1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch, cnxh khoa học phát huy dân chủ xhcn ở nước ta hiện nay

23 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài thu hoạch, CNXH khoa học phát huy dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 44,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Nền dân chủ của dân tộc ta ra đời trong cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; đã được thử thách, trải nghiệm trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, đánh bại những kẻ thù hung bạo nhất của chủ nghĩa đế quốc, để lại dấu ấn thời đại. Bước vào giai đoạn xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), nền dân chủ đó cũng đã được trải nghiệm trong mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, mà đặc trưng của nó là: Về chính trị, đó là nhà nước chuyên chính vô sản…; về kinh tế, đó là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu với hai thành phần duy nhất: Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Tại Đại hội VI, năm 1986, Đảng ta đã quyết định chuyển sang xây dựng xã hội XHCN theo mô hình mớimô hình được hoàn thiện từng bước từ Đại hội VII đến nay. Những thành tố của mô hình đó là: Về chính trị, đó là xã hội do nhân dân làm chủ với nhà nước pháp quyền do Đảng ta lãnh đạo; về kinh tế, đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mặc dù đã đạt được những thành quả to lớn, song sau gần 30 năm đổi mới, xã hội ta đã xuất hiện nhiều vấn đề kinh tế, xã hội cần giải quyết. Đó là tình trạng phân hóa giàu nghèo, tham nhũng, lợi ích nhóm, “bệnh nhiệm kỳ”… có xu hướng gia tăng; quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một số lĩnh vực còn bị vi phạm… Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã công khai, thẳng thắn chỉ ra nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên các cấp. Nếu chúng ta không kịp thời ngăn chặn, loại trừ tình trạng suy thoái đó thì có thể dẫn đến những bất ổn xã hội, xóa nhòa những thành quả của công cuộc đổi mới trong nhiều thập kỷ qua. Để khắc phục tình trạng trên, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung bảo đảm và phát huy mạnh mẽ dân chủ XHCN, mà cốt lõi là quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy, phát huy dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay là vấn đề rất quan trọng.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

1 Nhận thức về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa 3

2 Sự vận dụng chủ nghĩa xã hội sáng tạo ở Việt Nam 5

2.1 Những thành tựu trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới 5

2.2 Những hạn chế trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới 9

2.3 Những đổi mới căn bản trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội sau đổi mới 11

KẾT LUẬN 21

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nền dân chủ của dân tộc ta ra đời trong cuộc Cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân; đã được thử thách, trải nghiệm trong các cuộc kháng chiếnchống xâm lược, đánh bại những kẻ thù hung bạo nhất của chủ nghĩa đế quốc,

để lại dấu ấn thời đại Bước vào giai đoạn xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa(XHCN), nền dân chủ đó cũng đã được trải nghiệm trong mô hình cũ của chủnghĩa xã hội, mà đặc trưng của nó là: Về chính trị, đó là nhà nước chuyênchính vô sản…; về kinh tế, đó là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêuvới hai thành phần duy nhất: Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Tại Đạihội VI, năm 1986, Đảng ta đã quyết định chuyển sang xây dựng xã hộiXHCN theo mô hình mới-mô hình được hoàn thiện từng bước từ Đại hội VIIđến nay Những thành tố của mô hình đó là: Về chính trị, đó là xã hội do nhândân làm chủ với nhà nước pháp quyền do Đảng ta lãnh đạo; về kinh tế, đó lànền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Mặc dù đã đạt được những thành quả to lớn, song sau gần 30 năm đổimới, xã hội ta đã xuất hiện nhiều vấn đề kinh tế, xã hội cần giải quyết Đó làtình trạng phân hóa giàu nghèo, tham nhũng, lợi ích nhóm, “bệnh nhiệmkỳ”… có xu hướng gia tăng; quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trênmột số lĩnh vực còn bị vi phạm… Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã côngkhai, thẳng thắn chỉ ra nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là sự suy thoái

về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viêncác cấp Nếu chúng ta không kịp thời ngăn chặn, loại trừ tình trạng suy thoái

đó thì có thể dẫn đến những bất ổn xã hội, xóa nhòa những thành quả củacông cuộc đổi mới trong nhiều thập kỷ qua Để khắc phục tình trạng trên,trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung bảo đảm và phát huymạnh mẽ dân chủ XHCN, mà cốt lõi là quyền làm chủ của nhân dân Vì vậy,phát huy dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay là vấn đề rất quan trọng

Trang 3

NỘI DUNG

1 Nhận thức về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa

Dân chủ trong tiếng Hy lạp cổ được hiểu nhân dân cai trị, sau được cácnhà chính trị giản lược là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc vềnhân dân

Lý luận về dân chủ chiếm một phần quan trọng trong lý luận của chủnghĩa Mác - Lê-nin Theo C Mác và Ph Ăng-ghen, từ dân chủ chủ nô đếndân chủ tư sản rồi đến dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa) là nhữngbước tiến của lịch sử Các ông đã đánh giá một cách khách quan nền dân chủ

tư sản, mặc dù nó còn rất nhiều hạn chế, khiếm khuyết, song là bước tiến bộ

so với chế độ chuyên chế phong kiến Đồng thời, các ông đã vạch ra bản chấtgiai cấp của dân chủ tư sản, đó là dân chủ đối với thiểu số bóc lột và chuyênchính đối với đa số nhân dân lao động Theo C Mác và Ph Ăng-ghen, tronggiai đoạn thứ nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản phải trởthành giai cấp thống trị, phải “giành lấy dân chủ” Chỉ có giành được chínhquyền nhà nước, giai cấp vô sản mới xây dựng và phát huy được nền dân chủ

xã hội chủ nghĩa, mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình là đưa nhân

dân, trước hết là nhân dân lao động trở thành người chủ của xã hội, là chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực. 

V.Lênin quan niệm “Chế độ dân chủ là chế độ thống trị của đa số đốivới thiểu số” Do vậy, dân chủ được nhìn nhận như là một hình thức, một hìnhthái nhà nước, trong đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhândân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu sốnhững kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân

Kế thừa và phát triển những tư tưởng về dân chủ của chủ nghĩa Mác

-Lê-nin, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm đặc sắc về dân chủ bằng diễn đạt

rất ngắn gọn: “Dân là chủ”, “Dân làm chủ”, “Dân là gốc”, “Nước ta là nướcdân chủ”, “Dân chủ là cái chìa khóa vạn năng” Khẳng định vai trò làm chủ xã

Trang 4

hội của nhân dân, Hồ Chí Minh nói: “quyền hành và lực lượng đều ở nơi

dân”, và quan trọng hơn Hồ Chí Minh còn khẳng định phải làm cho dân được hưởng quyền làm chủ xã hội trên thực tế Từ “dân là chủ” tiến lên thành “dân

làm chủ” là một bước tiến về chất của dân chủ Theo Hồ Chí Minh, phải làmsao cho người dân có quyền làm chủ, có điều kiện làm chủ, biết hưởng quyềnlàm chủ, đồng thời biết dùng quyền làm chủ Muốn vậy nhân dân phải cónăng lực làm chủ Năng lực đó không phải bỗng dưng mà có, không phải từ

trên trời rơi xuống, không phải do “ban phát” mà, một mặt, Đảng, Nhà nước phải tạo ra cơ chế, chính sách, luật pháp thích hợp; mặt khác, người dân phải

phấn đấu, rèn luyện, phải học dân chủ, phải nâng cao trình độ hiểu biết về dânchủ, phương pháp thực hành dân chủ và bản lĩnh thực hành dân chủ Có nhưvậy, nhân dân mới có quyền dân chủ thực sự, tránh tình trạng dân chủ chungchung, dân chủ hình thức

Theo Hồ Chí Minh, để các quyền dân chủ được thực hiện trong cuộc

sống, các quyền đó phải được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật và được

thực hiện bằng những thiết chế tương ứng của Nhà nước Ở đây, dân chủ vàpháp luật, dân chủ và kỷ cương không bài trừ, phủ định nhau, trái lại, chúngnằm trong sự thống nhất biện chứng, là điều kiện, tiền đề phát triển của nhau.Thực tế cho thấy, cả vô chính phủ lẫn độc đoán chuyên quyền đều trái với bảnchất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Không thể có dân chủ mà thiếu phápluật, kỷ luật, kỷ cương

Kế tục tư tưởng vì dân của Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương xây dựngchế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng và phát huy quyền làm chủ củanhân dân và khẳng định, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triểnđất nước; dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóabằng pháp luật, được pháp luật đảm bảo; dân chủ là nguyên tắc tổ chức, hoạtđộng của các tổ chức chính trị - xã hội (nguyên tắc tập trung dân chủ) Nhưvậy, Dân chủ là một giá trị xã hội phản ánh chủ thể quyền lực là nhân dân,

Trang 5

khẳng định những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhànước của giai cấp cầm quyền thành một chế độ chính trị xac hội mà ở đónhững quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng…) được pháp luật thừanhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyêntắc (quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước phápluật…) để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước,cộng đồng và ngược lại

2 Sự vận dụng chủ nghĩa xã hội sáng tạo ở Việt Nam

2.1 Những thành tựu trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới

Trước đổi mới, Việt Nam nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và xâydựng chủ nghĩa xã hội thời kỳ trước đổi mới được thể hiện ở những nội dung

cách mạng đầy gian khổ, chủ nghĩa xã hội vẫn là lý tưởng và là mục tiêu

hướng tới của cách mạng Việt Nam Việc kiên định mục tiêu, lý tưởng nàyvừa thể hiện nhận thức đúng đắn logic khách quan của sự vận động củacách mạng nước ta, vừa tạo động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của cáchmạng Việt Nam

Nhận thức của Đảng ta về mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội là một nhận thức khoa học và trở thành tư tưởng lớnxuyên suốt và chủ đạo của cách mạng Việt Nam Trong đó, độc lập dân tộc làđiều kiện tiên quyết để đi đến chủ nghĩa xã hội; còn chủ nghĩa xã hội là đảmbảo đầy đủ, thực chất và triệt để nhất của độc lập dân tộc

Trang 6

Trước thời kỳ đổi mới đất nước, nhận thức lý luận này của Đảng ta lànhất quán và không có sự hoài nghi, dao động về con đường đã lựa chọn, mặc

dù chủ nghĩa xã hội hiện thực vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 củathế kỷ XX ở nhiều nơi trên thế giới đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng Đồngthời, tư tưởng này cũng chỉ rõ tiến trình phát triển của Việt Nam là quá độ lênchủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Hai là, phác thảo trên những nét căn bản về đặc điểm và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta có nhiều nét đặc thù sovới tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước trên thế giới Chúng taxây dựng chủ nghĩa xã hội với việc thực hiện đồng thời các nhiệm vụ: vừaxây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; vừa cải tạo

xã hội chủ nghĩa ở miền Nam vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cảnước Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã nhận thức rõ mối quan

hệ giữa cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong đó, cải tạo để mở đường,

để chuẩn bị những tiền đề, điều kiện cần thiết cho xây dựng; xây dựng là tiếptục hoàn thiện nhiệm vụ cải tạo và tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiếtcho chủ nghĩa xã hội Nhìn một cách tổng thể, đường lối chung của cáchmạng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta vạch ra thời kỳ trước đổi mới là đúng đắn

và phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh thực tiễn của đất nước

Thời kỳ trước đổi mới, thông qua đường lối, Cương lĩnh, chiến lượccủa Đảng từ năm 1954 đến 1986 có thể khái quát chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam được phác thảo trên những lĩnh vực chủ yếu sau:

Về kinh tế: Đảng chủ trương “xây dựng một nền kinh tế quốc dân có

công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, khoa học, kỹ thuật tiên tiến" làm

cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Việt Nam Trong giai đoạn

1954 – 1957, Đảng cũng đưa ra quan điểm thừa nhận ở nước ta vẫn tồn tại

Trang 7

nền kinh tế nhiều thành phần và “để phát huy mặt tích cực và hạn chế đếnmức thấp nhất mặt tiêu cực trong một nền kinh tế có nhiều thành phần, sự chỉđạo và quản lý của Nhà nước phải rất sắc bén, nắm vững kế hoạch hoá, đồngthời khéo vận dụng các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ để thúc đẩy sản xuấtphát triển”1, đặc biệt là thừa nhận và bảo đảm trên thực tế quyền sở hữu ruộngđất của nông dân Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về pháttriển kinh tế đã góp phần xác lập và khẳng định vị trí chủ thể của kinh tế hộnông dân; tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp - hoạt động kinh tế chủ yếukhi đó có bước phát triển nhanh.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhận thức lý luận quantrọng này lại không được hiện thực hoá bằng các quyết định, chính sách pháttriển kinh tế lâu dài và nhất quán để xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳquá độ

Về chính trị: quan điểm đúng đắn xuyên suốt từ khi thành lập đảng cho

đến thời kỳ này vẫn là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Việt Nam lànước duy nhất thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược cùng một lúc:tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam và cách mạng xã hội chủnghĩa ở miền Bắc Đường lối chiến lược đúng đắn này đã thể hiện phươngchâm chiến lược sáng tạo của Đảng về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủnghĩa xã hội trong điều kiện cụ thể của Việt Nam

Về văn hoá: Vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về

văn hoá vô sản - văn hoá xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam chủtrương phải xây dựng nền văn hoá mới – nền văn hoá xã hội chủ nghĩa

Về xã hội: Thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội, chủ trương thực

hiện nhất quán hình thức phân phối theo lao động; quan tâm đến các giađình chính sách

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H., tập 36, tr.410-411

Trang 8

Về con người: Thiết lập quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người,

thể hiện trong xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam – đó làđiều kiện, tiền đề để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

- Về chính sách đối ngoại: Việt Nam chủ trương tranh thủ tối đa sự

giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của các lực lượng yêu chuộng hoàbình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới Việt Nam luôn trung thành với tinh thầncủa chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp với chủ nghĩa yêu nướcchân chính của dân tộc Việt Nam

Có thể thấy rằng, thời kỳ này Đảng Cộng sản Việt Nam đã có một sốnhận thức đúng về chủ nghĩa xã hội, vận dụng những nét khái quát về đặctrưng phổ biến của xã hội xã hội chủ nghĩa theo quan điểm của chủ nghĩa Mác

- Lênin

Ba là, nhận thức lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Nhận thức luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội lần đầu tiênđược Đảng ta nêu ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2/1951) vớiquan niệm về ba giai đoạn, trong đó, giai đoạn thứ ba của cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân được coi là thời kỳ quá độ với nhiệm vụ xây dựng, củng cố

và hoàn thiện chế độ dân chủ nhân dân

Trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳquá độ, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: đặc điểm lớn nhất của Việt Nam là quá độ từmột nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạnphát triển tư bản chủ nghĩa, do vậy nhiệm vụ quan trọng là phải xây dựng cơ

sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế nhiều thànhphần, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiêntiến Người cũng chỉ rõ tính chất quá độ là lâu dài, khó khăn trải qua nhiềubước2

2 Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.10, tr.13 và t.7, tr.540

Trang 9

Về phương pháp, biện pháp, cách thức tiến hành, Hồ Chí Minh chỉ rõphải có tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, không giáo điều, rập khuôn, tìm tòicách đi cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam3.

Tuy vậy, những tư tưởng chỉ đạo này của Hồ Chí Minh đã không đượckiên trì thực hiện do chủ quan, nóng vội muốn mau chóng xây dựng thànhcông chủ nghĩa xã hội

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960), nhiều vấn đề lý luận

về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục được đặt ra nghiên cứu và làmsáng tỏ như: lý luận phân kỳ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những mâuthuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất, đấu tranh giai cấp v.v…

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3/1982), tư duy lý luận củaĐảng ta về chủ nghĩa xã hội đã có nhận thức mới phù hợp hơn với thực tiễncủa Việt Nam, thể hiện ở sự điều chỉnh trong nhận thức về thời kỳ quá độ lên

chủ nghĩa xã hội và lần đầu tiên khái niệm chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được sử dụng trong Văn kiện với mục tiêu tạo ra

những tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, thời

kỳ trước đổi mới, lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn chưa đượclàm sáng tỏ

Tóm lại, mặc dù những nhận thức về chủ nghĩa xã hội thời kỳ trước đổi

mới còn mang tính chất từng mặt, từng bộ phận, chưa triệt để và toàn diện,nhưng là những bước chuẩn bị quan trọng tạo tiền đề cho sự nghiệp đổi mới đấtnước và làm sáng tỏ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta sau này

2.2 Những hạn chế trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới

3 Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.8, tr.227

Trang 10

Ở thời kỳ này, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhậnthức về chủ nghĩa xã hội, về mô hình của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Namvẫn còn rất nhiều hạn chế, khiếm khuyết Việc xác định mục tiêu xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chưa được phân biệt rõ, đôi lúc còn nhầm lẫngiữa mục tiêu lâu dài với những nhiệm vụ cấp bách trước mắt Những đặctrưng mang sắc thái từ đặc điểm lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hoá của ViệtNam chưa được đề cập cụ thể trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội mà chúng

ta cần xây dựng Trong nhận thức về xã hội xã hội chủ nghĩa thời kỳ này cònnhiều hạn chế, giáo điều, máy móc, như đồng nhất mục tiêu cuối cùng củachủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiềuquan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầuphát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ; đồng nhất kinh tế thịtrường với chủ nghĩa tư bản, coi nhẹ những thành tựu, giá trị mà nhân loại đãđạt được trong thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản; muốn nhanh chóngxóa bỏ sản xuất hàng hóa, cơ chế thị trường, xóa bỏ sở hữu tư nhân và kinh tế

tư nhân; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản

Thời kỳ trước năm 1986 ở cả hai miền Bắc, Nam (sau khi thống nhấtđất nước) đều duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Cơ chế này

đã làm triệt tiêu nhiều động lực để phát triển đất nước

Phương hướng phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội khi đưa

ra đã không chú ý đúng đắn đến các lợi ích chính đáng; chưa giải quyết thoảđáng mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân - tập thể - xã hội

Nhiều vấn đề khác như dân chủ xã hội chủ nghĩa, văn hoá xã hội chủnghĩa, con người mới xã hội chủ nghĩa cũng có nhiều nhận thức mơ hồ, chủquan, duy ý chí…Các phương hướng, giải pháp để xây dựng chủ nghĩa xã hộicòn chung chung, trừu tượng Một số vấn đề về xã hội như bình đẳng xã hội,công bằng xã hội giữa các tộc người, giữa miền núi với miền xuôi, giữa nông

Trang 11

thôn và thành thị… đều có những nhận thức chưa đầy đủ Tính hiệu quả, thiếtthực của các chính sách xã hội còn nhiều hạn chế.

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn vànghiên cứu lý luận, Đảng ta từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâusắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta;từng bước khắc phục được một số quan niệm giản đơn, ấu trĩ trước đây

2.3 Những đổi mới căn bản trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội sau đổi mới

Trên cơ sở nhận thức về thời đại, nhận thức về dân tộc và sức mạnh dântộc từ thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước dựa trên nền tảng của chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức về chủ nghĩa xã hội

và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Đảng ngày càng rõ hơn.Trong quá trình đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa

xã hội, Đảng nhận thấy việc xác định đúng mô hình chủ nghĩa xã hội là yếu tố

có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam Bởi đó là cơ sở, là định hướng để Đảng và Nhà nước tahoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật nhằm hiện thựchoá mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội năm 1991, mô hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng đãđược phác hoạ với 6 đặc trưng Đại hội lần thứ X (năm 2006) của Đảng đã bổsung, phát triển làm cho mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam toàn diện hơn,gồm 8 đặc trưng Trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Đảng tatiếp tục xác định 8 đặc trưng trên cơ sở kết hợp, bổ sung, phát triển những đặctrưng của chủ nghĩa xã hội trong các văn kiện nói trên

Các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng trongCương lĩnh 2011 là thành quả của quá trình vận động của cách mạng ViệtNam, đặc biệt là của gần 30 năm đổi mới, trước hết là thành quả của sự đổimới nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong điềukiện hiện nay

Ngày đăng: 21/04/2023, 11:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w