MỞ ĐẦU Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước, biết bao thăng trầm, biến cố đã hằn trên vai dân tộc Việt Nam để rồi kết tinh thành những giá trị không bao giờ tan biến. Các dân tộc sinh sống trên dải đất hình chữ S đã đoàn kết, kề vai, sát cánh, nắm chặt bàn tay vượt qua tất cả những khó khăn, thủ thách, chiến thắng tất cả các kẻ thù xâm lược, 54 dân tộc đã cố kết thành một sức mạnh của một dân tộc vô địch để hướng tới một giấc mơ giàu có và hùng mạnh. Việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là một trong những yếu tố hết sức quan trọng tạo nên sức mạnh của đất nước, các cộng đồng dân tộc là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam hiện nay là kết quả của một quá trình hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, có nhiều đặc điểm riêng so với các dân tộc khác trên thế giới. Các dân tộc ở Việt Nam có tỷ lệ số dân không đều nhau, song các dân tộc luôn coi nhau như anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, không có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hóa, thôn tính các dân tộc thiểu số, không có tình trạng các dân tộc thiểu số chống lại dân tộc đa số. Đảng và nhà nước luôn đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc và là chủ trương nhất quán, xuyên suốt, trong đó có việc thực hiện tốt vấn đề bình đẳng giữa các dân tộc là một vấn đề hết sức quan trọng; đồng thời là một trong những nhân tố rất quan trọng bảo đảm cho xã hội Việt Nam luôn ổn định và phát triển. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam đã được thể hiện trong cuộc sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện và thực hiện tốt hơn chính sách bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
NỘI DUNG 4
1 Một số vấn đề trong việc thực hiện chính sách bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta hiện nay 4
1.1 Bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam - Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước 4 1.2 Quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số trên mọi phương diện luôn được khẳng định trong Hiến pháp qua các thời kỳ 5 1.3 Dành nhiều ưu tiên hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế
- xã hội 7 1.4 Bảo đảm quyền và hỗ trợ đồng bào thiểu số gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 8
2 Một số vấn đề thực tiễn đặt ra trong thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc hiện nay 9
3 Giải pháp tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam hiện nay 12 KẾT LUẬN 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước, biết bao thăng trầm, biến cố đã hằn trên vai dân tộc Việt Nam để rồi kết tinh thành những giá trị không bao giờ tan biến Các dân tộc sinh sống trên dải đất hình chữ S đã đoàn kết, kề vai, sát cánh, nắm chặt bàn tay vượt qua tất cả những khó khăn, thủ thách, chiến thắng tất cả các kẻ thù xâm lược, 54 dân tộc đã cố kết thành một sức mạnh của một dân tộc vô địch để hướng tới một giấc mơ giàu có và hùng mạnh
Việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là một trong những yếu tố hết sức quan trọng tạo nên sức mạnh của đất nước, các cộng đồng dân tộc là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam Cộng đồng các dân tộc Việt Nam hiện nay là kết quả của một quá trình hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, có nhiều đặc điểm riêng so với các dân tộc khác trên thế giới Các dân tộc ở Việt Nam có tỷ lệ số dân không đều nhau, song các dân tộc luôn coi nhau như anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, không có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hóa, thôn tính các dân tộc thiểu số, không có tình trạng các dân tộc thiểu số chống lại dân tộc đa số
Đảng và nhà nước luôn đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc và là chủ trương nhất quán, xuyên suốt, trong đó có việc thực hiện tốt vấn đề bình đẳng giữa các dân tộc là một vấn đề hết sức quan trọng; đồng thời là một trong những nhân tố rất quan trọng bảo đảm cho xã hội Việt Nam luôn ổn định và phát triển Quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam đã được thể hiện trong cuộc sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện và thực hiện tốt hơn chính sách bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam
Trang 3NỘI DUNG
1 Một số vấn đề trong việc thực hiện chính sách bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta hiện nay
1.1 Bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam - Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong hơn 88 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc, nhất là vấn
đề bình đẳng dân tộc, đoàn kết dân tộc trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của mình Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng đã chỉ
rõ, các dân tộc sống trên đất Việt Nam đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc Tháng
8-1952, Bộ Chính trị có Nghị quyết về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng hiện nay” Sau đó, ngày 22-6-1953, Chính phủ ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam, trong đó khẳng định đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ để kháng chiến, kiến quốc, giúp nhau tiến bộ
về mọi mặt
Bác Hồ của chúng ta đã từng nói: “Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”, những thành quả cách mạng là do công sức của cộng
đồng các dân tộc tạo nên, không một tộc người nào dám nhận đó là thành quả của riêng mình và không thể coi mình là tộc người thượng đẳng hơn các dân tộc khác trên đất nước Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XII của Đảng nêu rõ: “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình
Trang 4đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung”
1.2 Quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số trên mọi phương diện luôn được khẳng định trong Hiến pháp qua các thời kỳ
Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc gồm 54 dân tộc cùng chung sống, trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số với 85,7% dân số, còn lại là đồng bào các dân tộc thiểu số với trên 12,253 triệu người, chiếm tỷ lệ 14,3% Hiến pháp nước ta qua các thời kỳ đều luôn khẳng định chính sách đoàn kết dân tộc Hiến pháp năm 2013, bản hiến pháp đã nâng tầm chế định về quyền con người, quyền công dân, khi đề cập đến quyền bình đẳng giữa các dân tộc,
đã khẳng định: “Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc
Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5) “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Điều 16)
Nguyên tắc trên của Hiến pháp đã được thể hiện xuyên suốt trong toàn
bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, được thể chế và cụ thể hóa trong các văn bản luật: Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Quốc tịch, Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng
Trang 5Hình sự; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật Lao động; Luật Giáo dục; Luật Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác Bên cạnh đó, các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc còn được thể chế hóa bằng chế định
về Hội đồng Dân tộc, với nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số Trong Chính phủ có một cơ quan cấp bộ là Uỷ ban Dân tộc, chuyên trách công tác dân tộc
Với quan điểm mọi công dân đều được bảo đảm quyền tham gia hệ thống chính trị, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, những năm gần đây tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia vào bộ máy chính trị ngày càng tăng Nhiệm kỳ Quốc hội Khóa X có
66 đại biểu dân tộc thiểu số đại diện cho 27 thành phần dân tộc thiểu số, chiếm 16,7% tổng số ĐBQH Nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XI có 86 đại biểu dân tộc thiểu số, đại diện cho 31 thành phần dân tộc thiểu số, chiếm 17,27% tổng
số ĐBQH Nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XII có 86 đại biểu dân tộc thiểu số, đại diện cho 30 thành phần dân tộc thiểu số, chiếm 17,27% tổng số ĐBQH Nhiệm kỳ QH Khóa XIII có 78 đại biểu, đại diện cho 29 thành phần dân tộc thiểu số, chiếm 15,6% tổng số ĐBQH
Không chỉ ở Quốc hội, tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia đại biểu HĐND các cấp đều tăng qua các nhiệm kỳ bầu cử Nhiệm kỳ 2004 – 2009, tỷ
lệ đại biểu dân tộc thiểu số trong HĐND cấp tỉnh là 18,2%, cấp huyện 18,9%, cấp xã 23,3% Đại biểu đại diện cho đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia hoạt động trong hệ thống chính trị ngày càng đông, nhiều người đã và đang giữ các chức vụ quan trọng trong Đảng, QH, Chính phủ như: Tổng bí thư,
Trang 6Chủ tịch QH, Phó chủ tịch QH, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Trưởng ban Dân vận Trung ương
1.3 Dành nhiều ưu tiên hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội
Với đặc điểm cư trú phân tán, xen kẽ, tập trung chủ yếu ở các vùng núi, đặc biệt là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, trình độ phát triển còn thấp so với mặt bằng chung cả nước Để hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện quyền bình đẳng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, những năm qua, Nhà nước đã dành nhiều ưu tiên trong triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhiều chương trình đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực như: Chương trình hành động 122 của Chính phủ về Công tác Dân tộc; Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Giảm nghèo bền vững; Chương trình 135 (giai đoạn 2) về Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa; các chính sách và chương trình ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết đất sản xuất và đất ở (Quyết định 132); hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống cho đồng bào nghèo thuộc dân tộc thiểu số (Quyết định 134); ưu đãi thuế nông nghiệp và thuế lưu thông hàng hoá, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, trợ giá các mặt hàng thiết yếu cho đồng bào dân tộc như muối ăn, thuốc chữa bệnh, phân bón, giấy viết, chính sách phát triển rừng, bảo vệ môi trường sống miền núi (Chương trình 327); chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số…
Nhờ những chính sách và chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, tình hình kinh tế, xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Trang 7được cải thiện rõ rệt Từ năm 2007 đến nay đã có 118.530 hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn được vay vốn, 33.969 hộ được hỗ trợ phát triển sản xuất, 80.218 hộ được hỗ trợ mở rộng quy mô chăn nuôi, 4.343 hộ được hỗ trợ mở rộng sang ngành nghề dịch vụ Tổng số hộ nghèo người dân tộc thiểu
số là 1.422.261 hộ, chiếm 5,97% tổng số hộ người dân tộc thiểu số trong cả nước
Chất lượng cuộc sống của người dân tộc thiểu số cũng từng bước được cải thiện Cơ sở hạn tầng đảm bảo cho việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của đồng bào được đầu tư xây dựng Đến nay, 100% xã có trạm y tế và cán bộ y
tế, 100% số huyện có trung tâm y tế và bác sỹ; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 25% Một số dịch bệnh trước đây phổ biến ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi như sốt rét, bướu cổ, phong, lao được ngăn chặn và đẩy lùi
1.4 Bảo đảm quyền và hỗ trợ đồng bào thiểu số gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc là chủ trương nhất quán của Nhà nước Việt Nam, coi đó là cội nguồn sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và phát triển bền vững đất nước Trên thực tế, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc trong những năm qua được cải thiện rõ rệt, mức thụ hưởng văn hóa được nâng cao Nhiều nét văn hóa các dân tộc thiểu số được bảo tồn, phát triển, được công nhận là di sản văn hóa thế giới như: “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”, “Thánh địa Mỹ Sơn”, “Cao nguyên đá Đồng Văn” Đến nay, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình Các chương trình phát thanh, truyền hình bằng cả
Trang 8tiếng Việt và 26 thứ tiếng Dân tộc được phát sóng mở rộng tới các bản làng
xa xôi
Bên cạnh đó, công tác giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí ở vùng có đông người dân tộc thiểu số sinh sống cũng được quan tâm đẩy mạnh và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Hệ thống các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề; các loại hình trường nội trú, bán trú, dự bị đại học dân tộc tại vùng có đông dân tộc thiểu số đều đều được đầu tư xây dựng Từ năm 2012, 100% xã đã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở, 95% trẻ em dân tộc thiểu số được đến trường
2 Một số vấn đề thực tiễn đặt ra trong thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc hiện nay
Bên cạnh một số thành tựu đạt được, còn nhiều yếu kém cũng như thách thức đặt ra cho công tác dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, hệ thống chính sách vùng dân tộc và miền núi so với giai
đoạn trước có nhiều ưu điểm, nhưng còn bộc lộ không ít hạn chế, như chưa bảo đảm gắn kết thống nhất giữa chính sách phát triển dân tộc - tộc người với chính sách phát triển vùng; thời gian thực hiện chính sách ngắn, thiếu tính chiến lược; trình tự thủ tục xây dựng và trình một số đề án mất nhiều thời gian; hầu hết các chính sách đều mang tính chất hỗ trợ; chính sách đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu cơ bản, do vậy hiệu quả chưa thực sự bền vững; nhiều chính sách phải kéo dài thời gian thực hiện dẫn đến định mức không còn phù hợp với thực tế; có chính sách do huy động nhiều nguồn vốn, khi cấp vốn không đồng bộ dẫn đến khó khăn trong triển khai thực hiện; việc bố trí vốn đối ứng của các địa phương gặp khó khăn do đa số các địa phương vùng dân tộc và miền núi đều phải nhận trợ cấp từ ngân sách trung ương
Trang 9Việc xây dựng một số chính sách thiếu thực tế, chưa phù hợp với địa bàn vùng dân tộc và miền núi Tổ chức thực hiện chính sách còn nhiều yếu kém, phân công chủ trì chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa hợp lý; việc phối hợp giữa các bộ, ngành có lĩnh vực chưa chặt chẽ, chỉ đạo có mặt còn chồng chéo Việc lồng ghép các chính sách trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi còn nhiều khó khăn, bất cập Công tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách còn hạn chế Chỉ đạo, thực hiện chính sách ở một số địa phương còn lúng túng Công tác lập kế hoạch, rà soát đối tượng thụ hưởng trong việc thực hiện một số chính sách chưa sát với thực tế,
Thứ hai, ở vùng dân tộc và miền núi, kinh tế chậm phát triển so với
tiềm năng của vùng và phát triển chưa vững chắc Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch chậm Mức độ thương phẩm hóa của nông sản còn thấp; sản phẩm sản xuất ra chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế thấp Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiếu và yếu kém: Hiện còn 535/1.848 xã có đường đến trung tâm xã chỉ đi được trong mùa khô; 14.093 thôn, bản chưa có đường ô-tô; 204/1.848 xã chưa có điện lưới quốc gia đến trung tâm xã và trên 8.100 thôn, bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia; 304 xã đặc biệt khó khăn chưa đủ lớp học kiên cố; 15.930 thôn, bản chưa có nhà trẻ, mẫu giáo; 758 xã chưa có nhà văn hóa;
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều vùng dân tộc và miền núi cao nhất cả nước; tình trạng tái nghèo phổ biến ở nhiều nơi Năm 2016, tỷ lệ
hộ nghèo khu vực miền núi Tây Bắc là 34,52%, miền núi Đông Bắc: 20,74%; Tây Nguyên: 17,14%; các tỉnh Bắc Trung Bộ: 12,5% Kết quả giảm nghèo thiếu tính bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi thấp: 21% số người trong độ tuổi đi học không biết đọc, biết viết chữ phổ thông; số người trong độ tuổi lao động chưa qua đào tạo chiếm 89,5%, riêng số người trong độ tuổi lao động là người
Trang 10dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo chiếm 94,2% (tỷ lệ này ở đồng bào dân tộc Mông là 98,7%; Khmer: 97,7%; Thái: 94,6%; Mường: 93,3%); chất lượng đào tạo nghề thấp
Đội ngũ cán bộ y tế vùng dân tộc và miền núi vừa thiếu, vừa yếu về chuyên môn nghiệp vụ, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số Trang thiết bị y
tế thiếu và lạc hậu, phần lớn người nghèo vùng dân tộc và miền núi không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng tốt
Thứ ba, Hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu, đặc biệt đội ngũ
cán bộ có năng lực, trình độ còn hạn chế, nhất là thiếu đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số hoặc có cán bộ dân tộc nhưng chưa được đào tạo Tỷ lệ cán
bộ là người dân tộc thiểu số trong chính quyền cấp huyện và tỉnh tại các địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp (khoảng 10,9% và 11,32%) Trong tổng số 48.200 cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã, số người có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm 45%, tiểu học: 18,7%, chỉ có 1,9% có trình độ cao đẳng và đại học
Công tác dân tộc đang có những thách thức chủ yếu là: Khoảng cách giàu - nghèo, chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền, giữa các nhóm dân tộc ngày càng lớn; tỷ lệ nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi cao hơn 2,5 lần
so với tỷ lệ bình quân chung của cả nước Đặc biệt, là những khó khăn, thiếu thốn ở các “vùng lõi” của đói nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc và miền núi từ các tỉnh phía Bắc đến các tỉnh phía Nam
Thứ tư, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu chống phá cách
Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn, hình thức, biện pháp mới Để thực hiện mục tiêu chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong Đảng ta Các thế lực thù địch đã, đang và sẽ đẩy