học (các cơ sở dữ liệu, thư viện)

- Tài chính tới hạn: các nguồn tài chính, những dịch vụ có thu nhập, phân

bổ các nguồn tài chính giữa các bộ phận, cơ cấu chi tiêu…

II.2.2 Nhu cầu và năng lực tiếp nhận công nghệ của bên “cầu”

Để tăng nhu cầu và năng lực tiếp nhận công nghệ của mình, các doanh nghiệp cần:

- Hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

- Nhận thức được tầm quan trọng của sự đổi mới công nghệ và quyết tâm đổi mới công nghệ; có chiến lược đổi mới công nghệ với những bước đi cụ thể, vững chắc, phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường; đầu tư công nghệ đồng bộ

- Biết lựa chọn điểm mạnh nhất của mình, tạo ra sản phẩm độc đáo có tính thương hiệu cao và bền vững

- Phát triển nguồn nhân lực song song với việc đầu tư phát triển thiết bị công nghệ

Người ta ước tính rằng, đến 90% các công nghệ được tạo ra ở các nước công nghiệp phát triển để giải quyết những yêu cầu riêng của các nước này, phần còn lại và những công nghệ đã tương đối lạc hậu mới chuyển giao sang các nước đang phát triển Tình trạng chung ở các nước đang phát triển là sản xuất nông nghiệp vẫn đang chiếm vị trí chủ đạo, công cụ lao động lạc hậu, bên cạnh đó còn phải đối mặt với những vấn đề khó khăn trong việc chuyển giao công nghệ như:

- Công nghệ sẵn có để lựa chọn rất hạn chế vì bản chất độc quyền của các bên cung cấp công nghệ,

- Thị trường giao dịch công nghệ chưa thực sự hoàn hảo, có nơi mới hình thành ở mức độ sơ khai,

Trang 39

- Vị thế yếu để mặc cả giá chuyển giao công nghệ,

- Các điều kiện và thời gian chuyển giao công nghệ bị hạn chế,

- Năng lực tiếp nhận công nghệ thấp,

- Năng lực hấp thụ, nghiên cứu và phát triển công nghệ còn yếu kém,

- Sự phụ thuộc ngày càng cao vào các nước cung cấp công nghệ do tốc

độ đổi mới công nghệ quá nhanh, vòng đời công nghệ ngày càng ngắn,

- Các nước đang phát triển thiếu những điều kiện vật chất, kỹ thuật cần thiết để ứng dụng và triển khai công nghệ hiện đại,

- Phần lớn các công nghệ hiện đại của các nước công nghiệp phát triển không thích hợp lắm với những điều kiện cụ thể của các nước đang phát triển,

- Phần lớn các nước chậm phát triển, thiết chế xã hội kém năng động, thị trường KH&CN nhỏ hẹp, không thể tạo ra được những động lực lớn cho việc tiếp nhận, làm chủ và đổi mới công nghệ nhập

Một doanh nghiệp muốn lựa chọn để nhập một công nghệ mong muốn, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp trong vô số các loại công nghệ khác nhau là một vấn đề trở ngại lớn hiện nay Lựa chọn công nghệ là một công việc đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí Vì vậy, theo kinh nghiệm của các chuyên gia quốc tế, để lựa chọn công nghệ phù hợp, cần đánh giá công nghệ theo 4 mức như sau:

1 Đánh giá sơ bộ,

2 Đánh giá khả năng chuyển giao,

3 Đánh giá thị trường,

4 Đánh giá thương mại

(1) Đánh giá sơ bộ: Đánh giá sơ bộ công nghệ là so sánh công nghệ mình chọn với các công nghệ khác về tính hấp dẫn về ưu thế/lợi ích tạo ra cho doanh nghiệp nhằm làm cơ sở cho việc thẩm định, đánh giá tiếp theo, gồm các yếu tố phổ biến như sau:

Trang 40

- Phạm vi công nghệ đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp/khách hàng

- Ưu thế/Lợi ích đối với doanh nghiệp/Khách hàng

- Tình trạng, mức độ và phạm vi phát triển/triển khai/sử dụng công nghệ

- Vòng đời công nghệ/sản phẩm do công nghệ tạo ra cho doanh nghiệp tiếp nhận

- Khả năng chấp nhận của thị trường/khách hàng tiềm năng

- Tình trạng về quyền sở hữu trí tuệ

- Các quy định về môi trường/an toàn trong sản xuất

(2) Đánh giá khả năng chuyển giao: Đánh giá khả năng chuyển giao công nghệ là xác định và so sánh các công nghệ đã được lựa chọn về tiềm năng chuyển giao và triển khai thành công trong môi trường mới Dưới đây là những yếu tố thường được xem xét:

- Mức độ phát triển/triển khai/sử dụng công nghệ/tiềm năng của công nghệ

để vận hành thành công trong môi trường của bên tiếp nhận

- Các nguồn lực (cần danh mục liên quan như kỹ năng vận hành, thao tác/thiết kế -kỹ thuật, nguyên liệu, tư liệu sản xuất, phụ kiện thay thế ) dễ tiếp cận/mua của bên chuyển giao

- Bên tiếp nhận cần cân nhắc những điểm bất thường có thể xảy ra như rủi ro, ô nhiễm môi trường, tự động hoá

- Khả năng vận hành, bảo dưỡng, xử lý sự cố

- Hỗ trợ sau chuyển giao (đào tạo, cải tiến, nghiên cứu, cập nhật những tin tức mới)

- Đánh giá về kinh tế của công nghệ

(3) Đánh giá thị trường: Về bản chất là xem xét tính đặc trưng của sản phẩm do công nghệ tạo ra có đáp ứng được thị trường tiềm năng hay không? Sau đây là những yếu tố thường được xem xét:

Ngày đăng: 15/05/2014, 15:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Các yếu tố của thị trường KH&CN - Nghiên cứu luận cứu khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Sơ đồ 1 Các yếu tố của thị trường KH&CN (Trang 31)
Bảng 1: Kết quả điều tra tình hình thị trường công nghệ - Nghiên cứu luận cứu khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Bảng 1 Kết quả điều tra tình hình thị trường công nghệ (Trang 64)
Bảng 3: Đầu tư cho các phòng thí nghiệm  trọng điểm giai đoạn (2001-2005) - Nghiên cứu luận cứu khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Bảng 3 Đầu tư cho các phòng thí nghiệm trọng điểm giai đoạn (2001-2005) (Trang 70)
Bảng 4: Danh mục sản phẩm của Đề tài - Nghiên cứu luận cứu khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Bảng 4 Danh mục sản phẩm của Đề tài (Trang 179)
Sơ đồ 1: Các yếu tố của thị trường KH&CN - Nghiên cứu luận cứu khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Sơ đồ 1 Các yếu tố của thị trường KH&CN (Trang 202)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm