Microsoft Word Lê VÄ n Thế BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH LÊ VĂN THẾ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH ĐỘT QỤY NÃO TẠI KHOA VẬT LÝ TRỊ LIỆU BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỈNH THANH[.]
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đột quỵ não, hay tai biến mạch máu não, được định nghĩa là hội chứng lâm sàng với sự khởi phát đột ngột của các triệu chứng tổn thương não, thường kéo dài trên 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong trước thời gian này Các triệu chứng thần kinh khu trú tương ứng với vùng não bị ảnh hưởng bởi động mạch tổn thương, đồng thời loại trừ nguyên nhân do chấn thương.
Đột quỵ não, theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, là tình trạng bệnh nhân gặp phải rối loạn nặng về chức năng thần kinh như hôn mê, liệt nửa người, và nuốt sặc, với sự xuất hiện nhanh chóng và đột ngột Những rối loạn này kéo dài hơn 24 giờ và có thể liên quan đến thời tiết, thường xảy ra rải rác trong năm nhưng tập trung chủ yếu vào tháng 2.
3, 6, 10 và 11, đặc biệt trong những dịp chuyển mùa Bệnh thường gặp nhiều về ban ngày chiếm khoảng 73,5%
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là tình trạng đột ngột xảy ra do mạch máu não bị vỡ hoặc tắc, dẫn đến các triệu chứng thần kinh khu trú Đột quỵ não, hay TBMMN, gây ra rối loạn chức năng não nhanh chóng, thường do mạch máu nuôi dưỡng một vùng não bị tắc hoặc vỡ, làm tổn thương khu vực não và ảnh hưởng đến hoạt động của các vùng cơ thể tương ứng.
Căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh, đột quỵ não được chia ra 2 thể: Nhồi máu não và xuất huyết não
Một cơn nhồi máu não có thể xảy ra theo hai cách:
Đột quỵ do nghẽn mạch xảy ra khi cục máu đông hình thành trong cơ thể, thường là ở tim, và di chuyển đến não qua dòng máu Khi đến não, cục máu đông có thể mắc kẹt trong các mạch máu nhỏ hơn, gây cản trở lưu thông máu Đây là nguyên nhân chính dẫn đến loại đột quỵ này.
Đột quỵ do máu đông tại chỗ xảy ra khi máu chảy qua động mạch, để lại mảng cholesterol dính vào thành động mạch Theo thời gian, các mảng bám này có thể tăng kích cỡ, gây hẹp hoặc tắc động mạch, ngăn cản dòng máu Đặc biệt, đột quỵ này thường ảnh hưởng đến các động mạch lớn ở cổ, cung cấp máu cho não.
1.1.2.2 Xuất huyết não: Là sự vỡ mạch tại thành mạch trong não
Đột quỵ chảy máu xảy ra khi máu rò rỉ vào não, dẫn đến việc không cung cấp đủ ôxy và chất dinh dưỡng cho các tế bào Nguyên nhân có thể do nhiều rối loạn ảnh hưởng đến mạch máu, trong đó có tình trạng cao huyết áp kéo dài và chứng phình động mạch não.
Phình động mạch là những điểm yếu hoặc mỏng trên thành mạch máu, thường xuất hiện từ khi sinh ra Những điểm yếu này có thể phát triển trong nhiều năm mà không gây ra triệu chứng rõ ràng, cho đến khi chúng vỡ ra.
Dị dạng thông động tĩnh mạch (AVM) là một khối lộn xộn của các mạch máu, bao gồm động mạch và tĩnh mạch, có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trong cơ thể, bao gồm cả não AVM thường tồn tại từ khi sinh ra và có thể phát triển theo thời gian khi các mạch máu trở nên to hơn và yếu đi Nếu dị dạng này xảy ra trong não và các thành mạch máu bị vỡ, người bệnh có thể gặp phải tình trạng chảy máu não.
Cơn đột quỵ xảy ra khi việc cung cấp máu đến não bị gián đoạn, do động mạch bị tắc nghẽn (nhồi máu não) hoặc bị vỡ (chảy máu não) Máu mang ô-xy và chất dinh dưỡng thiết yếu cho tế bào não; khi không nhận đủ, các tế bào này sẽ chết, tạo ra ổ nhồi máu não.
Các tế bào não có thể chết nhanh chóng sau khi đột quỵ, nhưng một số vẫn có thể tồn tại trong vài giờ nếu nguồn cung cấp máu không bị ngắt hoàn toàn Nếu máu được cung cấp trở lại trong thời gian ngắn sau đột quỵ, một số tế bào có khả năng phục hồi, nhưng nếu không, chúng sẽ chết.
Hình 2: Hai thể đột quỵ não 1.1.4 Biểu hiện
1.1.4.1 Các triệu chứng cảnh báo đột quỵ
Nếu tự nhiên đang trong tình trạng sức khỏe bình thường mà thấy các triệu chứng sau thì có khả năng rất cao bị đột quỵ
Hình 3: Các dấu hiệu nhận biết sớm đột quỵ não 1.1.4.2 Các triệu chứng thần kinh khu trú
- Các triệu chứng vận động
+ Liệt hoặc biểu hiện vụng về nửa người hoặc một phần cơ thể
+ Nuốt khó (cần có thêm triệu chứng khác kết hợp)
+ Khó khăn trong việc hiểu hoặc diễn đạt bằng lời nói Khó khăn khi đọc, viết
+ Khó khăn trong tính toán Nói khó (cần có thêm triệu chứng khác kết hợp)
- Các triệu chứng cảm giác, giác quan:
Cảm giác thân thể có thể bị rối loạn, dẫn đến tình trạng mất cảm giác ở từng phần hoặc toàn bộ nửa người Ngoài ra, thị giác cũng có thể bị ảnh hưởng, gây ra mất thị lực ở một hoặc cả hai bên mắt, kèm theo triệu chứng bán manh và các triệu chứng khác.
- Các triệu chứng tiền đình: Cảm giác chóng mặt quay cuồng, nôn hoặc buồn nôn
Các triệu chứng liên quan đến tư thế hoặc nhận thức bao gồm khó khăn trong việc mặc quần áo, chải tóc, đánh răng, rối loạn định hướng không gian và gặp khó khăn trong việc mô phỏng lại các hoạt động hàng ngày.
- Các triệu chứng thần kinh khác: Rối loạn ý thức, rối loạn cơ vòng, rối loạn tâm thần, hội chứng màng não
1.1.4.3 Các dấu hiệu cận lâm sàng
Các xét nghiệm cận lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán, bao gồm chụp cộng hưởng từ, chụp CT cắt lớp vi tính, chụp động mạch não, các phương pháp chẩn đoán đồng vị phóng xạ, siêu âm Doppler và xét nghiệm dịch não tủy.
Hình 4: Hình ảnh CT của người bệnh đột quỵ não 1.1.4.4 Các biểu hiện kết hợp khác
- Bệnh thường xảy ra ở tuổi trên 50 trở lên
- Người bệnh có biểu hiện xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tiểu đường, có bệnh tim mạch
- Tắm lạnh, căng thẳng tâm lý, hoặc thể xác, sau uống bia - rượu
Người bệnh đột quỵ não cần được điều trị càng sớm càng tốt, lý tưởng nhất là trong vòng 6 giờ đầu sau cơn đột quỵ Việc điều trị có thể được chia thành hai giai đoạn.
Trong giai đoạn cấp (Hồi sức toàn diện), bệnh nhân cần được điều trị kịp thời để duy trì các chức năng sống cơ bản như hô hấp và tuần hoàn.
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình đột quỵ não
1.2.1.1 Trên thế giới: Đột quỵ não hay tai biến mạch máu não (TBMMN) là một bệnh thường gặp, theo Tổ chức điều trị dự phòng TBMMN châu Âu số người mắc TBMMN lần đầu tiên giao động trong phạm vi từ 141 - 219/100.000 dân [20]
Theo hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ ước tính mỗi năm có khoảng 500.000 người
Mỹ ghi nhận khoảng 150.000 trường hợp tử vong do tai biến mạch não lần đầu hoặc tái phát, chiếm 10% tổng số ca tử vong do mọi nguyên nhân Chi phí phục hồi chức năng sau tai biến tại Hoa Kỳ ước tính lên tới 40 tỷ đô la.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (Murray, 2008), mỗi năm có khoảng 2,1 triệu ca tử vong do bệnh tật liên quan đến lao phổi tại châu Á, trong đó Trung Quốc ghi nhận 1,3 triệu ca và 448.000 ca ở Ấn Độ.
Theo báo cáo của Trung tâm Đột quỵ và nghiên cứu lâm sàng Hàn Quốc, hàng năm có khoảng 105.000 người mắc đột quỵ lần đầu hoặc tái diễn, với hơn 26.000 ca tử vong Điều này có nghĩa là cứ 5 phút lại có một người bị đột quỵ và cứ 20 phút lại có một người tử vong do căn bệnh này Trong số 10 người bệnh tử vong, có một người chết vì đột quỵ Hiện nay, ước tính có khoảng 795.000 người trên 30 tuổi mắc đột quỵ não, và chi phí chăm sóc cho bệnh nhân đột quỵ não ở Hàn Quốc vào năm 2005 lên tới khoảng 3 tỷ đô la Mỹ.
Vào năm 2009, tại Hàn Quốc, đột quỵ nhồi máu não chiếm 76% tổng số bệnh nhân đột quỵ não Trong vòng 90 ngày theo dõi sau khi xảy ra đột quỵ, tỷ lệ tử vong do nhồi máu não chỉ từ 3 - 7%, trong khi tỷ lệ tử vong do xuất huyết não lên tới 17%.
Theo dữ liệu từ Medicare, đối với bệnh nhân đột quỵ não trên 65 tuổi, tỷ lệ tử vong trong năm đầu tiên sau khi xuất viện là 26,4%, trong khi tỷ lệ tử vong sau 5 năm đạt 60%.
Tỉ lệ giới trong điều tra tỉ lệ hiện mắc đột quỵ não cho thấy sự chênh lệch giữa nam và nữ ở Bắc Kinh là 1,28/1, Thượng Hải là 1,1/1, Liễu Châu là 1,39/1, và Hải Nam là 1/1,27 Tại Châu Âu, đột quỵ đứng thứ hai trong các nguyên nhân gây sa sút trí tuệ, là nguyên nhân hàng đầu gây động kinh ở người cao tuổi, và cũng là nguyên nhân phổ biến gây ra trầm cảm.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2015), đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại Việt Nam, chiếm 21,7% tổng số ca tử vong, với khoảng 150.000 trường hợp tử vong mỗi năm (Health Grove, 2013).
Theo Lê Văn Thành và cộng sự, tỉ lệ hiện mắc trung bình hàng năm của tai biến mạch máu não là 416/100.000 dân, tỉ lệ mắc là 152/100.000 dân [10]
Tại Bệnh viện Hữu nghị, từ năm 1991 đến 1995, Hoàng Đức Kiệt đã phát hiện 467 trường hợp nhồi máu não và 649 trường hợp chảy máu não thông qua chụp cắt lớp vi tính.
Năm 1991, Khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận điều trị 120 người bệnh bị tai biến mạch máu não [11]
Nghiên cứu của Đàm Duy Thiên (1999) về dịch tễ học đột quỵ não tại quận Thanh Xuân, Hà Nội trong giai đoạn 1994 - 1999 cho thấy tỉ lệ hiện mắc là 82,18/100.000 dân, với tỉ lệ mới mắc trung bình hàng năm là 22,78/100.000 dân và tỉ lệ tử vong trung bình hàng năm là 9,28/100.000 dân Đột quỵ não có xu hướng gia tăng theo độ tuổi, đặc biệt ở nhóm trên 50 tuổi chiếm 86,52%, trong đó nam giới nhiều hơn nữ giới với tỷ lệ 1,5 lần Các yếu tố nguy cơ phổ biến bao gồm tăng huyết áp (51,2%) và vữa xơ động mạch (33,81%) Đột quỵ não xảy ra quanh năm, nhưng thường gặp hơn vào những tháng có sự thay đổi thời tiết và lạnh.
Năm 2007 - 2008, Trinh Viết Thắng đã nghiên cứu dịch tễ học đột quỵ não tại Khánh Hòa, cho thấy tỉ lệ hiện mắc là 294,7/100.000 dân, tỉ lệ mới mắc là 96/210.000 dân, và tỉ lệ tử vong là 43,8/100.000 dân, với tỉ lệ tử vong trên mắc là 11,2% Các yếu tố nguy cơ cao bao gồm: tăng huyết áp (80,5%), rối loạn lipid máu (32,8%), đái tháo đường (32,8%), hẹp động mạch cảnh (33,3%), nghiện rượu (23,4%), và nghiện thuốc lá (29,9%) Ngoài ra, cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua chiếm 14,3%, và một số bệnh tim mạch gây đột quỵ não là 10,7%.
Tác giả Lê Văn Thính khi nghiên cứu 1.036 người bệnh tai biến mạch máu não trong mười năm (1981 - 1990), đã thấy tỉ lệ nhồi máu não là 76% [16]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Đăng và cộng sự, tỷ lệ hiện mắc bệnh là 98,44 trên 100.000 dân, tỷ lệ mới mắc là 36 trên 100.000 dân, và tỷ lệ tử vong là 27 trên 100.000 dân Tỷ lệ tai biến mạch máu não ở nam giới so với nữ giới là 1,48/1.
Kể từ tháng 9 năm 1997 đến tháng 6 năm 2000, tại khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận khoảng 1.220 người bệnh tai biến mạch máu não, tuổi từ 11 -
Trong số 89 trường hợp đột quỵ não, 67% là người trong độ tuổi từ 45 đến 74 Ước tính chỉ có khoảng 25 - 30% người sống sót sau đột quỵ có khả năng tự phục vụ bản thân, trong khi 20 - 25% gặp khó khăn trong việc di chuyển và cần sự hỗ trợ từ người khác, và 15 - 25% hoàn toàn phụ thuộc vào người khác.
Tỉ lệ di chứng nhẹ và vừa sau tai biến mạch máu não là 68,42%, trong khi tỉ lệ di chứng nặng đạt 27,69% Đặc biệt, di chứng về vận động chiếm đến 92,96% trong số bệnh nhân bị liệt nửa người Hơn nữa, có tới 94% người sống sót sau tai biến mạch máu não trong cộng đồng cần phục hồi chức năng.
1.2.2 Quy trình chăm sóc người bệnh đột quỵ não
Người bệnh đột quỵ não có thể trải qua diễn biến nặng dần tùy thuộc vào nguyên nhân và mức độ tổn thương, với nhiều biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng nếu không được điều trị và chăm sóc toàn diện Việc chăm sóc, đặc biệt trong giai đoạn sớm, đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và giảm thiểu các biến chứng cho người bệnh, cả trong thời kỳ cấp tính và lâu dài.
Nhận định người bệnh dựa vào các kỹ năng giao tiếp, hỏi bệnh, khám lâm sàng (nhìn, sờ, gõ, nghe)
- Các thông tin chung: Họ và tên, tuổi, giới, nghề nghiệp, địa chỉ, ngày giờ vào viện
- Khai thác tìm nguyên nhân, yếu tố nguy cơ
- Tri giác (điểm Glasgow): Bình thường 15 điểm (mắt 4 điểm, lời nói 5 điểm, vận động 6 điểm)
- Dấu hiệu sinh tồn (mạch, nhiệt độ, huyết áp) 30 phút/lần, 1h/lần, 3h/lần, 2 lần/ ngày tùy thuộc vào tình trạng của người bệnh
- Tình trạng loét ép do nằm lâu
- Các biến chứng, tác dụng phụ của thuốc, các dấu hiệu bất thường có thể xảy ra
- Cải thiện tình trạng tưới máu não, đảm bảo tư thế phù hợp cho người bệnh
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
Sơ lược về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hoá, thuộc Sở Y tế Thanh Hoá, là bệnh viện chuyên khoa hạng 2, chuyên ngành phục hồi chức năng, tọa lạc tại thành phố Sấm Sơn, một trung tâm kinh tế du lịch của tỉnh Được thành lập từ năm 1961 với tiền thân là viện Điều dưỡng Cán bộ tỉnh, bệnh viện đã trải qua nhiều lần đổi tên và chính thức mang tên Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hoá từ năm 2014 theo Thông tư 46/TT - BYT Hiện tại, bệnh viện có quy mô 120 giường bệnh, với công suất sử dụng đạt 100%, đóng vai trò là tuyến điều trị cao nhất, chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh phục hồi chức năng cho người dân trong tỉnh.
Bệnh viện có tổng cộng 119 cán bộ viên chức, được tổ chức thành Ban Giám đốc, 04 phòng chức năng, 05 khoa lâm sàng và 03 khoa cận lâm sàng Trong số đó, có 4 khoa có giường bệnh bao gồm Khoa Vật lý trị liệu, Khoa Y học Cổ truyền, Khoa Nội Cấp cứu và Khoa Ngoại chỉnh hình.
Tỷ số điều dưỡng và bác sĩ tại 05 khoa lâm sàng là 54/19, tương đương 2,8 Số điều dưỡng viên trên giường bệnh thực kê là 54/147, đạt 0,37 Bệnh viện đã triển khai Chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD) từ năm 2003, với mô hình phân công điều dưỡng chăm sóc chính Hiện nay, bệnh viện thực hiện chăm sóc người bệnh theo hướng dẫn tại Thông tư số 31/2021/TT-BYT của Bộ Y tế về quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện.
Khoa Vật lý tại Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa do BSCKI Nguyễn Thị Quỳnh làm Trưởng khoa và CNĐD Nguyễn Thị Hòa giữ vị trí Điều dưỡng trưởng Khoa hiện có tổng cộng 28 nhân viên.
Trong đó: - Bác sỹ: 05 (CK1PHCN: 01, Bs đại học: 04)
- Điều dưỡng: 19 (Đại học: 03, Cao đẳng: 16)
Khoa Vật lý trị liệu có 05 kỹ thuật viên PHCN, bao gồm 02 người có trình độ đại học và 03 người có trình độ cao đẳng Khoa được trang bị 01 phòng hành chính để xử lý thủ tục và giấy tờ, cùng với 06 phòng thủ thuật và 09 phòng bệnh, cung cấp 50 giường điều trị cho bệnh nhân.
Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh đột quỵ não tại Khoa Vật lý trị liệu - Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa
Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành khảo sát nhằm cung cấp căn cứ khách quan cho các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh sau đột quỵ.
2.2.1 Đối tượng và phương pháp khảo sát
Người bệnh sau đột quỵ não đang được điều trị và chăm sóc tại Khoa Vật lý trị liệu, Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa
- Người bệnh và/hoặc người nhà đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người bệnh có hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ, rõ ràng
Người bệnh có diễn biến bất thường hoặc phải chuyển điều trị tích cực
Thời gian và địa điểm
- Địa điểm: Khoa Vật lý trị liệu, Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa
Thiết kế: mô tả cắt ngang
Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Do giới hạn về thời gian và phạm vi của báo cáo chuyên đề, học viên đã áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ trong quá trình thu thập dữ liệu.
Trong khoảng thời gian từ 15/9/2022 - 15/10/2022, có 50 trường hợp người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu được đưa vào phân tích kết quả
- Sử dụng phiếu khảo sát (Phụ lục 1) để đánh giá thực trạng chăm sóc người bệnh đột quỵ tại khoa
Phỏng vấn trực tiếp và quan sát 50 bệnh nhân tại Khoa Vật lý của Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa đã được thực hiện Trong trường hợp bệnh nhân không thể tự trả lời, điều tra viên đã thu thập thông tin từ người nhà trực tiếp chăm sóc bệnh nhân.
Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS
Nội dung nghiên cứu đã nhận được sự đồng ý từ trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và được Khoa Vật lý trị liệu cùng lãnh đạo bệnh viện quan tâm, ủng hộ.
Đối tượng nghiên cứu sẽ được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi phỏng vấn, và chỉ tiến hành khi có sự đồng ý tham gia Những người từ chối hoặc rút lui ở bất kỳ giai đoạn nào cũng sẽ được đối xử công bằng như các đối tượng khác.
- Các thông tin thu thập được ghi nhận chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu được bảo đảm bí mật
Qua khảo sát 50 bệnh nhân về kết quả chăm sóc sau đột quỵ não tại khoa Vật lý trị liệu, Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa, tôi đã thu được những kết quả đáng chú ý.
2.2.2.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 2.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (nP)
Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ %
Cán bộ - Công nhân viên chức 08 16,0
Tiểu học, Trung học cơ sở 23 46,0 Trung học phổ thông 21 42,0
Trung cấp, CĐ, ĐH, SĐH 05 10,0
Kinh tế gia đình Hộ nghèo 4 8,0
Kinh tế cá nhân Không có thu nhập 16 32,0
- Đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ nam, nữ là 58% và 42%
Trong nghiên cứu với 50 bệnh nhân, độ tuổi cao nhất là 85 và thấp nhất là 40 Đặc biệt, nhóm bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên chiếm 58%, trong khi nhóm dưới 65 tuổi chỉ chiếm 42%.
Trong nghiên cứu, trình độ học vấn của đối tượng cho thấy chỉ có 2% (1 người) không biết chữ, trong khi 46% (23 người) có trình độ Tiểu học và THCS Nhóm có trình độ phổ thông chiếm 42% (21 người), và nhóm có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, và Sau đại học chỉ chiếm 10% (5 người).
Nhóm nghề nghiệp già và hưu trí chiếm tỷ lệ cao nhất với 50%, tiếp theo là nhóm nông nghiệp với 20% Nhóm cán bộ - công nhân viên chức chiếm 16%, trong khi nghề nghiệp tự do, bao gồm buôn bán và nội trợ, chiếm 14%.
Tình hình kinh tế của người bệnh cho thấy 8% thuộc hộ nghèo, trong khi 92% có kinh tế bình thường Đáng chú ý, 32% người bệnh không có thu nhập ổn định, trong khi 68% có thu nhập hàng tháng.
Trong số những người chăm sóc chính cho bệnh nhân, 30% là vợ hoặc chồng, 58% là con cái, 6% là họ hàng, 4% là người giúp việc, và chỉ 2% là tự chăm sóc bản thân.
Bảng 2.2: Một số đặc điểm liên quan đến đột quỵ não (nP)
Thông tin Số lượng Tỷ lệ %
Loại tổn thương Nhồi máu não 33 66,0
Chảy máu não (xuất huyết não) 17 34,0
Thời gian điều trị Dưới 5 ngày 18 36,0
Có tiền sử đột quỵ 9 18,0
Tiền sử bệnh tật khác
Tiền sử gia đình đã có người bị đột quỵ não 4 8,0
Người bệnh có yếu liệt 43 86,0
(Tính trong tổng số 43 người bệnh có yếu liệt)
Liệt yếu bên trái 15 34,9 Điểm Glasgow
- Loại đột quỵ phần lớn là nhồi máu não, chiếm 66% người bệnh, do xuất huyết não chỉ chiếm 34%
- Có 36% đối tượng mới điều trị (dưới 5 ngày), 64% đối tượng đã điều trị được trên 5 ngày
Khoảng 18% bệnh nhân đã từng có tiền sử đột quỵ não, trong khi 8% bệnh nhân có người thân trong gia đình từng bị đột quỵ.
Tỷ lệ mắc các bệnh lý khác nhau trong tiền sử bệnh tật cho thấy bệnh tim mạch chiếm 100%, trong khi bệnh hô hấp có 16%, bệnh tiết niệu 12%, bệnh tiêu hóa 18%, bệnh thần kinh 4%, và tiểu đường 24% Ngoài ra, 6% người bệnh mắc các bệnh khác Đặc biệt, 86% người bệnh gặp di chứng yếu liệt sau cơn đột quỵ não.
- Vị trí yếu liệt ở bên phải chiếm tỷ lệ cao nhất 39,5% tổng số người bệnh liệt yếu, bên trái là 34,9%, yếu liệt cả 2 bên chiếm 25,6%
- Thang điểm Glasgow đánh giá trên đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ đạt từ 13 điểm trở lên là 52%, từ 9 đến 12 điểm là 28% và dưới 9 điểm là 10%
2.2.2.2 Thực trạng chăm sóc người bệnh tại Khoa Vật lý trị liệu
Chăm sóc về vận động
Bảng 2.3: Chăm sóc vận động (nP)
Thông tin Số lượng Tỷ lệ %
Tình trạng vận động của người bệnh
Vận động được khi có sự giúp đỡ 19 38,0
Không vận động được 24 48,0 Được hướng dẫn các biện pháp vận động 50 100 Được hướng dẫn các bài tập vận động 50 100
Các đối tượng hỗ trợ người bệnh tập vận động
Người nhà 43 86,0 Điều dưỡng, KTV khoa PHCN 43 86,0 Thời gian tập vận động (giờ/ ngày)
Từ 1 giờ trở lên 50 100 Được hướng dẫn vận động sớm 50 100
Sau khi được tập vận động người bệnh cảm thấy tình trạng vận động của cơ thể chuyển biến tốt 50 100
Trong số 50 bệnh nhân, chỉ có 14% có khả năng tự vận động, trong khi 38% có thể vận động với sự hỗ trợ của người khác Đáng chú ý, 48% bệnh nhân hoàn toàn mất khả năng vận động.
- Tại khoa qua khảo sát 100% người bệnh đã được hướng dẫn các biện pháp vận động
- 100% người bệnh được hướng dẫn các bài tập vận động
- 100% người bệnh đều được hướng dẫn vận động sớm
- Sau khi được tập vận động 100% người bệnh cảm thấy tình trạng vận động của cơ thể chuyển biến tốt
Đối tượng hỗ trợ tập vận động cho người bệnh chủ yếu là người nhà, chiếm 100% Trong khi đó, chỉ có 14% bệnh nhân tự tập luyện, còn lại 86% được hỗ trợ bởi điều dưỡng và kỹ thuật viên tại khoa phục hồi chức năng.
Chăm sóc về hô hấp
Bảng 2.4: Chăm sóc về hô hấp (nP)
Thông tin Số lượng Tỷ lệ %
Có ứ đọng đờm dãi 9 18,0 Được hướng dẫn cách vệ sinh đường hô hấp 50 100
Có vệ sinh đường hô hấp đều đặn 9 18,0
Người hỗ trợ vệ sinh đường hô hấp trên (tính trên 09 đối tượng vệ sinh đường hô hấp đều đặn)
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED 3.1 Phân tích một số ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
Ưu điểm
Kết quả khảo sát tại Khoa vật lý trị liệu Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa cho thấy nhu cầu chăm sóc của 50 người bệnh sau đột quỵ não là rất cao, mặc dù tỷ lệ có sự khác biệt giữa các lĩnh vực chăm sóc.
Công tác chăm sóc người bệnh tại Khoa vật lý trị liệu - Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa đã đạt hiệu quả cao, với 100% nhu cầu của người bệnh được đáp ứng theo đánh giá của họ.
Nguyên nhân của ưu điểm:
Lãnh đạo Bệnh viện và Khoa luôn đặt người bệnh làm trung tâm, cam kết cung cấp dịch vụ chăm sóc và phục hồi sức khỏe chất lượng cao.
Bệnh viện sở hữu đội ngũ cán bộ và nhân viên y tế được đào tạo liên tục, luôn nỗ lực nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực phục hồi chức năng.
Khoa Vật lý trị liệu tại tỉnh Thanh Hóa có số lượng giường bệnh lớn, đáp ứng hiệu quả nhu cầu điều trị cho bệnh nhân đột quỵ não.
