1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lựa chọn nội dung và xây dựng hệ thống câu hỏi phần lịch sử việt nam từ 1976 đến nay trong ôn thi hsg môn lịch sử

65 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lựa chọn nội dung và xây dựng hệ thống câu hỏi phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1976 đến nay trong ôn thi HSG môn Lịch sử
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trường học Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành, tỉnh Yên Bái
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Yên Bái
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bảo vệ Tổ quốc 1976-1986; Đường lối đổi mới của Đảng; Quá trình đất nước thực hiện đường lối đổi mới từ 1986 đến nay… Cùng với những nội dung quan trọng nói trên là nhiều vấn đề liên hệ

Trang 1

I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Lựa chọn nội dung và xây dựng hệ thống câu hỏi phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1976 đến nay trong ôn thi HSG môn Lịch sử

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lịch sử

3 Phạm vi áp dụng sáng kiến

- Đối tượng áp dụng là giáo viên giảng dạy và học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi của trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành, đặc biệt là đội tuyển cấp Quốc gia môn Lịch sử của tỉnh Yên Bái

4 Thời gian áp dụng sáng kiến

- Từ ngày 1 tháng 7 năm 2021 đến ngày 31 tháng 12 năm 2021

5 Tác giả

Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Huyền

Năm sinh: 1987

Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ

Chức vụ công tác: Tổ phó chuyên môn

Nơi làm việc: Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành, tỉnh Yên Bái

Địa chỉ liên hệ: Tổ 7 thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

Trang 2

bảo vệ Tổ quốc (1976-1986); Đường lối đổi mới của Đảng; Quá trình đất nước thực hiện đường lối đổi mới từ 1986 đến nay…

Cùng với những nội dung quan trọng nói trên là nhiều vấn đề liên hệ thực tiễn liên quan đến công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ,…Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình giảng dạy nội dung Lịch sử Việt Nam từ năm 1976 đến nay cũng gặp nhiều khó khăn do sách giáo khoa mới chỉ cung cấp lượng kiến thức đến năm 2000 Vấn đề đấu tranh bảo vệ Tổ quốc với hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam (1978-1979) mới quay trở lại giảng dạy từ năm học 2020-2021 Tài liệu giảng dạy hạn chế, nhiều luồng thông tin với các quan điểm đánh giá sự kiện không chính thống, đưa thông tin sai lệch… Chính vì vậy, khi giảng dạy nội dung này đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu, chọn lọc, cung cấp và hướng dẫn học sinh học đúng, hiểu đúng bản chất các sự kiện lịch sử Khó khăn này không chỉ dành riêng cho việc giảng dạy chương trình chính khoá trên lớp mà còn là khó khăn trong công tác ôn luyện bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử các cấp, nhất là cấp Quốc gia Bởi đây là đối tượng học sinh có tư duy tốt, có đam mê đối với môn học và khả năng tìm tòi mở rộng kiến thức cao Nếu không định hướng đúng sẽ dễ dẫn tới những sai lệch trong quan điểm đánh giá các sự kiện lịch sử

Từ thực trạng trên, tôi mạnh dạn lựa chọn tìm hiểu nội dung và xây dựng hệ thống câu hỏi phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1976 đến nay làm đối tượng nghiên cứu viết sáng kiến kinh nghiệm năm học 2021-2022

2 Nội dung (các) giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

2.1 Mục đích của (các) giải pháp

- Trên nền tảng kiến thức cơ bản phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1976 đến nay, sáng kiến tập trung hệ thống hoá kiến thức và xây dựng các câu hỏi chuyên sâu liên quan đến chuyên đề để áp dụng trong quá trình giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử Sáng kiến này sẽ tiếp tục bổ sung cho nội dung Lịch sử Việt Nam 1975-1976 về quá trình hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước mà

cá nhân đã làm trong báo cáo sáng kiến kinh nghiệm năm học trước

Trang 3

- Sau khi hoàn thiện, sáng kiến sẽ là nguồn tài liệu tham khảo, với hệ thống tư liệu và các dạng câu hỏi tổng hợp cho học sinh và giáo viên khi học tập, giảng dạy môn Lịch sử tại trường THPT Chuyên của Tỉnh và các nhà trường THPT khác với mục đích góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch sử

2.2 Nội dung (các) giải pháp

Điểm mới của sáng kiến là người viết đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp tổng hợp tài liệu, thống kê, phân tích, giải thích, so sánh, đánh giá các nhận định về các sự kiện lịch sử Quan trọng nhất là sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu Trên nền tảng kiến thức cơ bản, người viết lựa chọn, giới thiệu và định hướng một số gợi ý trả lời cho những dạng câu hỏi liên quan đến vấn đề sáng kiến nghiên cứu Hệ thống câu hỏi được xây dựng theo các mức độ, các đòi hỏi kỹ năng từ trình bày, giải thích, chứng minh đến các dạng câu hỏi mới dạng mở về tư duy như phát biểu ý kiến, trình bày suy nghĩ, liên hệ quá trình, vận dụng thực tiễn phù hợp với đề thi và năng lực học tập của học sinh để đáp ứng Kì thi chọn học sinh giỏi các cấp môn Lịch sử Sáng kiến sau khi hoàn thành sẽ bổ sung nguồn tư liệu tham khảo mới

và cần thiết cho học sinh và đồng nghiệp

Để giải quyết vấn đề chính trong sáng kiến kinh nghiệm tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu và trình bày theo các khía cạnh sau:

I KHÁI QUÁT NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1976 ĐẾN NAY

1 Việt Nam xây dựng CNXH và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc (1976 - 1986) 1.1 Đất nước bước đầu đi lên CNXH

a/ Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước và hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước, nước ta chuyển sang giai đoạn đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội

Trang 4

Độc lập và thống nhất là điều kiện tiên quyết để đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ đảm bảo cho nền độc lập và thống nhất đất nước thêm bền vững

Độc lập và thống nhất đất nước không những gắn với nhau mà còn gắn với chủ nghĩa xã hội Đó là con đường phát triển hợp quy luật của cách mạng nước ta,

đúng như Báo cáo chính trị của Đảng tại Đại hội IV đã nêu rõ “Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt đầu của CMXHCN

b/ Thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 – 1980)

*) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (họp từ ngày 14 đến

Xác định nhiệm vụ: vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa cải tạo quan hệ sản

xuất xã hội chủ nghĩa

Mục tiêu cơ bản: xây dựng một bước cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa

xã hội, bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước mà bộ phận chủ yếu

là cơ cấu công - nông nghiệp và cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động

*) Thực hiện kế hoạch 5 năm, nhân dân ta đạt được những thành tựu quan trọng:

- Các cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải bị địch đánh phá về

cơ bản đã được khôi phục và bước đầu phát triển: Trong nông nghiệp, diện tích gieo trồng tăng thêm gần 2 triệu hécta, được trang bị thêm 18 nghìn máy kéo các

Trang 5

loại Trong công nghiệp, có nhiều nhà máy được gấp rút xây dựng như nhà máy điện,

cơ khí, xi măng v.v… Giao thông vận tải được khôi phục và xây dựng mới hàng ngàn kilômét đường sắt, đường bộ, nhiều bến cảng Tuyến đường sắt Thống nhất từ Hà Nội

đi thành phố Hồ Chí Minh sau 30 năm bị gián đoạn đã hoạt động trở lại

- Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh trong các vùng mới giải phóng ở miền Nam: giai cấp tư sản mại bản bị xoá bỏ, quốc hữu hóa các xí nghiệp, thành lập xí nghiệp quốc doanh hoặc công tư hợp doanh Đại bộ phận nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể, thủ công nghiệp và thương nghiệp được sắp xếp và

tổ chức lại

- Xoá bỏ những biểu hiện văn hoá phản động của chế độ thực dân, xây dựng nền văn hoá mới cách mạng Hệ thống giáo dục từ mầm non, phổ thông đến đại học đều phát triển

*) Hạn chế: Kinh tế còn mất cân đối lớn, sản xuất phát triển chậm, thu nhập

quốc dân và năng xuất thấp làm cho đời sống nhân dân khó khăn Trong xã hội nảy sinh nhiều tiêu cực

c/ Thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1981 - 1985)

*) Nhiệm vụ, mục tiêu kế hoạch nhà nước 5 năm 1981 – 1985

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (họp từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982) khẳng định: Trong 5 năm này, nước ta tiếp tục đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước do Đại hội IV đề ra với một số điểm điều chỉnh, bổ sung và cụ thể hoá Nhiệm vụ: sắp xếp lại cơ cấu, đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, đáp ứng những nhu cầu cấp bách và thiết yếu nhất của đời sống nhân dân, giảm nhẹ những mất cân đối của nền kinh tế

*) Thành tựu:

Sau 5 năm, nước ta có những chuyển biến và tiến bộ đáng kể:

- Sản xuất công – nông nghiệp và thu nhập quốc dân tăng bình quân hằng năm

- Cơ sở vật chất - kĩ thuật, hàng trăm công trình tương đối lớn, hàng nghìn công trình vừa và nhỏ được hoàn thành Dầu mỏ bắt đầu được khai thác, công trình

Trang 6

thuỷ điện Sông Đà, thuỷ điện Trị An được khẩn trương xây dựng, chuẩn bị đi vào hoạt động

- Các hoạt động khoa học - kĩ thuật được triển khai, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển

*) Khó khăn: Những khó khăn cũ chưa khắc phục, thậm chí có mặt trầm

trọng hơn, tình hình kinh tế - xã hội chưa ổn định Những khó khăn này xuất phát

từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhất là sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo và quản lý, chậm khắc phục

1.2 Đấu tranh bảo vệ Tổ quốc

a/ Bảo vệ biên giới Tây Nam

Sau 30 năm chiến tranh (1945-1975), khi giấc mơ hòa bình trên phạm vi cả nước vừa được hiện thực hóa, đất nước đã độc lập, tự do, nhân dân ta không mong muốn gì hơn là được sống yên ổn, đem tài năng và sức lực xây dựng đất nước phồn vình, cuộc sống văn minh, ấm no, hạnh phúc, được hung sống hòa bình, hữu nghị với các nước trên Thế giới Nhưng mong muốn chính đáng ấy đã không được thực hiện một cách dễ dàng

Do có âm mưu từ trước, ngay sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, tập đoàn “Khơme đỏ” ở Campuchia do Pôn Pốt cầm đầu đã quay súng bắn vào lưng nhân dân ta – những người bạn chiến đấu thân thiết, thủy chung vừa góp phần làm nên chiến thắng ngày 17/4/1975 của nhân dân Campuchia Chúng đã

mở những cuộc hành quân khiêu khích, xâm phạm nhiều vùng lãnh thổ nước ta từ

Hà Tiên đến Tây Ninh, “làm chảy máu Việt Nam ngay giữa những ngày Việt Nam vừa lập lại hòa bình, thống nhất”

Đầu tháng 5-1975, chúng cho quân đổ bộ đánh chiếm đảo Phú Quốc; sau đó

đánh chiếm đảo Thổ Chu: “Ngày 30.4.1975, ta giải phóng Sài Gòn và đúng 10 ngày sau đó (10.5.1975), hải quân Pol Pot lợi dụng lúc lính Việt Nam Cộng hòa tan rã, quân ta chưa kịp tiếp quản, tranh thủ thời cơ đánh chiếm đảo Thổ Chu và tràn lên đảo Phú Quốc Do bị đánh trả, không chiếm được Phú Quốc, lính Pol Pot quay về Thổ Chu tàn sát đa số người dân, bắt đi 515 người còn lại và định chiếm

Trang 7

đóng Thổ Chu lâu dài, buộc quân ta phải đánh đuổi khỏi đảo” “Sự kiện Thổ Chu

và Phú Quốc thực sự mở đầu cho những hành động gây căng thẳng, tiếp theo là hàng loạt sự kiện dọc biên giới Tây Nam”1

Từ tháng 4/1977, song song với việc đẩy mạnh thực hiện chính sách diệt chủng, tàn sát nhân dân, thanh trừng nội bộ, tập đoàn Pôn pốt tăng cường những cuộc hành quân lấn chiếm lãnh thổ nước ta, và từ những cuộc xung đột vũ trang lẻ

tẻ, chúng mở rộng dần thành cuộc chiến tranh lớn trên toàn tuyến biên giới Tây –

Nam nước ta “Đây không còn là xung đột nữa Đây là một cuộc chiến tranh biên giới thật sự” (Lê Trọng Tấn)

Ngày 22/12/1978, chúng huy động 19 trên tổng số 23 sư đoàn bộ binh cùng với nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng tiến đánh Tây Ninh, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lấn sâu vào lãnh thổ nước ta

Thực hiện quyền tự vệ xứng đáng, quân ta đã tiến hành “cuộc chiến tranh bắt buộc”, “vừa buông súng đã lại cầm lấy súng”, tổ chức cuộc phản công tiêu diệt và

quét sạch bọn xâm lược ra khỏi nước ta, lập lại hòa bình trên biên giới Tây Nam Tổ

quốc Theo yêu cầu của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Camphuchia, “cứu bạn như cứu mình” quân đội Việt Nam cùng với lực lượng cách mạng Camphuchia tiến

công, xóa bỏ chế độ diệt chủng Pôn Pốt Ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng và sau 25 ngày, 23 sư đoàn Pol Pot bị đánh bại, giải phóng tất cả các thành phố, thị xã, thị trấn trên cả nước Cam-pu-chia, cứu nhân dân, cứu dân tộc Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng

Quân Pôn Pốt tan tác chạy về biên giới phía Tây và một số vùng rừng núi, dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, dần tập hợp lại lực lượng, tổ chức phản kích, khủng bố nhân dân rất tàn bạo Nhà nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia thể theo nguyện vọng nhân dân, chính thức đề nghị Chính phủ ta để Quân tình nguyện ở lại giúp bạn một thời gian Lúc này bạn chưa đủ sức giữ thành quả mà ta rút về thì Pol Pot

sẽ nhanh chóng phản công lập lại ách thống trị của chúng; cuộc diệt chủng sẽ lại

1 589939.html

Trang 8

https://thanhnien.vn/thoi-su/40-nam-mau-do-bien-gioi-tay-nam-ky-1-vua-buong-sung-da-cam-lay-sung-khốc liệt, hàng triệu người dân Cam-pu-chia sẽ ồ ạt lánh nạn sang Việt Nam Pol Pot sẽ lại áp sát biên giới Việt Nam, tiếp tục cuộc chiến tranh tội ác chống Việt Nam, miền Nam sẽ không thể ổn định để xây dựng Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã nghiêm túc chấp hành quyết định của Đảng và Nhà nước ta ở lại

chia một thời gian, “quên mình cho bạn hồi sinh” giúp nhân dân

Cam-pu-chia xây dựng lại đất nước, xây dựng lực lượng tự bảo vệ thành quả của nhân dân Mười năm ở lại giúp Bạn, Quân tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang, thể hiện phẩm chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ trên đất Bạn

Như vậy, hơn 10 năm sau ngày kháng chiến chống Mĩ kết thúc, vượt qua bao khó khăn, quân dân ta không chỉ bảo vệ vững chắc biên giới phía Tây Nam mà còn thực hiện nghĩa vụ quốc tế giúp nước bạn thoát khỏi thảm họa đen tối trong lịch sử

và hồi sinh đất nước Nhân dân Cam-pu-chia đã gọi bộ đội Việt Nam là “Bộ đội nhà Phật” giúp nhân dân Cam-pu-chia anh em thực hiện một cuộc hồi sinh dân tộc

vĩ đại sau những hậu quả khủng khiếp, những tàn phá đảo lộn mà chế độ Pol Potđã gây ra cho đất nước, xã hội, môi trường sống và con người Đánh giá về vai trò của Việt Nam đối với Campuchia trong thời gian này, tờ Thời báo Canberra (Australia)

ngày 19/3/1989 đã nhận định: “Ai cũng phải thừa nhận là việc Việt Nam vào pu-chia đã đem lại kết quả rõ ràng Hành động đó đã được nhân dân Cam-pu- chia ở khắp nơi chào đón như là sự giải phóng cho họ Và ai cũng thấy rõ ràng là

Cam-sở dĩ từ trước đến nay Khmer đỏ không thể trở về được Phnom Penh chủ yếu là vì

sự có mặt của Việt Nam ” Báo Pro-chia-chuôn (Nhân dân) của Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia ra xã luận viết: “Trong những năm cực kỳ bi thảm dưới chế độ diệt chủng Pol Pot, trên thế giới này không biết bao nhiêu kẻ mạnh, kẻ giàu, nhưng duy nhất chỉ có người bạn láng giềng nghèo Việt Nam đến cứu sống dân tộc

ta mà thôi” Hơn 20 năm sau, trong cuộc Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX” ngày 20/9/2000 tại Hà Nội, Tiến sĩ Chay-y-Hiêng, Cố vấn Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia, đọc tham luận đã khẳng định: “Điều gì còn đọng lại trong trái tim người dân Cam-pu-chia về Việt Nam trong thế kỷ XX? Đó là lòng biết ơn, đó là

Trang 9

tình hữu nghị, là hình ảnh về một đội quân nhà Phật từ cõi thiện xa xôi đến cứu giúp nhân dân Cam-pu-chia”2

b/ Bảo vệ biên giới phía Bắc

Hành động thù địch chống Việt Nam của tập đoàn Pôn Pốt được đế quốc Mĩ

và một số nước khác cổ vũ Trung Quốc – nước láng giềng thân thiết của Việt Nam, đã từng gắn bó mật thiết, đoàn kết với nhân dân ta trong quá trình đấu tranh cách mạng đã đồng tình ủng hộ, viện trợ giúp đỡ cho chế độ diệt chủng Pôn Pốt xây dựng Nhà nước Campuchia dân chủ và trang bị cho quân đội của chế độ diệt chủng Pôn Pốt xây dựng thành lực lượng gây chiến với Việt Nam Không những thế, Trung Quốc còn có những hành động làm tổn tổn hại đến tình hữu nghị của nhân dân hai nước như cho quân khiêu khích dọc biên giới, dựng lên sự kiện “nạn kiều”, cắt viện trợ, rút chuyên gia, vận động Liên hợp quốc và các nước trên Thế giới cũng làm như vậy nhằm gây khó khăn cho Việt Nam Nghiêm trọng hơn, sáng 17-2-

1979, quân đội Trung Quốc huy động 32 sư đoàn (tương đương 600.000 quân Số quân Trung Quốc tham chiến lúc này được cho nhiều hơn các đạo quân xâm lược trước đó (Thời điểm cao nhất, quân Mỹ huy động trên chiến trường Việt Nam gần 550.000 quân, Pháp 250.000 quân )) mở cuộc tiến công dọc biên giới nước ta từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu) dài hơn 1400 km Ngoài lực lượng chiến đấu Trung Quốc, phía sau là đội quân dân binh rất đông vừa đảm bảo sức

chiến đấu cho bộ đội vừa là đội quân ô hợp để hôi của, thực hiện chiến thuật rải “biển người” Thực chất, đây là hành động xâm lược, vừa nhằm “làm suy yếu vị thế của Xô- viết trong thế giới thứ ba”, khiến Việt Nam “phải là chư hầu trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc”; vừa áp dụng kế “vây Ngụy cứu Triệu” để giải cứu quân đội Khmer

Đỏ, buộc quân đội Việt Nam phải chia lửa ở mặt trận thứ hai chứ không phải là cuộc

“Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam”, “dạy cho Việt Nam một bài học” như lãnh đạo Trung Quốc tuyên truyền Đây cũng là lí do cần gọi là “cuộc chiến tranh bảo

vệ Tổ quốc ở hai đầu biên giới” chứ không nên coi đó là hai cuộc chiến tranh tách rời

nhau (Đại tá - PGS.TS Trần Ngọc Long)

2 http://www.mofahcm.gov.vn/mofa/nr040807104143/nr040807105039/ns050111135628

Trang 10

Lược đồ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc

Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, quân dân ta, trực tiếp là quân dân sáu tỉnh biên giới phía bắc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai

Trang 11

Châu) đã đứng lên chiến đấu theo tinh thần “Quân thù đang giày xéo non sông, đất nước ta Toàn thể đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước, các tôn giáo, các đảng phái, già, trẻ, gái, trai hãy phát huy truyền thống Diên Hồng, triệu người như một, nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc” (Bản tin đặc biệt trong chương trình phát

thanh 90 phút của Đài Tiếng nói Việt Nam sáng 5/3/1979) Trước cuộc chiến đấu của quân dân ta và sự phản đối của dư luận ở trong nước cũng như trên Thế giới, Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi nước ta bắt đầu từ ngày 5/3/1979 và đến ngày 18/3/1979 thì rút hết Song trên thực tế, Trung Quốc vẫn duy trì nhiều sư đoàn, trung đoàn độc lập áp sát biên giới lấn chiếm lãnh thổ, biến Việt Nam thành thao trường, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc kéo dài suốt 10 năm (1979-1989) Các đơn vị chủ lực Việt Nam thay phiên nhau bổ sung quân cho chiến trường phía Bắc

Nhiều đợt nhập ngũ diễn ra Những chiến sĩ con dân đất Việt/ Khi Tổ quốc cần tuổi xuân đâu tiếc/ Lưng trần, cắp súng xung phong/ Đạn xé nát vai đạn cày rách mặt/ Súng trên tay rực rửa/ Xung phong giữ đất biên thùy Hàng nghìn thanh niên Việt

Nam tuổi 18-20 mãi nằm lại biên cương trong cuộc chiến này

Lệnh tổng động viên cả nước bảo vệ biên giới phía Bắc của chủ tịch nước

Năm 1988, tình hình biên giới dần lắng dịu khi hai bên chủ động rút dần quân Ngày 26/9/1989, đơn vị cuối cùng của quân tình nguyện Việt Nam rời khỏi

Campuchia Các “ngòi nổ” căng thẳng được tháo ra ở cả phía Bắc lẫn phía Nam

Trang 12

Đến lúc này, cuộc xung đột biên giới phái Bắc và Tây Nam nước ta đã chấm dứt, hòa bình lập lại, sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được bảo đảm, tình cảm láng giềng thân thiết, đoàn kết, hữu nghị, hợp tác vốn có từ lâu giữa Việt Nam –

Trung Quốc, Việt Nam – Campuchia được khôi phục với tinh thần “cùng nhau xóa

bỏ định kiến, mặc cảm, hướng tới tương lai”

c/ Bài học kinh nghiệm

Thực tiễn cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở 2 đầu biên giới đã để lại cho

Đảng và nhân dân ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu:

- Luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước mọi âm mưu, diễn biến của các thế lực, các quốc gia, dân tộc kể cả các nước láng giềng – ý thức hệ không phải là vấn đề quan trọng nhất, lợi ích quốc gia mới là trên hết; bám sát, nắm chắc diễn biến tình hình, có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, chủ động

ứng phó với mọi tình huống chiến lược xảy ra

- Luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt

của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp quốc phòng, an ninh

- Củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng

vũ trang có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao

- Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự với phát triển kinh tế-xã hội, nhất là ở những địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo

- Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức

mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại nhằm tạo sự ủng hộ to lớn của dư luận quốc tế, cô lập đối phương và bảo vệ hành động tự vệ chính nghĩa của ta

2 Đất nước trên đường đổi mới đi lên CNXH (1986 – 2000)

Trang 13

2.1 Hoàn cảnh lịch sử mới

* Trong nước

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ còn phổ biến tiến lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, đó là con đường mới mẻ, đầy khó khăn, thử thách Trong hơn 1 thập kỉ, trải qua 2 nhiệm kì Đại hội, thực hiện hai kế hoạch

5 năm (1976 – 1980 và 1981 – 1985), Đảng và nhân dân ta vừa làm, vừa tìm tòi, thể nghiệm con đường đi lên CNXH Trong quá trình đó, Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định trên cả hai phương diện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song cũng gặp nhiều khó khăn Đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng,

trước hết là khủng hoảng về kinh tế – xã hội, do nguyên nhân cơ bản là “sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” “Chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội quý báu Liên Xô viện trợ trong mười năm qua hàng chục tỉ rúp, nhưng với cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, ăn không nên làm không ra, chúng ta cứ rút dần, rút mòn mỗi năm vài trăm triệu rúp để chi cho tiêu dùng xã hội, cho bao cấp và bù lỗ, vài trăm triệu rúp khác thì rải ra trên rất nhiều công trình xây dựng” (Trường Chinh)3

Thêm vào đó, cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở 2 đầu biên giới, sự câu kết giữa kẻ thù cũ và đồng minh năm xưa đã bóp nghẹt nền kinh tế và cô lập nước ta trên trường quốc tế Bộ máy tuyên truyền khổng lồ cùng những thủ đoạn tinh vi của hai nước lớn (Mĩ, Trung Quốc) đã làm dấy lên làn sóng xuyên tạc sự cứu giúp người dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng Khmer Đỏ, đẩy Việt Nam rơi vào tình thế bị cô lập trước cộng đồng quốc tế Tình trạng bị bao vây cấm vận đã đặt đất nước đứng trước một thách thức hết sức hiểm nghèo.4

* Thế giới

Thập niên 80 của thế kỉ XX đã chứng kiến những thay đổi lớn của tình hình Thế giới Đó là tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và sự xuất hiện của

3 https://thanhnien.vn/thoi-su/dat-nuoc-qua-30-nam-doi-moi-doi-moi-la-buc-thiet-la-song-con-661278.html

4 Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Việt Nam 30 năm đôi mới: Thành tựu, bài học và triển vọng”, ĐH KHXH và NV, tr.172

Trang 14

xu thế toàn cầu hóa, chiến tranh lạnh đang đi vào hồi kết, xu thế đối thoại, hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình ngày càng trở nên phổ biến… mở ra thời cơ đồng thời đặt ra thách thức cho các quốc gia dân tộc trong thời kì hội nhập Cuộc khủng hoảng toàn diện và trầm trọng của Đông Âu và Liên Xô; thành công bước đầu của công cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc… đã đưa ra những thực tế nhãn tiền đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải tiến hành đổi mới

Như vậy, lúc này “đổi mới là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn Yêu cầu đó vừa là đòi hỏi bên trong của nước ta, vừa phù hợp với xu thế của thời đại ” “Chỉ đổi mới thì mới thấy cái đúng và thấy hết sự thật, thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa” Từ tư tưởng đó, Tổng bí thư Trường Chinh đã “đặt nền móng cho công cuộc đổi mới Ông đã cùng với Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta hình thành tư duy đổi mới

và xác lập đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội lần thứ VI của Đảng” (PGS.TS

Nguyễn Trọng Phúc)5 Hồi ký của giáo sư triết học Trần Nhâm, người thư ký riêng (nay gọi là trợ lý) của TBT Trường Chinh, đồng thời là người tham gia trong tổ nghiên cứu đặc biệt phục vụ đề án đổi mới do ông Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo

đã nhận xét: “Trong một thời điểm bước ngoặt, tất yếu sẽ xuất hiện các nhân vật lịch sử có chí lớn, có trí tuệ hơn người để giải quyết các vấn đề trọng đại mà cuộc sống đặt ra Trường Chinh chính là con người như thế ” 6

2.2 Đường lối đổi mới của Đảng

Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra từ Đại hội VI (12/1986), được bổ sung và phát triển qua các Đại hội tiếp theo (Đại hội VII (6 /1991), Đại hội VIII (6/1996), Đại hội IX (4/2001), Đại hội X (4/2006), Đại hội XI (4-2011)

5 https://vov.vn/chinh-tri/dang/tong-bi-thu-truong-chinh-nguoi-dat-nen-mong-cho-cong-cuoc-doi-moi-591630.vov

6 Trường Chinh, một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam - NXB Chính trị QG; HN.2012-trang 432

Trang 15

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng

Quan điểm đổi mới:

+ Đổi mới đất nước đi lên CNXH không phải là thay đổi mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan điểm đúng đắn về CNXH, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp

+ Đổi mới phải toàn diện và đồng bộ, từ kinh tế và chính trị đến tổ chức, tư tưởng, văn hoá

+ Đổi mới kinh tế phải đi đôi với đổi mới về chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm

Nội dung đường lối đổi mới

+ Mục tiêu: Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; thực

hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “xây lại dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”

Trang 16

+ Nhiệm vụ: Trên cơ sở nâng cao nhận thức về đặc điểm thời kì quá độ tiến lên CNXH ở nước ta là cả một quá trình lịch sử lâu dài, khó khăn, trải qua nhiều

chặng, Đại hội VI của Đảng đề “nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát” của chặng đường đầu tiên là “ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa trong chặng đường tiếp theo”

+ Về kinh tế:

Đảng chủ trương xoá bỏ cơ chế quản lí kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước Quản lí nền kinh tế không phải bằng những mệnh lệnh hành chính, mà bằng những biện pháp kinh tế, khuyến

khích lợi ích vật chất

Xây dựng nền kinh tế quốc dân với cơ cấu nhiều ngành, nghề; nhiều quy mô, trình độ công nghệ và gồm 2 bộ phận chủ yếu công – nông nghiệp kết hợp chặt chẽ

Trang 17

với nhau Trong công nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng công nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là các ngành trực tiếp phục vụ nông nghiệp Trong nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp toàn diện…

Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa với một cơ cấu hợp lí, một nền kinh tế phát triển theo những quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời chịu sự chi phối bởi bản chất và những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp, quyền bình đẳng của các thành phần kinh tế; khuyến khích mọi thành phần kinh tế sản xuất, kinh doanh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng sự phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tích cực khai thác nguồn vốn, công nghệ và thị trường

+ Về chính trị:

Đảng chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân; lấy liên minh công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, coi dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới

Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, vì hoà bình, hữu nghị và hợp tác Chủ động hội nhập quốc tế Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế giới

 Nhận xét:

Đường lối đổi mới của Đại hội VI là kết quả của sự khảo nghiệm thực tiễn sinh động và sự đổi mới tư duy lý luận, trước hết là tư duy kinh tế Đổi mới nhằm

Trang 18

nhận thức đúng đắn thực tiễn của đất nước, thật sự tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí, nóng vội, đề ra đường lối, chính sách thiết thực, có hiệu quả Đổi mới là nhận thức đúng đắn hơn những luận điểm của C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin và Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, toàn diện, thể hiện bước đột phá trong nhận thức, tư tưởng, cách làm của nước ta lúc bấy giờ để đưa đất

nước thoát khỏi khủng hoảng, xây dựng thành công CNXH “Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"

2.3 Quá trình thực hiện đường lối đổi mới (trong thời gian 1986 – 2000) 2.3.1 Thành tựu bước đầu của sự nghiệp đổi mới 1986 – 1990

a Về kinh tế:

- Việc thực hiện Ba chương trình kinh tế lớn (Lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu) trong 10 năm 1986 – 1996 đạt được những kết quả quan trọng:

+ Về lương thực – thực phẩm, từ chỗ thiếu ăn triền miên (1988 còn phải

nhập 45 vạn tấn gạo), đến năm 1990, Việt Nam đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân Sản xuất lương thực năm 1988 đạt 19,5 triệu tấn, vượt so với 1987 là 2 triệu tấn; năm

1989 đạt 21,4 triệu tấn Năm 1989, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo, vươn lên hàng những nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới Đến năm 2000, Việt Nam có quan hệ mậu dịch với trên 100 nước và vùng lãnh thổ Tổng số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng Các doanh nghiệp Việt Nam cũng từng bước mở rộng đầu tư ra các nước trên thế giới

Trang 19

+ Hàng tiêu dùng trên thị trường dồi dào, đa dạng về mẫu mã, chất lượng ngày càng nâng cao, lưu thông thuận lợi Các cơ sở sản xuất đã gắn chặt với thị trường, một số mặt hàng sản xuất trong nước đã hoàn toàn thay thế hàng nhập khẩu Phần bao cấp của Nhà nước về vốn, giá, vật tư, tiền lương, … giảm đáng kể

+ Kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng hơn trước về quy mô, hình thức Từ

1986 đến 1989 hàng xuất khẩu tăng gấp 3 lần, có thêm nhiều mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn như gạo, dầu thô và một số mặt hàng mới Nhập khẩu giảm đáng kể, tiến gần đến mức cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu

+ Kiềm chế được một bước đà lạm phát Chỉ số tăng giá bình quân trên thị trường từ 20% (1986) còn 4,4% (1990)

b Về chính trị – xã hội

- Bộ máy Nhà nước các cấp từ TW đến địa phương được sắp xếp lại Nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị có một số đổi mới theo hướng phát huy dân chủ nội bộ và quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường quyền lực của các cơ quan dân cử

- Tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng – an ninh được tăng cường Bước đầu thực hiện dân chủ hoá và công khai hoá các hoạt động xã hội

- Đã giải quyết ngày càng tốt hơn các vấn đề xã hội như lao động và việc làm, xoá đói giảm nghèo, phát triển sự nghiệp văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, thể dục thể thao… Tỉ lệ đói nghèo trên cả nước 1995 là 20%, năm 2000 còn 10% đến 2005 chỉ còn 7%

- Mở rộng quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận; bình thường hoá và phát triển quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Hoa Kì…; chủ động hội nhập quốc

tế, tham gia các tổ chức quốc tế: ASEAN, APEC, WTO… Việt Nam tham gia tích cực vào các hoạt động của cộng đồng quốc tế Đến năm 2000, Việt Nam có quan hệ với 140 nước trên thế giới, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ

Trang 20

* Khó khăn, yếu kém: Nền kinh tế còn mất cân đối lớn, lạm phát vẫn ở mức

cao, lao động thiếu việc làm gia tăng, hiệu quả kinh tế thấp, chưa có tích lũy nội bộ

từ nền kinh tế Đời sống của bộ phận sống chủ yếu bằng tiền lương hoặc trợ cấp xã hội và của một bộ phận nông dân bị giảm sút Sự nghiệp văn hóa có những mặt xuống cấp, tình trạng tham nhũng, nhận hối lộ, mất dân chủ, bất công xã hội,… chưa được khắc phục

2.3.2 Thực hiện kế hoạch 5 năm 1991 – 1995

a Đại hội VII (6/1991): tiếp tục sự nghiệp đổi mới

Đại hội đã tổng kết, đánh giá việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ Đại hội VI, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm kế thừa, phát huy những thành tựu; khắc phục các khó khăn, yếu kém và điều chỉnh, bổ sung, phát triển đường lối đổi

mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên Đại hội cũng thông qua “Cương

lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH” và “Chiến lược ổn định

và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000”

