1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ.

15 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Tiểu luận kết thúc học phần
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 312,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 3 1. Tổng quan vấn đề bảo vệ động vật hoang dã 3 1.1. Khái niệm động vật hoang dã 3 1.2. Vai trò của động vật hoang dã 3 1.3. Khái niệm pháp luật bảo vệ động vật hoang dã 4 1.4. Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật 4 2. Pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã 5 2.1. Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) . 5 2.2. Công ước Ramsar 6 2.3. Công ước về các loài di cư 6 2.4. Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển 6 2.5. Công ước đa dạng sinh học 7 3. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 7 3.1. Sự tham gia của Việt Nam vào các Điều ước quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã 7 3.1.1. Công ước CITES 7 3.1.2. Công ước Ramsar 8 3.1.3. Công ước đa dạng sinh học 9 3.2. Thực tiễn thi hành quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 9 3.2.1. Quy định về quản lý việc bảo vệ động vật hoang dã 9 3.2.2. Quy định xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã 10 3.2.3. Quy định về xử lí tang vật là động vật hoang dã 11 4. Kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 12 KẾT LUẬN 13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14 MỞ ĐẦU Ngày nay, thế giới đang phải đối phó với một mối đe dọa chưa từng có đối với động vật hoang dã (ĐVHD) khi tình hình biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, vấn nạn săn bắn, vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ trái phép ngày càng gia tăng, đe doạ đến các loài ĐVHD và môi trường sống của chúng, dẫn đến nguy cơ mất cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học (ĐDSH). Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm số lượng ĐVHD là do hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này còn lỏng lẻo, chồng chéo, chưa đủ tính răn đe. Do đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan là một vấn đề vô cùng cấp thiết được đặt ra ngay lúc này. Là một đất nước được thiên nhiên ưu ái, có giá trị ĐDSH cao, Việt Nam là một trong những quốc gia cần ưu tiên bảo tồn ĐDSH cũng như bảo vệ ĐVHD. Bởi vậy, Việt Nam cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống pháp luật, để từ đó tạo hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ ĐVHD. Vì những lí do trên, sinh viên chọn đề tài: “Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã” làm tiểu luận kết thúc học phần. NỘI DUNG 1. Tổng quan vấn đề bảo vệ động vật hoang dã 1.1. Khái niệm động vật hoang dã Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về loài hoang dã và khó có thể khẳng định khái niệm nào chuẩn mực hơn bởi ở mỗi quốc gia, các nhà nghiên cứu và các tổ chức chuyên môn đều có những cách hiểu khác nhau. Theo tổ chức bảo tồn loài Gorilla của Hoa Kỳ, động vật hoang dã hay động vật ngoại lai là động vật sống trong tự nhiên, động vật hoang dã đã sinh trưởng hàng ngàn năm nay mà không chịu sự tác động trực tiếp từ con người. Từ điển Cambridge Advanced Learner’s Dictionary and Thesaurus lại định nghĩa: loài hoang dã là các loài động vật và thực vật sinh trưởng không phụ thuộc vào con người, thường sống ở trong môi trường tự nhiên. Loài hoang dã trong pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Khoản 13 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 32VBHNVPQH hợp nhất Luật đa dạng sinh học đưa ra định nghĩa: “Loài hoang dã là loài động vật, thực vật, vi sinh vật và nấm sinh sống và phát triển theo quy luật.” Như vậy, có thể định nghĩa “động vật hoang dã” là tất cả loài động vật sinh trưởng trong môi trường tự nhiên mà nằm ngoài sự tác động trực tiếp của con người. 1.2. Vai trò của động vật hoang dã1 Động vật hoang dã (ĐVHD) là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự cân bằng sinh thái tự nhiên bền vững, bảo đảm môi trường sống 1 Vai trò quan trọng của động vật hoang dã đối với con người, https:loikhancaututhiennhien.wordpress.com20161019vaitroquantrongcuadongvathoangdadoivoiconnguoi, truy cập lúc 19h25 ngày 30122021. 3 trong lành cho con người. Vì vậy, con người phải có trách nhiệm bảo vệ ĐVHD, đồng thời, tạo môi trường sống cho các loài động vật này được bảo tồn và phát triển. Đối với đa dạng sinh học: Trong một hệ sinh thái, các loài đều có tác động nhất định tới nhau, do đó sự biến mất của một loài sẽ gây nên phản ứng dây chuyền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của các sinh vật khác. Đặc biệt đối với các loài có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái thì sự tuyệt chủng của chúng có thể dẫn đến những hậu họa khó lường. Đối với y học: Trong cuộc đấu tranh sinh tồn, nhiều loài ĐVHD đã tự tìm ra cách kháng vi khuẩn và các tế bào gây ung thư. Việc tìm hiểu và nghiên cứu đặc tính này của các loài có thể giúp các nhà khoa học tìm ra những phương pháp chữa bệnh mới và hiệu quả. Bên cạnh đó, trong cơ thể của nhiều loài động thực vật còn chứa các chất hóa học hữu ích, phục vụ cho việc sản xuất dược phẩm. Cân bằng môi trường: Nhiều sinh vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá chất lượng môi trường. Những loài sinh vật có khả năng chỉ thị môi trường sẽ cảnh báo con người về tác động của biến đổi khí hậu và các chất gây ô nhiễm tới môi trường. Các loài động vật còn cung cấp các dịch vụ sinh thái nhằm mang lại nguồn lợi kinh tế bền vững cho các quốc gia. Các hoạt động du lịch trải nghiệm thiên nhiên và chiêm ngưỡng các loài động vật hoang dã đã đem lại nguồn thu nhập ổn định cho các cộng đồng sống gần những khu vực này, cũng như mang lại nguồn lợi nhuận cho các công ty du lịch hàng năm. Đối với nông nghiệp: côn trùng, các loài động vật ăn sâu bọ hay các giống cây trồng chứa các độc tố tự nhiên được nông dân sử dụng để tiêu diệt sâu bọ gây hại cho mùa màng. Di sản phi vật thể: Nhiều loài ĐVHD còn mang lại niềm cảm hứng cho tác giả, nghệ sĩ và tất cả những ai quan tâm tới sự đa dạng của thế giới tự nhiên. 1.3. Khái niệm pháp luật bảo vệ động vật hoang dã Hiện nay, pháp luật thế giới và Việt Nam chưa đưa ra khái niệm về pháp luật bảo vệ động vật hoang dã. Tuy nhiên, có thể định nghĩa “Pháp luật bảo vệ động vật hoang dã” là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong quá trình bảo vệ các loài động vật hoang dã và môi trường sống của chúng. Những hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. 1.4. Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật Từ thực tiễn hiện nay, có thể thấy rằng, số lượng động vật hoang dã ngày càng suy giảm bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân chính của hiện tượng suy giảm động vật là do sự tăng trưởng dân số và nhu cầu ngày càng cao của con người. Bên cạnh đó, việc đô thị hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng, gây ô nhiễm môi trường và làm biến đổi khí hậu toàn cầu cũng gián tiếp khiến cho số lượng động vật hoang dã bị suy giảm. Hoạt động khai thác quá mức như: 4 săn bắn, đánh bắt, buôn bán động vật hay chặt phá rừng, đốt rừng làm huỷ hoại môi trường sống của chúng cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng động vật hoang dã, đẩy nhiều loài đến bờ vực tuyệt chủng. Theo Báo cáo Sức sống Hành tinh 2020 của Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), trong vòng 50 năm qua, quần thể các loài động vật có xương sống đã suy giảm 68%. Tại Việt Nam, nhiều loài động vật hoang dã đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do bị buôn bán và tiêu thụ bất hợp pháp vì nhiều mục đích khác nhau như làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đồ trang sức...2 Hơn lúc nào hết, thiên nhiên đang kêu cứu và cần có sự chung tay, nỗ lực vào cuộc của cả cộng đồng để bảo tồn động vật hoang dã. Trong các biện pháp bảo vệ động vật hoang dã, sử dụng công cụ “pháp luật”, bằng các chế tài và quy định cụ thể, có sức tác động lớn và mức độ răn đe cao đối với mọi đối tượng. Thông qua pháp luật, mọi hoạt động trong khai thác tài nguyên thiên nhiên đều được quản lý nghiêm ngặt, các hành vi khai thác trái phép các loài động vật đều được kiểm soát chặt chẽ nhằm đẩy lùi tình trạng tuyệt chủng. Theo đó, những hành vi kinh doanh, vận chuyển, xuất, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh động vật đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Từ đó, hướng tới việc xoá bỏ hoàn toàn nạn buôn bán trái phép các loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, góp phần bảo vệ hệ sinh thái, bảo tồn các quần thể động vật và môi trường sống của chúng. 2.Pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã 2.1. Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) Công ước CITES là Hiệp định giữa các chính phủ, được thiết lập nhằm mục tiêu kiểm soát hoạt động buôn bán quốc tế mẫu vật của các loài động, thực vật hoang dã một cách bền vững, đảm bảo rằng hoạt động này không làm ảnh hưởng đến sự tồn vong của loài trong tự nhiên. Đây là một hành lang pháp lý, một cơ chế thủ tục đang được áp dụng ở các quốc gia thành viên. Mỗi nước thành viên phải đảm bảo rằng các quy định pháp luật quốc gia phải hài hoà với những quy định của CITES. Công ước đưa ra các quy định nhằm đảm bảo rằng, các nước sản xuất và tiêu thụ có trách nhiệm như nhau trong việc quản lý và bảo tồn nguồn lợi thiên nhiên. Các hoạt động thương mại được quản lý qua việc thu thập và phân tích các thông tin, dữ liệu liên quan. Thêm vào đó, Công ước cũng quy định việc buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã bằng cơ chế giấy phép và giấy chứng nhận. Giấy phép chỉ được cấp khi bảo đảm một số điều kiện theo quy định và phải xuất trình trước khi ra hay vào một nước. Công ước có 03 phụ lục động, thực vật hoang dã: Phụ lục I gồm các loài bị đe doạ tuyệt chủng và có thể bị ảnh hưởng bởi hoặc có thể bởi các hoạt động thương mại; Phụ lục II gồm các loài có thể bị đe doạ tuyệt chủng nếu việc buôn bán những mẫu vật của những loài đó 2Động vật hoang dã bên bờ vực tuyệt chủng, https:baotintuc.vnlongformemagazinedongvathoangdabenbovuctuyetchung20211210222110940.htm, truy cập lúc 20h12 ngày 30122021. 5 không tuân theo những quy chế nghiêm ngặt; Phụ lục III gồm các loài hoang dã không thuộc diện đe doạ tuyệt chủng trên toàn cầu. 2.2. Công ước Ramsar Công ước bảo tồn những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (RAMSAR) được ký tại thành phố Ramsar, Iran năm 1971. Thỏa thuận liên Chính phủ này nhằm cung cấp khung hoạt động cho các Kế hoạch hành động quốc gia, hợp tác quốc tế về bảo tồn, sử dụng khôn khéo đất ngập nước và các nguồn tài nguyên từ đất ngập nước. Mục đích của Công ước RAMSAR được các Bên tham gia thông qua năm 1999 và được điều chỉnh năm 2002 là “Bảo tồn và sử dụng một cách khôn khéo các vùng đất ngập nước thông qua hành động của địa phương, của khu vực, của quốc gia và hợp tác quốc tế nhằm góp phần đạt được mục tiêu phát triển bền vững trên toàn thế giới”. Dưới quan điểm bảo tồn đa dạng sinh học là bảo vệ môi trường sống của sinh vật, Công ước này đã khẳng định được mức độ ảnh hưởng của môi trường hoang dã đối với sự sống của các loài động vật. Thành viên khi tham gia Công ước RAMSAR có nghĩa vụ chính như sau: Chỉ định ít nhất một vùng đất ngập nước để đưa vào Danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế và duy trì đặc tính sinh thái của vùng đất ngập nước này; Sử dụng khôn khéo đất ngập nước; Khuyến khích và tăng cường công tác bảo tồn các vùng đất ngập nước; Thúc đẩy hợp tác quốc tế về bảo tồn các vùng đất ngập nước và viện trợ phát triển cho dự án đất ngập nước; Bồi dưỡng truyền thông về đất ngập nước và ủng hộ các hoạt động của Công ước. 2.3. Công ước về các loài di cư Công ước về các Loài Di cư, còn được gọi là CMS hay Công ước Bonn, được ký kết nhằm bảo tồn toàn bộ các loài di cư trên cạn, dưới nước và các loài chim trên lãnh thổ của các nước ký công ước. Hiệp ước liên chính phủ này được ký kết dưới sự bảo trợ của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) nhằm cung cấp một nền tảng toàn cầu cho việc bảo tồn động, thực vật hoang dã và môi trường sống của chúng trên quy mô toàn thế giới. Công ước này quy định về nhiều loài di cư mang tính biểu tượng đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc buôn bán bất hợp pháp động, thực vật hoang dã như voi, khỉ đột, báo tuyết, linh dương Saiga, rùa biển, cá mập và một số loài chim. Công ước này đã đưa cộng đồng quốc tế lại với nhau để giải quyết hàng loạt các mối đe dọa mà những loài động vật hoang dã này phải đối mặt khi di cư hàng năm, gồm cả các mối đe dọa của việc buôn bán bất hợp pháp. 2.4. Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển Sau Hiến chương Liên Hợp quốc, Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 được đánh giá là một văn kiện pháp lý quan trọng nhất kể từ sau Thế chiến thứ hai, là một bản Hiến 6 pháp về biển của cộng đồng quốc tế, bởi Công ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán. Công ước bao gồm 320 điều khoản và 09 phụ lục điều chỉnh các vấn đề liên quan đến các vùng biển mà một số quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như việc sử dụng, khai thác biển và đại dương. Trong đó, các quy định về vấn đề bảo tồn tài nguyên biển, bao gồm tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, cũng như bảo vệ môi trường biển được nhắc tới xuyên suốt nội dung Công ước. Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển là nghĩa vụ của mọi quốc gia và các quốc gia cần hợp tác với nhau để đưa ra những biện pháp cần thiết nhằm bảo tồn tài nguyên đó. Công ước Luật Biển 1982 đã đáp ứng nguyện vọng của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý mới đối với các vấn đề về biển và đại dương nói chung, vấn đề về bảo vệ động vật biển nói riêng. 2.5. Công ước đa dạng sinh học Được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển bền vững năm 1992 tại Rio de Janero, Công ước Đa dạng sinh học hướng đến ba mục tiêu chính, bao gồm: bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học. Tuỳ theo khả năng của mình, các thành viên tham gia Công ước sẽ: thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái; bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng bằng pháp luật, hạn chế và quản lý các hành động gây nguy hại đến đa dạng sinh học; ban hành công tác đánh giá tác động môi trường; xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển quốc gia, kế hoạch hành động về bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong và ngoài khu bảo tồn. Công ước tập trung vào các nội dung cơ bản như: bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học; tiếp cận, chuyển giao, quản lí và chia sẻ lợi ích công nghệ sinh học. Ngoài ra, Công ước cũng quy định các biện pháp khuyến khích bảo vệ đa dạng sinh học, hợp tác quốc tế, trao đổi thông tin, các nguồn tài chính và cơ chế tài chính… trong việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học trên toàn thế giới. 3.Pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 3.1. Sự tham gia của Việt Nam vào các Điều ước quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã 3.1.1. Công ước CITES3 Ngày 20041994 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 121 của Công ước CITES. Để thực thi Công ước, thực hiện sự phân công của Chính phủ, ngày 19042000, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã kí Quyết định số 432000QĐBNNTCCB thành lập Văn phòng CITES Việt Nam với chức năng là bộ phận thường trực của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam trong việc thực thi Công ước CITES. Đây là bước tiến quan trọng trong 3Bộ Tài nguyên và môi trường (2020), Công ước CITES và sự tham gia của Việt Nam, https:monre.gov.vnPagesconguoccitesvasuthamgiacuavietnam.aspx, truy cập lúc 21h00 ngày 31122021. 7 quá trình hội nhập với cộng đồng quốc tế, nhằm ngăn chặn buôn bán quốc tế trái phép các loài động, thực vật hoang dã, đặc biệt những loài đang thuộc diện nguy cấp. Trong những năm qua, hành lang pháp lý cho việc bảo vệ các loài động thực vật hoang dã, đặc biệt là các loài quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng đã có những bước phát triển rất đáng ghi nhận, có thể kể đến Nghị định số 822006NĐCP về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cây nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 062019NĐCP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp… Các chính sách và văn bản được ban hành, câp̣ nhâṭliên tục qua nhiều thời kỳ, đã đáp ứng được yêu cầu thực tế trong quá trình phát triển của pháp luật và kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, pháp luật về bảo vệ các loài động vật hiện nay mới chỉ giới hạn trong việc bảo vệ các loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, mà thiếu các quy định pháp luật về bảo vệ các loài khác. Khung pháp lý cho việc kiểm soát hoạt động buôn bán động thực vật hoang dã ở nước ta hiện còn nhiều bất cập và chồng chéo. Ngành kiểm lâm, quản lí thị trường, hải quan… đều đã ban hành những văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề này, song còn thiếu sự phối hợp thống nhất. 3.1.2. Công ước Ramsar4 Việt Nam là quốc gia thứ 50 trên thế giới và đầu tiên của khu vực ASEAN, chính thức tham gia Công ước Ramsar từ năm 1989. Sau khi trở thành thành viên của Công ước, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm thực hiện các nghĩa vụ mà Công ước quy định, trong đó phải kể đến Nghị định số 1092003NĐCP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định trực tiếp về quản lý đất ngập nước để thực thi Công ước Ramsar. Kể từ khi ban hành, cho đến nay, các điều của Nghị định đã được cụ thể hóa thành các chiến lược, chính sách và kế hoạch hành động của ngành tài nguyên và môi trường và các Bộ, ngành và địa phương liên quan trên cả nước. Đến nay, Việt Nam có 04 Luật đề cập đến việc quản lý đất ngập nước, như: Luật Thủy sản (năm 2003, năm 2017); Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (năm 2004), nay là Luật Lâm nghiệp (năm 2017), Luật Bảo vệ môi trường (năm 2005, năm 2014, năm 2020), Luật Đa dạng sinh học (năm 2008) nay là Văn bản hợp nhất số 32VBHNVPQH và nhiều văn bản hướng dẫn các Luật trên. Luật Đa dạng sinh học năm 2008 là văn bản luật đầu tiên quy định trực tiếp đến vùng đất ngập nước và các hoạt động kiểm kê, xác lập chế độ phát triển bền vững các vùng đất ngập nước tự nhiên ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, hệ thống phân loại đất ngập nước đã được ban hành với 26 kiểu đất ngập nước thuộc ba nhóm đất ngập nước biển và ven biển, đất ngập 4Bộ Tài nguyên và môi trường (2020), Công ước RAMSAR và sự tham gia của Việt Nam, https:monre.gov.vnPagesconguocramsarvasuthamgiacuavietnam.aspx, truy cập lúc 21h25 ngày 31122021. 8 nước nội địa và đất ngập nước nhân tạo, phục vụ cho việc kiểm kê và quản lý hiệu quả các vùng đất ngập nước trên toàn quốc. Nhằm nội luật hóa các quy định của Công ước Ramsar, nội dung Nghị quyết các kỳ họp COP và đáp ứng với yêu cầu về quản lý đất ngập nước của Việt Nam trước các áp lực phát triển và xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 662019NĐCP thay thế Nghị định số 1092003NĐCP. Nghị định mới này đã góp phần kiện toàn hành lang pháp lý về quản lý đất ngập nước ở Việt Nam, đồng thời triển khai nhiều hoaṭđông̣ vàbiêṇ pháp nhằm tăng cường hiệu quả thực thi Công ước này ở Việt Nam. 3.1.3. Công ước đa dạng sinh học5 Từ sau khi tham gia Công ước vào năm 1994, Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (ĐDSH) 1995, đây được xem là một chính sách nền tảng đầu tiên của Việt Nam trong nỗ lực bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên ĐDSH. Hiện nay, với tầm nhìn mới về ĐDSH là nền tảng của nền kinh tế xanh, bảo tồn ĐDSH là giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Bên cạnh việc xây dựng, ban hành Kế hoạch hành động về ĐDSH, một loạt các văn bản khác có liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học đã được nghiên cứu, xây dựng và ban hành. Cho đến nay đã có khoảng 100 văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH của Việt Nam, điển hình là sự ra đời của Luật Đa dạng sinh học 2008. Hệ thống các văn bản này là cơ sở rất quan trọng về mặt pháp lý, cho việc thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ ĐDSH và thể hiện mối quan tâm của Chính phủ và các ngành chủ quản đến vấn đề này. Tuy nhiên, các quy định về ĐDSH ở nước ta hiện nay vẫn còn bộc lộ hạn chế, nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, hiệu quả thi hành không cao, việc bảo vệ ĐDSH bằng pháp luật chưa mang tính bao quát và toàn đỉện. Các quy định pháp luật cụ thể hoá về bảo vệ gen, bảo vệ quyền của tổ chức, cá nhân lai tạo giống vật nuôi mới, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với giống cây, con mới… còn mờ nhạt. 3.2. Thực tiễn thi hành quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 3.2.1. Quy định về quản lý việc bảo vệ động vật hoang dã Trong những năm qua, hệ thống pháp luật điều chỉnh việc quản lý về bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD), đặc biệt là các loài quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng đã được ban hành, câp̣ nhâṭliên tục qua nhiều thời kỳ đã đáp ứng được yêu cầu thực tế trong quá trình phát triển của pháp luật và kinh tế quốc gia. Tiêu biểu có thể kể đến như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT



TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT

NAM VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ.

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 3

1 Tổng quan vấn đề bảo vệ động vật hoang dã 3

1.1 Khái niệm động vật hoang dã 3

1.2 Vai trò của động vật hoang dã 3

1.3 Khái niệm pháp luật bảo vệ động vật hoang dã 4

1.4 Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật 4

2 Pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã 5

2.1 Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) 5 2.2 Công ước Ramsar 6

2.3 Công ước về các loài di cư 6

2.4 Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển 6

2.5 Công ước đa dạng sinh học 7

3 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 7

3.1 Sự tham gia của Việt Nam vào các Điều ước quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã 7

3.1.1 Công ước CITES 7

3.1.2 Công ước Ramsar 8

3.1.3 Công ước đa dạng sinh học 9

3.2 Thực tiễn thi hành quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 9

3.2.1 Quy định về quản lý việc bảo vệ động vật hoang dã 9

3.2.2 Quy định xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã 10

3.2.3 Quy định về xử lí tang vật là động vật hoang dã 11

4 Kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 12

KẾT LUẬN 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 3

MỞ ĐẦU

Ngày nay, thế giới đang phải đối phó với một mối đe dọa chưa từng có đối với động vật hoang dã (ĐVHD) khi tình hình biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, vấn nạn săn bắn, vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ trái phép ngày càng gia tăng, đe doạ đến các loài ĐVHD và môi trường sống của chúng, dẫn đến nguy cơ mất cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học (ĐDSH) Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm số lượng ĐVHD là do hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này còn lỏng lẻo, chồng chéo, chưa đủ tính răn đe Do đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan là một vấn đề vô cùng cấp thiết được đặt ra ngay lúc này Là một đất nước được thiên nhiên ưu ái, có giá trị ĐDSH cao, Việt Nam là một trong những quốc gia cần ưu tiên bảo tồn ĐDSH cũng như bảo vệ ĐVHD Bởi vậy, Việt Nam cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống pháp luật, để từ đó tạo hành lang pháp lý vững chắc

bảo vệ ĐVHD Vì những lí do trên, sinh viên chọn đề tài: “Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã” làm tiểu luận kết thúc học phần.

NỘI DUNG

1 Tổng quan vấn đề bảo vệ động vật hoang dã

1.1 Khái niệm động vật hoang dã

Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về loài hoang dã và khó có thể khẳng định khái niệm nào chuẩn mực hơn bởi ở mỗi quốc gia, các nhà nghiên cứu và các tổ chức chuyên môn

đều có những cách hiểu khác nhau Theo tổ chức bảo tồn loài Gorilla của Hoa Kỳ, động vật hoang dã hay động vật ngoại lai là động vật sống trong tự nhiên, động vật hoang dã đã sinh trưởng hàng ngàn năm nay mà không chịu sự tác động trực tiếp từ con người Từ điển Cambridge Advanced Learner’s Dictionary and Thesaurus lại định nghĩa: loài hoang dã là các loài động vật và thực vật sinh trưởng không phụ thuộc vào con người, thường sống ở trong môi

trường tự nhiên Loài hoang dã trong pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Khoản 13 Điều 3 Văn bản

hợp nhất số 32/VBHN-VPQH hợp nhất Luật đa dạng sinh học đưa ra định nghĩa: “Loài hoang

dã là loài động vật, thực vật, vi sinh vật và nấm sinh sống và phát triển theo quy luật.”

Như vậy, có thể định nghĩa “động vật hoang dã” là tất cả loài động vật sinh trưởng trong môi trường tự nhiên mà nằm ngoài sự tác động trực tiếp của con người.

1.2 Vai trò của động vật hoang dã 1

Động vật hoang dã (ĐVHD) là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự cân bằng sinh thái tự nhiên bền vững, bảo đảm môi trường sống

1Vai trò quan trọng của động vật hoang dã đối với con người,

https://loikhancaututhiennhien.wordpress.com/2016/10/19/vai-tro-quan-trong-cua-dong-vat-hoang-da-doi-voi-con-nguoi/ , truy cập lúc 19h25 ngày 30/12/2021.

Trang 4

trong lành cho con người Vì vậy, con người phải có trách nhiệm bảo vệ ĐVHD, đồng thời, tạo môi trường sống cho các loài động vật này được bảo tồn và phát triển

- Đối với đa dạng sinh học: Trong một hệ sinh thái, các loài đều có tác động nhất định tới nhau, do đó sự biến mất của một loài sẽ gây nên phản ứng dây chuyền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của các sinh vật khác Đặc biệt đối với các loài có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái thì sự tuyệt chủng của chúng có thể dẫn đến những hậu họa khó lường

- Đối với y học: Trong cuộc đấu tranh sinh tồn, nhiều loài ĐVHD đã tự tìm ra cách kháng

vi khuẩn và các tế bào gây ung thư Việc tìm hiểu và nghiên cứu đặc tính này của các loài có thể giúp các nhà khoa học tìm ra những phương pháp chữa bệnh mới và hiệu quả Bên cạnh đó, trong cơ thể của nhiều loài động thực vật còn chứa các chất hóa học hữu ích, phục vụ cho việc sản xuất dược phẩm

- Cân bằng môi trường: Nhiều sinh vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá chất lượng môi trường Những loài sinh vật có khả năng chỉ thị môi trường sẽ cảnh báo con người về tác động của biến đổi khí hậu và các chất gây ô nhiễm tới môi trường

- Các loài động vật còn cung cấp các dịch vụ sinh thái nhằm mang lại nguồn lợi kinh tế bền vững cho các quốc gia Các hoạt động du lịch trải nghiệm thiên nhiên và chiêm ngưỡng các loài động vật hoang dã đã đem lại nguồn thu nhập ổn định cho các cộng đồng sống gần những khu vực này, cũng như mang lại nguồn lợi nhuận cho các công ty du lịch hàng năm

- Đối với nông nghiệp: côn trùng, các loài động vật ăn sâu bọ hay các giống cây trồng chứa các độc tố tự nhiên được nông dân sử dụng để tiêu diệt sâu bọ gây hại cho mùa màng

- Di sản phi vật thể: Nhiều loài ĐVHD còn mang lại niềm cảm hứng cho tác giả, nghệ sĩ

và tất cả những ai quan tâm tới sự đa dạng của thế giới tự nhiên

1.3 Khái niệm pháp luật bảo vệ động vật hoang dã

Hiện nay, pháp luật thế giới và Việt Nam chưa đưa ra khái niệm về pháp luật bảo vệ

động vật hoang dã Tuy nhiên, có thể định nghĩa “Pháp luật bảo vệ động vật hoang dã” là hệ

thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong quá trình bảo vệ các loài động vật hoang dã và môi trường sống của chúng Những hành vi vi phạm quy định về bảo

vệ động vật hoang dã sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

1.4 Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật

Từ thực tiễn hiện nay, có thể thấy rằng, số lượng động vật hoang dã ngày càng suy giảm bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau Nguyên nhân chính của hiện tượng suy giảm động vật là

do sự tăng trưởng dân số và nhu cầu ngày càng cao của con người Bên cạnh đó, việc đô thị hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng, gây ô nhiễm môi trường và làm biến đổi khí hậu toàn cầu cũng gián tiếp khiến cho số lượng động vật hoang dã bị suy giảm Hoạt động khai thác quá mức như:

Trang 5

săn bắn, đánh bắt, buôn bán động vật hay chặt phá rừng, đốt rừng làm huỷ hoại môi trường sống của chúng cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng động vật hoang dã, đẩy nhiều loài đến bờ vực tuyệt chủng Theo Báo cáo Sức sống Hành tinh 2020 của Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), trong vòng 50 năm qua, quần thể các loài động vật có xương sống đã suy giảm 68% Tại Việt Nam, nhiều loài động vật hoang dã đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do bị buôn bán và tiêu thụ bất hợp

Hơn lúc nào hết, thiên nhiên đang kêu cứu và cần có sự chung tay, nỗ lực vào cuộc của

cả cộng đồng để bảo tồn động vật hoang dã Trong các biện pháp bảo vệ động vật hoang dã, sử dụng công cụ “pháp luật”, bằng các chế tài và quy định cụ thể, có sức tác động lớn và mức độ răn đe cao đối với mọi đối tượng Thông qua pháp luật, mọi hoạt động trong khai thác tài nguyên thiên nhiên đều được quản lý nghiêm ngặt, các hành vi khai thác trái phép các loài động vật đều được kiểm soát chặt chẽ nhằm đẩy lùi tình trạng tuyệt chủng Theo đó, những hành vi kinh doanh, vận chuyển, xuất, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh động vật đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật Từ đó, hướng tới việc xoá bỏ hoàn toàn nạn buôn bán trái phép các loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, góp phần bảo vệ hệ sinh thái, bảo tồn các quần thể động vật và môi trường sống của chúng

2 Pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã

2.1 Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES)

