1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Rèn kỹ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia

35 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn kỹ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 552,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI (1)
  • 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU (2)
  • 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU (3)
  • CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN (4)
    • 1. Kĩ năng chứng minh trong văn nghị luận (4)
    • 2. Kiểu bài nghị luận văn học về vấn đề lí luận văn học (5)
    • 3. Vai trò của thao tác chứng minh trong kiểu bài nghị luận về lí luận văn học (7)
  • CHƯƠNG II: MỘT SỐ LỖI THƯỜNG GẶP TRONG KĨ NĂNG CHỨNG MINH KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN MỘT Ý KIẾN VỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC (9)
    • 1. Dẫn chứng sai luận đề (lạc đề) (9)
    • 2. Dẫn chứng sai giới hạn, phạm vi (9)
    • 3. Dẫn chứng sai giai đoạn (9)
    • 4. Dẫn chứng không xác thực và sai kiến thức (10)
    • 5. Dẫn chứng lan man, sa đà (10)
    • 6. Phân tích dẫn chứng khô khan, nhạt nhẽo, thiếu cá tính, thiếu sáng tạo (11)
    • 7. Sai chính tả, dùng từ không chính xác, đặc biệt là thuật ngữ (0)
    • 8. Diễn đạt lủng củng, trình bày thiếu khoa học (0)
  • CHƯƠNG III: RÈN KĨ NĂNG CHỨNG MINH CHO KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA (0)
    • I. Chọn dẫn chứng (12)
    • II. Phân tích dẫn chứng … (15)
  • CHƯƠNG IV: LUYỆN TẬP, THỰC HÀNH (24)

Nội dung

1 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM RÈN KĨ NĂNG CHỨNG MINH TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài Đối với mọi môn học, trong đó có Ngữ Văn, n[.]

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

RÈN KĨ NĂNG CHỨNG MINH TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ

LÍ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đối với mọi môn học, trong đó có Ngữ Văn, ngoài kiến thức học sinh luôn cần được trang bị kĩ năng làm bài Kiến thức là nguyên liệu, kĩ năng mới là thứ tạo ra thành phẩm Kĩ năng làm cho kiến thức được vận dụng một cách đúng đắn, hiệu quả, thậm chí đắc địa Ngược lại, có kiến thức mà thiếu kĩ năng thì nhiều khi công học tập cũng bằng không Bởi kiến thức nhiều mà thiếu kĩ năng thì người học sẽ bị sa lầy, không thể làm chủ những điều mình có Tựa như kị sĩ không điều khiển nổi con ngựa bất kham Với học sinh giỏi, điều này càng đúng, bởi với lượng kiến thức nhiều hơn hẳn so với học sinh đại trà, các em mà không có kĩ năng hoàn thiện thì chẳng khác gì

bị “tẩu hỏa nhập ma” Đó là cách nói vui nhưng hoàn toàn có cơ sở

Trong những kĩ năng cần trang bị, học sinh giỏi phải nắm được cách làm kiểu bài nghị luận xã hội và nghị luận văn học Ở mỗi kiểu bài này, các em lại phải chia nhỏ thành những kĩ năng cụ thể hơn để rèn luyện như giải thích, phân tích, chứng minh, bàn luận, mở rộng, phản đề, so sánh, liên hệ,… Kĩ năng nào cũng quan trọng, cần thiết, bởi chỉ cần mắc lỗi ở bất cứ khâu nào thì bài văn cũng mất giá trị, thậm chí sai lầm, thất bại Tuy nhiên, trong đó, có lẽ kĩ năng được sử dụng nhiều nhất, chiếm dung lượng lớn nhất, đòi hỏi học sinh phải khổ luyện hơn cả chính là thao tác chứng minh Dù đây luôn là phần chiếm nhiều điểm nhất trong đáp án nhưng thực tế học sinh lại hay mất điểm ở chính phần này Khi làm bài, có bao tinh hoa, tâm huyết, các em đều dồn cả vào phần chứng minh Nhưng tiếc thay, đôi khi, đây cũng chính là chỗ khiến học sinh phải luyến tiếc, day dứt, ân hận vì những sai lầm, ngộ nhận khi “lầm đường lạc lối” Điều đó thôi thúc chúng tôi nghiên cưu chuyên đề này để đi sâu vào cách làm phần chứng minh trong bài thi học sinh giỏi

Đề thi quốc gia môn Văn trong nhiều năm trở lại đây đều theo cấu trúc hai câu Trong đó, câu nghị luận văn học có xu hướng ra vào kiểu bài nghị luận về một ý kiến, một nhận định mang tính lí luận văn học Đó không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên

mà là xu thế tất yếu Cách ra đề này đương nhiên không phải là sự lựa chọn hoàn hảo hay bất biến Thế nhưng, nó giúp đánh giá năng lực học sinh giỏi Văn một cách khá chính xác, toàn diện, hiệu quả Bởi các em cần phải huy động cả kiến thức tác phẩm lẫn vốn lí luận văn học Đặc biệt, người viết phải vận dụng cùng lúc nhiều thao tác

Trang 2

khác nhau một cách tuần tự, lớp lang, chặt chẽ mà vẫn không thể thiếu sự linh hoạt, sáng tạo Chinh phục được câu hỏi này các em sẽ khẳng định được rất nhiều điều về năng lực làm văn nghị luận Một trong những kĩ năng mấu chốt giúp học sinh thành công ở kiểu bài này chính là thao tác chứng minh

Vì những lí do trên, chúng tôi mong muốn qua chuyên đề này đi sâu vào việc nghiên cứu cách “Rèn kỹ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu chuyên đề này được xác định rất rõ ràng như sau Trước hết, người viết muốn tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc, những lỗi sai mà học sinh cũng như chính giáo viên hay mắc phải khi làm phần chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học Đó là thực trạng đã tồn tại từ lâu nhưng vẫn chưa được tháo gỡ, giải quyết một cách triệt để, nhất là với những học sinh

ở các tỉnh, các trường còn có chất lượng giải chưa cao Đây là mối quan tâm, thậm chí day dứt của chính chúng tôi sau nhiều năm tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Buồn nhất là khi thấy học sinh đã miệt mài, chăm chỉ ôn luyện, đã tích lũy được nhiều kiến thức sâu sắc từ sách vở, từ những chuyên gia uy tín hàng đầu vậy mà cuối cùng bài thi vẫn không có kết quả như mong muốn Lỗi do đâu, chắc chắn không phải do thiếu kiến thức, không phải do lười biếng hay chủ quan Sau nhiều năm quan sát, đúc kết với những thất bại thấm thía, chúng tôi nhận ra rằng một trong những nguyên nhân chính dẫn tới kết quả đó là vì học sinh chưa được rèn kĩ năng đúng đắn, hiệu quả Trong đó, kĩ năng chứng minh lại là khâu yếu nhất, nan giải nhất Chuyên đề này, trước hết phải đi vào những hạn chế, khiếm khuyết, sai lầm đó để hiểu rõ thực trạng

Sau đấy, mục tiêu tiếp theo của chúng tôi chính là tìm cách đưa ra những giải pháp, phương pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả, tối ưu để giúp học sinh thao gỡ, khắc phục nhược điểm, nâng cao kĩ năng làm bài nghị luận văn học ở phần chứng minh Phần này sẽ được đúc kết từ kinh nghiệm của bản thân, của đồng nghiệp, của các chuyên gia cũng như từ tài liệu tham khảo mà chúng tôi có dịp được tiếp cận, nghiên cứu Đương nhiên, với năng lực và thời gian có hạn, chúng tôi không kì vọng

có thể làm được tất cả Nhưng chí ít, người viết cũng muốn đem đến một vài ý kiến dù nhỏ bé nhưng hữu ích cho học sinh, cho các thầy cô giáo Có thể, nhiều điều chúng tôi viết ra trong chuyên đề này chưa hoàn toàn đúng, chưa thực sự mới, chưa phải là cách làm hay nhất nhưng mong rằng vẫn sẽ có ích ít nhiều Xét cho cùng, đây chính là một

cơ hội để người viết nói riêng và tất cả chúng ta nói chung cùng một lần nhìn lại vấn

Trang 3

đề này, cùng chia sẻ, lắng nghe, tham khảo, học hỏi với đồng nghiệp để làm tốt hơn công việc của mình

Cuối cùng, chuyên đề này còn hướng tới việc xây dựng một hệ thong để thi nhằm giúp học sinh rèn luyện kĩ năng làm phần chứng minh trong kiểu bài nghị luận

về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia Đây sẽ là minh chứng rõ ràng, dễ thấy và thiết thực nhất cho kết quả nghiên cứu của người viết Hi vọng những đề văn được tập hợp vào đây sẽ là những bài tập bổ ích để các em học sinh có thể luyện tập, thực hành ngay sau khi tiếp nhận xong phần lí thuyết của chuyên đề

3 Phạm vi nghiên cứu

Ngay từ đầu, chúng tôi đã xác định phạm vi nghiên cứu của chuyên đề gói gọn trong việc rèn kỹ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia Những kĩ năng khác như giải thích, bàn luận, phản đề, so sánh,… vẫn sẽ được nhắc tới nhưng chủ yếu là để đối chiếu, làm cơ sở để nổi bật cách làm phần chứng minh Chúng tôi cũng không có tham vọng nghiên cứu kĩ năng chứng minh trong văn nghị luận nói chung mà chỉ dám đi sâu vào một kiểu bài cụ thể là nghị luận về vấn đề lí luận văn học Việc khoanh vùng như vậy vừa đảm bảo tính chọn lọc, tính vừa sức vừa giúp chúng tôi đào sâu nghiên cứu đến nơi đến chốn

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Kĩ năng chứng minh trong văn nghị luận

Văn nghị luận chứng minh là dạng văn sử dụng hệ thống dẫn chứng có định hướng để làm rõ vấn đề Văn chứng minh là một cách gọi ước lệ chỉ bài văn, đoạn văn nghị luận sử dụng phương pháp chứng minh Trong nhà trường, kiểu bài chứng minh

có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh năng lực viết bài văn, đoạn văn chứng minh

Về phương pháp làm bài, một bài làm văn nghị luận chứng minh phải đạt được các yêu cầu sau:

Thứ nhất, phải xác định rõ đối tượng, vấn đề chứng minh (ý kiến gì, luận điểm nào) Nói cách khác, học sinh phải đọc kĩ đề bài để xác nhận rõ vấn để cần chứng minh là gì, diễn đạt điều ấy thành ý kiến, luận điểm Phương pháp chứng minh là khẳng định ý kiến đó đúng hay sai, hay có mặt nào đúng, mặt nào sai Nếu không xác định điều này cho rõ sẽ là cắm đầu đi về phia trước mà không biết mình sẽ đi đâu

Thứ hai, phải có lí lẽ dẫn chứng chính xác, đáng tin cậy, đầy đủ phù hợp để tiến hành chứng minh Đây chính là bước huy động các kiến thức, bao gồm các lí lẽ, các dẫn chứng cần thiết để chứng minh (chú ý huy động sao cho phù hợp) Các lí lẽ, dẫn chứng mà không thuyết phục thì bài chứng minh không đứng vững được

Thứ ba, sau khi đã có ý kiến (luận điểm) và các lí lẽ dẫn chứng (luận cứ), người làm bài chứng minh còn phải biết tổ chức, phân tích sao cho các lí lẽ, dẫn chứng phát huy sức mạnh chứng minh của nó thì mới có sức thuyết phục Phải biết phân tích, khai thác dẫn chứng, lí lẽ, chứ không giản đơn là liệt kê hay kể lể dông dài, hời hợt

Thứ tư, bài văn chứng minh phải có thứ tự, lớp lang, phân biệt cái gì là chính, cái gì là phụ Nói đúng hơn, người viết cần biết lập dàn bài để nhận rõ cái gì cần chứng minh trước, cái gì cần chứng minh sau, cái gì cần tô đậm, cái gì cần bổ sung Cái chính phải được nói nhiều, nói rõ, cái phụ chỉ cần nhắc đến để bổ sung cho cái chính Khi viết đoạn văn, bài văn nghị luận chứng minh, học sinh có thể trình bày luận điểm (ý kiến) trước, rồi nêu lí lẽ, dẫn chứng chứng minh sau, hay có thể nêu các dẫn chứng, lí lẽ rồi đưa ra luận điểm của mình

Thứ năm, lời văn trong bài chứng minh phải chặt chẽ, dùng từ phải chính xác, xác đáng, có mức độ Nếu dùng từ không chính xác, không rõ ràng thì hiệu quả chứng minh không có mà có cơ bị người khác phản bác lại Bài văn nghị luận chứng minh

Trang 5

Cuối cùng để làm tốt bài văn nghị luận chứng minh, người viết phải thường xuyên học tập, tích luỹ, rèn luyện tư duy lập luận, khẳng định hay phủ định bất cứ vấn

đề nào mà mình gặp phải trong thực tế cuộc sống lẫn trong sách vở Làm sao để thao tác chứng minh không đơn giản chỉ là một bài tập trên lớp, một bài thi lấy điểm, một nhiệm vụ được giao mà phải thành một kĩ năng tư duy, một phản xạ trong nhận thức

để ta thuyết phục người khác mà thuyết phục chính mình bằng chân lí, lẽ phải

Ngoài những vấn đề kể trên, người làm bài văn chứng minh cần lưu ý thêm những điều sau đây để hoàn thiện và nâng cao chất lượng bài viết:

- Biết tập trung chứng minh điểm nào, mặt nào người đọc chưa tin hoặc chưa tin hẳn Những gì người đọc đã tin, đã biết thì có thể chỉ cần lướt qua, không cần chứng minh nữa

- Các dẫn chứng hoặc lí lẽ đưa ra không chỉ cần phù hợp với vấn đề đang bàn

mà phải chính xác, tiêu biểu, toàn diện để thuyết phục niềm tin của người đọc

- Trong các bài nghị luận, lập luận chứng minh thường được dùng kết hợp với lập luận giải thích và ngược lại, lập luận giải thích thường được dùng kết hợp với chứng minh Khi người đọc chưa hiểu vấn đề nào đó, ta cần phải giải thích để giúp cho họ hiểu Còn khi họ chưa tin điều ta đưa ra, ta cần phải chứng minh để họ tin vào điều ấy Khi họ hiểu, họ mới tin và càng tin, họ sẽ lại càng hiểu vấn đề ta trình bày một cách sâu sắc hơn Vì thế có thể thấy giải thích và chứng minh thường đi song hành với nhau trong quá trình lập luận

2 Kiểu bài nghị luận văn học về vấn đề lí luận văn học

Ta hãy cùng nhìn lại các đề thi quốc gia trong khoảng 10 năm trở lại đây để thấy kiểu bài nghị luận văn học về vấn đề lí luận văn học ngày càng được đề cao Đó không chỉ là một xu thế mà còn là sự lựa chọn tất yếu Bởi kiểu bài này thực sự giúp thí sinh bộc lộ năng lực một cách khá toàn diện từ kiến thức đến kĩ năng làm bài Như

đã biết, với học sinh giỏi, ngoài tác phẩm, lí luận là điều không thể thiếu Dù đề thi có hỏi hay không thì khi phân tích một bài thơ, một đoạn văn, các em cũng cần lồng ghép

lí luận để đào sâu tác phẩm Thế nên, sự xuất hiện của kiểu bài nghị luận văn học về vấn đề lí luận văn học quả thật đã đáp ứng được yêu cầu đó một cách trọn vẹn Giờ đây, giáo viên có thể dạy học sinh sự hòa kết giữa hai đơn vị kiến thức sao cho hiệu quả nhất

Trang 6

đồ vật, sự vật mang ý nghĩa biểu trưng cho nhận thức, nhân cách, ý chí, khát vọng, số phận… của con người

Ý kiến của anh chị về nhận định trên? Hãy phân tích hai trong những hình tượng

đồ vật, sự vật đã nêu để làm sáng tỏ ý kiến của mình

Tô Hoài cho rằng: Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời

Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình luận những nhận định trên

Năm 2017:

Trang 7

Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn, về thực chất, là sự cất tiếng bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên

Năm 2019:

Rồi đây, có thể xuất hiện những cỗ máy biết viết văn, làm thơ Lúc đó, sáng tạo văn học có còn là độc quyền của con người?

Năm 2020:

Trong thời đại ngày nay, liệu văn học có khả năng giúp con người hóa giải

được những áp lực trong đời sống tinh thần?

3 Vai trò của thao tác chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học

a Khái niệm lý luận văn học

Lý luận văn học, hiểu một cách đơn giản là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện khái quát, nhằm tìm ra những quy luật chung nhất về văn học Kiến thức lý luận văn học sẽ giúp chúng ta trả lời các câu hỏi khái quát ví dụ như: Văn học bắt nguồn

từ đâu ? Một tác phẩm văn học do những yếu tố nào tạo thành ? Văn học được sáng tác và được tiếp nhận như thế nào ? Văn học sinh ra để làm gì ?

Các nhà lí luận sẽ nghiên cứu trên các hiện tượng văn học để khái quát lên những thuật ngữ, những luận điểm về các quy luật của văn học Nhờ các thành quả nghiên cứu đó mà những người quan tâm đến văn học có thể lí giải được sâu hơn bản chất của các hiện tượng văn học như nhà văn, tác phẩm, trào lưu văn học…

Các kiến thức lí luận văn học đang phát triển từng ngày từng giờ với rất nhiều các khuynh hướng, các luồng tư tưởng, các quan niệm khác nhau, có khi thống nhất nhưng cũng có khi phủ nhận lẫn nhau Những nghiên cứu về lí luận văn học vẫn đang được thực hiện hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta, trao cho ta những góc nhìn mới mẻ, sâu sắc hơn về văn học

Có nhiều người cho rằng lí luận văn học rất khó hiểu, thực ra các kiến thức lí luận văn học vô cùng gần gũi với chúng ta Văn học là gì ? Văn học vì ai mà tồn tại? – những câu hỏi ấy nảy ra trong ta ngay từ khi gặp gỡ văn học, và mỗi chúng ta ắt hẳn đều có cho riêng mình những ý niệm để trả lời câu hỏi ấy Học lí luận văn học là cách

để ta có thể trả lời những câu hỏi dạng như vậy một cách có hệ thống và khoa học hơn

Trang 8

Ở mức độ trường phổ thông, trước nay chúng ta vẫn lĩnh hội tri thức lí luận văn học ở mức độ cơ bản Những tri thức này sẽ là nền tảng đề học sinh tiếp tục nghiên cứu sâu hơn ở các bậc học cao hơn Sau đây là một số chủ đề thường gặp:

Đặc trưng văn học: Lý giải những đặc điểm chung nhất của văn học, trả lời các câu hỏi như văn học bắt nguồn từ đâu, đối tượng chủ yếu của văn học là gì, tác phẩm văn học được cấu trúc như thế nào, phương thức phản ánh của văn học là gì…

Chức năng văn học: Trả lời cho câu hỏi: văn học tồn tại nhằm mục đích gì? Văn học phục vụ thế nào cho đời sống của con người?

Nhà văn và quá trình sáng tác: Khái quát quy luật sáng tạo nên tác phẩm văn học, những điều kiện về tài năng, phẩm chất, nhân cách của người viết…

Đặc trưng ngôn từ nghệ thuật: Khái quát các đặc điểm về chất liệu của văn học – ngôn từ nghệ thuật

Đặc trưng thể loại: Khái quát các đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của những thể loại văn học thường gặp như thơ, tự sự (cụ thể là truyện ngắn, tiểu thuyết), hiện tượng tương tác giữa các thể loại

Tiếp nhận văn học: Khái quát các đặc điểm của quá trình đọc, hiểu và chiếm lĩnh tác phẩm văn học

b Vai trò của thao tác chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học

Bao giờ cũng vậy, phần chứng minh sẽ đóng vai trò quan trọng nhất trong việc làm sáng tỏ vấn đề Điều đó cũng đúng trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học Nhưng đặc biệt hơn, người viết còn phải biết hòa kết giữa kiến thức lí luận và tác phẩm sao cho hiệu quả, đắc địa Học sinh không chỉ cần nhiều kiến thức lí luận hay tác phẩm mà vấn đề là phải là sao cho hai thứ đó gặp gỡ nhau trong một điểm đã định của bài văn (luận đề) Nếu không làm được việc ấy, lí luận dẫu hay cũng thành viển vông, hàn lâm, kinh viện, tác phẩm dẫu hay cũng lạc lõng, vô nghĩa Chỉ khi đặt chúng đúng vị trí cạnh nhau thì lí luận mới soi chiếu vào tác phẩm và tác phẩm mới phản ánh được lí luận Chỉ có thao tác chứng minh mới giúp ta làm được điều này một cách hữu hiệu nhất

Kĩ năng chứng minh giống như một sợi dây nối liền các vùng kiến thức để cùng hướng về một mục tiêu chung của bài văn Nếu phần chứng minh làm tốt, cả bài viết

sẽ bật lên như một sự bứt phá về chất lượng và giá trị

Trang 9

CHƯƠNG II: MỘT SỐ LỖI THƯỜNG GẶP TRONG KĨ NĂNG CHỨNG MINH KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC

1 Dẫn chứng sai luận đề (lạc đề)

Lỗi lạc đề hiển nhiên là việc học sinh không làm đúng theo yêu cầu của đề bài Thực ra việc này bắt nguồn từ thao tác giải thích Giải thích mà không đúng thì đương nhiên phần chứng minh sẽ sai theo như một phản ứng dây chuyền tất yếu Vì thế, để tránh lỗi này ở phần chứng minh thì bắt buộc giáo viên phải dạy học sinh làm tốt phần giải thích ở phía trước Thế mới thấy, để rèn kĩ năng làm bài cho một thao tác

cụ thể thì ta không thể nào tách rời, cô lập mà phải có sự liên kết với cacs thao tác khác trong một tổng thể

Việc lạc đề có nhiều nguyên nhân mà trước hết là do không đọc kỹ đề trước khi làm bài Trong quá trình học còn chưa chủ động về mặt kiến thức, tình trạng học

tủ, học lệch và máy móc, rập khuôn trong quá trình làm bài Mặt khác có thể do câu hỏi mang tính chất đánh lừa tư duy nhưng thí sinh không nhận ra và dẫn đến làm sai Nhưng dù là nguyên nhân nào thì học sinh cũng phải khắc phục triệt để bởi nếu không mọi công sức sẽ đổ sông đổ biển

Các kiểu lạc đề có thể gặp phải trong thao tác chứng minh ở bài nghị luận văn học về một ý kiến lí luận không nhiều Phổ biến nhất là sai lạc về vấn đề lí luận Ví như đề hỏi về giá trị chức năng văn học nhưng người viết lại lấy dẫn chứng bàn về đặc trưng, đề hỏi về tiếp nhận học sinh lại chứng minh thành vấn đề sáng tạo,…

2 Dẫn chứng sai giới hạn, phạm vi

Đề yêu cầu viết về tình huống trong truyện ngắn thì có thí sinh lại lấy đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (tiểu thuyết Số đỏ) để phân tích Đề hỏi về tình cảm trong thơ ca nhưng thí sinh lại chọn đoạn trích trong “Bình Ngô đại cáo” (thể văn chính luận trung đại) hoặc “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” (thể văn tế) để làm sáng tỏ Như vậy là sai về thể loại, sai về giới hạn, phạm vi dẫn chứng Lỗi này không phải là hiếm trong bài làm học sinh giỏi Đơn giản chỉ vì các em nắm không chắc các khái niệm, các thể loại nên ngộ nhận Thông thường, cứ thấy một đoạn văn xuôi thì các em nghĩ thành truyện ngắn, cứ thấy có vần, có nhịp là nghĩ thành thơ ca,…

3 Dẫn chứng sai giai đoạn

Không ít bạn vẫn có thể lấy Hai đứa trẻ, Chí Phèo, Vội vàng, Đây thôn Vĩ Dạ

để làm dẫn chứng cho văn học giai đoạn sau 1945 hoặc lấy “Vợ chồng A Phủ”, “Vợ nhặt” để làm dẫn chứng cho văn học sau 1975 Điều này liên quan tới kiến thức văn

Trang 10

học sử nhưng nhiều khi lại nằm trong vấn đề lí luận văn học Ví như đề yêu cầu bàn

về mối quan hệ giữa hiện thực đời sống và văn chương Khi đó, thí sinh phải gắn đúng tác phẩm với giai đoạn lịch sử, văn hóa để bàn luận, chứng minh một cách chính xác

4 Dẫn chứng không xác thực và sai kiến thức

Một biểu hiện sai sót của thí sinh khi dẫn chứng là trích dẫn chưa chính xác hoặc chưa biết cách trích dẫn Chẳng hạn: Để dấu ngoặc kép tùy tiện, phần trích dẫn câu thơ hoặc lời nói của nhân vật thì quên dấu ngoặc kép, trích dẫn bằng việc đưa ý kiến cá nhân thay thế cho lời của nhân vật hoặc của một người nổi tiếng nào đó…

Biểu hiện của lỗi này là: hiểu sai về nội dung ý nghĩa tác phẩm, nhần lẫn tên tác giả - tác phẩm, đánh giá chưa đúng về nhân vật, tình huống truyện Có thể xuất phát từ việc học tủ, học lệch trong quá trình ôn, không đọc tác phẩm, không cảm nhận

và phân tích tác phẩm, phụ thuộc vào sách tham khảo,… mà thí sinh mắc phải lỗi này

5 Dẫn chứng lan man, sa đà

Xảy ra khi học sinh tham kiến thức hoặc không xác định được trọng tâm Các

em không làm tốt bước phân tích được đề, không xác định trúng vấn đề cần nghị luận, chưa lựa chọn được đúng phần kiến thức để đưa vào giải quyết vấn đề Thế nên, nhiều

em chọn cách bê nguyên bài phân tích tác phẩm vào bài làm mà không bám sát luận

đề Có bao nhiêu điều được học về tác phẩm là các em tung hết ra Tựa như người ta cần hoa đào thì em lại ra vườn nhà hái tất cả loại hoa mình có để mang ra Hoặc thí sinh sa vào việc nêu dẫn chứng quá nhiều Điều này làm cho bài văn đơn điệu và thiếu những thao tác như phân tích, chứng minh, cảm nhận,… Việc chọn quá nhiều dẫn chứng chỉ càng khiến bài viết như một bài liệt kê hời hợt hoặc ôm đồm, không tiêu biểu Có những thí sinh nghĩ rằng càng nhiều dẫn chứng thì càng thuyết phục người đọc, người nghe, càng chứng tỏ mình là người uyên bác, biết nhiều, học nhiều Hoặc đơn giản là có em nghĩ đã mất công học thì phải cố đưa hết vào bài để không uổng phí Hậu quả là người chấm thì mệt mỏi vì bội thực dẫn chứng, thí sinh thì cuống cuồng chay đua với thời gian để viết cho nhanh, cho nhiều, bài làm thì hời hợt, lê thê, tràng giang đại hải, thậm chí có khi còn bị bỏ dở vì thiếu thời gian,… Lỗi lan man này thường gặp ở những thí sinh không có kĩ năng chứng minh tốt, mải mê chạy theo kiến thức mà không biết cách làm chủ Vậy mới thầy, học phải đi đôi với hành, tiếp nhận phải đi cùng với chuyển hóa Lấy của người khác nhưng phải biết biến thành của mình Có thế thì người viết mới điều binh khiển tướng được đội quân tác phẩm mà không để bị vỡ trận

Trang 11

Dẫn chứng không bao quát (chỉ chọn 1 giai đoạn, 1 thể loại, ko có VHNN, VH sau 1975…)

6 Phân tích dẫn chứng khô khan, nhạt nhẽo, thiếu cá tính, thiếu sự sáng tạo

Nhiều thí sinh viết bài thi học sinh giỏi như viết bài thi đại học, chỉ dừng lại ở mức đúng và đủ mà chưa trúng, chưa hay, chưa sâu, chưa có cá tính Bài văn viết ra y như kiến thức văn mẫu, chung chung, đơn điệu, nhàm chán, khiến người chấm luôn có cảm giác “quen quen” như đã từng đọc rất nhiều lần ở đâu đó rồi Bài như vậy sẽ nhanh chóng chìm nghỉm, nhạt nhòa giữa biển người vô danh, vô nghĩa

7 Sai chính tả, dùng từ thiếu chính xác, đặc biệt các thuật ngữ lí luận

Lỗi này thường gặp trong bài làm của nhiều thí sinh Nguyên nhân là do thí sinh hiểu sai nên viết sai hoặc do thói quen viết nhanh, cẩu thả, tùy tiện… Khi làm bài, thí sinh còn dùng từ thiếu chuẩn xác Những lỗi này sẽ làm giảm thiện chí của người chấm và ảnh hưởng đến kết quả bài thi của thí sinh Ví như dùng lẫn lộn giữa các từ chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân bản,

8 Diễn đạt và trình bày lủng củng, thiếu khoa học

Do thiếu kỹ năng trong quá trình viết văn nên nhiều thí sinh hay gặp phải lỗi này Chẳng hạn, vì ham viết hay, viết sâu sắc nhưng do kiến thức có hạn và kĩ năng chưa hoàn thiện mà nhiều khi thí sinh viết câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ; câu tối nghĩa, nghĩa mơ hồ hoặc thậm chí là vô nghĩa Trong quá trình viết, nhiều thí sinh chưa xác định nội dung các ý cần triển khai, tẩy xóa nhiều trong bài thi,… điều này làm cho câu văn lủng củng, bài văn cẩu thả, không mạch lạc, trong sáng Mặt khác, kỹ năng trình bày cũng là một thao tác hết sức quan trọng với mỗi thí sinh Nhiều thí sinh chưa biết cách trình bày một bài văn sao cho mạch lạc, lôgic mà sa vào kể lể, viết tràn lan

Trang 12

CHƯƠNG III: RÈN KĨ NĂNG CHỨNG MINH TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA

I Chọn dẫn chứng

Đã chứng minh thì phải có dẫn chứng, mà muốn có dẫn chứng đúng thì đầu tiên

ta phải biết lựa chọn Nhưng chọn thế nào lại là điều phải suy tính kĩ lưỡng Có lẽ cần bắt đầu từ tiêu chí lựa chọn Có tiêu chí ta mới tìm được căn cứ để biết cái mình cần tìm giữa muôn vàn dẫn chứng khác nhau Thí sinh sẽ không bị ngợp, không còn bối rối, không hoang mang cũng không ngộ nhận trong việc chọn dẫn chứng nếu như các

em nắm chắc tiêu chí lựa chọn

1 Tiêu chí đầu tiên của dẫn chứng có lẽ phải là phù hợp với luận đề

Luận đề là thứ quyết định đến tất cả mọi điều trong bài văn, trong đó có dẫn chứng Luận đề là tâm điểm thu hút mọi thứ về một hướng Thí sinh phải nắm chắc được luận đề thì mới mong tìm thấy dẫn chứng phù hợp Luận đề nằm ngay trong đề bài những chỉ được thực sự phát lộ qua phần giải thích Giải thích đúng thì tìm đúng luận đề Vậy mới nói muốn làm tốt phần chứng minh ta không chỉ nghĩ về việc chứng minh mà phải nghĩ rộng ra cả phần trước và sau đó, cụ thể là nghĩ đến giải thích Không có thao tác giải thích thì chứng minh cũng thành một thứ chênh vênh, chấp chới, mơ hồ Giải thích đặt nền móng, đặt cơ sở để chứng minh có một điểm tựa mà bật lên Nhờ luận đề tìm được ở giải thích ta sẽ tràn trề cơ hội tìm được các dẫn chứng tương ứng Luận đề về thơ ca thì dẫn chứng phải là các thi phẩm, luận đề về tình huống truyện thì chắc chắn dẫn chứng phải xoay quanh truyện ngắn, luận đề về giá trị văn học thì dẫn chứng phải là những tác phẩm tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật, luận đề về tính sáng tạo thì phải lấy các tác phẩm của nhà văn, nhà thơ có phong cách nghệ thuật độc đáo,… Điều đó hẳn nhiên là quá quen thuộc với tất cả chúng ta Học sinh chỉ cần nắm được một hệ thống tác phẩm với đủ các thể loại, đủ các giai đoạn, các trào lưu, trường phái, các nền văn học,… là có thể huy động được nhiều dẫn chứng phù hợp với đề

Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý một điểm mới trong kì thi học sinh giỏi quốc gia trong một vài năm trở lại đây Đó là nguồn kiến thức cần huy động cho đề thi nghị luận văn học dường như không còn chỉ là độc quyền từ tác phẩm văn chương Có lẽ

xu hướng vận động nền giáo dục theo con đường coi trọng yếu tố thực hành, thực tế, thực nghiệm đã phần nào kiến đề thi văn cũng biến đổi theo Thí sinh không chỉ được

va đập với thực tiễn cuộc sống qua đề nghị luận văn xã hội mà ngay cả câu nghị luận

Trang 13

văn học cũng không thoát li khỏi vòng quay ấy Cùng nhìn lại đề thi học sinh quốc gia năm 2019, ta sẽ thấy rõ hơn hiện tượng này:

Rồi đây, có thể xuất hiện những cỗ máy biết viết văn, làm thơ Lúc đó, sáng tạo văn học có còn là độc quyền của con người?

Hẳn nhiên, để làm được đề này, người viết không thể không biết ít nhiều về những cỗ máy viết văn, làm thơ hay nói chính xác hơn là về vấn đề AI (trí tuệ nhân tạo), một thứ đang gây tranh cãi rất nhiều trên toàn cầu trong xu hướng phát triển của

xã hội tương lai Vậy nên, để huy động dẫn chứng cho phần chứng minh của đề nghị luận văn học về ý kiến lí luận thì người viết của ngày hôm nay cũng phải được trang

bị tương đối cơ bản về những kiến thức nóng hổi của thời cuộc Điều này vốn không phải là thứ mới lạ vì từ muôn đời nay văn học cũng chính là cuộc đời (thoát thai từ hiện thực và trở về phục vụ con người), vì trong nhiều năm trở lại đây đề nghị luận xã hội cũng đã kéo người học văn thâm nhập vào cuộc sống tích cực và hăng hái hơn xưa rất nhiều Do đó, chỉ cần có ý thức, có sự quan tâm, có cách bắc một nhịp cầu liên thông, đạt một “đường link” từ kiểu bài nghị luận xã hội là chúng ta đã có thể có vốn sống để bổ trợ thêm cho kiểu bài nghị luận văn học

2 Tiêu chí thứ hai là chọn dẫn chứng phù hợp với người viết

Phù hợp với luận đề thôi là chưa đủ Luận đề có một sức hút không thể cưỡng lại để tập hợp dẫn chứng quanh mình Nhưng trong bài thi môn Văn, nhất là thi học sinh giỏi Văn, dẫn chứng còn bị một hấp lức khác lôi kéo vào Đó chính là người viết Nói cách khác, dẫn chứng hợp đề đã là quan trọng nhưng dẫn chứng hợp người có khi còn quan trọng hơn Ví như một chàng trai (thí sinh) muốn lấy vợ (tác phẩm làm dẫn chứng) thì phải chọn người con gái phù hợp với gia đình mình (luận đề) Nhưng rõ ràng, trong đại gia đình đông đảo ấy, người cần hợp với cô dâu nhất phải là chú rể Chàng trai đó có thể chọn con dâu cho bố mẹ mình, chọn chị dâu cho các em mình, nhưng quan trọng nhất là phải chọn cô dâu của chính mình Người viết chọn được tác phẩm vừa hợp với đề vừa tâm đắc với bản thân thì đúng là một sự hạnh ngộ đầy duyên

nợ Viết đúng vào tác phẩm mình yêu thích, thông thạo, chắc chắn thì còn gì bằng Ta

sẽ triển hiện hết được những sở trường, thế mạnh của bản thân trên nền cảm xúc hưng phấn, hăng say nhất

3 Tiêu chí thứ ba là chọn dẫn chứng tiêu biểu, điển hình

Khi luận đề đã có và dẫn chứng phù hợp đã hiện ra trước mắt thì việc tiếp theo của các em là phải lựa chọn theo tiêu chí thứ hai, đó là dẫn chứng phải tiêu biểu, điển hình Bởi trong một rừng cây rậm rạp, người ta không thể chặt lấy hết mang về mà

Trang 14

phải biết chọn lựa Việc lấy hết là không cần thiết và cũng không thể làm được Dung lượng của một bài văn nghị luận cùng lắm cũng chỉ trong vài tờ giấy thi, viết với thời lượng khoảng hai tiếng đồng hồ Vậy nên, sự chọn lựa những dẫn chứng tiêu biểu, điển hình để đưa vào bài là việc tất yếu, không thể khác Nếu không làm được việc ấy, các em sẽ rơi ngay vào lỗi lan man, tham lam, ôm đồm, liệt kê dẫn chứng như đã nói

rõ trong chương hai của chuyên đề này Cái tiêu biểu sẽ làm cho bài viết vừa sáng được luận đề vừa gọn gàng, chất lượng Tuy không hẳn đúng nhưng rõ ràng việc viết văn trong bài thi học sinh giỏi nhiều khi vẫn theo quan niệm thẩm mĩ “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa” như dân gian xưa Những dẫn chứng điển hình sẽ giúp người viết làm được điều đó Các em sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức trong phần chứng minh nếu tìm được dẫn chứng tiêu biểu cho luận đề Sự tiết kiệm đó không chỉ đến từ việc thu gọn được dung lượng bài viết mà quan trọng hơn là từ việc bản thân dẫn chứng điển hình tự nó đã làm sáng luận đề dù thí sinh chưa cần phải phân tích Có những tác phẩm chỉ cần gọi tên người ta đã mường tượng ra được sự sáng tỏ của luận

đề, ước tính được luận đề sẽ được làm rõ như thế nào Nói cách khác, dẫn chứng điển hình như một con dao sắc, chỉ cần một nhát cắt cũng đủ khắc sâu vào luận đề Điều

mà một con dao cùn – một dẫn chứng không điển hình - phải làm đi làm lại nhiều lần cũng chưa chắc đã bằng Dẫn chứng điển hình không hẳn là con đường tắt nhưng chắc chắn là con đường nhanh nhất, dễ đi nhất và đẹp đẽ nhất để đưa ta tới cái đích luận đề

Vậy nhưng, câu hỏi đặt ra tiếp theo sẽ là thế nào là một dẫn chứng tiêu biểu, điển hình Chắc chắn, một tác phẩm không thể nào là dẫn chứng điển hình cho mọi đề thi Mỗi đề thi khác nhau sẽ có những tác phẩm tiêu biểu khác nhau có thể làm dẫn chứng Cái được gọi là điển hình chính là tác phẩm ấy chứa đựng các yếu tố mà luận

đề đòi hỏi một cách đậm đặc nhất, tinh tế nhất, sâu sắc nhất Ví như nói đến vấn đề sáng tạo thì tác phẩm điển hình phải là của những nhà văn, nhà thơ có phong cách nổi bật như Huy-gô, Ban-dắc, Sê-khốp, F Kapca, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên,… Nói đến tình yêu thương con người như một giá trị nội dung tư tưởng của văn học thì tốt nhất nên chọn “Những người khốn khổ”, “Cô bé bán diêm”, “Chiếc là cuối cùng”, “Truyện Kiều”, “Văn chiêu hồn”, “Chí Phèo”, “Chiếc thuyền ngoài xa”,… Đương nhiên, khi lựa chọn, người viết không thể bỏ qua giới hạn, phạm vi kiến thức trong đề bài (nếu có) Còn ở đây, chúng tôi đang đưa ra tiêu chí để giúp người viết nhận biết tác phẩm điển hình cho luận đề

4 Tiêu chí thứ tư để lựa chọn dẫn chứng là tính toàn diện

Với những đề không có giới hạn phạm vi kiến thức (câu lệnh quen thuộc là

Trang 15

phù hợp luận đề, điển hình nhưng chỉ thuộc về một tác giả duy nhất, một thể loại duy nhất hay một giai đoạn duy nhất,… thì thật khó lòng thuyết phục Bởi đó là một sự huy động kiến thức phiến diện, một chiều, cực đoan và cục bộ Người viết bắt buộc phải đa dạng hóa dẫn chứng ít nhất cũng thuộc những tác giả, những thể loại, những giai đoạn, những nền văn học khác nhau để đưa vào bài (đương nhiên ở đây không tính đến giới hạn của đề) Làm được điều ấy, bài văn chứng minh mới thực sự thuyết phục được mọi người, mọi quan điểm, mọi góc nhìn Thân phận của người viết bài cũng có khi giống cảnh làm dâu trăm họ, phải toàn diện thì mới thỏa lòng người đọc, người nghe Hơn nữa, chính sự toàn diện về dẫn chứng cũng mang đến một lợi thế cho chính người làm bài Bởi sự đa dang đó tạo nên nguồn cảm hứng để thí sinh không bị nhàm chán, quẩn quanh, trùng lặp trong suy tưởng của mình

5 Tiêu chí thứ năm khi huy động dẫn chứng phải là tính chính xác

Chọn đúng, chọn đủ, chọn hay mà trích dẫn sai thì cũng thành công cốc Thật buồn khi đọc bài phân tích hay mà nhầm lẫn tên tác giả hay trích sai câu thơ Chữ tác đánh chữ tộ, râu ông nọ cắm cằm bà kia hay tam sao thất bản chính là những điều có thể dùng để gọi cho trường hợp này Nguy hiểm hơn, chính dẫn sai chẳng những làm khó chịu cho người chấm mà còn có thể khiến thí sinh sai một li đi một dặm Bởi trích sai thì cũng phân tích sai theo Có em say sưa nói về một từ hay trong bài thơ mà không biết đó lại là từ không đúng với nguyên văn Thành ra, bài phân tích không còn

là ca ngợi tác giả mà chính là người viết đang vô tình tự khen bản thân

Có lẽ, điều đầu tiên học sinh cần làm được là viết được câu chuyển đề nối luận

đề chung vào dẫn chứng riêng Luận đề vốn đã hiện diện từ đầu bài viết Còn dẫn

Trang 16

chứng thì đến sau, vậy nó cần một màn ra mặt, một phần chào hỏi, một mà “xe đài” trước khi chính thứ bước vào luận đề Câu chuyển ấy do người viết dùng khả năng sáng tạo, thiết kế của mình nghĩ ra theo muôn vàn cách khác nhau Nhưng mấu chốt là phải để cho dẫn chứng bước qua cánh cửa của riêng mình để tiến vào thế giới của luận

Cách 2: Thực tế văn học đã chứng minh nhà văn có thể đứng lại trong dòng chảy thời gian đều nhờ “đứa con tinh thần” của họ Nam Cao cũng không ngoại lệ, ông đã ghi dấu tên mình trên văn đàn với “Chí Phèo” bằng những khám phá, sáng tạo mới mẻ “chưa ai khơi” về người nông dân nghèo trước Cách mạng

Cách 3: “Nhà văn tồn tại ở tác phẩm” Đúng như vậy, “Vội vàng” đã khẳng định sự trường tồn của cái tên Xuân Diệu nhờ những dấu ấn rất mới, rất riêng về sự sáng tạo

Cách 4: Tác phẩm là lời khẳng định tên tuổi, là con dấu in sâu gương mặt mỗi nghệ sĩ trong thế giới văn học Chính vì thế mà qua bao cơn sóng dữ của thời gian, giữa mênh mông, vô vàn nhà văn khác, cái tên “Nguyễn Minh Châu” vẫn luôn tỏa sáng Ông đã trở thành “nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất cho một giai đoạn văn học mới” nhờ bao khám phá mới mẻ, triết lý sâu sắc được chở đầy trong

“Chiếc thuyền ngoài xa”

Cách 5: Nhà văn tồn tại nhờ tác phẩm Không có tác phẩm nhà văn sẽ chết Và

“Chí Phèo” là một tác phẩm như thế “Chí Phèo” đã tạo nên gương mặt riêng của Nam Cao và trở thành đại diện của một thời đại văn học Bởi thế, sự “tồn tại” của Nam Cao đã được thể hiện ở những sự sáng tạo về mặt nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

Sau khi đã chuyển ý để kết nối luận đề, việc tiếp theo mà học sinh cần làm là viết đoạn giới thiệu khái quát về dẫn chứng theo hướng làm sáng tỏ cho luận đề Ta biết rằng, một tác phẩm có thể làm sáng tỏ cho vấn đề lí luận từ rất nhiều phương diện như nội dung, nghệ thuật Trong nội dung, ta lại có thể chia nhỏ thành cảm hứng, tư tưởng, hình tượng, chi tiết Trong nghệ thuật, ta lại chia nhỏ thành kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ, biện pháp tu từ,… Người viết chắc chắn không thể có đủ thời gian để phân

Trang 17

dung lượng và đảm bảo thời lượng Nhờ phần khái quát này, người đọc sẽ thấy thí sinh nắm chắc tác phẩm, chắc yêu cầu của đề bài và thấy được một bức tranh tổng thể

về những điều cần tìm Đó là một phần trình bày mang đến cái nhìn bao quát rất quan trọng cho bài làm

Chúng tôi lại xin trích ra đây những đoạn viết khái quát của thí sinh trong thực

tế bài làm để minh họa

Đoạn 1: “Nhà văn tồn tại trong tác phẩm”, thật vậy, điển hình như với “Chí Phèo” - một áng văn đầy giá trị với những sáng tạo đã giúp hình bóng Nam Cao không bao giờ lụi tàn Ngược về những năm 1930-1945, nếu như các nhà văn thời trước chỉ tập trung phản ánh sự thiếu thốn của người nông dân về cơm, áo, gạo, tiền cũng những nỗi đau vật chất thì Nam Cao – vốn “sinh sau đẻ muộn” trên mảnh đất văn học hiện thực - lại cho thấy một sự phá cách, đổi mới rất rõ rệt Người nghệ sĩ ấy không chỉ dừng lại ở việc phản ánh tình trạng thê thảm của xã hội mà còn trực tiếp cắt nghĩa, truy tìm nguyên nhân bi kịch, hướng cái nhìn tới sâu thẳm nội tâm con người Dưới ngòi bút thiên tài của một nhà văn đại tài, “Chí Phèo” đã bộc lộ sự cảm thương của người nghệ sĩ trước những nỗi bất hạnh ở đời, khẳng định vai trò quan trọng của yếu tố thể xác, ngợi ca tình yêu bình dị nhưng cao quý trong một xã hội vô cảm và dõng dạc cất lên lời kết án đanh thép cho một thời đại u tối qua hệ thống nghệ thuật đặc sắc từ cách trần thuật cho đến khả năng miêu tả tâm lí nhân vật tài tình Đặc biệt, một trong những yếu tố quan trọng nhất đã giúp tên tuổi Nam Cao trường tồn nơi tác phẩm không thể không kể đến việc khắc họa nỗi đau tinh thần, khao khát lương thiện của người nông dân tha hóa thông qua một ngôn ngữ rất đặc biệt - tiếng chửi ở đầu truyện của Chí Phèo

Đoạn 2: Thực tế văn học đã chứng minh nhà văn có thể đứng lại trong dòng chảy thời gian đều nhờ “đứa con tinh thần” của họ Nam Cao cũng không ngoại lệ, ông đã ghi dấu tên mình trên văn đàn với “Chí Phèo” bằng những khám phá, sáng tạo mới mẻ “chưa ai khơi” về người nông dân nghèo trước Cách mạng Truyện của Nam Cao không giống tiếng kêu cứu đói của Ngô Tất Tố, hay lời vạch trần mỉa mai, sâu cay của Vũ Trọng Phụng mà là tiếng kêu cứu lấy nhân phẩm của con người Nói cách khác, Nam Cao đã đào sâu vào những chỗ lồi lõm để có cái nhìn mới vào nỗi đau của kẻ bần cùng hoá, lưu manh hoá và tha hoá đương thời Đồng thời, ông cũng mạnh dạn khẳng định vai trò của yếu tố thể xác, của tình yêu dung dị trong việc cảm hoá tâm hồn, qua đó thể hiện niềm tin mãnh liệt vào nhân tính, vào khát khao hạnh phúc, yêu thương và hướng thiện của con người Bằng thủ pháp miêu tả tâm lý, len lỏi vào những trạng thái chênh vênh và thay đổi linh hoạt trong điểm nhìn trần thuật và giọng điệu, Nam Cao đã đặc biệt thành công trong việc phơi trải bi kịch tha hoá của

Ngày đăng: 21/04/2023, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nhiều tác giả (2010), Tuyển tập đề bài và bài văn nghị luận, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập đề bài và bài văn nghị luận
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
2. Nhiều tác giả (2018), Kỉ yếu Trại hè Hùng Vương môn Ngữ văn 2007 – 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỉ yếu Trại hè Hùng Vương môn Ngữ văn 2007 – 2017
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2018
3. Nhiều tác giả (2018), Các lỗi thường gặp ở kiểu bài lý luận văn học trong bài thi HSGQG môn Ngữ Văn, Hội thảo khoa học Trại hè Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lỗi thường gặp ở kiểu bài lý luận văn học trong bài thi HSGQG môn Ngữ Văn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Hội thảo khoa học Trại hè Hùng Vương
Năm: 2018
4. Nguyễn Tấn Huy (2003), Hướng dẫn ôn tập và làm bài văn, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn ôn tập và làm bài văn
Tác giả: Nguyễn Tấn Huy
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
5. Nguyễn Quốc Siêu (1998), Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông
Tác giả: Nguyễn Quốc Siêu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
6. Đỗ Ngọc Thống (2016), Tài liệu chuyên Văn, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuyên Văn
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2016
7. Phạm Toàn (2006), Công nghệ dạy Văn, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ dạy Văn
Tác giả: Phạm Toàn
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w