Đại hội đề ra nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1991 – 1995: đẩy lùi

và kiểm soát được lạm phát Ổn định, phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Để thực hiện mục tiêu trên, cần phát huy sức mạnh các thành phần kinh tế, đẩy mạnh Ba chương trình kinh tế với nội dung cao hơn và từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hóa

b Tiến bộ và hạn chế của sự nghiệp đổi mới

* Kế hoạch 5 năm (1991 - 1995) đạt nhiều thành tựu và tiến bộ

- Kinh tế tăng trưởng nhanh, GDP tăng bình quân 8,2%/năm, công nghiệp tăng 13,3%/năm, nông nghiệp là 4,5%/năm

- Lạm phát từng bước bị đẩy lùi, giảm còn 12,7% (1995) Tỷ lệ thiếu hụt ngân sách được kiềm chế

- Tỉ trọng xuất khẩu tăng Quan hệ mậu dịch mở rộng với hơn 100 nước

Trang 21

- Vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, bình quân 50%/năm Cuối 1995, vốn đăng kí cho các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên 19 tỉ USD

- Hoạt động khoa học và công nghệ gắn bó với nhu cầu phát triển kinh tế –

xã hội Công tác giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới

- Thu nhập và đời sống nhân dân được cải thiện

- Chính trị xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được củng cố

- Quan hệ đối ngoại mở rộng, phá thế bị bao vây, tham gia tích cực vào hoạt động của cộng đồng quốc tế, có quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước Ngày 11/7/1995, Việt Nam và Hoa Kì thiết lập quan hệ ngoại giao Ngày 28/7/1995, Việt Nam gia nhập ASEAN

* Khó khăn và hạn chế Kế hoạch 5 năm (1991 - 1995): Lực lượng sản

xuất còn nhỏ bé, cơ sở vật chất - kỹ thuật lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ chuyển biến chậm Tham nhũng, lãng phí, buôn lậu chưa được ngăn chặn… Sự phân hóa giàu nghèo tăng nhanh, đời sống nhân dân còn khó khăn

2.3.3 Thực hiện kế hoạch 5 năm (1996 - 2000)

a Đại hội VIII (6/1996) đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đại hội VIII đã tổng kết 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đề ra chủ trương, nhiệm vụ trong thời kỳ mới Đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững hai

nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, nhấn mạnh: “Nước ta đã chuyển sang thời kì phát triển mới, thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Trong 5 năm 1996 – 2000 nước ta sẽ đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách

toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần… Phấn đấu đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội Cải thiện đời sống nhân dân Nâng cao tích lũy nội bộ từ nền kinh tế

b Chuyển biến tiến bộ và khó khăn, hạn chế của công cuộc đổi mới

Trang 22

* Về kinh tế

- GDP tăng bình quân 7%/năm, công nghiệp 13,5%/năm, nông nghiệp là 5,7% Trong đó, nông nghiệp, phát triển liên tục, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế - xã hội (lương thực bình quân đầu người năm 2000 là 444 kg)

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Xuất, nhập khẩu không ngừng tăng lên Ba mặt hàng xuất khẩu chủ lực là gạo (thứ hai thế giới), cà phê (thứ ba thế giới) và thủy sản

- Doanh nghiệp Việt Nam mở rộng đầu tư ra nước ngoài Đến năm 2000 có trên 40 dự án đầu tư vào 12 nước và vùng lãnh thổ

- Năm 2000, nước ta có quan hệ thương mại với hơn 140 nước, quan hệ đầu

tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài

* Về giáo dục: năm 2000 phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ, tiếp tục

phổ cập THCS

- Số người có việc làm tăng 1, 2 triệu người/năm

=> Nhận xét ưu điểm, hạn chế:

- Ưu điểm: Tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt đất nước

và cuộc sống nhân dân; củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ XHCN; nâng

cao vị thế nước ta trên trường quốc tế

- Hạn chế: Kinh tế phát triển chưa vững chắc, năng suất, hiệu quả và sức

cạnh tranh thấp Kinh tế Nhà nước chưa tương xứng với vai trò chủ đạo, kinh tế tập thế chưa mạnh Hoạt động khoa học và công nghệ chưa đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới

Tỉ lệ thất nghiệp cao, đời sống nhân dân, nhất là nông dân, ở một số vùng còn thấp

Đảng và nhân dân ta phải tiếp tục phấn đấu vươn tới đỉnh cao mới theo con

đường XHCN vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trang 23

2.3.4 Nhận xét, hạn chế, bài học kinh nghiệm

* Nhận xét chung

- Những thành tựu của 15 năm đổi mới (1986 – 2000) chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù

hợp, được đông đảo quần chúng ủng hộ

- Việc mở rộng quan hệ quốc tế (trở thành thành viên của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế và hiện có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ), chủ

Trang 24

động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững môi trường hoà bình vừa góp phần vô cùng quan trọng vào việc khẳng định vị thế mới của đất nước trên trường quốc tế vừa giúp ta tranh thủ nguồn lực bên ngoài, tăng cường tiềm lực đất nước, nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội; chuyển tới bạn bè năm châu về hình ảnh một dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, một đất nước Việt Nam đổi mới, năng động và liên tục phát triển, tích cực phấn đấu vì hòa bình, tiến bộ xã hội và những giá trị chung của nhân loại

- Hạn chế: Bên cạnh những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, công cuộc đổi

mới toàn diện đất nước còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, khuyết điểm

cần tập trung giải quyết, khắc phục để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững:

+ Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận còn bất cập, chưa làm rõ một số vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới để định hướng trong thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn có một số vấn đề phải qua tổng kết thực tiễn để tiếp tục làm rõ

+ Kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu

và thực tế nguồn lực được huy động Trong 10 năm gần đây, kinh tế vĩ mô cơ bản

ổn định nhưng chưa vững chắc, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, phục hồi chậm Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả; còn tiềm ẩn những nhân

tố và nguy cơ mất ổn định xã hội Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới Năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ

+ Nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt

Trang 25

+ Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như nguy cơ

"diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới tinh vi và thâm độc chống phá nước ta và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"

Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút

=>Những hạn chế, khuyết điểm trên đây là do cả nguyên nhân khách quan

và nguyên nhân chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu

Về khách quan: Đổi mới là một sự nghiệp to lớn, toàn diện, lâu dài, rất khó

khăn, phức tạp, chưa có tiền lệ trong lịch sử Tình hình thế giới và khu vực có những mặt tác động không thuận lợi; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị

Về chủ quan: Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, chưa được quan

tâm đúng mức, đổi mới tư duy lý luận chưa kiên quyết, mạnh mẽ, có mặt còn lạc hậu, hạn chế so với chuyển biến nhanh của thực tiễn Dự báo tình hình có lúc, có việc làm còn chậm và thiếu chính xác làm ảnh hưởng đến chất lượng các quyết sách, chủ trương, đường lối của Đảng Nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn còn hạn chế Đổi mới chưa toàn diện, thiếu đồng bộ, lúng túng trên một số lĩnh vực

Nhận thức, phương pháp và cách thức lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước còn nhiều hạn chế Quyền hạn và chế độ trách nhiệm, nhất là quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu không được quy định rõ ràng; thiếu cơ chế để kiểm soát quyền lực Nhiều chủ trương, nghị quyết đúng không được tích cực triển khai thực hiện, kết quả đạt thấp Một số chính sách không phù hợp thực tiễn, chậm được sửa đổi, bổ sung

Việc quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chưa được coi trọng thường xuyên, đúng mức, hiệu quả thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa

Trang 26

tạo được sự thống nhất cao về nhận thức tư tưởng, ý chí và hành động trong Đảng trước những diễn biến phức tạp của tình hình Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn

nể nang, cục bộ; chưa quan tâm việc xây dựng cơ chế, chính sách để trọng dụng người có đức, có tài

II XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NĂM

TỪ NĂM 1976 - NAY TRONG ÔN THI HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ Câu 1 Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc hãy trình bày ngắn gọn những thắng lợi quân sự tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Mĩ và thắng lợi bảo vệ Tổ quốc trong mùa xuân từ năm 1975 đến năm 1979 Nêu ý nghĩa lịch sử

Hướng dẫn trả lời:

a/ Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975:

- Cuộc tổng tiến công diễn ra qua 3 chiến dịch lớn: Tây Nguyên, Huế-Đà Nẵng và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh

- Cuộc tổng tiến công thắng lợi đã đánh cho “ngụy nhào”, chấm dứt chiến tranh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước Thắng lợi này mở ra

kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất đi lên CNXH, mang ý nghĩa quốc tế to lớn…

b/ Đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam cuối năm 1978 đầu năm 1979:

- Do có âm mưu từ trước, ngay sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống

Mĩ, cứu nước, tập đoàn “Khơme đỏ” ở Campuchia do Pôn Pốt cầm đầu đã mở những cuộc hành quân khiêu khích, xâm phạm nhiều vùng lãnh thổ nước ta từ Hà

Tiên đến Tây Ninh, “làm chảy máu Việt Nam ngay giữa những ngày Việt Nam vừa lập lại hòa bình, thống nhất” Đầu tháng 5-1975, chúng cho quân đổ bộ đánh

chiếm đảo Phú Quốc; sau đó đánh chiếm đảo Thổ Chu…

- Ngày 22/12/1978, chúng huy động 19 trên tổng số 23 sư đoàn bộ binh cùng với nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng tiến đánh Tây Ninh, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lấn sâu vào lãnh thổ nước ta

Trang 27

-Thực hiện quyền tự vệ xứng đáng, quân ta đã tiến hành “cuộc chiến tranh bắt buộc”, “vừa buông súng đã lại cầm lấy súng”, tổ chức cuộc phản công tiêu diệt

và quét sạch bọn xâm lược ra khỏi nước ta, lập lại hòa bình trên biên giới Tây Nam

Tổ quốc

=> Chiến thắng này đã tạo thời cơ lớn hết sức thuận lợi cho Campuchia trong cuộc đấu tranh đánh đổ chế độ diệt chủng Khơme đỏ Theo yêu cầu của Mặt

trận đoàn kết dân tộc cứu nước Camphuchia, “cứu bạn như cứu mình” quân đội

Việt Nam cùng với lực lượng cách mạng Camphuchia tiến công, xóa bỏ chế độ diệt chủng Pôn Pốt Ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, nước Cộng hòa nhân dân Campuchia và Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia tuyên bố thành lập

+ Thắng lợi này còn phá tan âm mưu của giới cầm quyền Trung Quốc muốn bao vây nước ta từ hai đầu đất nước, gây khó khăn cho Việt Nam

c/ Đấu tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (đầu năm 1979)

- Hành động thù địch chống Việt Nam của tập đoàn Pôn Pốt được đế quốc

Mĩ và một số nước khác cổ vũ Trung Quốc đã đồng tình ủng hộ, viện trợ giúp đỡ cho chế độ diệt chủng Pôn Pốt xây dựng Nhà nước Campuchia dân chủ và trang bị cho quân đội của chế độ diệt chủng Pôn Pốt xây dựng thành lực lượng gây chiến với Việt Nam Không những thế, sáng 17-2-1979, quân đội Trung Quốc huy động

32 sư đoàn mở cuộc tiến công dọc biên giới nước ta từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu) dài hơn 1400 km

=> Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, quân dân ta, trực tiếp là quân dân sáu tỉnh biên giới phía bắc đã đứng lên chiến đấu Trước cuộc chiến đấu của quân dân ta và sự phản đối của dư luận ở trong nước cũng như trên Thế giới, Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi nước ta bắt đầu từ ngày 5/3/1979 và đến ngày 18/3/1979 thì rút hết Song trên thực tế, Trung Quốc vẫn duy trì nhiều sư đoàn, trung đoàn độc lập áp sát biên giới lấn chiếm lãnh thổ, biến Việt Nam thành thao

Trang 28

trường, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc kéo dài suốt 10 năm (1979-1989) Các đơn vị chủ lực Việt Nam thay phiên nhau bổ sung quân cho chiến trường phía Bắc

Năm 1988, tình hình biên giới dần lắng dịu khi hai bên chủ động rút dần quân Ngày 26/9/1989, đơn vị cuối cùng của quân tình nguyện Việt Nam rời khỏi

Campuchia Các “ngòi nổ” căng thẳng được tháo ra ở cả phía Bắc lẫn phía Nam

Đến lúc này, cuộc xung đột biên giới phái Bắc và Tây Nam nước ta đã chấm dứt, hòa bình lập lại, sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được bảo đảm, tình cảm láng giềng thân thiết, đoàn kết, hữu nghị, hợp tác vốn có từ lâu giữa Việt Nam –

Trung Quốc, Việt Nam – Campuchia được khôi phục với tinh thần “cùng nhau xóa

bỏ định kiến, mặc cảm, hướng tới tương lai”

=> Nhận xét: Cuộc đấu tranh đã khẳng định ý chí quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta trước mọi kẻ thù để bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc…

+ Hai cuộc chiến tranh diễn ra trong mùa xuân năm 1979 chứng tỏ sau cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đất nước có hòa bình, non sông thu về một mối nhưng kẻ thù luôn rình rập, gây khó khăn cho ta trong quá trình xây dựng đất nước

Vì vậy, chúng ta luôn phải cảnh giác cao độ với âm mưu của kẻ thù, tích cực gìn

giữ hòa bình, an ninh của Tổ quốc

Câu 2 Cuộc đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc của nhân dân

ta sau năm 1975 đã diễn ra như thế nào? Anh (chị) hãy rút ra bài học cho công cuộc giữ nước hiện nay?

Hướng dẫn trả lời

*) Cuộc đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc

=> Đã có ở câu 1 ( ý b và c)

*) Bài học kinh nghiệm

Thực tiễn cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở 2 đầu biên giới đã để lại cho Đảng và nhân dân ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu:

Trang 29

- Luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước mọi âm mưu, diễn biến của các thế lực, các quốc gia, dân tộc kể cả các nước láng giềng – ý thức hệ không phải là vấn đề quan trọng nhất, lợi ích quốc gia mới là trên hết; bám sát, nắm chắc diễn biến tình hình, có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, chủ động ứng phó với mọi tình huống chiến lược xảy ra

- Luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp quốc phòng, an ninh

- Củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng

vũ trang có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao

- Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện nhiệm vụ quốc phòng quân sự với phát triển kinh tế-xã hội, nhất là ở những địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo

- Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức

mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại nhằm tạo sự ủng hộ to lớn của dư luận quốc tế, cô lập đối phương và bảo vệ hành động tự vệ chính nghĩa của ta

Câu 3: Anh/ chị hãy làm sáng tỏ nghệ thuật giành thắng lợi từng bước của Đảng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 Nghệ thuật đó tiếp

tục được thể hiện như thế nào trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam? (Đề HSGQG năm 2020-2021)

Hướng dẫn trả lời

* Đi từ giành thắng lợi từng bước, mỗi bước trước tạo tiền đề, điều kiện để giành thắng lợi ở bước sau cao hơn, đi tới thắng lợi hoàn toàn, là một quy luật của đấu tranh cách mạng

- Mở cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường Tây Nguyên: các hội nghị

Bộ chính trị họp cuối năm 1974 đầu năm 1975 đã xác định chủ trương và kế hoạch

Trang 30

giải phóng hoàn toàn miền Nam Dự kiến ban đầu, kế hoạch này được thực hiện trong

2 năm 1975 và 1976, tuy nhiên Bộ chính trị cũng chỉ rõ nếu thời cơ chiến lược xuất hiện sớm trong năm 1975 thì sẽ giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975

+ Phát hiện thấy địch có sơ hở ở Tây; ở Tây Nguyên lại chú ý phòng thủ Kom Tum mà có sơ hở ở Buôn Ma Thuật, bộ chính trị quyết định mở cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường chính Tây Nguyên mà ta có nhiều lợi thế

+ Chiến dịch Tây Nguyên bắt đầu từ ngày 10/3, tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở thị xã Buôn Ma Thuật sau 2 ngày chiến đấu Ngày 12/3 ta tiêu dịch toàn bộ lực lượng địch phản kích hòng tái chiếm Buôn Ma Thuật Sau 2 đòn đau nói trên, địch tháo chạy khỏi Tây Nguyên Ta tổ chức đánh truy kích, chiến dịch kéo dài đến cuối tháng 3

- Quyết định mở chiến dịch Huế-Đà Nẵng:

+ Ngay khi chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc, Bộ chính trị nhận định cuộc tiến công chiến lược của ta trên chiến trường Tây Nguyên đã phát triển thành tổng tiến công chiến lược Bộ chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam

mà trước mắt là giải phóng Huế và Đà Nẵng

+ Việc Huế và Đà Nẵng được giải phóng, ta tổ chức tiến công ở ba hướng Bắc, Nam và Tây vào căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng, làm tan rã 10 vạn quân địch Địch co về phòng thủ Sài Gòn, bắt đầu Phan Rang Ta tiếp tục đánh phát triển, giải phóng ven biển miền Trung và quần đảo Trường Sa

- Quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định:

+ Ngay sau khi giải phóng miền Nam (30/3/1975), Bộ chính trị quyết định

mở trận tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt cuối cùng của kẻ thù, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, hoàn thành giải phóng miền Nam trước mùa mưa

+ Sau khi mất Đà Nẵng, địch đối phó rất lúng túng Nội bộ chính quyền Sài Gòn lục đục, suy yếu Quân đội Sài Gòn giảm sút tinh thần chiến đấu Tình hình đó cho phép ta có thể rút ngăn hơn nữa thời gian giải phóng hoàn toàn miền Nam

Trang 31

+ Để mở chiến dịch Hồ Chí Minh, ta đã tập trung lực lượng đến mức cao nhất, gồm 5 quân đoàn và tương đương quân Thực hiện phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, hình thành thế bao vây ngày càng siết chặt Sài Gòn

+ Ngày 26/4 các cánh quân nhanh chóng vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài, tiến vào trung tâm Sài Gòn, nhằm 5 mục tiêu chủ yếu…

+ Trưa ngày 30/4 cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, chiến dịch

- Có những bước mang tầm chiến lược như chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 1991-2000, 2001-2010, 2011-2020, 2021-2030…

- Có những bước ngắn hơn, theo những kế hoạch 5 năm: 1986-1990,

1991-1995, 1996-2000, 2001-2005 , có những nhiệm vụ cũng được thực hiện từng bước như nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bước khởi đầu là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa (đến 1995) Từ năm 1997 chuyển sang thời

kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa…

Câu 4: Hãy nêu các sự kiện lớn của Lịch sử thế giới trong những năm

1980 và phân tích ảnh hưởng của những sự kiện đó đối với chủ trương đổi mới ở nước ta? (Đề thi HSGQG năm 2004, bảng A)

Hướng dẫn trả lời

Trang 32

- Công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc theo hướng kinh tế thị trường bắt đầu diễn ra từ 1978 Đạt được nhiều thành tựu nổi bật, được Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm (do có nhiều tương đồng về văn hoá truyền thống và kinh

tế xã hội, mặc dù trong thời gian này quan hệ Việt – Trung còn căng thẳng, chưa

được bình thường hoá

- Công cuộc cải tổ ở Liên Xô là một sự khích lệ quyết tâm đổi mới Tuy cuộc cải tổ đã không thành công, dẫn tới sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu nhưng nó cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm về con đường cải

tổ, về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, về quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình cải tổ…

- Thành công của các NICs ở Đông Á và khu vực đã gợi ý nhiều bài học kinh nghiệm về cách thức, con đường phát triển đối với những nước vốn xuất phát

từ kinh tế nông nghiệp cổ truyền, có các quan hệ xã hội theo kiểu Á Đông

- Xu thế hợp tác và cạnh tranh thay thế dần xu thế đối đầu và xung đột trong quan hệ quốc tế, xu thế toàn cầu hóa – hệ quả tất yếu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ… Tình hình đó buộc các quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế khép kín không mở cửa như Việt Nam phải định hướng lại tư duy về phát triển

➔ Kết luận: Chủ trương đổi mới ở Việt Nam chủ yếu là do đòi hỏi bức thiết của đất nước, mong muốn chính đáng của quần chúng nhân dân cùng sự nhạy bén, sáng suốt của Đảng Song, không thể phủ nhận: những biến đổi quan trọng của tình hình thế giới trong những năm 1980 cũng ảnh hưởng lớn đến chủ trương đổi mới của nước ta, đồng thời gợi ra những bài học kinh nghiệm mà nước ta có thể tham khảo, vận dụng ở các mức độ khác nhau

Câu 5: Năm 1986, Việt Nam đứng trước những sự lựa chọn lịch sử nào? Làm rõ tính đúng đắn trong sự lựa chọn của Đảng?

Hướng dẫn trả lời

a) Năm 1986, Việt Nam đứng trước 2 sự lựa chọn:

Ngày đăng: 21/04/2023, 15:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm