VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt.THỊ HƢƠNG ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG TRUYỆN NGẮN ANH VIỆT Ngành N n n ữ ọc so s n ối chiếu.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT
NAM
N ƣời ƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Quan Năn
Phản biện 1: GS Nguyễn Thiện Gi p
Phản biện 2: GS Nguyễn Văn K an
Phản biện 3: PGS TS Lâm Quan Đ n
Luận án đƣợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
- Thƣ viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3tỏ tính nghiệm thân của chủ thể tri nhận bao giờ cũng mang đậm nét đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy dân tộc Nghiên cứu về AD ý niệm tình yêu giúp làm sáng tỏ các đặc điểm tương đồng và khác biệt về văn hóa cũng như tư duy trong cách thức biểu đạt tình yêu giữa các cộng đồng dân tộc Từ đó, cung cấp cho người học ngôn ngữ, giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ có thêm góc nhìn về phương thức tư duy
về thế giới khách quan của các dân tộc và những biểu hiện của tư duy này trong cách biểu đạt tình yêu
Tính cho đến nay, đã có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu về AD ý niệm tình yêu trên một ngôn ngữ cụ thể Bên cạnh đó cũng có các nghiên cứu đa văn hoá, khai thác đối chiếu AD ý niệm tình yêu trên cứ liệu các tác phẩm thơ, ca trong và ngoài nước Tuy nhiên, trong Việt ngữ học, chưa có nghiên cứu nào đối chiếu ẩn dụ ý niệm tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt
Do đó, đề tài ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG TRUYỆN NGẮN ANH -
VIỆT có ý nghĩa cả về mặt lý thuyết và thực tế
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của luận án là nghiên cứu AD ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt, nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt và lý giải cho sự tương đồng và khác biệt đó trên cơ sở ngôn ngữ, văn hóa và tư duy dân tộc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Hệ thống hoá lý luận về AD ý niệm và các khái niệm có liên quan; (2) Tìm hiểu
về AD ý niệm tình yêu trong truyện ngắn tiếng Anh (TA) và tiếng Việt (TV): AD ý niệm nào được sử dụng, sử dụng với tần suất như thế nào, được xây dựng trên ánh
xạ nào; (3) So sánh các AD tìm được trong 2 khối liệu truyện ngắn TA và TV nhằm tìm ra sự tương đồng/khác biệt giữa hai ngôn ngữ và luận giải cho sự tương đồng/khác biệt đó dựa trên cơ sở ngôn ngữ, văn hóa và tư duy dân tộc
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong các truyện ngắn tiếng Anh và tiếng Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án lựa chọn cách tiếp cận AD ý niệm theo phân loại của Lakoff và Johnson, chia AD thành 3 loại chính: AD cấu trúc, AD định hướng và AD bản thể Ngoại trừ tình yêu đôi lứa, các BT ẩn dụ của các loại tình yêu khác như tình yêu
Trang 42 gia đình, tình bạn bè, tình yêu tôn giáo và tình yêu phổ quát không được khảo cứu Các biểu thức (BT) ẩn dụ về tình yêu được tổng hợp từ các truyện ngắn Anh và Việt cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 21 để kiểm định tính biến thiên của AD ý niệm tình yêu Bởi lẽ, theo như quan điểm của Tissari (2001) và Gavelin (2015) các ẩn
dụ ý niệm về tình yêu có sự biến đổi tương đối theo tiến trình thời gian, từ các MN không gian, thời gian và giác quan , đặt trong sự vận động của xã hội
