Việc tập trung vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy đọc hiểu tác tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12, từ đó phát triển phẩm chất, năng lực HS thì ch
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN BÁI
Đơn vị: Trường THPT Hồng Quang
Yên Bái, tháng 1 năm 2022
Trang 2Nội dung Trang
I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 2
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: 2
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: 2
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: 2
5 Tác giả 2
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN 2
1 Tình trạng các giải pháp đã biết 2
2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến 3
3 Khả năng áp dụng của giải pháp 21
4 Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp 21
6 Các thông tin cần được bảo mật (quy trình, bản vẽ, thiết kế…): không 32
7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến (trình độ chuyên môn, cơ sở vật chất…): 32
8 Tài liệu gửi kèm: (Thuyết minh chi tiết về sáng kiến - nếu cần giải thích rõ hơn so với báo cáo này, bản vẽ, thiết kế, sơ đồ, ảnh chụp mẫu sản phẩm các tài liệu, văn bằng, chứng chỉ, kết quả và lợi ích mang lại - nếu có) 33
III Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền 33
Tài liệu tham khảo……….34
Xác nhận của thủ trưởng về việc triển khai áp dụng sáng kiến tại đơn vị 35
Trang 3THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Vận dụng phương pháp dạy học tích cực để nâng cao
hiệu quả đọc hiểu thơ hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 ở trường THPT”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục (Ngữ văn)
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: Trường THPT Hồng Quang và các
trường THPT trên địa bàn tỉnh Yên Bái
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 01 năm
2022 Hiện tại hướng nghiên cứu của sáng kiến vẫn tiếp tục được ứng dụng trong thực hành giảng dạy giờ đọc hiểu các tác phẩm thơ nói chung và các văn
bản văn học nói chung trong chương trình Ngữ văn THPT ở cả khối 10, 11, 12
5 Tác giả
Họ và tên: Đào Thu Hiền
Năm sinh: 1981
Trình độ chuyên môn: Cử nhân
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THPT Hồng Quang
Địa chỉ liên hệ: Thôn 6, xã Động Quan, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học”
được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua
đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt
Năm học 2020-2021 tôi viết sáng kiến “Hướng dẫn học sinh tự đánh giá trong rèn kỹ năng làm bài văn nghị luận văn học tại trường THPT Hồng Quang” Tuy nhiên, từ trước đó, tôi luôn trăn trở với việc dạy HS kỹ năng làm
văn nghị luận văn học Tôi nhận thấy, việc rèn kỹ năng làm văn cho HS là vô cùng cần thiết nhưng nếu các em thiếu đi kiến thức cơ bản thì kỹ năng có tốt đến mấy cũng không có tác dụng Vậy nên rất cần định hướng cho HS cách tiếp cận, tích lũy kiến thức Hơn nữa, thực tế chương trình học Ngữ văn THPT có một số thể loại văn học như thơ, truyện, văn nghị luận, kịch… Trong đó, thơ ca chiếm một vị trí tương đối lớn trong hệ thống chương trình Việc dạy học thơ giúp HS
có cơ hội nâng cao hiểu biết và nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm tốt đẹp Thơ ca
Trang 4nói riêng và tác phẩm văn chương nói chung đều phản ánh cuộc sống bằng hình tượng Nhưng hình tượng trong thơ không phải được xây dựng nên từ óc quan sát, chiều sâu nhận thức, tư duy lô gic của lý trí mà nó gắn với cảm xúc, với tâm hồn Qua tác phẩm thơ, bằng ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, HS hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả Thực tế giảng dạy cho thấy thơ lại là loại văn bản “khó đọc” bởi đặc trưng nắm bắt thế giới một cách đặc biệt, bởi kiểu cấu trúc hình tượng “phi logic” chỉ tuân theo logic của cảm xúc Bởi vậy, việc tiếp cận và khám phá, cảm nhận tác phẩm thơ đối với HS còn gặp nhiều khó khăn
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn tại các trường phổ thông cũng đã
có nhiều GV đề xuất các cánh tiếp cận, cách giảng dạy tác phẩm thơ nhưng phần lớn là các giải pháp cho dạy thơ ở bậc THCS Còn đối với chương trình THPT thì chỉ có một số công trình nghiên cứu về dạy học theo chủ đề, theo đặc trưng thể
loại như “Dạy học chủ đề thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11 theo định
hướng phát triển năng lực học sinh”, “Phát triển năng lực đọc hiểu cho HS lớp
