Trong bộ môn hoá học, việc hướng dẫn học sinh nắm bắt tổng quan đầy đủ kiến thức có ý nghĩa rất quan trọng, việc rèn luyện khả năng ghi nhớ, kỹ năng vận dụng, đào sâu và mở rộng kiến thứ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH YÊN BÁI
Tác giả: NGUYỄN THỊ THU TRÀ
Trình độ chuyên môn: Cử nhân hóa học
Trang 2CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Nghĩa Lộ, Ngày 5 tháng 12 năm 2021
BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CẤP CƠ SỞ NĂM HỌC 2021-2022
1 Tên sáng kiến kinh nghiệm:
“Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học hóa học ở trường THPT thị xã Nghĩa Lộ”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phương pháp giáo dục
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến:
Học sinh THPT, áp dụng thể nghiệm với lớp 11 trường THPT Thị Xã Nghĩa Lộ
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ 10 tháng 9 năm 2021 đến 30 tháng 11 năm 2021
5 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Trà
Năm sinh: 1972
Trình độ: Cử nhân
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
Nơi làm việc: Trường THPT Thị Xã Nghĩa Lộ- Tỉnh Yên Bái
Địa chỉ liên hệ: Trường THPT Thị Xã Nghĩa Lộ - Tỉnh Yên Bái
Điện thoại: 0838487151
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoá học là bộ môn khoa học tự nhiên nghiên cứu thành phần, cấu trúc, tính chất, ứng dụng điều chế và quá trình chuyển hoá chất này thành chất khác Trong bộ môn hoá học, việc hướng dẫn học sinh nắm bắt tổng quan đầy đủ kiến thức có ý nghĩa rất quan trọng, việc rèn luyện khả năng ghi nhớ, kỹ năng vận dụng, đào sâu và mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động cho học sinh là rất cần thiết Thông qua việc hướng dẫn học sinh hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh rèn luyện tính tích cực, chủ động sáng tạo, hứng thú trong học tập bộ môn, hình thành và hoàn thiện hiểu biết về thế giới quan cho học sinh từ
đó có kiến thức vận dụng cao vào thực tiễn
Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy bộ môn hóa học tôi nhận thấy rằng học sinh gặp khó khăn khi phải ghi nhớ, khái quát hóa các kiến thức cơ bản về các khái niệm, định nghĩa, tính chất của các chất… Thực tế cho thấy, vẫn còn nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “đặc điểm nổi bật”, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau Vì vậy, việc hướng dẫn học sinh cách học, liên hệ kiến thức theo hệ thống là điều rất cần thiết trong quá trình dạy học
Để nâng cao chất lượng dạy học, cần phải đổi mới phương pháp dạy học các môn học ở trường phổ thông nói chung và môn Hoá học nói riêng Công nghệ thông tin được ứng dụng vào môn hoá học đã góp phần cải thiện sự nhàm chán và gây hứng thú học tập
bộ môn cho học sinh Ngoài ra, để đa dạng hóa các hình thức dạy học, để khắc phục sự thiếu thốn của cơ sở vật chất, để khắc sâu kiến thức trong bộ não một cách logic mà lại phát huy được khả năng tiềm ẩn trong bộ não của học sinh, trong quá trình giảng dạy của mình, chúng ta có thể hướng dẫn học sinh ghi nhớ bài học dưới dạng từ khóa và chuyển cách ghi bài truyền thống sang phương pháp ghi bài bằng bản đồ tư duy Tôi thấy phương pháp này
là thực sự cần thiết nhằm giúp học sinh rút ngắn thời gian học, giúp các em dễ nhớ, nhớ lâu, dễ dàng hệ thống hoá kiến thức với lượng lớn, đồng thời phát triển tư duy cho các em Một trong những phương pháp dạy học hiện nay giúp học sinh có thể đáp ứng được các yêu cầu trên là học và ghi nhớ theo phương pháp sử dụng bản đồ tư duy Chính vì vậy tôi chọn
đề tài:
“Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học hóa học ở trường THPT thị xã Nghĩa Lộ”
Trang 42 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tổng quan lí thuyết về bản đồ tư duy
Xây dựng bản đồ tư duy đối với một số bài dạy
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí thuyết về bản đồ tư duy
Nghiên cứu chọn lọc, xây dựng bản đồ tư duy đối với một số bài dạy
3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sách, tài liệu liên quan đến bản đồ tư duy
Tìm hiểu tài liệu internet, sưu tầm các bài báo, những bài tập hay phù hợp với đề tài
4 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí thuyết về bản đồ tư duy và xây dựng một số bản đồ tư duy
Trang 5B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm và ưu điểm của bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy là gì ?
Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy… là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người
có thể thể hiện nó dưới dạng bản đồ tư duy theo một cách riêng, do đó việc lập bản đồ tư duy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
Tony Buzan sinh năm 1942 là chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu hoạt động
của bộ não và là cha đẻ của Mind Map (phần mềm bản đồ tư duy) Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn, công ty hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phương pháp Mind Map của Tony Buzan; khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem và nghe chương trình của ông (ông đã từng sang Việt Nam năm 2007 để nói chuyện
về lĩnh vực nghiên cứu của mình)
Tại sao nên dùng Bản đồ tư duy ?
Người ta cho rằng, thế kỉ XXI là thế kỉ của bộ não Con người đang đứng trước kỉ
nguyên của trí tuệ, của sự sáng tạo với sức mạnh tiềm tàng của bộ não gần như vô hạn Hai bán cầu đại não của con người có chức năng đặc trưng rất khác nhau Bán cầu não trái thiên
về khả năng lôgic khoa học như từ vựng, tư duy lôgic, xử lí dữ liệu, thứ tự, tuyến tính, khả năng phân tích, giải quyết tuần tự Trong khi đó, bán cầu não phải thiên về tiết tấu, tri giác không gian, tư duy tưởng tượng, mơ mộng, màu sắc, ý thức chỉnh thể, do vậy não phải thiên
về các hoạt động nghệ thuật, sáng tạo, tình cảm Mặt khác, khi chất xám ở vỏ não phải hoạt động thì chất xám ở vỏ não trái ở trạng thái tĩnh và suy tưởng Cũng như vậy, khi chất xám
ở vỏ não trái hoạt động thì chất xám ở vỏ não phải lại thư giãn và tĩnh lặng
Có thể nói, mỗi người đều có không gian trí tuệ gần như vô hạn, ai cũng có kỹ năng
về mặt tư duy và sáng tạo nhưng đa số họ chỉ sử dụng một phần rất nhỏ và chưa hiểu được quy luật hoạt động của bộ não nên chưa biết cách khai thác triệt để tài nguyên thiên phú này Hiện nay phương pháp dạy học trong các trường phổ thông ở nước ta phần lớn làm
Trang 6cho não trái của học sinh phát triển hơn não phải Não phải thường ít được dùng đến, trong khi tiềm năng tư duy của não phải không thua kém, thậm trí còn vượt trội hơn so với não
trái nếu tìm được quy luật làm việc của nó
Bản đồ tư duy được xem là một công cụ giúp bộ não tư duy toàn diện và khai thác được tiềm năng của não phải Nhờ có sự liên kết giữa các ý tưởng với ý tưởng trung tâm nên bản
đồ tư duy cho thấy mức độ bao quát, sâu rộng của vấn đề cần nghiên cứu Bản đồ tư duy có thể giúp người dùng xây dựng kế hoạch làm việc, học tập nhanh chóng, chính xác, rõ ràng, sáng tạo hơn, giúp người dùng đưa ra cách giải quyết vấn đề, làm sáng tỏ những tình huống, tiết kiệm thời gian và nhớ lâu hơn, …Trong dạy học, Bản đồ tư duy góp phần đổi mới phương pháp dạy học Giáo viên có thể sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình soạn giảng,
bố cục nội dung bài dạy; vẽ sơ đồ hoá kiến thức thông qua việc liên kết các mắt xích kiến thức cho từng bài, từng chương, từng phần kiến thức; hệ thống nội dung ôn tập để học sinh
có cái nhìn tổng quát về kiến thức đã học, từ đó dễ dàng ôn tập và khắc sâu kiến thức hơn; cấu trúc trong ra đề kiểm tra bằng cách đưa ra các ma trận nhằm phân bố lượng kiến thức, mức độ kiến thức cần kiểm tra cho hợp lí; phân tích cách giải các bài tập định tính cũng như định lượng, đưa ra những kiến thức chính cần giải bài tập cũng như các kiến thức liên quan, từ đó đưa ra các bước giải trình tự và cách trình bày rõ ràng, lập luận chặt chẽ Học sinh có thể sử dụng Bản đồ tư duy để học tập tích cực, chủ động và sáng tạo hơn; có thời khoá biểu và thời gian biểu học tập cụ thể, rõ ràng; từ đó tìm ra phương pháp học phù hợp cho bản thân để việc học trở nên đơn giản, nhớ lâu, ngày càng yêu thích môn học và kết quả học tập tốt hơn
Tóm lại bản đồ tư duy có những ưu điểm sau :
- Lôgic, mạch lạc
- Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ
- Nhìn thấy “bức tranh tổng thể mà lại chi tiết”
- Dễ dạy, dễ học
- Kích thích hứng thú học tập và sáng tạo của học sinh
- Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức
- Giúp hệ thống hóa kiến thức, ôn tập kiến thức
- Giúp ghi nhớ nhanh, nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức
Điểm mạnh nhất của bản đồ tư duy là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng, từ đó phát triển óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo
Trang 7Với những ưu điểm trên, có thể vận dụng bản đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương cũng như giúp lập kế hoạch học tập, công tác sao cho hiệu quả nhất mà lại mất ít thời gian
1.2 Cách thiết lập bản đồ tư duy
Trước khi đến với bản đồ tư duy ta cần lưu ý:
Những điều cần tránh khi ghi chép trên bản đồ tư duy
- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng
- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết
- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép
Các bước vẽ bản đồ tư duy gồm
- Bước 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm
Quy tắc vẽ chủ đề : + Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác, có thể sử dụng hình vẽ, màu sắc để làm nổi bật chủ đề dễ nhớ
+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng
- Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ
- Bước 3 : Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ :
+ Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh
+ Dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho những từ thông dụng Bạn hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt cho riêng bạn
Mỗi từ khóa - hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng (bằng cách vẽ nối ra từ một khúc) Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm Tất cả các nhánh tỏa ra từ một
Trang 8điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng một màu Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
- Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của bạn bay bổng Bạn có thể
thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn
Các bước vẽ bản đồ tư duy có thể được mô tả như bản đồ tư duy dưới đây
1.3 Một số hoạt động dạy học trên lớp với bản đồ tư duy
- Trong quá trình dạy học ta có thể áp dụng một số hoạt động dạy học trên lớp với bản đồ
tư duy như sau:
Hoạt động 1: Học sinh lập bản đồ tư duy theo nhóm hay cá nhân với gợi ý của giáo viên Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về
bản đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập
Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện bản đồ tư duy về kiến
thức của bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh bản
đồ tư duy, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một bản đồ tư duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc
một bản đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó
- Có thể tóm lược tổ chức hoạt động dạy học với bản đồ tư duy như sau:
Trang 9
CHƯƠNG 2
ÁP DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT NGHĨA LỘ
Tùy nội dung kiến thức của tiết học, đối tượng học sinh mà giáo viên có thể sử dụng bản đồ
tư duy vào quá trình giảng dạy cho phù hợp:
2.1 Học sinh chuẩn bị bài ở nhà