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp: Phương pháp miêu tả; so sánh đối chiếu; thủ pháp phân tích ý niệm và thống kê phân loại Ngoài ra quy trình nhận diện ẩn
dụ MIP cũng được sử dụng để nhận dạng ẩn dụ trong diễn ngôn
4.2 Ngữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng ngữ liệu gồm 3635 biểu thức (BT) ẩn dụ về tình yêu trong
TA và TV, trong đó có 1856 BT TV và 1779 BT TA Để đảm bảo tính đại diện cho hai nền văn hóa, luận án chỉ lựa chọn các truyện ngắn đã được xuất bản và thịnh hành trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và Anh Thời gian thu thập dữ liệu kéo dài từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 7 năm 2021 Với ngữ liệu TA, chúng tôi
sử dụng bản dịch sẵn có của các dịch giả Việt cho các BT ngôn ngữ và đặt bản dịch này trong ngoặc đơn sau BT nhằm làm sáng rõ ý niệm được sử dụng trong các AD
ý niệm trong truyện ngắn TA
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
1 Về lí thuyết
Bằng việc hệ thống hóa và kế thừa cơ sở lý luận đi trước, qua nghiên cứu sâu các AD trong ngữ liệu và luận giải sự tương đồng và khác biệt về AD ý niệm giữa hai ngôn ngữ, luận án góp phần bổ sung và làm sáng rõ các đặc trưng văn hóa dân tộc Việt và Anh trong lĩnh vực nghiên cứu, đóng góp vào nền tảng lý luận của AD
ý niệm nói chung và AD ý niệm tình yêu trong truyện ngắn nói riêng
2 Về thực tiễn
Luận án đã xây dựng sơ đồ tầng bậc của ba nhóm AD và luận giải sự tương đồng cũng như khác biệt giữa hai ngôn ngữ dựa trên các đặc trưng văn hóa và tư duy dân tộc Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được ứng dụng vào giảng dạy
bộ môn biên – phiên dịch Anh-Việt/ Việt-Anh; giúp những người học ngôn ngữ, giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ có thêm góc nhìn về phương thức tư duy về thế giới khách quan của hai dân tộc Việt và Anh và những biểu hiện của tư duy này trong cách biểu đạt tình yêu
6 Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu trên 3635 BT AD ý niệm về tình yêu trong truyện ngắn Anh – Việt đã góp phần khẳng định tính hiệu quả của mô hình ẩn dụ ý niệm, với ba loại AD ý niệm chính: AD cấu trúc, AD bản thể và AD định hướng Luận án đã
Trang 53 khảo sát và bổ sung thêm các MN mới, độc đáo, góp phần kiểm chứng tính ổn định của ẩn dụ ý niệm nhưng cũng không nằm ngoài tiến trình phát triển của xã hội, bởi
lẽ hệ thống ý niệm là tri nhận nghiệm thân cảm tính trực tiếp của con người trong quá trình tri giác thế giới vật chất thông qua các cơ quan xúc giác, hoạt động tư duy
và giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ
6.2 Ý n ĩa t ực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án giúp người đọc hiểu thêm về những giá trị văn hóa trong cách diễn đạt ẩn dụ tình yêu trong văn học Anh và Việt Kiến thức về tính biến thiên văn hóa kết hợp với kiến thức về ánh xạ cũng có thể được áp dụng cho việc học tập, giảng dạy và biên-phiên dịch
Ở một mức độ nhất định, các kết quả thu được từ nghiên cứu sẽ có ích cho người dạy trong quá trình khai thác, luận giải các nội dung ngữ nghĩa đa dạng của
ẩn dụ tình yêu trong tiếng Anh để truyền đạt cho người học Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng có lợi cho người học khi thụ đắc ngôn ngữ, cảm thụ và hiểu biết hơn về các đặc trưng tri nhận nghiệm thân trong quá trình sử dụng từ biểu đạt tình yêu, dưới góc độ trải nghiệm và tư duy của người bản ngữ
Các nội dung được khảo cứu, tường giải trong luận án có thể đóng góp thêm nguồn tư liệu hữu ích trong quá trình biên soạn giáo trình và từ điển đối chiếu Việt-Anh/ Anh-Việt, hoặc có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để xây dựng những chương trình đào tạo tiếng Anh nâng cao và biên-phiên dịch
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc về tình yêu trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương 3: Đối chiếu ẩn dụ bản thể về tình yêu trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương 4: Đối chiếu ẩn dụ định hướng về tình yêu trong tiếng Anh và tiếng Việt
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Tổn quan tìn ìn n iên cứu
1.1.1 Tổng quan về ẩn dụ ý niệm
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ẩn dụ ý niệm
Trên thế giới, các vấn đề của NNH tri nhận bắt đầu được nhen nhóm trong giới nghiên cứu từ những năm 50 nhưng chỉ đến những năm 80 của thế kỷ XX mới thực sự trở nên phổ biến với sự khởi xướng của Lakoff và Johnson bằng tác phẩm
kinh điển Metaphor We Live by (1980) Các nghiên cứu về AD sau đó cũng lan tỏa
ra các bình diện khác như triết học, logic học, tâm lý học, thần kinh học
Theo thời gian, các quan điểm về AD trong mối liên kết với kinh nghiệm nghiệm thân đã được phát triển và hoàn thiện với cac tác giả tiêu biểu như Lakoff
Trang 64
và Johnson, 1987; Quinn,1991; Csordas,1994; Talmy,2000 và Langacker, 2004 Các nghiên cứu về sự hình thành hệ thống ý niệm của con người và cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên cũng thu hút được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu (Lakoff, Johnson và Kövecses, 1980) Sau này, lý thuyết AD mở rộng và khẳng định sự gắn kết giữa AD ý niệm với các lý thuyết thần kinh (Joe Grady, 1997; Narayanan, 1997); lý thuyết về không gian pha trộn giữa không gian tinh thần tưởng tượng với lý thuyết thần kinh của ngôn ngữ (Fauconnier G và Turner M., 2002) cùng vai trò của AD như một công cụ tư duy và nhận thức của con người về thế giới khách quan (Evans V.và Green M., 2006)
Ngoài sự phát triển của lý thuyết AD, các học giả tiếp theo cũng đã xem xét các ứng dụng của AD ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau như chính trị, kinh tế, môi trường, giáo dục và các chủ đề khác Các đối tượng tri nhận như cảm xúc, không gian và thời gian, giới tính… đem lại nhiều nhận thức mới mà lịch sử nghiên cứu
AD truyền thống khó có được
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về ẩn dụ ý niệm
Nghiên cứu mang màu sắc tri nhận đầu tiên ở Việt Nam là do Nguyễn Lai thực hiện vào năm 1990 Một cách chính thức, NNH tri nhận bắt đầu được đề cập tới là
trong Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt của
Lý Toàn Thắng (2005) và Ngôn ngữ học tri nhận – Ghi chép và suy nghĩ của Trần
Văn Cơ (2007) Đây có thể xem là hai công trình đặt nền móng cho nghiên cứu về NNH tri nhận ở Việt Nam
Các nghiên cứu sau này tại Việt Nam tập trung nhiều vào tính ứng dụng của các
lý thuyết NNH tri nhận qua phân tích tác phẩm văn học hoặc các thể loại văn học như ca dao, tục ngữ, … Trong đó, các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trên cứ liệu thơ
ca chiếm tỷ lệ cao Các tác giả Phan Thế Hưng (2008), Ly Lan (2012), Trần Bá Tiến (2012), Vi Trường Phúc (2014),… đều đã góp phần khẳng định yếu tố ngôn ngữ, kinh nghiệm nghiệm thân và sự tác động của thế giới bên ngoài, mà cụ thể là văn hóa của cộng đồng đã tạo ra những ẩn dụ ý niệm vừa mang tính phổ quát, vừa thấm nhuần tư duy dân tộc Các nhà nghiên cứu cũng xem xét ứng dụng của AD trong nhiều lĩnh vực như AD ý niệm cảm xúc và tình cảm của con người, AD ý niệm trong tác phẩm của các nhà nghệ thuật nổi tiếng, cách tri nhận của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người, hay AD ý niệm trong diễn ngôn kinh tế, văn hoá, thực vật, cuộc đời, tình yêu , góp phần làm phong phú cơ sở lý thuyết và ứng dụng của
AD ý niệm
1.1.2 Tổng quan về ẩn dụ ý niệm tình yêu
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ẩn dụ ý niệm tình yêu
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về AD ý niệm tình yêu, tập trung vào 4 nội dung chính sau đây:
Thứ nhất, về tính ổn định của các AD ý niệm tình yêu, một số nghiên cứu cho
rằng ý niệm tình yêu có tính ổn định cao, phổ quát giữa các ngôn ngữ (Trim, 2007;
Trang 75 Zhang, 2012); tuy nhiên cũng xuất hiện các ý kiến cho rằng ẩn dụ ý niệm tình yêu cũng không nằm ngoài quy luật thay đổi qua thời gian (Gavelin, 2015; Yang, 2008; Tissari, 2001)
Thứ hai, về các AD ý niệm tình yêu được khai thác, các nghiên cứu đã đóng góp
một hệ thống các AD ý niệm tình yêu đa dạng chia theo MN và ánh xạ được sử dụng Những ẩn dụ tình yêu được coi là cổ điển và điển hình là những ẩn dụ do Lakoff và Johnson (1980) và Kövecses (1986; 1988; 2000) thiết lập với 24 MN Một số nghiên cứu sau này về AD tình yêu đã chỉ ra rằng tình yêu còn được ý niệm hóa theo một số MN khác như MÙ QUÁNG, KHÍ HẬU, THỰC VẬT và MẶT TRỜI/MẶT TRĂNG (Tissari, 2005/2010 và Trim, 2007, Gavelin, 2015, và Zhang, 2012) Ngamjitwongsakul (2005) đã tìm ra 22 MN để ý niệm hóa tình yêu: CON ĐƯỜNG, TRÕ CHƠI, CON NGƯỜI, THIÊN NHIÊN (MẶT TRỜI), GIÁO DỤC, MÙA, NỘI THẤT (ĐỒ DÙNG NHÀ BẾP), THỰC VẬT, GIẤC MƠ, KINH DOANH, PHƯƠNG TIỆN, SỨC KHOẺ, CHIẾN TRANH, ÁNH SÁNG, SỰ RÀNG BUỘC, vv
Thứ ba, về tác động của văn hóa đối với AD ý niệm, các nhà nghiên cứu có hai
quan điểm đối lập Một số nhà nghiên cứu cho rằng khác biệt văn hoá dẫn đến khác biệt trong tư duy hình thành AD (Kövecses, 2000/2005/2010; Maalej, 1999/2004; Ansah, 2010; Renying Yang, 2008; Zitu & Zhang, 2012) trong khi
số khác khẳng định rằng về bản chất, AD ý niệm xuất phát từ tư duy của con người
về sự vật, hiện tượng, do đó không có sự khác biệt đáng kể theo vùng văn hoá (Li
D & Guo Q., 2006)
Thứ 4 là về các biến thể của AD ý niệm về tình yêu Các nghiên cứu đã chỉ
ra rằng, các biến thể nhân chủng học về tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn và tôn giáo ảnh hưởng đến quá trình ý niệm hóa các ẩn dụ ý niệm về tình yêu (Gathigia,2014) Sự khác nhau về môi trường vật chất, đặc trưng dân tộc, mô hình tư duy, niềm tin tôn giáo và các đặc điểm văn hóa - tư tưởng tương ứng cũng là nguyên chính dẫn đến các biến thể của AD ý niệm về tình yêu (Zoltán, 2005; Zitu LV, 2012)
Thứ năm là phạm vi nghiên cứu về AD ý niệm tình yêu Các nghiên cứu đa
ngôn ngữ về tình yêu tập trung vào việc so sánh các ẩn dụ tình yêu được khảo sát trong dữ liệu song song giữa hai ngôn ngữ như tiếng Brazil và tiếng Đức của Schroder, 2009; Tiếng Anh và tiếng Ba Tư của Mashak và nhóm cộng sự, 2012; Tiếng Anh và tiếng Trung của Zitu và Zhang, 2012, Tiếng Anh và tiếng Indonesia của Endarto (2014) AD ý niệm tình yêu đã được nghiên cứu chuyên sâu ở hầu hết các lĩnh vực: âm nhạc, phim ảnh, ngôn ngữ, văn hóa – xã hội và văn học theo các hướng nghiên cứu cả đồng đại và lịch đại: Kovecses (1986,
1988, 1991, 2000, 2010), Tissari (2001, 2005, 2006, 2010), Ngamjitwongsakul (2005), Zhang (2012), Zitu và Zhang (2012), Gavelin (2015), … vv Trong lĩnh vực ngôn ngữ, văn hóa và các vấn đề xã hội, không thể không nhắc đến các
Trang 86 nghiên cứu của các tác giả Kövecses (2002), Gathigia (2014), Zitu LV (2012), Renying Yang (2008), Tissari (2001), Solimon (1990), … vv
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về ẩn dụ ý niệm tình yêu
Ẩn dụ ý niệm tình yêu đã được khai thác dưới dạng nhiều văn phong khác nhau như ngôn ngữ đời thường (cả viết và nói) Lưu Trọng Tuấn (2009); Nguyễn Thị Hà (2010); Phan Ngọc Trần (2014), ngôn ngữ âm nhạc Ngũ Thiện Hùng và Trần Thị Thanh Thảo (2011); thành ngữ và các tổ hợp từ cố định Ngô Đình Phương và Nguyễn Thị Kim Anh (2016), Ly Lan (2011); ẩn dụ ý niệm tình yêu đã được khảo cứu trong khoảng thời gian đa dạng Ly Lan (2011), Ngũ Thiện Hùng and Trần Thị Thanh Thảo (2011); Ngô Đình Phương và Nguyễn Thị Kim Anh (2016); có rất nhiều các MN khác nhau của ẩn dụ ý niệm tình yêu
đã được xác định: đối thủ Lưu Trọng Tuấn (2009), mặt trăng / mặt trời của Ngũ Thiện Hùng và Trần Thị Thanh Thảo (2011), tình trạng rắc rối/ việc diễn
ra có mở đầu, kết thúc Ly Lan (2012), cuộc hành trình Phan Văn Hòa và cộng sự
(2014), sự gần gũi/ đắm say, khao khát Phạm Thị Hương Quỳnh (2017), sợi tơ
Trần Văn Nam (2018), vv
Có thể nói các nghiên cứu về AD ý niệm trong Việt ngữ học thời gian qua đã xây dựng được nền tảng lý luận và thực tiễn tương đối phong phú Tuy nhiên, số lượng công trình nghiên cứu chưa nhiều, đặc biệt chưa có nghiên cứu toàn diện về
AD ý niệm trong truyện ngắn đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Đây chính là „khoảng trống‟ nghiên cứu mà luận án hy vọng sẽ lấp đầy
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm
1.2.1.1 Các quan điểm về ẩn dụ
Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống: AD là phương thức chuyển nghĩa của từ dựa
trên mối quan hệ tương đồng giữa các sự vật/đối tượng và là một biện pháp tu từ nhằm tạo biểu tượng trong nhận thức của con người AD là đặc thù của ngôn ngữ,
là vấn đề diễn ngôn
Ẩn dụ theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận: AD là phương pháp biểu
tượng tri thức dưới hình thức ngôn ngữ, là quá trình nhận thức có chức năng biểu đạt vàhình thành các ý niệm mới AD gắn liền với đặc điểm văn hóa tinh thần của con người
1.2.1.2 Định nghĩa, cơ sở hình thành và đặc điểm của ẩn dụ ý niệm
Định nghĩa ẩn dụ ý niệm: “AD ý niệm là sự ý niệm hóa một miền tinh thần qua
một miền tinh thần khác, gọi là sự ánh xạ (mapping) có hệ thống từ một miền này sang một miền khác nhằm tạo nên một mô hình tri nhận giúp lĩnh hội miền đích một cách hiệu quả hơn” (Lakoff và Johnson, 1980)
Cơ sở hình thành ẩn dụ ý niệm: Theo NNH tri nhận, ngoài sự tương đồng khách
quan đã có từ trước, AD ý niệm được hình thành dựa trên (1) sự tương liên về kinh
nghiệm: khi một sự kiện xảy ra dẫn đến một sự kiện khác và (2) sự tương đồng cấu
Trang 91.2.1.3 Các khái niệm liên quan đến ẩn dụ ý niệm
Ý niệm và sự ý niệm hoá: Ý niệm đơn vị ý thức của con người, là biểu tượng tinh