12 qua dạy học thơ Hiện đại Việt Nam 1945- 1975 theo chủ đề”; “Xây dựng quy trình dạy học đọc - hiểu văn bản thơ giai đoạn 1945 - 1975 ở trường THPT theo đặc trưng thể loại”…; hoặc thiết kế một giáo án cụ thể đối với một tác phẩm thơ
trong chương trình Ngữ văn THPT Việc tập trung vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy đọc hiểu tác tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12, từ đó phát triển phẩm chất, năng lực HS thì chưa có nghiên
cứu Vì vậy, thông qua sáng kiến của mình, tôi mong muốn đề xuất, định hướng
với đồng nghiệp cách tiếp cận tác phẩm thơ và ứng dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong giờ đọc hiểu Từ đó, HS có thêm khả năng khám phá, ghi nhớ, tích lũy kiến thức góp phần nâng cao chất lượng bài làm văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cũng như nâng cao tỉ lệ thi tốt nghiệp THPT tại trường THPT Hồng Quang nói riêng và các trường THPT của tỉnh Yên Bái nói chung
2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
- Mục đích của giải pháp
Sáng kiến làm rõ đặc trưng của thể loại thơ Từ đó, định hướng cách tiếp cận tác phẩm thơ và ứng dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong giờ đọc hiểu tác phẩm thơ giúp HS nâng cao khả năng khám phá, ghi nhớ, tích lũy kiến thức, đồng thời góp phần phát triển phẩm chất, năng lực người học Từ đó, nâng cao chất lượng bài làm văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Sáng kiến giúp GV hình dung ra những việc cần làm, những phương pháp cần sử dụng trong tiết dạy nhằm định hướng phát triển phẩm chất, năng lực cho
HS, giúp cho việc học của HS chủ động hơn Một số phương pháp dạy học tích cực được giới thiệu trong sáng kiến có thể phù hợp với tất cả giờ dạy Ngữ văn nói riêng và các bộ môn khoa học trong nhà trường nói chung Qua áp dụng các giải pháp, việc học không còn gò bó mà trở thành một hoạt động lao động sáng tạo Giờ văn vì thế cũng trở nên nhẹ nhàng, hứng thú và vui vẻ, tạo ra một không
Trang 5khí mới, hiệu quả mới trong dạy học Ngữ văn nói chung và giờ đọc hiểu tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam nói riêng
- Tính mới của sáng kiến
Thứ nhất, giải pháp vận dụng phương pháp dạy học tích cực giúp nâng
cao hiệu quả đọc hiểu thơ hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12, từ
đó phát triển phẩm chất, năng lực HS, tạo cho HS sự hứng thú, tích cực, tự giác
qua quá trình chuẩn bị bài ở nhà;
Thứ hai, giải pháp vận dụng phương pháp dạy học sử dụng trò chơi vào
hoạt động khởi động, tăng hứng thú cho HS, tạo tâm thế hứng khởi, thích thú, thoải mái bước vào giờ học;
Thứ ba, giải pháp vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào các
hoạt động hình thành kiến thức, luyện tập như vận dụng phương pháp đóng vai; Vận dụng phương pháp trực quan kết hợp sử dụng công nghệ thông tin; Vận
dụng kĩ thuật phòng tranh…
Thứ tư, thông qua các biện pháp giới thiệu, GV linh hoạt trong tiết dạy,
HS chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến thức
+ Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ
Bên cạnh việc phát triển phẩm chất HS, giải pháp còn phát triển năng lực
tự học cho HS trong quá trình chuẩn bị bài ở nhà thông qua phiếu học tập, phát triển năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học, năng lực cảm thụ thẩm mỹ (Biết nhận diện, thưởng thức và đánh giá cái đẹp trong văn học và cuộc sống, biết làm chủ cuộc sống, biết làm chủ cảm xúc của bản thân, biết hành động hướng theo cái đẹp, cái thiện, cảm nhận vẻ đẹp ngôn ngữ, nhận
ra những giá trị thẩm mĩ trong văn học, biết rung cảm, hướng thiện…) Ngoài ra giải pháp còn phát triển cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân…
Giải pháp tăng hứng thú cho HS trong hoạt động khởi động, hình thành kiến thức, luyện tập và vận dụng bằng các phương pháp dạy học tích cực như: hình thức thư giãn, giải trí; trò chơi; phương pháp đóng vai, phỏng vấn; phương pháp trực quan kết hợp sử dụng công nghệ thông tin; kĩ thuật phòng tranh…
Trang 6- Nội dung giải pháp:
I Căn cứ lựa chọn sáng kiến
Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 tập một, cơ bản có phần thơ hiện đại chỉ tập trung ở học kỳ I của năm học với năm bài thơ hiện đại được học chính thức:
- Tây Tiến của Quang Dũng
- Việt Bắc của Tố Hữu
- Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm
- Sóng của Xuân Quỳnh
- Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo
Ngoài ra chương trình còn bổ sung một số bài thơ hiện đại cho phần đọc thêm:
- Đất nước của Nguyễn Đình Thi
- Dọn về làng của Nông Quốc Chấn,
- Đò Lèn của Nguyễn Duy
- Bác ơi ! của Tố Hữu
- Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
Năm học 2021- 2022, theo hướng dẫn của CV 4040, một số tác phẩm thơ
đã chuyển sang khuyến khích HS tự đọc Gồm:
- Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo
- Dọn về làng của Nông Quốc Chấn,
- Đò Lèn của Nguyễn Duy
- Bác ơi ! của Tố Hữu
- Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
Như vậy, các tác phẩm thơ còn học chính trong chương trình gồm 5 bài:
- Tây Tiến của Quang Dũng
- Việt Bắc của Tố Hữu
- Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm
- Sóng của Xuân Quỳnh
- Đọc thêm: Đất nước của Nguyễn Đình Thi
Phương pháp dạy học (PPDH) tích cực (Active Teaching Learning) hướng tới tích cực hóa hoạt động nhận thức người học, nghĩa là tập trung phát huy tính tích cực của người học chứ không chỉ tập trung hoạt động tích cực của người dạy Với PPDH tích cực, người dạy đóng vai trò chủ đạo - người học đóng vai trò chủ động chiếm lĩnh kiến thức
Như vậy, khi nói tới PPDH tích cực, thực tế là nói tới nhóm PPDH mà ở
đó, trong quá trình dạy học cần kích thích sự hứng thú, phát huy tính tích cực, tính tự lực và sáng tạo trong học tập của HS PPDH tích cực cần thể hiện được
sự phản ánh quá trình hoạt động nhận thức của HS nhằm đạt được mục đích đã
đề ra, trong đó GV tổ chức cho HS hoạt động theo hướng tích cực, HS tự giác
Trang 7tiếp cận kiến thức, hình thành kĩ năng, phát triển năng lực Nói cách khác, PPDH tích cực hướng tới nhiều hoạt động khác nhau trong học tập, tích cực hóa hoạt động của người học
PPDH tích cực tạo điều kiện cho HS phát huy được khả năng tư duy, đòi hỏi HS suy nghĩ, tìm tòi phát huy trí lực mức cao nhất, bộc lộ được tiềm năng của bản thân để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
PPDH tích cực có 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau:
- Dạy học (DH) thông qua tổ chức các hoạt động của HS;
- DH chú trọng hứng thú người học, rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu;
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác;
- Kết hợp đánh giá của thầy với sự tự đánh giá của trò
Sơ đồ 1: Bảng so sánh giữa dạy học truyền thống và dạy học tích cực
Như chúng ta đã biết, phẩm chất và năng lực là hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nhân cách nói chung và là yếu tố nền tảng tạo nên nhân cách của một con người nói riêng Do vậy, trong mọi thời đại, các chương trình giáo dục đều quan tâm đến việc hình thành phẩm chất và năng lực con người Giáo dục cần phải giúp người học hình thành một hệ thống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới Từ đó, góp phần hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách
PPDH theo quan điểm phát triển phẩm chất, năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn HS tích cực, chủ động và sáng tạo trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của GV
Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 chỉ rõ mục tiêu hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm Và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi
Sơ đồ 2: Các phẩm chất chủ yếu cần phát triển cho HS
Trang 8Sơ đồ 3: Các năng lực cốt lõi cần phát triển cho HS
Sơ đồ 4 Sơ đồ phẩm chất và năng lực trong mối quan hệ với các yếu tố tư tưởng, đạo đức, lối sống và kiến thức, kỹ năng, thái độ
Có thể thấy, DH phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực của HS
Trang 9II Nội dung sáng kiến
Giải pháp 1: Phát triển năng lực tự học cho HS qua quá trình chuẩn
bị bài ở nhà
Hướng dẫn tự học, định hướng cho HS chuẩn bị bài mới ở nhà là bước
GV kích thích tinh thần tự nghiên cứu của HS, là biện pháp giúp thầy cô phát huy được tinh thần tự lực, năng lực sáng tạo của người học Đồng thời đây là giai đoạn đầu GV dẫn dắt, tạo tâm thế để HS tự tin, hưng phấn bước vào giờ đọc hiểu tác phẩm thơ
a Mục đích
- Việc chuẩn bị bài là một trong những yếu tố tiền đề quyết định đến hiệu quả học tập của HS Nếu chuẩn bị tốt nội dung bài học thì các em sẽ yêu thích bài học và chủ động trong tiếp thu kiến thức, làm cho việc học tập bài học mới sẽ hiệu quả hơn
- Qua việc chuẩn bị bài theo phiếu học tập, HS nhận diện được hệ thống nội dung của bài học Có thói quen rèn luyện các thao tác cần thiết khi chuẩn bị bài ở nhà và khi học giờ đọc hiểu ở lớp Có tâm thế chủ động, sẵn sàng khám phá và tiếp nhận, lĩnh hội tri thức Có ý thức tự giác, sáng tạo trong phát triển năng lực tự học
b Nội dung
