Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT phần Lịch sử thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 theo mức độ năng lực ở trường PT DTNT THPT Tỉnh Yên Bái 2.. Hiệ
Trang 1TÊN SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2000 THEO MỨC ĐỘ NĂNG LỰC Ở TRƯỜNG PT DTNT
Yên Bái, tháng 2 năm 2022
Trang 22
BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ
I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp
THPT phần Lịch sử thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 theo mức độ năng lực ở trường PT DTNT THPT Tỉnh Yên Bái
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và đào tạo
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: Giáo viên, học sinh THPT
4 Thời gian áp dụng sáng kiến
Từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 1 năm 2022
5 Tác giả:
Họ và tên: NGUY N TH THANH HÒA
Ngày, tháng, năm sinh: 16/9/1975
Trình độ chuyên môn: Cử nhân sư phạm Lịch sử
Chức vụ công tác: Giáo viên, Tổ trưởng chuyên môn
Nơi làm việc: Trường PT DTNT THPT Tỉnh Yên Bái
Địa chỉ liên hệ: Trường PT DTNT THPT Tỉnh Yên Bái
bộ môn Lịch sử có kết quả khả quan Tuy nhiên, các năm 2018 đến năm 2021, chất lượng môn Lịch sử không được cải thiện nhiều Năm 2021, kết quả trung bình môn thi Lịch sử thấp nhất trong các môn thi tốt nghiệp THPT
Trang 33
Phổ điểm môn Lịch sử năm học 2017 – 2018 (nguồn Bộ giáo dục và đào tạo):
Phổ điểm môn Lịch sử năm học 2018 – 2019 (nguồn Bộ giáo dục và đào tạo):
Trang 44
Trang 55
Phổ điểm môn Lịch sử thi tốt nghiệp THPT năm 2021
Trang 66
Như vậy, nhiều năm trở lại đây, điểm Sử luôn ở vị trí cuối bảng, có điểm thấp, thậm chí là… thấp thảm hại trong các môn thi Năm 2018, điểm trung bình môn Lịch sử là 3.79; năm 2019, điểm trung bình môn Lịch sử là 4.3; năm 2020, điểm trung bình môn Lịch sử là: 5.19; và đến năm 2021, điểm trung bình môn Lịch sử là 4.97
Phân tích phổ điểm của Bộ GD&ĐT cho thấy, năm 2021, Lịch sử là môn duy nhất trong 9 môn thi có điểm trung bình dưới 5 Với 637.005 thí sinh dự thi môn Lịch sử, điểm số có nhiều thí sinh đạt nhất là 4; số thí sinh có điểm nhỏ hơn
và bằng 1 là 540 (chiếm tỷ lệ 0.08%) Đặc biệt, môn Lịch sử có 331.429 thí sinh
có điểm dưới 5 (tỷ lệ 52,03%)
Điểm thi này tiếp tục thể hiện thực trạng dạy và học Lịch sử hiện nay tại các bậc học, nhất là bậc THPT và lớp 12 chưa hiệu quả Theo các chuyên gia nghiên cứu cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc học sinh đạt điểm thấp môn Lịch sử
Thứ nhất, nước ta đang ở giai đoạn hội nhập quốc tế nên người dân có nhu cầu quan tâm đến các môn học, lĩnh vực mang tính hội nhập như Tin học, Ngoại ngữ… ; các ngành nghề mang tính hội nhập hay phục vụ quá trình hội nhập như: Ngoại giao, ngoại thương quan hệ quốc tế, Luật… Khi chọn để thi, học sinh không thích chọn các môn xã hội, đặc biệt là môn Lịch sử bởi tính chất khô khan của nó Khi môn học không hấp dẫn, học sinh khó nỗ lực để nghiền ngẫm, nghiên cứu và cũng không có động lực học Hiện số học sinh đam mê, học tốt môn Lịch sử chiếm số lượng rất ít trên cả nước
Thứ hai, học sinh thờ ơ với môn Lịch sử , không thích học Lịch sử và thi Lịch sử điểm thấp là do định hướng của cha mẹ, bởi cha mẹ thường hướng con theo những tổ hợp dễ chọn nghề, chọn trường và dễ tìm việc làm Trong số những ngành nghề này, ít xuất hiện bóng dáng của môn Lịch sử
