PHỤ LỤC 2 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN BÁI TRƯỜNG THPT HỒNG QUANG BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY KẾT HỢP VỚI XEM VIDEO CÓ ĐỊNH HƯỚNG, TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ[.]
Trang 1BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY KẾT HỢP VỚI XEM VIDEO CÓ ĐỊNH HƯỚNG, TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ: “CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN
DỊ CẤP PHÂN TỬ” TẠI TRƯỜNG THPT HỒNG QUANG – LỤC YÊN –
YÊN BÁI
LĨNH VỰC SÁNG KIẾN: GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Hồng Quang
Yên Bái, tháng 1 năm 2022
Trang 21 Tên sáng kiến:
Sử dụng bản đồ tư duy kết hợp với xem video có định hướng, trong dạy học chủ
đề “cơ chế di truyền và biến dị cấp phân tử” tại trường THPT Hồng Quang – Lục Yên – Yên Bái
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Giáo dục và Đào tạo
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến:
Sử dụng bản đồ tư duy kết hợp với xem video có định hướng, trong dạy học chủ
đề “cơ chế di truyền và biến dị cấp phân tử” tại trường THPT Hồng Quang – Lục Yên – Yên Bái”; sáng kiến có thể áp dụng vào giảng dạy cho học sinh THPT tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Yên Bái
4 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến được thực hiện từ tháng 9 năm 2021 đến hết tháng 11 năm 2021
5 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Lan
Năm sinh: 06 tháng 10 năm 1982
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Sinh - KTNN
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THPT Hồng Quang
Địa chỉ liên hệ: Thôn 6, xã Động Quan, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Điện thoại: 0983215224
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN
1 Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến
Trang 3đồng nghiệp Trong quá trình công tác tại trường THPT Hồng Quang, Lục Yên, Yên Bái, tôi đã được sự giúp đỡ và tạo điều kiện từ Ban giám hiệu cũng như các đồng nghiệp Hơn nữa, với lòng yêu nghề, hết lòng vì học sinh nên tôi thường xuyên tìm tòi và học hỏi các phương pháp dạy học tốt nhất để có thể truyền đạt nội dung bài học cũng như phát triển các năng lực của học sinh một cách tốt nhất
Về phía học sinh: Học sinh trường THPT Hồng Quang, Lục Yên, Yên Bái
đa số được đánh giá ngoan, có ý thức học tập tốt Qua khảo sát về mức đô yêu thích môn Sinh học năm học 2021 - 2022 của học sinh ba lớp 12A1, 12A2 và 12A3 do tôi phụ trách thu được kết quả như sau:
Bảng 1 Khảo sát về mức độ yêu thích môn Sinh học của học sinh lớp 12 năm
Tổng 127 26 = 20,47% 41 =
32,28% 50 = 39,37% 10 = 7,88%
Như vậy, kết quả khảo sát cho thấy, tỉ lệ học sinh thích và yêu thích môn Sinh học là tương đối cao, chiểm 52,75% trong khi học sinh không thích học môn Sinh học chỉ chiếm 7,88% Đây là một thuận lợi lớn để tôi có thể áp dụng các biện pháp dạy học tích cực và thu hút học sinh tham gia
* Hạn chế và nguyên nhân hạn chế
Giáo viên
Chủ đề “Cơ chế di truyền và biến dị cấp phân tử” nằm ở những tiết đầu của năm học là thời điểm có khối lượng công việc lớn nên một số giáo viên không có
Trang 4nhiều thời gian đầu tư cho việc thiết kế bài học theo hướng đổi mới Bên cạnh đó giáo viên quen với phương pháp dạy học truyền thống nên ngại đổi mới
Bảng 2 Khảo sát những khó khăn GV thường gặp khi dạy các bài trong chủ
đề cơ chế di truyền và biến dị cấp phân tử, trên cơ sở đó có những biện pháp đề xuất hợp lý
PHIÊU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN
VỀ NHỮNG KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP TRONG DẠY PHẦN CƠ CHẾ
DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ CẤP PHÂN TỬ
Các đồng chí tích x vào ô vuông tương ứng với nội dung lựa chọn
1 Khối lượng kiến thức của 1 bài quá dài so với thời gian 1 tiết học(45 phút) Thường xuyên
Thi thoảng
Không bao giờ
2 Thiếu thời gian để tổ chức các hoạt động cũng như rèn luyện kĩ năng cho HS Thường xuyên
Thi thoảng
Không bao giờ
3 Mất nhiều thời gian cho việc ôn tập?
Thường xuyên
Thi thoảng
Không bao giờ
Bảng 2 Kết quả khảo sát GV trong quá trình dạy chủ đề cơ chế di truyền
và biến dị cấp phân tử
Mức độ
Nội dung
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
- Khối lượng kiến thức của 1 bài quá
nhiều so với thời gian 45’ của tiết học
Trang 5- Thiếu thời gian để tổ chức các hoạt động
cũng như rèn luyện kĩ năng cho HS
- Mất nhiều thời gian cho việc ôn tập 50% 50% 0
Qua bảng 2 và qua trao đổi trực tiếp với GV cho thấy, phần lớn GV gặp
khó khăn trong khi dạy phần cơ chế di truyền và biến dị cấp phân tử vì khối lượng
kiến thức quá lớn so với thời gian có hạn của 1 tiết học (75%) Do phải dành nhiều thời gian cho việc nhắc lại các kiến thức có liên quan đã học ở lớp 9 (50%), nên trong một tiết học việc tổ chức các hoạt động và rèn luyện kĩ năng cho HS còn hạn chế do thiếu thời gian (100%) Hầu hết các GV thường xuyên quan tâm đến việc dạy hết các kiến thức có trong bài
Học sinh
Đầu vào của học sinh đa số thấp và rất thấp nên nhận thức còn nhiều hạn chế Đa số các em chưa nắm được hoặc không còn nhớ kiến thức phần cơ chế di truyền và biến dị đã được học trong chương trình Sinh học lớp 9 Bên cạnh đó, phần lớn học sinh với tâm lí ngại thi môn thứ 3 trong tổ hợp khoa học tự nhiên và
kĩ năng tính toán kém nên đã chọn thi tốt nghiệp tổ hợp Khoa học xã hội Vì thế, việc học tập môn Sinh học của học sinh khối 12 càng không được quan tâm nhiều Nội dung Chủ đề “Cơ chế di truyền và biến dị cấp phân tử” lại rất dài và trừu tượng dẫn đến tâm lí ngại học, không muốn học của học sinh
Từ những hạn chế như đã nêu trên dẫn đến việc bố trí thời gian cũng như phương pháp dạy Chủ đề “Cơ chế di truyền và biến dị cấp phân tử” còn khó khăn,
đa số trong tình trạng không đủ thời gian để truyền tải nội dung kiến thức đáp ứng mục tiêu bài học đã đặt ra Điều đó dẫn đến học sinh không không hiểu rõ bản chất, các cơ chế của quá trình nhân đôi, phiên mã và dịch mã, cơ chế điều hoà hoạt động… nên lúng túng khi trả lời các câu hỏi và bài tập trong phần này đồng thời việc phát triển các năng lực cũng như rèn luyện kĩ năng cho học sinh qua mỗi bài học còn nhiều hạn chế, chưa đúng với mục tiêu đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học theo yêu cầu của giáo dục hiện nay
Trang 6Cụ thể, qua tiến hành khảo sát, đánh giá năng lực năm 2020 – 2021 sau khi dạy Chủ đề “Cơ chế di truyền và biến dị cấp phân tử” tôi thu được kết quả như sau:
Hình 1: Kết quả khảo sát, đánh giá năng lực học sinh năm học 2020 - 2021
Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có 2,86% học sinh đạt điểm 9 - 10, có 65,72% học sinh có bài kiểm tra đạt từ 5 điểm trở lên trong khi số học sinh có bài kiểm tra đánh giá dưới trung bình lên tới 34,28% Đây là một kết quả đáng báo động về chất lượng học tập đòi hỏi giáo viên phải nhanh chóng đổi mới phương pháp dạy học
1.2 Những đóng góp của sáng kiến để nâng cao chất lượng dạy và học