HĐ chung cả lớp (thực hiện ở cuối tiết học trước) nhằm tăng cường tính cộng đồng, GD phẩm chất nhân ái, tinh thần đoàn kết, phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác sẵn sàng chia sẻ, hỗ trợ giúp đỡ nhau HĐ cá nhân giúp HS phát triển phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm, năng lực tự chủ, tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
c Cách thực hiện
- GV hướng dẫn chung cả lớp trong cuối tiết học trước, giao phiếu học tập bằng hình thức trực tiếp qua bản giấy hoặc chụp ảnh gửi vào nhóm lớp cho HS (ngoài các câu hỏi trong sách giáo khoa, trong phiếu học tập phát cho HS, GV cần ghi rõ các câu hỏi theo hệ thống bài học Câu hỏi phải bao trùm được nội dung của bài học, định hướng được nguồn tư liệu về tri thức cần hình thành và phải có tác dụng kích thích tinh thần tự học của học sinh)
- HS lắng nghe GV hướng dẫn triển khai nhiệm vụ Ghi nhớ, hiểu rõ nhiệm vụ
- Có thể giao HS chuẩn bị theo nhóm hoặc làm việc độc lập
- Học sinh chủ động, vận dụng sáng tạo kiến thức để giải quyết vấn đề giáo viên yêu cầu
- Lưu ý: Trước tiết học đọc hiểu thơ hiện đại đầu tiên trong chương trình ngữ văn 12, GV cần dành thời gian nhắc lại cho HS nhớ hoặc yêu cầu HS tự tìm hiểu ở nhà những kiến thức về đặc trưng thể loại đã học trong chương trình Ngữ
văn 11- Bài: Một số thể loại văn học: Truyện, thơ Từ đó HS nhớ lại kiến thức
cơ bản của bài học: Khái lược về thơ; Yêu cầu về đọc thơ Ngoài ra, để phát triển năng lực tự học cho HS, GV có thể yêu cầu các em tìm hiểu ở mức độ cao
Trang 10hơn, nghĩa là có thể yêu cầu các em tìm hiểu những tri thức nằm ngoài sách giáo khoa (SGK)
- Bên cạnh việc chuẩn bị bài theo hệ thống câu hỏi gợi mở giao trong phiếu học tập, GV cần tạo thói quen cho HS khi đọc tác phẩm thông qua hướng dẫn:
+ Đọc cẩn thận, kỹ càng, đọc đúng, đọc diễn cảm để tự cảm nhận tác phẩm + Đọc có suy nghĩ: gạch chân và ghi lại những những câu thơ, hình ảnh thơ, đoạn thơ mà bản thân HS tâm đắc nhất
+ Đọc thuộc tác phẩm, ghi nhớ, suy ngẫm về tác phẩm, về những câu thơ, hình ảnh thơ, đoạn thơ mà bản thân HS tâm đắc nhất
+ Hình thành thói quen liên tưởng, liên hệ với những vấn đề, những tác phẩm khác có liên quan đến những giá trị cơ bản trong tác phẩm đang đọc
+ Luôn chú ý cảm nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại, đặc trưng thi pháp
- Qua phần thực hiện nhiệm vụ ở nhà của HS, GV bồi dưỡng cho HS phẩm chất trách nhiệm: có ý thức trách nhiệm, tự giác, tích cực trong thực hiện nhiệm vụ được giao
d Điều kiện áp dụng
- HS chăm chỉ, tự giác, chủ động, tích cực, có ý thức trách nhiệm, có tư duy sáng tạo, có khả năng vận dụng kiến thức sẵn có trong sách để giải quyết vấn đề kiến thức mới ngoài SGK
- GV đặt ra những câu hỏi mở rộng, liên hệ kiến thức ngoài SGK để cho HS
tự học, tự tìm hiểu, tự chuẩn bị bài trước khi lên lớp
e Ưu điểm của giải pháp
- HS hình thành tinh thần ham học, kích thích tư duy sáng tạo, tinh thần tự giác học tập, tự chuẩn bị bài mới ở nhà
- Phát huy hiệu quả năng lực tự học, tính tích cực, chủ động của HS
- Phát triển cho HS phẩm chất nhân ái, chăm chỉ, trách nhiệm và phát triển cho HS năng lực tự chủ, tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Giải pháp 2: Vận dụng phương pháp dạy học sử dụng trò chơi
Bản chất của PP sử dụng trò chơi học tập là DH thông qua việc tổ chức hoạt động cho HS Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt động bằng cách
tự chơi trò chơi, trong đó mục đích của trò chơi là chuyển tại mục tiêu bài học
Các mức độ sử dụng trò chơi trong quá trình DH là:
Mức độ 1: Sử dụng trò chơi trước khi học: GV tổ chức cho người học chơi để kích hoạt không khí lớp học, tạo sự hưng phấn cho HS trước khi học tập
Mức độ 2: Sử dụng trò chơi như một hình thức học tập: GV tổ chức trò chơi để người học tiếp nhận nội dung một cách sinh động, hào hứng
Mức độ 3: Sử dụng trò chơi như một nội dung học tập: GV tổ chức chơi
để người học trải nghiệm tình huống trong lúc chơi, từ đó người học tự khám phá nội dung bài học
Trang 11Tương ứng với ba mức độ trên có thể đặt tên ba loại trò chơi là trò chơi khởi động, trò chơi kích thích học tập và trò chơi khám phá tri thức Việc sử dụng trò chơi trong DH là một cách thức DH hiệu quả trong việc đem lại không khí cho lớp học, kích thích hứng thú học tập cũng như sự tích cực, chủ động của HS; tăng cường kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, năng lực phản biện… Từ đó,
HS dễ nhớ, dễ hiểu và hứng thú với việc khám phá tri thức của bài học, nhất là những giờ học kiến thức lý thuyết mới