thần phản ánh cách con người nhận thức và tương tác với thế giới quan, là cách con người lĩnh hội bức tranh thế giới khách quan muôn màu, muôn vẻ dựa trên tính chủ quan của cá nhân mình (Trần Văn Cơ, 2007)
Ý niệm hoá được hiểu là quá trình hình thành ý niệm Ý niệm hóa nhằm chiết suất những đặc điểm tối giản của hoạt động tri nhận, giúp lí tưởng hóa kinh nghiệm con người về mặt nội dung (Nguyễn Thiện Giáp, 2014)
Cấu trúc của ẩn dụ ý niệm: Cơ chế tri nhận của AD ý niệm bao giờ cũng bao gồm hai miền NGUỒN và ĐÍCH tồn tại tiền giả định trong ý thức của con người; ở đó, các thuộc tính của miền NGUỒN (MN) cụ thể được chiếu xạ đến miền ĐÍCH (MĐ) trừu tượng theo nguyên tắc bất biến “các ánh xạ AD bảo toàn cấu trúc liên kết mô hình ý niệm của miền nguồn” (Lakoff, 1990)
Điển dạng: trong một tập hợp của phạm trù thì cái ở trung tâm là điển hình của
phạm trù và được gọi là điển dạng (Rosch, 1975)
Ánh xạ: là hệ thống cố định các tương ứng giữa các yếu tố hợp thành MN và MĐ,
là sự phóng chiếu giữa những yếu tố của MN và những yếu tố tương ứng của MĐ,
do đó việc tìm hiểu AD ý niệm thường được thực hiện thông qua việc tìm hiểu sơ
đồ ánh xạ giữa MN và MĐ (Kövecses, 2002)
Lược đồ hình ảnh: được hình thành dựa trên trải nghiệm của con người về thế
giới khách quan Khi các trải nghiệm lặp đi lặp lại, các thông tin cảm xúc sẽ được trích xuất và lưu trữ dưới dạng lược đồ hình ảnh [Mandler, 2004]
Nghiệm thân: là quá trình con người sử dụng các bộ phận cơ thể và trải nghiệm của
thân xác để hình thành nên hệ thống ý niệm và tư duy (Lakoff và Johnson, 1987)
1.2.1.4 Phân loại ẩn dụ ý niệm
Luận án lựa chọn phân loại AD của Lakoff và Johnson, gồm 3 loại
Ẩn dụ cấu trúc: là loại AD mà ở đó ý nghĩa của một từ/biểu thức (miền đích) được
hiểu thông qua cấu trúc của một từ/biểu thức khác (miền nguồn)
Ẩn dụ bản thể: AD bản thể quy những trải nghiệm vốn vô hình, trừu tượng, mơ
hồ thành những thực thể hữu hình, tồn tại dưới dạng thức sự vật, chất liệu… nhằm giúp chúng ta hiểu rõ hơn các ý niệm trừu tượng
Ẩn dụ định hướng: AD định hướng không cấu trúc ý niệm thông qua một ý niệm
khác mà thay vào đó tổ chức cả một hệ thống ý niệm trong mối tương quan với nhau
Trang 108
1.2.1.5 Quy trình nhận dạng ẩn dụ MIP
Quy trình nhận dạng ẩn dụ MIP theo 4 bước cụ thể được trình bày chi tiết trong luận án
1.2.2 Cơ sở lý luận về Ngôn ngữ học đối chiếu
1.2.2.1 Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu
Luận án đã áp dụng khái niệm NNH đối chiếu của tác giả Bùi Mạnh Hùng,
2008 (xem 1.2.2.1 – luận án)
1.2.2.2 Phạm vi đối chiếu
Về cơ bản, có 5 bình diện đối chiếu: (1) đối chiếu phạm trù; (2) đối chiếu cấu trúc, hệ thống; (3) đối chiếu chức năng, hoạt động; (4) đối chiếu phong cách; (5)
đối chiếu lịch sử phát triển (Bùi Mạnh Hùng, 2008)
1.2.2.3 Nguyên tắc đối chiếu
Trong luận án, quá trình đối chiếu được áp dụng song song giữa tiếng Anh và tiếng Việt
1.2.3 Cơ sở lý luận về văn hóa Việt và Anh
Văn hóa vốn là một khái niệm rất rộng với nhiều bình diện khác nhau như phong tục, tập quán, lối sống, hành vi….; đây cũng là khái niệm „động‟ bởi các giá trị văn hóa không ngừng biến đổi theo thời gian, đặc biệt là trong ngữ cảnh toàn cầu hóa như hiện nay
347 BT trong tiếng Việt, chiếm 24,5% ; trong khi đó xếp ở vị trí thấp nhất là AD TÌNH YÊU LÀ MÙI HƯƠNG chiếm 0,6% trong tiếng Anh và 1,5% trong tiếng Việt
Hình 2.3 (LA) cho thấy, trong số 14 AD cấu trúc được tìm thấy, TÌNH YÊU
