1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phương pháp dạy đọc – hiểu các tác phẩm văn học tự sự trong chương trình ngữ văn 11

44 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương pháp dạy đọc – hiểu các tác phẩm văn học tự sự trong chương trình Ngữ văn 11
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Phương
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Trần Nhật Duật
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Yên Bái
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP CỞ SỞ Kính gửi Hội đồng sáng kiến Sở Giáo dục và Đào tạo Yên Bái Tôi ghi tên dưới đây Số TT Họ và tên N[.]

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trình độ chuyên môn

1 Nguyễn Thị

Quỳnh Phương 10/12/1981

Trường THPT Trần Nhật Duật Giáo viên Cử nhân

Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐỌC HIỂU CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH

NGỮ VĂN LỚP 11”

* Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Ngữ văn

* Mô tả bản chất của sáng kiến:

I Về nội dung của sáng kiến

Môn ngữ văn luôn luôn đóng vai trò là một trong những bộ môn chính yếu trong trường THPT Hơn thế nữa, với đặc thù riêng về sự chính xác tương đối, sự phụ thuộc vào cảm xúc của người dạy và người học mà vấn đề dạy và học Ngữ văn

luôn được quan tâm đặc biệt “Mục tiêu chung của môn Ngữ văn ở THPT là trên cơ

sở đã đạt được của chương trình Ngữ văn THCS, bồi dưỡng thêm một bước năng lực Ngữ văn cho học sinh, bao gồm năng lực đọc hiểu các văn bản thông dụng (văn, thơ, truyện), năng lực viết một số văn bản thông dụng…đồng thời cung cấp một hệ thống tri thức về văn học dân tộc và văn học thế giới” Học sinh luôn tiếp

xúc trước hết với văn bản và chính vì thế mà định hướng phương pháp đọc hiểu là

vô cùng cần thiết

Trước yêu cầu đó, đã có nhiều cuộc hội thảo, chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học văn được tổ chức dưới nhiều cấp độ khác nhau trong phạm vi

Trang 2

2

cả nước Hàng loạt các phương pháp được đề xuất, thử nghiệm, như: phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp dạy học tích hợp, phương pháp dạy học theo

nhóm… Vậy mà niềm yêu thích học văn của học sinh vẫn chưa tăng, thậm chí

nhiều em còn chán nản với môn học này

Có rất nhiều nguyên nhân để lý giải hiện tượng nêu trên, nhưng theo tôi,

có một lý do, ai cũng biết nhưng lại ít ai đề cập tới, đó là hiện tượng đa số học sinh

không đọc tác phẩm khi soạn bài Trong giờ học môn văn, đôi khi cả giáo viên và

học sinh đều bỏ qua khâu rèn luyện đọc diễn cảm, và hiếm khi người học có được

những giây phút thăng hoa qua những lời bình ngắn gọn mà gợi nhiều chiêm nghiệm, liên tưởng

Giáo sư Trần Đình Sử trong bài Con đường đổi mới căn bản phương

pháp dạy-học văn khẳng định: “Khởi điểm của môn Ngữ văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các

văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp của môn văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì tới tình yêu văn học” Đáng tiếc là nhiều năm nay, trong nhà trường THPT đã diễn ra tình trạng học sinh không cần đọc trực tiếp văn bản nhưng vẫn soạn được bài, thậm chí khi thầy cô giáo yêu cầu hoạt động nhóm và cử đại diện trình bày, các em vẫn tỏ ra làm việc tích cực và phát biểu một cách gọn gàng Việc học sinh xem nhẹ đọc tác phẩm đã làm hạn chế khả năng cảm thụ và sáng tạo của chính mình, từ đó khiến cho học sinh chỉ biết tiếp thu một cách thụ động, mất dần kĩ năng đọc hiểu văn bản, thiếu năng lực đọc một cách sáng tạo Như vậy, mấu chốt của vấn đề nâng cao hiệu quả

cảm thụ văn học chính là ở việc đọc trực tiếp văn bản văn học

Các tác phẩm tự sự chiếm số lượng khá lớn trong chương trình Ngữ văn lớp 11 ban Cơ bản, gồm 10 tác phẩm, đoạn trích của cả văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, trong đó có 3 tác phẩm, đoạn trích thuộc phần đọc thêm

Với mong muốn góp phần tạo ra cho các em niềm say mê với thế giới văn chương phong phú, nhiều màu sắc, phát huy tiềm lực, nâng cao hiệu quả học văn

của học sinh trong giờ đọc - hiểu môn văn, tôi chọn đề tài Phương pháp dạy đọc – hiểu các tác phẩm văn học tự sự trong chương trình Ngữ văn 11 làm đối tượng

Quá trình thực hiện đề tài này nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân, bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, làm cơ sở cho việc học tập

và nghiên cứu sau này

Trang 3

Giáo viên góp phần truyền đạt và giúp học sinh cảm thụ những nét độc đáo trong nội dung và nghệ thuật viết truyện của những tác giả với những tác phẩm, đoạn trích trong chương trình Ngữ văn lớp 11 ban cơ bản; từ đó có những kiến thức công cụ để tự bản thân học sinh có thể đọc – hiểu được những văn bản cùng loại thể ngoài chương trình

II Về khả năng áp dụng của sáng kiến:

- Sáng kiến có tính hệ thống, khoa học Có tính ứng dụng cao, có thể sử dụng trong việc giảng dạy môn ngữ văn ở các trường THPT trong tỉnh

- Sáng kiến này được áp dụng cho học sinh các lớp 11 tại trường THPT Trần Nhật Duật, ở các năm: năm học 2019 – 2020; năm học 2020 – 2021 học kì 1 năm học 2021- 2022

- Khi thực nghiệm giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh hoạt động nhiều hơn, thể hiện

và rèn luyện các kĩ năng tư duy, chính xác, cẩn thận trong khi học tập, nhiều bạn còn rất hứng thú và tâm huyết

III Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:

Qua thực tế giảng dạy, qua việc áp dụng phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển năng lực người học, tôi thấy phương pháp này đã đạt được những hiệu quả rất tích cực:

+ Phát huy vai trò,năng lực,phẩm chất của người học: Học sinh được tham gia thể hiện mình qua việc tự tìm tòi, khám phá về hình tượng; được nói quan điểm của bản thân qua thảo luận, trình bày sản phẩm; có tư duy phản biện, biết bảo vệ quan điểm trước những phản biện của bạn nhóm khác hoặc của thầy cô… giờ học diễn ra rất tự nhiên, sôi nổi, thoải mái và hào hứng

+ Các em rất tự tin về những điều mình đã biết về tác phẩm về hình tượng nên khi được trình bày các em có khả năng diễn đạt tốt, gây được sự chú ý cho người nghe + Tôi còn nhận thấy với phương pháp này, học sinh không phải ghi chép nhiều nhưng các em lại khắc sâu kiến thức, có ấn tượng lâu bền về tác phẩm và hình tượng qua bằng chứng là các bài kiểm tra

-Tóm lại đây là phương pháp mà tôi nhận thấy đã đạt được những hiệu quả cơ bản như sau:

+ Tạo sự hứng thú, đam mê, chú ý cao độ trong giờ học văn, không còn tình trạng đọc chép gây chán nản

+ Học sinh tích cực tìm tòi khi được giao nhiệm vụ về nhà

+ Học sinh sẽ nhớ kiến thức lâu hơn, không bị ức chế vì phải ghi nhớ những điều các em không thích, không có hứng thú

Trang 4

4

- Sáng kiến đã được giới thiệu và nhận được sự đồng tình của các đồng nghiệp trong tổ chuyên môn và nhà trường Sau khi áp dụng thực nghiệm, giảng dạy đã nhận được nhiều phản hồi tích cực Điều đó cho thấy sáng kiến mang tính khả thi, đạt kết quả tốt, và có thể được áp dụng tiếp trong thời gian tới

Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu:

thường trú)

Chức danh

Trình độ chuyên môn

1 Tạ Thị Bích Ngân THPT Trần Nhật Duật

– Yên Bình, Yên Bái Tổ trưởng Thạc sĩ

2 Phan Thúy Hằng THPT Trần Nhật Duật

– Yên Bình, Yên Bái Giáo viên Cử nhân

3 Nguyễn Thị Quỳnh

Phương

THPT Trần Nhật Duật – Yên Bình, Yên Bái Giáo viên Cử nhân

4 Vũ Thị Huệ THPT Trần Nhật Duật

– Yên Bình, Yên Bái Giáo viên Cử nhân Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

Yên Bái, ngày 04 tháng 02 năm 2022

Người nộp đơn

(Ký và ghi rõ họ tên)

Nguyễn Thị Quỳnh Phương

Trang 5

LỚP 11”

Họ và tên : Nguyễn Thị Quỳnh Phương

Trình độ chuyên môn : Cử nhân Sư phạm Ngữ văn

Chức vụ : Giáo viên

Đơn vị công tác : Trường THPT Trần Nhật Duật – Yên Bình

Y ên Bình , ngày 04 tháng 02 năm 2022

Trang 6

I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐỌC HIỂU CÁC TÁC PHẨM VĂN

HỌC TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11”

- Trên thực tế nhà trường hiện nay tôi chọn đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 11 trường THPT Trần Nhật Duật

4 Thời gian áp dụng sáng kiến:

- Tích luỹ, đúc rút kinh nghiệm thực hiện áp dụng sáng kiến trong:

- Nơi làm việc: Trường THPT Trần Nhật Duật – Yên Bình – Yên Bái

- Địa chỉ liên hệ: Trường THPT Trần Nhật Duật, Tổ 4, Thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, Yên Bái

sự phụ thuộc vào cảm xúc của người dạy và người học mà vấn đề dạy và học

Ngữ văn luôn được quan tâm đặc biệt “Mục tiêu chung của môn Ngữ văn ở

THPT là trên cơ sở đã đạt được của chương trình Ngữ văn THCS, bồi dưỡng thêm một bước năng lực Ngữ văn cho học sinh, bao gồm năng lực đọc hiểu các văn bản thông dụng (văn, thơ, truyện), năng lực viết một số văn bản thông dụng…đồng thời cung cấp một hệ thống tri thức về văn học dân tộc và văn học thế giới” Học sinh luôn tiếp xúc trước hết với văn bản và chính vì thế mà định

hướng phương pháp đọc hiểu là vô cùng cần thiết

Trước yêu cầu đó, đã có nhiều cuộc hội thảo, chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học văn được tổ chức dưới nhiều cấp độ khác nhau trong phạm vi cả nước Hàng loạt các phương pháp được đề xuất, thử nghiệm, như: phương pháp

Trang 7

dạy học nêu vấn đề, phương pháp dạy học tích hợp, phương pháp dạy học theo

nhóm… Vậy mà niềm yêu thích học văn của học sinh vẫn chưa tăng, thậm chí

nhiều em còn chán nản với môn học này

Có rất nhiều nguyên nhân để lý giải hiện tượng nêu trên, nhưng theo tôi, có

một lý do, ai cũng biết nhưng lại ít ai đề cập tới, đó là hiện tượng đa số học sinh

không đọc tác phẩm khi soạn bài Trong giờ học môn văn, đôi khi cả giáo viên

và học sinh đều bỏ qua khâu rèn luyện đọc diễn cảm, và hiếm khi người học có

được những giây phút thăng hoa qua những lời bình ngắn gọn mà gợi nhiều chiêm nghiệm, liên tưởng

Giáo sư Trần Đình Sử trong bài Con đường đổi mới căn bản phương pháp

dạy-học văn khẳng định: “Khởi điểm của môn Ngữ văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các

văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp của môn văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì tới tình yêu văn học” Đáng tiếc là nhiều năm nay, trong nhà trường THPT đã diễn ra tình trạng học sinh không cần đọc trực tiếp văn bản nhưng vẫn soạn được bài, thậm chí khi thầy cô giáo yêu cầu hoạt động nhóm và cử đại diện trình bày, các em vẫn tỏ ra làm việc tích cực và phát biểu một cách gọn gàng Việc học sinh xem nhẹ đọc tác phẩm đã làm hạn chế khả năng cảm thụ và sáng tạo của chính mình, từ đó khiến cho học sinh chỉ biết tiếp thu một cách thụ động, mất dần kĩ năng đọc hiểu văn bản, thiếu năng lực đọc một cách sáng tạo Như vậy, mấu chốt của vấn đề

nâng cao hiệu quả cảm thụ văn học chính là ở việc đọc trực tiếp văn bản văn

học

Các tác phẩm tự sự chiếm số lượng khá lớn trong chương trình Ngữ văn lớp 11 ban Cơ bản, gồm 10 tác phẩm, đoạn trích của cả văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, trong đó có 3 tác phẩm, đoạn trích thuộc phần đọc thêm

2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến

2.1 Mục đích của giải pháp

Với mong muốn góp phần tạo ra cho các em niềm say mê với thế giới văn

chương phong phú, nhiều màu sắc, phát huy tiềm lực, nâng cao hiệu quả học văn

của học sinh trong giờ đọc - hiểu môn văn, tôi chọn đề tài Phương pháp dạy đọc – hiểu các tác phẩm văn học tự sự trong chương trình Ngữ văn 11 làm

đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài, Phương pháp dạy đọc – hiểu các tác phẩm văn học tự sự trong chương trình Ngữ văn 11, tôi tập trung nghiên cứu làm thế nào hiểu được

văn bản tự sự và dạy đọc – hiểu văn bản tự sự thành công Muốn vậy, giáo viên phải tìm hiểu đặc trưng của tác phẩm tự sự và phương pháp dạy tác phẩm tự sự Giáo viên ứng dụng hiệu quả hơn phương pháp dạy tác phẩm tự sự để dạy tốt các văn bản tự sự trong chương trình Ngữ văn THPT; đưa ra những đề xuất và ứng dụng phương pháp giảng dạy tác phẩm tự sự

Quá trình thực hiện đề tài này nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân, bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, làm cơ sở cho việc học tập và nghiên cứu sau này Giáo viên góp phần truyền đạt và giúp học sinh cảm thụ những nét độc đáo trong nội dung và nghệ thuật viết truyện của những tác giả

Trang 8

với những tác phẩm, đoạn trích trong chương trình Ngữ văn lớp 11 ban cơ bản;

từ đó có những kiến thức công cụ để tự bản thân học sinh có thể đọc – hiểu được những văn bản cùng loại thể ngoài chương trình

2.2 Nội dung giải pháp

2.2.1 Hệ thống các tác phẩm tự sự trong chương trình ngữ văn lớp 11

Chương trình Ngữ văn 11 có 10 tác phẩm văn học tự sự thuộc các thể loại kí

sự, truyện ngắn, tiểu thuyết, trong đó có 8 tác phẩm của văn học Việt Nam và 2 tác phẩm của văn học nước ngoài

* Kí sự : Vào phủ chúa Trịnh (TríchThượng kinh kí sự) -Lê Hữu Trác

* Truyện ngắn:

- Hai đứa trẻ - Thạch Lam

-Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân

- Chí Phèo - Nam Cao

- Đọc thêm : “Vi hành” - Nguyễn Ái Quốc

- Đọc thêm : Tinh thần thể dục - Nguyễn Công Hoan

- Người trong bao -A.P Sê-khốp(Văn học Nga)

- Đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Trích tiểu thuyết

Những người khốn khổ) - V.Huy-gô (Văn học Pháp)

2.2.2 Phương pháp dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học tự sự trong chương trình ngữ văn lớp 11

2.2.2.1 Hoạt động chuẩn bị:

Để tiến hành tốt một giờ dạy đọc hiểu văn bản tự sự, cả giáo viên và học sinh phải có những hoạt động chuẩn bị Về phía giáo viên, vì đóng vai trò là người thiết kế, hướng dẫn nên giáo viên phải đi trước một bước trong hoạt động chuẩn bị cho bài dạy của mình, vừa tuân thủ nguyên tắc dạy học theo hướng tích hợp vừa gợi mở, phát huy năng lực tự học, chủ động tích cực của học sinh Với những hoạt động cơ bản như: nghiên cứu kĩ nội dung, xác định chính xác mục

tiêu bài dạy và trọng tâm của bài (SGK, SGV, sách bài tập là những tài liệu bắt

buộc); nghiên cứu, nắm chắc đối tượng học sinh, từ đó lựa chọn phương pháp

dạy học phù hợp; lập kế hoạch bài học - thiết kế giáo án, xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập, những tình huống có vấn đề để học sinh chuẩn bị bài, tham gia thảo luận; tổ chức hoạt động nhóm Giáo viên có thể tùy vào những điều kiện khách quan và chủ quan mà chuẩn bị với tinh thần sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của phương pháp dạy học chủ động, tích cực

a) Bước 1: Lập kế hoạch bài học - thiết kế giáo án:

- Giáo án là sự hình dung trước những công việc mà người giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh học tập trên lớp Đây không phải là bài chuẩn bị những nội dung

mà giáo viên sẽ nói trên lớp cho học sinh nghe Văn bản văn học là đối tượng của cả giáo viên và học sinh trong giờ dạy và học đọc - hiểu Ngay từ khâu thiết

Trang 9

kế giáo án dạy đọc - hiểu văn bản tự sự, giáo viên phải xác định ý nghĩa của tác phẩm là tổng số các phương diện sau đây: ý nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm + ý nghĩa tự thân của các yếu tố trong văn bản

+ ý nghĩa mà người đọc “đọc ra” từ sự trải nghiệm, liên tưởng, tưởng tượng của chính bản thân

+ ý nghĩa của văn cảnh như thời đại, hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh đọc cụ thể

Có như thế giáo viên mới chuẩn bị chu đáo các câu hỏi gợi ý, gợi cảm, gợi tưởng tượng, gợi vào những kỉ niệm, vốn sống, vốn văn hóa của học sinh, không

áp đặt, không gò bó học sinh theo ý mình, làm mất tính chủ động sáng tạo của học sinh

- Từ tài liệu liên quan đến nội dung bài học, từ những yêu cầu cụ thể của bài học

và đặc biệt từ những yêu cầu của thể loại tự sự, giáo viên hình dung và tìm kiếm các phương pháp, biện pháp dạy học, các phương án thiết kế để bài học đạt hiệu quả nhất: bài học nào cần được liên thông với chương trình cấp II, bài học nào cần sự hỗ trợ của các phương tiện trình chiếu, dụng cụ trực quan, phiếu học tập; lúc nào cần tổ chức thảo luận, làm việc theo nhóm .Sau đó giáo viên suy nghĩ đến tiến trình thực hiện bài học và phác thảo đề cương của bài giảng

Ví dụ như:

+Ví dụ 1: Khi lập kế hoạch thiết kế bài học về truyện ngắn “Chữ người tử tù”

của Nguyễn Tuân Có thể hình dung sau khi giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và

xuất xứ của tác phẩm Chữ người tử tù, giáo viên có thể sử dụng phương pháp

trực quan, cho học sinh xem một tác phẩm thư pháp để giới thiệu về nghệ thuật

chơi chữ - một thú chơi tao nhã của những nhà nho có tâm hồn cao thượng Cần

thiết phải dành thời gian để giảngvề thư pháp và nhấn mạnh: người viết chữ đẹp trở thành nghệ sĩ và viết chữ trở thành hành vi sáng tạo nghệ thuật Chữ trong những tác phẩm thư pháp không phải là sản phẩm của sự khéo tay mà là sự hiện hình của những khát khao thầm kín mà mãnh liệt chất chứa trong tâm khảm, trong nhân cách của người viết Có hiểu như thế thì ta mới cắt nghĩa được tại sao

“có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời” Nó trở thành mơ

ước suốt cả đời viên quản ngục GV cho HS xem một số hình ảnh về nghệ thuật thư pháp

Một số hình ảnh về nghệ thuật thư pháp :

Chữ CẦN Chữ ĐẠO Chữ LỘC

Trang 10

+Ví dụ 2: Khi lập kế hoạch thiết kế bài học về truyện ngắn “Chí Phèo” của

Nam Cao Bài học Chí Phèo của Nam Cao có hai phần Phần một: Tác giả; phần hai: Tác phẩm Về thời gian, phần một dành một tiết, phần hai dành hai tiết và

bố trí không liền nhau trong phân phối chương trình Thời gian như thế là rất

hạn chế, giáo viên không thể tham kiến thức, cần tính toán thiết kế bài học theo

hướng có sự hỗ trợ và gắn bó giữa hai nội dung của bài học (tác giả và tác

phẩm) Chẳng hạn khi dạy tác giả Nam cao, phần Sự nghiệp sáng tác, giáo viên sử dụng truyện Chí Phèo để minh họa cho mảng đề tài người nông dân nghèo

(Số phận của Chí Phèo, tình trạng người nông dân bị tha hóa, thái độ của Nam Cao, ) Kinh nghiệm giảng dạy cho thấy, nếu giáo viên khéo léo trong việc vừa định hướng vừa khơi gợi (kể một vài tình tiết hấp dẫn của truyện chẳng hạn), HS

sẽ có hứng thú đọc tác phẩm khi kết thúc phần học tác giả

Khi tiến hành hoạt động đọc - hiểu văn bản Chí Phèo của Nam Cao, căn cứ

vào một số yêu cầu, mục tiêu của bài như:

+ Giúp HS hiểu và phân tích được các nhân vật chính, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo, qua đó thấy được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm

+ Giúp HS thấy được một số nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm như điển hình hóa nhân vật, miêu tả tâm lí, nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ nghệ thuật Giáo viên có thể hình dung bài học sẽ được tiến hành bởi những thao tác: đọc văn bản, phát vấn, nêu vấn đề, chọn giảng và nội dung bài học sẽ được phác họa theo trình tự khoa học (trong đó có phần HS đã chuẩn bị ở nhà):

+ HS đọc văn bản, trình bày phần tóm tắt truyện, chia đoạn, nêu ý chính từng đoạn

+ Thống kê các nhân vật chính của truyện Tìm hiểu nhân vật bá Kiến, thị Nở trong truyện có ý nghĩa gì đối với số phận, tính cách của Chí Phèo

+ Tìm hiểu ý nghĩa tiếng chửi của nhân vật Chí Phèo ở đầu đoạn trích

Giáo viên chọn phân tích diễn biến tâm trạng của Chí Phèo từ lúc gặp thị

Nở cho đến lúc giết bá Kiến Từ đó hướng dẫn HS tìm ra sự thức tỉnh nhân tính

ở Chí Phèo, hiểu đúng và sâu giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm Ở những lớp có học lực khá, giáo viên có thể phân công làm việc nhóm, đại diện nhóm lên thuyết trình Các nhóm khác nêu băn khoăn, thắc mắc, có thể tranh luận với các nhóm đang trình bày và cuối cùng giáo viên nhận xét, tổng kết

Hướng dẫn học sinh tìm hiểu và đánh giá ngôn ngữ kể chuyện của tác giả và ngôn ngữ nhân vật bằng những định hướng: lời trần thuật nửa trực tiếp (đoạn 1), độc thoại nội tâm của Chí Phèo sau khi tỉnh rượu (đoạn 3), những lời đối thoại của Chí Phèo với thị Nở (đoạn 4), và nhất là với bá Kiến (đoạn cuối)

Hướng dẫn học sinh đánh giá văn bản Chí Phèo về hai mặt nội dung tư

tưởng, hình thức nghệ thuật; biết rút ra nhận xét về phong cách nghệ thuật của Nam Cao bằng cách trả lời những câu hỏi gợi mở

Phần luyện tập trong SGK (HS thực hiện ở nhà) giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào phần Ghi nhớ để trả lời cho câu hỏi : Vì sao truyện ngắn Chí Phèo được

coi là một kiệt tác của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại ?

-Trong thực tế dạy - học các văn bản tự sự, có những câu hỏi SGK đặt ra cho cả

Trang 11

giáo viên và học sinh tương đương với một đề làm văn Nó đòi hỏi trình độ

phân tích, tổng hợp, khái quát Khi thiết kế giáo án, giáo viên cần chủ động

chuẩn bị những câu hỏi có tính chất dẫn dắt hoặc cung cấp thêm dữ kiện để học

sinh suy nghĩ và có cơ hội trình bày được những ý kiến riêng

Ví dụ, phần hướng dẫn học bài của “Hai đứa trẻ”, SGK đã yêu cầu : Phân tích

tâm trạng của Liên và An trước khung cảnh thiên nhiên và bức tranh đời sống

nơi phố huyện Giáo viên có thể chia thành những câu hỏi ngắn, dễ hiểu để dẫn

dắt:

+ Khung cảnh thiên nhiên trong truyện ngắn được miêu tả theo trình tự nào?

Gồm có mấy cảnh chính ? Ở mỗi cảnh, Liên và An (chủ yếu là Liên) bộc lộ cảm

giác, tâm trạng gì?

+ Bức tranh đời sống trong truyện từ lúc chiều tối đến đêm khuya được miêu tả

bằng những hoạt động nào? Có bao nhiêu con người và bao nhiêu cảnh đời được

nói đến trong truyện? Điểm chung ở họ là gì? Liên quan sát và có suy nghĩ gì về

họ?

+ Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật của Thạch Lam trong truyện? (chú ý mối

quan hệ giữa ngoại cảnh - bức tranh phố huyện và nội tâm nhân vật - cảm xúc,

tâm trạng của chị em Liên)

Giáo viên hướng dẫn HS phân tích những câu văn trực tiếp tả các hình ảnh,

chi tiết giàu sức liên tưởng như ánh sáng, bóng tối, ngọn đèn, tiếng trống, tiếng

còi tàu, mùi vị của đất đai các trạng thái tâm hồn như “buồn man mác”, “mong

đợi” hay “mơ tưởng’; cách láy đi láy lại một số từ ngữ chỉ hành vi tâm lí như:

“Liên thấy”, “Liên nhìn”, “Liên cảm thấy”, “Liên dõi theo”, “Liên nhớ lại”;

Những từ ngữ chỉ sự tàn lụi, thưa thớt như tàn, vãn, nát, vài, mấy,

Có thể cung cấp thêm cho HS một số dữ liệu để làm cơ sở cảm nhận sâu sắc bức

tranh đời sống, thế giới nội tâm của nhân vật và tình cảm của tác giả Chẳng

hạn, Thế Uyên, cháu Thạch Lam đã từng nói: “Truyện hai chị em bán hàng xén

ở phố huyện kế ga xe lửa cố gắng thức đợi tàu tối đi qua, chỉ là một hồi ức Cô

chị là mẹ tôi, đứa em trai là Thạch Lam, khung cảnh là phố huyện sau nhà ga

Cẩm Giàng” Hoặc lời bình: Khi viết “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam sống lại một

lần nữa thời thơ ấu của mình với những mảnh đời vụn vỡ quanh ông Ngòi bút

ông hôi hổi hồi ức và kỉ niệm, cả nỗi day dứt mơ hồ ngày bé dại về kiếp nhân

sinh Thạch Lam làm ta rung động bởi trước ta chính ông đã rung động b)

Bước 2: Xây dựng hệ thống câu hỏi chuẩn bị bài cho học sinh

Trong quan niệm dạy học mới, học sinh phải tự mình làm việc với SGK, tự

tiếp nhận, tự phân tích và đánh giá tác phẩm văn học Phần Hướng dẫn học bài

trong SGK Ngữ văn phải được hiểu là những hướng dẫn giúp học sinh biết cách

tự tìm hiểu để nắm được những vấn đề nội dung và nghệ thuật cơ bản của một

tác phẩm văn học trong chương trình, đồng thời gợi mở thêm cho giáo viên

những phương hướng trong việc giảng dạy, khai thác tác phẩm văn học một

cách có hiệu quả Không những thế, hệ thống câu hỏi này còn bao hàm phương

pháp kiểm tra, đánh giá người học Vì thế, giáo viên cần nghiên cứu kĩ hệ thống

câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài Ngoài việc tận dụng tối đa những câu

hỏi hướng dẫn học bài,giáo viên có thể nêu một số câu hỏi trọng tâm mà mình

Trang 12

đã xác định ở bài mới để học sinh suy nghĩ và chuẩn bị trước cho bài học sau Như vậy hệ thống câu hỏi chuẩn bị bài không nhất thiết phải trùng lặp với hệ

thống câu hỏi hướng dẫn học bài của SGK nhưng cũng không thể thoát li toàn

bộ các câu hỏi ấy Và điều quan trọng là khi tiến hành hoạt động dạy học trên

lớp, giáo viên phải thiết kế trình tự hỏi hợp lí, khoa học (đi từ dễ đến khó, đi từ

câu hỏi tái hiện đến câu hỏi sáng tạo, câu hỏi nêu vấn đề, ) để học sinh không

cảm thấy xa lạ với những gì mình chuẩn bị ở nhà

Về mặt thể loại văn học, nếu tác phẩm tự sự tồn tại với ba yếu tố đặc trưng

là cốt truyện, nhân vật và lời kể thì hoạt động dạy học cần bám vào các yếu tố

đó và hệ thống câu hỏi cần tập trung vào ba yếu tố kể trên Và nếu nhân vật là

yếu tố trung tâm của truyện, nếu nhà văn dùng hàng loạt các chi tiết sinh động

để khắc họa nhân vật, qua đó bộc lộ các ý tưởng xã hội và thẩm mĩ của mình, thì

có thể hình dung con đường hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh nhân vật bằng hệ

thống câu hỏi sẽ diễn ra theo các bước sau: Phát hiện nhân vật / tái hiện nhân

vật / Tìm và phân tích các chi tiết đắt để làm nổi rõ nhân vật / Đánh giá ý nghĩa

xã hội của nhân vật / Tỏ thái độ đối với nhân vật

Tùy theo yêu cầu và nội dung của mỗi văn bản mà giáo viên chuẩn bị các phiếu học tập khác nhau trong việc hướng dẫn học sinh soạn bài để HS làm việc

cá nhân hoặc thảo luận nhóm để GV dạy học theo dự án

+ Ví dụ 1:Có thể phác thảo một mẫu phiếu học tập bài Chữ người tử tù của

Nguyễn Tuân

Câu 1: Đọc tiểu dẫn và ghi lại những thông tin cơ bản về tác giả Nguyễn Tuân Tên tác giả Những nét chính về cuộc đời Những nét chính về sự nghiệp sáng tác Tác phẩm tiêu biêu

Câu 2: Căn cứ vào diễn biến cốt truyện, hãychiađoạnchovănbảnChữngười tử tù

Đoạn Từ câu đến câu Ý khái quát của từng đoạn / phần

1

2

3

Câu 3: Truyện Chữ người tử tù đã tạo dựng được không khí cổ xưa bằng nhiều

ngôn ngữ cổ xưa, bằng nhiều chi tiết về người, về cảnh của một thời vang bóng

Hãy tìm trong truyện các chi tiết và từ ngữ ấy

Trang 13

truyện độc đáo Em hãy cho biết:

- Tình huống truyện của tác phẩm Chữ người tử tù là :

Câu 5: Liệt kê một số đặc điểm và dẫn chứng tạo nên vẻ đẹp của hình tượng

nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục:

Câu 6: Cảnh cho chữ của Huấn Cao trong nhà ngục là một “cảnh tượng xưa nay

chưa từng có” Đọc kĩ lại đoạn văn này, chọn ra một số chi tiết tiêu biểu và nêu

ý nghĩa các chi tiết ấy:

Chi tiết miêu tả Ý nghĩa các chi tiết

Câu 7: Để khắc hoạ cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân đã chủ yếu sử dụng thủ pháp

nghệ thuật nào? Tác dụng của thủ pháp đó ?

………

………

Câu 8: Có ý kiến cho rằng Chữ người tử tù là một tác phẩm có nhịp điệu thong

thả, đĩnh đạc, tạo nên một sự cộng hưởng hài hoà, “phục chế” nhịp sống chậm rãi, đầy nghi lễ của một thời phong kiến đã qua Em hãy tìm một số câu văn để chứng minh cho nhận xét này

………

Trang 14

để tổ chức dạy học theo dự án

Phiếu học tập số 1: Tìm hiểu khái quát về tác giả, tác phẩm

Các nhóm báo cáo kết quả thảo luận nhiệm vụ được giao

trong tiết học trước Nhóm 1: Tìm hiểu về nhà văn Nguyễn Tuân

Thuyết minh ngắn gọn về nhà văn Nguyễn Tuân (những nét chính về tiểu sử và

sự nghiệp)

Nhóm 2: Tìm hiểu về tập truyện ngắn Vang bóng một thời

Thuyết minh ngắn gọn về tập truyện “Vang bóng một thời” (hoàn cảnh sáng

tác, số lượng, nhân vật chính, nội dung)

Nhóm 3: Tìm hiểu về tác phẩm Chữ người tử tù

Thuyết minh ngắn gọn về truyện ngắn “Chữ người tử tù” (hoàn cảnh sáng tác,

nhan đề, xuất xứ, tóm tắt, bố cục)

Nhóm 4: Tái hiện cảnh Quản Ngục nhận tù nhân tại trại giam tỉnh Sơn ( trích

“Chữ người tử tù” Nguyễn Tuân)

Phiếu học tập số 2: Tìm hiểu tình huống truyện “Chữ người tử tù”

Thảo luận trả lời các câu hỏi sau Câu hỏi 1:

Toàn bộ truyện ngắn này xoay quanh sự kiện đặc biệt nào? (Cuộc gặp gỡ của ai

với ai?) Không gian, thời gian gặp gỡ giữa các nhân vật có gì đặc biệt?

Câu hỏi 4: Tình huống trong truyện ngắn Chữ người tử tù có vai trò như thế

nào trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng của truyện, khắc họa tính cách nhân vật, xây dựng cốt truyện

Phiếu học tập số 3: Tìm hiểu về nhân vật Huấn Cao

Các nhóm thảo luận về vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ

người từ tù (Nguyễn Tuân), báo cáo kết quả trong tiết học sau

Trang 15

Nhóm 1: Tìm hiểu vẻ đẹp tài năng của Huấn Cao

Câu 1: Tìm những chi tiết tiêu biểu chứng minh Huấn Cao là người nghệ sĩ tài năng?

Câu 2: Qua việc khắc họa tài năng của nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã gửi gắm tư tưởng, tình cảm gì với người nghệ sĩ và nghệ thuật thư pháp?

Nhóm 2: Tìm hiểu vẻ đẹp khí phách anh hùng của Huấn Cao

Câu 1: Tìm những chi tiết tiêu biểu chứng minh Huấn Cao là người anh hùng có khí phách hiên ngang

Câu 2: Qua việc khắc họa khí phách anh hùng của nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã gửi gắm tư tưởng, tình cảm gì về người anh hùng?

Nhóm 3: Tìm hiểu vẻ đẹp thiên lương trong sáng của Huấn Cao

Câu 1: Tìm những chi tiết tiêu biểu chứng minh Huấn Cao là người nghệ sĩ có thiên lương trong sáng

Câu 2: Qua việc khắc họa vẻ đẹp thiên lương trong sáng của Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã gửi gắm quan niệm gì về phẩm chất của người nghệ sĩ?

Nhóm 4: Tìm hiểu vẻ đẹp tài – tâm – khí phách hội tụ ở Huấn Cao

qua cảnh cho chữ

Câu 1: Tìm chi tiết chứng minh cảnh cho chữ đã hội tụ vẻ đẹp tài – tâm – khí phách của Huấn Cao

Câu 2: Qua cảnh cho chữ, nhà văn Nguyễn Tuân đã gửi gắm tư tưởng, tình cảm

và quan điểm thẩm mĩ về nghệ thuật như thế nào?

+ Ví dụ 2:Với tác phẩm văn học nước ngoài “Người trong bao” (Sê-khốp),

GV yêu cầu học sinh chuẩn bị bài ở nhà :

- Trả lời câu hỏi trong SGK

- Tự tìm hiểu về đặc trưng văn hóa Nga

- Tìm thông tin về xuất thân, phong cách nghệ thuật của tác giả

Sê-khôp

GV giao các câu hỏi đơn giản, yêu cầu học sinh tìm chi tiết theo nội dung câu hỏi yêu cầu Cụ thể là học sinh phải trả lời các câu hỏi sau:

+ Hãy nêu những đặc điểm nổi bật của nhân vật Bê-li-côp?

+ Nêu những biểu hiện của Bê-li-côp mà em cho là quái dị?

+ Tại sao Bê-li-côp lại tự thu mình lại? Điều này thể hiện tâm lí gì?

+ Hình ảnh “cái bao” nói lên điều gì ở Bê-li-côp?

+ Nhân vật Bê-li-côp đáng ghét hay đáng thương? Vì sao?

+ Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật làm nên tính chất biếm họa và hài hước

ở hình tượng nhân vật Bê-li-côp?

+ Theo em, nội dung chủ đạo của truyện ngắn “Người trong bao” là gì?

HS soạn bài theo câu hỏi trong sách và theo hướng dẫn của GV

2.2.2.2 Hoạt động dạy học trên lớp:

Từ những dự kiến đã được cụ thể hóa trong giáo án, giáo viên tiến hành giờ dạy học trên lớp với những hoạt động được tiến hành song phương giữa giáo viên và học sinh Tiến trình dạy học một văn bản tự sự trên lớp là sự tổ chức

Trang 16

hoạt động: nắm khái quát đặc trưng thể loại; xác định bố cục, kết cấu văn bản;

định hướng, xác định chủ đề, hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản và được cụ

thể hóa bằng hai bước cơ bản sau đây:

a) Bước 1: Hướng dẫn HS đọc, tìm hiểu những yếu tố ngoài văn bản

Quan điểm tiếp cận hướng vào lịch sử phát sinh cho rằng để hiểu tác phẩm

không thể bỏ qua những yếu tố ngoài văn bản Phần Tiểu dẫn trong mỗi bài học đều cung cấp bốn loại kiến thức cơ bản nhất: tác giả, tác phẩm (nếu là đoạn trích

sẽ có thêm xuất xứ), nội dung và chỉ ra thể loại tác phẩm.Việc nắm được những

kiến thức này, hiểu được những yếu tố giai cấp, lịch sử, chính trị, xã hội xung quanh tác giả và tác phẩm sẽ giúp học sinh tư duy theo quan điểm lịch sử Hơn nữa khi chú ý đến hoàn cảnh lịch sử của văn bản, học sinh hiểu được các vấn đề thời đại liên quan đến văn bản, từ đó hiểu những vấn đề mà tác giả trăn trở và gửi gắm trong tác phẩm

+ Ví dụ 1:Trước khi phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng

kinh kí sự - Lê Hữu Trác), cần lưu ý HS bối cảnh xã hội nước ta nửa cuối thế kỉ

XVIII Đàng Ngoàicũng như Đàng Trong lúc bấy giờ đều đang trong những chuyển biến quằn quại, giai cấp phong kiến suy đốn rõ rệt, chế độ phong kiến đi vào bế tắc Đời sống nhân dân ngày càng bần cùng Phong trào khởi nghĩa nông dân bùng nổ khắp nơi Sự điên đảo của thời thế đã tác động đến tầng lớp nho sĩ

Họ băn khoăn trước thời cuộc Và mỗi người là một cách giải đáp, thể nghiệm, tìm đường sống, không người nào giống người nào Lê Hữu Trác phân vân không biết nên ngả về Lê hay theo Trịnh Trong ông vẫn còn cái gánh “hiếu trung” nặng nề của đạo Khổng nhưng cũng đầy hoài nghi, chán nản công danh Cuối cùng, ông bỏ tất cả chức tước mà quay về Ông “tìm nhàn” ở con đường

làm thuốc, trở thành danh y nổi tiếng Chữ lãn (lười) trong tên hiệu Hải Thượng

Lãn Ông có ý nghĩa như thế nào cũng là một vấn đề cần gợi mở để HS hiểu rõ

con người Lê Hữu Trác: ghét danh lợi, nghe thấy hai chữ đó thì “dựng cả tóc gáy lên”, yêu thích núi non cây cỏ, bầu bạn cùng thiên nhiên, chuyên tâm vào việc làm thuốc, chữa bệnh cứu người, viết sách để dạy học trò

+ Ví dụ 2: Để học tốt các văn bản Chí Phèo của Nam Cao, Hạnh phúc của một

tang gia (Trích Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng, giáo viên lưu ý HS một số vấn đề

về văn học hiện thực Văn học hiện thực chủ trương phản ánh bản chất và quy luật khách quan của đời sống xã hội Nhà văn hiện thực xây dựng hình tượng theo nguyên tắc khách quan, cụ thể, không tô vẽ, không né tránh các hiện tượng xấu xa, đen tối, thậm chí còn lấy việc bóc trần các thứ mặt nạ giả dối làm nhiệm

vụ nghệ thuật chủ yếu của mình Yêu cầu cao nhất của văn học hiện thực là sáng tạo ra những tính cách điển hình trong hòan cảnh điển hình Tính cách điển hình

là những tính cách có cá tính sắc nét, khó quên, nhưng có sức khái quát lớn, tiêu biểu cho một hạng người hay một khuynh hướng tư tưởng lớn trong đời sống

(Chí Phèo, Xuân tóc đỏ) Hoàn cảnh điển hình là hoàn cảnh tiêu biểu cho một xã

hội, có tác dụng giải thích sự hình thành tính cách và số phận của nhân vật; làng

Vũ Đại thực chất là xã hội nông thôn Việt Nam thu nhỏ trước Cách mạng tháng Tám với hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa người nông dân với bọn cường

hào địa chủ, mâu thuẫn trong nội bộ của giai cấp thống trị Xã hội trong Số đỏ

Trang 17

tiêu biểu cho xã hội Việt Nam thời Tây hóa với một loạt thói rởm, tật xấu có thể trở thành phổ biến ở mọi chế độ xã hội: cấp tiến rởm, bình dân rởm, trí thức rởm, nghệ thuật khoa học rởm, tước hàm rởm, bằng cấp rởm, )

Lưu ý HS tìm hiểu về nghệ thuật giễu nhại, biếm họa và vị trí của đoạn trích

Hạnh phúc của một tang gia cũng là một bước quan trọng trong tiến trình tổ

chức dạy đọc hiểu những yếu tố ngoài văn bản, nhằm tạo tâm thế thâm nhập văn bản trích

b) Bước 2: Hướng dẫn học sinh đọc, tìm hiểu văn bản

Văn bản nghệ thuật là thành quả sáng tạo của người nghệ sĩ, ở đó kết tinh các phẩm chất tài năng, tư tưởng, tâm hồn của tác giả, ở đó đời sống được khái quát trong những biểu hiện cụ thể, sinh động Đọc và phân tích văn là bám vào cấu trúc, nội dung, hình thức của tác phẩm để tìm tòi, cảm thụ, đánh giá Nếu tự

sự lấy kể chuyện để tái hiện hiện thực khách quan làm phương thức phản ánh,

thì hoạt động dạy đọc - hiểu tương ứng sẽ là: tiếp cận - nhận biết, phân tích - đánh giá và tổng hợp ý nghĩa bức tranh đời sống được phản ánh trong tác phẩm

(bao gồm các cảnh đời, các số phận và tính cách con người) Quá trình này

được tiến hành cụ thể như sau:

b.1) Bước tiếp cận - nhận biết:

Bước này bao gồm các thao tác đọc văn bản, tìm hiểu ngôn từ, kết cấu, mạch văn; hướng dẫn HS nắm cốt truyện - tình tiết, bố cục, hệ thống nhân vật, hình dung ra nhân vật người kể chuyện, các biện pháp nghệ thuật chính trong lời kể (đối thoại, độc thoại, miêu tả tâm trạng, ); xác định không gian, thời gian nghệ thuật trong tác phẩm Các thao tác này phần lớn HS được

hướng dẫn thực hiện ở nhà Giáo viên nêu yêu cầu, HS dựa vào SGK và các phiếu học tập để trả lời Giáo viên cần quan tâm đến vấn đề chú giải, tìm hiểu từ ngữ khó, tạo thuận lợi cho hoạt động tiếp nhận và tìm hiểu nghĩa văn bản của

HS (Ví dụ : đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh và truyện Chữ người tử tù) Trong

tiến trình dạy trên lớp, sau khi HS phát biểu, giáo viên giúp HS bổ sung, sửa chữa chính xác các vấn đề đã nêu

Vào phủ chúa Trịnh là một đoạn trích có bố cục mạch lạc, kể, tả theo trình tự

thời gian và sự việc, chọn ngôi kể thứ nhất xưng tôi, tái hiện những điều tự

người viết chứng kiến và cảm nhận Vì thế, HS có thể tóm tắt theo trình tự: Lí

do vào phủ theo lệnh chỉ của chúa - Cảnh mắt thấy, tai nghe trên đường vào phủ chúa (cảnh ngoài - cảnh nội cung) - Khám bệnh và kê đơn Ở bước tiếp cận - nhận biết, giáo viên cần kết hợp giữa đọc văn bản và tìm hiểu từ khó theo các

chú thích Cần bổ sung tìm hiểu thêm một số từ Hán Việt khó như: bao lơn (khoảng sàn nhô ra phía ngoài tường có cửa sổ), thị vệ (quân lính bảo vệ kinh thành, cung điện, phủ của vua chúa), phi tần (các vợ nhỏ, cung nữ hầu hạ vua chúa), khải (văn bản của các quan, tường trình lên chúa), phụng kê (theo lệnh mà

kê đơn)

+ Ví dụ 1:Truyện ngắn Hai đứa trẻcủa Thạch Lam là một truyện ngắn trữ tình

giàu chất thơ Về cốt truyện, chúng ta đều nhìn nhận tác phẩm là truyện ngắn ít yếu tố tự sự, không có tình tiết li kì mà chủ yếu tác giả đi vào diễn tả những cảm

xúc, tâm trạng của nhân vật cho nên rất khó tóm tắt “Hai đứa trẻ, hai chị em có

Trang 18

trách nhiệm trông nom một chõng hàng; việc bán buôn chắc chẳng lời lãi là bao, nhưng cũng là một khoản thu phụ thêm cho gia đình nghèo Một chõng hàng nơi phố huyện có gì mà thành chuyện! Hai đứa trẻ, một truyện không có chuyện, mà ngập đầy không khí và tâm trạng” Cấu trúc của truyện là một dòng

chảy của tâm trạng nhân vật Liên từ chiều vào đêm và trên cái nền tâm trạng ấy tồn tại chông chênh những thân phận con người Cả phố huyện hiện ra qua đôi

mắt quan sát của Liên - một đứa trẻ có tâm hồn nhân hậu và đa cảm đang đứng

ở ngưỡng cửa người lớn Bắt đầu là cảm nhận của Liên về không gian và

thờigian của cảnh ngày tàn, cảnh chợ tàn nơi phố huyện.Tiếp đến là những suy

nghĩ của Liên khi “đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”, và

sau cùng là tâm trạng của Liên khi chuyến tàu đến rồi vụt qua rất nhanh, phố

huyện chìm vào “tịch mịch và đầy bóng tối“ Tâm hồn Liên lắng xuống,lịm vào

giấcngủ thì cũng là lúc truyện khép lại Khép lại trang sách, người đọc cứ phảng phất một nỗi buồn thương sâu nặng Lúc đầu nó mơ hồ khó tả và dần dần rõ nét khi xuất hiện những mảnh đời : hai chị em Liên, bà cụ Thi, mẹ con chị Tí, gia đình bác xẩm, lũ trẻ nghèo trong cảnh chợ tàn Người kể chuyện cứ từ tốn mà kể bằng một giọng văn đầy chất thơ và buồn thấm thía Thỉnh thoảng người đọc bắt

gặp những suy tư của nhà văn, chẳng hạn như: “Chừng ấy người trong bóng tối

mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”, nó

góp phần làm rõ hơn tình cảm xót thương đối với những con người sống quẩn quanh, bế tắc trong cái phố huyện nghèo nàn, xơ xác ngày xưa

+ Ví dụ 2:Truyện ngắn Chữ người tử tùcủa Nguyễn Tuân lại là một truyện ngắn

có cốt truyện tiêubiểu, trong đó các chi tiết được chọn lọc kĩ và mỗi chi tiết đều

có một hiệu quả nhất định vừa có giá trị tượng trưng cao, vừa thể hiện được tư tưởng, cách nhìn, cách đánh giá con người và cuộc sống của Nguyễn Tuân

Nhân vật trong tác phẩm được nhà văn tập trung khắc họa tính cách qua tình huống và chi tiết tiêu biểu, do đó có khả năng thể hiện tư tưởng, chủ đề tác

phẩm Giáo viên có thể hướng dẫn HS tóm tắt theo hai cách: theo nhân vật và theo kết cấu truyện

Về kết cấu, Chữ người tử tù có hai phần rõ rệt Phần đầu giới thiệu các nhân vật

tham gia vào câu chuyện cũng là phần dẫn để vào cảnh thứ hai: cảnh cho chữ Giáo viên định hướng để HS dựa vào kết cấu này tóm tắt diễn biến các tình tiết:

Chuẩn bị và thămdò - Đón tiếp, biệt đãi và xin chữ - Cho chữvà “di huấn”

Về ngônngữ kể chuyện làvừa cổ kính vừa hiện đại đạt hiệu quả cao trong

việc tái hiện không khí cổ xưa và phân tích tâm lí nhân vật

+ Ví dụ 3: Truyện ngắn Chí Phèocủa Nam Cao là một truyện ngắn nhưng lại có

tầm cỡ của một cuốn tiểu thuyết HS đã đọc văn bản ở nhà Đến lớp, giáo viên

yêu cầu tóm tắt truyện.Sơ đồ hóa truyện ngắn “Chí Phèo” :

SƠ ĐỒ TÓM TẮT TÁC PHẨM CHÍ PHÈO

Trang 19

Bá Kiến Nhà tù

Giáo viên cho học sinh xem một đoạn video clip “Làng Vũ Đại ngày ấy” về

trường đoạn có Chí Phèo :

Những hình ảnh trong video clip

HS có thể tóm tắt theo hai cách: theo kết cấu hoặc theo các chặng đời của nhân vật Chí Phèo

Theo kết cấu, có thể định hướng gồm các đoạn sau đây:

+ Đoạn mở đầu: Chí Phèo say rượu, vừa đi vừa chửi

Chí Phèo lương thiện

Chí Phèo bị lưu

manh hoá

Chí Phèo giết bá Kiến, tự sát

Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người

Khát vọng trở về lương thiện

Trang 20

+ Thuật lại cuộc đời của Chí Phèo từ lúc bị bỏ rơi, lớn lên đi làm thuê, bị đẩy vào tù rồi ra tù

+ Chí Phèo lần đầu đến nhà bá Kiến gây sự nhưng bị lão bá khôn ngoan hóa giải

+ Chí Phèo thành tay sai của bá Kiến, ngày càng tha hóa, triền miên trong những cơn say

+ Tình cờ gặp thị Nở, ăn nằm với thị trong một đêm trăng

+ Khi tỉnh rượu, bị ốm và được thị Nở chăm sóc, Chí Phèo cảm động và muốn sống chung với thị, muốn trở về cuộc sống lương thiện

+ Bị từ chối, Chí Phèo đau khổ, uất ức, lại uống rượu và xách dao đi trả thù + Chí Phèo đến nhà bá Kiến, đâm chết bá Kiến rồi tự sát

+ Đoạn kết: thái độ của mọi người và thị Nở sau cái chết của Chí Phèo và bá Kiến

Tóm tắt truyện theo cuộc đời của nhân vật Chí Phèo, có thể dựng ba ý

lớn:

+ Lai lịch:Chí Phèo là đứa con hoang, bị bỏ rơi, được người làng nhặt về nuôi; lớn lên trở thành một người nông dân lương thiện; bị bá Kiến đẩy vào tù vì ghen tuông vô cớ

+ Chí Phèo bị tha hóa sau khi ra tù; làm tay sai cho bá Kiến và trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”

+ Chí Phèo gặp thị Nở và khao khát được sống lương thiện Bị từ chối, Chí Phèo tuyệt vọng và nhận ra kẻ thù của cuộc đời mình chính là bá Kiến Chí Phèo giết chết bá Kiến rồi tự sát

Đối với đoạn văn miêu tả diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau cuộc gặp thị

Nở, HS lập sơ đồ diễn biến tâm trạng: thức tỉnh - hy vọng - thất vọng, đau đớn - phẫn uất - tuyệt vọng Sơ đồ này sẽ được triển khai chi tiết trong phần phân tích

- đánh giá

Ở bước đọc văn bản Chí Phèo, HS đã phải nhận biết tính chất đa thanh, đa giọng

của ngônngữ trần thuật Sự linh hoạt của ngôi kể - điểm nhìn là điểm đặc biệt của truyện ngắn này Giáo viên cần lưu ý một số đoạn để HS phân biệt được

những đoạn văn sử dụng lời nửa trực tiếp (đoạn thị Nở trút giận lên Chí

Phèo ); những đoạn độc thoại (đoạn Chí Phèo tỉnh rượu, hồi tưởng lại cuộc đời của mình; đoạn bá Kiến ấm đầu, lên cơn ghen ở gần cuối truyện), đối thoại hay

(đối thoại thường là một chiều: Chí Phèo với thị Nở, đối thoại bá Kiến - Chí

Phèo trước khi xảy ra án mạng)

b.2) Bước phân tích - đánh giá:

Bước này đòi hỏi ở giáo viên vốn tri thức văn hóa, văn học, vốn tri thức thể loại vững vàng và kĩ năng vận dụng các phương pháp, biện pháp mang tính nghiệp

vụ sư phạm cao Nói như giáo sư Trần Đình Sử: “Giáo viên phải biết biến năng

lực giảng thành năng lực hướng dẫn gợi mở, nâng đỡ cho hoạt động đọc của HS”, biết tổ chức và hướng dẫn để HS nhận biết và chỉ ra được cái hay, cái đẹp,

cái độc đáo không lặp lại của văn bản được phân tích trong sự gắn bó giữa nội dung và hình thức nghệ thuật Đặc biệt với khối lượng kiến thức khá lớn của một văn bản tự sự, giáo viên phải xác định đúng trọng tâm, định lượng kiến thức

Trang 21

và định hướng giảng những chỗ quan trọng và cần thiết nhất Mỗi văn bản tự sự

có một vài yếu tố chủ đạo làm nên đặc sắc của tác phẩm Giáo viên cần phải biết chọn để phân tích, tránh dàn trải, cái gì cũng giảng nhưng không sâu, không nổi

bật Rốt cục HS không đọng lại được một cái gì, không bị “ám ảnh” bởi một

điều gì từ tác phẩm khi kết thúc giờ học Hai loại truyện lãng mạn và hiện thực cũng có những điểm khác nhau nên trong phương pháp đọc - hiểu cần lưu ý đến

một số điều: đối với nhân vật trong truyện lãng mạn, bên cạnh số phận cần chú ý thêm đến ước mơ của họ (nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ, nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù) cùng với ngòi bút lí tưởng hoá nhân vật của tác giả (Huấn Cao trong Chữ người tử tù); còn với nhân vật trong truyện hiện thực thì

chủ yếu là số phận bi đát của họ trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ cùng với những mặt trái do xã hội ấy gây nên (như Chí Phèo trong truyện ngắn

cùng tên của Nam Cao và một số nhân vật trong Số đỏ của vũ Trọng Phụng)

Một điều đáng lưu ý nữa khi phân tích truyện ngắn và tiểu thuyết là cần phân

biệt phân tích nhân vật và thi pháp nhân vật Phân tích nhân vật là thao tác xác

định các đặc điểm và tính cách nhân vật Có nhiều cách tiếp cận: qua lai lịch, ngoại hình; qua nội tâm, tính cách; qua cử chỉ, lời nói, hành động; qua số phận,

bi kịch; qua phẩm chất, ước mơ, Còn phân tích thi pháp nhân vật là phân

tích bút pháp, nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn như: miêu tả trực tiếp, miêu tả gián tiếp, miêu tả tâm lí, đặc tả, Từ đó đánh giá tài năng, quan điểm của nhà văn về con người, cuộc đời và về nghệ thuật Trong thực tế, một bộ phận không nhỏ giáo viên thường tập trung khai thác nội dung của nhân vật mà

ít chú ý thi pháp nhân vật

Đặt câu hỏi hướng dẫn HS phân tích những yếu tố nội tại của văn bản tự sự nên đi theo các bước:

- Một là yêu cầu HS miêu tả ấn tượng chung, phản ứng tình cảm, cảm xúc

chung của mình về toàn bộ tác phẩm hay trích đoạn tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật (Phải có cảm thụ tổng hợp về toàn bộ tác phẩm mới có thể đi vào phân tích cụ thể một cách có phương hướng chính xác)

- Hai là gợi ý HS chọn lựa và phân tích những chi tiết quan trọng của tác phẩm

theo định hướng của ấn tượng hay của phản ứng tình cảm, cảm xúc chung về toàn bộ tác phẩm như nói ở trên

+ Ví dụ 1:Văn bản Vào phủ chúa Trịnhcủa Lê Hữu Trác thuộc loại kí sự, ghi

chép sự việc có thật nên cần lưu ý cách quan sát tỉ mỉ, kể chuyện chi tiết và ghi lại những cảm nghĩ chân thực của tác giả trước sự việc Giáo viên hướng dẫn HS đọc kết hợp với phân tích các chi tiết “ đắt ” và nêu cảm nhận để làm nổi bật các vấn đề sau:

- Quang cảnh và những sinh hoạt nơi phủ chúa

- Thái độ của tác giả (thể hiện rõ nhất trong đoạn thơ “Lính nghìn cửa vác đòng

nghiêm ngặt…Khác gì ngư phủ đào nguyên thuở nào”)

- Cách chẩn đoán, bắt mạch kê đơn cho thế tử Trịnh Cán

- Đánh giá tài năng và y đức của Lê Hữu Trác

- Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự của tác giả

Bằng đôi mắt quan sát sắc sảo, Lê Hữu Trác đã quan sát các công trình

Trang 22

kiến trúc, cảnh trí qua hình khối, màu sắc, hương thơm, âm thanh để truyền đạt

đến người đọc cảm nhận của bản thân Phải“qua mấy lần cửa” mới tới “đường

dẫn vào phủ” Đường đi trong phủ chúa thì “đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”; khắp

nơi thì “người truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”;

đâu đâu cũng có lính canh cửa Trong cung thì trang trí toàn những đồ sang

trọng, “có những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ ”, đồ dùng thì toàn “sơn

son thếp vàng”, toàn những thứ “ nhân gian chưa tùng thấy”

Giáo viên cần gợi dẫn và yêu cầu HS tìm và nhận xét được một số chi tiết

mà theo các em đó là những chi tiết “đắt” Giáo viên cần tôn trọng cảm nhận riêng của HS, không gò ép HS phải nói theo ý mình Điều quan trọng là HS phải

lí giải và phân tích để bảo vệ ý kiến Có thể thấy một số chi tiết đặc sắc thể hiện được chủ đề và nhãn quan kí sự sắc sảo của tác giả:

+ Chi tiết về nội cung thế tử: Tác giả miêu tả đường đi tối om, mấy lần trướng

gấm, quang cảnh xung quanh phòng được miêu tả hết sức chi tiết: phòng rộng, giữa là sập thiếp vàng, ghế rồng sơn son, màn là che ngang sân, cây nến to cắm trên giá bằng đồng, Tất cả đã nói lên nguồn gốc căn nguyên của con bệnh, do

tù túng, ngột ngạt, thiếu khí trời mà ra

+ Chi tiết khám bệnh cho thế tử:thầy thuốc già yếu trước khi khám bệnh được

truyền lạy thế tử để nhận lại mộtlời ban tặng từ đứa trẻ 5, 6 tuổi:“Ông này lạy khéo!” Chi tiết này cùng với lời chú thích về phòng trà của tác giả dường như

thấp thoáng chút hài hước

+ Chi tiết “Thánh thượng đang ngự”: có mấy người cung nhân đứng xúm xít

Đèn sáp chiếu sáng, làm nổi bật màu mặt phấn và màu áo đỏ Xung quanh lấp lánh hương hoa ngào ngạt, tự nó phơi bày hiện thực hưởng lạc nơi phủ chúa mà không cần phải có một lời bình luận nào

+ Các chi tiết nói về quyền lực của quan Chánh đường, ví dụ như điếm “Hậu mã

quân túc trực”, nơi ngồi nghỉ của vị quan này; chi tiết khi quan đến, mọi người

đều đứng dậy, rồi ông ngồi trên Hầu như mọi công việc được kể trong đoạn trích đều do quan Chánh đường quyết định

Cách lí giải về bệnh của thế tử Trịnh Cán cho thấy Lê Hữu Trác là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm Ông hiểu rõ căn bệnh của thế tử, nhưng lại sợ chữa có hiệu quả ngay sẽ được chúa tin dùng, bị công danh trói buộc Để tránh được chuyện này, cần chữa bệnh cầm chừng, cho thuốc vô thưởng vôphạt Nhưng làm thế thì trái với y đức, trái lương tâm, phụ lòng ông cha Hai suy nghĩ này giằng

co, xung đột nhau Cuối cùng, lương tâm, phẩm chất trung thực của người thầy thuốc đã thắng Tác giả đưa ra những kiến giải hợp lí, thuyết phục, có cách chữa đúng bệnh Có thể dùng chi tiết này để đánh giá nhân cách Lê Hữu Trác, thái độ

của ông đối với danh lợi (Khái niệm danh lợi xưa thường được các nhà nho sử

dụng để chỉ việc làm quan Làm quan có danh vị, lại có lợi - bổng lộc)

- Để đánh giá thái độ, tình cảm của Lê Hữu Trác, giáo viên cần yêu cầu HS xác định rõ:

+ Người kể lại các sự việc là ai ? (nhân vật ‘tôi” - Lê Hữu Trác)

+ Danh tính người đó thế nào ? (con một gia đình quý tộc ở làng Liêu Xá, huyện

Ngày đăng: 21/04/2023, 15:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thể hiện khá rõ các chặng đường khác nhau trong cuộc đời của Chí Phèo.  Qua sơ đồ, học sinh sẽ nhìn lại, nắm vững nội dung tác phẩm một cách sâu sắc - Phương pháp dạy đọc – hiểu các tác phẩm văn học tự sự trong chương trình ngữ văn 11
Sơ đồ th ể hiện khá rõ các chặng đường khác nhau trong cuộc đời của Chí Phèo. Qua sơ đồ, học sinh sẽ nhìn lại, nắm vững nội dung tác phẩm một cách sâu sắc (Trang 19)
Hình  thức:  Hoạt  động  cá - Phương pháp dạy đọc – hiểu các tác phẩm văn học tự sự trong chương trình ngữ văn 11
nh thức: Hoạt động cá (Trang 37)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w