Từ thực trạng nêu trên, việc áp dụng sáng kiến trong năm học 2021-2022 sáng kiến ít nhiều góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của đơn vị cụ thể ở những điểm sau:
Kết quả thực nghiệm cho thấy: có 87,1% học sinh trả lời là rất hứng thú với bài học, hiểu bài hơn, dễ nhớ hơn Tỉ lệ khá giỏi đạt trên 40,47%, không có học lực yếu,kém Các giờ học Sinh học trở nên sinh động, từ đó phát huy tính tích cực của học sinh, và học sinh cũng hào hứng hơn trước cũng như sau tiết học, tăng thêm lòng say mê với môn học Sinh học
Kết quả kiểm tra thường xuyên và định kì loại khá, giỏi tăng lên Ngược lại, học sinh bị điểm yếu giảm, không có điểm kém
2 Nội dung giải pháp
5.71
28.57
48.57
14.29 2.86
Điểm 0-2 Điểm 3-4 Điểm 5-6 Điểm 7-8 Điểm 9-10
Trang 72.1 Mục đích của giải pháp
Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát
triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
Phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí
để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót(tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá)
Thay đổi tư duy làm việc của một bộ phận thầy cô giáo trong công tác giảng dạy cho học sinh
Đưa ra phương pháp giảng dạy mới cho một số chủ đề bài học
2.2 Nội dung giải pháp
2.2.1 Những điểm khác biệt, tính mới và bản chất của sáng kiến
- Sáng kiến có mục tiêu thực hiện ở tất cả các bộ môn, các hoạt động giáo dục mà học sinh có thể tự tiến hành
- Tăng cường mối liên hệ giữa học sinh – giáo viên từ đó nâng cao chất lượng dạy và học
- Học sinh chủ động tìm hiểu và lĩnh hội được kiến thức, qua đó hiểu được bản chất của từng quá trình, khái niệm trong mỗi bài thuộc chủ đề
- Giáo viên có thời gian để tổ chức các hoạt động dạy học từ đó phát huy được tính tự học, sáng tạo của học sinh
Tùy theo năm học, theo đối tượng học sinh và bộ môn mà giáo viên có thể thay đổi kế hoạch
Trang 8Ví dụ về bài “Phiên mã và dịch mã”, “Cơ chế điều hòa hoạt động của gen” nói riêng và các bài học thuộc chủ đề “Cơ chế di truyền và biến dị cấp phân tử” nói chung là rất dài và khó với mọi đối tượng học sinh Vì vậy, nếu giáo viên không giao nhiệm vụ cho các em về nhà tìm hiểu bài trước thì sẽ rất dễ đến hiện tượng giáo viên chỉ lo chạy bài mà hết giờ vẫn không hết giáo án trong khi học sinh lại không hiểu gì do tiến trình bài dạy quá nhanh Tuy nhiên, nếu giáo viên chỉ giao nhiệm vụ đơn thuần là đọc trước bài mà lại không có định hướng nhiệm
vụ trọng tâm của học sinh thì lại dễ dẫn đến học sinh không chịu đọc hoặc chỉ đọc qua mà không lưu lại được gì trong đầu Với nhận định như vậy, tôi đã đưa sử dụng phương pháp giao bài tập về nhà cho học sinh thông qua các phiếu học tập định hướng và đường link các video liên quan Phiếu bài tập này giúp học sinh rèn luyện được kĩ năng đọc lướt, đọc tập trung vào những nội dung chính, loại bỏ được tâm lí lười đọc vì bài quá dài và khó hiểu và phát triển được năng lực tự học Nhiệm vụ này tôi không giao cho riêng các nhân mà giao cho từng nhóm học tập
và khuyến khích các em chia nhiệm vụ thành từng nhóm nhỏ tới các thành viên Điều này tạo điều kiện cho các em phát triển năng lực giao tiếp Qua học nhóm còn rèn luyện cho học sinh tính trách nhiệm vì nếu một học sinh nào không hoàn thành nhiệm vụ của nhóm giao sẽ cảm thấy xấu hổ với các bạn trong nhóm Làm việc nhóm còn phát triển năng lực tư duy và phản biện và năng lực giao tiếp của học sinh Năng lực này được hình thành thông qua hoạt động tranh luận về một