Thứ ba, đó là đội ngũ giáo viên dạy Lịch sử Hiện có không nhiều giáo viên tâm huyết, đam mê, tìm tòi phương pháp đổi mới trong dạy Lịch sử, vì vậy không truyền được cảm hứng yêu môn học Lịch sử cho học sinh
Thứ tư, các trường học vẫn chưa thực sự coi trọng môn Lịch sử; không có đội ngũ giáo viên dạy Lịch sử tốt Phương pháp dạy Lịch sử nhàm chán, ngại đổi mới khiến học sinh càng ngày càng muốn rời xa môn Lịch sử
Thứ năm, chương trình SGK Sử vẫn dài; phương pháp dạy Lịch sử chưa lôi cuốn Lịch sử là câu chuyện kể về quá khứ Nếu chỉ kể đơn thuần và dài dòng kiểu nhồi nhét kiến thức thì không ai muốn nghe, muốn học; nhưng nếu người dạy đổi mới phương pháp, đưa công nghệ, đưa hình ảnh vào tiết Lịch sử thì sẽ gây hứng thú, truyền cảm hứng cho học sinh
Trang 77
Trong các yếu tố trên thì giáo viên đóng vai trò quan trọng Giáo viên có tốt thì học sinh mới tốt, chất lượng tiếp thu môn Lịch sử mới tốt và điểm số môn Lịch sử mới cao Đã từng có câu hỏi đặt ra, đó là điểm Sử thấp có phải do đề khó hay không? Hoàn toàn không phải bởi đề thi Lịch sử rất cơ bản, bám sát nội dung SGK; nhất là đề thi tốt nghiệp năm 2019, 2020, 2021 sát nội dung SGK Vấn đề nằm ở việc học sinh học qua loa, không nắm được sự kiện, không liên tục theo mạch, không biết được phân kỳ lịch sử Phía sau đó, chính là do các thầy cô chưa có cách truyền đạt tốt cho học sinh
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện hướng vào phát triển năng lực của học sinh, các giáo viên bộ môn Lịch sử THPT cần phải có nhiều sáng tạo trong ôn tập và đảm bảo kiến thức cho học sinh Xuất phát từ thực trạng ôn thi và kết quả thi môn Lịch sử trong nhiều năm qua, từ thực tế giảng dạy, ôn thi
và chất lượng môn Lịch sử qua kì thi tốt nghiệp của nhà trường, tôi lựa chọn sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT phần Lịch sử thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 theo mức độ năng lực ở trường PT DTNT THPT Tỉnh Yên Bái” để cùng trao đổi, chia sẻ phương pháp ôn thi hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng bộ môn với các đồng nghiệp và học sinh
2 Nội dung (các) giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
a Mục đ ch của sáng kiến
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân của thực trạng việc ôn thi tốt nghiệp THPT môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông hiện nay, sáng kiến đưa ra những biện pháp ôn thi theo định hướng năng lực nhằm giúp cho giáo viên biết cách khai thác các biện pháp ôn thi cho hợp lí và có hiệu quả
Sáng kiến giúp giáo viên thấy được vai trò quan trọng của các biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi tốt nghiệp THPT môn Lịch sử, từ đó có thức nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp phục vụ cho quá trình giảng dạy của mình
Sáng kiến giúp học sinh có hứng thú trong học tập và ôn thi môn Lịch sử
và đạt kết quả cao trong kì thi tốt nghiệp THPT nói chung và đối với môn Lịch
Trang 8ở cấp độ nhận biết và thông hiểu một cách dễ dàng
Đối với những phần kiến thức khó thay vì cứ ra sức giảng giải và nhồi nhét kiến thức thì giáo viên nên sử dụng bảng tổng hợp kiến thức và bảng so sánh để học sinh nắm kiến thức một cách một cách khoa học và có chiều sâu Qua hiểu kiến thức như vậy sẽ giúp học sinh trả lời các câu hỏi ở mức độ vận dụng và vận dụng cao một cách dễ dàng
Trong quá trình ôn tập, giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng hệ thống các câu hỏi và đáp án theo từng chủ đề và theo các mức độ năng lực
Cùng với việc giúp học sinh lĩnh hội kiến thức thì việc giáo viên hướng dẫn chiến thuật làm bài cho học sinh cũng vô cùng quan trọng Để giải quyết một đề thi môn Lịch sử thì giáo viên nên chú cho học sinh căn thời gian, làm các câu hỏi từ dễ đến khó không theo thứ tự; tìm những từ “ chìa khóa” trong câu hỏi để trả lời; nhận diện các câu hỏi; dùng phương án loại trừ để tìm đáp án đúng… Có kiến thức cộng với chiến thuật làm bài đúng đắn sẽ giúp học sinh đạt kết quả cao trong kì thi
c Một số biện pháp nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT phần Lịch sử thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 theo mức độ năng lực ở trường PT DTNT THPT Tỉnh Yên Bái
Phần Lịch sử thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 gồm 6 chủ đề tương
ứng với 6 chương theo Sách giáo khoa:
Chủ đề 1: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945 - 1949)
Chủ đề 2: Liên Xô, các nước Đông Âu và Liên bang Nga
Chủ đề 3: Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh (1945 – 2000)
Chủ đề 4: Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản (1945 – 2000)
Chủ đề 5: Quan hệ quốc tế (1945 – 2000)
Chủ đề 6: Cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hoá
Do phạm vi trình bày sáng kiến có hạn nên ở đây tôi chỉ xin trích lọc những chủ đề tiêu biểu có nội dung phù hợp làm ví dụ
Trang 99
* Biện pháp thứ nhất: Giáo viên hướng dân học sinh lập sơ đồ tư duy
đ nắm kiến thức cơ bản theo từng chủ đề
- Chủ đề 1: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945 - 1949)
- Chủ đề 2: Liên Xô các nước Đông Âu và Liên bang Nga
Trang 1010
- Chủ đề 3: Các nước Á Phi và Mĩ Latinh (1945 – 2000)
Trang 11
11
- Chủ đề 4: Mĩ Tây Âu Nhật Bản (1945 – 2000)
Trang 1212
Trang 13
13
- Chủ đề 5: Quan hệ quốc tế (1945 – 2000)
- Chủ đề 6: Cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hoá
Trang 14- Hệ quả của những cuộc chiến tranh thế giới
- Do các cường quốc thắng trận thiết lập nhằm phục vụ lợi ích tối
- Được thiết lập sau khi Chiến
tranh thế giới thứ hai kết thúc
- Đối đầu về quyền lợi giữa các nước tư bản thắng trận và bại
của Chiến tranh thế giới thứ hai
- Trật tự Ianta sụp đổ dẫn đến sự hình thành một trật tự thế giới mới theo hướng “đa cực”, nhiều
- Năm 1946, Pháp trở lại xâm lược
- 1953 – 1954 mở các chiến dịch
→ giành thắng lợi
- Năm 1954 Hiệp định Giơnevơ
- Tháng 10/1945, Pháp trở lại xâm lược Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia (1951), nhân dân đứng lên kháng chiến
- Thất bại ở Điện Biên Phủ (1954), thực dân Pháp kí Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương,
Trang 1515
được kí kết, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào
công nhận độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia
- Tháng 2/1973 Hiệp định Viêng Chăn về lập lại hòa bình và thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào được
1954 – 1970: thực hiện ch nh sách hòa bình trung lập
- Không tham gia khối liên minh quân sự, chính trị
- Tiếp nhận viện trợ từ mọi phía không có điều kiện ràng buộc
1970 – 1975: Kháng chiến chống đế quốc Mĩ
- 18/3/1970, Mĩ đảo chính, đưa tay sai lên cầm quyền
- 17/4/1975, thủ đô Phnôm pênh được giải phóng, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc thắng lợi
1975 – 1979: chống tập đoàn Khơ-me đỏ
- Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc cứu nước Campuchia (1978) và được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, nhân dân Campuchia đã lật đổ tập đoàn Khơ-me đỏ
- 7/1/1979, thành lập nước Cộng hòa Nhân dân
Campuchia
1979 – 1993: nội chiến và tái lập vương quốc
- 23/10/1991 Hiệp định hòa bình về Campuchia được kí kết tại Pari
- Tháng 9/1993 Quốc hội thông qua Hiến pháp, thành lập
Vương quốc Campuchia
Từ năm 1993 – nay: bước vào thời kì tái thiết và xây dựng đất nước
Trang 16- Thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh
Nội dung
- Phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa đáp ứng yêu cầu trong nước thay thế nhập khẩu
- Lấy thị trường trong nước làm chỗ dựa để phát triển sản xuất
- Các nước tiến hành mở cửa đẩy mạnh ngoại thương
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tập trung sản xuất hàng hóa để xuất khẩu
Thành tựu
- Sản xuất đáp ứng được nhu cầu cơ bản của nhân dân
- Góp phần giải quyết thất nghiệp
- Phát triển một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
- Bộ mặt kinh tế - xã hội biến chuyển lớn
- Tỉ trọng công nghiệp trong nền kinh tế cao hơn nông nghiệp
- Mậu dịch đối ngoại tăng nhanh
- Xingapo đã trở thành “con rồng châu Á”
Hạn chế
- Thiếu thốn, thị trường nhỏ hẹp, chi phí cao dẫn tới làm ăn thua lỗ
- Tệ quan liêu tham nhũng phát triển
- Đời sống người lao động còn khó khăn
- Đấu tranh chống lại nền thống trị của chủ nghĩa thực dân
- Phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi, quyết liệt, mạnh mẽ
dưới nhiều hình thức đấu tranh
- Các phong trào đấu tranh đều giành được thắng lợi
- Sau khi giành được độc lập, các nước tập trung vào phát
Trang 17- Chống chủ nghĩa thực dân mới (của Mĩ), giành và bảo
vệ nền độc lập, dân chủ (do
từ đầu thế kỉ XIX, nhiều nước ở Mĩ Latinh đã giành lại được độc lập, nhưng sau
đó lại bị lệ thuộc vào Mĩ)
- Bãi công, biểu tình
- Đấu tranh nghị trường
- Đấu tranh vũ trang (phát triển mạnh mẽ sau thắng lợi
Bảng 5 Sự phát tri n kinh tế Mĩ Tây Âu Nhật Bản
*Biểu hiện:
- Nửa sau những năm
40, chiếm hơn 1/2 sản lượng công nghiệp thế giới
- Năm 1949, sản
- Bị chiến tranh tàn phá
- Nhận viện trợ của
Mĩ qua “Kế hoạch Mácsan”
- Năm 1950, kinh tế
cơ bản phục hồi
- Bại trận trong chiến tranh, phải gánh chịu hậu quả nặng nề
- Bị Mĩ chiếm đóng
- SCAP thực hiện 3 cuộc cải cách:
+ Giải tán các Daibátxư
+ Cải cách ruộng đất + Dân chủ hóa lao động
Trang 1818
lượng nông nghiệp gấp 2 lần sản lượng của Anh, Pháp, CHLB Đức Nhật Bản, Italia cộng lại
- Nắm hơn 50% số tàu bè đi lại trên biển, 3/4 dự trữ vàng thế giới
- Chiếm gần 40%
tổng sản phẩm kinh
tế thế giới
- Nguyên nhân phát triển:
+ Áp dụng những thành tựu khoa học –
kĩ thuật hiện đại để tăng năng suất lao động
- Vai trò điều tiết, quản lí của Nhà nước
