1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phát triển năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng thông qua hệ thống bài tập tiếp cận pisa chương 1, 2 hoá học 12

52 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển năng lực vận dụng kiến thức kỹ năng thông qua hệ thống bài tập tiếp cận PISA chương 1, 2 – Hóa học 12
Tác giả Phạm Thị Hải Linh
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Chuyên Nguyễn Tất Thành
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Báo cáo sáng kiến
Năm xuất bản 2022
Thành phố Yên Bái
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cần thay đổi thực trạng các câu hỏi và BTHH còn nặng kiến thức hàn lâm mà chưa chú trọng đến việc học sinh ứng dụng các kiến thức, kĩ năng trong hóa học, khả năng phân tích, lí giải hay

Trang 1

1

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO YÊN BÁI TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN TẤT THÀNH

BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ

KĨ NĂNG THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾP CẬN

PISA CHƯƠNG 1,2 – HÓA HỌC 12”

Lĩnh vực: Giáo dục đào tạo (Chuyên ngành: Hóa học)

NĂM HỌC: 2021 – 2022

Họ và tên : Phạm Thị Hải Linh

Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Chức vụ : Giáo viên

Tổ chuyên môn: Lí - Hóa – Sinh

Yên Bái, tháng 01 năm 2022

Trang 2

2

I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng thông qua hệ thống bài

tập tiếp cận PISA chương 1, 2- Hóa học 12”

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo

3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: Sáng kiến có thể áp dụng cho việc giảng dạy môn Hóa học cấp THPT

4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 12 năm 2021

Sáng kiến đã được áp dụng tại trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành năm học 2020 – 2021,

2021 – 2022

5 Tác giả:

Họ và tên: Phạm Thị Hải Linh

Ngày sinh: 2/9/1985

Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Hóa học

Chức vụ công tác: Giáo viên Hóa học

Nơi công tác: Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành thành phố Yên Bái

Địa chỉ liên hệ: Tổ 8 phường Yên Ninh - thành phố Yên Bái – Tỉnh Yên Bái

Điện thoại: 0989815146

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN

1 Tình trạng giải pháp đã biết

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Chính

sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đã đòi hỏi các nước phải tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải cách nền giáo dục

Tháng 4 năm 2012, lần đầu tiên nước ta có khoảng 5.100 HS ở độ tuổi 15 của 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố cùng với hơn 65 quốc gia khác trên thế giới tham gia vào một trong những chương trình đánh giá quốc tế có uy tín và phổ biến nhất hiện nay, đó là PISA- (viết tắt

của cụm từ tiếng Anh “Program for International Student Assessment”, được dịch là “Chương

trình đánh giá HS quốc tế” do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (“Organization for Economic Co-operation and Development”, thường được viết tắt là OECD) khởi xướng và chỉ

đạo nhằm đánh giá khả năng của học sinh 15 tuổi của các nước và vùng lãnh thổ trong và ngoài OECD, về Toán, Khoa học và Đọc hiểu Chương trình được thực hiện từ năm 2000 và cứ 3 năm

lặp lại một lần Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ

năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo dục quốc gia Từ kết quả của cuộc khảo sát, PISA sẽ đưa ra các chỉ số đánh giá tính hiệu quả- chất lượng của hệ thống giáo dục mỗi nước tham gia, qua đó chính phủ các nước rút ra bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông của nước mình

Hóa học là một môn khoa học có sự gắn bó chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm Việc vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn là cấp thiết và mang tính thời sự Cần thay đổi thực trạng các câu hỏi và BTHH còn nặng kiến thức hàn lâm mà chưa chú trọng đến việc học sinh ứng dụng các kiến thức, kĩ năng trong hóa học, khả năng phân tích, lí giải hay giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn

Với những nội dung đánh giá trên của PISA cho thấy việc sử dụng các câu hỏi và bài tập tiếp cận PISA trong các môn học nói chung và Hóa học nói riêng giúp học sinh phát triển các năng lực cần thiết để thích ứng với cuộc sống xã hội hiện đại Điều này rất quan trọng và mang

Trang 3

3

tính thiết thực cao phù hợp với định hướng đổi mới nền giáo dục hiện nay Tuy nhiên chúng ta lại đang rất thiếu những câu hỏi và bài tập có thể đáp ứng được những mục tiêu này Từ những lý

do trên, chúng tôi chọn giải pháp: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng thông qua

hệ thống bài tập tiếp cận PISA chương 1,2- Hóa học 12’’

2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tiếp cận PISA trong dạy học chương

1,2- Hóa học 12 để phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Hóa học ở trường THPT

2.1- Mục đích của giải pháp

Vận dụng dạy học sử dụng hệ thống bài tập tiếp cận PISA trong dạy học chương 1,2 – Hoá

học 12 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh góp phần đổi mới

phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập của HS và nâng cao kết quả dạy học hoá học ở trường trung học phổ thông chuyên Nguyễn Tất Thành nói riêng, các trường THPT trên địa bàn tỉnh Yên Bái nói chung

2.2- Nội dung giải pháp

2.2.1- Tính mới của giải pháp

- Thiết kế hệ thống bài tập tiếp cận PISA chương 1,2- Hóa học lớp 12 gồm 18 bài với 69

câu hỏi trong dạy học Hóa học

- Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập tiếp cận PISA trong dạy học chương 1,2- Hóa học

12 để làm cho việc dạy học Hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn Hóa học, từ đó phát triển năng lực VDKTKN cho HS phù hợp với điều kiện giáo dục nhà trường và định hướng đổi mới phương pháp dạy học

2.2.2- Nội dung

2.2.2.1 Bài tập hóa học

2.2.2.1.1 Khái niệm về bài tập hóa học

Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học”

BTHH là một yêu cầu mà học sinh nhận được và cần giải quyết bằng những suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học Nó có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình dạy học hóa học không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức- mà dẫn đường cho quá trình hình thành kiến thức, tạo hứng thú nhận thức trên con đường tìm ra lời giải dẫn tới đáp số đạt được khi giải bài tập Bài tập hóa học có vai trò quan trọng trong mọi khâu, mọi bài dạy hóa học Bài tập hóa học không chỉ là phương tiện mà còn được coi là một phương pháp quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng dạy học

2.2.2.1.2 Ý nghĩa của bài tập hóa học

Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, bài tập hoá học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập hoá học vừa là mục đích, vừa là nội dung lại vừa là phương pháp dạy học hiệu quả, nó không chỉ cung cấp cho HS kiến thức, là con đường giành lấy

kiến thức mà còn mang lại niềm vui trong quá trình khám phá, tìm tòi, phát hiện để tìm ra đáp số

Bài tập hóa học được sử dụng thường xuyên trong quá trình dạy học, bởi nó có vai trò và ý nghĩa rất to lớn, cụ thể như:

* Ý nghĩa trí dục

- Giúp làm chính xác hóa khái niệm, khắc sâu và mở rộng kiến thức cho người học Giúp học sinh ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tự nhiên, hấp dẫn thay vì phải thống kê kiến thức một cách gò ép, dễ nhàm chán

Trang 4

4

- Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng được các kiến thức đã học, biến những kiến thức trực tiếp thu được qua các bài giảng của thầy cô thành kiến thức của chính mình Khi vận dụng được kiến thức nào đó, kiến thức đó sẽ được nhớ lâu

- Ôn tập, củng cố và hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất

- Rèn luyện các kĩ năng hóa học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo CTHH và PTHH… nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS

- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất, bảo vệ môi trường

- Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học, thực hành thí nghiệm, phân tích hiện tượng, tính toán…

- Là một phương tiện hữu ích, tích cực giúp kiểm tra, đánh giá năng lực HS

* Ý nghĩa phát triển:

Phát triển ở HS các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh, sáng tạo, rèn trí thông minh cho HS

* Ý nghĩa giáo dục:

- Rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học

- Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động: lao động có tổ chức, có

kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc

2.2.2.1 3 Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập hóa học mới

Việc xây dựng BTHH với những định hướng đổi mới của môn Hóa học nói riêng và định hướng đổi mới của giáo dục nói chung là rất quan trọng Xu hướng xây dựng như sau:

- Bài tập hóa học phải đa dạng, có nội dung hóa học thiết thực, gắn với thực tiễn trên cơ sở của định hướng xây dựng chương trình hóa học phổ thông

- Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hóa học và hành động cho HS

- Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng của hóa học trong thực tiễn Thông qua các dạng bài tập này làm cho HS thấy được việc học hóa học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hóa học rất gần gũi thiết thực với cuộc sống Đồng thời, các bài tập hóa học cần khai thác các nội dung về vai trò của hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội môi trường và các hiện tượng tự nhiên, kích thích được sự đam mê, hứng thú học tập của HS đối với môn hóa học

- Bài tập hóa học định lượng được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi các thuật toán, mà cần chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính được sử dụng nhiều trong tính toán hóa học

- Đa dạng hóa các hình thức câu hỏi, bài tập, như: sử dụng bảng biểu, sơ đồ, văn bản, hình ảnh, câu hỏi trắc nghiệm khách quan, câu hỏi tự luận ngắn, câu hỏi mở

Như vậy, xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay đó là: giảm dần những bài tập

có tính chất học thuộc, thay thế bằng các bài tập đòi hỏi sự tìm tòi và tư duy Do đó, nó hướng đến rèn luyện cho HS khả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học ở các mặt: lí thuyết, thực hành và ứng dụng

2.2.2.2 Phương pháp dạy học sử dụng BTHH tiếp cận PISA

2.2.2.2.1 Tổng quan về PISA

2.2.2.2.1.1 PISA là gì?

Trang 5

5

Chương trình Đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assessment- PISA) là một khảo sát quốc tế do tổ chức OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) đề xuất để đánh giá khả năng của học sinh 15 tuổi của các nước và vùng lãnh thổ trong và ngoài OECD về toán, khoa học và đọc hiểu Chương trình được thực hiện

từ năm 2000 và cứ 3 năm lặp lại một lần

2.2.2.2.1.2 Mục đích của PISA

Mục tiêu tổng quát của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc, học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào Ngoài ra chương trình đánh giá PISA còn hướng vào các mục đích cụ thể sau:

(1) Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu, Toán học và Khoa học của học sinh ở độ tuổi 15

(2) Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đến kết quả học tập của học sinh

(3) Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy – học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh

2.2.2.2.1.3 Đặc điểm của PISA

a) Quy mô của PISA rất lớn và có tính toàn cầu Qua 5 cuộc khảo sát đánh giá, ngoài các nước thuộc khối OECD còn có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ là đối tác của khối OECD đăng

ký tham gia

b) PISA được thực hiện đều đặn theo chu kì (3 năm 1 lần) tạo điều kiện cho các quốc gia

có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo dục

cơ bản

c) Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất chỉ chuyên đánh giá về năng lực phổ thông của học sinh ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia

d) PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:

+ Chính sách công (public policy) Các chính phủ, các nhà trường, giáo viên và

phụ huynh đều muốn có câu trả lời cho tất cả các câu hỏi như: “Nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống trưởng thành chưa?”, “Phải chăng một số loại hình học tập và giảng dạy của những nơi này hiệu quả hơn những nơi khác ?”…

+ Hiểu biết phổ thông (literacy): Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo

dục cụ thể, PISA chú trọng việc đánh giá về các năng lực của HS trong việc ứng dụng các kiến thức và kĩ năng phổ thông cơ bản vào các tình huống thực tiễn Ngoài ra còn xem xét đánh giá khả năng phân tích, lý giải, truyền đạt một cách có hiệu quả các kiến thức và kĩ năng đó thông qua cách HS xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề

+ Học suốt đời (lifelong learning): HS không thể học tất cả mọi thứ cần biết trong nhà

trường Để trở thành những người học suốt đời có hiệu quả, HS không những phải có kiến thức

và kỹ năng phổ thông mà còn có cả ý thức về động cơ học tập và cách học Do đó PISA sẽ vừa khảo sát kỹ năng của HS về Đọc hiểu, Toán và Khoa học vừa khảo sát HS về cả động cơ, niềm tin vào bản thân cũng như các chiến lược học tập [16]

2.2.2.2.2.1 Năng lực được đánh giá trong PISA

PISA tập trung vào đánh giá 3 mảng năng lực chính: Năng lực toán học phổ thông (mathematical literacy); Năng lực đọc hiểu phổ thông (reading literacy); Năng lực khoa học phổ thông (scientific literacy) Đây là các năng lực cần thiết trong cuộc sống của mỗi người, được hình thành và phát triển từ khi là HS và cho đến suốt đời

Trang 6

6

Các năng lực được đánh giá trong PISA qua các kì như sau:

Năm 2000 Năm 2003 Năm 2006 Năm 2009 Năm 2012 Năm 2015 Năm 2018

Khoa học

Giải quyết vấn đề

Đọc hiểu

Toán học Khoa học Giải quyết vấn đề Năng lực tài chính

Đọc hiểu

Toán học

Khoa học Giải quyết vấn đề Năng lực tài chính Năng lực

sử dụng máy tính

Đọc hiểu Toán học

Khoa học

Giải quyết vấn đề Năng lực tài chính Năng lực

sử dụng máy tính

Đọc hiểu

Toán học Khoa học Giải quyết vấn đề Năng lực tài chính Năng lực

sử dụng máy tính Năng lực công dân toàn cầu

a) Năng lực toán học phổ thông (mathematical literacy): Khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán học trong cuộc sống; Vận dụng và phát triển tư duy toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách linh hoạt

b) Năng lực đọc hiểu phổ thông (reading literacy): năng lực đọc hiểu là hiểu, sử dụng, phản ánh và liên kết vào các văn bản viết, nhằm đạt được các mục tiêu cá nhân, phát triển kiến thức và tiềm năng cá nhân, và tham gia vào xã hội

c) Năng lực khoa học phổ thông (scientific literacy): năng lực khoa học được đánh giá thường xuyên trong các chu kì của PISA Thuật ngữ “năng lực khoa học” thể hiện khả năng bao quát gồm ba năng lực khoa học cụ thể: Xác định các vấn đề khoa học; Giải thích các hiện tượng theo khoa học; Sử dụng bằng chứng khoa học

2.2.2.2.2.2 Cấu trúc bài tập trong đề thi của PISA

Năng lực phổ thông của PISA được đánh giá qua 1 cluster là 1 phần thi 30 phút, gồm 1 chuỗi các unit (bài tập), 1 unit bao gồm phần dẫn (common stimulus) kèm theo 1 bộ các item liên quan, mỗi item là một câu hỏi/ nhiệm vụ được mã hóa riêng lẻ Việc cho điểm của các câu trong một unit là độc lập Mỗi unit gồm 4 phần: Phần dẫn; Phần câu hỏi; Các phương án trả lời; Mã hóa

Phần dẫn (common stimulus) có thể trình bày dưới dạng chữ, bảng, biểu đồ, …

nhằm thiết lập ngữ cảnh chung cho bộ các item liên quan Các ngữ cảnh được lựa chọn dựa trên mối quan tâm và cuộc sống của HS, phải mang tính xác thực, khuyến khích đề cập đến khái niệm, kiến thức, quy trình được đánh giá Bối cảnh, câu hỏi, câu trả lời phải nằm trong khả năng của

HS Ngôn ngữ dễ hiểu, trong sáng để HS có thể hiểu tài liệu và câu hỏi, nội dung phải đạt các yêu cầu sau: Gần gũi với HS ở các nước, thu hút được mối quan tâm của HS, có thể đánh giá được các khái niệm và phương pháp khoa học

Phần câu hỏi có các đặc điểm sau: Câu hỏi được lựa chọn phải mới, hay và có sức hấp dẫn

với HS, cho phép đánh giá kiến thức về một khái niệm, quy trình trong một câu hỏi Tất cả các phần trong câu hỏi phải liên quan đến cùng một khái niệm hoặc quy trình, phải liên quan đến bối cảnh Câu hỏi phải rõ ràng, không mơ hồ, dẫn dắt để các câu trả lời của HS có thể rơi vào các câu trả lời tiêu chuẩn (đáp án) Đối với đọc hiểu thì câu hỏi phải là một câu “hưởng ứng” văn bản

Trang 7

7

Các kiểu câu hỏi được sử dụng (trong các UNIT):

- Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (Multiple choice);

- Câu hỏi Có – Không, Đúng – Sai phức hợp (Yes – No; True – False complex);

- Câu hỏi đóng đòi hỏi trả lời (dựa trên những trả lời có sẵn) (Close – constructed response

question);

- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn (Short response question);

- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài (khi chấm sẽ phải tách ra từng phần để cho điểm) (Open –

constructed` response question); [17]

2.2.2.2.2.3 Cách chấm điểm

PISA sử dụng thuật ngữ mã hóa (coding), mỗi mã của câu trả lời được quy ra điểm số tùy theo câu hỏi Tuy nhiên cũng có một số dạng câu hỏi không phải mã hóa, đó là câu hỏi nhiều lựa chọn đơn giản hoặc phức hợp, phương án trả lời của học sinh được nhập trực tiếp vào máy tính Các mã thể hiện mức độ trả lời bao gồm: Mức đạt được tối đa cho mỗi câu hỏi và được quy ước gọi là “Mức đầy đủ”, mức “Không đạt” mô tả các câu trả lời không được chấp nhận và

bỏ trống không trả lời Một số câu hỏi có thêm “Mức chưa đầy đủ” cho những câu trả lời thỏa mãn một phần nào đó Sử dụng các mức này để thay cho khái niệm “Đúng” và “Không đúng”

2.2.2.3 Biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng thông qua hệ thống bài tập tiếp cận PISA chương 1,2 – Hoá học 12

2.2.2.2.3.1 Phân tích chương trình chương 1, 2- Hóa học 12

Cấu trúc, nội dung chương Este-Lipit

Mục tiêu cần đạt được

Căn cứ vào tài liệu: Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học của Bộ Giáo dục

và Đào tạo, tôi nhận thấy những mục tiêu cần đạt được khi dạy học chương Este- Lipit như sau:

* Kiến thức:

- HS nêu được khái niệm este, lipit

- HS nêu được tính chất vật lý; tính chất hóa học của este, lipit và ứng dụng của chúng trong đời sống

- HS trình bày được cách điều chế este từ các chất cho trước

* Kĩ năng:

- HS viết được các phương trình hóa học thể hiện tính chất, điều chế este – lipit

- HS giải thích được các hiện tượng thực tế dựa vào tính chất của este – lipit: tại sao không nên dùng xà phòng để giặt rửa trong nước cứng

- HS có thể vận dụng các kiến thức đã học để điều chế ra các chất mới có ý nghĩa với cuộc sống: điều chế tinh dầu, son môi, nước rửa chén, xà phòng…

- HS giải được các bài tập định lượng liên quan đến este – lipit

- Rèn cho HS kĩ năng thực hành thí nghiệm; kĩ năng quan sát và giải thích các hiện tượng dựa vào các kiến thức đã được học về este – lipit

* Tình cảm và thái độ:

- HS có thái độ nghiêm túc để tìm hiểu và đưa ra các giải pháp tối ưu trong quá trình học

tập

- HS biết sử dụng xà phòng và chất tẩy rửa một cách phù hợp

- HS có thái độ hợp tác tích cực, quan tâm đến những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống

- Từ các vấn đề của thực tiễn HS sẽ có những ý tưởng sáng tạo để giải quyết vấn đề nhằm

mục đích vận dụng các kiến thức đã học để phục vụ tốt nhất cho cuộc sống con người Từ đó hình thành sự đam mê nghiên cứu khoa học

Trang 8

+ NL cá nhân: Mỗi HS khi tham gia hoạt động nhóm đều được giao những nhiệm vụ cụ thể

và luôn có cơ hội để phát triển năng lực cá nhân như năng lực tìm hiểu, chọn lọc thông tin; năng lực giao tiếp; năng lực nhận xét, đánh giá…

+ NL tư duy, sáng tạo: Khi làm việc nhóm, các thành viên luôn có cơ hội để thể hiện tư duy cá nhân, tính sáng tạo của HS để giải quyết vấn đề

2.2.2.2.3.1.2 Cấu trúc, nội dung chương Cacbohiđrat

* Kiến thức:

- HS nêu được khái niệm, phân loại, đặc điểm cấu tạo, tính chất vật lí (trạng thái, màu, mùi, nhiệt độ nóng chảy, độ tan), ứng dụng của các hợp chất cacbohiđrat (glucozơ, saccarozơ, tinh bột, xenlulozơ)

- HS trình bày được tính chất hóa học của glucozơ (Tính chất của ancol đa chức, anđehit đơn chức, phản ứng lên men rượu) Tính chất hóa học của saccarozơ (thủy phân, tác dụng với dung dịch Cu(OH)2) Tính chất hóa học của tinh bột và xenlulozơ (phản ứng thủy phân, phản ứng của hồ tinh bột với iot, phản ứng của xenlulozơ với HNO3)

* Kĩ năng:

- Quan sát mẫu vật: đường nho, mật ong, đường phèn, tinh bột, sợi bông, vải lụa, cao su, nhựa, nilon

- Viết được:

+ Công thức cấu tạo dạng mạch hở, mạch vòng của các hợp chất cacbohiđrat

+ Các phương trình hóa học (PTHH) mô tả tính chất hóa học của các hợp chất cacbohiđrat

- Phân biệt được:

+ Dung dịch glucozơ với glixerol, glucozơ với fructozơ bằng phương pháp hóa học

- Tiến hành thí nghiệm (lắp ráp dụng cụ thí nghiệm, sử dụng hóa chất, nhận xét hiện tượng

và giải thích, )

- Tính toán: Giải các dạng bài toán

* Thái độ:

- Nhận thức được vai trò cacbohiđrat trong đời sống

- HS hứng thú và say mê học tập, phương pháp tư duy và nghiên cứu hóa học

- Tôn trọng, tin tưởng ủng hộ chính sách bảo vệ môi trường của nhà nước Phản đối và sẵn sàng đấu tranh với các hành vi gây hại cho môi trường

2.2 Nguyên tắc và quy trình tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập tiếp cận PISA chương 1,2- Hóa học 12

Trong quá trình tuyển chọn và xây dựng bài tập tiếp cận PISA chương 1,2- Hóa học 12 ,

chúng tôi đều tuân theo các cơ sở và nguyên tắc sau:

2.2.1 Cơ sở để tuyển chọn, xây dựng

Có hai cơ sở quan trọng để thiết kế bài tập tiếp cận PISA chương 1,2- Hóa học 12

* Cơ sở lý thuyết

Trang 9

9

- Dựa vào các mục tiêu chuẩn kiến thức, kĩ năng và phát triển năng lực chương 1,2- Hóa học

12, bao gồm: Cấu tạo phân tử, tính chất vật lý và tính chất hóa học, ứng dụng, điều chế và các kiến

thức có liên quan đến chương este-lipit và chương cacbohiđrat

- Dựa vào mục tiêu và nội dung đánh giá của PISA

* Cơ sở thực nghiệm

- Dựa vào các vấn đề trong thực tiễn đời sống liên quan đến nội dung kiến thức phần

este-lipit và cacbohiđrat

- Dựa trên các năng lực (như: năng lực đọc hiểu, năng lực khoa học, năng lực toán học) và

kĩ năng (như: kĩ năng phát hiện và giải quyết các vấn đề, …)

- Đối tượng HS, phù hợp với tâm lí lứa tuổi, lịch sử địa phương, môi trường sống

Như vậy, để xây dựng bài tập hoá học theo hướng tiếp cận PISA có thể xuất phát từ:

- Những kiến thức và kĩ năng cần kiểm tra

- Những tình huống, những vấn đề trong thực tế đời sống có liên quan đến kiến thức hoá học

- Một số bài tập mẫu của PISA

- Một số bài tập hoá học cơ bản có sẵn

2.2.2 Nguyên tắc

Khi tuyển chọn và xây dựng BTHH theo tiếp cận PISA cần đảm bảo năm nguyên tắc sau:

(1) Nội dung bài tập phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, hiện đại và mục tiêu dạy học

Đây là nguyên tắc quan trọng trong quá trình xây dựng bài tập Khi xây dựng bài tập các thông tin trong phần dẫn hay các dữ liệu thực tiễn trong bảng số liệu, biểu đồ, cần đảm bảo tính chính xác, tính khoa học Các bài tập có liên quan đến khoa học công nghệ cần mang tính thời

sự, hiện đại, phù hợp mục tiêu dạy học

(2) Nội dung bài tập phải đảm bảo rõ ràng, súc tích, không quá nặng về tính toán

Các bài tập nên tập trung vào kiến thức hóa học, rèn luyện và phát triển cho học sinh các năng lực phổ thông về đọc hiểu, toán, khoa học như: Năng lực đọc hiểu, phân tích, chọn lọc thông tin trong văn bản khoa học, năng lực vận dụng những phép toán vừa sức học sinh để giải

quyết các vấn đề trong đời sống, năng lực nhận thức, tư duy hóa học và hành động

BTHH định lượng được tuyển chọn và xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi các thuật toán, không yêu cầu HS phải nhớ quá nhiều các công thức mà cần chú trọng phép tính được sử dụng nhiều trong tính toán hóa học, có thể sử dụng bảng công thức kèm theo

(3) Nội dung câu hỏi phải đảm bảo tính thực tiễn

BTHH cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức Hóa học và các ứng dụng của Hóa học trong thực tiễn, cần khai thác các nội dung về vai trò của Hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội, sức khỏe, môi trường, các hiện tượng tự nhiên, khoa học trái đất, khoa học công nghệ…

(4) Nội dung BTHH cần phát huy tính tích cực của HS

Hệ thống bài tập được lựa chọn giúp cho HS hiểu sâu về bản chất, phát huy tối đa khả năng

tư duy của học sinh, tạo cho học sinh thói quen suy nghĩ và hoạt động độc lập, rèn luyện năng lực tư duy phân tích tổng hợp, tư duy so sánh, khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề và hơn thế, cho phép học sinh bộc lộ và phát triển năng lực tư duy sáng tạo, cụ thể:

- Bài tập có chứa đựng những " tình huống có vấn đề " đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức,

kĩ năng, kinh nghiệm đã biết vào thực tiễn để giải quyết

- Bài tập đòi hỏi HS phải kết hợp các thao tác tư duy, các phương pháp phán đoán từ kiến thức, kĩ năng đã biết để tìm ra " tình huống có vấn đề "

- Bài tập có nhiều cách giải hướng HS tìm ra cách giải ngắn gọn cách tư duy mới lạ nhưng vẫn đúng và chính xác

Trang 10

10

(5) Đa dạng hóa các loại hình câu hỏi và bài tập

Tăng cường sử dụng các bài tập trên cơ sở phân tích bảng biểu, sơ đồ, văn bản, hình ảnh,

mô hình thí nghiệm, câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn, câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài, …

2.2.3 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập tiếp cận PISA

Dựa trên những nguyên tắc trên, có thể thấy BTHH theo tiếp cận PISA hướng đến rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng lập luận, tư duy và giải quyết các vấn đề liên quan đến hóa học cho học sinh Vì vậy, việc xây dựng BTHH theo tiếp cận PISA có thể xuất phát từ:

- Những kiến thức và các mức độ năng lực cần kiểm tra

- Những tình huống, vấn đề thực tế trong đời sống có liên quan đến hóa học

- Một số bài tập mẫu của PISA

- Một số bài tập hóa học cơ bản có sẵn

2.2.3.1 Lựa chọn đơn vị kiến thức phù hợp với các mục tiêu giáo dục

Căn cứ theo mục tiêu giáo dục (về kiến thức, kĩ năng, thái độ - tình cảm) của chương trình hóa học lớp 12 đã được nêu ở mục 2.1.1; Căn cứ theo những định hướng đổi mới trong kiểm tra đánh giá môn Hóa học ở trường THPT và phát huy những điểm tích cực của dạng bài tập tiếp cận PISA Khi xây dựng hệ thống bài tập tiếp cận PISA chương 1,2 -Hóa học 12, cần lựa chọn những đơn vị kiến thức không chỉ có ý nghĩa về mặt hóa học mà còn gắn liền với thực tiễn, với đời sống của cá nhân và cộng đồng, phát huy được năng lực khoa học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn

đề của HS nhưng không quá khó, quá trừu tượng hoặc làm mất đi bản chất hóa học

2.2.3.2 Chọn chủ đề, tình huống, bối cảnh của phần dẫn

Trên cơ sở các đơn vị kiến thức lựa chọn phù hợp với mục tiêu và dựa trên 3 mức độ năng lực khoa học cần đạt của HS, đã chọn lựa những chủ đề để thiết kế thành các bài tập tiếp cận theo PISA:

Chương 1: Este-Lipit

Chương 2: Cacbohiđrat

2.2.3.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập theo các chủ đề

Trên cơ sở các chủ đề, tình huống đã xác định, tiến hành xây dựng hệ thống bài tập, câu

hỏi theo các hướng như:

* Xây dựng các bài tập tương tự các bài tập đã có

Từ các bài tập hóa học và những bài tập của PISA đã có phù hợp với các ý tưởng chủ đề

trên, ta có thể dựa vào bài tập đó để tạo ra những bài tập khác tương tự theo các cách như:

- Giữ nguyên hiện tượng và chất tham gia phản ứng, chỉ thay đổi lượng chất

- Giữ nguyên nội dung bài tập, thay đổi nội dung câu hỏi

- Giữ nguyên hiện tượng và thay đổi chất tham gia phản ứng

- Thay các số liệu bằng chữ để tính toán tổng quát

- Thay đổi dạng câu hỏi: tự luận trả lời ngắn hoặc dài, trắc nghiệm khách quan, câu hỏi trả

lời trên những đáp án có sẵn…

- Chọn những chi tiết hay ở các bài tập để phối hợp lại thành bài mới

* Xây dựng bài tập hoàn toàn mới

Thông thường, có hai cách xây dựng bài tập mới là:

- Dựa vào tính chất hóa học và các quy luật tương tác giữa các chất để đưa ra bài tập mới

- Lấy những ý tưởng, nội dung, những tình huống thực tiễn hay và quan trọng ở nhiều bài,

thay đổi nội dung, cách hỏi, số liệu để phối hợp lại thành bài mới

2.2.3.4 Kiểm tra thử

Trang 11

11

Thử nghiệm áp dụng BTHH đã thiết kế trên đối tượng HS thực nghiệm để kiểm tra hệ thống bài tập đã thiết kế về tính chính xác, khoa học, thực tế của kiến thức cũng như độ khó, tính

ưu việt, tính khả thi và khả năng áp dụng của bài tập

2.2.3.5 Chỉnh sửa và hoàn thiện hệ thống bài tập

Thay đổi, chỉnh sửa nội dung, số liệu, tình huống trong bài tập sau khi đã cho kiểm tra thử để hệ thống bài tập có tính chính xác, khoa học về mặt kiến thức, kĩ năng, có giá trị về mặt thực tế và phù hợp với đối tượng HS và mục tiêu kiểm tra - đánh giá, mục tiêu giáo dục của môn

Hóa học ở trường THPT

Sắp xếp, hoàn thiện hệ thống câu hỏi và bài tập một cách khoa học theo các mức độ biết, hiểu, vận dụng và vận dụng sáng tạo kiến thức Đưa ra hệ thống bài tập tiếp cận PISA bám sát nội dung chương trình SGK, đảm bảo phù hợp với trình độ kiến thức của HS Trong quá trình hoàn thiện có thể tham khảo thêm ý kiến của đồng nghiệp để thực hiện tốt khâu này Việc chăm chút cho bài tập ở khâu trình bày, chỉnh sửa các lỗi chính tả hoặc các chi tiết chưa hợp lí sẽ làm tăng

giá trị của bài tập khi sử dụng

2.3 Hệ thống bài tập tiếp cận PISA chương 1,2- Hóa học 12

2.3.1 Phân tích một số bài tập tiếp cận PISA chương 1,2-Hóa học 12 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng cho học sinh

Bài tập 1: VAI TRÒ CỦA CHẤT BÉO ĐỐI VỚI CƠ THỂ NGƯỜI

Trước tiên, cần khẳng định chất béo (dầu, mỡ) nói chung đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng và cơ cấu khẩu phần ăn Nhờ những phản ứng sinh hóa phức hợp, chất béo bị oxi hóa chậm tạo thành CO2, H2O và cung cấp năng lượng cho cơ thể (1g chất béo cung cấp 9kcal), cung cấp các axit béo no và không no thiết yếu, là dung môi hòa tan và giúp cơ thể hấp thụ các vitamin tan trong dầu như A, D, E, K và tham gia vào cấu tạo tế bào, đặc biệt là tế bào thần kinh Chất béo chưa sử dụng được tích lũy vào các mô mỡ Như vậy, các axit béo đều cần thiết để đảm bảo các quá trình sinh hóa trong cơ thể Tuy nhiên, các loại axit béo nêu trên đều trở nên có hại khi chúng ta sử dụng quá nhiều và theo tỉ lệ không cân bằng với các loại chất khác

Câu 1.1: Chất béo có vai trò như thế nào đối với cơ thể người?

Câu 1.2: Trong quá trình chế biến thức ăn, người ta thường dùng dầu để chiên, xào thực phẩm

Nhà bạn Hoa sau khi nấu ăn, lượng dầu vẫn còn thừa, mẹ bạn Hoa giữ lại để sử dụng cho lần sau Theo em, mẹ bạn Hoa làm như vậy có tốt cho sức khỏe hay không? Hãy giải thích giúp mẹ bạn Hoa nhé

Câu 1.3: Khi sự tích lũy mỡ trong cơ thể lên quá mức so với mức bình thường thì người ta gọi

đó là béo phì Bệnh béo phì có thể dẫn tới nhiều nguy cơ về mặt sức khỏe trong đó có bệnh huyết

áp và tim mạch Béo phì chủ yếu do năng lượng ăn vào nhiều hơn nhu cầu năng lượng hằng ngày, sự thừa năng lượng này diễn ra liên tiếp trong một thời gian dài dẫn đến béo phì

Giải pháp nào sau đây có thể ngăn ngừa bệnh béo phì (Khoanh trong “Có” hoặc “Không” ứng với mỗi giải pháp)?

Trang 12

12

1 Phối hợp nhiều loại thực phẩm và thường xuyên thay đổi món Có/Không

2 Sử dụng chất béo ở mức hợp lí, chú ý phối hợp giữa dầu thực vật và mỡ

3 Ăn thức ăn giàu đạm với tỉ lệ cân đối giữa nguồn động vật và thực vật,

4 Ăn nhiều rau, củ, quả hằng ngày để tăng chất xơ và bổ sung vitamin Có/Không

6 Thực hiện nếp sống năng động, hoạt động thể lực đều đặn, duy trì cân

7 Nên dùng nhiều chất bột đường thay cho chất béo Có/Không

Câu 1.4: Mẹ bạn Lan là bác sĩ chuyên ngành khoa tim mạch, do đó mẹ luôn chú ý tới sức khỏe

của mọi người trong gia đình, đặc biệt là ông bà Để đảm bảo sức khỏe tim mạch cho ông bà, mẹ thường xuyên sử dụng các loại dầu ăn chiết xuất từ thực vật như dầu lạc, dầu đậu nành và hạn chế dùng mỡ động vật Theo em dựa vào cơ sở khoa học nào mà mẹ bạn Lan lại xây dựng chế độ

ăn cho người già như vậy?

Câu 1.5: Bạn Hoa có thân hình quá mập Vì muốn có một vóc dáng đẹp nên đã chọn phương

pháp ăn kiêng để giảm cân Hoa không ăn thịt và các loại chất béo khác mà chỉ ăn có mỗi hoa quả, rau Tuy nhiên Hoa không đạt kết quả như mong đợi mà còn cảm thấy mệt mỏi Theo em, không ăn các loại thực phẩm chứa chất béo có thích hợp không, cách giảm cân của Hoa sai chỗ nào?

Câu 1.6: Nhân dân ta có câu:

“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.”

Vì sao thịt mỡ và dưa hành thường được ăn cùng với nhau?

Phân tích bài tập theo các tiêu chí của năng lực VDKTKN

Trên đây là những tình huống hết sức quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống hàng ngày Đó

là những hành động chúng ta thường thấy trong nhiều gia đình như việc giữ lại dầu sau khi đã chiên, xào để sử dụng cho lần sau, đó là những căn bệnh rất phổ biến trong xã hội hiện đại như bệnh béo phì, bệnh tim mạch…, hay việc giảm cân như thế nào cho hiệu quả cũng đang là vấn đề nóng mà rất nhiều người quan tâm HS sẽ được sử dụng những kiến thức, kĩ năng hóa học đã học

để giải thích các hiện tượng, nêu rõ các ứng dụng, đề xuất cách ứng xử cũng như các biện pháp hợp lí và đồng thời góp phần định hướng nghề nghiệp sau này

Ví dụ như câu 1.2: HS dựa vào kiến thức đã học về chất béo, biết được rằng thành phần

chính của dầu ăn là este của các axit béo HS vận dụng kiến thức về phản ứng oxi hóa chất béo

để giải thích được việc sử dụng lại dầu đã chiên xào ảnh hưởng như thế nào đối với sức khỏe con

Trang 13

13

người Từ đó tìm được cách sử dụng dầu ăn an toàn:

Khi đun nóng ở nhiệt độ không quá 102oC thì chúng không bị biến đổi đáng kể ngoài hóa lỏng Khi đem dầu đun lâu ở nhiệt độ cao thì các axit béo không no sẽ bị oxi hóa làm mất tác dụng có ích với cơ thể, các liên kết đôi trong cấu trúc của chúng bị bẻ gãy tạo thành các sản phẩm trung gian như peoxit, anđehit, xeton và nhiều phân tử nhỏ khác làm dầu có mùi khó ngửi

và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe (có thể gây ung thư)

Câu 1.3: Hiện nay, bệnh béo phì rất phổ biến và nguyên nhân chủ yếu là do chế độ ăn

uống và sinh hoạt chưa hợp lý HS vận dụng kiến thức về chất béo kết hợp hiểu biết thực tế của bản thân để tìm ra giải pháp ngăn ngừa căn bệnh béo phì

Đáp án: 1- Có, 2- Có, 3- Có, 4- Có, 5- Không, 6- Có, 7- Không

Câu 1.5: Để trả lời được câu hỏi này, HS cần phải vận dụng kiến thức đã học về chất béo,

về cacbohiđrat để hiểu được nguyên nhân dẫn đến béo phì là gì, từ đó tìm được cách giảm cân hiệu quả Do đó:

Nếu giảm cân mà không ăn thực phẩm chứa chất béo là không phù hợp Vì:

+ Nguyên nhân gây béo phì là do ăn nhiều cacbohiđrat vào cơ thể, lượng chất bột đường

đó sẽ biến thành đường glucozơ trong máu, làm đường huyết tăng lên, dẫn đến việc cơ thể tiết ra insulin để làm đường huyết trở lại mức ổn định và đồng thời biến glucozơ trong máu thành một lượng mỡ thừa

+ Lượng đường trong các loại hoa quả là rất cao do đó nếu chỉ ăn mỗi hoa quả thì dễ tăng cân hơn, mặt khác nếu chỉ ăn mình hoa quả khiến cơ thể cạn kiệt năng lượng, hạ canxi, gây cảm giác mệt mỏi

Kiến thức trong bài rất gần gũi với HS nên sử dụng bài tập này sẽ đem lại hứng thú cho HS khi tiếp nhận kiến thức, từ đó tìm ra cách giảm cân an toàn và hiệu quả đó là nên ăn các loại thực phẩm ở mức độ thích hợp để cơ thể đảm bảo đủ năng lượng và dinh dưỡng cung cấp cho mọi hoạt động sống của cơ thể

Bài tập 2: CACBOHIĐRAT – HỢP CHẤT HỮU CƠ KHÔNG THỂ THIẾU

Cacbohiđrat (gluxit, saccarit) là tên gọi chung của loại hợp chất hữu cơ phổ biến có công thức tổng quát Cn(H2O)m, có mặt trong hầu hết các bộ phận của cây Cacbohiđrat có 3 loại: monosaccarit (glucozơ, fructozơ), đisaccarit (saccarozơ và mantozơ) và polisaccarit (tinh bột và xenlulozơ)

Câu 2.1: Trong các bộ phận (củ, quả, thân,…) của một số trái cây, chứa chủ yếu một loại

cacbohiđrat Bảng sau gồm 2 cột: cột trái nêu tên bộ phận của một số loại cây và cột phải nêu tên một số loại cacbohiđrat có nhiều trong các bộ phận của cây trong cột trái Hãy nối tên một bộ phận của cây ở cột trái với một loại cacbohiđrat ở cột phải sao cho phù hợp

Câu 2.2: Con người và động vật nhai lại (trâu, bò…) đều cần thức ăn chứa polisaccarit (tinh bột và

xenlulozơ) Qua quá trình tiêu hóa, polisaccarit đều phân hủy tạo thành glucozơ cung cấp cho hoạt động sống của người và động vật Tuy nhiên, động vật nhai lại có thể ăn được lá cây hoặc thân cây (chứa chủ yếu xenlulozơ) để sống còn con người không thể chỉ ăn lá cây để sống được mà cần thiết phải ăn cơm, ăn bánh mì… (chứa chủ yếu tinh bột) Em hãy giải thích nguyên nhân của sự khác biệt trên?

Trang 14

14

Câu 2.3: Trong gạo thường và gạo nếp, thành phần chính là tinh bột Tuy nhiên, khi nấu, cơm

nếp dẻo hơn cơm thường rất nhiều Bạn Hương giải thích hiện tượng này là do gạo nếp chứa hàm lượng tinh bột cao hơn gạo thường Em có đồng ý với lời giải thích của bạn Hương hay không?

Vì sao?

Câu 2.4: Trong giờ thể dục, cả lớp vừa học xong khởi động thì bỗng nhiên Hoa cảm thấy đói

cồn cào, xót ruột, đau bụng, xuất hiện cảm giác mệt mỏi, tim nhịp nhanh, run tay đánh trống ngực và vã mồ hôi Khi Nam cõng Hoa xuống phòng y tế, cậu ấy để ý thấy cô y tá cho Hoa uống một cốc nước đường, một lúc sau Hoa có vẻ khá hơn Được biết Hoa đã không ăn sáng khi tới trường, cô y tá khuyên Hoa: “Em không nên nhịn ăn vào buổi sáng như vậy sẽ không tốt cho sức khỏe và rất dễ ngất xỉu, ảnh hưởng đến việc học” Nam thắc mắc tại sao nước đường lại có tác dụng kì diệu đến vậy, nếu là em thì em sẽ giải đáp cho cách làm trên của cô y tá như thế nào?

Phân tích bài tập theo các tiêu chí của năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng

Các câu hỏi trên đều rất quen thuộc và tạo ra được sự gần gũi đối với HS HS nhận biết, phát hiện, giải thích được các hiện tượng tự nhiên, ứng dụng của Hóa học trong cuộc sống, đánh giá được vấn đề thực tiễn đồng thời tìm tòi, khám phá kiến thức có liên quan đến vấn đề thực tiễn và góp phần định hướng nghề nghiệp trong tương lai

VD: HS vận dụng hiểu biết của mình kết hợp với những kiến thức đã được học phần trạng

thái tự nhiên của cacbohiđrat để tìm ra loại cacbohiđrat có trong từng bộ phận của cây (Câu 2.1)

Hay HS phát hiện ra một ứng dụng thực tiễn của enzim xenluloza trong dạ dày động vật nhai lại là có thể chuyển hóa xenlulozơ thành glucozơ Trong khi đó trong dạ dày của con người, không có enzim xenluloza nên không thể chuyển hóa được xenlulozơ mà chỉ chứa các loại enzim chuyển hóa được tinh bột thành glucozơ (amilaza, mantaza) Vì vậy, động vật nhai lại như trâu

bò có thể ăn lá cây để sống Còn con người không thể chỉ ăn lá cây mà sống được mà cần thiết

phải ăn cơm, bánh mì chứa nhiều tinh bột (Câu 2.2)

HS vận dụng kiến thức về thành phần của tinh bột để giải thích vì sao cơm nếp lại dẻo hơn cơm thường đồng thời lập luận để đưa ra được ý kiến là đồng tình hay phản đối lời giải thích của

bạn Hương (Câu 2.3)

HS phát hiện ra được nguyên nhân dẫn dến các triệu chứng của bạn Hoa, đó là do nhịn ăn sáng khi tới trường, đồng thời tìm ra cách giải quyết trong trường hợp này đó là uống một cốc nước đường như cô y tá đã làm HS suy nghĩ và giải thích được việc làm đó của cô y tá, đó là

những kiến thức liên quan đến lượng đường huyết ở trong cơ thể người (Câu 2.4)

Bài tập 3: GLUCOZƠ VỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI

Trong thực tế, glucozơ là một hợp chất được sử dụng rất rộng rãi là chất có giá trị dinh dưỡng đối với con người, nhất là trẻ em Người ta còn sử dụng nó để làm thuốc tăng lực, pha chế huyết thanh, làm nguyên liệu sản xuất vitamin C trong y học Ngoài ra, glucozơ còn được dùng

để tráng gương, tráng phích, khi có enzim làm xúc tác glucozơ lên men tạo rượu etylic Glucozơ

có trong hầu hết các bộ phận của cây như lá, hoa, rễ,… và nhất là trong quả nho chín Đặc biệt glucozơ còn có nhiều trong quả nho chín nên còn gọi là đường nho, trong mật ong có nhiều glucozơ Glucozơ có trong cơ thể con người và động vật Trong máu con người còn có một lượng nhỏ glucozơ, hầu như không đổi (nồng độ khoảng 0,1%)

Trang 15

15

Fructozơ là đồng phân của glucozơ và ngọt hơn glucozơ gấp 2,5 lần và ngọt hơn đường mía Nó có nhiều trong hoa quả cùng glucozơ, trong mật ong nó chiếm tới 40%

Câu 3.1: Với những bệnh nhân bị suy nhược cơ thể, bác sĩ sẽ phải tiếp đường cho bệnh nhân

bằng cách truyền dung dịch glucozơ thẳng vào tĩnh mạch Theo em, có thể thay glucozơ bằng các loại đường khác như saccarozơ, mantozơ,… để truyền cho bệnh nhân được không? Vì sao?

Câu 3.2: Anđehit và glucozơ đều có phản ứng tráng bạc Cho biết tại sao trong thực tế người ta

chỉ dùng glucozơ để tráng ruột phích và tráng bạc

Câu 3.3: Trong nước tiểu người bị bệnh tiểu đường có chứa glucozơ Nêu hai phản ứng hóa học

có thể dùng để xác nhận sự có mặt glucozơ trong nước tiểu Viết phương trình hóa học của phản ứng minh họa

Câu 3.4: Từ glucozơ, người ta có thể sản xuất rượu vang Tính khối lượng glucozơ chứa trong

nước quả nho để sau khi lên men cho ta 100 lít rượu vang 100 Biết hiệu suất phản ứng lên men đạt 95%, ancol etylic có khối lượng riêng 0,8 g/ml

Câu 3.5: Trong công nghiệp, glucozơ được điều chế bằng cách thủy phân tinh bột nhờ xúc tác

axit clohiđric loãng hoặc enzim Người ta cũng thủy phân xenlulozơ (có trong vỏ bào mùn cưa) nhờ xúc tác axit clohiđric đặc thành glucozơ để làm nguyên liệu sản xuất ancol etylic Hai phương pháp đó đều được tóm tắt bằng phương trình phản ứng như sau:

Tại một bệnh viện cần 1000 chai glucozơ 5% (biết dung tích 1 chai là 500ml có chứa 25 gam glucozơ khan) Khối lượng tinh bột cần để sản xuất ra 1000 chai glucozơ 5% là bao nhiêu nếu hiệu suất quá trình đạt 95%?

Câu 3.6: Glucozơ và fructozơ là những chất quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày Hãy chọn

“Đúng” hoặc “Sai” khi nói về hai loại hợp chất này

1 Glucozơ và fructozơ đều là chất rắn, không màu, tan nhiều trong nước và có vị

3 Glucozơ và fructozơ có trong hoa quả tạo nên vị ngọt của hoa quả Đúng/Sai

4 Nồng độ glucozơ trong máu người vượt quá 0,1% thì có nguy cơ mắc bệnh tiểu

5 Có thể truyền dung dịch glucozơ trực tiếp qua đường máu để tăng lực cho bệnh

6 Để tráng ruột phích người ta dùng phản ứng tráng bạc của glucozơ với dung

Câu 3.7: Phát biểu nào sau đây không đúng?

A Glucozơ và fructozơ là đồng phân cấu tạo của nhau

B Glucozơ và fructozơ đều bị khử bởi hiđro và cùng tạo ra một sản phẩm gọi là sobitol dùng

làm thuốc nhuận tràng

C Fructozơ không dùng để tráng ruột phích do khi cho nó tác dụng với dung dịch AgNO3 trong

NH3, phản ứng tráng bạc không xảy ra

D Trong công nghiệp, điều chế glucozơ bằng cách thủy phân tinh bột nhờ xúc tác axit clohiđric

hoặc enzim

Trang 16

16

Câu 3.8: Để tráng một chiếc gương soi, người ta phải đun nóng dung dịch chứa 36 gam glucozơ

với lượng vừa đủ dung dịch bạc nitrat trong ammoniac Tính khối lượng bạc đã sinh ra bám vào mặt kính của gương khi phản ứng xảy ra hoàn toàn

Phân tích bài tập theo các tiêu chí của năng lực VDKTKN

Đối với các câu hỏi trên đây, HS được sử dụng kiến thức, kĩ năng hóa học đã học để giải thích hiện tượng, nêu rõ ứng dụng, đề xuất ứng xử có văn hóa đối với môi trường và góp phần định hướng nghề nghiệp sau này

Ví dụ câu 3.1: HS phát hiện ra vấn đề là không thể thay glucozơ bằng cách loại đường

khác như saccarozơ, mantozơ,… để truyền cho bệnh nhân HS phân tích được rằng khi con người ăn các loại đường, sản phẩm cuối cùng mà con người hấp thụ vào máu là glucozơ Với bệnh nhân có sức khỏe yếu, khó ăn các loại đường thông thường, bác sĩ truyền trực tiếp glucozơ vào máu cho bệnh nhân và cơ thể dễ dàng tiếp nhận được Nếu dùng dung dịch saccarozơ hoặc mantozơ truyền vào máu thì cơ thể không tiếp nhận được, gây nguy hiểm cho bệnh nhân

Câu 3.2: HS ngoài sử dụng các kiến thức đã học về tính chất của glucozơ và anđehit còn

phải liên hệ thực tế về chi phí sản xuất dẫn đến giá thành sản phẩm và tính an toàn của sản phẩm + Glucozơ dễ dàng điều chế bằng cách thủy phân saccarozơ, mantozơ, tinh bột, xenlulozơ… nên giá thành rẻ hơn anđehit

+ Glucozơ không độc, dễ thực hiện phản ứng hơn anđehit

Câu 3.4: HS vận dụng kiến thức về độ rượu để tính được khối lượng rượu, viết PTHH của

phản ứng lên men rượu, kết hợp với hiệu suất từ đó tìm ra được khối lượng glucozơ cần tìm Từ

đó có thể vận dụng vào thực tiễn cuộc sống trong sản xuất rượu vang

Bài tập 4: TINH BỘT

Tinh bột là một loại polisaccarit, là chất rắn vô định hình, màu trắng, không tan trong nước nguội, là chất dinh dưỡng cơ bản của con người được tích lũy chủ yếu trong các loại hạt, củ, quả…

Câu 4.1: Hãy kể tên một số loại hạt, củ, quả chứa nhiều tinh bột?

Câu 4.2: Khi học xong bài “Tinh bột”, Cường được biết “Iot là thuốc thử của hồ tinh bột” Lúc

nấu cơm, Cường đã chắt một ít nước ra bát cơm, sau đó nhỏ vào đó vài giọt dung dịch iot thì không thấy màu xanh lam xuất hiện như đã học Cường để chiếc bát đó đến hôm sau để mang đến lớp hỏi cô giáo, nhưng trước khi đi học nhìn vào bát nước cơm lại thấy có màu xanh lam Cường không hiểu tại sao? Em hãy giải thích giúp bạn Cường

Câu 4.3: “Giấy gạo nếp”, hay giấy bọc ngoài kẹo bánh được làm từ gì?

Phân tích bài tập theo các tiêu chí của năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng

HS vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học, liên hệ thực tế cuộc sống để kể tên những loại hạt,

củ, quả chứa nhiều tinh bột như hạt lúa mì, ngô,…; trong các loại củ như khoai, sắn,…; trong các loại quả như chuối xanh, táo…(Câu 4.1), HS giải thích được hiện tượng hấp phụ iot vào hồ tinh

Trang 17

17

bột và nêu rõ ứng dụng của tinh bột (làm giấy bọc ngoài vỏ kẹo) Định hướng ngành nghề liên quan đến nông nghiệp Ứng xử phù hợp với môi trường, kinh tế, xã hội qua các ứng dụng của cacbohiđrat

2.3.2 Hệ thống bài tập

Bài tập 1: ESTE VÀ CÁCH ĐIỀU CHẾ ESTE

Este của các ancol đơn chức và axit đơn chức thường là các chất lỏng, dễ bay hơi, nhẹ hơn nước và có khả năng hòa tan được nhiều chất hữu cơ khác nhau, có mùi thơm dễ chịu của các loại hoa quả khác nhau Thông thường, các este dùng trong công nghiệp thực phẩm (đồ uống, bánh kẹo,…) được tổng hợp hoặc chiết xuất từ thiên nhiên Tuy nhiên, do giá thành cao và một

số nguyên nhân khác, nên hầu hết nguồn este chủ yếu từ tổng hợp hóa học

Để điều chế este của ancol, phương pháp thường dùng là đun nóng ancol với axit hữu cơ có xúc tác là H2SO4 đặc

Câu 1.1: Nêu khái niệm về este, viêt công thức cấu tạo chung của este đơn giản

Câu 1.2: Để điều chế dầu chuối người ta thường đun hồi lưu hỗn hợp ancol isoamylic và axit

axetic có H2SO4 đặc làm xúc tác Cách nào có thể làm tăng hiệu suất của phản ứng điều chế dầu chuối? Hãy chọn “Có” hoặc “Không” trong những thông tin sau:

2 Cất dần nước ra khỏi hỗn hợp phản ứng Có/Không

3 Pha thêm nước vào hỗn hợp trước phản ứng Có/Không

5 Cất dần isoamyl axetat ra khỏi hỗn hợp phản ứng Có/Không

6 Cho thêm giấm ăn vào hỗn hợp trước phản ứng Có/Không

Câu 1.3: Hãy giải thích hiện tượng: Khi xào thức ăn nếu thêm một ít giấm rồi lại thêm một ít

rượu ta sẽ có một đĩa đồ xào thơm phức?

Bài tập 2: TÍNH CHẤT CỦA ESTE

Giữa các este không có liên kết hiđro vì thế este có nhiệt độ sôi thấp hơn so với axit và ancol có cùng số nguyên tử C Este bị thủy phân cả trong môi trường axit và bazơ Phản ứng thủy phân trong môi trường bazơ gọi là phản ứng xà phòng hóa

Câu 2.1: Este bị thủy phân trong môi trường axit và môi trường kiềm Khẳng định nào sau đây

là đúng?

A Phản ứng thủy phân este trong môi trường kiềm gọi là phản ứng este hóa

B Phản ứng thủy phân este trong môi trường axit là phản ứng một chiều

C Phản ứng thủy phân este trong môi trường kiềm là phản ứng một chiều

D Phản ứng thủy phân este trong môi trường kiềm là phản ứng thuận nghịch

Câu 2.2: Trong phòng thí nghiệm có 4 lọ hóa chất có dán nhãn tên hóa chất là: etyl axetat, ancol

etylic, axit axetic và metyl fomat và có 4 tờ đề can có ghi sẵn nhiệt độ sôi là 77oC; 32oC; 117,9oC; 78,3oC Hãy lựa chọn giá trị nhiệt độ sôi tương ứng với các lọ hóa chất trên và giải thích ngắn gọn

Trang 18

18

Câu 2.3: Vì sao khi “dưa chua, cho mỡ vào nấu nhừ thì ngon”?

Câu 2.4: Vì sao khi đi qua các nơi phun sơn thường ngửi thấy mùi gần với mùi dầu chuối?

Bài tập 3: ESTE TRONG TỰ NHIÊN

Mùi trái cây là do sự hiện diện hỗn hợp phức tạp của các chất hóa học, trong đó các este đóng vai trò quan trọng Mỗi loại hoa quả đều có một mùi đặc trưng thể hiện lượng este trong đó chiếm ưu thế (ví dụ etyl fomat có mùi đào chín, isoamyl axetat có mùi chuối chín, etyl butirat có mùi dứa…) Este của các axit có nhân thơm cũng có mùi đặc trưng của các loại hoa quả, các loại tinh dầu và hương liệu tự nhiên (ví dụ benzyl axetat có mùi hoa nhài)

Câu 3.1: Khi chúng ta ăn chè, bánh trôi, bánh chay… người ta thường vẩy vài giọt dung dịch

không màu có mùi thơm được gọi là dầu chuối Dầu chuối có thể được chiết xuất từ quả chuối hoặc được điều chế bằng cách trộn axit axetic với ancol isoamylic, có mặt xúc tác H2SO4 đặc, đun nóng Một số loại ong, như ong mật khi đốt kẻ thù nó cũng tiết ra isoamyl axetat tạo mùi thơm để các con ong khác ngửi thấy mùi và tấn công tiếp kẻ thù

Viết phương trình hóa học tạo ra tinh dầu chuối ở dạng công thức cấu tạo và gọi tên chất

đó

Câu 3.2: Các thành phần hóa học chính của hoa nhài: Linalyl axetat, benzyl benzoat, benzyl

axetat, geraniol, nerol, 1-a-terpineol, di-linalool, y-hexenol, farnesol, nerolidol, eugenol, cresol, creosol, lactones, bensaldehyde, jasmone, ketones, benzonic, acid methyl anthrnilat và indole…

p-Trong số các chất trên chất nào là thành phần chính tạo nên mùi hương của hoa nhài, viết công thức cấu tạo của nó?

Bài tập 4: DẦU MỠ ĐỘNG THỰC VẬT

Chất béo là trieste của glixerol với các axit monocacboxylic có số chẵn nguyên tử cacbon (khoảng từ 12C đến 24C), không nhánh (axit béo), gọi chung là triglixerit hay triaxylglixerol Chất béo là thành phần chính của dầu mỡ động, thực vật

Chất béo có chứa các gốc axit béo no thường ở dạng rắn ở nhiệt độ phòng như mỡ động vật (mỡ lợn, mỡ bò…) Chất béo có các gốc axit béo không no thường ở dạng lỏng ở nhiệt độ phòng gọi là dầu Nó thường có nguồn gốc thực vật (dầu lạc, dầu vừng…) Chất béo nhẹ hơn nước, không tan trong nước, có tính chất của một este

Trang 19

19

Câu 4.1: Nêu thành phần chính, công thức của dầu ăn và mỡ động vật?

Câu 4.2: Các triglixerit trong dầu lạc chứa 3 axit béo chính:

- axit oleic: 43-65% - axit linoleic: 20-37% - axit panmitic: 14-20%

Hãy viết công thức cấu tạo của các axit béo trên trong triglixerit của dầu lạc? Từ 3 axit béo trên

có thể tạo ra bao nhiêu triglixerit?

Câu 4.3: Chọn “Đúng” hoặc “Sai” trước các thông tin sau:

1 Mỡ động vật thường ở dạng rắn ở nhiệt độ phòng vì thành phần chính là các

2 Dầu thực vật thường ở dạng lỏng ở nhiệt độ phòng vì thành phần chính là các

3 Dầu cá được tinh luyện từ mỡ cá nên nó ở dạng rắn Đúng/Sai

5 Dầu nhẹ hơn nước nên đổ dầu vào nước sẽ nổi lên trên, mỡ nặng hơn nước nên

Câu 4.4: Dầu mỡ động vật – thực vật để lâu thường có mùi khó chịu, ta gọi đó là hiện tượng ôi

mỡ Cho biết nguyên nhân gây nên hiện tượng ôi mỡ Biện pháp ngăn ngừa quá trình ôi mỡ

Câu 4.5: Theo em, chất béo nào dễ bị ôi hơn: dầu thực vật hay mỡ lợn? Vì sao?

Câu 4.6: Trong lúc nấu ăn tay bạn Lan dính các vết mỡ Lan rửa tay với nước mãi mà vết dầu

mỡ đó không hết sạch được Mẹ Lan bảo: “Con hãy lấy xà phòng để rửa thì mới sạch được” Lan không hiểu tại sao xà phòng lại có thể làm sạch các vết dầu mỡ Em hãy Lan giúp giải thích điều này?

Bài tập 5: SỰ ÔI MỠ

Dầu mỡ để lâu ngày thường có mùi khét và hôi khó chịu, hiện tượng đó gọi là ôi thiu dầu

mỡ Quá trình ôi mỡ tăng nhanh khi ở điều kiện độ ẩm cao, nóng và có ánh sáng Mỡ bị ôi do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu do oxi không khí cộng vào liên kết đôi C=C, trong gốc axit béo không no tạo thành peoxit, sau đó peoxit tiếp tục chuyển thành anđehit và axit cacboxylic có mùi khó chịu

Câu 5.1: Cho biết nguyên nhân gây nên hiện tượng ôi mỡ Nêu biện pháp ngăn ngừa quá trình ôi

mỡ

Trang 20

20

Câu 5.2: Nếu có hai chai, 1 chai đựng dầu lạc, 1 chai đựng mỡ lợn để cạnh nhau trong cùng điều

kiện nhiệt độ, đều không sử dụng chất bảo quản thì chai nào bị ôi thiu trước? Giải thích?

Câu 5.3: Dầu thực vật bán trên thị trường thường không bị ôi trong quá trình sử dụng Giải thích

nào sau đây là đúng?

A Vì người ta cho vào dầu ăn chất chống oxi hóa

B Vì người ta cho thêm mỡ vào

D Vì người ta cho khí nitơ vào để tạo môi trường trơ

Bài tập 6: SẢN XUẤT XÀ PHÒNG TỪ CHẤT BÉO

Như đã biết, xà phòng (hay xà bông) là một trong những vật dụng quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta Xà phòng có tác dụng tẩy rửa các chất bẩn, dầu mỡ,… Thành phần của xà phòng là muối natri hoặc kali của axit béo Xà phòng được dùng dưới dạng bánh, bột hoặc chất lỏng

Xà phòng trước kia được điều chế bằng cách cho chất béo tác dụng với kiềm bằng phản ứng xà phòng hóa Sản phẩm tạo ra là muối natri hoặc kali của chất béo Loại xà phòng này có một nhược điểm là không giặt được trong nước cứng vì nó tạo kết tủa với các ion canxi và magie bết lên mặt vải làm vải chóng mục

Về sau, xà phòng được sản xuất từ dầu mỏ Vì thế nó đã khắc phục được nhược điểm trên

để có thể giặt được quần áo bằng nước cứng

Câu 6.1: Phương pháp thông thường để sản xuất xà phòng là:

A Đun dầu thực vật hoặc mỡ động vật với dung dịch NaOH hoặc KOH ở nhiệt độ cao và áp suất

Câu 6.2: Một xưởng thủ công sản xuất xà phòng, trong một ngày xà phòng hóa một tấn chất béo

(chứa 5% tạp chất trơ) có chỉ số axit bằng 7 cần 143 kg NaOH Do máy móc đã cũ nên hiệu suất phản ứng chỉ đạt 75% Muối của axit béo thu được đem trộn với chất độn, chất màu và tạo mùi thơm rồi đem đóng bánh Bánh xà phòng thu được chưa 80% muối natri của axit béo Mỗi bánh

xà phòng nặng 200 gam Em hãy tính xem trong một ngày xưởng trên sản xuất được bao nhiêu bánh xà phòng?

Bài tập 7: SACCAROZƠ

Saccarozơ là một điscarit tiêu biểu có nhiều ứng dụng Saccarozơ là chất không màu, kết tinh được và tan tốt trong nước, nhất là nước nóng Saccarozơ được dùng nhiều trong đồ ăn thức uống hằng ngày cho người (bánh kẹo, nước giải khát,….) và trong công nghiệp dược phẩm Saccarozơ có nhiều trong thực vật và là thành phần chủ yếu của đường mía (sản xuất từ cây mía); đường củ cải (từ củ cải đường); đường thốt nốt (từ hoa thốt nốt)

Ở nước ta đường chủ yếu được sản xuất dưới dạng: đường phèn, đường cát, đường phên,

Trang 21

21

đường kính ở dạng tinh thể nhỏ

Câu 7.1: Hãy cho biết: Đường kính, đường phèn, đường thốt nốt, đường cát, đường hoa mai là

gì, giống và khác nhau như thế nào?

Câu 7.2: Có thể dùng saccarozơ để sản xuất rượu không? Giải thích

Bài tập 8: SO SÁNH ĐỘ NGỌT CÁC LOẠI ĐƯỜNG

Để so sánh độ ngọt của các loại đường, người ta chọn độ ngọt của đường làm đơn vị, khi

đó độ ngọt của một số saccarit và saccarin (đường hóa học công thức phân tử C7H5O3NS) là như sau:

Câu 8.1: Trong các loại đường (glucozơ, fructozơ, saccarozơ, saccarin) đường ngọt nhất là:

Câu 8.2: Saccarin có thuộc loại saccarit không? Vì sao?

Câu 8.3: Để pha chế một loại nước giải khát, người ta dùng 30 gam saccarozơ cho 1 lít nước

Nếu dùng 30 gam saccarin thì sẽ được bao nhiêu lít nước ngọt tương đối với loại nước giải khát

đã nêu?

Câu 8.4: Bằng những hiểu biết và vận dụng kiến thức hóa học hãy chọn “Đúng” hoặc “Sai”

trước các thông tin sau?

1 Saccarin dùng làm chất ngọt cho những người bệnh phải kiêng ngọt và

có thể tăng thêm vị ngọt cho bánh kẹo Không nên lạm dụng saccarin vì

nó không có giá trị dinh dưỡng

Đúng/sai

2 Có thể thay thế saccarin cho saccarozơ vì nó có lợi về kinh tế hơn rất

nhiều và có giá trị dinh dưỡng cao

Đúng/sai

4 Saccarin là một loại hóa chất tổng hợp có vị ngọt rất cao Đúng/sai

Bài tập 9: ĐƯỜNG VỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI

Đường có vị ngọt như đường mía lấy từ mía hoặc củ cải đường, fructozơ, glucozơ lấy nguyên liệu từ trái cây, mật ong,… và trong nhiều nguồn khác Đường ngọt là một loại thức ăn

cơ bản, là nguyên liệu chính để làm gia vị nêm nếm cho các món ăn, làm mứt, làm kẹo và các món tráng miệng Các thợ nấu ăn cũng dùng đường ngọt như một chất bảo quản

Đường là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho cơ thể Tuy nhiên, chỉ nên đưa vào

cơ thể một lượng đường vừa đủ cho các nhu cầu hoạt động của cơ thể, dư thừa đường sẽ dẫn đến béo phì, đái tháo đường,…

Câu 9.1: Hãy lựa chọn thông tin sai khi nói về đường (sacacarozơ)?

A Đường là một gia vị thường được sử dụng trong các món ăn, thức uống của tất cả gia đình,

giúp hương vị món ăn thêm đậm đà, ngon miệng, đường còn có tác dụng chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh

B Theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO), con người hấp thụ dưới 10% tổng năng

lượng mỗi ngày từ đường

C Ăn nhiều đường đặc biệt là đồ uống có chứa đường (cocacola, bí đao, tăng lực, ) trong thời

gian dài có thể dẫn tới nguy cơ phát triển bệnh béo phì, tiểu đường, bệnh tim mạch và ung thư

D Đường cung cấp năng lượng cho cơ thể con người nên có thể sử dụng hàng ngày theo nhu cầu

của từng người mà không gây tổn hại tới sức khỏe

Câu 9.2: Bạn Giang thường làm nước chanh với nguyên liệu:

Trang 22

Câu 9.3: Có một số người bệnh phải tiếp đường (tiêm hoặc truyền dung dịch đường vào tĩnh mạch)

Đó là đường gì và có phải là đường saccarozơ không? Giải thích

Câu 9.4: Đường ăn là một loại gia vị tốt cho cơ thể Tuy nhiên nếu sử dụng không đúng cách

hoặc sử dụng lượng đường vượt mức cho phép, quá lạm dụng đường thì sẽ gây ra căn bệnh:

A Tiểu đường B Viêm phổi C Viêm ruột D Viêm tá tràng

Câu 9.5: Theo nghiên cứu cho thấy, 1 người trung bình tiêu thụ khoảng 24kg đường ăn mỗi

năm Nếu với dân số của thành phố Vinh hiện nay là 1,5 triệu người thì các nhà máy đường phải sản xuất bao nhiêu kg đường để đáp ứng nhu cầu người dân thành phố Vinh?

A 40 triệu kg B 36 triệu kg C 44 triệu kg D 48 triệu kg

Bài tập 10: SẢN XUẤT ĐƯỜNG

Saccarozơ là một đisacarit (glucozơ + fructozơ) với công thức phân tử là C12H22O11 Ở nước ta, saccarozơ được sản xuất từ cây mía nên còn gọi là đường mía theo sơ đồ dưới đây Trong quá trình chế biến nước mía để thu lấy đường kết tinh (chỉ chứa 2% tạp chất) và rỉ đường (chứa 25% đường nguyên chất) người ta phải dùng vôi sống với lượng 2,8 kg vôi sống để thu được 100kg đường kết tinh Rỉ đường được lên men thành ancol etylic với hiệu suất 60%

Câu 10.1: Em hãy cho biết vai trò của vôi trong quá trình sản xuất đường mía là gì?

Câu 10.2: Tính lượng đường kết tinh và lượng ancol etylic thu được từ 260 lít nước mía có nồng

độ đường 7,5% và khối lượng riêng 1,103 g/ml Biết rằng chỉ 70% đường thu được ở dạng kết tinh, phần còn lại nằm trong rỉ đường

Câu 10.3: Em hãy tính lượng vôi sống cần để xử lí lượng nước mía trên

Câu 10.4: Có 4 gói bột trắng: glucozơ, saccarozơ, tinh bột, xenlulozơ Hãy chọn bộ thuốc thử để

có thể phân biệt bốn gói bột trắng trên?

A Nước, dung dịch AgNO3/NH3, dung dịch NaOH

B Nước, O2 (đốt cháy), dung dịch AgNO3/NH3

C Nước, dung dịch AgNO3/NH3, dung dịch I2

D Nước, dung dịch HCl, dung dịch AgNO3/NH3

Câu 10.5: Nước ta đang sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với việc nhập khẩu đường

saccarozơ từ Thái Lan nhằm bảo vệ ngành sản xuất mía đường trong nước.Theo em vì sao đường saccarozơ sản xuất ở nước ta có giá thành cao hơn so với Thái Lan? Em có đề xuất gì để nâng cao

Trang 23

23

tính cạnh tranh của ngành mía đường nước ta?

Bài tập 11: SỰ CHUYỂN HÓA TINH BỘT TRONG CƠ THỂ CON NGƯỜI

Tinh bột là một trong các loại thức ăn cơ bản của con người Khi ta ăn, tinh bột bị thủy phân nhờ enzim amilaza có trong nước bọt thành đextrin, rồi thành mantozơ Ở ruột, enzim mantaza giúp cho việc thủy phân mantozơ thành fructozơ Glucozơ được hấp thụ qua thành mao trạng ruột rồi vào máu Trong máu nồng độ glucozơ không đổi khoảng 0,1%

Lượng glucozơ dư được chuyển về gan: ở đây glucozơ hợp thành enzim thành glicogen (còn gọi là tinh bột động vật) dữ trữ cho cơ thể Khi nồng độ glucozơ trong máu giảm xuống dưới 0.1%, glycogen ở gan lại bị thủy phân thành glucozơ và theo đường máu chuyển đến các mô trong cơ thể Tại cái mô, glucozơ bị oxi hóa chậm qua các phản ứng phức tạp nhờ enzim thành CO2 và H2O, đồng thời giải phóng năng lượng cho cơ thể hoạt động Sự chuyển hóa tinh bột trong cơ thể được biểu diễn bởi sơ đồ sau:

Câu 11.1: Hãy giải thích tại sao

a, Khi ăn cơm nếu nhai kĩ sẽ cảm nhận vị ngọt?

b, Ăn miếng cơm cháy vàng ở đáy nồi ngọt hơn và dễ tiêu hơn cơm ở phía trên?

Câu 11.2: Bạn Vy nói về sự đồng hóa tinh bột như sau: “Ở miệng nó được nghiền nhỏ, ở dạ dày

nó được xáo trộn trong môi trường axit ở 37oC nên nó phân hủy thành glucozơ rồi vào máu, ” Hãy nêu rõ điểm chưa đúng của bạn Vy?

Bài tập 12: SỰ TẠO THÀNH TINH BỘT TRONG CÂY XANH

Tinh bột được tạo thành trong cây xanh từ khí cacbonic và nước nhờ ánh sáng mặt trời Khí cacbonic được lá cây hấp thụ từ không khí, nước được rễ cây hút từ đất Chất diệp lục (clorophin) hấp thụ năng lượng của ánh sáng mặt trời Quá trình tạo thành tinh bột như vậy gọi là quá trình quang hợp

Quá trình quang hợp xảy ra phức tạp qua nhiều giai đoạn, trong đó có giai đoạn tạo thành glucozơ, có thể được viết bằng phương trình hóa học đơn giản sau:

Câu 12.1: Giải thích tại sao trong hạt cây cối thường có nhiều tinh bột?

Câu 12.2: Phản ứng tổng hợp glucozơ ở cây xanh cần phải dùng năng lượng từ ánh sáng mặt

trời:

6CO2 + 6H2O+ 2813 kJ C6H12O6 + 6O2

Cho biết: trong một phút 1cm3 lá lúa hấp thụ được 2,09J năng lượng mặt trời, 10% năng lượng đó được dùng vào phản ứng tổng hợp glucozơ được tạo ra chuyển thành tinh bột Mỗi khóm lúa có 20 lá xanh, mỗi lá xanh có 5cm2 quang hợp được: mật độ lúa là 100 khóm/1m3 Khối lượng tinh bột tạo ra khi 1ha lúa kể trên quang hợp trong 1 giờ và tổng khối lượng CO2 và

H2O sử dụng trong 1 giờ quang hợp nêu trên là:

Bài tập 13: XENLULOZƠ

Xenlulozơ là chất rắn hình sợi, màu trắng, không mùi, không vị, không tan trong nước và trong dung môi hữu cơ thông thường như benzen, ete Xenlulozơ là thành phần chính tạo ra lớp màng tế bào thực vật, bộ khung của cây cối Xenlulozơ có nhiều trong cây bông (95-98%), đay,

Trang 24

Câu 13.2: Tại sao người ta dùng xenlulozơ làm nguyên liệu để sản xuất tơ (như tơ visco và tơ

axetat) mà không dùng tinh bột?

Câu 13.3: Tinh bột và xenlulozơ đều có thành phần C6H10O5, khi thủy phân đến cùng đều cho glucozơ Vì sao chỉ có tinh bột được dùng làm thức ăn cung cấp dinh dưỡng cho người, còn xenlulozơ (rơm, rạ, cỏ…) dùng làm thức ăn cung cấp dinh dưỡng cho một số loài động vật nhai lại?

Câu 13.4: Xenlulozơ không phản ứng với chất nào sau đây?

A Nước Svayde [Cu(NH3)4](OH)2 C Dung dịch AgNO3/NH3

B Dung dịch H2SO4 80% D (CH3CO)2O

Câu 13.5: Xenlulozơ trinitrat là chất dễ cháy và nổ mạnh, được điều chế từ xenlulozơ và axit

nitric Muốn điều chế 29,7 kg xenlulozơ trinitrat (hiệu suất 90%) thì thể tích axit nitric 96% (d= 1,52 g/ml) là bao nhiêu?

Bài tập 14: CÔNG NGHIỆP GIẤY

Giấy là một loại vật liệu mỏng được làm từ chất xơ dày từ vài trăm µm cho đến vài cm, thường có nguồn gốc thực vật và được tạo thành mạng lưới bởi lực liên kết hiđro không có chất kết dính Thông thường giấy được sử dụng dưới dạng lớp mỏng nhưng cũng có thể dùng để tạo hình các vật lớn Trên nguyên tắc giấy được sản xuất từ bột gỗ (bột cây tre, bột cây bạch đàn, bột cây nứa…) hay bột giấy Loại giấy quan trọng nhất là giấy viết Bên cạnh đó giấy được sử dụng làm vật liệu bao bì, trong nội thất như giấy dán tường, giấy vệ sinh hay trong thủ công trang trí

Câu 14.1: Vì sao giấy để lâu lại ngả màu vàng?

Câu 14.2: Phần lớn xenlulozơ do cây xanh tổng hợp ra trong quá trình quang hợp là để tạo ra

Trang 25

25

xenlulozơ Biết rằng một cây bạch đàn 5 tuổi có khối lượng gỗ là 100 kg, chứa 50% xenlulozơ a) Tính xem một rừng bạch đàn 5 tuổi mật độ một cây / 20m2 đã hấp thụ bao nhiêu m3 CO2 và thải ra bao nhiêu m3 O2 để tạo ra xenlulozơ

b) Nếu dùng toàn bộ lượng gỗ từ 1 ha bạch đàn nói trên để sản xuất giấy (chứa 95% xenlulozơ, 5% phụ gia) thì sẽ được bao nhiêu tấn giấy? Biết rằng hiệu suất chung của quá trình là 80% tính theo xenlulozơ

Câu 14.3: Ngành sản xuất giấy của Việt Nam mới tái chế khoảng 25% giấy đã qua sử dụng

Trong khi các nước châu Âu như Thụy Điển, Phần Lan, tỷ lệ tái chế giấy lên đến 75% hoặc cao hơn Việc nâng cao tỷ lệ giấy tái chế ở nước ta có những tác dụng tích cực nào đối với kinh tế, xã hội và môi trường?

ĐÁP ÁN HỆ THỐNG CÂU HỎI TIẾP CẬN PISA

Bài tập 1:

Câu 1.1:

+ Khi thay nhóm OH ở nhóm cacboxyl của axit cacboxylic bằng nhóm OR thì được este

+ Este đơn giản có công thức cấu tạo như sau:

Với R, R’ là gốc hiđrocacbon no hoặc không no hoặc thơm (trừ trường hợp este của axit fomic có R và H)

Câu 1.2: 1-Có, 2-Có, 3-Không, 4-Có, 5-Có, 6- Không

Câu 1.3: + Khi chiếc chảo nóng, ancol etylic có trong rượu sẽ tác dụng với axit axetic có trong

giấm tạo thành este có mùi thơm

+ Phương trình hóa học: CH3COOH + C2H5OH 2 o4

Trang 26

26

Như vậy ta có được món xào không chua gắt mà chua ngọt, lượng mỡ bị giảm đi làm cho món

ăn không quá béo Vì vậy dân gian Việt Nam có câu: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ Cây nêu,

tràng pháo, bánh chưng xanh”

Câu 2.4: Dung môi cho một số loại sơn tổng hợp thường là các este có công thức

CH3COOCnH2n+1 có mùi gần với mùi dầu chuối

+ Thành phần chính tạo nên mùi hương của hoa nhài là: benzyl axetat

+ Công thức cấu tạo của nó: CH3COOCH2C6H5

Bài tập 4:

Câu 4.1:

+ Dầu thực vật, mỡ động vật gọi chung là chất béo, là este của glixerol và các axit béo có công thức chung là (RCOO)3C3H5.

+ Dầu thực vật: Thành phần chính của dầu là trieste của các axit béo không no và glyxerol

Ví dụ, triolein (C17H33COO)3C3H5, trilinolein (C17H31COO)3C3H5

+ Mỡ động vật: thành phần chính là trieste của các axit béo no và glixerol

Ví dụ, tristearin (C17H35COO)3C3H5, tripanmitin (C15H31COO)3C3H5

Câu 4.2:

+ Công thức của các axit béo trong các triglixerit trong dầu lạc:

Axit oleic: CH3[CH2]7CH=CH[CH2]7COOH

Axit linoleic: CH3[CH2]4CH=CH-CH2-CH=CH-[CH2]7COOH

Axit panmitic: CH3[CH2]14COOH

+ Từ 3 axit béo tên có thể tạo nên 18 triglixerit

Câu 4.3: 1-Đúng, 2-Đúng, 3-Sai, 4-Đúng, 5-Sai

Câu 4.4:

+ Dầu mỡ để lâu ngày trở thành có mùi khét, khó chịu đó là sự ôi mỡ Có nhiều nguyên nhân gây

ôi mỡ, nhưng chủ yếu nhất là do oxi không khí cộng vào nối đôi ở gốc axit không no tạo ra

peoxit, chất này bị phân hủy thành các anđehit có mùi khó chịu Có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:

+ Để tránh ôi mỡ cần bảo quản dầu mỡ ở nơi mát mẻ, đựng đầy, nút kín (tránh oxi của không khí) và có thể cho vào mỡ những chất lỏng oxi hóa không độc hại

Câu 4.5: Nguyên nhân dầu mỡ bị ôi là do phản ứng oxi hóa các liên kết kép trong chất béo Vì

vậy, chất béo lỏng (là chất béo chứa nhiều gốc axit béo không no) dễ bị ôi hơn chất béo rắn (là chất béo chứa nhiều gốc axit béo no, rất ít gốc axit béo không no)

Ngày đăng: 21/04/2023, 15:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w