Khoa được trang bị đầy đủ và hiện đại các máy móc, phục vụ hiệu quả cho việc điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho bệnh nhân đột quỵ não.
- Trưởng khoa, điều dưỡng trưởng khoa phân công tiếp nhận người bệnh kịp thời
Điều dưỡng viên trong khoa chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân đột quỵ não, trong khi kỹ thuật viên phục hồi chức năng thực hiện đánh giá và áp dụng các kỹ thuật phục hồi sớm, giúp bệnh nhân hồi phục tốt hơn và giảm thiểu di chứng sau đột quỵ.
- Điều dưỡng đã thực hiện tốt công tác tư vấn, giáo dục, hướng dẫn người nhà và người bệnh cách chăm sóc sau đột quỵ.
Một số hạn chế
Mặc dù có nhiều ưu điểm trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc của người bệnh, từ vận động đến tư vấn giáo dục sức khỏe, nhưng một số nội dung chăm sóc vẫn chưa được thực hiện một cách chủ động và đầy đủ Cụ thể, việc đánh giá nguy cơ loét cho từng bệnh nhân chưa được chú trọng, giáo dục sức khỏe chưa cá biệt hóa cho từng người, và hiệu quả của công tác này chưa được đánh giá Ngoài ra, một số công việc chăm sóc như vệ sinh cá nhân, cho ăn qua sonde, và lăn trở bệnh nhân vẫn chủ yếu do người nhà thực hiện.
Nguyên nhân của hạn chế:
Khoa Vật lý trị liệu đảm nhận 50 giường bệnh và khu kỹ thuật phục hồi chức năng, thực hiện các kỹ thuật điều trị cho toàn bệnh viện Với 05 bác sĩ, 18 điều dưỡng và 05 kỹ thuật viên phục hồi chức năng, công suất sử dụng giường bệnh luôn đạt từ 90 - 120% Tuy nhiên, nhiều công việc chăm sóc như vệ sinh cá nhân, cho bệnh nhân ăn qua sonde và lăn trở người bệnh chưa được thực hiện đầy đủ, chủ yếu do điều dưỡng chỉ hướng dẫn người nhà Mặc dù có 18 điều dưỡng viên, trong đó 10 người đã được đào tạo thêm chứng chỉ phục hồi chức năng, nhưng chỉ có 08 điều dưỡng phục vụ cho 50 giường bệnh, tương đương 6,25 bệnh nhân/01 điều dưỡng, trong khi quy định chỉ yêu cầu từ 2 bệnh nhân/01 điều dưỡng.
Cơ sở vật chất của bệnh viện đã xuống cấp trong nhiều năm mà chưa được đầu tư, dẫn đến tình trạng phòng bệnh chật hẹp Điều này gây khó khăn trong việc sắp xếp giường bệnh cho những bệnh nhân liệt do đột quỵ não.
- Công việc của điều dưỡng quá tải dẫn đến một số hoạt động chăm sóc chưa được thực hiện đầy đủ, trực tiếp
Công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân đột quỵ não đã được chú trọng, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là thiếu tranh ảnh và áp phích hỗ trợ Đáng lưu ý, 58% bệnh nhân đột quỵ não là người già từ 65 tuổi trở lên, trong khi 46% có trình độ học vấn chỉ đến tiểu học hoặc trung học cơ sở, và có tới 2% không biết chữ Điều này tạo ra nhiều khó khăn trong việc truyền đạt kiến thức về đột quỵ não cho bệnh nhân.
Gia đình của người bệnh đột quỵ não thường thiếu kinh nghiệm và kiến thức trong việc chăm sóc Theo thống kê, chỉ có 7.5% gia đình đã có người từng bị đột quỵ não, và 22% số người bệnh nhận được thông tin về căn bệnh này từ người thân.
Khoa Dinh dưỡng chưa thực hiện đầy đủ chức năng dinh dưỡng lâm sàng trong việc tư vấn và cung cấp bữa ăn cho người bệnh Việc cho người bệnh ăn qua sode chủ yếu do điều dưỡng thực hiện, nhưng do thiếu nhân lực, họ thường phải hướng dẫn người nhà hỗ trợ Đặc biệt, các bữa ăn ngoài giờ hành chính hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của người nhà, điều này tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố y khoa như sặc hay trào ngược.
- Công việc quá tải, áp lực lớn, chế độ đãi ngộ còn hạn chế, ít nhiều có ảnh hưởng đến động lực làm việc.
Đề xuất một số giải pháp
Dựa trên kết quả thực trạng chăm sóc bệnh nhân đột quỵ não tại Khoa Vật lý trị liệu, Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa, cùng với việc phân tích các ưu điểm và hạn chế, học viên đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
Bệnh viện cần tăng cường đầu tư vào cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, đồng thời đảm bảo đủ số lượng nhân lực để chăm sóc bệnh nhân hiệu quả.
