1 HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ án dân sự Mã hồ sơ LS DS09/DIỄN ÁN Vụ án Tranh chấp về xử lý kỷ l[.]
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ án dân sự
Vụ án : Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa
thải
Họ và tên : LÊ HUỲNH NGỌC TRÂN Ngày sinh: 25/11/1999
Lớp : Luật sư 24.1I
Số báo danh : 859
TP HCM, ngày 01 tháng 12 năm 2022
Trang 2ÌI — r f
MỤC LỤC
PHẦN NỘI DUNG 3
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 3
II THỦ TỤC TỐ TỤNG 4
III PHẦN TRÌNH BÀY YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN 6
IV KẾ HOẠCH HỎI DỰ KIẾN CỦA LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN 7
V BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN 8 NHẬN XÉT DIỄN ÁN………
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngày 17/7/2006, bà Trần Thị Thu bắt đầu làm việc tại Công ty TNHH YD Việt Nam.
Ngày 17/10/2008, hai bên ký Hợp đồng lao động không xác định thời hạn số YC-
S008/PLHĐ-2008, chức danh của bà Thu là Kế toán trưởng Theo phụ lục Hợp đồng lao động ký ngày 01/01/2015, hai bên thống nhất rằng mức lương cơ bản của bà Thu trước thời điểm xảy ra tranh chấp là 20.393.000 VNĐ/tháng
Ngày 09/12/2015, sau thời gian nghỉ thai sản (từ tháng 06/2015 đến tháng 11/2015), bà Thu quay trở lại Công ty làm việc thì nhận được Thông báo số 05-2015/TB của Công ty YD ngày 05/12/2015 yêu cầu bà ngày 15/12/2015 đến Công ty để làm rõ sai phạm kế toán Bà Thu
đã chấp hành đúng theo yêu cầu của Thông báo số 05 Sau cuộc họp, Ban lãnh đạo Công ty YD yêu cầu bà Thu ra về và không bố trí công việc cho bà Thu
Ngày 25/12/2015, tại Biên bản họp Hội đồng kỷ luật, Công ty YD cho rằng bà Thu có hành động gây ảnh hưởng đến hình ảnh công ty, trước khi nghỉ sinh có thường xuyên đi trễ về sớm và tỏ thái độ không hợp tác sau cuộc họp ngày 15/12/2015 Trong nội dung cuộc họp, Công ty YD thông báo sẽ có quyết định thuyên chuyển công việc của bà Thu; mức lương tháng đầu tiên sẽ giữ nguyên và mức lương từ tháng thứ hai trở đi sẽ bằng 85% của lương cơ bản ban đầu Sau cuộc họp, Công ty có yêu cầu bà Thu nộp lại bộ hồ sơ cá nhân của bà Thu và viết bản kiểm điểm ký nộp lại cho Công ty YD trong ngày nhưng bà Thu từ chối ký trong ngày và muốn về nhà xem xét lại
Ngày 05/01/2016 thì bà Thu nhận được Quyết định số S008-14/QĐ ngày 30/12/2015 của Công ty YD về việc chuyển vị trí làm việc của bà Thu từ Kế toán tại văn phòng sang Kế toán phụ trách quản lý kho rác từ ngày 01/01/2016 Sau đó, vì không đồng ý việc điều chuyển của công ty, bà Thu đã nhiều lần gửi công văn đề nghị Công ty YD giải quyết quyền lợi cho mình nhưng không nhận được hồi âm
Ngày 20/3/2016, Công ty YD có ra Biên bản xử lý kỷ luật bà Thu với hình thức kỷ luật là
sa thải vì bà Thu đã không đồng ý với quyết định thuyên chuyển công việc có hiệu lực từ ngày 05/01/2016 và tự ý bỏ về Biên bản này không có chữ ký của bà Thu và bà Thu nhận được Biên bản vào ngày 14/5/2016