Công ước CITES là Hiệp định giữa các chính phủ, được thiết lập nhằm mục tiêu kiểm soát hoạt động buôn bán quốc tế mẫu vật của các loài động, thực vật hoang dã một cách bền vững, đảm bảo rằng hoạt động này không làm ảnh hưởng đến sự tồn vong của loài trong tự nhiên Đây là một hành lang pháp lý, một cơ chế thủ tục đang được áp dụng ở các quốc gia thành viên Mỗi nước thành viên phải đảm bảo rằng các quy định pháp luật quốc gia phải hài hoà với những quy định của CITES Công ước đưa ra các quy định nhằm đảm bảo rằng, các nước sản xuất và tiêu thụ có trách nhiệm như nhau trong việc quản lý và bảo tồn nguồn lợi thiên nhiên Các hoạt động thương mại được quản lý qua việc thu thập và phân tích các thông tin, dữ liệu liên quan Thêm vào đó, Công ước cũng quy định việc buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã bằng cơ chế giấy phép và giấy chứng nhận Giấy phép chỉ được cấp khi bảo đảm một số điều kiện theo quy định và phải xuất trình trước khi ra hay vào một nước

Công ước có 03 phụ lục động, thực vật hoang dã: Phụ lục I gồm các loài bị đe doạ tuyệt chủng và có thể bị ảnh hưởng bởi hoặc có thể bởi các hoạt động thương mại; Phụ lục II gồm các loài có thể bị đe doạ tuyệt chủng nếu việc buôn bán những mẫu vật của những loài đó

2Động vật hoang dã bên bờ vực tuyệt chủng, https://baotintuc.vn/long-form/emagazine/dong-vat-hoang-da-ben-bo-vuc-tuyet-chung-20211210222110940.htm , truy cập lúc 20h12 ngày 30/12/2021.

Trang 6

không tuân theo những quy chế nghiêm ngặt; Phụ lục III gồm các loài hoang dã không thuộc diện đe doạ tuyệt chủng trên toàn cầu

2.2 Công ước Ramsar

Công ước bảo tồn những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (RAMSAR) được ký tại thành phố Ramsar, Iran năm 1971 Thỏa thuận liên Chính phủ này nhằm cung cấp khung hoạt động cho các Kế hoạch hành động quốc gia, hợp tác quốc tế về bảo tồn, sử dụng khôn khéo đất ngập nước và các nguồn tài nguyên từ đất ngập nước Mục đích của Công ước RAMSAR được các Bên tham gia thông qua

năm 1999 và được điều chỉnh năm 2002 là “Bảo tồn và sử dụng một cách khôn khéo các vùng đất ngập nước thông qua hành động của địa phương, của khu vực, của quốc gia và hợp tác quốc tế nhằm góp phần đạt được mục tiêu phát triển bền vững trên toàn thế giới” Dưới quan

điểm bảo tồn đa dạng sinh học là bảo vệ môi trường sống của sinh vật, Công ước này đã khẳng định được mức độ ảnh hưởng của môi trường hoang dã đối với sự sống của các loài động vật

Thành viên khi tham gia Công ước RAMSAR có nghĩa vụ chính như sau: Chỉ định ít nhất một vùng đất ngập nước để đưa vào Danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế và duy trì đặc tính sinh thái của vùng đất ngập nước này; Sử dụng khôn khéo đất ngập nước; Khuyến khích và tăng cường công tác bảo tồn các vùng đất ngập nước; Thúc đẩy hợp tác quốc tế về bảo tồn các vùng đất ngập nước và viện trợ phát triển cho dự án đất ngập nước; Bồi dưỡng truyền thông về đất ngập nước và ủng hộ các hoạt động của Công ước

2.3 Công ước về các loài di cư

Công ước về các Loài Di cư, còn được gọi là CMS hay Công ước Bonn, được ký kết nhằm bảo tồn toàn bộ các loài di cư trên cạn, dưới nước và các loài chim trên lãnh thổ của các nước ký công ước Hiệp ước liên chính phủ này được ký kết dưới sự bảo trợ của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) nhằm cung cấp một nền tảng toàn cầu cho việc bảo tồn động, thực vật hoang dã và môi trường sống của chúng trên quy mô toàn thế giới

Công ước này quy định về nhiều loài di cư mang tính biểu tượng đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc buôn bán bất hợp pháp động, thực vật hoang dã như voi, khỉ đột, báo tuyết, linh dương Saiga, rùa biển, cá mập và một số loài chim Công ước này đã đưa cộng đồng quốc

tế lại với nhau để giải quyết hàng loạt các mối đe dọa mà những loài động vật hoang dã này phải đối mặt khi di cư hàng năm, gồm cả các mối đe dọa của việc buôn bán bất hợp pháp

2.4 Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển

Sau Hiến chương Liên Hợp quốc, Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 được đánh giá là một văn kiện pháp lý quan trọng nhất kể từ sau Thế chiến thứ hai, là một bản Hiến

Trang 7

pháp về biển của cộng đồng quốc tế, bởi Công ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán

Công ước bao gồm 320 điều khoản và 09 phụ lục điều chỉnh các vấn đề liên quan đến các vùng biển mà một số quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như việc sử dụng, khai thác biển và đại dương Trong đó, các quy định về vấn đề bảo tồn tài nguyên biển, bao gồm tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, cũng như bảo vệ môi trường biển được nhắc tới xuyên suốt nội dung Công ước Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển là nghĩa vụ của mọi quốc gia và các quốc gia cần hợp tác với nhau để đưa ra những biện pháp cần thiết nhằm bảo tồn tài nguyên đó Công ước Luật Biển 1982 đã đáp ứng nguyện vọng của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý mới đối với các vấn đề về biển và đại dương nói chung, vấn đề về bảo vệ động vật biển nói riêng

2.5 Công ước đa dạng sinh học

Được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển bền vững năm

1992 tại Rio de Janero, Công ước Đa dạng sinh học hướng đến ba mục tiêu chính, bao gồm: bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học Tuỳ theo khả năng của mình, các thành viên tham gia Công ước sẽ: thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái; bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng bằng pháp luật, hạn chế và quản lý các hành động gây nguy hại đến đa dạng sinh học; ban hành công tác đánh giá tác động môi trường; xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển quốc gia, kế hoạch hành động

về bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong và ngoài khu bảo tồn Công ước tập trung vào các nội dung cơ bản như: bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học; tiếp cận, chuyển giao, quản lí và chia sẻ lợi ích công nghệ sinh học Ngoài ra, Công ước cũng quy định các biện pháp khuyến khích bảo vệ đa dạng sinh học, hợp tác quốc tế, trao đổi thông tin, các nguồn tài chính và cơ chế tài chính… trong việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học trên toàn thế giới

3 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã

3.1 Sự tham gia của Việt Nam vào các Điều ước quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã

3.1.1 Công ước CITES 3

Ngày 20/04/1994 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 121 của Công ước CITES Để thực thi Công ước, thực hiện sự phân công của Chính phủ, ngày 19/04/2000, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã kí Quyết định số 43/2000/QĐ-BNN-TCCB thành lập Văn phòng CITES Việt Nam với chức năng là bộ phận thường trực của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam trong việc thực thi Công ước CITES Đây là bước tiến quan trọng trong

3Bộ Tài nguyên và môi trường (2020), Công ước CITES và sự tham gia của Việt Nam, https://monre.gov.vn/Pages/cong-uoc-cites-va-su-tham-gia-cua-viet-nam.aspx , truy cập lúc 21h00 ngày 31/12/2021.

Trang 8

quá trình hội nhập với cộng đồng quốc tế, nhằm ngăn chặn buôn bán quốc tế trái phép các loài động, thực vật hoang dã, đặc biệt những loài đang thuộc diện nguy cấp

Trong những năm qua, hành lang pháp lý cho việc bảo vệ các loài động thực vật hoang

dã, đặc biệt là các loài quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng đã có những bước phát triển rất đáng ghi nhận, có thể kể đến Nghị định số 82/2006/NĐ-CP về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cây nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp… Các chính sách và văn bản được ban hành, câp̣ nhâṭliên tục qua nhiều thời kỳ, đã đáp ứng được yêu cầu thực tế trong quá trình phát triển của pháp luật và kinh tế quốc gia Tuy nhiên, pháp luật về bảo vệ các loài động vật hiện nay mới chỉ giới hạn trong việc bảo vệ các loài động vật quý hiếm có nguy

cơ tuyệt chủng, mà thiếu các quy định pháp luật về bảo vệ các loài khác Khung pháp lý cho việc kiểm soát hoạt động buôn bán động thực vật hoang dã ở nước ta hiện còn nhiều bất cập và chồng chéo Ngành kiểm lâm, quản lí thị trường, hải quan… đều đã ban hành những văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề này, song còn thiếu sự phối hợp thống nhất

3.1.2 Công ước Ramsar 4

Việt Nam là quốc gia thứ 50 trên thế giới và đầu tiên của khu vực ASEAN, chính thức tham gia Công ước Ramsar từ năm 1989 Sau khi trở thành thành viên của Công ước, Việt Nam

đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm thực hiện các nghĩa vụ mà Công ước quy định, trong đó phải kể đến Nghị định số 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định trực tiếp về quản lý đất ngập nước để thực thi Công ước Ramsar Kể từ khi ban hành, cho đến nay, các điều của Nghị định đã được cụ thể hóa thành các chiến lược, chính sách và kế hoạch hành động của ngành tài nguyên và môi trường và các Bộ, ngành và địa phương liên quan trên cả nước

Đến nay, Việt Nam có 04 Luật đề cập đến việc quản lý đất ngập nước, như: Luật Thủy sản (năm 2003, năm 2017); Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (năm 2004), nay là Luật Lâm nghiệp (năm 2017), Luật Bảo vệ môi trường (năm 2005, năm 2014, năm 2020), Luật Đa dạng sinh học (năm 2008) nay là Văn bản hợp nhất số 32/VBHN-VPQH và nhiều văn bản hướng dẫn các Luật trên Luật Đa dạng sinh học năm 2008 là văn bản luật đầu tiên quy định trực tiếp đến vùng đất ngập nước và các hoạt động kiểm kê, xác lập chế độ phát triển bền vững các vùng đất ngập nước tự nhiên ở Việt Nam Trên cơ sở đó, hệ thống phân loại đất ngập nước đã được ban hành với 26 kiểu đất ngập nước thuộc ba nhóm đất ngập nước biển và ven biển, đất ngập

Trang 9

nước nội địa và đất ngập nước nhân tạo, phục vụ cho việc kiểm kê và quản lý hiệu quả các vùng đất ngập nước trên toàn quốc

Nhằm nội luật hóa các quy định của Công ước Ramsar, nội dung Nghị quyết các kỳ họp COP và đáp ứng với yêu cầu về quản lý đất ngập nước của Việt Nam trước các áp lực phát triển

và xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2019/NĐ-CP thay thế Nghị định số 109/2003/NĐ-CP Nghị định mới này đã góp phần kiện toàn hành lang pháp

lý về quản lý đất ngập nước ở Việt Nam, đồng thời triển khai nhiều hoaṭđông̣ vàbiêṇ pháp nhằm tăng cường hiệu quả thực thi Công ước này ở Việt Nam

3.1.3 Công ước đa dạng sinh học 5

Từ sau khi tham gia Công ước vào năm 1994, Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (ĐDSH) 1995, đây được xem là một chính sách nền tảng đầu tiên của Việt Nam trong nỗ lực bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên ĐDSH Hiện nay, với tầm nhìn mới về ĐDSH là nền tảng của nền kinh tế xanh, bảo tồn ĐDSH là giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Bên cạnh việc xây dựng, ban hành Kế hoạch hành động về ĐDSH, một loạt các văn bản khác có liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học đã được nghiên cứu, xây dựng và ban hành Cho đến nay đã có khoảng 100 văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH của Việt Nam, điển hình là sự ra đời của Luật

Đa dạng sinh học 2008 Hệ thống các văn bản này là cơ sở rất quan trọng về mặt pháp lý, cho việc thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ ĐDSH và thể hiện mối quan tâm của Chính phủ và các ngành chủ quản đến vấn đề này

Tuy nhiên, các quy định về ĐDSH ở nước ta hiện nay vẫn còn bộc lộ hạn chế, nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, hiệu quả thi hành không cao, việc bảo vệ ĐDSH bằng pháp luật chưa mang tính bao quát và toàn đỉện Các quy định pháp luật cụ thể hoá về bảo vệ gen, bảo vệ quyền của tổ chức, cá nhân lai tạo giống vật nuôi mới, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với giống cây, con mới… còn mờ nhạt

3.2 Thực tiễn thi hành quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã

3.2.1 Quy định về quản lý việc bảo vệ động vật hoang dã

Trong những năm qua, hệ thống pháp luật điều chỉnh việc quản lý về bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD), đặc biệt là các loài quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng đã được ban hành, câp̣ nhâṭliên tục qua nhiều thời kỳ đã đáp ứng được yêu cầu thực tế trong quá trình phát triển của pháp luật và kinh tế quốc gia Tiêu biểu có thể kể đến như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng

5Bộ Tài nguyên và môi trường (2020), Việt Nam nỗ lực và trách nhiệm thực hiện Công ước đa dạng sinh học,

https://monre.gov.vn/Pages/viet-nam-no-luc-va-trach-nhiem-thuc-hien-cong-uoc-da-dang-sinh-hoc.aspx , truy cập lúc 22h18 ngày 31/12/2021.

Trang 10

2004, nay là Luật Lâm nghiệp 2017; Luật Đa dạng sinh học 2008, nay là Văn bản hợp nhất số 32/VBHN-VPQH; Nghị định 06/2019/NĐ-CP thay thế và hợp nhất Nghị định 32/2006/NĐ-CP

và Nghị định số 82/2006/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 84/2021/NĐ-CP; Nghị định 160/2013/NĐ-CP, sửa đổi điều 7 tại Nghị định 64/2019/NĐ-CP…

Nhận thấy, các quy định về bảo vệ ĐVHD còn nằm rải rác trong các văn bản khác nhau, dẫn đến sự chồng chéo và khó khăn trong quá trình áp dụng Các văn bản pháp luật hiện nay tồn tại khá nhiều danh mục gồm các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm, trong số đó, nhiều loài thuộc đồng thời nhiều danh mục Trong khi đó, mỗi văn bản luật lại quy định cách thức xử lý vi phạm đối với mỗi nhóm loài khác nhau, cộng thêm việc thiếu các văn bản cần thiết hướng dẫn

áp dụng luật, đã khiến các cơ quan thực thi lúng túng trong quá trình xử lí các vi phạm pháp luật có liên quan Ngược lại, các quy định về bảo vệ các động vật khác còn chưa đầy đủ

Vấn đề quản lý gây nuôi ĐVHD trong các văn bản pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập Các quy định gây nuôi ĐVHD tại Nghị định 160/2013/NĐ-CP mới chỉ mang tính khái quát, mà chưa quy định cụ thể các tiêu chí, điều kiện, trình tự cho phép gây nuôi ĐVHD

Vấn đề cho phép gây nuôi và kinh doanh thương mại các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được quy định trong các văn bản hiện hành như Văn bản hợp nhất số 32/VBHN-VPQH; Nghị định 160/2013/NĐ-CP; Nghị định 06/2019/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 84/2021/NĐ-CP không phù hợp với thực trạng thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD Theo đó, các văn bản này cho phép các cá nhân, tổ chức gây nuôi và kinh doanh thương mại các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nếu đáp ứng một số điều kiện nhất định Điều này vô tình hợp thức hoá việc trao đổi, buôn bán ĐVHD, nguy cấp, quý, hiếm và làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm từ ĐVHD, dẫn đến hậu quả là cơ quan thực thi pháp luật không thể kiểm soát, cũng như không có cơ chế, tiêu chí phân biệt sản phẩm ĐVHD hợp pháp và bất hợp pháp

3.2.2 Quy định xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã 6

Nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD), Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự đã có nhiều quy định, chế tài cụ thể về tội phạm, hình phạt để xử lý loại tội phạm này Tuy nhiên, hệ thống pháp luật nói chung và bảo vệ cũng như xử lý, xử phạt các vi phạm về ĐVHD, nguy cấp, quý hiếm còn chưa thật sự đồng bộ, nhiều văn bản còn mâu thuẫn, việc áp dụng còn nhiều khó khăn, vướng mắc…

So với trước đây, theo Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985, hành vi vi phạm quy định về bảo vệ ĐVHD chỉ được quy định chung với hành vi bảo vệ rừng, thì BLHS năm 1999 đã có

6Chu Thị Trinh (2021), Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã,

Ngày đăng: 21/04/2023, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008), Thông tư số 90/2008/TT-BNN về việc hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 90/2008/TT-BNN về việc hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2008
3. Bộ Tài nguyên và môi trường (2020), Công ước CITES và sự tham gia của Việt Nam, https://monre.gov.vn/Pages/cong-uoc-cites-va-su-tham-gia-cua-viet-nam.aspx,truycập lúc 21h00 ngày 31/12/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước CITES và sự tham gia của Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2020
4. Bộ Tài nguyên và môi trường (2020), Công ước RAMSAR và sự tham gia của Việt Nam, https://monre.gov.vn/Pages/cong-uoc-ramsar-va-su-tham-gia-cua-viet-nam.aspx,truycậplúc 21h25 ngày 31/12/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước RAMSAR và sự tham gia của Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2020
5. Bộ Tài nguyên và môi trường (2020), Việt Nam nỗ lực và trách nhiệm thực hiện Công ước đa dạng sinh học, https://monre.gov.vn/Pages/viet-nam-no-luc-va-trach-nhiem-thuc-hien-cong-uoc-da-dang-sinh-hoc.aspx, truy cập lúc 22h18 ngày 31/12/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam nỗ lực và trách nhiệm thực hiện Công ước đa dạng sinh học
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2020
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Chính phủ (2006), Nghị định số 82/2006/NĐ-CP về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 82/2006/NĐ-CP về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
8. Chính phủ (2013), Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
9. Chính phủ (2019), Nghị định số 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2019
10. Chính phủ (2019), Nghị định số 64/2019/NĐ-CP sửa đổi điều 7 nghị định số 160/2013/NĐ- CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 64/2019/NĐ-CP sửa đổi điều 7 nghị định số 160/2013/NĐ- CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2019
11. Chính phủ (2021), Nghị định số 84/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 84/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2021
12. Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea – UNCLOS) năm 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: United Nations Convention on the Law of the Sea – UNCLOS
Tác giả: United Nations
Năm: 1982
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2019), Thông tư số 29/2019/TT-BNNPTNT về xử lý động vật rừng là tang vật, vật chứng; động vật rừng do tổ chức, cá nhân tự nguyên giao nộp Nhà nước Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w