Đối với môn Ngữ văn, GV thường vận dụng trò chơi trong việc kích hoạt kiến thức nền hoặc ôn tập, củng cố kiến thức trong các bài học Việc tổ chức trò chơi khám phá tri thức thường được sử dụng ở các tiết làm văn hoặc tiếng Việt, các bài khái quát hay tổng kết văn học mà ít khi vận dụng ở những bài đọc hiểu văn bản Điều đó xuất phát từ đặc trưng riêng của giờ đọc hiểu văn bản Vì các giờ đọc hiểu thường nặng về kiến thức, khó vận dụng trò chơi khám phá tri thức, nên thường chỉ vận dụng trò chơi khởi động và trò chơi kích thích học tập Tuy vậy, tùy vào mục tiêu, yêu cầu và đặc điểm trình độ, nhận thức của từng lứa tuổi
HS, GV có thể vận dụng đa dạng, linh hoạt các trò chơi trong dạy học Cao hơn,
GV có thể sáng tạo ra những hình thức trò chơi mới
Một số trò chơi được vận dụng phổ biến trong dạy học Ngữ văn đạt hiệu quả cao như: Truy tìm mảnh ghép; Ai nhanh hơn?; Giải ô chữ; Nhìn hình đoán chữ… Dưới đây, sáng kiến xin giới thiệu trò chơi khởi động bằng hình thức thư giãn, giải trí và khởi động bằng hình thức đuổi chữ
a Mục đích của trò chơi khởi động
- Bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) hoặc tranh ảnh trong
tổ chức hoạt động ghép tranh, giải ô chữ, nhìn hình đoán chữ, đuổi chữ, hoạt động đi tìm từ khóa liên quan đến nội dung bài học…GV lôi cuốn HS tham gia vào các hoạt động giáo dục một cách tự nhiên và tăng cường tính trách nhiệm; hình thành cho HS tác phong nhanh nhẹn, phát huy tính sáng tạo cũng như tăng cường sự thân thiện, hòa đồng giữa các HS, tạo hứng thú xua tan căng thẳng mệt mỏi trong quá trình học tập và giúp cho việc học tập trở nên nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, hàn lâm, nhàm chán…
- HS huy động những KT, KN, kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề
có nội dung liên quan đến bài học
- Qua hoạt động khởi động, GV kiểm tra bài cũ của HS, tạo ngữ cảnh cho việc đọc hiểu, trang bị cho HS những kiến thức cần thiết, tạo tâm thế học tập, giúp các em ý thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú với học bài mới
- Qua hoạt động khởi động, GV bồi dưỡng cho HS phẩm chất nhân ái, trách nhiệm, chăm chỉ và phát triển năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề
Trang 12chưa biết và muốn biết thông qua hoạt động này Từ đó, giúp HS suy nghĩ và bộc lộ những quan điểm của mình về vấn đề sắp tìm hiểu, học tập
- Kết thúc hoạt động này, GV không chốt về kiến thức mà chỉ giúp HS phát biểu được vấn đề để chuyển sang các hoạt động tiếp theo nhằm tiếp cận, hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, qua đó tiếp tục hoàn thiện câu trả lời hoặc giải quyết được vấn đề
c Cách thực hiện
Cách 1: Khởi động bằng hình thức thư giãn, giải trí
Đây là hình thức khởi động nhẹ nhàng Thường phù hợp cho những giờ dạy đòi hỏi không khí sâu lắng Cũng có thể vận dụng cho những giờ dạy học tác phẩm văn học nước ngoài
Cách tổ chức: GV dùng lời kể hoặc lời dẫn kết hợp hình ảnh trực quan về một số hình ảnh, đoạn phim; hoặc tác giả, tác phẩm; hoặc bài hát, câu thơ minh họa có cùng chủ đề Từ đó gợi dẫn đến vấn đề cơ bản cần tìm hiểu…
VD: Khi dạy bài Tây Tiến của Quang Dũng, GV cho HS xem một đoạn video bài hát Đoàn vệ quốc quân- sáng tác của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu do Tốp
ca trường CĐNT Quân đội biểu diễn Từ đó dẫn vào bài học;
Hoặc khi dạy bài Việt Bắc- trích của Tố Hữu, GV cho HS xem một đoạn video về thiên nhiên Việt Bắc Từ đó dẫn vào bài học
Cách 2: Khởi động bằng trò chơi Đuổi chữ
Đây là trò chơi vừa đòi hỏi học sinh có vốn từ vựng nhất định, vừa có sự nhanh nhẹn trong vận động thể lực, lại vừa đòi hỏi sự kết hợp ăn ý với các bạn cùng nhóm
Cách tổ chức: GV chia lớp thành 2 đội chơi tương ứng với 2 dãy (nếu lớp
có 3 dãy thì chia 3 đội) Giáo viên đưa ra 1 từ khóa liên quan đến nội dung bài học Sau đó yêu cầu các nhóm liệt kê các từ cùng trường liên tưởng lên bảng Trong một thời gian nhất định, các nhóm thực hiện tiếp sức, nhóm nào viết được nhiều từ nhất, nhóm đó sẽ chiến thắng (Có thể liệt kê bằng hình thức trình bày miệng: Nêu lần lượt mỗi đội một từ Đội nào không nêu được sẽ bị mất lượt và phải nhường quyền cho đội khác Đội nêu được nhiều từ nhất sẽ chiến thắng)
Kết thúc trò chơi, GV nhận xét, đánh giá, có thể thực hiện thưởng điểm cho các nhóm hoàn thành xuất sắc theo hình thức tích điểm cộng cho bài kiểm tra thường xuyên Sau đó, GV dùng lời dẫn vào bài