Tách biệt riêng khu kỹ thuật phục hồi chức năng và khoa điều trị người bệnh sau đột quỵ não
Sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ điều trị, điều dưỡng chăm sóc và kỹ thuật viên phục hồi chức năng là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả trong quá trình điều trị phục hồi.
Để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân sau đột quỵ não, cần tăng cường đào tạo và bổ sung nhân lực có trình độ chuyên môn phù hợp cho Khoa Vật lý trị liệu Ưu tiên tuyển dụng các bác sĩ và điều dưỡng đã được đào tạo chuyên khoa phục hồi chức năng và thần kinh, nhằm đảm bảo người bệnh nhận được sự chăm sóc toàn diện và tốt nhất.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Khoa Dinh dưỡng, cần có đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng chuyên về dinh dưỡng lâm sàng Điều này đảm bảo cung cấp suất ăn đầy đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân trong mỗi bữa ăn, đồng thời đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, hỗ trợ tốt cho công tác điều trị.
Cần chú trọng hơn đến đời sống và thu nhập của nhân viên y tế, đồng thời tạo ra môi trường làm việc thoải mái và khích lệ Việc động viên và khen thưởng những điều dưỡng viên tâm huyết với nghề, cũng như những người hoàn thành tốt công việc kịp thời, là rất quan trọng.
3.2.2 Đối với Khoa Vật lý trị liệu
Xây dựng bảng mô tả công việc chi tiết cho từng vị trí điều dưỡng trong khoa, kèm theo hệ thống thưởng phạt rõ ràng, nhằm khuyến khích điều dưỡng viên nỗ lực và phấn đấu trong công việc.
Hàng tháng và hàng quý, cần tổ chức các buổi thảo luận chuyên đề và đánh giá kế hoạch chăm sóc, giúp điều dưỡng viên và kỹ thuật viên cập nhật kịp thời kiến thức mới.
Chăm sóc giao tiếp cho bệnh nhân sau đột quỵ não hiện đang gặp khó khăn do chỉ có một kỹ thuật viên âm ngữ trị liệu Khi có sự cố bất ngờ hoặc ốm đau, việc điều trị bị gián đoạn, ảnh hưởng đến chất lượng phục hồi Do đó, cần thiết phải đào tạo thêm kỹ thuật viên âm ngữ trị liệu để cung cấp hướng dẫn cho các bài tập phục hồi giao tiếp chuyên biệt cho bệnh nhân.
Khoa cần thu thập thêm hình ảnh và video minh họa để thực hiện các bài giáo dục sức khỏe, giúp người bệnh và gia đình họ có cái nhìn trực quan hơn, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục.
3.2.3 Đối với điều dưỡng viên, kỹ thuật viên tham gia chăm sóc người bệnh
Cần chú trọng giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và người nhà ngay từ khi nhập viện, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và tập luyện, từ đó giảm thiểu tối đa các di chứng.
Tích cực nâng cao trình độ học tập và nghiên cứu về bệnh đột quỵ não là rất quan trọng Cần cập nhật kiến thức mới về các biến chứng có thể xảy ra ở người bệnh, cũng như các biện pháp dự phòng và hỗ trợ phục hồi hiệu quả cho những biến chứng này.
Tuân thủ đúng các quy trình điều dưỡng cũng như luôn cập nhật các kiến thức chăm sóc người bệnh mới nhất
Luôn củng cố bản lĩnh nghề nghiệp, lòng yêu nghề, tâm huyết với nghề, đóng góp vào sự phát triển nghề nghiệp của bản thân
3.2.4 Đối với người bệnh và người nhà người bệnh
Người bệnh và gia đình cần tôn trọng, thông cảm và hợp tác với nhân viên y tế trong quá trình điều trị Đặc biệt, bệnh nhân đột quỵ não nên tuân thủ các biện pháp chăm sóc để ngăn ngừa biến chứng Việc thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, luyện tập đều đặn, sử dụng thuốc đúng cách và theo dõi sức khỏe là rất quan trọng.
Người bệnh nên nâng cao kiến thức thông qua sách báo và các phương tiện truyền thông, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm của mình với những người bệnh khác để hỗ trợ lẫn nhau.
Nhận biết sớm các dấu hiệu của đột quỵ não là rất quan trọng để có thể tự phát hiện và cấp cứu kịp thời tại nhà, từ đó hạn chế các biến chứng có thể xảy ra sau này.
+ Thực hiện kế hoạch khám và tầm soát các bệnh huyết áp, tiểu đường theo lịch khám định kỳ được cán bộ y tế cung cấp