1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài vị trí và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam

248 746 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài vị trí và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế đầu tư nước ngoài
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 248
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những chữ viết tắt ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam á AFTA Khu vực mậu dịch tự do APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương ASEM Diễn đàn hợp tác kinh tế á - Âu BOI:

Trang 2

Thành viên tham gia đề tài:

1 PGS.TSKH Nguyễn Bích Đạt, Bộ KH&ĐT, chủ nhiệm

2 GS.TSKH Nguyễn Mại, Phó chủ nhiệm

3 GS.TS Mai Ngọc Cường, ĐH KTQD, thư ký

4 GS TS Chu Văn Cấp, HV CTQG HCM thành viên

5 TS Nguyễn Anh Tuấn, Bộ KH&ĐT, thành viên

6 TS Trần Ngọc Hưng, Bộ KH&ĐT,thành viên

7 TS Nguyễn Văn Thanh, ĐH Thương mại, thành viên

8 Ths Mai Thị Thu, Bộ KH&ĐT,thành viên

9 Ths Nguyễn Bá Cường, Bộ KH&ĐT,thành viên

10 Ths Hồ Thị Hải Yến, ĐH KTQD, thành viên

11 CN Nguyễn Nội, Bộ KH&ĐT, thành viên

12 CN Phạm Mạnh Dũng, Bộ KH&ĐT, thành viên

Hà Nội, năm 2005

Trang 3

Những chữ viết tắt

ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam á

AFTA Khu vực mậu dịch tự do

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương

ASEM Diễn đàn hợp tác kinh tế á - Âu

BOI: Uỷ ban đầu tư Thái Lan

BOT: Xây dựng- kinh doanh- chuyển giao

BTO Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CEPT Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung

CNTBNN Chủ nghĩa tư bản nhà nước

DNĐTNN Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

DNCVĐTNN Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

GATT Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ

EVN Tổng công ty điện lực Việt Nam

ĐTNN Đầu tư trực tiếp nước ngoài

HĐHTKD Hợp đồng, hợp tác kinh doanh

KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư

M&A Mua lại và sáp nhập

MOFTEC Bộ Mậu dịch đối ngoại và hợp tác kinh tế Trung quốc

NAFTA Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ

NICs Các nước công nghiệp mới

Trang 4

SCCI Uû ban nhµ nưíc vÒ hîp t¸c vµ ®Çu tư OECD Tæ chøc ph¸t triÓn hîp t¸c kinh tÕ

WTO Tæ chøc thư¬ng m¹i thÕ giíi

TP HCM Thµnh phè Hå ChÝ Minh

VNPT Tæng c«ng ty bưu chÝnh viÔn th«ng ViÖt Nam

Trang 5

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế quốc tế kinh tế quốc tế và cách mạng khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ, đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi nước, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam Quốc gia nào thu hút được nhiều và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn quốc tế thì có cơ hội tăng trưởng kinh tế nhanh, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển so với các nước công nghiệp Chính vì thế, cạnh tranh quốc tế trong những năm gần đây diễn ra mạnh mẽ; thế giới đang bị cuốn hút vào hoạt động đổi mới thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, tổ chức lại hoạt động của các doanh nghiệp nhằm thu hút được nhiều nhất nguồn vốn quốc tế cho đất nước

Từ khi thực hiện đường lối Đổi mới, luật ĐTNN và các chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật khác có liên quan đã được ban hành; nhờ đó nguồn vốn ĐTNN đã tăng lên và có tác động tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu của chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ĐTNN chiếm

tỷ trọng đáng kể trong vốn đầu tư xã hội, góp phần quan trọng gia tăng kim ngạch xuất khẩu, đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ, tham gia gần 15% GDP của nước ta hiện nay, tạo ra tác động tổng hợp trong việc tăng năng lực sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ, đào tạo vào bồi dưỡng một đội ngũ chuyên gia, các nhà quản lý và công nhân lành nghề, làm thay đổi

rõ rệt bộ mặt của nông thôn và thành thị ở nước ta, thu hẹp dần khoảng cách

về trình độ phát triển của Việt Nam so với các nước trong khu vực, nâng dần

vị thế chính trị và kinh tế của Việt Nam trên thế giới

Sau thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ hoạt động đầu tư nước ngoài từ 1991

đến 1997, là giai đoạn suy giảm rõ rệt từ 1998 đến 2003; năm 2004 có dấu hiệu phục hồi và năm 2005 ĐTNN đã đạt được những thành quả đáng khích

lệ, báo hiệu một làn sóng đầu tư quốc tế mới vào Việt Nam

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu vấn đề khu vực kinh tế có vốn

ĐTNN là có tính thời sự và có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn

Trên thế giới đã có hàng chục công trình nghiên cứu về ĐTNN dưới nhiều khía cạnh khác nhau Hàng năm UNCTAC, OECD, ASEAN đã công bố các Báo cáo tổng kết đầu tư quốc tế và khu vực

Trang 6

ở Việt Nam, từ khi thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đến nay cũng đã có một số Đề tài cấp Nhà nước như Đề tài KHXH03.05, Đề tài cấp Bộ của Bộ Kế hoạch và đầu tư, các báo cáo tổng kết ĐTNN thời kỳ 1991-

1995, thời kỳ 1996- 2000; một số luận án tiến sĩ, thạc sỹ kinh tế về ĐTNN tại Việt Nam và kinh nghiệm thu hút, sử dụng ĐTNN của các nước trong khu vực

Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện

về khu vực kinh tế có vốn ĐTNN với tư cách là một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân của nước ta

Do vậy, đề tài Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - vị trí vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trong khuôn khổ chương trình KHCN cấp Nhà nước KX.01 “Kinh

tế thị trường định hướng XHCN” nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về

đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, kiến nghị một hệ thống giải pháp trước mắt và lâu dài để thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn quốc tế trong chiến lược kinh tế

- xã hội dài hạn

2- Mục tiêu của đề tài

Làm rõ bản chất, vị trí, vai trò của khu vực kinh tế ĐTNN và mối quan

hệ của nó với các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kiến nghị những chính sách và giải pháp nhằm phát huy tác dụng của khu vực kinh tế ĐTNN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH phù hợp với yêu cầu

phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp - FDI, đầu tư gián tiếp - FPI

và một số nguồn vốn quốc tế khác

Đề tài này nghiên cứu khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; do vậy

đối tượng nghiên cứu là đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI Việc đề cập đến đầu tư gián tiếp FPI - và các nguồn vốn quốc tế khác chỉ trong trường hợp có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của Đề tài - FDI

ĐTNN bao gồm cả đầu tư của người nước ngoài vào một nước và đầu tư của người nước đó ra nước ngoài Do hoạt động đầu tư của người Việt Nam ra nước ngoài chưa nhiều, chưa đủ để nghiên cứu, khái quát hoá để tìm ra quy

Trang 7

luật vận động của nó; do vậy đề tài này chỉ nghiên cứu về ĐTNN vào Việt Nam

4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu

- Dựa vào phương pháp luận của học thuyết Mác- Lênin, vận dụng sáng tạo vào Việt Nam với tinh thần đổi mới tư duy để xây dựng các luận cứ khoa học phù hợp với điều kiện của kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế

- Kế thừa có chọn lọc và phát triển những kết quả của những công trình

đã có ở trong và ngoài nước, thu thập và xử lý những thông tin mới nhất liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Tổng kết, đánh giá thực tiễn của Việt Nam để làm rõ bản chất, vị trí, vai trò của ĐTNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, phát hiện các vấn đề và xu hướng phát triển của thành phần kinh tế này Đề tài đã phối hợp với BCN nhiệm Chương trình KX.01 và độc lập tiến hành khảo sát tại các tỉnh phía Nam và phía Bắc, ở Trung Quốc và ASEAN

- Đề tài đã tổ chức hai cuộc Hội thảo, tham gia hai cuộc Hội thảo về KCN, KCX do Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tạp chí Cộng sản, tỉnh Thanh Hoá và

Đồng Nai và các Hội thảo khoa học do Ban chủ nhiệm Chương trình KX.01 tổ chức

- Tham gia nghiên cứu đề tài có hơn 30 nhà khoa học trong nước

Trang 8

Chương I Những vấn đề chung về khu vực

kinh tế có vốn ĐTNN

1.1 Bản chất, vai trò của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng

1.1.1.1 Quan điểm của V.I Lê nin về ĐTNN

Đầu tư nước ngoài là hiện tượng kinh tế quốc tế, xuất hiện trong thời kỳ chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền Hiện tượng này bắt nguồn từ các nước có trình độ phát triển tư bản chủ nghĩa cao như Anh, Đức vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX

Vào thời kỳ này, các công ty của Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đi đầu trong hoạt động XKTB Tiếp theo là các công ty của Pháp, Đức, Mỹ cũng đã mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài để khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và nguồn lao động rẻ mạt ở các nước thuộc địa, phục vụ cho sự phát triển của các ngành công nghiệp ở chính quốc

Năm 1871, nước Anh đã xuất khẩu tư bản ra nước ngoài 800 triệu linh, đến năm 1913 con số này lên tới 3,5 tỷ Xtec-linh Việc XKTB của Đức bắt đầu từ những năm 70-80 của thế kỷ XIX và có quy mô ngày càng lớn

Xtec-Với việc mở rộng phạm vi thống trị của độc quyền ra các nước, hàng loạt các công ty độc quyền đa quốc gia, xuyên quốc gia đã tham gia vào hoạt

động XKTB thông qua khai thác các nguồn tài nguyên ở nước ngoài như dầu

mỏ ở Mêhicô (Công ty Standard Oil) của Rốc-cơ-phen-lơ năm 1870, các kim loại quý (Liên minh khai thác quặng đồng, Tập đoàn Nic-ken quốc tế) hoặc cao su ở Sumatra (Tập đoàn cao su của Mỹ) Một loạt các công ty khác mở rộng hoạt động sản xuất ở nước ngoài như tập đoàn Singer, National Cash, Register Company, International Harvester (bây giờ là Navistar) và Reminton của Mỹ Năm 1870, hãng xe hơi Daimler-Benz (Đức) được thành lập Năm

1899 hãng này đã xây dựng một xưởng lắp ráp ở Viên (áo) sau đó thành lập những chi nhánh với sự góp vốn của các bên để sản xuất xe hơi Năm 1888 một công ty của Mỹ đã xây dựng các chi nhánh lắp ráp xe hơi ở nước ngoài do mua được giấy phép sản xuất xe hơi của hãng Daimler-Benz Năm 1903, do chế độ thuế quan quá cao ở Ca-na-đa, các hãng sản xuất xe hơi của Mỹ là Ford và General Motors đã thành lập các cơ sở sản xuất, lắp ráp xe hơi ở Ca-

Trang 9

na-đa Theo sau những tập đoàn này là những công ty nổi tiếng khác như Cable Telephone, Eastman Kodak và Westing House Những công ty này chủ yếu đưa các sản phẩm của họ sang những nước lân cận như Ca-na-đa và Mê-hi-cô, sau đó sang các nước châu Âu

Trong thời kỳ giữa hai cuộc đại chiến thế giới vào nửa đầu thế kỷ thứ

20, hoạt động đầu tư nước ngoài nói chung bị suy giảm, nhưng FDI thì phát triển chiếm đến 1/4 tổng đầu tư quốc tế; nước Mỹ đã nổi lên thay thế nước Anh, là nước cho vay lớn nhất thế giới

Sau cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai, do nhu cầu của công cuộc tái thiết kinh tế ở nhiều quốc gia và do điều kiện giao lưu quốc tế trở trên thuận lợi hơn nên FDI đã gia tăng mạnh mẽ Sau đó vào thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước, thế giới đã chứng kiến sự tăng trưởng chậm lại của FDI, nhưng nước Anh lại nổi lên như là nước cho vay quốc tế lớn nhờ vào việc bội thu từ nguồn dầu lửa ở Biển Bắc và chủ trương nới lỏng kiểm soát ngoại hối

Từ đầu thập kỷ 80 đến nay FDI đã có sự tăng trưởng liên tục; Mỹ trở thành nước đầu tư ra ngoài lớn nhất, đồng thời là nước tiếp nhận FDI nhiều nhất, có tỷ lệ tiếp nhận ròng âm Nhiều nước công nghiệp mới trên thế giới như Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông và Đài Loan ở Châu A', Brazil, Achentina, Chilê ở Châu Mỹ đã tham gia tích cực vào hoạt động đầu tư quốc

tế Một số nước đang phát triển và các nước chuyển đổi cơ chế kinh tế như Trung Quốc, Nga, Việt Nam cũng tham gia vào trò chơi quốc tế trong việc thu hút FDI Có thể nói rằng, hai thập niên cuối của thế kỷ thứ 20 và những năm

đầu của thế kỷ thứ 21, hoạt động FDI của thế giới đã trở nên nhộn nhịp hơn,

số nước tham gia nhiều hơn nhờ vào môi trường quốc tế thuận lợi về chính trị

là hoà bình và hợp tác, về công nghệ là các cuộc cách mạng công nghệ thông tin, giao thông vận tải đã rút ngắn khoảng cách về thời gian và không gian giữa các nước, về kinh tế là xu thế tự do hoá chu chuyển vốn trên phạm vi toàn cầu và việc nới lỏng kiểm soát ngoại hối ở nhiều nước

Đứng trước tình hình mới, nhiều lý thuyết đã được đưa ra để giải thích hiện tượng mang tính khách quan này Trong đó, lý thuyết của V.I Lênin có ý nghĩa quan trọng

V.I Lê nin đã có một số tác phẩm đề cập đến ĐTNN Trong thời kỳ chính sách kinh tế mới ở nước Nga, V.I Lê nin đã đề ra các chính sách quan trọng, kể cả tô nhượng để thu hút vốn và công nghệ của các nước phương Tây phục vụ cho công cuộc chấn hưng kinh tế của nước Nga, vốn đã bị kiệt quệ

Trang 10

trong đại chiến thế giới lần thứ nhất và việc thực hiện "Chủ nghĩa cộng sản thời chiến"

Trong cuốn sách “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”, V.I Lênin đã coi hoạt động đầu tư quốc tế, bao gồm FDI là xuất khẩu tư bản (XKTB)

Theo V.I Lê nin thì XKTB khác với xuất khẩu hàng hoá Xuất khẩu hàng hoá là việc đưa hàng hoá được sản xuất ở trong nước ra nước ngoài thực hiện giá trị và giá trị thặng dư được sản xuất ra ở trong nước Xuất khẩu hàng hoá đã gia tăng trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa phong kiến sang chủ nghĩa tư bản vào cuối thế kỷ thứ XV Do nhu cầu tích luỹ nguyên thuỷ tư bản, Tây Ban Nha, Italia, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp , đã có nhu cầu buôn bán với các nước Châu Mỹ Những nhà buôn Phương Tây xuất khẩu hàng hóa thủ công, mỹ nghệ, hàng công nghiệp nhẹ, sang các nước này và mang về những khoản tiền lớn Nhờ đó, họ đầu tư vào việc phát triển kinh tế, đổi mới công nghệ, thúc đẩy nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ra đời Xuất khẩu hàng hoá ngày càng tăng lên trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự xây dựng nền tảng kinh tế và bành trướng trên các Châu lục

XKTB là việc đưa tư bản ra nước ngoài để sản xuất ra giá trị và giá trị thặng dư ở đó, là một đặc điểm của thời kỳ phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền

Theo V.I Lênin, có hai hình thức XKTB là XKTB hoạt động và XKTB cho vay XKTB hoạt động là hình thức mang tư bản sang các nước lạc hậu để xây dựng những xí nghiệp mới, hoặc mua lại các cơ sở đang hoạt động ở các nước nhập khẩu tư bản, biến nó thành chi nhánh của các công ty mẹ tại chính quốc XKTB cho vay là việc cho các nước lạc hậu vay tư bản Hai hình thức trên có thể do nhà nước hoặc do tư nhân thực hiện

V.I.Lênin cũng chỉ ra mục đích của XKTB là lợi nhuận cao, hơn nữa, là

ăn bám bình phương Nhận xét này của ông dựa trên quan điểm của Các Mác, khi coi tư bản là của cải tích luỹ từ lao động không công mà tạo thành Do vậy, bản thân tư bản đã là “ăn bám” Việc mang tư bản, tức là mang của cải tích luỹ từ lao động không công ra nước ngoài để tìm kiếm lợi nhuận, đó là thực hiện ăn bám lần thứ hai, ăn bám “bình phương”

1.1.1.2 Về khái niệm ĐTNN

Trong phạm vi toàn thế giới, khoảng 1.500 tỷ USD vốn chu chuyển hàng ngày, rất đa dạng với nhiều phương thức và thông qua nhiều kênh giao dịch Trong đó có các nguồn vốn đầu tư quốc tế chủ yếu sau đây:

Trang 11

- Viện trợ phát triển chính thức (official development assistent - ODA) do các tổ chức tài chính quốc tế và Chính phủ nhiều nước thực hiện

Quỹ tiền tệ thế giới - IMF, Ngân hàng thế giới - WB và Ngân hàng phát triển Châu A' - ADB có nhiều chương trình viện trợ cho các nước đang phát triển để cải cách cơ cấu kinh tế, đổi mới thể chế, viện trợ kỹ thuật thông qua các khoản tín dụng ưu đãi, lãi suất thấp và thời gian ân hạn dài Các khoản ưu đãi của các

tổ chức tài chính quốc tế này được thực hiện cho các nước thành viên thuộc những nước có thu nhập thập, GDP/người dưới 780 USD/năm Khi một nước

đã vượt qua ngưỡng đó thì các khoản tín dụng phát triển sẽ không còn được hưởng những ưu đãi như đối với các nước có thu nhập thấp

Nhiều nước công nghiệp phát triển trên thế giới đã giành 0,5 - 1% ngân sách Nhà nước hàng năm để viện trợ cho các nước đang phát triển dưới hai phương thức: Viện trợ không hoàn lại, thường chiếm khoảng 10% tổng số viện trợ và tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp, thời gian ân hạn dài

Đối với các nước đang phát triển, ODA là nguồn vốn quốc tế quan trọng

để thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, như đường sá, cầu cống, cung ứng điện, cấp nước, thoát nước, giáo dục và y tế, xoá đói giảm nghèo

Các nước công nghiệp phát triển đã thực hiện việc xoá nợ hoặc hoãn nợ cho các nước nhận viện trợ trong một số trường hợp nhất định và thường thông qua Câu lạc bộ Paris

Do ODA chủ yếu là của các tổ chức tài chính quốc tế và của Chính phủ nên gắn rất chặt với điều kiện chính trị, ngoại giao và một số ràng buộc khác Trong thời kỳ nước ta chịu sự cấm vận quốc tế thì mọi khoản ODA hầu như bị ngừng trệ Chỉ khi nước ta đã thiết lập được quan hệ bình thường với các nước công nghiệp chủ yếu như Mỹ, EU, Nhật Bản và các tổ chức tài chính quốc tế thì các khoản viện trợ mới được nối lại và ngày càng gia tăng

- Đầu tư gián tiếp (Foreign Porfolio Investment - FPI) là phương

thức đầu tư quốc tế thông qua ngân hàng và thị trường chứng khoán Theo đó các doanh nghiệp nước ngoài tiến hành mua cổ phiếu của các doanh nghiệp trong nước trên thị trường vốn FPI chủ yếu là đầu tư ngắn hạn, các cuộc giao dịch chủ yếu được thông qua lệnh của chủ đầu tư đối với ngân hàng hoặc các công ty môi giới trên thị trường chứng khoán FPI đã được nhiều nước thực hiện, nhưng ở Việt Nam chưa trở thành phổ biến, mới tiến hành thông qua các Quỹ đầu tư như Vietnam Fund, Frontier Fund Đặc điểm chủ yếu của FPI là nhà đầu tư có quyền sở hữu vốn kinh doanh phần cổ phiếu, trái phiếu của

Trang 12

mình trên thị trường nước nhận đầu tư; nhưng không tham gia quản trị doanh nghiệp, tức là không có quyền kiểm soát doanh nghiệp ở nước đó

FPI là nguồn vốn quốc tế quan trọng đối với nhiều nước ĐPT, nhưng có tính rủi ro cao hơn các nguồn vốn quốc tế khác Trong thời kỳ có biến động trên thị trường vốn, nhất là gặp khủng khoảng về tiền tệ thì các nhà đầu tư quốc tế lập tức ra lệnh cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính chuyển vốn

ra khỏi nước nhận đầu tư; do đó gây ra các cú sốc mạnh mẽ trên thị trường vốn, làm chao đảo nền kinh tế của nước nhận đầu tư, gây ra hậu quả nghiêm trọng cần một thời gian khá dài mới có thể khắc phục được Achentina là một

điển hình về việc tiếp nhận quá mức cần thiết FPI, nên đã gánh chịu hậu quả nặng nề trong cuộc khủng hoảng tiền tệ vào giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước Tháng 7 năm 1997 cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực bắt đầu từ Thái Lan, khi nước này chủ động phá giá đồng Bath, hàng tỷ USD đã được chuyển

ra khỏi Thái Lan trong một thời gian rất ngắn, gây tác động tiêu cực trên thị trường tiền tệ, lan toả đến một số nước xung quanh như Philippin, Indonêsia, Malayxia và xa hơn là Hàn Quốc, Hồng Kông, đã gây ra cú sốc lớn về kinh tế của nhiều nước trong khu vực Châu A', kể cả Việt Nam Do vậy, các nước tiếp nhận FPI cần có cơ chế và luật pháp thích ứng để vừa sử dụng có hiệu quả nguồn vốn quốc tế quan trọng này, vừa chủ động đề phòng những rủi ro khi có biến động trên thị trường vốn

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là

phương thức đầu tư quốc tế quan trọng trong tình hình thế giới hiện nay FDI

được thực hiện giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau, giữa nước công nghiệp phát triển với nước ĐPT; trong thời gian gần đây, nhiều nước đang phát triển cũng đã tham gia FDI, thực hiện các dự án đầu tư ở nước khác

FDI có liên quan chặt chẽ với ODA Trong điều kiện bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, thì ODA là nguồn vốn tạo cơ sở hỗ trợ cho các doanh nghiệp của nước viện trợ thực hiện các dự án FDI ở nước nhận viện trợ Các khoản tín dụng ưu đãi của IMF, WB và ADB trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật có tác động quan trọng để thu hút FDI vào các nước đang phát triển Tuy vậy, FDI có tính độc lập tương đối với ODA; nếu ODA gắn chặt với quan hệ chính trị và ngoại giao, thì FDI là hoạt động đầu tư tư nhân, chịu ảnh hưởng của mối quan hệ đó; nhưng các nhà đầu tư coi mục đích tìm kiếm lợi nhuận là tối thượng, nên đã tìm cách thoát ra khỏi ảnh hưởng của quan hệ chính trị, ngoại giao Điều đó đã giải thích vì sao trong thời kỳ cấm vận đối với Việt Nam, một số doanh nghiệp của Mỹ thông qua nước thứ ba để thực hiện các dự án đầu tư ở nước ta

Trang 13

FDI có quan hệ mật thiết với FPI, cả hai đều là đầu tư chủ yếu của tư nhân, bổ sung cho nhau và thúc đẩy lẫn nhau; những nước có cơ chế và luật pháp phù hợp với thông lệ quốc tế thì sẽ thu hút được cả hai nguồn vốn đầu tư quốc tế này Tuy vậy, nếu như FPI là đầu tư ngắn hạn thì FDI là đầu tư dài hạn, các dự án FDI thường có thời hạn 10 năm, 20 năm, 50 năm và dài hơn (Sẽ trình bày ở phần sau)

Ngoài ODA, FPI và FDI trên thế giới còn rất nhiều nguồn vốn đầu tư quốc tế như Quỹ hưu trí, Quỹ bảo hiểm, đầu tư thông qua thương mại, mua thiết bị trả chậm, đầu tư thông qua chuyển giao công nghệ với nhiều loại hình phong phú, đa dạng của những thể chế khác nhau

1.1.1.3- Về khái niệm FDI

Các nghiên cứu về FDI đã được tiến hành sau đại chiến thế giới lần thứ

II, vào thập kỷ 60,70 của thế kỷ trước; từ thập kỷ 80 trở đi do trên thế giới đã diễn ra những làn sóng FDI, nên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn

đề này với những lý thuyết và quan điểm khác nhau Trong phạm vi đề tài, chúng tôi trình bày quan điểm chính thống của hai tổ chức quốc tế đóng vai trò quan trọng đối với FDI là Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển - OECD và

Tổ chức Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển - UNCTAD

Theo Báo cáo đầu tư thế giới năm 1999 của UNCTAD thì "FDI là hoạt

động đầu tư bao gồm mối quan hệ dài hạn, phản ảnh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài)"

Định nghĩa này có hai đặc trưng là quyền kiểm soát và lợi ích khống chế Về quyền kiểm soát thì hầu như đã đạt được sự nhất trí của các nhà

nghiên cứu về FDI; còn quyền kiểm soát thì đang có những ý kiến khác nhau,

nhưng hiện nay nhiều người đã thừa nhận rằng một công ty nước ngoài có tỷ lệ

sở hữu cổ phần tối thiểu 10% thì có ảnh hưởng nhất định đến quyền kiểm soát doanh nghiệp, tác động đến chiến lược kinh doanh và quản trị doanh nghiệp

Quyền kiểm soát là đặc trưng tiêu biểu của FDI so với các phương thức

đầu tư quốc tế khác Razin và cộng sự (1999) cho rằng, quyền kiểm soát làm cho các nhà đầu tư trực tiếp có được một lợi thế về thông tin so với các nhà

đầu tư gián tiếp nước ngoài và những người gửi tiền tiết kiệm ở trong nước Chính vì vậy mà nhiều TNCs lớn của thế giới chủ yếu thực hiện FDI ở các nước khác hơn là tham gia FPI; nhiều công ty thực hiện các dự án FDI với

Trang 14

điều kiện dành được quyền kiểm soát ít nhất là 51% cổ phần của doanh nghiệp; có công ty chỉ thực hiện hình thức 100% sở hữu vốn và quyền kiểm soát 1

OECD đã xuất bản tài liệu "Định nghĩa chuẩn của OECD về đầu tư trực

tiếp nước ngoài; trong đó có phân biệt ba khái niệm: FDI, nhà đầu tư trực tiếp

nước ngoài và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài 2

FDI phản ảnh mục đích thu được lợi nhuận lâu dài của một thực thể

thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) tại một thực thể thường trú

ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) FDI bao gồm mọi giao dịch ban đầu và các giao dịch vốn về sau giữa hai thực thể đó; cũng như giữa các doanh nghiệp liên doanh, kể cả hợp nhất và không hợp nhất

Nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là một cá nhân, một doanh nghiệp

Nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân, một Chính phủ, một nhóm các cá nhân

có quan hệ với nhau, một nhóm các doanh nghiệp hợp nhất và / hoặc không hợp nhất có quan hệ với nhau, có một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp - một công ty con, một công ty liên kết hoặc một chi nhánh hoạt động ở một nước không phải là nước hoặc các nước thường trú của nhà đầu tư

Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài là một doanh nghiệp hợp

nhất hoặc không hợp nhất, ở đó một nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 10% trở lên

cổ phần thông thường của một doanh nghiệp hoặc quyền biểu quyết của một doanh nghiệp hợp nhất, hoặc mức tương đương của một doanh nghiệp không hợp nhất; điều đó không đòi hỏi nhất thiết phải có sự kiểm soát tuyệt đối kinh doanh và quản trị doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài

OECD cũng khuyến nghị các nước nhận đầu tư cân nhắc về sự hiện diện của mình trong các doanh nghiệp FDI thông qua các nhân tố sau đây:

a/ Sự đại diện trong Ban giám đốc;

b/ Sự tham gia vào các quá trình hoạch định chính sách;

c/ Các giao dịch vật chất nội bộ công ty;

d/ Sự trao đổi lẫn nhau về nhân sự quản lý;

e/ Sự cung cấp thông tin kỹ thuật;

Trang 15

f/ Sự cung ứng các nguồn cho vay dài hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường 3

OECD khuyến nghị rằng, các nước tiếp nhận đầu tư cần căn cứ vào giá trị thị trường để xác định vốn đầu tư; theo đó tất cả tài sản phải được định giá theo mức giá hiện hành trên thị trường Điều đó cho phép liên kết giữa các dòng tài sản, lượng tài sản của các doanh nghiệp, các ngành và các nước khác nhau, cũng như liên kết theo thời gian; mặc dù vậy, OECD thừa nhận rằng, trong thực tế giá trị thể hiện trên sổ sách, chứng từ của các doanh nghiệp FDI

đều được sử dụng để xác định giá trị của các loại vốn FDI

FDI có thể được phân loại khác nhau; theo quan điểm của nhà đầu tư, Caves (1971) phân ra FDI theo chiều ngang, FDI theo chiều dọc và FDI

kết hợp FDI theo chiều ngang thực hiện sản xuất cùng một loại hàng hoá ở nước nhận đầu tư như được sản xuất ở nước đi đầu tư FDI theo chiều dọc hướng vào việc khai thác nguyên liệu thô, hoặc làm cho sản xuất gần với thị trường tiêu thụ Ví dụ điển hình là các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Mỹ đã khởi xướng một chiến dịch nhằm thiết lập mạng lưới đại lý của họ ở Nhật Bản

để tiêu thụ sản phẩm tại đó FDI kết hợp vừa thực hiện cả theo chiều ngang và theo chiều dọc

Theo quan điểm của nước nhận đầu tư thì FDI được chia thành: FDI

thay thế hàng nhập khẩu, FDI hướng về xuất khẩu và FDI do Chính phủ quyết

định tuỳ từng trường hợp Kojima (1973,1975,1985) đã đưa ra cách phân loại tương tự, được gọi là FDI hướng về xuất khẩu và FDI không hướng về xuất khẩu

Chen và Ku (2000) đã đưa ra cách phân loại khác hơn, theo đó FDI chia thành loại: bành trướng và loại phòng thủ FDI bành trướng khai thác những lợi thế đặc thù của nước nhận đầu tư, làm tăng nhanh doanh số bán hàng của công ty đầu tư ở nước đó cũng như ở nước ngoài Trong khi FDI phòng thủ thì hướng vào tìm kiếm lao động rẻ để giảm chi phí sản xuất tại nước nhận đầu tư

Các định nghĩa về FDI trên đây có phần khác với nhận thức về FDI

đang được thể hiện trong các văn bản pháp lý của nước ta

Luật ĐTNN tại Việt Nam xác định "ĐTNN là việc đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật ĐTNN Các tài sản này có thể là thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công trình xây dựng hoặc giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết

3 Khái niệm doanh nghiệp hợp nhất chỉ một công ty con hoặc một công ty liên kết; doanh nghiệp không hợp nhất chỉ chi nhánh của một công ty.

Trang 16

kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật" Khái niệm nêu trong Luật

ĐTNN của Việt Nam chủ yếu đề cập đến xuất xứ của nguồn vốn ĐTNN, không đề cập trực tiếp hai vấn đề cốt lõi của FDI là quyền kiểm soát và lợi ích khống chế

- Hiệp định thơng mại Việt- Mỹ xác định: "ĐTNN là mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một bên do các công dân hoặc công ty của bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, thực hiện dưới các hình thức như một công ty hay một doanh nghiệp; cổ phần cổ phiếu và hình thức góp vốn khác, trái phiếu, giấy ghi nợ, các quyền theo hợp đồng, tài sản hữu hình và tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ " Khái niệm này gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, mà không phân biệt sự khác nhau giữa hai loại đó

1.1.1.4- Đặc trưng chủ yếu của FDI

Thứ nhất, FDI gắn liền với việc di chuyển tiền và tài sản giữa các quốc gia

FDI làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận và làm giảm lượng tiền và tài sản của nước đi đầu tư Tài sản ở đây bao gồm tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu ), tài sản vô hình (sáng chế, nhãn hiệu, bí quyết kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý ) FDI không chỉ di chuyển vốn thuần tuý mà còn bao gồm chuyển giao công nghệ, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu t về các đối tượng sở hữu

Do gắn với việc di chuyển tài sản, mà mỗi loại tài sản đòi hỏi nước tiếp nhận có cơ chế, chính sách bảo hộ quyền của chủ đầu tư phù hợp với tính chất

loại chứng từ có giá

Thứ hai, FDI được tiến hành thông qua việc thành lập các doanh nghiệp mới, mua lại các chi nhánh, doanh nghiệp hiện có, hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp

Điều đó cho thấy hoạt động FDI có thể diễn ra theo nhiều hình thức và

phương thức rất đa dạng Một nước có thể khai thác tính đa dạng của các hình thức và phương thức đầu tư để tăng cường thu hút vốn FDI từ nước ngoài cũng

Trang 17

như tiến hành đầu tư ra nước ngoài Việc thành lập và phát triển các thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán là điều kiện thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng dòng vốn ĐTNN

Thứ ba, FDI là người chủ sở hữu hoàn toàn (sở hữu 100% vốn đầu tư) hoặc đồng chủ sở hữu vốn với một tỷ lệ nhất định đủ mức khống chế và trực

tiếp tham gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp

Tỷ lệ sở hữu vốn khống chế này từ 10% trở lên tổng số vốn của doanh nghiệp do luật pháp từng nước quy định Đây là yếu tố quyết định đến tính chất trực tiếp của nhà ĐTNN trong việc đưa ra các quyết định trong đầu tư và quản trị doanh nghiệp Chính vì có sự thay đổi cơ bản về hình thức sở hữu trong FDI nên cần có thể chế bảo hộ quyền sở hữu của nhà ĐTNN rõ ràng và chặt chẽ thì mới tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn Việc bảo đảm tỷ lệ sở hữu ở mức khống chế còn là cơ sở để các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trở thành những chi nhánh của các công ty ở nước đầu tư Đây là yếu tố làm tăng tính chất toàn cầu của mạng lưới các công ty đi đầu tư và tạo cơ sở để các công ty

đó thực hiện hoạt động chu chuyển vốn và hàng hoá trong nội bộ công ty, tránh được hàng rào thuế quan và tiết kiệm chi phí giao dịch Đặc trưng này là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa FDI với hoạt động thương mại, gia công quốc tế Trong hoạt động thương mại có sự dịch chuyển sở hữu về hàng hoá hoặc dịch vụ từ người bán sang người mua trên nguyên tắc thoả thuận Người mua phải trả tiền cho người bán để có quyền sở hữu về hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ từ người bán Trong hoạt động gia công quốc tế, một bên thuê bên kia gia công sản phẩm theo đơn đặt hàng, thanh toán tiền công và các khoản chi phí khác theo từng sản phẩm trong từng thời gian ngắn Thương mại quốc tế ra

đời và phát triển trên cơ sở lợi thế so sánh, còn FDI gắn với khả năng khai thác nguồn lực để phát triển Đặc trưng này làm cho các khoản lợi nhuận thu được

từ FDI lớn hơn nhiều so với thương mại quốc tế; khi đầu tư gắn với thương mại thì lợi nhuận thương mại là một phần lợi nhuận của hoạt động đầu tư được phân phối lại Do vậy có thể khẳng định rằng, đầu tư quốc tế là sự bổ sung cần thiết cho hoạt động thương mại quốc tế; việc tổ chức hoạt động FDI phải xử lý nhiều vấn đề phức tạp hơn so với hoạt động buôn bán thông thường

Thứ tư, FDI chủ yếu là hoạt động đầu tư của tư nhân với mục tiêu cơ bản là thu lợi nhuận (trừ một số doanh nghiệp Nhà nước và một ít đầu tư của Chính phủ)

Hoạt động FDI diễn ra khi có thị trường đầu tư có khả năng tạo lợi nhuận cao, nghĩa là có chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận của vốn và chi phí giữa

Trang 18

nước đầu tư và nước nhận đầu tư do tính quy luật cân bằng giữa cung và cầu

về vốn đầu tư và chi phí Điều này phân biệt FDI với ODA Các khoản ODA của các Chính phủ gắn với những cam kết và ràng buộc chặt chẽ giữa nước viện trợ và nước nhận viện trợ và chịu sự chi phối đáng kể bởi quan hệ chính trị giữa hai nước Các nước cung cấp ODA có thể gây sức ép với các nước tiếp nhận phải có những điều chỉnh nhất định về chính sách, thể chế và cả những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền ODA phần lớn là vốn vay, nên nếu không được sử dụng có hiệu quả sẽ làm cho nước nhận viện trợ trở thành con

nợ quốc tế ngày càng nhiều; trong khi FDI ít có khả năng xảy ra tình trạng đó vì chủ yếu là đầu tư do doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt

động đầu tư và kinh doanh, được tính toán kỹ trước khi quyết định đầu tư

Đồng thời, hoạt động FDI khác với vay tín dụng thương mại theo lãi suất thị trường với những cam kết và thế chấp hết sức nghiêm ngặt; nếu không được giám sát chặt chẽ sẽ dẫn đến tình trạng vay tín dụng thương mại để đầu tư, khó có khả năng hoàn vốn, chậm thanh toán nợ, gây ra tình trạng nợ nước ngoài vượt quá giới hạn cho phép

Thứ năm, FDI bảo đảm cho nhà đầu tư trực tiếp tham gia kiểm soát và

điều hành quá trình đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp

Việc điều hành và trực tiếp ra quyết định đầu tư là điều kiện để nhà đầu tư thực hiện được chiến lược kinh doanh của họ một cách chủ động và tối ưu Tuy nhiên, trên thực tế thường nảy sinh khoảng lệch giữa mục tiêu thu hút vốn

đầu tư của Chính phủ với chiến lược kinh doanh của nhà đầu tư; vì trong một

số trường hợp, mục tiêu của Chính phủ không phù hợp với chiến lược kinh doanh của nhà đầu tư Chẳng hạn, mục tiêu ưu tiên hàng đầu của Chính phủ n-

ước tiếp nhận đầu tư là giải quyết việc làm và đẩy mạnh xuất khẩu, trong khi một số nhà đầu tư chỉ coi trọng việc thu lợi nhuận tối đa và chiếm lĩnh thị tr-

ường trong nước; Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư muốn hướng FDI vào các

dự án xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, sân bay, bến cảng với lượng vốn

đầu tư rất lớn, suất lợi nhuận thấp và thời gian thu hồi vốn khá dài; trong khi

đó các nhà đầu tư thường chú trọng các dự án có thời hạn đầu tư ngắn và tỷ lệ thu hồi vốn cao Đặc trưng này đòi hỏi Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư chủ

động quy hoạch phát triển các ngành, các vùng và có các chính sách hấp dẫn phù hợp với từng ngành, lĩnh vực để thu hút FDI Việc thiếu quy hoạch được xây dựng khoa học và khả thi sẽ dẫn đến tình trạng đầu tư tràn lan, gây mất cân đối về cơ cấu ngành và cơ cấu vùng, mà hậu quả là phải tốn kém nhiều chi phí và thời gian để điều chỉnh Nếu sự bất cân xứng này càng lớn thì hiệu quả

Trang 19

đầu tư đạt được sẽ càng thấp Hơn nữa, tính không chặt chẽ của các ràng buộc giữa Chính phủ và các nhà đầu tư càng làm tăng thêm sự bất cân xứng giữa mục tiêu đặt ra trong chính sách của Chính phủ và mục tiêu trong chiến lược kinh doanh của nhà đầu tư Ngoài ra, việc quy định cách thức tổ chức và quản trị doanh nghiệp FDI của nước sở tại theo hướng giảm bớt quyền lực của nhà

ĐTNN, như áp dụng nguyên tắc nhất trí đối với việc ra quyết định về các vấn

đề quan trọng của Hội đồng quản trị, áp đặt các điều kiện đầu tư liên quan đến thương mại không phù hợp với thông lệ quốc tế (quy định tỷ lệ xuất khẩu, tỷ

lệ nội địa hoá ), sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quy mô và phạm vi của hoạt động FDI Những hạn chế về chuyển đổi các hình thức và phương thức đầu tư, cũng như việc thiếu các phương thức và hình thức đầu tư đa dạng đã gây khó khăn cho các nhà ĐTNN trong việc tối ưu hoá việc ra quyết định và phân tán rủi ro

Thứ sáu, ĐTNN chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia thực hiện

Đây là những tập đoàn có hệ thống các chi nhánh sản xuất ở nước ngoài, có tiềm lực lớn về vốn, công nghệ cao, nhãn hiệu sản phẩm có uy tín và danh tiếng lớn trên toàn cầu, tính năng động cao, có đội ngũ các nhà quản lý

có trình độ cao, có khả năng điều hành các hoạt động sản xuất và phân phối trên toàn cầu và có năng lực cạnh tranh cao Các nước ĐPT và các doanh nghiệp của họ có thể tiếp cận từ các công ty xuyên quốc gia thông qua hoạt

động đầu tư trực tiếp để thu hút nguồn vốn lớn, công nghệ nguồn, đội ngũ cán

bộ quản lý có trình độ cao, cải thiện năng lực cạnh tranh và năng động hoá các quan hệ giao dịch Bên nước tiếp nhận ngoài mục tiêu thu hút vốn đầu tư từ nhà ĐTNN còn có mục tiêu tiếp nhận kiến thức và kỹ năng quản lý Kỹ năng quản lý là loại tài sản vô hình cực kỳ quan trọng đối với các nước có nền kinh

tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường; khía cạnh này tăng thêm tính chất

đa phương diện của hoạt động đầu tư trực tiếp Các công ty đa quốc gia thường thuộc các nước công nghiệp phát triển, do đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp ban

đầu xuất phát từ các nước công nghiệp và tạo nên những xu hướng chính trong hoạt động FDI Các nước ĐPT khi đã đạt đến trình độ phát triển nhất định, đã tích lũy được vốn và ngoại hối có thể và cần phải khuyến khích doanh nghiệp của nước đó đầu tư ra nước ngoài để tham gia ngày càng nhiều vào thị trường

đầu tư thế giới

Về mặt lịch sử, FDI ban đầu do các công ty xuyên quốc gia của các nước công nghiệp phát triển đầu tư vào các nước thuộc địa để khai thác nguyên liệu, thị trường tiêu thụ và nguồn lao động rẻ mạt Do đó, khái niệm FDI chủ yếu được sử dụng để chỉ sự vận động của vốn từ các nước chính quốc

Trang 20

sang các nước thuộc địa; từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước

ĐPT Sau đó, xuất hiện các hoạt động đầu tư lẫn nhau giữa các nước phát triển với nhau và tiếp đó là dòng vốn di chuyển từ các nước ĐPT ra nước ngoài, kể cả sang các nước công nghiệp phát triển để khai thác tính không hoàn hảo của thị trường Hai dòng di chuyển vốn vào và ra này khác nhau về chiều hướng vận động và tác động của chúng đến nền kinh tế của các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư Do đó, đòi hỏi phải có cách ứng xử về mặt chính sách để

điều chỉnh và quản lý dòng vận động của vốn đầu tư

1.1.2 Bản chất của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN

1.1.2.1 Phương pháp tiếp cận về bản chất khu vực kinh tế có vốn

Để lý giải vấn đề này, chúng tôi lưu ý đến một số nhận thức sau đây:

Thứ nhất, cần có sự tiếp cận mới về lợi nhuận

Đúng là FDI với mục đích trực tiếp là thu được lợi nhuận Và cũng cần phải nói thêm rằng, lợi nhuận là động lực thúc đẩy hoạt động FDI nói riêng, thúc đẩy hoạt động kinh doanh nói chung Hơn thế nữa, lợi nhuận còn là thước

đo của hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu không có lợi nhuận, không thu

đ-ược lợi nhuận thì không còn hoạt động kinh doanh Theo nghĩa đó, kinh doanh

và lợi nhuận là thống nhất Còn hoạt động kinh doanh thì còn phạm trù lợi nhuận

Theo lý thuyết kinh tế hiện đại, lợi nhuận được coi là thặng dư của

ngư-ời sử dụng các yếu tố sản xuất, hay phần trả công cho nhà kinh doanh Luận

điểm này xuất phát từ những nhà kinh tế học trường phái cận biên như J B Clark, một nhà kinh tế học ngời Mỹ Theo ông, khi nhà kinh doanh sử dụng yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm, thì theo quy luật năng suất giới hạn, phần sản phẩm giới hạn được sử dụng để trả công cho yếu tố sản xuất, phần còn lại

là thặng dư của người sử dụng yếu tố sản xuất Như thế, tiền lương, địa tô, lợi tức được trả theo năng suất giới hạn, phần còn lại là thặng dư của nhà kinh doanh hay lợi nhuận

Trang 21

Như vậy, lợi nhuận không chỉ do lao động của người công nhân tạo ra,

mà còn do các yếu tố sản xuất khác, như đất đai, tư bản tạo thành Đó là phần thặng dư của người sử dụng các yếu tố sản xuất Thêm nữa, việc trả công các yếu tố sản xuất theo sản phẩm giới hạn là sòng phẳng, nhà kinh doanh không bóc lột chủ sở hữu sức lao động, không bóc lột chủ sở hữu đất đai, không bóc lột chủ sở hữu vốn Sở dĩ nhà kinh doanh thu được lợi nhuận là do họ sử dụng một cách có hiệu quả các yếu tố sản xuất mà có

Lý thuyết về lợi nhuận trên đây đang được thực tiễn chứng minh là

đúng Bởi lẽ, trong thực tế không hiếm trường hợp hai doanh nghiệp có cùng nguồn lực như nhau, lực lượng lao động như nhau, máy móc thiết bị như nhau, cùng lượng vốn kinh doanh và cùng sản xuất kinh doanh một mặt hàng giống nhau, thậm chí cùng đặt trên một địa điểm thuận lợi như nhau, nhưng có doanh nghiệp kinh doanh có lãi, có doanh nghiệp bị phá sản Điều này phụ thuộc vào năng lực tổ chức, quản lý của nhà kinh doanh

Thứ hai, trong điều kiện thế giới hiện tại, hoạt động ĐTNN phụ thuộc vào luật pháp của nước nhận đầu tư và phải tuân theo thông lệ quốc tế

Nếu như trong thời kỳ trước đây, khi chủ nghĩa thực dân còn thống trị trong quan hệ quốc tế, các nhà ĐTNN mặc sức vơ vét tài nguyên, vắt kiệt sức người lao động ở các nước thuộc địa để thu lợi nhuận, thì ngày nay, trong thế giới hiện đại, các quốc gia có chủ quyền, có hệ thống luật pháp của mình

ĐTNN trong bối cảnh như thế cũng bị giới hạn, bị chi phối bởi khuôn khổ luật pháp của nước nhận đầu tư Hơn nữa, thông lệ quốc tế cũng không cho phép nhà ĐTNN mặc sức vơ vét tài nguyên, vắt kiệt sức lao động của nước nhận

đầu tư để thu lợi nhuận

Chính vì thế, việc nhà đầu tư thu được lợi nhuận nhiều hay ít phụ thuộc không chỉ vào việc sử dụng tài nguyên, lao động như thế nào, mà còn phụ thuộc vào quan hệ đàm phán hợp đồng giữa nhà ĐTNN với nước nhận đầu tư Thông thường đó là quan hệ bình đẳng, hợp tác, hai bên cùng có lợi

1.1.2.2 Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN với tư cách là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

a Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc phát triển thành phần kinh tế có vốn ĐTNN

Nhận thức về khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là một quá trình, nó phản

ánh sự đổi mới tư duy lý luận kinh tế ở nước ta Trước Đại hội VI (1986), các văn kiện Đại hội Đảng chỉ thừa nhận nền kinh tế XHCN chủ yếu có chế độ

Trang 22

công hữu với hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đại hội VI chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, các Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, khẳng định: Kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân tồn tại tất yếu trong nền kinh

tế nước ta Đại hội IX còn coi kinh tế có vốn ĐTNN là thành phần kinh tế độc lập Như thế, từ chỗ phủ nhận sự tồn tại, đến chỗ thừa nhận, và hơn nữa, còn coi khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là thành một thành phần kinh tế độc lập, thể hiện nhận thức và sự đánh giá đúng đắn bản chất, vai trò của thành phần kinh

tế này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Tuy nhiên, còn một số vấn đề về nhận thức có liên quan đến thành phần kinh tế có vốn ĐTNN cần được lưu ý

Thứ nhất, cần có nhận thức đúng đối với nền kinh tế nhiều thành phần

Trong bài “Bàn về thuế lương thực”, V.I Lenin viết:

“Vậy thì danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải

nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có Chúng ta hãy kể ra những thành phần kinh tế ấy:

1, Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất

tự nhiên;

2, Sản xuất hàng hoá nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì);

3, Chủ nghĩa tư bản tư nhân;

4, Chủ nghĩa tư bản nhà nước;

5, Chủ nghĩa xã hội” (Lênin toàn tập, tập 43 trang 248)

Trong lịch sử xây dựng CNXH, thuật ngữ “thành phần” đã được sử dụng gắn với việc phân chia giai cấp, gắn thành phần kinh tế với thành phần giai cấp và thực hiện sự phân biệt đối xử đối với các giai cấp khác nhau Do vậy, khi thuật ngữ "thành phần" được dùng trong kinh tế đã ảnh hưởng của tâm lý phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế Do vậy, thực hiện chủ tr-

ương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, nhiều nhà kinh tế học nước ta và Trung Quốc cho rằng, không nên sử dụng thuật ngữ “thành phần kinh tế”, mà nên gọi là nền kinh tế nhiều loại hình kinh doanh, hoặc nền kinh tế đa sở hữu với nhiều khu vực kinh tế

Trang 23

Chúng tôi cho rằng, để làm sáng tỏ vấn đề này, cần phải xem xét nguồn gốc của nó là vấn đề chế độ sở hữu và hình thức sở hữu

Chế độ sở hữu là tổng thể bao gồm nhiều hình thức sở hữu: Sở hữu nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu cá thể và các hình thức của sở hữu hỗn hợp

Những nước thu hút FDI còn có chế độ sở hữu nước ngoài và tương ứng với nó là Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN

Từ chế độ sở hữu hình thành các khu vực kinh tế Khu vực kinh tế bao gồm các doanh nghiệp dựa trên cùng một chế độ sở hữu Khu vực kinh tế có

hai đặc điểm cơ bản sau đây:

- Khu vực kinh tế chỉ bao gồm các loại doanh nghiệp trong nền kinh tế

Hiện nay, trong sách báo của ta đang nhầm lẫn khi nói tới thành phần (khu vực) kinh tế Ví dụ, khi nói tới thành phần (khu vực) kinh tế nhà nước, chúng

ta cho rằng, “kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ

dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà

n-ước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế”, còn các thành phần (khu vực) kinh tế khác chỉ là những doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu khác nhau

Quan niệm thành phần (khu vực) kinh tế nhà nước như thế không đúng với bản chất của thuật ngữ này, vì thành phần (khu vực) kinh tế chỉ là những hình thức tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, còn các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước, các tài sản thuộc sở hữu nhà nước không phải là các đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh nên không thuộc thuật ngữ thành phần (khu vực) kinh tế

Hơn nữa, các quỹ dự trữ quốc gia, quỹ bảo hiểm nhà nước, các tài sản của nhà nước là do sự đóng góp của tất cả các thành phần (khu vực) kinh tế khác tạo thành, nay lại coi đó là tài sản riêng của thành phần (khu vực) kinh tế nhà nước, thì cũng không hợp lý

Việc quan niệm các quỹ dự trữ quốc gia, quỹ bảo hiểm nhà nước, các tài sản khác của nhà nước thuộc thành phần(khu vực) kinh tế nhà nước, dễ dẫn

đến tính trạng sử dụng tài sản chung của quốc gia để hỗ trợ cho doanh nghiệp nhà nước, tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng trong nền kinh tế

Xuất phát từ đó, chúng tôi cho rằng, thành phần (khu vực) kinh tế chỉ là các loại hình doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Thành phần (khu vực) kinh tế nhà nước chỉ là các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp quốc doanh như cách gọi trước thời kỳ đổi mới

Trang 24

- Thành phần (khu vực) kinh tế là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên một hình thức sở hữu về vốn nhất định Hình thức sở hữu

về vốn là dấu hiệu phân biệt giữa thành phần (khu vực) kinh tế này với thành phần (khu vực) kinh tế khác

Trong điều kiện nước ta, chúng tôi cho rằng, có thể chia thành khu vực kinh tế nhà nước (hay kinh tế quốc doanh), khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

và khu vực kinh tế có vốn ĐTNN

+ Khu vực kinh tế nhà nước hay kinh tế quốc doanh là khu vực kinh tế

bao gồm các doanh nghiệp được xây dựng trên sở hữu nhà nước Đây là các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước, như các công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên, doanh nghiệp có cổ phần, mà vốn của nhà nước chi phối, công ty nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác

+ Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu vực kinh tế bao gồm các

doanh nghiệp trong nước được xây dựng trên sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp

và sở hữu tư nhân Đó là các công ty cổ phần (kể cả loại hình doanh nghiệp có một phần vốn của nhà nước), công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân; các hợp tác xã; các hộ cá thể, tiểu chủ, các trang trại

+ Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là khu vực kinh tế bao gồm các doanh

nghiệp được xây dựng dựa trên sở hữu vốn của các nhà ĐTNN tại nước ta và các doanh nghiệp được xây dựng trên sở hữu của các nhà đầu tư nước ta ở n-

ước ngoài Đó là các hợp đồng hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài

Chúng tôi cho rằng, trong văn kiện của Đảng và Nhà nước, nên thay đổi

phạm trù “nền kinh tế nhiều thành phần” bằng phạm trù "nền kinh tế đa sở

hữu với nhiều khu vực kinh tế khác nhau"

Thứ hai, cần phân định lại thành phần kinh tế tư bản nhà nước

Về thực chất, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là một loại hình của CNTBNN CNTBNN xuất hiện trong thời kỳ thống trị của chủ nghĩa tư bản

độc quyền Do yêu cầu phát triển cao độ của nền sản xuất xã hội hoá của lực

l-ượng sản xuất, mối quan hệ giữa các xí nghiệp, các ngành, các vùng trong nền kinh tế ngày càng đan xen, chằng chịt; đồng thời, sự phát triển của nền sản xuất lớn đòi hỏi các xí nghiệp có quy mô vốn lớn tới mức mà một xí nghiệp,

Trang 25

thậm chí một tập đoàn tư bản không đủ đáp ứng nổi Đòi hỏi sự kết hợp giữa nhà nước với các tổ chức tư bản, hình thành CNTBNN

V.I Lênin cho rằng, CNTBNN là sản phẩm của sự can thiệp của nhà nước vào các xí nghiệp tư bản Nếu nhà nước là của giai cấp tư sản thì CNTBNN phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản Nếu nhà nước là của giai cấp công nhân và nông dân, thì CNTBNN phục vụ lợi ích của nhân dân Chính vì thế, trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế ở nước Nga Xô viết, V.I Lênin đã chủ trương sử dụng kinh tế tư bản nhà nước để phát triển kinh tế thông qua các hình thức:

- Tô nhượng Đây là hình thức mà nhà nước ký hợp đồng với nhà tư bản,

giao cho họ nhà máy, hầm mỏ, đất đai để họ có quyền kinh doanh, khai thác khoáng sản, canh tác hay xây dựng trong một thời hạn nhất định Hợp đồng quy định rõ quyền lợi, nghĩa vụ của người nhận tô nhượng, trong đó có việc phân chia sản phẩm, lợi nhuận, nộp thuế, Hết hạn hợp đồng các tài sản trên thuộc quyền sở hữu của nhà nước

- Nhà nước và các nhà tư bản liên doanh xây dựng các doanh nghiệp

Theo hình thức này, hai bên cùng góp vốn, cùng quản lý doanh nghiệp, cùng hưởng lợi và cùng chia sẻ rủi ro; thuộc hình thức này còn có cả các công ty cổ phần mà nhà nước bán cổ phiếu cho tư nhân hoặc nhà nước mua cổ phiếu của công ty cổ phần do nhà tư bản phát hành

- Hợp tác xã của những người sản xuất nhỏ

- Nhà nước sử dụng nhà tư bản làm đại lý cung ứng và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ tư vấn

- Nhà nước cho một nhà kinh doanh tư bản thuê một xí nghiệp, hoặc một vùng mỏ, hoặc một khu rừng, khu đất, ở đây, hợp đồng cho thuê giống

như hợp đồng tô nhượng

Theo phân tích trên, hiện nay ở nước ta, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN bao gồm các hợp đồng hợp tác kinh doanh với nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Nếu không tính tới khu vực này, thì liên doanh liên kết giữa nhà nước với chủ nghĩa tư bản trong nước hầu như không có Thực tế phát triển của các địa phương hiện nay hầu như không xác định được đâu là kinh tế tư bản nhà nước Chính vì thế nên trong Niên giám thống kê, chúng ta không thấy xuất hiện thành phần kinh tế t-

ư bản nhà nước Từ đó, theo chúng tôi, cần bỏ khái niệm chủ nghĩa tư bản nhà nước và chỉ sử dụng khái niệm khu vực kinh tế có vốn ĐTNN

Trang 26

b Đặc điểm quan hệ sản xuất của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN

Cũng như các khu vực kinh tế khác, quan hệ sản xuất của khu vực kinh

tế có vốn ĐTNN cũng bao gồm ba mối quan hệ là quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối

Thứ nhất, quan hệ sở hữu

Một trong những nội dung của quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu vốn Trong khu vực có vốn ĐTNN là sở hữu vốn thuộc về nhà ĐTNN Khi nói về khu vực kinh tế có vốn ĐTNN, trước hết người ta thường nhấn mạnh là nhà

đầu tư là người có vốn, có tư bản Chính điều đó đã hấp dẫn việc thu hút

ĐTNN

Rõ ràng là, muốn đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư trước hết phải có vốn, có tư bản Có vốn, có tư bản, nhà đầu tư mới có thể xây dựng được nhà máy, mua sắm trang thiết bị, thuê công nhân tại các nước sở tại để tiến hành sản xuất kinh doanh

Vốn của nhà đầu tư bao gồm vốn tự có của nhà đầu tư và vốn mà của nhà đầu tư đi vay, kể cả vay ở nước nhận đầu tư

Trong nền kinh tế thị trường, vốn là sở hữu riêng của nhà tư bản, là của cải mà họ tích luỹ được Bất kỳ nhà đầu tư nào cũng hoạt động dựa vào hai nguồn vốn: Vốn tự có và vốn đi vay Hai nguồn vốn này khác nhau ở chỗ, vốn

tự có của nhà tư bản thì họ có quyền sở hữu và sử dụng vốn lâu dài Còn đối với vốn đi vay, nhà đầu tư chỉ có quyền sử dụng trong một thời gian và phải hoàn trả cả vốn và lãi

Trong điều kiện hoạt động mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, vốn đi vay ngày càng trở thành nguồn vốn quan trọng của nhà đầu tư

Thứ hai, quan hệ quản lý

Dù nhà ĐTNN hoạt động bằng nguồn vốn tự có hay nguồn vốn đi vay,

về mặt pháp lý họ phải chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển nguồn vốn của mình Chính vì thế, các nhà ĐTNN là người chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu doanh nghiệp; có quyền quyết định cơ cấu tổ chức, quản trị doanh nghiệp

Trong thế giới hiện đại đang diễn ra xu hướng tách quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, gắn với việc tách rời chủ sở hữu doanh nghiệp với quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ngày càng có nhiều nhà đầu tư thuê giám đốc điều hành hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có cả người của các

Trang 27

nước nhận đầu tư Thông qua hoạt động đó, nhà kinh doanh vẫn bảo tồn được quyền sở hữu vốn của họ, đồng thời, những giám đốc điều hành, đội ngũ cán

bộ quản lý tiếp thu được kỹ năng điều hành sản xuất kinh doanh hiện đại

Thứ ba, quan hệ phân phối

Phân phối trong khu vực kinh tế có vốn ĐTNN thực hiện theo nguyên

tắc của kinh tế thị trường, đó là phân phối dựa vào sở hữu nguồn lực Theo

đó, nhà đầu tư có vốn thu được lợi nhuận, Nhà nước là chủ sở hữu đất đai thu

được địa tô, người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN nhận được tiền công

1.1.2.3-Một số lý thuyết về FDI

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về FDI; trong những năm gần đây sự chú ý của các nhà kinh tế học đã được gia tăng đối với nghiên cứu FDI; do vậy, khó mà khái quát hoá một cách đầy đủ các lý thuyết khác nhau; phần này chỉ tiếp cận một số lý thuyết tiêu biểu xét thấy có quan hệ hữu cơ với FDI của Việt Nam

(1) Về tỷ lệ lợi nhuận khác nhau

Lý thuyết tỷ lệ lợi nhuận khác nhau để giải thích FDI chảy từ nước có

tỷ lệ lợi nhuận thấp sang nước có tỷ lệ lợi nhuận cao Maac Dougal-Kempt cho rằng, doanh nghiệp đầu tư ở nước khác nhằm làm cho lợi nhuận cận biên của vốn và chi phí cận biên của vốn giảm dần và trở nên ngang bằng Một quốc gia có vốn dồi dào thước có mức lợi nhuận cận biện về vốn thấp hơn so với quốc gia khan hiếm vốn; vì vậy, dòng chảy của vốn sẽ từ quốc gia có lợi nhuận cận biện thấp sang quốc gia có lợi nhuận cận biên cao Đó là quá trình

di chuyển vốn quốc tế, làm cho nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả hơn Lý thuyết này dựa trên tiền đề của thị trường hoàn hảo, không có rủi ro, nên tỷ lệ lợi nhuận là biến số duy nhất của quyết định đầu tư

Một số công trình nghiên cứu như Agarwal (1980) đã xem xét mối tương quan giữa tỷ lệ lợi nhuận của một số nước với hoạt động FDI ở các nước

đó, đã thử thách lý thuyết này vì không thấy được mối quan hệ thuận chiều giữa hai đại lượng đó

Lý thuyết về tỷ lệ lợi nhuận khác nhau cũng không giải thích được việc nhiều nước vừa thực hiện đầu tư ra nước ngoài, vừa thu hút một lượng FDI của thế giới Hơn nữa, TNCs thực hiện FDI theo chiến lược toàn cầu của từng tập

đoàn, vì thế lợi nhuận được tính toán dài hạn, chứ không phải là ngắn hạn

Trang 28

Một số TNCs thực hiện FDI do muốn tránh các rào cản thương mại, mặc dù tỷ

lệ lợi nhuận thu được không phải là cao hơn

Tuy vậy, lý thuyết về tỷ lệ lợi nhuận khác nhau giữa nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư được coi là cơ sở lý luận để giải thích hiện tượng kinh tế này của thế giới; bởi vì dòng vốn FDI chỉ chảy từ nước có tỷ lệ lợi nhuận thấp sang nước có tỷ lệ lợi nhuận cao

(2) Về chu kỳ sống của sản phẩm

Vernon (1966) là người đưa ra lý thuyết này, "các sản phẩm đều trải qua một chu kỳ từ khi bắt đầu sẳn xuất, phát triển sản xuất ở mức độ lớn, sản xuất chậm lại và giảm sút - một trình tự tương ứng với quá trình đưa vào sản xuất, mở rộng, chín muồi và già cỗi" Một số nhà kinh tế học như Petrochilos (1989) cho rằng, lý thuyết này đã cung cấp một cách giải thích khác về FDI, nhất là các sản phẩm chế tác, ứng dụng công nghệ hiện đại

Theo lý thuyết này, chu kỳ sống của sản phẩm trải qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn đầu tiên được tiến hành ở trong nước để thoả mãn nhu cầu

trên thị trường nội địa và để sử dụng có hiệu quả R&D của doanh nghiệp Theo thời gian, sản phẩm đã có sự thay đổi để phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong nước

Giai đoạn hai được đánh dấu bằng việc xuất khẩu sản phẩm sang các

nước khác, vì ở đó có nhu cầu và có giá cả cạnh tranh Sau một thời gian, doanh nghiệp chế tạo sản phẩm đó thực hiện FDI ở nước nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu gia tăng trên thị trường bản địa

Giai đoạn ba bắt đầu khi sản phẩm đã được hoàn toàn nội địa hoá và

doanh nghiệp không còn là người duy nhất sản xuất ra sản phẩm đó nữa Trên thị trường đã xuất hiện nhiều sản phẩm tương tự và cuộc cạnh tranh về giá cả, mẫu mã hàng hoá đã buộc doanh nghiệp tìm hướng đầu tư mới trên cơ sở phân tích mối tương quan giữa lợi nhuận và chi phí Thậm chí, trong một số trường hợp công ty của nước đi đầu tư trở thành nước nhập khẩu ròng, còn các nước nhận đầu tư là nước xuất khẩu ròng

Nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã hỗ trợ cho lý thuyết này, vì phát hiện mối liên quan giữa một bên là xu hướng sản xuất các sản phẩm mới, xuất khẩu, FDI và tỷ trọng nội địa hoá trong sản phẩm xuất khẩu với bên kia

là chi phí R&D của các doanh nghiệp Mỹ

Tuy vậy, lý thuyết của chu kỳ sống của sản phẩm cũng đã bị thử thách trong một số nghiên cứu gần đây; khi khoảng cách về thu nhập và công nghệ

Trang 29

giữa Mỹ và các nước công nghiệp khác đã thu hẹp lại, thì tính đúng đắn của lý thuyết này đã giảm đi rõ rệt Theo Salomon (1978) thì lý thuyết này chỉ đúng với những sản phẩm công nghiệp được đổi mới nhanh chóng