Ngày 06/7/2016, bà Thu nộp đơn khởi kiện Công ty YD tại Tòa án nhân dân huyện AD,
TP Hải Phòng Cùng với Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 11/5/2017 và các Biên bản hoà giải, bà Thu yêu cầu Công ty YD:
1) Buộc Công ty YD bồi thường thiệt hại do hành vi sa thải trái pháp luật, cụ thể:
- Thanh toán tiền lương kể từ ngày 09/12/2015 cho đến ngày tạm tính là 09/5/2017 (17 tháng) : 20.393.000 x 17 = 346.681.000 VNĐ
- Bồi thường 02 tháng tiền lương theo khoản 1 và khoản 3 Điều 42 Bộ luật lao động: (20.393.000 x 2) x 2 = 81.572.000 VNĐ
Trang 4- Trợ cấp thôi việc tính từ lúc bà Thu bắt đầu làm việc tại Công ty YD (17/7/2006) cho đến ngày 31/12/2008, thời gian hưởng trợ cấp là 2,5 năm: 20.393.000 x ½ x 2.5 = 25.491.250 VNĐ
Tổng số tiền được yêu cầu bồi thường là: 346.681.000 + 81.572.000 + 25.491.250 = 453.744.250 VNĐ
2) Chốt sổ bảo hiểm cho bà Trần Thị Thu kể từ ngày 09/12/2015 đến khi có phán quyết của Tòa án.
Ngày 14/8/2016, công ty YD lập biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động vắng mặt đối với bà Trần Thị Thu
Ngày 15/8/2016, căn cứ vào biên bản trên, công ty YD ra Quyết định xử lý kỷ luật sa thải
số 02-QĐ/HĐKL đối với bà Thu, với lý do bà Thu đã vi phạm nội quy công ty: Không đến công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động, mặc dù công ty đã có thông báo (03 lần) gửi đến địa chỉ thường trú của bà
Ngày 14/10/2016, Toà án nhân dân huyện AD ra Thông báo thụ lý vụ án số Số: 04/TB – TLVA về việc bồi thường thiệt hại do ban hành quyết định sa thải trái pháp luật Qua các lần hòa giải ngày 13/11/2016, ngày 27/4/2017 và ngày 02/8/2017, các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án Ngày 22/8/2017, Toà án nhân dân huyện AD, TP Hải Phòng
ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2017/QĐST-LĐ
a Về tư cách tố tụng:
a) Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 6xx, phố Đ,
phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, TP Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thu Hà – Luật sư Công ty Luật K; địa chỉ:
Số 7xx, Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, TP Hà Nội
b) Bị đơn: Công ty TNHH YD Việt Nam (Công ty YD); địa chỉ: Lô 12xx
khu công nghiệp NM – Hải Phòng, TP Hải Phòng
Người đại diện theo pháp luật: Ông Shuhei Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Huyền – Chức vụ: Nhân viên pháp lý của
Công ty TNHH YD Việt Nam
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Văn Hùng – Luật sư Công ty
luật TNHH H
2 Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Quan hệ tranh chấp phát sinh giữa bà Trần Thị Thu và Công ty TNHH YD Việt Nam là tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 123 Bộ luật Lao động thì tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình
Trang 5thức sa thải”.
3 Về thủ tục tiền tố tụng:
Căn cứ theo quy định của Điều 201 Bộ luật lao động thì tranh chấp lao động giữa bà Thu
và Công ty YD thuộc trường hợp tranh chấp lao động cá nhân nên bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải do Hòa giải viên lao động tiến hành Theo quy định tại Điều 202 Bộ luật lao động thì
thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân: “1 Thời hiêu yêu cầu Hòa giải viên
lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm” Tuy
nhiên theo Công văn số 39/LĐTBXH thì huyện AD hiện chưa có Hòa giải viên lao động nên việc hòa giải không thể thực hiện được Tuy nhiên, bà Thu và Công ty đã nhiều lần tham gia hòa giải với nhau và có sự có mặt của đại diện Công đoàn Ngoài ra, ngày 14/5/2016 Ban Quản
lý Khu kinh tế cũng đã tổ chức buổi làm việc để làm rõ một số vướng mắc của bà Thu với Công ty YD và cũng có mặt Công đoàn Khu kinh tế Do tất cả các buổi hòa giải đều không thành nên bà Thu được quyền khởi kiện ra Tòa án giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự
4 Về thời hiệu khởi kiện:
Về thời hiệu khởi kiện, theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Bộ luật Lao động 2012 quy định: Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm Bà Thu xác định quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm vào tháng 12/2015 và nộp đơn khởi kiện ngày 07/7/2016, nên thời hiệu khởi kiện của bà đối với Công ty YD là vẫn còn
5 Về thẩm quyền của Tòa án:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động là Toà án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu Bị đơn là cá nhân hoặc nơi Bị đơn có trụ sở nếu Bị đơn
là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Trong trường hợp này, Bị đơn có địa chỉ Lô 12xx, Khu công nghiệp NM, huyện AD, thành phố Hải Phòng nên vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng
III CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT SẼ ĐƯỢC ÁP DỤNG ĐỂ GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN
- Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc
Hội (“BLTTDS 2015”);
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Quốc Hội
(“BLDS 2015”);
- Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2012 của Quốc Hội
(“BLLĐ 2012”); và
Trang 6- Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính Phủ quy định
chi tiết hướng dẫn thi hành nội dung của Bộ luật Lao động (“NĐ 05/2015”).
- Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013 của Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội ngày 18 tháng 10 năm 2013 ban hành danh mục công việc không được sử dụng lao động nữ
IV PHẦN TRÌNH BÀY YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN
Yêu cầu của Nguyên đơn:
1 Buộc Công ty YD bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị Thu do hành vi sa
thải trái pháp luật, cụ thể:
- Thanh toán tiền lương kể từ ngày 09/12/2015 cho đến ngày tạm tính là 09/5/2017 (17 tháng) : 20.393.000 x 17 = 346.681.000 VNĐ;
- Bồi thường 02 tháng tiền lương theo khoản 1 và khoản 3 Điều 42 Bộ luật lao động: (20.393.000 x 2) x 2 = 81.572.000 VNĐ;
- Trợ cấp thôi việc tính từ lúc bà Thu bắt đầu làm việc tại Công ty YD (17/7/2006) cho đến ngày 31/12/2008, thời gian hưởng trợ cấp là 2,5 năm: 20.393.000 x ½ x 2.5 = 25.491.250 VNĐ;
Tổng số tiền được yêu cầu bồi thường là: 346.681.000 + 81.572.000 + 25.491.250 = 453.744.250 VNĐ
2 Chốt sổ bảo hiểm cho bà Trần Thị Thu kể từ ngày 09/12/2015 đến khi có
phán quyết của Tòa án.
- Các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện:
- Hợp đồng lao động ký ngày 17/10/2008;
- Thông báo ngày 5/12/2015, ngày 20/12/2015 của Công ty YD;
- Công văn đề nghị giải quyết quyền lợi của Công ty Luật K ngày 9/1/2016, ngày
28/1/2016, ngày 3/3/2016 và ngày 29/5/2016;
- Biên bản cuộc họp kỷ luật ngày 25/12/2016 và ngày 20/3/2016; Quyết định số
008/14QĐ ngày 30/12/2015 của Công ty YD;
- Công văn đề nghị phối hợp hoà giải tranh chấp lao động cá nhân của Ban quản lý khu kinh tế Hải phòng ngày 01/4/2016;
- Biên bản làm việc tại Công đoàn khu Kinh tế Hải phòng ngày 14/5/2016;
- Đơn đề nghị hòa giải tranh chấp lao động cá nhân số 12/2016/CV-K ngày 12/03/2016;
số 20/2016 ngày 27/3/2016 của Công ty Luật K;
- Công văn số 39/LĐTBXH ngày 25/03/2016 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện AD, TP Hải Phòng;
- Quyết định xử lý kỷ luật sa thải số 02-QĐ/HĐKL ngày 15/8/2016;
Trang 7- Biên bản hoà giải ngày 27/4/2017 và 02/8/2017.
V KẾ HOẠCH HỎI DỰ KIẾN CỦA LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
1 Hỏi Bị đơn – Công Ty TNHH YD Việt Nam
- Đại diện bị đơn cho biết hợp đồng ký giữa công ty và bà Thu là ngày nào? Loại hợp đồng lao động đã ký kết, công việc, mức lương, chức vụ là gì?
- Trong thời gian làm việc tại công ty bà Thu có vi phạm nội quy không? Có bị xử lý kỷ luật lao động không?
- Vậy sau khi nghỉ thai sản (9/12/2015), bà Thu đảm nhận công việc gì?
- Vì sao không bố trí cho bà Thu trở lại làm kế toán trưởng?
- Trong thời gian làm kế toán trưởng, bà Thu có những sai phạm gì, cụ thể?
- Công ty có gửi biên bản xử lý kỷ luật ngày 20/3/2016 cho bà Thu không?
- Công ty có gửi thư mời bà Thu quay trở lại làm việc không? Gửi mấy lần? Gửi địa chỉ nào? Ai là người ký nhận bưu phẩm?
- Việc thuyên chuyển có được thỏa thuận trước với bà Thu không?
- Phía công ty có nhận được công văn được gửi từ đại diện theo ủy quyền của bà Thu không?
- Công ty có văn bản trả lời không? Tại sao?
- Nội dung cuộc họp ngày 20/3/2016 là gì? Bà Thu có mặt hay không?
- Tại sao công ty không ra quyết định sa thải bà Thu dựa trên biên bản này 20/3/2018?
- Công ty đã chốt sổ bảo hiểm của bà Thu chưa? Chốt từ thời điểm nào?
2 Hỏi Nguyên đơn
- Bà Thu ký hợp đồng lao động với công ty YD vào thời gian nào? Loại hợp đồng?
- Bà Thu nghỉ thai sản từ thời gian nào?
- Trước khi nghỉ thai sản, bà giữ vị trí nào trong công ty? Mức lương?
- Bà trở lại công ty làm việc vào ngày nào?
- Ngày đầu trở lại, bà đã nhận được thông báo gì của công ty? Nội dung?
- Nội dung cuộc họp ngày 25/12/2015 là gì? Bà có biết mình sai phạm gì không?
- Bà nhận được thông báo mời quay lại công ty làm việc vào ngày nào?
- Công ty đã ra quyết định điều chuyển bà sang công việc nào?
- Bà có đồng ý sự thuyên chuyển này không? Khi có bà có ý kiến hay trao đổi với công ty
về việc này không?
- Bà có nhận được quyết định thay đổi sang vị trí kế toán thống kê không? Vào thời gian nào?
Trang 8- Tại sao khi nhận được quyết định phân công mới bà không đến công ty làm việc?
- Bà có tham dự xử lý kỷ luật 20/3/2016 không? Tại sao?
- Công ty có cho Bà có biết trong thời gian làm kế toán trưởng bà đã sai phạm gì không?
- Bà đã không đến công ty làm việc kể từ ngày 5/1/2016 có đúng không?
- Sau đó, bà đã khiếu nại đến cơ quan nào về quyết định của công ty? Kết quả giải quyết khiếu nại?
- Bà có nhận được thông báo mời quay lại làm việc của công ty vào các ngày
10,13,17/3/2016 hay không?
- Bà có nhận được quyết định xử lý kỷ luật của biên bản xử lý kỷ luật ngày 20/3/2016 không?
- Khi nào bà nhận được biên bản xử lý kỷ luật với hình thức sa thải ngày 20/3/2016?
3 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Đại diện công đoàn – bà Phạm Thị Hằng
- Theo bà thì bà Thu có vi phạm những quy định nào của Nội quy Công ty và BLLĐ?
- Bà đã làm gì để bảo vệ quyền lợi ích của người lao động theo đúng vai trò của tổ chức Công đoàn?
VI BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hải Phòng, ngày 02 tháng 12 năm 2022
- Hội đồng xét xử
- Vị đại diện Viện kiểm sát
- Vị các Luật sư đồng nghiệp.
Tôi là Luật sư Lê Huỳnh Ngọc Trân, thuộc Văn phòng Luật sư Ls24.1I – Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Tôi có mặt trong phiên tòa ngày hôm nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn – bà Trần Thị Thu trong vụ án lao động số 04/TB – TLVA do Toà
án nhân dân huyện AD thụ lý ngày 14/10/2016 về việc: “Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải”
Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ tài liệu, chứng cứ cũng như thông qua kết quả phần hỏi công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung vụ án, mà sẽ đi thẳng vào phần trình bày quan điểm bảo vệ cho Nguyên đơn như sau:
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Công ty YD đã ban hành quyết định kỷ luật lao động theo hình thức sa thải đối với bà
Kính thưa:
Trang 9Thu là trái với quy định của pháp luật Do đó, toàn bộ các yêu cầu của bà Thu về việc bồi thường thiệt hại đối với Công ty YD là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận, bởi những lý do sau:
Thứ nhất, Công ty YD hoàn toàn không có căn cứ để cáo buộc Nguyên đơn về những sai phạm trong quá trình làm việc của Nguyên đơn.
- Đối với các cáo buộc sai phạm thời gian làm việc, đi trễ về sớm của bà Thu, Công ty
YD chỉ tự mình nhận thấy như vậy để rồi áp đặt, quy chụp cho bà Thu mà không đưa ra chứng cứ gì xác đáng và hợp pháp để chứng minh cho việc này Thậm chí cũng không có một ai chứng kiến những sai phạm đứng ra làm chứng Thêm vào
đó, đáng lẽ tại thời điểm bà Thu vi phạm, công ty phải lập thành biên bản ghi nhận hành vi vi phạm, hoặc nhắc nhở ngay tại chỗ để người lao động nhận thức được và rút kinh nghiệm Tại sao Công ty YD phải đợi đến sau khi bà Thu nghỉ thai sản xong rồi mới nhắc đến vấn đề này? Phải chăng công ty có ý muốn bà Thu nghỉ việc nên mới phải tìm mọi lý do để sa thải bà Thu một cách hợp pháp hay không?
- Đối với việc không hợp tác nộp lại hồ sơ cá nhân: Đây không phải là nghĩa vụ của bà Thu, mà ngược lại còn là lỗi của công ty trong việc lưu trữ, làm thất lạc giấy tờ, hồ sơ của người lao động Vì vậy, không có lý do gì để buộc bà Thu phải mang theo hồ sơ cá nhân của mình tới cuộc họp
- Đối với các sai phạm trong việc sử dụng phần mềm: Thực tế, có đến 02 người quản lý nhưng đều không bàn giao lại cho công ty, trước khi bà Thu nghỉ thai sản, chính Công
ty YD cũng không yêu cầu bà Thu bàn giao Riêng đối với vần đề sử dụng phần mềm TeamView, nội quy Công ty cũng như Hợp đồng lao động không có bất kỳ quy định nào về việc cấm sự dụng phần mềm này nên việc lấy lý do này để yêu cầu bà Thu lập Biên bản kiểm điểm là không thích đáng
Thứ hai, việc xử lý kỷ luật đối với bà Thu của Công ty YD là hoàn toàn trái với quy định của Bộ luật Lao động về trình tự, thủ tục cũng như về nội dung xử lý kỷ luật.
- Về hình thức, trình tự thủ tục xử lý kỷ luật:
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 123 BLLĐ thì việc xử lý kỷ luật phải được diễn ra khi có sự có mặt của người lao động và người lao động có quyền tự bào chữa Tuy nhiên, trong Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật ngày 20/3/2016 lại ghi nhận sự vắng mặt của bà Thu nhưng vẫn được tiến hành và vẫn được áp dụng đối với bà Thu Như vậy, việc tiến hành cuộc họp với sự vắng mặt của bà Thu là vi phạm pháp luật và các quyết định được đưa ra trong Biên bản họp là không có giá trị
Mặt khác, tại điểm d khoản 4 Điều 123 BLLĐ và điểm d khoản 3 Điều 29 Nội quy lao động của Công ty YD đều quy định rằng không được xử lý kỷ luật lao động đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi Tuy nhiên, Công ty YD lại liên tục thông báo mời họp và xử lý kỷ luật bà Thu, từ hình thức điều chuyển vị trí công việc cho đến nặng hơn cả là hình thức sa thải Hành động này của Bị đơn xâm phạm đến quyền lợi được pháp luật bảo vệ của Nguyên đơn và vi
Trang 10phạm vô cùng nghiêm trọng pháp luật về lao động.
- Về nội dung xử lý kỷ luật:
Bà Thu từ chức vụ Kế toán tại văn phòng bị chuyển sang làm Kế toán phụ trách quản lý kho rác, một công đòi hỏi có sức khỏe và chuyên môn mà bà Thu khó có thể đáp ứng và không theo mô tả công việc như thoả thuận tại Hợp đồng Bởi vì, Kế toán quản lý kho rác phải thực hiện việc kiểm đếm số lượng rác, sắp xếp, vệ sinh kho rác, đây là những công việc hoàn toàn khác với công việc mà bà Thu đã ký kết với Công ty YD Hơn nữa, bà Thu phải làm việc trong môi trường rác thải độc hại có thể gây hại cho sức khỏe của người lao động nữ và người lao động đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi Theo quy định tại khoản 1 Điều 160 BLLĐ và Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì đây là công việc có ảnh
hưởng xấu tới chức năng nuôi con của lao động nữ và có thể thuộc công việc cấm sử dụng lao động nữ
Hơn nữa, bà Thu còn bị công ty YD đơn phương giảm mức lương cơ bản chỉ còn bằng
85% mức lương theo công việc trước đó của bà Thu Theo Điều 158, BLLĐ thì : “Trường hợp
việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản”.
Đối với Quyết định sa thải, bà Thu vẫn chưa ký xác nhận chấp thuận đối với quyết định đổi công việc của bà Thu nên trên thực tế bà Thu vẫn đang làm việc cho Công ty YD với chức danh Kế toán văn phòng theo Hợp đồng Lao động số YC-S008/PLHĐ- 2008 Tuy nhiên, chính Công ty YD lại không bố trí cho bà Thu làm công việc của mình nên bà Thu không thể đến công ty làm việc Như vậy, việc bà Thu không đi làm là vì lý do bất khả kháng do mâu thuẫn
về vị trí công việc của bà Thu và bà Thu không được Công ty YD bố trí làm việc
Do bà Thu không thuộc trường hợp theo quy định tại khoản 7 Điều 27 Nội quy lao động
và khoản 3 Điều 126 BLLĐ nên việc áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải là không có căn cứ
Những lập luận trên cho thấy Nguyên đơn đã bị vi phạm quyền lợi một cách liên tục và bị
xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải trái pháp luật Từ đó cho thấy, theo như quy định tại Điều
132 và Điều 42 BLLĐ, các yêu cầu về bồi thường của Nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp theo như các quy định của pháp luật về lao động hiện hành Các vi phạm của Bị đơn đã gây ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của Nguyên đơn – người hiện nay vừa quay lại làm việc sau nghỉ thai sản và đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nên Nguyên đơn không còn muốn quay lại làm việc tại Công ty YD mà chỉ muốn nhận lại được các quyền lợi của mình, mong Quý Tòa có thể xem xét và đưa ra quyết định công bằng nhất
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Từ những chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lập luận và viện dẫn như trên cũng như sau khi đối chiếu với quy định của pháp luật, có thể khẳng định các yêu cầu thân chủ tôi - bà Trần Thị Thu