MỤC LỤC 2 I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 2 1 Tên sáng kiến Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phép nhân, 3 2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến Toán Tiểu học 3 3 Phạm vi áp dụng sáng kiến Cấp cơ sở 3 4[.]
Trang 1MỤC LỤC……….2
I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 2
1 Tên sáng kiến: Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phép nhân, 3
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Toán Tiểu học 3
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: Cấp cơ sở 3
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ năm 2020 đến nay 3
5 Tác giả: 3
6 Đồng tác giả ( nếu có) : Không 3
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN 3
1.Tình trạng giải pháp đã biết 3
1.1 Đặc điểm đã biết của học sinh tiểu học……… 3
1.2 Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học……… 4
1.3 Đặc điểm của môn Toán lớp 3………4
1.4 Đặc điểm của lớp chủ nhiệm……… …5
2.Nội dung (các) giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến: 6
2.1 Mục đích giải pháp: 6
2.2 Nội dung giải pháp:….… ….….….….….….….….….….….….….….….6
2.2.1 Các bước thực hiện giải pháp……… …… ……… …… 6
2.2.2 Cách thức thực hiện ……….… 7
2.2.3 Tính mới, sự khác biệt so với biện pháp cũ…….……… …11
3 Khả năng áp dụng của giải pháp 11
4 Hiệu quả, lợi ích hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp 11
5 Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có) 12
6 Các thông tin cần được bảo mật: Không 12
7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến……… 12
8 Tài liệu kèm theo: Giấy áp dụng, áp dụng thử sáng kiến: 12
III Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền 12
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN 13
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phép nhân, phép chia trong môn Toán lớp 3
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Toán Tiểu học
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: Cấp cơ sở
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ năm 2021 đến nay
5 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Thanh
Năm sinh: 1990
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường Tiểu học Nguyễn Trãi, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái Địa chỉ liên hệ: Trường Tiểu học Nguyễn Trãi, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái Điện thoại: 0785385888
6 Đồng tác giả (nếu có): Không
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN
1 Tình trạng giải pháp đã biết
1.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
Qua nghiên cứu khả năng phân tích của học sinh lớp 3 còn thấp, các em thường tri giác trên tổng thể.Tri giác không gian chịu nhiều tác động của trường tri giác gây ra các biến giác, các ảo giác Sự chú ý không chủ định còn chiếm ưu thế ở học sinh lớp 3 Sự chú ý này không bền vững nhất là đối với các đối tượng
ít thay đổi
Trí nhớ trực quan - hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ lô-gic Các hình ảnh, hiện tượng cụ thể dễ nhớ hơn là các câu chữ trừu tượng khô khan Ở lớp 3, trí nhớ tưởng tượng có phát triển hơn lớp 2 nhưng còn tản
Trang 3mạn, ít có tổ chức và chịu nhiều ảnh hưởng của hứng thú, của kinh nghiệm sống
và các mẫu hình đã biết
Với những đặc điểm nhận thức đã nêu trên của học sinh lớp 3, người giáo viên cần nắm vững làm cơ sở để lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp trong quá trình giải các bài toán, để biết cách thu hút sự chú ý của học sinh, giúp các em hiểu được bản chất của bài toán, nắm được cách giải bài toán một cách