(3) Về quy mô thị trường

FDI mà một nước có thể tiếp nhận được tuỳ thuộc vào quy mô thị trường trong nước; quy mô đó được đo lường bằng lượng hàng hoá nhập khẩu

từ nước ngoài, chủ yếu là từ các TNCs, hoặc GDP của từng nước

Lý thuyết này hoàn toàn đúng trong trường hợp FDI thay thế hàng hập khẩu; vì mối tương quan giữa sản lượng gia tăng trong một nước với FDI được rút ra từ thuyết tân cổ điển về đầu tư trong nước Balassa (1966) cho rằng, quy mô thị trường đủ lớn cho phép chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm, từ

đó có thể đạt đến việc giảm chi phí và vốn đầu tư để bảo đảm lợi nhuận cận biên Do vậy, khi một nước đã phát triển đến trình độ cho phép khai thác lợi thế về quy mô thị trường đủ lớn để chuyên môn hoá các yếu tố sản xuất và tối thiểu hoá của chi phí thì trở thành nước có tiềm năng thu hút FDI

Tuy vậy, lý thuyết này cũng không giải thích được trường hợp FDI hướng vào xuất khẩu, mà một số quốc gia nhỏ như Singapore, hay đặc khu Hồng Kông đã thu hút được, mặc dù ở đó quy mô thị trường không đủ lớn TNCs thực hiện các dự án FDI ở nước khác xuất phát từ nhiều nhân tố khác nhau Một số nghiên cứu đã đưa ra những lập luận cho rằng, không chỉ là quy mô thị trường, hay độ lớn của GDP, mà là tốc độ tăng trưởng của GDP và việc

mở rộng thị trường trong nước, mở cửa đối với thị trường nước ngoài là các biến số để giải thích dòng chảy FDI vào một nước

Tuy vậy, theo một điều tra đã được đăng tải trên "The Economist" ngày 17/2/2000, dựa trên ý kiến của 135 cán bộ lãnh đạo, 1000 TNCs lớn trên thế giới, thì quy mô thị trường là yếu tố quan trọng của quyết định đầu tư

(4) Về đa dạng hoá đầu tư

Hoạt động FDI, cũng như hoạt động đầu tư nói chung gắn liến với yếu

tố rủi ro, do vậy việc lựa chọn các dự án khác nhau không những để đạt được

tỷ lệ lợi nhuận cao, mà còn nhằm để chia sẻ rủi ro

Lý thuyết này được nghiên cứu thông qua mối quan hệ giữa FDI đến một số nước với hai biến số quyết định là tỷ lệ lợi nhuận và rủi ro có nguồn gốc từ lý thuyết về sự lựa chọn đầu tư chứng khoán của Tobin (1958 và Marko-Witj (1959) Lý thuyết này hợp lý hơn lý thuyết về tỷ lệ lợi nhuận, bởi vì nó giải thích được FDI thực hiện vào những nước và một số ngành công

Trang 30

nghiệp không những có tỷ lệ lợi nhuận cao, mà còn được bảo đảm ít xảy ra rủi

ro Đó là lý thuyết dựa trên tiền đề của thị trường không hoàn hảo Agarwal (1980) và Hufbaner (1975) đã có các công trình thực nghiệm lý thuyết này khi xem xét mối quan hệ giữa tỷ trọng FDI ở một nhóm nước với hai biến số quyết định là tỷ lệ lợi nhuận và rủi ro, đã đo lường được xu hướng thay đổi dòng chảy FDI

Tuy vậy, lý thuyết này cũng gặp phải một số vấn đề nhất định: Một là,

FDI phải đánh đổi giữa tỷ lệ lợi nhuận với rủi ro; có thể chấp nhận rủi ro lớn

để thu lợi nhuận cao, hay rủi ro ít hơn để thu lợi nhuận thấp hơn; hai là, tỷ lệ

lợi nhuận và rủi ro được hình thành từ khi dự án bắt đầu, thường có sự khác biệt so với thực tế; do vậy, khó mà đảm bảo được mối tương quan như dự kiến;

ba là, biến số rủi ro khó có thể được đo lường thông qua các tài liệu lịch sử;

nó chịu nhiều tác động của các nhân tố chưa từng xuất hiện

Lý thuyết này có thể được sử dụng để giải thích FDI ở các nước ĐPT; nơi mà thị trường tài chính không hoàn hảo, còn thô sơ, khiến cho TNCs sử dụng FDI hơn là đầu tư chứng khoán vì FDI bảo đảm sự kiểm soát trực tiếp của nhà đầu tư đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Tuy vậy, cách tiếp cận của lý thuyết này không giải thích được, vì sao một công ty lại không sử dụng những lợi thế của mình đầu tư để sản xuất tại chính quốc rồi xuất khẩu sang các nước khác, mà lại chọn giải pháp FDI Hơn nữa, lý thuyết tổ chức công ty chỉ giải thích nguyên nhân của việc các TNCs thực hiện FDI ở nước ngoài, chứ không cắt nghĩa được vì sao họ chọn nước này chứ không phải là nước khác

Trang 31

(6) Về khu vực tiền tệ và tỷ giá hối đoái

Aliber (1971) đã đưa ra lý thuyết có liên quan đến sự so sánh giá trị của các đồng tiền khác nhau làm cơ sở giải thích FDI Theo đó, các doanh nghiệp của những nước có đồng tiền mạnh thường tiến hành đầu tư ra nước ngoài; còn những doanh nghiệp của nước có đồng tiền yếu thì ít có khả năng đó Lý thuyết này được hình thành trên cơ sở quan hệ giữa thị trường vốn, tình trạng ngoại tệ và các thị trường tài chính khác Trên thực tế, các nước phát triển có thể thực hiện xuất khẩu hàng hoá hoặc đầu tư ra nước ngoài, tuỳ thuộc vào giá trị của đồng tiền mỗi nước Khi đồng tiền tăng giá thì kéo theo xu hướng gia tăng FDI; điển hình là trường hợp Nhật Bản vào thập kỷ 70,80 của thế kỷ trước; hoạt động FDI của nước này đã được gia tăng mạnh mẽ khi mà tỷ giá

đồng Yên so với đồng USD đã từ khoảng 356 Yên/USD tăng lên 150 Yên/USD

Froot và Stein (1991) đã chi tiết hoá lý thuyết này dựa trên tính không hoàn hảo của thị trường, cho rằng một đồng tiền yếu có liên quan đến dòng FDI vào một nước, khiến cho chi phí đầu tư của nước đó thấp hơn so với chi phí của nước đi đầu tư Lý thuyết này được chứng minh bằng mối tương quan giữa dòng chảy FDI vào Mỹ với giá trị thực tế của đồng USD Từ lý thuyết đó,

tỷ giá hối đoái là biến số quan trọng đối với FDI; nếu đồng tiền một nước lên giá quá cao so với một số đồng tiền mạnh, thì các doanh nghiệp FDI sẽ gặp khó khăn trong việc sản xuất hàng xuất khẩu; bởi vì việc thay đổi tỷ giá hối

đoái làm thay đổi chi phí và thu nhập của nhà đầu tư; khi giá trị đồng tiền tăng lên thì lượng FDI sẽ giảm và ngược lại Froot và Stein (1991) cho rằng, một

đồng tiền yếu có thể liên quan đến dòng chảy FDI do sự không hoàn hảo của thị trường vốn Agarwal (1980) cảnh báo về sự lẫn lộn giữa lý thuyết tiền tệ và mối quan hệ giữa FDI với tỷ giá hối đoái Theo Ông, tỷ giá hối đoái mới là biến cố quan trọng đối với FDI vì FDI có thể được coi là yếu tố thay thế cho xuất khẩu hàng hoá

Tuy vậy, một số nhà kinh tế cho rằng, lý thuyết này không giải thích

được các mục đích của FDI là hướng về xuất khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu Trong trường hợp đồng tiền tăng giá thì kích thích mạnh mẽ FDI thay thế hàng nhập khẩu

(7) Về toàn cầu hoá

Toàn cầu hoá kinh tế thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chu chuyển vốn gắn với hoạt động đầu tư trong phạm vi khu vực và toàn thế giới Khả năng đó không chỉ đối với TNCs, mà cả doanh nghiệp vừa và nhỏ được tạo cơ hội để thực hiện các dự án đầu tư ở những nước, vùng lãnh thổ mà họ sẽ thu được lợi nhuận cao hơn và chi phí thấp hơn

Trang 32

Một số nhà kinh tế học cho rằng, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc

tế đã thúc đẩy FDI gia tăng mạnh mẽ

Thứ nhất, FDI nhằm thiết lập mạng lới toàn cầu

Toàn cầu hoá tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể dựa vào cả thị trường trong nước và thị trường thế giới để phát triển Các doanh nghiệp để tối

ưu hoá việc phân phối và sử dụng các nguồn lực, thực hiện chiến lược kinh doanh theo quan điểm toàn cầu đã thu được hiệu quả kinh tế cao nhất Việc

đặt trụ sở ở đâu, xây dựng nhà máy và mạng lưới bán hàng ở đâu được xem xét theo quan điểm toàn cầu

Đặc biệt, đối với các lĩnh vực kinh doanh tài chính, thương mại, việc thiết lập mạng lới toàn cầu có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Thứ hai, FDI nhằm tránh rào cản thơng mại

Trong điều kiện hội nhập kinh tế, để bảo hộ sản xuất trong nước, điều chỉnh mất cân đối cán cân thương mại, tăng dự trữ ngoại tệ, một số nước áp dụng chính sách hạn chế nhập khẩu hoặc dựng các rào thuế quan và phi thuế quan để hạn chế nhập khẩu, làm cho các doanh nghiệp nước ngoài gặp khó khăn trong việc thâm nhập thị trường của nước đó Để đối phó với tình hình

đó, các doanh nghiệp này tiến hành FDI để xây dựng cơ sở sản xuất tại các nước đó để sản xuất sản phẩm tiêu thụ tại chỗ, hoặc xuất khẩu

Ngoài ra, nhằm mục đích tránh thuế, TNCs thường đặt trụ sở ở những nơi được gọi là thiên đường về thuế (Tax Heaven) như Bahama, HongKong, Benanh

Thứ ba, FDI nhằm thiết lập một trật tự kinh tế theo mô hình "đàn nhạn" Mô hình "đàn nhạn" được Kaname Akamatsu đưa ra vào những năm

1961- 1962 Mô hình này nhấn mạnh vào sơ đồ liên tục của sự phát triển: Một quốc gia phát triển sau, được giải thích như là một quá trình thu được từ hoạt

động giao lưu với các nước lân cận giàu hơn thông qua thương mại, FDI, các hình thức khác của liên kết kinh tế Lý thuyết này cho rằng, khi nghiên cứu quá trình tăng trưởng của một nước không thể tách rời nó khỏi các nước khác Khi nghiên cứu FDI phải đặt trong mô hình phát triển liên tục Akamatsu chia quá trình phát triển thành 3 giai đoạn:

(1) Sản phẩm được nhập khẩu từ nước ngoài để phục vụ nhu cầu trong nước (2) Sản phẩm trong nước tăng lên để thay thế cho nhập khẩu

(3) Sản xuất trong nước để xuất khẩu

Trang 33

ĐTNN sẽ thực hiện ở giai đoạn cuối để đối mặt với sự thay đổi về lợi thế tương đối Theo mô hình này, giả sử một ngành công nghiệp của nước

đang phát triển có lợi thế tương đối về lao động, sẽ thu hút vào để khai thác lợi thế này, sau đó tiền công lao động này dần tăng lên đến mức mất đi lợi thế t-

ương đối của mình, và FDI vào ngành đó sẽ giảm đi Mặt khác, thu nhập trong nước tăng lên góp phần tăng tỷ lệ tiết kiệm trong nước, một số ngành sử dụng nhiều lao động chuyển sang ngành sử dụng nhiều vốn Khi đó các công ty trong nước đầu tư ra nước ngoài (nơi có lao động rẻ hơn) để khai thác lợi thế tại các nước Đó là quá trình liên tục của FDI Mô hình này cũng chỉ ra rằng , khi một nước FDI đã ở nấc thang cuối cùng của một ngành công nghiệp, từ giá trị gia tăng thấp sang cao, từ công nghệ lạc hậu sang công nghệ hiện đại, thì tỷ

lệ FDI ra nước ngoài sẽ tăng dần và có thể lớn hơn FDI vào trong nước Đóng góp đáng kể của mô hình này là sự tiếp cận "động" đối với FDI trong một thời gian dài, gắn với quá trình phát triển của nhiều nước

Ngoài ra còn một số lý thuyết FDI khác như về sự nội bộ hoá, về địa

điểm, lý thuyết chiết trong do phạm vi đề tài nên không đề cập đến trong phần này

1.1.3 Vai trò của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đối với các nước

đang phát triển

1.1.3.1.Vai trò của FDI đối với các nền kinh tế

Trên thực tế, FDI được xem như là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các chủ thể - bên đầu tư cũng như bên nhận đầu tư Tuy nhiên, đang tồn tại những quan niệm đối lập về vai trò và tác động của FDI

Có nhiều công trình nghiên cứu về FDI đã trợ giúp hay kìm hãm sự phát triển của nước nhận đầu tư Từ đó đã hình thành các trường phái ủng hộ và phản đối FDI

a, Đại diện cho quan điểm không ủng hộ FDI là Ronald Muller, người

đã cho rằng, việc các công ty đa quốc gia chuyển giao công nghệ tới các nước

ĐPT đã gây ra tình trạng thất nghiệp trên quy mô lớn, rằng chúng giành độc quyền hơn là đưa các nguồn lực tư bản mới vào, chúng thay đổi vị trí hơn là tạo dựng và tăng cường cho các doanh nghiệp trong nước, chúng làm tồi đi chứ không cải thiện được cán cân thanh toán của các nước ĐPT Fernando Henrique Cardoso, Enzo Faletto, Tonio Dos Santos cũng đưa ra hàng loạt những yếu tố tiêu cực nảy sinh từ việc tiếp nhận ĐTNN như tăng nợ nước ngoài, xuất hiện những liên minh giữa tư bản nước ngoài với Chính phủ của nước nhận đầu tư và bộ phận hướng ngoại của các hội đồng kinh doanh địa

Trang 34

phương Quan điểm này cho rằng, các quốc gia có thể xây dựng một nền kinh tế phát triển chỉ khi nó tạm thời tách mình ra khỏi nền kinh tế quốc tế, dựa chủ yếu vào nguồn lực trong nước

b, Trường phái ủng hộ FDI nhìn chung đã có cách nhìn tích cực đối với

ĐTNN Harry Johnson cho rằng, FDI mang lại cho nước tiếp nhận nguồn tư bản cả gói với giá rẻ, công nghệ tiên tiến, khả năng quản lý và những kiến thức ưu việt về thị trường; hơn nữa việc thu hút vốn nước ngoài tạo ra sự lan toả công nghệ và chuyển giao các kinh nghiệm quản lý từ các nước công nghiệp sang các nước ĐPT Thông qua việc chuyển giao công nghệ, các nhà

đầu tư, chủ yếu là các công ty đa quốc gia đã thiết lập được một hành lang xuất khẩu cho các nước ĐPT, đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ và tạo ra việc làm John Diebold đã chỉ ra rằng, việc tạo điều kiện cho xuất khẩu là một lợi ích quan trọng nhất mà các công ty đa quốc gia đã tạo ra cho các nước Mỹ Latinh Drucker thì cho rằng, việc giải quyết vấn đề thất nghiệp ở nhiều nước

đang phát triển sẽ mở rộng yêu cầu về sự hiện diện của các công ty đa quốc gia, với khả năng về marketing và xuất khẩu của họ

Thông qua FDI, các quốc gia đã được có vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển y tế, giáo dục Một số lĩnh vực công nghiệp và khai thác đòi hỏi phải có một khoản đầu tư tương đối lớn mà do thiếu vốn đầu tư, các Chính phủ đã phải kêu gọi nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Trong các hình thái của

ĐTNN, luồng vốn FDI là tương đối ổn định so với các luồng vốn khác Hơn nữa, điểm mạnh của FDI là không tạo ra nợ, lợi nhuận được chuyển về nước

đầu tư chỉ khi một dự án đã có thu nhập, hay phần lợi nhuận này nhiều khi

được tái đầu tư vào nước tiếp nhận Tuy nhiên, FDI được xem là nguồn tài trợ nước ngoài đắt hơn các nguồn khác Mức lợi nhuận của các công ty nước ngoài thường vượt mức lãi suất so với các khoản vay nợ khác Trong nhiều trường hợp, các công ty trong nước không thể triển khai được dự án vì thiếu nguồn lực tài chính Do đó, luồng vốn FDI ngày càng có vai trò quan trọng đối với các nước tiếp nhận đầu tư Chẳng hạn, năm 2001, tổng vốn FDI trên thế giới là 1.356 tỷ USD (∗) thì ở Trung Quốc đã nhận được là 69,195 tỷ (**), năm

2002 các con số tương ứng là 1.298 tỷ và 62,307 tỷ

FDI còn góp phần nâng cao tay nghề và giải quyết việc làm cho người lao động Không chỉ ở những nước đang phát triển, ngay cả ở những nước phát triển thì vấn đề tạo công ăn việc làm cho người lao động luôn là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi

() Thời báo kinh tế Việt Nam 29/01/2004

(**)

Niên giám Thống kê Trung Quốc hàng năm

Trang 35

nước Đối với các nước ĐPT, một trong những điều kiện tiên quyết của việc tiếp nhận FDI là phải tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Các dự án FDI

sử dụng nhiều lao động tại chỗ trong công nghiệp chế biến, lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử, trung tâm thương mại, khách sạn, văn phòng, các khu du lịch, vui chơi giải trí được khuyến khích và ưu đãi cao Phần lớn lao động trước khi

được nhận vào làm việc tại các khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã được đào tạo lại, nâng cao tay nghề, tiếp cận với trình độ kỹ thuật và quản lý tiên tiến Như vậy, FDI góp phần hình thành đội ngũ lao động có đủ năng lực quản lý và kỹ thuật để điều hành sản xuất, kinh doanh trong một môi trường mang tính cạnh tranh cao

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, sức mạnh của mỗi quốc gia, giá trị của mỗi dân tộc đang được đo chủ yếu bằng sức mạnh về kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, thì việc thu hút FDI là chìa khóa để giúp các nước

ĐPT tiếp cận được với nền khoa học công nghệ và kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý, góp phần khắc phục yếu kém về kỹ thuật, tụt hậu về khoa học công nghệ

Những tác động tích cực của FDI đã góp phần tăng năng suất lao động của nước nhận đầu tư, tạo ra sản phẩm dồi dào, thoả mãn đến mức tối đa nhu cầu của người tiêu dùng Hơn nữa, hàng hoá sản xuất ra được tiêu thụ trên thị trường thế giới nhờ chiến lược kinh doanh của các công ty đa quốc gia Sự quảng bá sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, trao đổi ngoại thương trên thị trường thế giới có tác động rất tích cực trong việc tạo hình ảnh mới về đất nước, về con người của nước nhận đầu tư Khu vực có vốn ĐTNN còn đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nước của quốc gia nhận đầu tư ở Trung Quốc, năm 2001 tổng số thuế công thương nghiệp cả nước thu được là 1.516

tỷ NDT thì riêng thuế thu được từ các doanh nghiệp có vốn ĐTNN là 288 tỷ NDT, chiếm tỷ lệ 19,01% Phần lớn hàng hoá của doanh nghiệp có vốn ĐTNN

được xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia và góp phần nâng cao

dự trữ ngoại tệ ở Trung quốc, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2002 khoảng 60% Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tăng lên không ngừng năm 1998 là 144,9 tỷ USD; năm 1999 là 154,7 tỷ và năm 2002 đạt trên 270 tỷ USD

Tuy vậy, FDI cũng có tác động tiêu cực đối với nước nhận đầu tư Những nước không thiết lập được sự kiểm soát hữu hiệu đã nhập khẩu trang thiết bị máy móc lạc hậu, có nguy cơ biến nước đó thành “bãi thải công nghiệp” Sự xuất hiện của tư bản nước ngoài có thể làm suy yếu một số doanh nghiệp trong nước, có doanh nghiệp do cạnh tranh không nổi đã bị phá sản

Trang 36

Khi nhà ĐTNN đặt mục tiêu lợi nhuận lên quá cao, coi nhẹ việc xử lý chất thải công nghiệp dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Ngoài ra, hiện tượng trốn thuế, lậu thuế, việc không tuân thủ luật pháp đối với người lao động bản

địa và một số tác động tiêu cực về xã hội, là mặt trái của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN Tuy nhiên, các hạn chế của ĐTNN phụ thuộc vào năng lực quản

lý Nhà nước cũng như trình độ tiếp nhận ĐTNN của các doanh nghiệp trong nước

1.1.3.2 Vai trò của FDI đối với các nước ĐPT

Vai trò của FDI đối với các nước ĐPT được xác định trên hai khía cạnh

có quan hệ gắn bó với nhau là tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu cho các nước

ĐPT và từ đó có tác động lan toả, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Để phát triển kinh tế nói chung phải bảo đảm bốn yếu tố là nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ Các nước ĐPT đều thiếu vốn và công nghệ Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chỉ ra, để có nguồn vốn tích luỹ ban đầu, các nước tư bản đã`phải trải qua con đường tích luỹ nguyên thuỷ hàng trăm năm, thông qua các biện pháp mang tính chất cưỡng bức, tước đoạt Ngày nay, nhờ có FDI, các công ty xuyên quốc gia, những nhà ĐTNN đưa vốn

và công nghệ đến các nước ĐPT để đầu tư Đây là con đường tích luỹ vốn nhanh nhất, có hiệu quả nhất đối với các nước ĐPT

FDI đóng vai trò to lớn đối với quá trình tạo vốn cho tăng trưởng kinh

tế, thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghệ, cung cấp know-how, tăng xuất khẩu và tăng việc làm ở các nước ĐPT; có tác động lan toả đối với nền kinh tế

và được coi là một trong những đầu tầu của sự tăng trưởng kinh tế

Trong thời kỳ đầu CNH, một số nước đang phát triển chỉ tiếp nhận một lượng FDI so với tổng vốn đầu tư xã hội dưới 5% như Hàn Quốc (1,9%), Đài Loan (2,0%), Philippin (4,9%); trong khi Côlumbia (15,8%), Vênêxuêla (10%), Hồng Kông (15,2%), Inđônêxia (10,9%); Achentina (23,9%), Malaixia (26,6%); nước nhận FDI ở mức cao kỷ lục là Xingapor (65,3%) Trong số các nước và lãnh thổ trên đây, Hàn Quốc và Đài Loan là những nền kinh tế trên 90% là ODA và đầu tư gián tiếp Nguyên nhân chính là do ở các nền kinh tế này có một chính phủ hỗ trợ mạnh cho các hoạt động kinh doanh, kết hợp với một giới doanh nhân trong nước năng động, có khả năng sử dụng hiệu quả các nguồn vốn vay Đối với những nước không có các khả năng đó mà vay nhiều thì sẽ rơi vào “bẫy nợ” của nước ngoài, trong trường hợp như vậy, tiếp nhận FDI là có lợi hơn Để nâng cao, năng lực cạnh tranh và tăng hiệu quả sử dụng vốn, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho

Trang 37

doanh nghiệp trong nước phát triển mạnh mẽ, làm nòng cốt cho các hoạt động kinh doanh Malaixia là nước thực hiện khá thành công chính sách này

FDI tạo ra nhiều việc làm ở các nước ĐPT; tuy vậy, người ta thấy số người làm việc trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với tổng số người có việc làm ở các nước ĐPT chênh nhau khá xa, nước đạt tỉ lệ cao nhất là Xingapo 54,6%, tiếp đến là Braxin 23%, Mêhicô 21%, ở phần lớn các nước khác tỉ

lệ đó là gần 10%, những nước đạt tỉ lệ thấp nhất là Inđônêxia 0,8%, Achentina 1,2%, Hàn Quốc 2,3%

FDI đóng một vai trò rất quan trọng trong sản xuất công nghiệp ở các nước ĐPT Các chi nhánh, công ty nước ngoài đã sản xuất 78% giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo của Philippin, 62,9% của Xingapor, 43,4% của Côlumbia, 39,8% của Malaixia, 35,9% của Vênêxuêla, 32% của Braxin, 29,8% của Mêhicô, 29,4% của Achentina, 27% của Indônêxia

FDI chiếm tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu ở nhiều nước; như Singapor là 72,1%, Braxin 37,2%, Mêhicô 32,1%, Đài Loan 25,6%, Hàn Quốc 24,6%, Achentina 24,9%, Thái Lan 22,7%, Hồng Kông 16,5%, Côlumbia 14,4% Trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá, Thái Lan chưa thu hút

được nhiều vốn FDI, nhưng càng về sau tư bản nước ngoài ngày càng đầu tư mạnh vào Thái Lan Năm 1988 ở Thái Lan FDI trong nông nghiệp, khai mỏ và thăm dò dầu khí chỉ có 12,2%, gần 90% tập trung vào các ngành công nghiệp;

do đó FDI đã đóng vai trò to lớn thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất và xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của nước này

Gắn liền với sự phát triển công nghiệp là việc chuyển giao công nghệ Tại các nước ĐPT, công nghệ trong nước thường là công nghệ cổ truyền, lạc hậu, năng suất thấp; các công nghệ mới, hiện đại ở các nước ĐPT được đưa từ nước ngoài thông qua các kênh nhập khẩu công nghệ, viện trợ và trao đổi khoa học, chuyển giao công nghệ Thực tế cho thấy rằng khả năng tự nhập khẩu công nghệ của các nước ĐPT là rất hạn chế, chính vì vậy, đối với các nước

này, việc thực hiện một chính sách đa dạng hoá các kênh chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, đặc biệt là chính sách công nghệ đối với FDI có ý nghĩa

rất quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá đất nước

Về cơ cấu ngành, khoảng hai thập kỉ gần đây, khu vực dịch vụ đang ngày càng thu hút FDI nhanh hơn các ngành khác, kể cả ở các nước phát triển

và đang phát triển Chính vì vậy từ vòng đàm phán Uruguay, dịch vụ đã trở thành một trong những chủ đề chính Hiện nay những lĩnh vực dịch vụ thu hút nhiều ĐTNN gồm có du lịch, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, thương mại và viễn thông

Trang 38

Nghiên cứu về vai trò của các nguồn vốn ĐTNN đối với các nước ĐPT còn phải quan tâm tới mối quan hệ của vốn ĐTNN với các nguồn vốn khác như thu nhập xuất khẩu, nguồn vốn ODA, nguồn tiết kiệm trong nước và nguồn kiều hối từ nước ngoài gửi về

Kinh nghiệm của nhiều nước châu á chỉ ra rằng, tiết kiệm trong nước, tiếp đến là ngoại thương và ĐTNN tạo nên đầu tầu tăng trưởng quan trọng nhất, tiếp đến là ODA và các nguồn vốn quốc tế khác Tuy vậy, trong trường hợp

miền Nam Việt Nam từ thập kỷ 1950 đến giữa thập kỷ 1970 thì viện trợ nước ngoài chủ yếu nhằm thực hiện các điều kiện của Mỹ về thúc đẩy chiến tranh, nuôi dưỡng bộ máy chính quyền và quân đội bản địa, không có tác động khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp mới, biến miền Nam Việt Nam từ một nền kinh tế sản xuất lương thực dư thừa và xuất khẩu lương thực lớn ở Đông Dương trong các thập kỷ 30-40 thành một nước thiếu lương thực trầm trọng; trong các thập kỷ 60-70 của thế kỷ trước mỗi năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực Nền kinh tế Nam Việt Nam lúc đó đã trở thành một nền kinh tế sống dựa vào viện trợ Đông Phi ngày nay có nhiều nét tương tự như Đông á trong các thập kỷ 50,60 của thế kỷ trước Việc định hướng lại và coi trọng hơn vai trò của tiết kiệm trong nước, của thương mại và đầu tư so với viện trợ nước ngoài, đối với tăng trưởng kinh tế là rất cần thiết cho các nước

đang tiến hành CNH như nước ta

Do FDI đóng vai trò là một trong những đầu tầu của sự tăng trưởng kinh

tế, do đó việc giảm sút FDI sẽ tác động giảm tốc độ tăng trưởng Đây là một thực tế cay đắng mà không ít nước ĐPT đã phải gánh chịu khi xảy ra các cuộc khủng hoảng kinh tế Điển hình là trong cuộc khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ tháng 7/1997 tại Châu A', hàng loạt nền kinh tế như Thái Lan, Hàn Quốc, Inđônêxia đã rơi vào suy thoái trầm trọng, tăng trưởng GDP đang từ tốc độ 7-8% đã tụt xuống -5-6%/năm

1.1.3.3 Vai trò của FDI đối với việc xây dựng nền kinh tế thị trường

định hướng x∙ hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Vai trò của ĐTNN đối với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có thể xem xét dưới những góc độ sau đây

Thứ nhất, FDI tạo ra cơ hội cũng như thách thức đối với sự phát triển bền vững

Ngày nay, phát triển bền vững đang là mục tiêu quan trọng của các quốc gia trên toàn thế giới Phát triển bền vững được hiểu là sự tăng trưởng kinh tế đi liền với cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường

Trang 39

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo

vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường"

Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên và có lực lượng lao động dồi dào, song các yếu tố về vốn, trình độ cũng như tay nghề của lực lượng lao động còn rất nhiều hạn chế, khoa học công nghệ đã tụt hậu khá xa so với các nước phát triển Vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định vai trò quan trọng của việc thu hút FDI và đề ra nhiều giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút FDI, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam về bản chất, là một kiểu tổ chức và phát triển nền kinh tế - xã hội vừa dựa trên nguyên tắc, quy luật của kinh tế thị trường và nguyên tắc, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Định hướng này không chỉ đòi hỏi nền kinh tế tăng trưởng ở mức cao mà còn

đòi hỏi phải xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh; trong đó phát triển nguồn nhân lực và phát triển xã hội bền vững được coi là trọng tâm

Nhu cầu vốn cho việc thực hiện các mục tiêu trong chiến lược kinh tế - xã hội của nước ta vượt xa khả năng huy động các nguồn lực trong nước Do vậy, ĐTNN là một nguồn vốn quan trọng cần được huy động tối đa và sử dụng

có hiệu quả

Ngày 29/12/1987 Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 2 đã thông qua Luật

ĐTNN Đây là đạo luật đầu tiên được xây dựng theo kinh tế thị trường và cũng

là đạo luật đầu tiên thể hiện đường lối mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Kể từ năm 1988 đến nay, FDI đã tác động đến cả chiều rộng và chiều sâu của quá trình tăng trưởng kinh tế Việt Nam Từ năm 1991 đến năm

1998 trung bình hàng năm vốn nước ngoài chiếm khoảng 28,7% tổng vốn đầu tư xã hội; trong đó thời kỳ 1991 - 1995 tỷ lệ đó là 25,7%, từ năm 1996 - 1998 gần 30% Tỷ lệ đóng góp của FDI vào GDP cũng không ngừng tăng lên theo thời gian, năm 1992 là 2%, năm 1993 là 3,6%; năm 1998 là 7,8% Năm 2000, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN chiếm tỷ trọng 13,3 GDP nói chung và 19,5% GDP trừ hộ gia đình; chiếm tỷ trọng 35,5% tổng sản lượng công nghiệp và 18,6% tổng vốn đầu tư xã hội

Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đóng góp vào Ngân sách Nhà nước trong thời kỳ 1995-2005 đạt bình quân 6 - 7%/ năm

Trang 40

Đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam Do đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và dịch

vụ, ĐTNN đã góp phần nâng cao tỷ trọng giá trị công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm xã hội, mặt khác, nhiều ngành sản xuất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước đã ra đời như sản xuất xi măng; lắp ráp, sản xuất xe máy, ô tô; viễn thông quốc tế; thăm dò và khai thác dầu khí v.v Các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đã được xuất khẩu ngày càng nhiều Sản phẩm hàng hoá của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN chiếm 35,5% tổng sản lượng công nghiệp và 33,8% kim ngạch xuất khẩu Năm 2003 của khu vực kinh tế có vốn

ĐTNN đạt mức 6,225 tỷ USD, tăng 35,3% so với năm 2002, năm 2004 đạt 8,82 tỷ USD tăng 39% so với năm 2003 và chiếm 33% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nếu tính cả dầu khí thì trên 50%

Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cũng thu hút và giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động, đến năm 2004 ước tính khoảng gần 850 ngàn lao

động trực tiếp Lao động trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN được làm quen với phong cách và kỷ luật lao động mới, trình độ tay nghề từng bước

được nâng cao phù hợp với yêu cầu của từng doanh nghiệp Cũng cần lưu ý rằng, đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, khi đã đạt được trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý sẽ trở thành nguồn lực chủ yếu phục vụ cho sự nghiệp CNH đất nước

Vấn đề chuyển giao công nghệ thông qua FDI cũng được đánh giá cao tại Việt Nam Nhiều công nghệ mới, tiên tiến đã được du nhập vào Việt Nam như thiết kế, chế tạo máy biến thế; dây chuyền tự động lắp ráp hàng điện tử; công nghệ sản xuất cáp điện; công nghệ thông tin v.v Tuy còn có những ý kiến khác nhau về trình độ công nghệ do nhập vào Việt Nam từ khi thực hiện FDI, nhưng theo đánh giá của Bộ kế hoạch và Đầu tư, “phần lớn trang thiết bị

do các đối tác đầu tư vào Việt Nam là đồng bộ, có trình độ bằng hoặc hơn các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập ở các nước công nghiệp trong khu vực Hoạt động chuyển giao công nghệ đã tạo ra nhiều sản phẩm mới, kiểu dáng đẹp, chất lượng đạt tiêu chuẩn Việt Nam và một số đạt tiêu chuẩn quốc tế”

Tóm lại, có thể nói hoạt động ĐTNN ở Việt Nam trong những năm vừa qua đã có những đóng góp quan trọng, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tích cực và nâng cao trình độ công nghệ chung của các ngành kinh tế

FDI cũng đặt ra những thách thức, đe doạ sự phát triển bền vững đối với nền kinh tế nước ta, nhất là về môi trường và bất bình đẳng xã hội

Ngày đăng: 15/05/2014, 14:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Balasubramanyam, VN; Salisu, M; Sapsford, David. 1996, ‘§TNN and growth in EP and IS countries’, The Economic Journal, Vol 106, Iss 434 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economic Journal
4. Ben Aris 2003, ‘The foreign investment mystery’, Euromoney, London: Sep 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Euromoney
5. Bộ Kế hoạch, Đầu t− (MPI) và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), 2003, Nghiên cứu về chiến l−ợc xúc tiến ĐTNN tại n−ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, MPI, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về chiến l−ợc xúc tiến ĐTNN tại n−ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
6. Blomstrom, M. and Persson, H. (1983) “Foreign Investment and Spillover Efficiency in an Underdeveloped Economy: Evidence from the Mexican Manufacturing Industry”, World Development, vol 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Investment and Spillover Efficiency in an Underdeveloped Economy: Evidence from the Mexican Manufacturing Industry
7. Borensztein, E. De Gregorio, J. and Lee, J. W. (1995) “How does Foreign Direct Investment Affect Economic Grrowth?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: How does Foreign Direct Investment Affect Economic Grrowth
Tác giả: Borensztein, E., De Gregorio, J., Lee, J. W
Năm: 1995
10. Chandana Chakraborty, Parantap Basu, Derrick Reagle 2003, ‘Liberalization, §TNN and growth in developing countries: A panel cointegration approach’, Economic Inquiry, Vol 41, Iss 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Inquiry
11. Caves, R. E. (1974) “Multinational Firms, Competition and Productivity in Host Country markets” Economica, Vol 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multinational Firms, Competition and Productivity in Host Country markets
12. Chandana Chakraborty, Parantap Basu 2002, ‘§TNN and growth in India: A cointegration approach’, Applied Economics, Vol 34, Iss 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Applied Economics
14.Mai Thế C−ờng, 2004, Đầu t− trực tiếp n−ớc ngoài và tăng tr−ởng xuất khẩu theo h−ớng công nghiệp hoá của Việt Nam, Bài viết trình bày tại hội thảo “Kinh tế mở, chế độ tỷ giá hội đoái và hội nhập khu vực ở Châu á , Hà Nội ngày 6 và 7/4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu t− trực tiếp n−ớc ngoài và tăng tr−ởng xuất khẩu theo h−ớng công nghiệp hoá của Việt Nam
15. David Deok-Ki Kim, Jung-Soo Seo 2003, ‘Does §TNN inflow crowd out domestic investment in Korea?’, Journal of Economic Studies, Vol 30, Iss 5/6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Economic Studies
16. Lê Đăng Doanh "Cơ sở khoa học hình thành đồng bộ hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá" đề tài khoa học cấp Nhà n−ớc, tháng 6/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học hình thành đồng bộ hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà n−ớc thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá
17. Le Dang Doanh" Foreign Direct Investement in Vietnam: Results, Achievements and Prospects", IMF, Conference on Foreign Direct Investment: Opportunities and Challenges for Cambodia, Laos and Vietnam, Hanoi, August 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Direct Investement in Vietnam: Results, Achievements and Prospects
18. Dunning, J. H. (1973) “The Determinants of International Production” Oxford Economic Papers, Vol 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Determinants of International Production
19. E Borensztein, J De Grgorio, J-W Lee 1998, ‘How does §TNN affect economic growth?’, Journal of International Economics, Vol 45, Iss 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International Economics
20.E M Ekanayake, Richard Vogel, Bala Veeramacheneni 2003, ‘Openness and economic growth: Empirical evidence on the relationship between output, inward§TNN, and trade’, Journal of Business Strategies, Vol 20, Iss 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Business Strategies
21. Hejazi W and Pauly P 2003, ‘Motivations for §TNN and domestic capital formation’, Journal of International Business Studies, Vol 34, Iss 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International Business Studies
24.JETRO, Báo cáo về môi tr−ờng kinh doanh ở Đông Nam á 2003. Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam 15.06. 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về môi tr−ờng kinh doanh ở Đông Nam á 2003
Tác giả: JETRO
Nhà XB: Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam
Năm: 2004
26.Findlay, R. (1978) “Relative Backwardness, Direct Foreign Investment and the Transfer of Technology: A simple Dynamic Model” Quarterly Journal of Economics, Vol 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relative Backwardness, Direct Foreign Investment and the Transfer of Technology: A simple Dynamic Model
27. Kazi Matin, Sarath Rajapatirana và Prema Chandra Athokorala, 2003, Việt Nam: Đẩy mạn đổi mới để tăng trưởng xuất khẩu, Diễn đàn Việt Nam sẵn sàng gia nhập WTO, Hà nội 6/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: Đẩy mạn đổi mới để tăng tr−ởng xuất khẩu
29. Niên giám thống kê Việt Nam. NXB Thống Kê từ 1988 đến 2003 30. Kelpman, E. (1984) “A simple Theory of International Trade With Multinational Corporations” , Journal of Political Economy, Vol 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A simple Theory of International Trade With Multinational Corporations
Nhà XB: NXB Thống Kê từ 1988 đến 2003 30. Kelpman

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.1  Tỷ phần Mỹ, Nhật Bản và EU trong dòng vốn ĐTNN thế giới - Khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài  vị trí và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam
th ị 1.1 Tỷ phần Mỹ, Nhật Bản và EU trong dòng vốn ĐTNN thế giới (Trang 45)
Đồ thị 1.2.: Luồng vốn đầu tư của Nhật bản vào các nước chọn lọc trong giai đoạn  1989-2001 - Khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài  vị trí và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam
th ị 1.2.: Luồng vốn đầu tư của Nhật bản vào các nước chọn lọc trong giai đoạn 1989-2001 (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w