VD: Khi dạy bài Đất Nước -Trích Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, GV đưa từ khóa Tổ Quốc Trong thời gian 2 phút, đội nào viết được nhiều từ cùng trường với từ Tổ Quốc hơn sẽ chiến thắng GV nhận xét,
thưởng điểm cộng cho nhóm chiến thắng
Hoặc khi dạy bài Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh, GV đưa từ khóa Tình yêu để HS liệt kê các từ cùng trường liên tưởng Sau đó, GV nhận xét, đánh giá,
thưởng điểm cộng cho HS rồi dùng lời dẫn vào bài
- Một số lưu ý khi sử dụng trò chơi khởi động:
Trang 13+ GV nên tránh tổ chức các trò chơi không ăn nhập với bài học hoặc chỉ thực hiện cho có Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề bài học, với đặc điểm và trình độ HS, với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học, đồng thời phải không gây nguy hiểm cho HS
+ Việc đặt câu hỏi hay tình huống khởi động cần chú ý tạo được hứng thú cho HS: để HS được thực hiện nhiệm vụ, được tham gia trả lời câu hỏi hoặc tham gia vào các tình huống khởi động
+ Câu hỏi/tình huống đưa ra ở phần này cũng cần có nhiều mức độ, trong
đó nhất thiết phải có câu dễ để HS nào cũng có thể trả lời được Khi các em trả lời được sẽ phần nào cảm thấy vui vẻ, thích thú để tạo tâm lý tốt khi vào bài học
+ Kế hoạch tổ chức hoạt động khởi động cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm HS của từng lớp; tránh việc xây dựng 1 tình huống cố định dùng chung cho tất cả các lớp trong cùng một khối Phương án xây dựng tình huống khởi động giữa các tiết, các bài học nên có sự đổi mới về hình thức, phương pháp; tránh sự nhàm chán cho HS khi tiết học nào cũng tổ chức hoạt động khởi động theo một kiểu
e Ưu điểm của giải pháp
- GV luôn có ý thức tự làm mới tiết học, làm chủ nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức dạy học giúp HS chủ động, tích cực, sáng tạo trong tiếp cận nội dung bài học
- Tránh được lối mòn trong tư duy truyền giảng một chiều; giúp HS định hướng tốt hơn trong việc tiếp cận bài học
- HS chủ động, hào hứng tiếp nhận, tạo hứng thú học tập từ đó có ý thức giải quyết vấn đề bằng nhiều hình thức khác nhau
Giải pháp 3: Vận dụng phương pháp đóng vai
Đóng vai là PPDH tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy HS
có thể đóng vai bằng cách xây dựng tiểu phẩm, có nhân vật và hành động, ngôn ngữ… HS có thể đóng vai qua hóa thân vào nhân vật, diễn tả bằng ngôn ngữ
a Mục đích của phương pháp đóng vai
Trang 14- Thông qua mô phỏng các tình huống có liên quan đến nội dung học tập, người học đảm nhiệm các vai diễn, hành động để có thể thể hiện hiểu biết, suy nghĩ, thái độ của bản thân về vấn đề trong tình huống/ kịch bản, qua đó tác động đến bạn học và GV Nói cách khác, PPDH đóng vai có thể giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được
- Phương pháp đóng vai giúp HS phát triển phẩm chất nhân ái, trách nhiệm; phát triển năng lực tự chủ, tự học; năng lực hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
b Nội dung
- Sử dụng phương pháp đóng vai trong tình huống giả định phỏng vấn nhân vật đặc biệt về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ khi thực hiện nội dung tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm Qua hoạt động đóng vai (HS có thể quay video hoặc đóng vai trực tiếp Thời gian của hoạt động đóng vai tối đa 5 phút), các HS khác theo dõi hoạt động, ghi nhớ các thông tin về tác giả, tác phẩm Từ đó lựa chọn các câu trả lời chính xác cho câu hỏi
- Tiến trình thực hiện đóng vai gồm 4 bước:
+ Bước 1: Chuẩn bị: GV xác định nội dung học tập, GV/HS chuyển hóa thành tình huống/kịch bản, mô tả vai diễn và chọn vai
+ Bước 2: Tiếp nhận: HS tiếp nhận tình huống/kịch bản, nhận vai, dự kiến lời thoại và hình thức thể hiện vai diễn GV và bạn học xác định các tiêu chí quan sát
+ Bước 3: Tương tác: HS nhập vai và diễn theo vai của mình, tương tác với các diễn viên khác GV và bạn học quan sát
+ Bước 4: Kết thúc vai diễn và đánh giá: GV và HS nhận xét vè các vai diễn, rút ra kiến thức từ lời thoại và cách xử lý tình huống
- Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp đóng vai:
+ Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứa tuổi, trình độ HS và điều kiện, hoàn cảnh lớp học Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai
+ Nếu tổ chức đóng vai trên lớp ngay trong giờ học, phải dành thời gian phù hợp cho HS thảo luận xây dựng kịch bản Cần quy định rõ thời gian thảo luận và đóng vai của các nhóm Trong thời gian HS thảo luận và chuẩn bị đóng vai, GV cần có sự bao quát, lắng nghe và gợi ý, giúp đỡ HS khi cần thiết GV nên khích lệ cả những HS nhút nhát tham gia
Trang 15+ Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóng vai
Trong DH Ngữ văn, PPDH đóng vai được thực hiện dưới các hình thức: diễn lại vai có sẵn của tác phẩm văn học, sáng tạo vai diễn mới trong kịch bản mới từ tri thức, kỹ năng đã được học theo chủ đề nhất định PPDH đóng vai thường thích hợp khi dạy đọc hiểu tác phẩm tự sự, dạy học theo chủ đề, dự án,
DH bằng hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học… Tuy nhiên, tác giả của sáng kiến đã áp dụng hiệu quả phương pháp đóng vai trong các tiết dạy đọc hiểu tác phẩm thơ trữ tình Dưới đây, sáng kiến giới thiệu 2 cách sử dụng phương pháp đóng vai
Cách 1: Đóng vai trong tình huống giả định
Giả định phỏng vấn nhân vật đặc biệt về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ
Cách tổ chức:
Bên cạnh việc giao nhiệm vụ hoàn thành phiếu học tập ở nhà cho HS, GV giao nhiệm vụ hoạt động nhóm đóng vai tình huống giả định: 1 bạn vào vai phỏng vấn (là biên tập viên của 1 tờ báo hoặc đài phát thanh, đài truyền hình…;
1 bạn vào vai nhân vật đặc biệt (có thể là người bạn đời, người thân hoặc đồng đội của tác giả…)
Nội dung phỏng vấn là các câu hỏi và câu trả lời xoay quanh cuộc đời, sự nghiệp, phong cách sáng tác của nhà thơ, những vấn đề chung về bài thơ Hoạt động đóng vai có thể quay video rồi phát lại hoặc đóng vai trực tiếp trên lớp
Thời gian của hoạt động đóng vai từ 3 - 5 phút, các HS khác theo dõi hoạt động, ghi nhớ các thông tin về tác giả, tác phẩm
Sau khi HS theo dõi sản phẩm đóng vai, GV hoặc HS tham gia tình huống
sẽ đưa ra các câu hỏi hướng đến nội dung kiến thức cơ bản, các HS trong lớp sẽ lắng nghe, suy nghĩ, phát biểu, hoàn thành kiến thức (Có thể sử dụng câu hỏi chọn đáp án đúng hoặc câu hỏi mở)
GV nhận xét, chốt kiến thức, biểu dương, khen ngợi
VD: Khi giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, GV đưa tình huống giả
định: 1 bạn là phóng viên của lớp, 1 bạn là Biên tập viên đài truyền hình Việt Nam Lưu Minh Vũ - con trai của nhà thơ Xuân Quỳnh và nhà viết kịch Lưu Quang Vũ
Cuộc phỏng vấn sẽ xoay quanh nội dung về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, đặc điểm hồn thơ của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh và hoàn cảnh ra đời, cấu trúc, âm
hưởng của bài thơ Sóng
Sau cuộc trò chuyện, GV đưa ra 5 câu hỏi về tác giả, tác phẩm HS lựa chọn đáp án chính xác GV khen ngợi, tặng điểm cộng và chốt lại kiến thức cơ bản cần nhớ
Cách 2: Đóng vai trong tình huống hóa thân vào nhân vật, diễn tả cảm xúc, tâm trạng bằng ngôn ngữ
Trang 16Phương pháp này sử dụng phù hợp với tình huống sau khi học xong tác phẩm hoặc học xong một đơn vị kiến thức
Cách tổ chức:
Sau khi học xong bài hoặc học xong 1 đơn vị kiến thức, GV đưa tình
huống: Tưởng tượng mình là nhân vật vật trữ tình trong đoạn thơ/ bài thơ trên,
em hãy diễn tả bẳng ngôn từ để chia sẻ với cô và các bạn về tâm trạng, cảm xúc của em lúc đó?
HS lắng nghe, hình dung và diễn đạt cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình
VD: Khi dạy xong đoạn trích Đất Nước- Trích Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, GV nêu tình huống: Tưởng tượng mình là nhân vật vật trữ tình trong đoạn trích Đất Nước- Trích Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, em hãy diễn tả bẳng ngôn từ để chia sẻ với cô và các bạn về tâm trạng, cảm xúc của em trong đoạn thơ:
Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước
… Làm nên Đất Nước muôn đời…
Qua phần trình bày của HS, GV mời các HS khác nhận xét, bổ sung, hoàn thiện kiến thức cơ bản của đoạn thơ Từ đó bồi dưỡng cho HS phẩm chất yêu nước, trách nhiệm đồng thời phát triển cho HS năng lực ngôn ngữ
Hoặc khi dạy xong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, GV nêu tình huống: Tưởng tượng mình là nhân vật vật trữ tình trong bài thơ, em hãy diễn tả bẳng ngôn
từ để chia sẻ với cô và các bạn về tâm trạng, cảm xúc của em trong đoạn thơ:
Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh
- HS được chuẩn bị trước về kiến thức; nhóm đóng vai không quá đông
- GV cần chuẩn bị trước các tình huống đóng vai, chọn chủ đề thích hợp; xác định rõ mục tiêu học tập; giao nhiệm vụ cho từng vai, phân công HS quan sát; phải theo dõi, giúp đỡ kịp thời trong quá trình HS luyện tập, đóng vai; hướng dẫn thảo luận sau đóng vai; tổng kết, nhận xét, rút kinh nghiệm
e Ưu điểm của giải pháp
Trang 17- PP đóng vai không chỉ giúp HS phát triển năng lực giao tiếp, xử lí thông tin lý thuyết gắn với tình huống thực tiễn, mà còn đặc biệt có ưu thế trong việc giúp HS phát huy năng lực sáng tạo, năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương, năng lực thẩm mỹ
- HS được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
- Gây hứng thú và chú ý cho HS
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của HS
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo chuẩn mực hành vi đạo đức và chính trị - xã hội
- Thông qua phương pháp đóng vai, HS học cách ứng xử thích hợp; cách giải thích, thuyết phục; cách ra quyết định và cách đảm đương nhiệm vụ
Giải pháp 4: Vận dụng phương pháp trực quan kết hợp sử dụng công nghệ thông tin
a Mục đích của phương pháp
PP trực quan là PP giảng dạy được thực hiện thông qua sự hỗ trợ của các
đồ dùng dạy học để minh họa cho kiến thức của bài giảng Đặc biệt khi kết hợp cùng với CNTT giúp nội dung bài giảng trở nên sinh động hơn, tăng sự hứng thú
và chủ động của các HS Từ đó kích thích hứng thú học tập và phát triển khả năng sáng tạo của HS
PP đóng vai giúp HS phát triển phẩm chất nhân ái, trách nhiệm; phát triển năng lực tự chủ, tự học; năng lực hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
b Nội dung
PP trực quan dùng để giảng dạy bao gồm: Sơ đồ, bảng biểu, số liệu thống
kê Ngoài ra, giáo viên có thể kết hợp sử dụng CNTT như màn hình, máy chiếu hoặc ứng dụng CNTT để tìm kiếm các hình ảnh, video phục vụ cho nội dung giảng dạy
- Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp:
+ GV không nên lạm dụng CNTT quá mức Cân nhắc lựa chọn bài giảng phù hợp, nhằm phát huy hiệu quả tối đa và đảm bảo mục tiêu bài giảng
+ Không nên sử dụng quá nhiều video tư liệu vào bài giảng
+ Tùy vào nội dung bài học cũng như trình độ nhận thức của HS trong từng lớp (giữa HS lớp chọn và HS lớp đại trà) mà vận dụng phương pháp phù hợp Tránh vận dụng rập khuôn các phương pháp như nhau trong tất cả các bài học sẽ gây nên sự nhàm chán cho HS
Trang 18+ HS tái hiện sáng tạo hình tượng nghệ thuật bằng cách sử dụng sự liên tưởng, tưởng tượng của bản thân để thâm nhập tác phẩm, sau đó dùng lời văn của mình để miêu tả hình dáng nhân vật, hoặc hình ảnh thiên nhiên hoặc cảm xúc của nhân vật trữ tình…
VD: Khi dạy bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, GV có thể yêu
cầu HS bằng sự liên tưởng, tưởng tượng của bản thân thâm nhập tác phẩm, dùng lời văn của mình để miêu tả ngoại hình của những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
+ Trực quan hóa bức tranh thế giới hình tượng bằng các loại hình nghệ thuật khác, tức là chuyển hình tượng không thể soi ngắm bằng mắt thường sang những hình tượng có tính trực quan như tưởng tượng và miêu tả hình tượng nghệ thuật bằng nét vẽ, màu sắc
VD: Khi dạy bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, GV có thể định
hướng HS vẽ bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và chặng đường hành quân của người lính Tây Tiến, hoặc vẽ khung cảnh đêm liên hoan văn nghệ…
Khi dạy bài thơ Việt Bắc - Trích - của Tố Hữu, GV định hướng HS vẽ lại
khung cảnh thiên nhiên trong bức tranh tứ bình…
Từ đó, HS dùng lời văn của mình để thuyết trình về các bức vẽ làm tăng tính hình tượng cho đoạn thơ, bài thơ
Cách 2: HS làm việc nhóm
GV tổ chức cho HS làm việc theo nhóm, tìm kiếm các hình ảnh, video liên quan đến nội dung bài học, HS lên ý tưởng trình bày dưới dạng powerpoint hoặc tranh vẽ Các nhóm cử đại diện lên thuyết trình trước lớp Các HS khác theo dõi, phản biện vấn đề GV quan sát, nhận xét, điều chỉnh nội dung kiến thức (nếu cần), rút kinh nghiệm, chốt kiến thức
Cách 3: Hoạt động của GV
- Giáo viên sử dụng các yếu tố trực quan như sơ đồ, bảng biểu, số liệu thống kê , giới thiệu chúng đến HS qua CNTT như màn hình, máy chiếu GV còn có thể ứng dụng CNTT để tìm kiếm các hình ảnh, video phục vụ cho nội dung giảng dạy, hoặc thiết lập hoạt động trò chơi, hoạt động khởi động (như đã trình bày ở giải pháp 2)
- GV sử dụng CNTT, hệ thống loa để hỗ trợ giờ dạy trong hoạt động thảo luận nhóm như mở một giai điệu nhạc tương ứng với thời gian quy định thảo luận Khi bản nhạc kết thúc, hoạt động thảo luận sẽ dừng lại để chuyển sang giai đoạn báo cáo kết quả thảo luận GV cũng có thể giới thiệu 1 bài hát phổ nhạc từ lời thơ vừa học để tạo ấn tượng cho HS nhớ, thuộc bài thơ ngay trên lớp Đối với những HS có sự mạnh dạn, có năng khiếu âm nhạc, GV có thể định hướng để
HS đó biểu diễn ngay trong sân khấu lớp học sau khi bài học kết thúc