lô - gic khoa học chứ không máy móc đồng thời dần dần hình thành ở các em các thao tác tư duy, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết của người lao động mới
1.2 Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học
Tư duy của học sinh lớp 3 là quá trình các em phản ánh bản chất của đối tượng vào não trong quá trình học tập Ở học sinh lớp 3 có các loại tư duy sau:
a Tư duy trực quan hành động: Là loại tư duy hướng vào giải quyết nhiệm vụ cụ thể trực quan dựa vào các thao tác bàn tay
b.Tư duy trực quan hình ảnh: Là loại tư duy hướng vào giải quyết nhiệm
vụ cụ thể trực quan
Các nhà tâm lí học sư phạm cho rằng: Khi phân loại và khái quát hóa đối tượng hầu hết học sinh đầu bậc Tiểu học đều dựa vào các dấu hiệu tác động mạnh đến giác quan, điều này gây khó khăn cho học sinh khi phân loại các dạng bài toán và tìm ra phương pháp giải chúng nói chung
Vì thế, giáo viên cần kiên nhẫn giúp các em nhận biết được các dạng bài toán để tìm ra cách giải các dạng bài toán đó Tuy nhiên để học sinh nhận biết và giải được các bài toán đó thì cần phải thông qua các hoạt động thực hành, các hoạt động trừu tượng hóa và khái quát đối tượng
1.3 Đặc điểm môn toán ở lớp 3:
Chương trình môn toán ở lớp 3 gồm các mạch kiến thức chính sau:
- Số tự nhiên
- Bốn phép tính với số tự nhiên
- Đại lượng và đo đại lượng
Trang 4- Yếu tố hình học
- Tính giá trị biểt thức
- Giải toán có lời văn
Các mạch kiến thức này nói chung không được trình bày bằng những chương, từng phần riêng biệt mà chúng luôn được sắp xếp xen kẽ với nhau tạo thành một sự kết hợp hữu cơ và hỗ trợ đắc lực lẫn nhau trên nền tảng của các kiến thức số học Trong mỗi bài thì việc thực hiện phép nhân, phép chia trong môn Toán lại chiếm một thời lượng khá lớn là hình thức hoạt động trong hoạt động học tập của học sinh và cũng giúp học sinh nắm vững tri thức, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng kĩ xảo ứng dụng toán học vào thực tiễn
1.4 Đặc điểm của lớp chủ nhiệm
Năm học 2021 - 2022 tôi được phân công giảng dạy lớp 3D trường tiểu học Nguyễn Trãi – Thành phố Yên Bái
Lớp 3D do tôi chủ nhiệm và giảng dạy có 41 học sinh Trong đó: Đa số là con gia đình kinh doanh và lao động tự do Nhiều em do hoàn cảnh gia đình phải
ở cùng ông bà thiếu thốn tình cảm và sự quan tâm của bố mẹ điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em
Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy: Trong mạch nội dung Số và phép tính của môn Toán lớp 3 thì khi thực hiện phép nhân, phép chia học sinh còn hay nhầm lẫn, gặp nhiều khó khăn Do ở lớp 3 học sinh mới bắt đầu được thực hiện phép tính nhân và chia ngoài bảng Bên cạnh đó nhiều em chưa nhận được sự quan tâm từ gia đình, chưa nắm chắc bản chất của phép nhân và phép chia, chưa phát triển khả năng tư duy của các
em Chính vì vậy việc giúp học sinh thực hiện thành thạo các phép tính nhân và phép chia là một vấn đề cấp thiết, vô cùng quan trọng Giúp học sinh có nền tảng để thực hiện tốt các phép nhân, phép chia ở lớp trên và học tốt các mạch kiến thức khác trong chương trình
Tóm lại: Bất cứ một phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nào cũng có
hai mặt: tích cực và tiêu cực Cái chính là cách chúng ta làm thế nào để phát huy
Trang 5được thế mạnh của nó và loại bỏ dần những hạn chế nảy sinh trong quá trình thực hiện Sau đây là một số giải pháp để thực hiện thành công giúp học sinh học tốt phép nhân, phép chia trong môn Toán lớp 3
Đứng trước khó khăn đó tôi đã tiến hành thẩm định khảo sát lượng, từ đó
có biện pháp và phương pháp dạy – học đạt kết quả cao hơn
*Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm:
Lớp
Số
HS
dự
KS
Điểm dưới 5 Điểm 5-6 Điểm 7-8 Điểm 9-10
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Trước kết quả học sinh còn nhiều hạn chế về cách học, tôi không hề chán nản mà đây là điều kiện để mình nghiên cứu tìm ra những phương pháp tổ chức các em lĩnh hội kiến thức chủ động tích cực nhất Đồng thời tôi xác định yêu cần đạt chuẩn về kiến thức, kỹ năng môn học theo chương trình, căn cứ vào tình hình thực tế của đối tượng học sinh, tạo điều kiện cho các em hăng say học Toán hơn
2 Nội dung giải pháp:
2.1 Mục đích giải pháp
- Phát huy được năng lực học tập của tất cả các đối tượng học sinh trong
lớp Nâng cao chất lượng dạy học về phép nhân, phép chia cho học sinh Khắc
phục được những hạn chế đã nêu trong phần mở đầu
2.2 Nội dung giải pháp
- Giúp học sinh rèn luyện kỹ năng thực hiện tính nhẩm phép nhân, chia
trong bảng và ngoài bảng
2.2.1 Các bước thực hiện giải pháp
- Căn cứ tình hình thực tế
- Nghiên cứu các giải pháp
Trang 6- Áp dụng các giải pháp đó
- Đúc rút kinh nghiệm
2.2.2 Cách thức thực hiện
* Giải pháp 1: Sử dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
Trong dạy học tôi luôn có phương châm giáo viên chỉ là người hướng dẫn,
tổ chức cho học sinh hoạt động học tập còn học sinh phải tự tìm ra tri thức Vì vậy trong các giờ học Toán tôi đã sử dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực giúp học sinh phát triển một số năng lực, phẩm chất
Ví dụ: Khi hướng dẫn HS thành lập bảng nhân 6, trong bài “Bảng nhân 6”
SGK Toán lớp 3, tôi sử dụng phương pháp dạy học thực hành
Bước 1: GV chia lớp thành 6 nhóm, yêu cầu HS lấy các hạt ngô hoặc đỗ đã
chuẩn bị từ trước sau đó thực hành, hoàn thiện vào phiếu bài tập để lập bảng nhân 6
Bước 2: GV yêu cầu mỗi nhóm thao tác trên các hạt đã chuẩn bị sẵn, mỗi
lần lấy là 6 hạt, số lượt lấy lần lượt 1, 2, 3, … 9 Sau đó viết phép tính và kết quả tương ứng
Bước 3: GV cho các nhóm thực hành
Bước 4: GV cho các nhóm báo cáo kết quả
Tuy nhiên ở các bảng nhân tiếp theo, để phát triển tư duy cho các em tôi chỉ cho học sinh thực hành tìm ra kết quả của phép nhân 7 x 1, 7 x 2, 7 x 3 còn kết quả các phép nhân còn lại tìm dựa trên 7 x 4 = 7 x 3 + 7, 7 x 5 = 7 x 4 + 7…
Ví dụ: Bài: “Chia số có hai chữ số với số có một chữ số (tiếp theo)
Trong bài này tôi sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn
Việc lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho phải phù hợp với nội dung bài học, nhận thức của học sinh, điều kiện thực tế
* Giải pháp 2: Tìm những lỗi học sinh hay mắc phải khi thực hiện phép tính và cách khắc phục
Khi thực hiện các phép tính nhân, chia ở lớp 3 học sinh thường gặp một số khó khăn, sai lầm sau:
* Dạy học phép nhân
Trang 7a) Quên nhớ trong phép nhân có nhiều lần nhớ
* Biện pháp khắc phục: GV yêu cầu học sinh ghi số cần nhớ ra lề, tránh bị quên
b) Ghi kết quả sai
x 34
3
912
* Biện pháp khắc phục: GV cần phân tích cho HS hiểu: Nếu viết như trên thì tích có tới 91 chục, nhưng thực ra chỉ có 10 chục mà thôi Vì:
- Ở lượt nhân thứ nhất: 3 nhân 4 đơn vị được 12 đơn vị, tức là 1 chục và 2 đơn vị, viết 2 ở cột đơn vị, còn 1 chục nhớ lại để thêm vào hàng chục ở lượt nhân tiếp theo
- Ở lượt nhân thứ hai: 3 nhân 3 chục được 9 chục, thêm một chục đã nhớ là
10, viết 10 ở cột chục
* Dạy học phép chia
a) Học sinh đặt tính sai
Khi mới học phép chia một số học sinh vẫn đặt tính phép chia theo cột dọc như khi đặt tính phép tính cộng, trừ, nhân Vì vậy, GV nhắc lại cách đặt tính cho học sinh
b, Ước lượng thương sai
Khi chia ngoài bảng học sinh thường ước lượng thương sai nên số dư lớn
hơn số chia Kết quả phép chia lớn hơn cả số bị chia Nguyên nhân học sinh chưa biết cách ước lượng thương, không nhớ trong phép chia, số dư luôn phải bé hơn số chia
* Biện pháp khắc phục: GV cần hướng dẫn kĩ học sinh cách ước lượng thương
Vì vậy, ở lớp 3 khi chia cho số có 1 chữ số, số chia là số nào thì ta tìm tương ứng trong bảng nhân đó, tích (gần nhất) với số bị chia
c, Học sinh quên ghi số “0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương
* Biện pháp khắc phục : GV khi hướng dẫn chia phải lưu ý học sinh có bao nhiêu lượt chia thì thương sẽ có bấy nhiêu chữ số, chỉ có lần chia thứ nhất
Trang 8khi lấynhiều hơn một chữ số ở số bị chia mà chỉ ghi một chữ số ở thương, còn các lần chia tiếp theo cứ hạ một chữ số ở số bị chia xuống để chia thì thương được một chữ số
* Giải pháp 3 : Sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế một số trò chơi học Toán
Trò chơi học tập giúp học sinh thay đổi hình thức hoạt động học, giúp không khí lớp học sôi nổi, giúp học sinh hứng thú, thu hút được sự chú ý của học sinh, học mà chơi, chơi mà học Làm cho giờ học môn Toán không khô khan Hiểu được điều đó, vào đầu giờ học hay trong các bài tập tôi thường sử dụng một số trò chơi sau để học sinh thực hiện phép nhân tốt hơn, hứng thú hơn, góp phần phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh
Ví dụ một số trò chơi sau :
- Trò chơi : Hộp quà may mắn
Mục tiêu : Luyện tập làm tính nhân, chia
- Trò chơi : “ Hái hoa dân chủ”
Mục đích: Rèn cho HS kĩ năng tính nhẩm nhanh, rèn phản xạ nhanh, tinh
mắt cho học sinh
* Giải pháp 4: Khơi gợi động cơ học tập cho học sinh
Động cơ là một trong những yếu tố quan trọng, giúp học sinh có hứng thú
trong học Toán Vì vậy, việc tạo ra động cơ để học sinh thực hiện phép nhân, phép chia trong quá trình dạy học Toán là vấn đề cấp thiết hàng đầu Để tạo ra được động cơ giáo viên giúp học sinh thấy được ứng dụng quan trọng, hữu ích của phép nhân, phép chia trong cuộc sống hàng ngày thông qua phần “ Khởi động” trong mỗi tiết học Học sinh được bày tỏ ý kiến của mình cũng như ý kiến
của nhóm về vấn đề cần giải đáp
Do đó, trong quá trình dạy học bên cạnh những bài Toán trong SGK, tôi đã thiết kế một số tình huống, bài Toán có nội dung thực tế mà các em hay gặp trong đời sống thực tiễn hàng ngày Qua đó học sinh thấy được ứng dụng của phép nhân, phép chia trong giải quyết các tình huống thực tiễn, góp phần tạo động cơ, hứng thú thực hiện phép tính nhân, phép tính chia
Trang 9Ví dụ: Trong bài: “Nhân số có hai chữ số cho số có một chữ số”
Để giúp học sinh hiểu hơn về ứng dụng của phép nhân trong đời sống hàng ngày và có hứng thú trong bài học GV đưa ra tình huống để dẫn dắt vào bài mới như sau: “Hôm nay nhà cô Ba có cỗ, cô Ba muốn xếp vào mỗi đĩa tráng miệng
12 quả quýt Các em hãy tính giúp cô Ba xem cô phải mua bao nhiêu quả quýt
để bày đủ 3 mâm cỗ? Thay vì cô bị thừa hoặc thiếu số quýt cần bày.”
- Từ tình huống này, học sinh thảo luận theo nhóm đôi đưa ra được phép tính 12 x 3= ?
Từ đó học sinh tự phân tích nêu được đây là phép nhân số có hai chữ số có hai chữ số với số có một chữ số GV kết nối từ phép tính đó vào bài mới
Ví dụ: Trong bài: Chia số có hai chữ số cho số có một chữ số (tiếp theo)
“Đọc truyện trong giờ học toán” nghe có vẻ hơi kì lạ Nhưng nhờ cách này
mà giờ học toán không còn khô khan với đầy những con số nữa mà được rất nhiều học sinh đón nhận Nó giúp kích thích trí tò mò và thêm yêu thích môn
toán Có em học sinh lớp tôi đã từng nói “Con thích những câu chuyện như vậy hơn là cô viết phép tính lên bảng rồi hướng dẫn” Điều này làm tôi thêm tự tin
vào giải pháp của mình
Trong phần “khởi động” tôi kể cho học sinh một câu chuyện như sau:
“Khi còn bé, ai mà chả thích ăn kem nhỉ! Tôi và em gái Đậu Nành cũng thế Chúng tôi thích kem kinh khủng Nhưng mẹ thì không muốn bọn tôi ăn kem vì
lo hai chị em bị viêm họng Thấy mẹ chuẩn bị cắm hoa Chợt tôi nghĩ “Hay là mình cắm hoa giúp mẹ biết đâu phép màu sẽ xảy ra Nhưng có tận 78 bông hoa
mà chỉ có 4 chiếc lọ, chúng tôi suy nghĩ mãi mà chưa biết cắm thế nào cho đều
và đẹp (Đến đây tôi yêu cầu học sinh giúp chị em Đậu Nành cắm được số lọ hoa như mong muốn Từ đó học sinh nêu được phép tính 78:4, đặt và thực hiện phép tính dưới sự giám sát của giáo viên (78 : 4=19 dư 2)) Sau khi học sinh đặt
và thực hiện tính tôi kể tiếp câu chuyện cho hs nghe “Cuối cùng tôi vận dụng kiến thức mình vừa được học cắm đủ 4 bình hoa Còn thừa 2 bông hoa tôi và Đậu Nành mang tặng mẹ Mẹ rất vui và cảm động liền thưởng cho chúng tôi cây kem yêu thích”
Trang 102.2.3 Tính mới, sự khác biệt của giải pháp so với giải pháp cũ
Biện pháp: “ Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phép nhân, phép chia trong môn Toán lớp 3” đã đưa ra một số giải pháp cụ thể được áp dụng
vào môn toán ở khối 3 tại trường Tiểu học Nguyễn Trãi Các giải pháp này đã
phát huy được năng lực học tập của tất cả các đối tượng học sinh trong toàn khối Học sinh tự tin trong tiết học, biết lựa chọn cách giải tốt nhất cho bài làm của mình, tạo điều kiện phát triển tư duy, năng lực tự học, góp phần nâng cao
chất lượng học tập
3 Khả năng áp dụng của biện pháp
Biện pháp “Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phép nhân, phép chia trong môn Toán lớp 3” hiện nay đã được tổ chuyên môn tôi áp dụng cho khối
lớp 3, và đã thu được những kết quả khả quan Có thể nhân rộng cho các khối 4,5 trong nhà trường và các trường tiểu học trong thành phố
4 Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng biện pháp trong thực tế dạy học
Qua quá trình nghiên cứu, áp dụng đề tài vào thực tiễn, tôi thấy đề tài nghiên cứu đã thu được những kết quả đáng khích lệ, đạt được mục tiêu dạy học toán nói chung và của môn toán lớp 3 nói riêng, đó là:
Không khí học tập trong lớp khác hẳn, các em học tập tích cực hơn, hào hứng hơn, chăm chỉ hơn; giáo viên giảng dạy cũng hăng say hơn, hưởng ứng phong trào học tập nhiệt tình hơn Những em có khó khăn trong cách giải toán
có lời văn hay những em lúng túng trong cách ghi câu trả lời thì giờ cũng tiến bộ vượt trội hơn trước rất nhiều
Tôi đã tiến hành thử nghiệm và kết quả học kì 1 như sau:
Lớp
Số
HS
dự
KS
Điểm dưới 5 Điểm 5-6 Điểm 7-8 Điểm 9-10
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%