vấn đề gì đó Trong nhóm học tập sẽ có nhiều học sinh, tức là các em tiếp xúc
được với nhiều người, từ đó sẽ linh hoạt hơn trong giao tiếp Điều này đặc biệt quan trọng đối với những học sinh nhút nhát vì đây là cơ hội để các bạn nói chuyện, trao đổi, học hỏi của những bạn khác Trong hoạt động nhóm, học sinh
sẽ tương tác với nhau, từ đó cải thiện sự e ngại với người lạ, tăng tự tự tin và khả năng giao tiếp
* Cách tiến hành:
- Bước 1: Giao nhiệm vụ về nhà
Trang 9Giáo viên giao nhiệm vụ cho 4 nhóm về nhà tìm hiểu trước và hoàn thành phiếu học tập với nội dung như sau:
Phiếu học tập : Cấu trúc và chức năng các loại ARN
- Bước 2: Tổ chức chơi (vòng khởi động)
Luật chơi: Các nhóm treo phiếu học tập của nhóm mình (đã hoàn thành ở nhà ra giấy khổ A1) lên bảng Mỗi đội chơi cử 1 học sinh làm giám khảo và chấm điểm chéo giữa các nhóm với nhau Trong vòng 2 phút, các nhóm theo dõi sản phẩm của nhóm bạn và tìm ra điểm sai để sửa chữa
Tính điểm:
+ Mỗi đáp án viết đúng được 2 điểm
+ Phát hiện và sửa đúng 1 lỗi sai của nhóm bạn được 2 điểm
2.2.2.2 Giải pháp 2:
* Tên giải pháp:
Xem các video kết hợp hoàn thành phiếu học tập:
https://youtu.be/Rc0K65ggsuw hay https://youtu.be/OFSUFSFxlCw
* Nội dung:
Kiến thức môn Sinh học có những kiến thức thực tế nhưng cũng có những kiến thức rất trừu tượng Vì thế, khi dạy bất kì bài học nào tôi cũng cố gắng đưa
Trang 10những hình ảnh, ví dụ trực quan để các em hiểu và khắc sâu kiến thức hơn Cơ chế nhân đôi AND, cơ chế phiên mã và dịch mã, cơ chế điều hòa hoạt động của gen… là các cơ chế Sinh học xảy ra trong tế bào sống mà các em không quan sát được, nếu chỉ cho các em quan sát hình trong sách giáo khoa và tưởng tượng thì việc tiếp thu kiến thức của học sinh một cách chủ động là rất khó khăn
Trong thời đại 4.0 khi công nghệ thông tin phát triển, nguồn tài liệu tham khảo rất nhiều nên việc tìm kiếm được những clip liên về cơ chế Sinh học là không quá khó Vì vậy, để học sinh dễ hình dung ra các cơ chế nhân đôi, phiên mã và dịch mã, điều hòa …tôi đã cho các em xem clip về các quá trình này Tuy nhiên, qua kinh nghiệm giảng dạy của bản thân tôi nhận thấy, nếu chỉ cho các em xem clip đơn thuần thì nhiều em sẽ không tập trung khi xem Điều đó dẫn đến việc các
em không nhớ được những nội dung mà clip đã truyền tải Với suy nghĩ như vậy, khi dạy chủ đề này, tôi đã kết hợp hoạt động xem clip liên quan đến quá trình với hoàn thành phiếu học tập để các em chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức bài học Hoạt động này được tổ chức dưới dạng cuộc thi giữa các nhóm học tập nên sẽ khiến học sinh hứng thú và tích cực hơn Thông qua hoạt động cũng phát triển năng lực hợp tác và kĩ năng làm việc nhóm đồng thời phát triển năng lực ngôn ngữ và phản biện khi các nhóm trình bày và bổ sung cho nhóm khác
* Cách tiến hành:
- Bước 1: Giáo viên nêu luật chơi của vòng thi: “Ai nhanh, ai đúng”
Luật chơi như sau: Mỗi nhóm được phát các mảnh giấy có ghi các thông tin để điền vào các chỗ trống trong phiếu học tập Sau khi xem clip, khi có hiệu lệnh của giáo viên, trong vòng có 3 phút, từng thành viên của các nhóm sẽ gắn mảnh giấy ghi đáp án tương ứng lên phiếu học tập của nhóm mình (mỗi thành viên chỉ được gắn nhiều nhất 1 lần, thành viên này về chỗ thì thành viên tiếp theo mới được lên) Mỗi đáp án gắn đúng vị trí được 2 điểm, mỗi lần phạm luật chơi
bị trừ 2 điểm (thành viên trước chưa về chỗ thì thành viên khác đã lên)
- Bước 2: Phát giấy ghi đáp án cho các nhóm và chiếu clip cho học sinh xem
Trang 11- Bước 3: Tổ chức chơi trò chơi
- Bước 4: Giáo viên nhận xét và tổng kết trò chơi
Ví dụ phiếu học tập: Cơ chế phiên mã
- Đầu tiên (E) ARN pôlimeraza bám vào (1) của gen → gen tháo xoắn lộ ra (2) (3’-5’) và bắt đầu tổng hợp mARN tại vị trí khởi đầu phiên mã
- (E) ARN pôlimeraza trượt trên (3) theo chiều 3’ -5’ để tổng hợp nên phân tử (4) theo chiều 5’-3’ theo nguyên tắc bổ sung (A-U, T-
A, X-G, G-X)
- Vùng nào phiên mã xong hai mạch đơn sẽ (5)
- Quá trình phiên mã sẽ dừng lại khi enzim gặp (6) ở trên gen
Phiên mã
=>Kết quả:1gen 1 lần (7) mARN mạch (8)
Ví dụ phiếu học tập: Cơ chế điều hoà hoạt động gen ở sinh vật nhân sơ
* Khi môi trường không có đường :
Gen …(1)… tổng hợp pôtêin ức chế, prôtêin ức chế bám vào vùng …(2) , ARN pôlimeaza không hoạt động được nên không bám được vào vùng ……(3) , gen cấu trúc Z,Y,A không…(4)…, không phiên mã , dịch mã nên không có ……(5) tạo
ra
* Khi môi trường có đường :
Gen điều hoà tổng hợp ……(1)…, prôtêin ức chế liên kết với …(2) ,
……(3)…bám vào vùng khởi động (P), gen cấu trúc Z,Y,A hoạt động phiên mã , dịch mã tạo ra … (4)…, enzim phân giải Lactozơ, khi Lactozơ bị phân giải hết Quá trình lại quay lại như ở môi trường…(5)…
2.2.2.3 Biện pháp 3:
* Tên biện pháp:
Xem video kết hợp rèn luyện kĩ năng ghi nhớ của học sinh thông qua câu hỏi định hướng
Trang 12* Nội dung:
Trong một bài học hay một chủ đề dạy học nếu chỉ sử dụng một phương pháp nào đó từ đầu đến cuối sẽ khiến cho học sinh cảm thấy nhàm chán Vì vậy, khi dạy đến cơ chế thứ hai trong bài “Phiên mã và dịch mã”, tôi đã thay đổi phương pháp một chút so với dạy Cơ chế phiên mã Với nội dung này, tôi vẫn sử dụng công cụ trực quan là video cho học sinh xem Nhưng tôi không sử dụng phiếu học tập gợi mở như phần trên mà sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng để hướng các
em vào nội dung trọng tâm cũng như rèn luyện kĩ năng tập trung, ghi nhớ kiến thức Việc đánh giá sau nội dung bài học bắt buộc các em phải tập trung, chú ý để
có thể trả lời các câu hỏi đánh giá Việc này được tôi yêu cầu thực hiện theo nhóm với mục đích giúp các em tăng cường tính đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm
Khi mỗi đội đã được chọn ô chữ 1 lần thì các đội được quyền đoán ô chữ
từ khóa Đoán đúng được 10 điểm, đoán sai phải dừng cuộc chơi
- Bước 2: Chiếu clip cho học sinh xem
- Bước 3: Tổ chức chơi trò chơi “Giải ô chữ”
- Bước 4: Giáo viên nhận xét và tổng kết trò chơi
Trang 13Các câu hỏi của trò chơi:
Câu 1 Có 5 chữ cái Tên loại liên kết nào được hình thành giữa các axit amin Câu 2 Có 7 chữ cái Tên bào quan diễn ra quá trình dịch mã
Câu 3 Có 6 chữ cái Nguyên tác thể hiện trong quá trình dịch mã
Câu 4 Có 4 chữ cái Trong tế bào chất, các axit amin hoạt hóa được gắn với phân
tử này
Câu 5 Có 7 chữ cái Tên gọi chung của các bộ ba UAA, UAG, UGA
Câu 6 Có 10 chữ cái Tên gọi của chuỗi các axit amin
Câu 7 Có 4 chữ cái Loại ARN được dùng làm khuôn trong quá trình dịch mã
đồ địa lý, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” theo một cách riêng Do đó, việc lập sơ đồ tư duy phát huy được tối đa năng lực sáng tạo của mỗi học sinh Đây cũng là cách để ghi nhớ chi tiết, tổng hợp hay để phân tích một vấn đề Với những ưu điểm như vậy, tôi đã hướng học sinh đến việc sử dụng sơ đồ tư duy để tóm tắt kiến thức bài học