LÀ NĂNG LƯỢNG có tính tầng bậc cao nhất với 7 AD bậc thấp và trong mỗi AD bậc thấp lại có những ánh xạ nhỏ hơn; trong khi đó các AD TÌNH YÊU LÀ HÀNH TRÌNH, TÌNH YÊU LÀ TRÕ CHƠI, TÌNH YÊU LÀ CUỘC CHIẾN, TÌNH YÊU LÀ THỰC PHẨM/DINH DƯỠNG, TÌNH YÊU LÀ MÙA và TÌNH YÊU LÀ MÙI HƯƠNG có ít tầng bậc nhất
2.2 C c lược ồ ìn ản cơ bản tron ẩn dụ cấu trúc tìn yêu
2.2.1 Lược đồ hình ảnh ĐƯỜNG DẪN (PATH)
Theo Yu (1998), cấu trúc lược đồ của Lược đồ Nguồn-Đường dẫn-Mục tiêu có thể được biểu diễn trong Hình 2.4 Luận án khai thác lược đồ TIẾN TRÌNH (PROCESS) là lược đồ phái sinh của lược đồ ĐƯỜNG DẪN
Lược đồ phái sinh TIẾN TRÌNH (PROCESS)
Trang 119 Lược đồ hình ảnh TIẾN TRÌNH được biểu diễn với điểm bắt đầu, hành trình với những khó khăn và thử thách và điểm kết thúc như trong Hình 2.5
Về mô hình chiếu xạ, các AD trong TA và TV ý niệm hoá lược đồ TIẾN TRÌNH qua ba đặc tính: ĐIỂM BẮT ĐẦU (SOURCE), HÀNH TRÌNH (PATH) và ĐIỂM KẾT THÖC (END-POINT) Về số lượng các AD thuộc lược
đồ TIẾN TRÌNH được tìm thấy trong khối ngữ liệu của luận án là như nhau trong cả hai ngôn ngữ Về đặc trưng văn hóa, đặc thù tư duy văn hoá cộng đồng phần nào được thể hiện qua sự chênh lệch về số lượng của các dụ dẫn và ý
nghĩa của các dụ dẫn Thứ nhất, AD “tình yêu là khiêu vũ” được tìm thấy
trong cả hai ngôn ngữ nhưng số lượng các hình ảnh dụ dẫn tìm được trong tiếng Anh vượt trội hơn Khiêu vũ đã phát triển từ rất sớm ở phương Tây như một hình thức giải trí và các bước di chuyển trong một điệu khiêu vũ được ý niệm hoá đến các chiến thuật trong tình yêu: tiến lui linh hoạt để tìm hiểu đối
phương Thứ hai, khi ý niệm hoá điểm bắt đầu và điểm đến, người Việt đã thể
hiện được đặc trưng văn hoá sông nước khi lồng ghép vào các biểu thức ẩn dụ
các hình ảnh bến (bến trong, bến bờ hạnh phúc) mà tiếng Anh không có
2.3.2 Lược đồ hình ảnh LỰC
(1) Lược đồ hình ảnh phái sinh ÁP LỰC
Trong Hình 2.6, chúng tôi biểu diễn sơ đồ cảm xúc áp lực của tình yêu khiến cho quá trình phát triển cảm xúc yêu của chủ thể bị gián đoạn và được
biểu diễn dưới dạng những nét đứt đoạn Lược đồ hình ảnh ÁP LỰC phái sinh
được biểu diễn trong Bảng 2.4 (xem Phụ lục) qua 10 AD được tìm thấy trong
cả hai ngôn ngữ
(2) Lược đồ hình ảnh LỰC ĐỐI KHÁNG (COUNTERFORCE)
Lược đồ hình ảnh phái sinh của LỰC ĐỐI KHÁNG được mô tả bằng bốn phép AD về tình yêutrong cả hai ngôn ngữ Luận án biểu biễn lược đồ hình ảnh LỰC ĐỐI KHÁNG như trong Hình 2.7 (Phụ lục – luận án)
(3) Lược đồ hình ảnh CHUYỂN DỊCH KIỀM CHẾ (REMOVAL OF RESTRAINT)
Luận án biểu diễn lược đồ hình ảnh CHUYỂN DỊCH KIỀM CHẾ bằng 3 phép AD về tình yêu Hình 2.8 biểu diễn lược đồ hình ảnh CHUYỂN DỊCH KIỀM CHẾ [Woẑ ny, 2013]
(4) Lược đồ hình ảnh LỰC HẤP DẪN (ATTRACTION)
Luận án biểu diễn lược đồ hình ảnh LỰC HẤP DẪN qua 10 AD được tìm thấy trong TV và 9 AD trong TA Riêng AD TÌNH YÊU LÀ MẬT NGỌT chỉ được tìm thấy trong TV và không xuất hiện trong TA
2.3 M ìn c iếu xạ iữa miền n uồn ến miền íc TÌNH YÊU
2.3.1 AD TÌNH YÊU LÀ KINH DOANH
(i) Ẩn dụ ý niệm bậc thấp TÌNH YÊU LÀ THỊ TRƯỜNG
Trang 1210
Bản 2.9: Sơ ồ n xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ THỊ TRƯỜNG
Trạng thái phô hàng/ trưng bày
hàng hoá => Trạng thái biểu hiện khi yêu/ trạng thái quyến rũ đối phương
Kế hoạch/ chiến lược tiếp cận hàng
hoá
=> Kế hoạch tiếp cận tình yêu
Tính cạnh tranh của thị trường => Cạnh tranh để có được tình yêu Qua khảo sát nguồn tư liệu, chúng tôi tìm được 41 BT AD ý niệm TÌNH YÊU LÀ THỊ TRƯỜNG trong tiếng Anh và 32 BT trong tiếng Việt
Về ánh xạ, các dụ dẫn trong các tiểu loại AD hầu như là tương đương nhau trong cả hai ngôn ngữ Có lẽ là do tính toàn cầu hoá của thị trường hàng hoá – thường phải tuân theo những quy tắc vận hành chung với các bước tiếp cận hàng hoá theo các nguyên tắc nhất định Riêng tiểu loại PHƯƠNG THỨC GIAO DỊCH ghi nhận duy nhất một dụ dẫn trong TA và 3 dụ dẫn với 5 lần sử dụng trong TV giúp người Việt chuyển di nghĩa đến MĐ: tính yêu là chuyện
mua bán về linh hồn và thể xác Yếu tố môi giới chỉ được người Việt khai thác
Về đặc trưng văn hoá, người Việt thể hiện lối tư duy kinh nghiệm cảm tính khi
định giá cái ý thương mến có thể mỗi lúc một tăng hoặc giá nào cũng xong; người
Anh ngược lại thể hiện lối tư duy lý trí khi đi vào kết quả lời lãi hay thâm hụt do sự
tăng hay giảm của mức độ yêu a great loss
(ii) Ẩn dụ ý niệm bậc thấp TÌNH YÊU LÀ HỢP ĐỒNG KINH DOANH
Bản 2.11: Lược ồ chiếu xạ của ẩn dụ HỢP ĐỒNG KINH DOANH MN: Hợp ồng kinh doanh MĐ: Tìn yêu
Bản chất của kinh doanh: thương
vụ mua bán, thoả thuận, giao ước
=> Bản chất của tình yêu là giao ước hoà hợp của hai người yêu nhau Mục đích trong kinh doanh => Lợi ích từ một mối quan hệ yêu
Trang 13lẽ liên quan mật thiết đến tư duy tổng hợp biện chứng của người Việt, văn hoá trọng tình và linh hoạt biến ứng theo hoàn cảnh của người làm nông nghiệp khiến cho tính tổ chức của họ kém chặt chẽ hơn so với văn hoá du mục (Trần Ngọc Thêm)
Về đặc trưng văn hoá, thứ nhất là số lượng các dụ dẫn trong TA đều được ghi
nhận vượt trội hơn nhiều so với TV; có lẽ kinh nghiệm về một nền công nghiệp
sớm hình thành và phát triển của người Anh là cơ sở lý giải cho sự chênh lệch này Thứ
hai, tư duy cảm tính, luôn đắn đo của người Việt còn được phản ánh qua các hoạt động
mang tính kinh nghiệm, lựa chọn, cân nhắc Ngược lại, người Anh với tư duy duy lý, thể hiện sự đánh giá, phán xét các quyết định trong tình yêu trong AD LỰA CHỌN TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI Tư duy ứng xử theo nguyên tắc của người Anh được thể hiện qua ánh xạ về sự vi phạm nguyên tắc/đề bù hợp đồng khi chiếu đến các vi phạm đạo lý/đền bù trong một mối quan hệ và không được người Việt thể hiện
(iii) Ẩn dụ ý niệm bậc thấp HÀNG HOÁ
Bản 2.13: Lược ồ chiếu xạ của ẩn dụ HÀNG HOÁ
MN: Hàn o MĐ: Nhữn n ười yêu n au
Sự bị động của hàng hoá => Trạng thái bị kiểm soát trong tình yêu Trạng thái tồn tại của hàng hoá => Trạng thái tồn tại của tình yêu
Phương thức sở hữu hàng hoá => Cách thức sở hữu được tình yêu
Về số lượng, luận án thống kê được 29 BT ngôn ngữ chứa AD trong tiếng Anh, chiếm 24.1% và 32 BT tiếng Việt tương đương 37.2% Về ánh xạ, có sự tương đồng tuyệt đối trong các ánh xạ khi cấu trúc hoá tình yêu dựa trên các thuộc tính về trạng thái
bị động của hàng hoá, trạng thái tồn tại và phương thức sở hữu hàng hoá Tuy nhiên tần suất của các dụ dẫn TA trong các thuộc tính về trạng thái của hàng hoá cao hơn nhiều
so với TV; điều này là ngược lại trong các tiểu loại AD HÀNG HOÁ và PHƯƠNG THỨC SỞ HỮU HÀNG HOÁ
Về đặc trưng văn hoá, tư duy phân tích theo hướng duy lý, thực nghiệm của người Anh được vận dụng trong các ánh xạ về trạng thái tồn tại của hàng hoá chiếu xạ đến trạng thái tồn tại của tình yêu Các trạng thái khan hiếm (scarce), phục hồi (renewal,