Giáo viên định hướng cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà bằng cách lập một bản đồ tư duy về bài học Vì chuẩn bị bài mới nên giáo viên không yêu cầu học sinh vẽ cụ thể và chi tiết mà chỉ vẽ những đề mục có trong bài học mới Điều này sẽ bắt buộc học sinh phải đọc bài và nghiên cứu bài trước, giúp học sinh nắm được một cách khái quát những điều sẽ có trong bài học mới
Ví dụ 1 : Bài 25 “ANKAN” (11 cơ bản)
Trang 10Ví dụ 2: Bài 29 “ANKEN” (11 cơ bản)
Hoặc cách vẽ khác nhưng vẫn đảm bảo cùng nội dung:
Trang 11Học sinh sau khi vẽ bản đồ tư duy bài ANKAN thì dễ dàng vẽ bản đồ tư duy bài ANKEN
vì cấu trúc bài là tương tự nhau Mỗi bài đều có 5 ý lớn: 1- Đồng đẳng, đồng phân, danh pháp ; 2- Tính chất vật lí; 3-Tính chất hóa học; 4- Điều chế; 5- Ứng dụng Chỉ khác là trong phần tính chất hóa học thì Ankan ( Phản ứng thế, phản ứng tách, phản ứng oxi hóa ) còn Anken ( Phản ứng cộng, phản ứng trùng hợp, phản ứng oxi hóa)
Như vậy học sinh vừa tìm hiểu nội dung bài học trước ở nhà vừa tự rút ra cho mình điểm giống nhau và khác nhau giữa ankan, anken nói riêng và các hiđrocacbon nói chung (Trong
chương trình lớp 11 gồm các hidrocacbon như ankan, anken, ankađien, ankin và khi nghiên cứu dẫn xuất hidrocacbon), điều này sẽ giúp học sinh dễ ghi nhớ và học thuộc đồng thời
biết so sánh đặc điểm giống và khác nhau giữa các nhóm chất
2.2 Sử dụng bản đồ tư duy khi dạy tiết học mới
Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính của bài học cho học sinh ngồi theo nhóm thảo luận bản đồ tư duy của mỗi học sinh đã chuẩn bị trước ở nhà đối với bản đồ tư duy của các bạn trong nhóm
Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn cấp số 1 (các
đề mục có trong bài) và gọi học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề, chia thành các nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn
Trang 12Sau khi học sinh vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, giáo viên đặt câu hỏi tiếp ở nhánh thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2 học sinh sẽ hoàn thành nội dung bản đồ tư duy của bài học mới ngay tại lớp Học sinh tự chỉnh sửa điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu vào bản đồ tư duy của từng cá nhân
Ví dụ 1 : Khi học bài “ Cấu tạo vỏ nguyên tử “ ( tiết 6 theo phân phối chương trình
) Giáo viên giới thiệu cho học sinh biết là bài này 2 tiết và hôm nay chúng ta nghiên cứu tiết 1 tới phần II của bài Học sinh sau khi học sinh vẽ xong nhánh cấp 1, giáo viên sẽ sử dụng hệ thống câu hỏi để triển khai kiến thức và hoàn thiện bản đồ tư duy của bài học : + Với mẫu hành tinh nguyên tử, các nhà khoa học Rơ-dơ-pho, Bo, Zom-mơ-phen đã xác định các electron chuyển động quanh hạt nhân như thế nào?
+ Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa học hiện đại sự chuyển động của các electron quanh hạt nhân đã được nhìn nhận như thế nào?
+ Vỏ nguyên tử được chia thành các đơn vị tổ chức nào ? …
Sơ đồ minh hoạ
Ví dụ 2 : Khi học bài “ Sự biến đổi tuần hoàn tính chất của các nguyên tố hoá học
Định luật tuần hoàn” sau khi giáo viên làm rõ một số khái niệm về tính kim loại - tính
phi kim sẽ yêu cầu học sinh chia nhóm vẽ bản đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ ( nhánh con cấp
2, cấp 3…), sau đó cho các nhóm lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh
Trang 13Sơ đồ minh họa
Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng
tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ bản đồ tư duy Mỗi bài học có thể được vẽ trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng
Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số bản đồ tư duy cho học sinh tự thuyết trình
Ví dụ: Bài 14 “ PHOTPHO” 11 nâng cao
Bài thuyết trình của học sinh có thể như sau: