1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học bài sắt hóa học 12

28 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học bài Sắt – Hóa học 12
Tác giả Trần Thị Thanh Trà
Trường học Trường Trung học phổ thông Trần Phú - An Bình - Văn Yên - Yên Bái
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Báo cáo sáng kiến
Năm xuất bản 2022
Thành phố Yên Bái
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 473,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN BÁI TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ Lĩnh vực Hóa học TÊN SÁNG KIẾN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC BÀI SẮT[.]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN BÁI TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ

BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ

Đơn vị công tác: Trường THPT Trần Phú - An Bình - Văn Yên - Yên Bái

Yên Bái, ngày 05 tháng 02 năm 2022

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN

DH Dạy học DHHH Dạy học hóa học

Trang 3

I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học bài Sắt – Hóa học 12

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Hóa học

3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: Học sinh THPT

4 Thời gian áp dụng sáng kiến:

Từ ngày 07 tháng 09 năm 2020 đến ngày 01 tháng 02 năm 2022

5 Tác giả:

Họ và tên: Trần Thị Thanh Trà

Năm sinh: 1987

Trình độ chuyên môn: Cử nhân sư phạm

Chức vụ công tác: Giáo viên

Nơi làm việc: Trường THPT Trần Phú- An Bình- Văn Yên-Yên Bái Địa chỉ liên hệ:Trường THPT Trần Phú- An Bình- Văn Yên-Yên Bái Điện thoại: 0985.943.312

Đa phần các GV đã tích cực đổi mới PPDH, hiểu được cách tiến hành các PPDH tích cực và các KTDH Có sự đầu tư về thời gian trong công việc soạn giáo án Nhưng vì nhiều lí do khách quan lẫn chủ quan nên nhiều GV dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức và việc đánh giá kết quả học tập của HS vẫn nặng về điểm số

1.1 Kết quả điều tra GV:

Đánh giá của GV về tầm quan trọng của việc phát triển NLGQVĐ&ST cho HS

Trang 4

Bảng các biện pháp GV sử dụng để rèn NLGQVĐ&ST cho HS

GV mất nhiều thời gian cho việc chuẩn bị 100% 0%

Trang 5

GV chưa nắm rõ được nội dung của

Khó đánh giá được hết HS trong giờ học 40% 60%

GV mất nhiều thời gian cho việc chuẩn bị 60% 40%

GV chưa nắm rõ được nội dung của

phương pháp

Qua số liệu trên ta thấy:

Trong quá trình dạy học hóa học, GV đã có sự kết hợp giữa PPDH truyền thống như thuyết trình với PPDH tích cực như GQVĐ, góc….Tuy nhiên, dạy học theo góc và GQVĐ còn hạn chế, ít được áp dụng

GV có sự đầu tư khi soạn giáo án nên việc sử dụng một số KTDH đặc biệt

KT sơ đồ tư duy trong giờ học được sử dụng nhiều hơn các KTDH khác

Đa số GV gặp khó khăn khi sử dụng Phương pháp dạy học theo góc(PPDH TG) do sĩ số lớp đông chương trình học nặng nề và trình độ học sinh còn hạn chế, còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn thiếu và hầu hết các GV đều chưa hiểu rõ về PPDH GQVĐ, đều cho rằng PP này chỉ áp dụng cho HS có trình độ khá, giỏi và có ý thức học tập

1.2 Kết quả điều tra học sinh tại lớp khối 12 – trường THPT Trần Phú

Bảng đánh giá của HS về môn Hóa học

Trao đổi với các bạn trong lớp để tìm ra câu trả lời 64 33,0

Không làm gì chỉ đợi các bạn và GV trả lời 27 13,9

Trang 6

Bảng những hoạt động của HS khi phát hiện ra một kiến thức mới mâu thuẫn với kiến

thức cũ em đã biết

Bảng đánh giá của HS về việc rèn luyện NLGQVĐ&ST

Bảng đánh giá của HS về kết quả rèn luyện và bồi dưỡng khi học môn Hóa học

GQVĐ trong cuộc sống liên quan đến hóa học 41,67

Có niềm hứng thú và say mê tìm hiểu khoa học tự nhiên 27,78

Nhận xét: Qua số liệu điều tra cho thấy:

Nhiều HS có ý thức học tập tốt, quan tâm tới những vấn đề mới của bài học

có tinh thần tự giác tìm hiểu những vấn đề gặp phải trong quá trình học ( 116 HS );

đa số các em thấy việc rèn luyện NLGQVĐ&ST là cần thiết ( chỉ có 14 HS là thấy không cần thiết ) Tuy nhiên số lượng HS thấy yêu thích môn hóa học còn ít ( rất thích 32 HS, thích 56 HS )

Như vậy qua kết quả điều tra ở trên có thể thấy được GV có sử dụng các PPDH hiện đại và có quan tâm tới rèn luyện NLGQVĐ&ST cho HS nhưng hiệu quả chưa cao, ít HS thích các giờ học hóa học, HS chưa thật sự có động cơ, hứng thú để tìm hiểu và GQVĐ gặp phải Vậy vấn đề được đặt ra là cần phải làm rõ hơn việc tìm ra những PPDH và KTDH phù hợp trong các bài học lý thuyết cũng như trong các

BT hóa học để sử dụng chúng trong dạy học sao cho có hiệu quả cao nhất

2 Nội dung (các) giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

2.1.Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, đổi mới về phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại;

phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc của học sinh Một trong những cách để đổi mới PPDH bộ môn Hóa học ở các trường

THPT là sử dụng các PPDH phù hợp với đặc trưng bộ môn, với từng bài, từng

Trang 7

phần nhằm phát huy năng lực tự học, phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho HS, hình thành cho HS việc vận dụng kiến thức, kỹ năng hóa

học vào thực tế đời sống sinh hoạt và sản xuất Qua đó nâng cao chất lượng dạy

học hóa học ở trường THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Với những mục đích trên tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu và đưa ra sáng

kiến “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học bài SẮT- Hóa học 12”

2.2 Tính mới của đề tài

Những nội dung được trình bày trong sáng kiến này thể hiện sự đổi mới trong tổ chức dạy học bộ môn Hoá học ở trường phổ thông, cụ thể là sử dụng

phương pháp dạy học theo góc, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề cho học sinh áp dụng cho bài sắt – hóa học lớp 12

Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ học tập khác nhau tại các góc để hình thành kiến thức mới, giúp HS phát triển được nhiều năng lực cốt lõi cũng như năng lực đặc thù bộ môn Hoá học Qua đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

HS chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học tập (lấy người học làm trung tâm) và học sinh có nhiều cơ hội được khẳng định bản thân cũng như được tiếp cận với các nguồn kiến thức phong phú của nhân loại (không còn bị bó hẹp theo khuôn mẫu của sách giáo khoa)

Hóa học là một bộ môn khoa học tự nhiên vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính thực nghiệm Quá trình dạy và học bộ môn Hóa học không thể tách khỏi thực nghiệm hóa học đặc biệt là các bài dạy về chất Trong quá trình giải quyết các nhiệm

vụ học tập được giao, HS được làm việc theo nhóm, được tiếp cận trải nghiệm thực

tế và các nguồn thông tin khác nhau để thu thập kiến thức Học sinh vừa nghiên cứu kiến thức nền, vừa tiến hành thí nghiệm về tính chất hóa học và áp dụng luôn để giải bài tập cũng như tìm hiểu kiến thức liên quan thực tiễn Thu thập và xử lí các thông tin thu được, vận dụng linh hoạt các kiến thức đã có để GQVĐ Đấy cũng chính là

sự khác biệt với cách truyền thụ kiến thức một chiều của phương pháp truyền thống Phương pháp này không chỉ áp dụng trong dạy học bài sắt mà còn có thể áp dụng cho những chủ đề về chất khác như: chủ đề halogen, chủ đề kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm….và một phần tính chất hóa học hữu cơ khác

Trang 8

2.4 Tính khoa học

Theo Chương trình Giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”

Chúng ta có thể rút ra vài nét đặc trưng của năng lực đó là:

+ Năng lực được thể hiện, bộc lộ qua hoạt động

+ Đảm bảo hoạt động có hiệu quả và đạt được kết quả như mong muốn

2.4.1 Cấu trúc chung của năng lực:

Tham khảo theo tài liệu: thong-qua-phuong-phap-va-phuong-tien-day-hoc-moi-4287473.html

https://baigiang.violet.vn/present/phat-trien-nang-luc-2.4.2 Một số năng lực và năng lực đặc thù của môn Hóa học cần phát triển cho học sinh Trung học phổ thông

Là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của các lĩnh vực học tập như ngôn ngữ, toán học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ, nghệ thuật, đạo đức - GD công dân, GD thể chất

Do đặc thù môn học “Hóa học là một môn khoa học vừa lý thuyết vừa thực

nghiệm” nên nó cũng có những năng lực đặc thù sau:

+ Năng lực nhận thức hóa học

+ Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học

+ Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học

2.4.3 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Năng lực GQVĐ và năng lực sáng tạo có mối quan hệ với nhau Năng lực GQVĐ là tiền đề tạo điều kiện, môi trường để năng lực sáng tạo phát triển và năng lực sáng tạo tác động trở lại giúp việc GQVĐ một cách mới mẻ, nhanh chóng, linh hoạt và hiệu quả hơn Sáng tạo mà không được áp dụng vào các tình huống cụ thể thì sự sáng tạo đó không có ý nghĩa Cả 2 năng lực này đều có chung một mục đích

là việc GQVĐ Sự kết hợp logic giữa năng lực GQVĐ và năng lực sáng tạo này người ta người ta gọi nó là năng lực GQVĐ&ST

Vì vậy, chúng ta có thể hiểu: năng lực GQVĐ&ST của HS là khả năng HS biết phân tích, đề xuất các biện pháp năng lực GQVĐ và lựa chọn giải pháp không những phù hợp nhất mà còn mới lạ để năng lực GQVĐ đó, đồng thời đánh giá giải pháp năng lực GQVĐ, suy ngẫm về cách thức và tiến trình GQVĐ dưới những góc nhìn khác nhau để điều chỉnh và vận dụng linh hoạt trong hoàn cảnh, nhiệm vụ mới Từ đó thực hiện thành công nhiệm vụ học tập và GQVĐ đặt ra cho chính các

em trong học tập

Áp dụng các biện pháp cơ bản để phát triển NLGQVĐ&ST cho HS như sau:

Trang 9

+ Biện pháp 1: Trường hợp có vấn đề trong bài dạy học có kiến thức mới

Trong các bài nghiên cứu tính chất hóa học của các chất có rất nhiều trường hợp có vấn đề xuất hiện Đó là những trường hợp nảy sinh khi có sự mâu thuẫn giữa tính chất hóa học đã biết và tính chất cần tìm hiểu, mâu thuẫn giữa tính chất hóa học đã biết với kiến thức mới xây dựng, mâu thuẫn giữa kiến thức của HS với hiện tượng xảy ra Trong đó tình huống có vấn đề phải kích thích, gây được hứng thú nhận thức đối với HS Tạo cho HS tự giác tích cực vào hoạt động nhận thức

GV cần hướng dẫn HS hiểu và nêu được vấn đề nghiên cứu Ví dụ: Đun nóng ancol etylic với dung dịch H2SO4 thì có những loại phản ứng nào diễn ra? Điều kiện để xảy ra phản ứng đó là gì?

Để phát triển NLGQVĐ&ST cho HS trong dạy học bài mới, HS cần được tạo điều kiện hoạt động tích cực, sáng tạo GQVĐ thể hiện ở các bước sau:

Bước 1: Xác định các tình huống

Bước 2: Lập kế hoạch

Bước 3: Thực hiện kế hoạch

Bước 4: Kiểm tra giả thuyết bằng các PP khác nhau

Bước 5: Có thể làm thí nghiệm để tìm hiểu thông tin từ SGK

Bước 6: Thu thập thông tin từ các bài chọn lọc trước đó

+ Biện pháp 2: Phát triển NLGQVĐ&ST cho HS thông qua luyện tập

Trong giờ luyện tập BTHH được sử dụng rất thường xuyên Trong các bài luyện tập, HS có thể tiến hành GQVĐ thông qua giải các BTHH, giải quyết một số vấn đề trong thực tiễn Ngoài ra trong bài luyện tập cũng có thể cho HS tiến hành giải một số bài tập thực nghiệm có chứa những vấn đề cần giải quyết

Ví dụ như: Biết phân biệt các chất, tính phần trăm về khối lượng các chất trong hỗn hợp chất, điều chế

+ Biện pháp 3: Phát triển NLGQVĐ&ST cho HS trong bài thực hành hóa học hay khi tiến hành thí nghiệm trên lớp Trong bài thí nghiệm hay chứa đựng những

tình huống có vấn đề, do trong quá trình làm thí nghiệm rất dễ có hiện tượng nảy sinh, phụ thuộc vào thao tác thực hiện mà có thể cho hiện tượng kết quá khác nhau, nên sẽ chứa những tình huống có vấn đề Khi đó GV cần hướng dẫn HS phát hiện

Trang 10

Có thể sử dụng một số KTDH sau để phát triển NLGQVĐ&ST cho HS:

* Kĩ thuật công não

2.4.4 Giờ dạy sử dụng PPDH theo góc, PPDH nêu vấn đề nhằm phát triển

năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

Nhận thấy những ưu điểm nổi bật của việc sử dụng các PPDH và KTDH mới trong quá trình giảng dạy Trên cơ sở nắm vững nguyên tắc, quy trình xây dựng, sử dụng PPDH theo góc, PPDH giải quyết vấn đề và các KTDH mới trong dạy học môn hóa học – THPT theo định hướng phát triển NLGQVĐ&ST cho học sinh, dựa trên nội dung chương trình SGK Hóa học 12 và tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng tôi biên soạn giáo án có sử dụng các PPDH và KTDH theo hướng phát triển NLGQVĐ&ST cho HS như sau:

KẾ HOẠCH BÀI DẠY

Bài 31: SẮT ( 1 tiết )

I-MỤC TIÊU

1 Kiến thức, kỹ năng, thái độ

Kiến thức:

+ Vị trí nguyên tố sắt trong bảng tuần hoàn

+ Cấu hình e của nguyên tử và các ion Fe2+, Fe3+

+ Trạng thái tồn tại của sắt trong tự nhiên

+ Tính chất hóa học của đơn chất sắt

Kỹ năng:

- Viết cấu hình e của nguyên tử và ion

- Viết phương trình hóa học các phản ứng minh họa tính chất hóa học của sắt

- Giải quyết được các bài tập có liên quan đến thực tiễn bằng kiến thức đã học và các bài tập định tính, định lượng có liên quan

- Thu thập và xử lí các thông tin thu được, vận dụng linh hoạt các kiến thức đã có

để GQVĐ

- Quan sát, nhận xét giải thích hiện tượng của thí nghiệm và rút ra kết luận

- Phát triển kĩ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin

- Giải thích một số hiện tượng thực tiễn và sự ảnh hưởng của sắt tới đời sống thực tiễn

Thái độ

Trang 11

- Trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập được giao, HS được làm việc theo nhóm, được tiếp cận trải nghiệm thực tế và các nguồn thông tin khác nhau để thu thập kiến thức Từ đó, HS có được niềm vui của việc chiếm lĩnh khoa học, say mê hứng thú với môn học và nâng cao tinh thần đoàn kết trong tập thể

- Có thái độ tích cực tư duy, tự giác trong học tập, ý thức vươn lên chiếm lĩnh tri thức

- Có ý thức và tuyên truyền mọi người cùng tham gia xử lí một số tác hại của quá trình sản xuất sắt và xử lí nguồn nước ngầm có hàm lượng sắt cao để bảo vệ sức khỏe

- Biết quí trọng và biết bảo vệ tài nguyên của đất nước

- Yêu thích bộ môn được học

2 Định hướng các năng lực được hình thành

Ngoài việc hình thành và phát triển các năng lực chung và năng lực chuyên môn,

tập trung phát triển NLGQVĐ&ST, cụ thể:

+ Hoạt động 2 tập trung phát triển những NL sau:

+ Nhận ra ý tưởng mới

+ Phát hiện và làm rõ vấn đề

+ Hình thành và triển khai ý tưởng mới

+ Đề xuất, lựa chọn giải pháp

+ Hoạt động 3 tập trung phát triển những NL sau:

+ Tư duy độc tập

+ Thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ

II-THIẾT KẾ CÁC TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

PPDH chủ yếu là DHTG, các PPDH cần phối hợp là DH GQVĐ, hoạt động nhóm,thuyết

trình, thực hành……

Kết hợp với một số kỹ thuật dạy học như KWL, Sơ đồ tư duy…

1 Chuẩn bị của GV và HS

Giáo viên

 Nhiệm vụ và phiếu học tập của từng góc

 Dụng cụ và hóa chất cho góc trải nghiệm

 Sách giáo khoa Hóa 12 cơ bản, bảng hệ thống tuần hoàn cho góc phân tích

 Video thí nghiệm của bài học Máy tính kết nối mạng cho góc quan sát

 Phiếu học tập cho góc áp dụng

 Giấy A4

Học sinh

 Xem lại kiến thức về oxi, lưu huỳnh, Clo và hợp chất của chúng

 SGK hóa học lớp 12, máy tính cầm tay, bảng tuần hoàn

2-Các hoạt động dạy học

2.1 Hoạt động trải nghiệm kết nối

a Mục tiêu hoạt động: Huy động kiến thức đã được học, kiến thức từ thực tiễn của học

sinh và tạo nhu cầu tiếp tục tìm hiểu kiến thức mới

Trang 12

b Phương thức tổ chức hoạt động: GV chiếu một số hình ảnh công trình xây dựng, các

vật dụng bằng kim loại Sắt Yêu cầu HS cho biết nguyên tố kim loại rất phổ biến (đứng thứ 4)trên trái đất chiếm khoảng 5% khối lượng vỏ trái đất

 HS: Thảo luận và trả lời

 Kết luận nguyên tố Sắt

c Sản phẩm hoạt động: Đánh giá thông qua câu trả lời của học sinh ngay tại lớp 2.2 Hoạt động hình thành kiến thức mới

a Mục tiêu hoạt động: HS nắm được vị trí cấu tạo, tính chất vật lý, tính chất hóa học,

trạng thái tự nhiên, ứng dụng của Sắt

b Phương thức hoạt động:

Hoạt động 1: HS hoàn thành phiếu học tập số 1

 GV Chiếu BHTTH, yêu cầu HS xác định vị trí của Sắt

GV phát cho từng HS 1 tờ giấy A4 để từng cá nhân HS viết những điều mình mong muốn và từng nhóm tập hợp ý kiến của từng cá nhân để điền thông tin vào phiếu học tập chung của cả nhóm Yêu cầu HS viết vào cột K những gì mà HS cho là đã biết về Sắt Khuyến khích HS ghi vào cột W những gì mà các em cho là còn cần phải biết, phải học

để có thể đạt được mục tiêu bài học

Sau khi kết thúc bài, HS điền vào cột L của phiếu những gì vừa học được

K Những điều đã biết Những điều muốn biết W Những điều đã học được L

 HS hình thành mong muốn tìm hiểu kiến thức để GQVĐ

Hoạt động 2: HS hoạt động theo góc lựa chọn

 GV chia lớp thành 4 góc: Góc phân tích, góc trải nghiệm, góc quan sát và góc áp dụng Thời gian hoạt động cho góc phân tích, góc quan sát và góc trải nghiệm là

20 phút Sau đó các nhóm nhận phiếu học tập tại góc áp dụng và hoàn thành trong

6 phút

 GV nêu mục tiêu và cách thực hiện nhiệm vụ mỗi góc ( chiếu trên màn hình và dán ở mỗi góc)

 HS biết được mục tiêu và nhiệm vụ ở mỗi góc học tập

 GV hướng dẫn HS về các góc xuất phát theo phong cách học Nếu HS tập trung vào một góc quá đông thì GV động viên cho các em sang góc khác

 HS nghe và nhận nhiệm vụ Trao đổi những vấn đề còn chưa rõ trong phiếu học tập ở các góc Thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của các phiếu học tập

 GV quan sát, theo dõi hoạt động của các nhóm HS và hỗ trợ nếu HS yêu cầu về: hướng dẫn thí nghiệm, hướng dẫn áp dụng bài tập Nhắc nhở HS luân chuyển góc theo các nhóm

 GV hướng dẫn HS báo cáo kết quả Yêu cầu mỗi nhóm dán kết quả tại góc bảng tưng ứng HS thảo luận và hoàn thành cột L trong phiếu học tập khi hoàn thành

Trang 13

hết các góc GV gọi đại diện từng nhóm lên báo cáo kết quả và yêu cầu các nhóm còn lại nhận xét, đánh giá

 Phần tính chất hóa học: Sắt tác dụng với Nước giảm tải các em không nghiên cứu

Góc phân tích

1 Mục tiêu: Nghiên cứu nội dung SGK và rút ra:

 Tính chất vật lí cơ bản của Sắt: Màu sắc, khối lượng riêng, nhiệt độ nóng chảy, tính dẫn điện, dẫn nhiệt, tính chất vật lí đặc biệt

 Tính chất hóa học của sắt, viết các phương trình phản ứng minh họa

 Trạng thái tự nhiên của sắt

2 Nhiệm vụ:

 Cá nhân: HS nghiên cứu SGK phần tính chất vật lí, tính chất hóa học, ứng dụng

 Nhóm : Thảo luận hoàn thành phiếu học tập số 2 và ghi nội dung vào giấy A4

Phiếu học tập số 2 Tên nhóm

1 Nghiên cứu SGK và nêu:

 Tính chất vật lí của Sắt

 Trạng thái tự nhiên của sắt

2.Từ cấu hình electron nguyên tử hãy dự đoán tính chất hóa học của sắt?

3.Nêu tính chất hóa học đặc trưng của Sắt và viết các PTHH minh họa? Xác định số oxi hóa và vai trò của sắt trong các phản ứng

Chú ý: Nội dung 1 và 3 trình bày theo sơ đồ tư duy

Góc quan sát

* Mục tiêu:

 Nêu được một số loại quặng sắt, công thức của một số loại quặng sắt

 Trình bày/ rút ra tính chất hóa học của sắt từ quá trình quan sát các video thí nghiệm…

* Nhiệm vụ:

 GV: Tạo tình huống có vấn đề: Cho HS quan sát 2 thanh sắt, 1 thanh sắt mới và 1 thanh sắt đã bị gỉ , yêu cầu HS tìm hiểu nguyên nhân vì sao các đồ vật bằng sắt rất nhanh bị phá hủy nếu không được bảo vệ? đề xuất các thí nghiệm kiểm chứng?Từ

đó rút ra tính chất hóa học của sắt

 Xem băng hình các video thí nghiệm và quan sát hiện tượng

 Tìm kiếm trên mạng hình ảnh và công thức một số loại quặng sắt

 Hoàn thành phiếu học tập số 3

Phiếu học tập số 3 Tên nhóm:

1 Quan sát một số loại quặng sắt và ghi lại công thức một số loại quặng sắt

2 Quan sát video thí nghiệm và hoàn thành bảng sau:

Trang 14

Tên thí nghiệm

Hiện tượng, giải thích

* Kiến thức đã biết: Đã gặp sắt trong thực tế, đã nắm được tính chất hóa học chung

của kim loại, của axit nitric, axit Sunfuric học ở lớp 10 và 11

* Kiến thức mới cần hình thành: Tính chất của đơn chất sắt

* Mục tiêu:

- Trình bày tính chất vật lí của sắt thông qua quan sát trực tiếp mẩu đinh sắt

- Tiến hành các thí nghiệm để làm sáng tỏ tính chất hóa học của sắt

* Nhiệm vụ:

- Quan sát mẩu đinh sắt và kiến thức thực tế để rút ra tính chất vật lí của sắt

- Dựa vào tính chất hóa học chung của kim loại đã hoc ở lớp 9, chương oxi- lưu huỳnh đã học ở lớp 10; chương nitơ – photpho đã học ở lớp 11 dự đoán các phản ứng hóa học của sắt

- Chia thành các nhóm nhỏ để tiến hành các thí nghiệm Tổng hợp báo cáo theo mẫu

- Trình bày dưới dạng sơ đồ tư duy về tính chất vật lí và tính chất hóa học trên giấy A4

Phiếu hướng dẫn thí nghiệm Thí nghiệm 1: Lấy 2 ml dung dịch H2SO4 loãng vào ống nghiệm, thả một đinh sắt đã đánh sạch lớp gỉ vào ống nghiệm, quan sát hiện tượng và viết PTHH xảy ra Xác định

số oxi hóa và vai trò của sắt trong phản ứng

Thí nghiệm 2: Lấy vào 2 ống nghiệm mỗi ống 2 ml dung dịch HNO3 đặc Thả một chiếc đinh sắt sạch vào 2 ống nghiệm Đậy ống nghiệm 1 bằng nút cao su có gắn bông tẩm NaOH.Tiến hành đun nóng nhẹ ống nghiệm 1 Quan sát hiện tượng, so sánh hiện tượng xảy ra ở 2 ống nghiệm Viết PTHH xảy ra Xác định số oxi hóa và vai trò của sắt trong phản ứng

Chú ý: - HNO3 rất nguy hiểm, nên chú ý thao tác thí nghiệm

- Khí NO2 độc nên chuẩn bị bông tẩm xút để hạn chế NO2 thoát ra ngoài

Ngày đăng: 21/04/2023, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w