Tháng 5 năm 2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổng kết Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, kết quả của Dự án đã được khẳng định với các nội dung đổi mới cơ bản như: Giáo viên biết cách
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN BÁI
TRƯỜNG PTDTNT THPT MIỀN TÂY
BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ
(Lĩnh vực: Tin học)
TÊN SÁNG KIẾN:
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT AN NINH MẠNG VÀ KĨ NĂNG
SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH TRƯỜNG PTDTNT THPT MIỀN TÂY
Tác giả: PHAN THỊ MINH HẰNG Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường PTDTNT THPT Miền Tây
Yên Bái, tháng 01 năm 2022
Trang 33
MỤC LỤC
Trang
I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN …… ……… 4
1 Tên sáng kiến … …… ……… 4
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến ……… ……… ………….4
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến……… ……… …….…….4
4 Thời gian áp dụng sáng kiến……… ……… ………….4
5 Tác giả……… ……….……… ………….4
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN………… ……… …………4
1 Tình trạng giải pháp đã biết ……… ……… ………….4
2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến …… ……….6
3 Khả năng áp dụng của giải pháp …… ……… … ……… …….14
4 Hiệu quả, lợi ích thu được ……… ………… ……… …….15
III CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN … ….22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……… 23
Trang 44
I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến:“Giáo dục pháp luật An ninh mạng và kĩ năng sử dụng mạng
xã hội cho học sinh trường PTDTNT THPT Miền Tây”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Tin học
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: Học sinh trường PTDTNT THPT Miền Tây
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Năm học 2021 - 2022
5 Tác giả:
- Họ và tên: PHAN THỊ MINH HẰNG
- Năm sinh: 1980
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Chức vụ công tác: Giáo viên
- Nơi làm việc: Trường PTDTNT THPT Miền Tây
- Địa chỉ liên hệ: Trường PTDTNT THPT Miền Tây, thị xã Nghĩa Lộ
Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE-VNEN, Global Partnership for Education – VNEN viết tắt của từ Viet Nam Escuela Nueva) là một Dự án về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam Mô hình trường học mới Việt Nam được triển khai từ tháng 01/2013 đến 31/5/2016 tại 1447 trường tiểu học của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm thực hiện đổi mới phương thức hoạt động của nhà trường
và lớp học đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện
Tháng 5 năm 2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổng kết Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, kết quả của Dự án đã được khẳng định với các nội dung đổi mới cơ bản như: Giáo viên biết cách hướng dẫn học sinh hoạt động: học cá nhân, học theo nhóm, theo dơi, giám sát, đánh giá, hỗ trợ đến từng học sinh Bên cạnh đó học sinh biết tự học
cá nhân; làm việc trong nhóm theo tài liệu Hướng dẫn học và của thầy cô Học sinh chủ động trong các hoạt động học, có nhiều ý kiến đề xuất với thầy cô giáo trong việc tìm tòi lĩnh hội kiến thức Học sinh hứng thú với cách học mới và có kết quả học tập vững chắc Học sinh yếu được quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn để tiến kịp các bạn Mỗi lớp thành
Trang 55
lập hội đồng tự quản của học sinh, cho học sinh và vì học sinh Chủ động tự xây dựng