- Tận dụng tốt các cơ hội bên ngoài: chiến tranh để buôn bán vũ khí
- Lãnh thổ rộng lớn, tài nguyên phong phú, không bị chiến tranh tàn phá,
- Các tổ hợp công nghiệp – quân sự, công ti, tập đoàn có sức sản xuất, cạnh tranh lớn và hiệu quả
Kinh tế khôi phục đạt mức trước chiến tranh
1950 –
1973
- Kinh tế phát triển nhanh chóng
- Nhiều nước Tây
Âu trở thành cường quốc công nghiệp (Anh, Pháp, CHLB Đức )
- Đầu thập kỉ 70, Tây Âu trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới
- Nguyên nhân phát triển:
+ Áp dụng những thành tựu khoa học – kĩ thuật hiện đại
để tăng năng suất lao động
- Vai trò điều tiết, quản lí của Nhà nước
ba rẻ,
- Phát triển nhanh, từ
1960 – 1973 phát triển “thần kì”
+ Tốc độ tăng trưởng bình quân là 10,8% (1960 -1969)
+ Năm 1968, đứng thứ
2 trong thế giới tư bản (sau Mĩ)
- Đầu thập kỉ 70, Nhật trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới
- Nguyên nhân phát triển:
+ Áp dụng những thành tựu khoa học –
kĩ thuật hiện đại để tăng năng suất lao động
- Vai trò điều tiết, quản lí của Nhà nước
- Tận dụng tốt các cơ hội bên ngoài: vốn, đơn đặt hàng quân sự của Mĩ
- Những cải cách dân chủ sau chiến tranh
- Nhân tố con người là quan trọng nhất
1973 –
1991
- Do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới,
- Do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới,
Trang 1919
từ năm 1973 kinh
tế phát triển xen kẽ khủng hoảng suy thoái ngắn
từ năm 1973 kinh tế phát triển xen kẽ khủng hoảng suy thoái ngắn
- Nửa sau những năm
80, Nhật vươn lên thành siêu cường tài chính số một thế giới
- Là chủ nợ lớn nhất thế giới
1991 -
nay
- Từ đầu thập kỉ 90, kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái
- Vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới
- Đầu thập kỉ 90, trải qua đợt suy thoái ngắn
- Từ năm 1994
kinh tế phục hồi và phát triển
- Là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính hàng đầu thế giới
- Từ đầu thập kỉ 90, kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái
- Vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới
Từ bảng thống kê, học sinh nhận biết được sự phát triển kinh tế của Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản trong từng giai đoạn, những nguyên nhân đưa đến sự phát triển đó đồng thời biết rút ra những điểm giống nhau và khác nhau về sự phát triển kinh tế giữa ba trung tâm Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản
* Biện pháp thứ ba: Giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức cơ bản từ sơ đồ tư duy hoặc bảng thống kê kiến thức đ xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm nghiệm theo mức độ năng lực (nhận biết thông hi u vận dụng và vận dụng cao)
- Hướng dẫn học sinh hi u rõ các dạng câu hỏi thường gặp trong bài thi trắc nghiệm môn lịch sử
Các môn thi khoa học xã hội nói chung và môn Lịch sử nói riêng thường
sử dụng các dạng câu hỏi trắc nghiệm sau:
- Dạng câu hỏi đưa ra lựa chọn câu trả lời đúng trong 4 phương án gây nhiễu (A, B, C, D) chỉ có 1 phương án đúng, các phương án còn lại đều sai
- Dạng câu hỏi đưa ra lựa chọn câu trả lời đúng trong 4 phương án gây nhiễu (A, B, C, D) có nhiều câu trả lời đúng nhưng chỉ có 1 câu trả lời đúng nhất, đầy đủ nhất/bao trùm, quan trọng nhất, quyết định nhất