và tổ chức thưc hiện kế hoạch của hội đồng tự quản như: kế hoạch hoạt động học tập,
kế hoach của ban văn nghệ; kế hoạch của ban đời sống Bên cạnh đó còn có sự phối hợp
của cộng đồng, cha mẹ học sinh trực tiếp hướng dẫn, hỗ trợ con em thực hiện hoạt động
học Việc nhà trường, cha mẹ học sinh cùng tham gia các hoạt động giáo dục trực tiếp,
thường xuyên, toàn diện là một trong những đổi mới của mô hình Trường học mới Về
sinh hoạt chuyên môn, các nhà trường đã đưa sinh hoạt chuyên môn trở thành hoạt động
thường xuyên, bước đầu có chất lượng Về các hoạt động quản lí nhà trường đã phân
cấp, giao quyền tự chủ cho cán bộ giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong dạy học và thực hiện kế hoạch; giảm bớt quản lí hành chính, chú trọng quản lý theo chất lượng công việc
Các thành công, kinh nghiệm của mô hình cũng đã từng bước được nhân ra trong
cả hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam Ví dụ: đổi mới đánh giá học sinh hướng vào việc động viên giúp đỡ, hướng dẫn kịp thời vì sự tiến bộ của học sinh đã được thể chế bằng Thông tư 30; ở nhiều nơi, các trường tiểu học, trường trung học đã đổi mới không gian lớp học, xây dựng tủ sách lớp học, tăng cường hoạt động tự chủ, rèn luyện kĩ năng sống của học sinh, mời cha mẹ học sinh đến trường tìm hiểu và cùng hoạt động giúp con
em học tập… Những đổi mới đó đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét chuyển thành các quy định của Điều lệ trường tiểu học, Điều lệ trường trung học nhằm đáp ứng đổi mới chương trình và sách giáo khoa Bộ tài liệu Hướng dẫn học của mô hình sẽ được chỉnh lí, hoàn thiện để trở thành một trong những bộ sách giáo khoa phục vụ chương trình giáo dục phổ thông mới, áp dụng chính thức từ năm học 2018 – 2019, phù hợp chủ trương “một chương trình, nhiều sách giáo khoa” quy định tại Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội
Song song với những đổi mới trong cách quản lí, giảng dạy và giáo dục đa số học sinh đã thích ứng tốt yêu cầu đặt ra như tự khám phá và lựa chọn các tình huống thực
tế, ứng dụng văn hóa – kỹ năng đã học trong bài; Học xây dựng thêm theo sở thích, sở trường của bản thân
Để đáp ứng với yêu cầu thực tế hiện nay, đa số học sinh đã được trang bị các thiết
bị hiện đại để phục vụ tốt cho quá trình học tập như: điện thoại thông minh, máy tính xách tay, máy tính bảng… Ngoài việc sử dụng các thiết bị trên để đáp ứng như cầu học thì đa số học sinh còn sử dụng với mục đích giải trí trong đó tham gia vào MXH đang
là vấn đề nổi cộm trong mỗi cá nhân học sinh
MXH ra đời giúp mọi người liên kết với nhau thuận tiện hơn, trở thành một phần tất yếu của mỗi người cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới Theo Bộ Thông tin
và truyền thông, đối tượng sử dụng các trang MXH chủ yếu là giới trẻ, trong đó có học sinh THPT Thực tế cho thấy, nhiều học sinh sử dụng trang mạng cá nhân và MXH để tạo ra hiệu ứng tốt cho quá trình học tập của bản thân như: giao lưu, trò chuyện, kết bạn
Trang 66
với bạn bè cùng trang lứa, trao đổi kinh nghiệm học tập, chia sẻ kĩ năng sống, tăng khả năng giao tiếp Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì việc sử dụng MXH gây ra không ít những tác động xấu Một số học sinh do sử dụng quá nhiều nên ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tình cảm, hình thành lối sống ảo Có những trường hợp vì thiếu văn hóa ứng xử trên MXH dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, bạo lực học đường Do dành nhiều thời gian để đăng nhập MXH, thị lực sẽ bị suy giảm; trí não làm việc liên tục không được nghỉ ngơi; không ít trường hợp các bạn bị “nghiện” MXH mà không hay biết, tần suất sử dụng trong ngày quá nhiều, lượng đăng ảnh và dòng trạng thái liên tục…
Học sinh THPT đang ở độ tuổi mới lớn thường muốn tách mình khỏi sự bảo bọc của cha mẹ, muốn khẳng định bản thân Các em dễ bị nhiễm độc trước thông tin tiêu cực, dễ bị hùa theo đám đông, làm những việc được nhiều người "like" bởi cho rằng nó đúng, hợp thời Những mâu thuẫn, xung đột trên MXH giữa các cá nhân, nhóm bạn cũng diễn ra từ đó Hàng loạt vụ học sinh đánh nhau từ mâu thuẫn trên MXH cho thấy các em đang sử dụng MXH theo chiều hướng tiêu cực, đáng báo động
Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về MXH, đặc biệt là các nghiên cứu về việc sử dụng MXH của học sinh, sinh viên Các chuyên đề, đề tài nghiên cứu về vấn đề học sinh, sinh viên sử dụng MXH thường tập trung vào các khía cạnh như: Hành
vi sử dụng MXH, một số tác hại của MXH, hội chứng nghiện facebook, tình trạng bắt nạt mạng, nguy cơ trầm cảm ở giới trẻ do MXH, tình trạng thiếu kĩ năng sử dụng MXH… Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu và đề ra giải pháp giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực, phòng tránh VPPL khi sử dụng MXH cho học sinh THPT, trong đó có học sinh trường nội trú Miền Tây Đối tượng HS chuyên biệt (là trường dân tộc nội trú), các em đều là người dân tộc thiểu số nên có những hạn chế về kĩ năng giao tiếp do đặc điểm tâm lí cùng với những ảnh hưởng nhất định của môi trường sống Tổ chức dạy học bằng HĐTN sẽ giúp các em rất nhiều trong việc phát triển kĩ năng giao tiếp - một trong những kĩ năng sống đặc biệt quan trọng đối với HS Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng mà trường PTDTNT THPT Miền Tây luôn hướng tới
Từ những yêu cầu của ngành giáo dục nói chung, của bộ môn nói riêng và nhu cầu
tự học, tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế nhà trường - là trường chuyên biệt, điều kiện về kinh phí và nhân lực còn hạn chế, đối tượng
HS là con em đồng bào dân tộc thiểu số nên trong năm học 2021 - 2022 tôi đã bước
đầu tìm hiểu và thực hiện sáng kiến:“Giáo dục pháp luật An ninh mạng và kĩ năng sử
dụng mạng xã hội cho học sinh trường PTDTNT THPT Miền Tây”
2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
2.1 Mục đích của giải pháp:
Sáng kiến khoa học được tôi thực hiện dựa trên các mục đích cơ bản sau:
- Tìm hiểu sâu về thực trạng sử dụng MXH và tác động của mạng xã hội đến nhận thức, thái độ và hành vi của HS trường PTDTNT THPT Miền Tây, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực, phòng tránh VPPL khi sử dụng MXH cho học sinh trong nhà trường
Trang 77
- Thiết kế một kế hoạch dạy học có lồng ghép Giáo dục pháp luật An ninh mạng
và kĩ năng sử dụng mạng xã hội cho học sinh nhằm tạo hứng thú học tập, liên hệ thực tiễn, giúp HS có kiến thức và kĩ năng cần thiết trong sử dụng mạng xã hội, góp phần giáo dục HS trở thành những người công dân tốt, có ích cho XH
- Tạo cơ hội cho HS tiếp cận thực tế, biết tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, huy động tổng hợp kiến thức và kĩ năng đã có để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình và xã hội phù hợp với lứa tuổi một cách có hiệu quả trên cơ sở hiểu được bản chất của vấn đề
- Giúp HS phát triển các năng lực: nhận thức pháp luật; truyền đạt thông tin pháp luật; tự chủ; giao tiếp và hợp tác; giải quyết vấn đề và sáng tạo; vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn
- Góp phần đổi mới phương pháp và đa dạng hóa hình thức giáo dục, nhất là trong môn Tin học, nâng cao hiệu quả giảng dạy của GV Tạo điều kiện cho GV tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phát triển thêm một số kĩ năng như khai thác
và xử lí thông tin, tổ chức và quản lý các hoạt động giáo dục, xử lý tình huống sư phạm,
2.2 Nội dung giải pháp:
2.2.1 Tình hình sử dụng mạng xã hội của học sinh dân tộc nội trú Miền Tây
Sáng kiến tiến hành nghiên cứu 410 học sinh của 3 khối 10, 11, 12 truờng dân tộc nội trú Miền Tây, trong đó: khối 10 - 140 học sinh, khối 11 - 137 học sinh, khối 12 -
132 HS
Về giới tính: 212 học sinh nữ (51,7%), 198 học sinh nam (48,3%);
Về dân tộc: có 398 học sinh dân tộc thiểu số (97,1%)
Về độ tuổi: 15 tuổi có 135 học sinh (32,9%), 16 tuổi có 128 học sinh (31,2%), 17 tuổi có 133 học sinh (32,4%), 18 tuổi có 6 học sinh (1,5%), 19 tuổi có 5 học sinh (1,2%);
20 tuổi có 2 học sinh (0,5%); 21 tuổi có 1 học sinh (0,2%)
Với đặc thù là học sinh trường dân tộc nội trú, 100% học sinh ở trong trường do
đó đa số học sinh có nhiều thời gian cho các hoạt động thể thao và giải trí Trong đó vấn
đề sử dụng mạng xã hội không thể thiếu đối với học sinh trong trường Tuy nhiên những vấn đề học sinh hay gặp phải về văn hóa ứng xử trên mạng xã hội là:
- Không biết cách thể hiện văn hóa trên mạng xã hội, nhiều học sinh hiện nay có cách ứng xử rất kém, tự đề cao bản thân, thậm chí có phần thô lỗ, thiếu lễ độ
- Thiếu hiểu biết nên đã chia sẻ các thông tin không đúng sự thật trên mạng xã hội, đăng tải nhiều hình ảnh không phù hợp với chuẩn mực xã hội
- Nhiều HS sử dụng mạng xã hội đã gây xích mích, mất đoàn kết dẫn đến đánh nhau, bình luận thiếu văn hóa hoặc thiếu sự tôn trọng cả đối với những đối tượng mình không biết, không liên quan
- Dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào những hoạt động không phù hợp với lứa tuổi, vi phạm pháp luật…
Trang 88
Bắt nhịp với cuộc sống hiện đại, học sinh dân tộc nội trú Miền Tây đã và đang tham gia, sử dụng MXH, đồng thời đang chịu những tác động ngày càng rõ rệt từ MXH đến mọi mặt của đời sống
* Mức độ sử dụng các loại MXH: Tình hình sử dụng MXH của học sinh dân tộc
nội trú Miền Tây thể hiện trước hết ở mức độ sử dụng các loại MXH Các loại mạng được học sinh sử dụng phổ biến là: Facebook, Youtube, Zalo, Tik Tok, Mocha Ngoài
ra, các bạn học sinh còn sử dụng mạng MXH khác như: Instagram, Wechat, Twitter,
2 Tiếp cận thông tin, xu thế 310 75,6
3 Học hỏi kiến thức, kĩ năng 390 95,1
4 Bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân, chia sẻ những
sở thích của mình 289 70,5
5 Tham gia các nhóm trên MXH 267 65,1
6 Quảng cáo, kinh doanh 20 4,9
7 Giải trí 400 97,6
Bảng 1.1 Mục đích sử dụng mạng xã hội của học sinh THPT Miền Tây
Biểu đồ: Mục đích sử dụng mạng xã hội của học sinh THPT Miền Tây
* Thời gian sử dụng MXH:
TT Ngày bình thường Ngày nghỉ cuối tuần hoặc khi rảnh rỗi
Khoảng thời gian SL TL (%) Khoảng thời gian SL TL(%)
Tiếp cận thông tin,
xu thế
Học hỏi kiến thức,
kĩ năng
Bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân, chia
sẻ những
sở thích của mình
Tham gia các nhóm trên mạng
xã hội
Quảng cáo, kinh doanh
Giải trí Khác
Trang 96 Dưới 1 giờ 67 16,3 Dưới 1 giờ 100 24,4
7 Không vào MXH 0 0.00 Không vào MXH 0 0
Bảng 1.2 Thời gian sử dụng mạng xã hội của học sinh dân tộc nội trú Miền Tây
Biểu đồ: Thời gian sử dụng mạng xã hội của học sinh dân tộc nội trú Miền Tây
Tiến hành phỏng vấn nhiều học sinh trong nhóm được khảo sát và được biết: Hiện nay có nhiều loại MXH (xuất xứ nước ngoài và nội địa Việt Nam) và ngày càng có nhiều những tính năng mới thu hút người dùng trải nghiệm; khi đã đăng nhập sử dụng thì thường sẽ bị cuốn hút bởi nhiều thông tin, tính năng, thậm chí quên cả thời gian Đặc biệt, có trường hợp dành hoàn toàn thời gian cho MXH vào ngày nghỉ, nhất là đối với những học sinh ở nội trú
Mức độ sử dụng các loại MXH và thời gian sử dụng MXH càng nhiều càng dễ dẫn tới những nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực của MXH tới học sinh
* Mức độ ảnh hưởng của MXH tới học sinh dân tộc nội trú Miền Tây
Những ảnh hưởng tích cực của MXH tới học sinh như: giới thiệu tính cách, sở thích, quan điểm của bản thân với mọi người, kết nối bạn bè, giúp bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân, giúp tiếp nhận thông tin, học hỏi kiến thức và kỹ năng, giới thiệu bản thân
Trên 5 giờ 4 - 5 giờ 3 - 4 giờ 1 – 2 giờ Dưới 1 giờ Không vào
MXH
Trang 1010
mình với mọi người, Bên cạnh đó, MXH có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến học sinh
trường dân tộc nội trú Miền Tây: lãng phí thời gian và xao nhãng mục tiêu thực của cá
nhân, thường xuyên so sánh bản thân với người khác; giảm tương tác giữa người với người trong cuộc sống thực, nguy cơ VPPL từ các trào lưu như đăng ảnh "dìm hàng" trong những sự kiện, ngày quan trọng của bạn bè lên MXH mà không lường trước được những hậu quả xấu có thể xảy ra Nhận thức của nhiều học sinh cho rằng MXH là môi trường ảo nên nên có thể tự do phát ngôn, đăng tải thông tin mà không phải chịu trách nhiệm, không VPPL Đây đều là những hành vi vi phạm được quy định trong Luật an ninh mạng
2.2.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng sử dụng mạng xã hội của học sinh dân tộc nội trú Miền Tây
* Nguyên nhân chủ quan:
- Đặc điểm tâm lí lứa tuổi: Học sinh THPT còn gọi là tuổi đầu thanh niên (15 - 18
tuổi) Ngày nay, học sinh THPT được sinh ra trong một môi trường xã hội có nhiều
thuận lợi, nhưng ở các em cũng có những vấn đề đáng lưu ý: Đây là tuổi đang phát triển
về tài năng, tiếp thu cái mới nhanh, rất thông minh sáng tạo nhưng cũng dễ sinh ra chủ quan, nông nổi, kiêu ngạo ít chịu học hỏi; thích cái mới lạ, thích hướng đến tương lai, ít
chú ý đến hiện tại và dễ quên quá khứ…
- Nhận thức của HS khi sử dụng MXH: Kết quả khảo sát và phỏng vấn sâu tại
trường PTDTNT THPT Miền Tây cho thấy có khá nhiều học sinh chỉ sử dụng mà không tìm hiểu về thông tin, phân loại các trang MXH, thậm chí còn không phân biệt được giữa các loại MXH nước ngoài và Việt Nam, đặc biệt số học sinh không tự đánh giá
được mức độ ảnh hưởng tiêu cực của MXH đến bản thân
- Kĩ năng sử dụng MXH: Học sinh có kĩ năng khá tốt trong việc tạo một tài khoản
MXH Tuy nhiên, các kĩ năng quan trong khác lại chưa có hoặc ít quan tâm: kĩ năng bảo mật tài khoản; kĩ năng phát hiện thông tin không phù hợp, gây hại; kĩ năng phân biệt các loại MXH; nhất là kĩ năng phát hiện, phân biệt hành vi VPPL… trên MXH đây là các kĩ năng còn thiếu hụt, cần trang bị kịp thời để học sinh tránh không thực hiện những hành
vi VPPL
* Nguyên nhân khách quan:
- Môi trường xã hội: Đại đa số học sinh trường dân tộc nội trú Miền Tây đến từ
những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn nhưng đa số đều có nhu cầu được học hỏi, giao lưu và tiếp nhận, khám phá, trải nghiệm những xu hướng mới 100% học sinh sống xa gia đình không có sự quản lí chặt chẽ của gia đình, không biết tự quản
lí thời gian ngoài giờ học nên thời gian rảnh rỗi thường xuyên truy cập mạng
- Phương tiện vật chất: Học sinh đa phần đều có điện thoại thông minh, có kết
nối Internet, cùng với đó là sự phủ sóng của các dịch vụ mạng viễn thông là môi trường thuận lợi để học sinh vào MXH một cách nhanh chóng và dễ dàng
- Công tác giáo dục kĩ năng, tuyên truyền pháp luật: Vấn đề sử dụng MXH của
Trang 1111
học sinh THPT là vấn đề mới nên sự quan tâm tuyên truyền, giáo dục và các hoạt động
hỗ trợ học sinh tham gia MXH an toàn, lành mạnh đã được thực hiện tuy nhiên chưa có chiều sâu
Qua phỏng vấn, đa số các bạn học sinh cho biết đã được tuyên truyền pháp luật nhưng chưa hiểu rơ về các nội dung cụ thể liên quan tới lứa tuổi học sinh, chưa có kĩ năng phân biệt hành vi VPPL trên MXH Các kĩ năng và kiến thức cần thiết khi tham gia MXH của học sinh chủ yếu là do tự tìm hiểu Chính vì vậy, cần có giải pháp kịp thời, phù hợp để giáo dục pháp pháp luật ANM và kĩ năng sử dụng, văn hóa ứng xử cho học sinh khi tham gia MXH
Như vậy, có thể thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực
của MXH đến học sinh dân tộc nội trú Miền Tây, trong có nguy cơ VPPL Để giảm thiểu
những ảnh hưởng đó cần có giải pháp phù hợp để tác động đến nhận thức giúp học sinh
có kiến thức, kĩ năng tốt thì sẽ biểu hiện thành hành vi hợp chuẩn khi tham gia MXH
2.2.3 Giải pháp giáo dục pháp luật về an ninh mạng và kĩ năng sử dụng MXH cho học sinh dân tộc nội trú Miền Tây
* Giải pháp chung:
- Một là: Tuyên truyền, giáo dục một số nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng
về những hành vi bị nghiêm cấm và những hình thức xử lí vi phạm pháp luật về an ninh mạng được ban hành trong Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan; Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm mục đích hýớng tới một không gian mạng ít nguy cơ, hạn chế tối đa các hành vi VPPL trên không gian mạng…
- Hai là: Tích hợp giảng dạy một số kĩ năng khi sử dụng MXH trong quá trình
giảng dạy môn Tin học như:
+ Kĩ năng bảo mật thông tin cá nhân: Cần biết rõ về MXH đang sử dụng, cần chủ động phổ cập kiến thức cũng như những rủi ro có thể xảy ra khi sử dụng mạng xã hội; Cần có cách đặt mật khẩu mạnh; cách mã hóa dữ liệu; Cài đặt phần mềm diệt virus; Sử dụng phần mềm có nguồn gốc rõ ràng; thường xuyên cập nhật phần mềm; luôn giữ quyền kiểm soát trên thiết bị…
+ Kĩ năng tiếp cận thông tin: gồm các hoạt động kiểm tra nguồn thông tin để tìm
hiểu về người/đơn vị/tổ chức sản xuất nội dung cũng như tính tin cậy của thông tin; Nắm bắt những trang cung cấp thông tin; Tránh xa các luồng thông tin nhảm nhí; Nhận biết
dữ liệu độc hại thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cảnh báo của cộng đồng mạng…
+ Kĩ năng khi chia sẻ hay bình luận thông tin: Trước khi quyết định chia sẻ thông
tin nào đó, nhất là những thông tin không trực tiếp liên quan đến bản thân, tôi luôn nhắc nhở HS đọc kĩ nội dung, xác định độ tin cậy, xác định nguồn thông tin, đánh giá thông tin đó có cần thiết cho nhiều người hay không, có ảnh hưởng xấu đến người khác không,