LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay em đã hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với tên đề tài:"Tìm hiể
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phụ nữ trong các hộ gia đình trên địa bàn xã Chiềng Hoa – huyện Mường La – tỉnh Sơn La
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu được khai triển từ ngày 20/02/2019 đến ngày 20/5/2019
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Chiềng Hoa – huyện Mường La – tỉnh Sơn La.
Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn xã Chiềng Hoa – huyện Mường La – tỉnh Sơn La Chiềng Hoa
Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Chiềng Hoa, nhưng họ đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và trở ngại Việc phát huy vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực này cần được chú trọng hơn, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện đời sống cho gia đình Các thách thức như thiếu nguồn lực, hạn chế về kiến thức và kỹ năng, cũng như sự phân biệt giới tính vẫn đang cản trở sự phát triển của họ Do đó, cần có những giải pháp cụ thể để hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ tham gia tích cực hơn vào hoạt động kinh tế hộ gia đình.
Để phát huy vai trò của phụ nữ xã Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La trong phát triển kinh tế hộ gia đình, cần đề xuất một số giải pháp chủ yếu như: nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ trong kinh tế, tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn và kỹ thuật, tổ chức các lớp đào tạo nghề phù hợp, khuyến khích phụ nữ tham gia vào các hoạt động sản xuất và kinh doanh, cũng như xây dựng các mô hình hợp tác xã do phụ nữ lãnh đạo Những giải pháp này sẽ giúp tăng cường sự tham gia của phụ nữ, từ đó góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho các hộ gia đình.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
* Chọn địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu cần phản ánh các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa và môi trường, đặc biệt là cộng đồng người dân tộc Thái, nhằm làm rõ vai trò của phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình Tôi đã chọn ba bản đại diện để tiến hành nghiên cứu: bản Pia, Nà Cưa và Huổi Lay.
Số lượng mẫu lựa chọn nghiên cứu được xác định theo công thức của Slowin
(1960), độ tin cậy 90%, sai số 10%: n = N
(1+N.e 2 ) Trong đó: n là cỡ mẫu e là sai số cho phép
N là tổng số hộ trong khu vực nghiên cứu
Sau khi xác định vùng nghiên cứu, chúng tôi đã ngẫu nhiên chọn 60 hộ gia đình từ danh sách, đảm bảo bao gồm đủ ba nhóm: khá, trung bình khá và nghèo Kết quả thu được như sau:
+ Hộ trung bình khá 30 hộ
Sau khi xác định số lượng mẫu và địa điểm điều tra, bước tiếp theo là thiết kế phiếu điều tra để thu thập thông tin về tình hình sản xuất và kinh doanh của các hộ được khảo sát.
Việc thu thập thông tin về tình hình hộ gia đình thông qua phiếu điều tra xây dựng trước là rất quan trọng Phiếu điều tra này giúp thu thập các dữ liệu định tính và định lượng liên quan đến sản xuất cũng như nguyên nhân gây ra nghèo đói trong hộ.
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập thông tin thứ cấp là những thông tin có sẵn, được tổng hợp từ trước và đã được công bố
Dữ liệu được thu thập từ các thống kê và báo cáo tổng kết của UBND, cũng như báo cáo tổng kết các hoạt động của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ xã Chiềng Hoa.
- Một số sách, báo, công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề về vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
* Phương pháp thu thập: Qua việc ghi chép, thống kê các dữ liệu cần thiết cho đề tài với số chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn
* Nguồn số liệu: Trên cơ sở các mẫu điều tra 60 hộ đã chọn, thu thập thông tin bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp
Thu thập thông tin sơ cấp là quá trình thu thập dữ liệu trực tiếp thông qua các cuộc điều tra và phỏng vấn cán bộ, người lao động Việc này giúp xác định nguyên nhân của các vấn đề tồn tại và các biện pháp ứng phó của địa phương, từ đó cho phép phân tích sâu hơn và đưa ra các kiến nghị cùng biện pháp kịp thời.
* Phương pháp phỏng vấn vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi:
Thu thập các số liệu bằng hệ thống các câu hỏi đã được soạn thảo trước
- Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở
- Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế theo các nhóm thông tin sau:
1 Nhóm thông tin chung về hộ gia đình
2 Nhóm thông tin về ngành nghề phân loại hộ và vốn vay của h ộ
3 Nhóm thông tin về vai trò phụ nữ trong hoạt động sản xuất
4 Nhóm thông tin về vai trò phụ nữ trong hoạt động cộng đồng
5 Nhóm thông tin về tiếp nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ
6 Nhóm thông tin về vai trò phụ nữ trong hoạt động khác: Tái sản xuất, khinh doanh hàng hóa, dịch vụ
7 Nhóm thông tin về một số ý kiến đóng góp nhằm nâng cao vị thế và vai trò của phụ nữ
3.4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
3.4.3.1 Phương pháp xử lý số liệu
Dựa vào số liệu đã thu thập, tiến hành tổng hợp và phân tích, đánh giá vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
Các số liệu định lượng được tổng hợp trên phần Exel
3.4.3.2 Phương pháp thông kê so sánh
Bài viết so sánh số liệu qua các năm và giữa các nhóm hộ giàu, khá, trung bình, nghèo để làm nổi bật sự khác biệt trong vai trò của người phụ nữ Qua đó, chúng ta có thể đưa ra những nhận xét và đánh giá về thực trạng này.
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Xã Chiềng Hoa, thuộc huyện Mường La, nằm cách trung tâm huyện 29,61 km và có điều kiện giao thông khó khăn Dân cư ở đây sống thưa thớt, trải dài dọc theo hai bờ Sông Đà Về mặt địa lý, xã Chiềng Hoa giáp với xã Chiềng Công và Chiềng Ân ở phía Đông, xã Pắc Ngà huyện Bắc Yên ở phía Nam, xã Mường Chùm ở phía Tây, và xã Tạ Bú, Chiềng San ở phía Bắc.
Xã có tổng diện tích tự nhiên 7.091,55 ha, với 1.536 hộ và 7.233 nhân khẩu, trong đó có 3.831 nam và 3.403 nữ Tổng số lao động trong xã là 4.013 người, cùng với 21 bản Mật độ dân số bình quân đạt 102 người/km², chủ yếu gồm hai dân tộc Thái và Mông sinh sống.
Xã Chiềng Hoa có địa hình phức tạp, nằm dọc hai bên bờ Sông Đà, với nhiều khe suối lớn nhỏ Khu vực này chủ yếu là các dãy núi cao, độ dốc lớn, đất bạc màu và tầng canh tác mỏng, có độ cao trung bình khoảng 700m so với mực nước biển.
Xã Chiềng Hoa có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, tập trung lượng mưa chủ yếu vào tháng 6, 7, 8; và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, trong đó gió tây khô nóng gây ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng.
+ Lượng mưa trung bình 1.500- 1.800 mm/năm
+ Lượng bốc hơi nước trung bình từ 750- 800 mm/năm Tổng số giờ năng bình quân 1.825 giờ/năm
Xã Chiềng Hoa có nguồn nước chính phục vụ cho đời sống, sinh hoạt và sản xuất Dân cư tại đây sống thưa thớt, phân bố dọc theo hai bờ Sông Đà Phía Đông giáp xã Chiềng Công và Chiềng Ân, phía Nam giáp xã Pắc Ngà huyện Bắc Yên, phía Tây giáp xã Mường Chùm, và phía Bắc giáp xã Tạ Bú, Chiềng San.
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2018
STT Chỉ tiêu Diện tích
Tổng diện tích đất tự nhiên 7091,55 100
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 4360,31 61,486
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 4021,01 56,701
1.1.1.2 Đất trồng cây hàng năm khác 3687,7 52,001
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 339,3 4,785
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 35,12 0,495
2 Nhóm đất phi nông nghiệp 548,89 7,74
2.2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan 0,02 0
2.2.2 Đất xây dụng công trình sự nghiệp 5,45 0,077
2.2.3 Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 0,07 0,001
2.2.4 Đất sử dụng vào mục đích công cộng 96,74 1,364
2.3 Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, hỏa táng 16,12 0,227
2.4 Đất sông, ngòi, kênh, rạch,suối 368,42 5,195
3 Nhóm đất chưa sử dụng 333,83 4,707
3.1 Đất đồi núi chưa sử dụng 333,83 4,707
(Nguồn: Ban địa chính xã Chiềng Hoa, 2018)
Chiềng Hoa có tổng diện tích tự nhiên 7.091,55 ha, với hai loại đất chính Nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi có tầng đất dày từ 0,6 đến 1,2m, với thành phần cơ giới trung bình và nhẹ Đất này có hàm lượng mùn và đạm ở tầng mặt khá nghèo, nhưng kali trao đổi lại phong phú Ở những khu vực có độ dốc lớn, đất thích hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp và tạo rừng đầu nguồn, trong khi những vùng thấp hơn với địa hình thoải hoặc lượn sóng có thể trồng cây ăn quả, rau cỏ ôn đới và các cây đặc sản như quế, hồi.
Nhóm đất đỏ vàng có tầng đất dày trên 1,5m, với thành phần cơ giới trung bình và nặng, kết cấu cục, hạt, và lớp đất mặt tơi xốp Mặc dù hàm lượng mùn và đạm tổng số ở mức trung bình, nhưng các chất dinh dưỡng như lân và kali lại nghèo nàn Đây là loại đất chiếm diện tích lớn nhất và có tính chất tốt trong các loại đất đồi núi, hiện đang được sử dụng hiệu quả trong sản xuất nông lâm nghiệp Nó thích hợp cho việc trồng các loại cây như cao su, sở, cà phê, cũng như các cây nông sản như ngô, lạc, sắn, và lúa nương Đối với những địa điểm bị xói mòn, nên trồng cây lâm nghiệp Ngoài đất đỏ vàng, xã còn có các loại đất khác như đất màu nâu vàng trên mẫu chất phù sa cổ và đất feralít biến đổi do trồng lúa nước, nhưng số lượng không đáng kể Diện tích đất nông nghiệp chiếm 87,552% tổng diện tích đất tự nhiên, tạo tiềm năng lớn cho phát triển nông - lâm nghiệp của toàn xã.
Trên địa bàn xã đang triển khai khoan thăm dò để tìm kiếm nguồn khoáng sản trong lòng đất chưa phát hiện nguồn khoáng sản lớn
Xã có tổng diện tích tự nhiên 7.091,55 ha, với 1.536 hộ và 7.233 nhân khẩu, trong đó có 3.831 nam và 3.403 nữ Tổng số lao động trong xã là 4.013 người, cùng với 21 bản Mật độ dân số bình quân đạt 102 người/km², chủ yếu gồm hai dân tộc Thái và H’mông sinh sống.
+ Dân tộc thái: có 1,373 hộ; có: 6.326 người chiếm 87,46%
+ Dân tộc mông: có 163 hộ; có: 907 người chiếm 12,54%
Xã Chiềng Hoa là một vùng đất cổ với lịch sử hình thành và phát triển sớm, nơi mà các dân tộc luôn gìn giữ nét văn hóa truyền thống đặc trưng Sự hòa nhập giữa các nền văn hóa đã làm phong phú thêm bản sắc văn hóa chung của xã Mặc dù không có làng nghề truyền thống, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính quyền, cán bộ và nhân dân xã Chiềng Hoa luôn đoàn kết và thống nhất.
Xã Mường La, một vùng sâu, vùng xa, đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng diện tích rừng nhờ vào sự quan tâm của các cấp, các ngành trong những năm gần đây Phong trào trồng rừng và phủ xanh đất trống đồi núi trọc đã mang lại sự đa dạng và phong phú cho cây trồng Bên cạnh đó, việc trồng cây xanh để làm đẹp cho cơ quan, đường làng, ngõ xóm cũng được chú trọng, tạo nên cảnh quan đẹp và môi trường trong sạch, mát mẻ, chưa có dấu hiệu ô nhiễm không khí và nguồn nước.
Mỗi mảnh đất đều mang trong mình một nền văn hóa độc đáo, và xã Chiềng Hoa, nằm ở vùng sâu, vùng xa, là một ví dụ điển hình Nơi đây nổi bật với công trình thủy điện vĩ đại và lòng hồ rộng lớn, cùng với các bản làng thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa của các dân tộc anh em Với tiềm năng du lịch thủy điện và du thuyền trên lòng hồ sông Đà, Chiềng Hoa còn thu hút du khách bởi các lễ hội văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc Thái.
Lễ hội Khuống, lễ hội Khắp Then, lễ hội Mừng cơm mới Đây chính là cơ sở, điều kiện thuận lợi để phát triển ngành dịch vụ - du lịch
Xã Mường La có địa hình, khí hậu và đất đai lý tưởng cho phát triển nông – lâm nghiệp, cần khai thác triệt để lợi thế địa phương để xây dựng nền kinh tế ổn định và vững chắc Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cần thiết, đồng thời tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất Đầu tư vào giống cây trồng mới với năng suất và chất lượng cao sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.
Xã miền núi gặp nhiều khó khăn do địa hình chia cắt, trình độ dân trí không đồng đều và chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Các ngành nghề chưa phát triển, nguồn vốn hạn chế, và hoạt động thương mại, dịch vụ còn chậm phát triển và đơn lẻ Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi diễn ra chậm, trong khi hàng năm, lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất xảy ra ở một số vùng canh tác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của người dân trong xã.
4.1.2 Tình hình kinh tế xã hội
4.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Năm 2018, xã Chiềng Hoa, một vùng sâu của huyện Mường La, đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển kinh tế xã hội do trình độ dân trí không đồng đều và tỷ lệ hộ nghèo cao Đời sống người dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông lâm nghiệp, nhưng việc ứng dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế, cùng với giá vật tư nông nghiệp cao và giá nông sản không ổn định, đặc biệt là giá thịt lợn hơi giảm thấp, đã ảnh hưởng đến thu nhập Thêm vào đó, đợt mưa lũ đầu tháng 10 và cơn bão số 2 gây thiệt hại khoảng 81,8 tỷ đồng về nhà cửa, hoa màu và tài sản Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, HĐND – UBND xã và sự quyết tâm của các ban ngành đoàn thể, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh năm 2018 đã đạt được những kết quả quan trọng.
- Tổng sản lượng lương thực cây có hạt năm 2018 đạt 52066 tấn
- Hướng dẫn và thực hiện các thủ tục hành chính cho người lao động đi làm ăn xa Đăng ký cho 1 công dân đi xuất khẩu lao động
- Tỷ lệ hộ nghèo là 41,28%
- Tỷ lệ hộ cận nghèo là 9,2 %
- Tỷ lệ trẻ em được tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin đạt 95%
- Tỷ lệ người sử dụng nước hợp vệ sinh là 70%
- Tỷ lệ hộ được xem Đài truyền hình Việt Nam, nghe Đài tiếng nói Việt Nam 100%
- Tỷ lệ đàn gia súc, gia cầm đạt 85,5%
Bảng 4.2: Diện tích, năng xuất, sản lượng một số cây trồng chính của xã năm 2018 Chỉ tiêu Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Ban địa chính xã Chiềng Hoa, 2018)
Diện tích gieo trồng đã đạt kế hoạch NQHĐND xã giao, nhưng cơn lũ lịch sử từ 9 đến 13/8/2017 đã gây thiệt hại nghiêm trọng, làm vùi lấp cây gỗ và cuốn trôi ruộng vườn, dẫn đến diện tích thu hoạch giảm.
Trong sản xuất nông nghiệp: Xác định cây Lúa là cây trọng tâm, cây Ngô là cây mũi nhọn để phát triển kinh tế
Thực trạng chung của các hộ điều tra trên địa bàn xã Chiềng Hoa – huyện Mường La – tỉnh Sơn La
4.2.1.Thông tin chung về các hộ điều tra
4.2.1.1 Một số thông tin cơ bản của các nhóm hộ điều tra
Bảng 4.5: Tình hình chung của các hộ điều tra
Tổng số hộ điều tra Hộ 60 100
Số nhân khẩu bình quân/hộ Người/hộ 3,95 1,67
Số lao động bình quân/hộ LĐ/hộ 2,73 1,66
6 Trình độ học vấn của chủ hộ
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Theo điều tra 60 hộ, tỷ lệ nam chủ hộ ở cả ba nhóm hộ khá, trung bình khá và nghèo đều cao hơn so với nữ Cụ thể, nam chủ hộ chiếm 83,33%, trong khi nữ chỉ chiếm 16,66% Mặc dù phụ nữ Thái có vai trò quan trọng trong gia đình, nhưng quyền quyết định của họ lại hạn chế, chủ yếu chỉ xoay quanh việc mua bán lương thực và các nhu cầu cơ bản, cũng như công việc chăm sóc con cái.
Hầu hết các hộ gia đình do nữ giới làm chủ là do chồng mất hoặc không có chồng, cho thấy rằng những người phụ nữ này phải đối mặt với nhiều khó khăn và gánh vác trách nhiệm nuôi con một mình.
Tỷ lệ hộ phi nông nghiệp cao, chiếm 53,53%, nông nghiệp chiếm tỷ lệ 38,33%, chỉ có một số ít là hộ kiêm
Nhóm hộ khá chiếm 23,33%, chủ yếu là các hộ kiêm và hộ phi nông nghiệp, trong khi hộ thuần nông có tỷ lệ thấp hơn Hộ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất với 50%, chủ yếu là các hộ làm nông nghiệp Những hộ này biết chi tiêu có kế hoạch, chăm chỉ làm ăn và thường có chồng làm thêm nghề hoặc dịch vụ để tăng thu nhập Người vợ cũng mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trồng trọt và chăn nuôi.
Tỷ lệ hộ nghèo hiện nay là 26,66%, chủ yếu do nguyên nhân chủ quan như chi tiêu không kế hoạch, thiếu tích lũy, và các vấn đề sức khỏe Nhiều hộ gia đình gặp khó khăn do ốm đau, sinh đẻ không kế hoạch, thiếu đất đai và vốn sản xuất Một số hộ không có chồng hoặc chồng không đủ khả năng làm việc, khiến người vợ phải gánh vác nhiều trách nhiệm Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo đói là bệnh tật và thiếu lao động Do vậy, xã hội cần triển khai các chương trình hỗ trợ và động viên để giúp các hộ nghèo vươn lên và cải thiện đời sống.
Sản xuất nông nghiệp yêu cầu kiến thức khoa học kỹ thuật, do đó, trình độ học vấn của chủ hộ và các thành viên trong gia đình ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và xã hội Theo thống kê, học vấn của các hộ điều tra khá đồng đều, với 11,66% người học tiểu học, 58,33% học THCS, 28,33% học THPT và 1,66% học TC – CĐ – ĐH Điều này cho thấy thế hệ con cháu trong các gia đình đang được đầu tư học tập để nâng cao trình độ.
Thực trạng hoạt động và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế trên địa bàn xã Chiềng Hoa
4.3.1 Hoạt động và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế xã hội tại địa bàn xã
4.3.1.1 Phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2018
Trên địa bàn xã, có 2.250 phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể, trong đó 1.260 người là hội viên Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, chiếm 56% Điều này cho thấy nhận thức của phụ nữ về việc tham gia các hoạt động đoàn thể là tương đối cao Hội liên hiệp phụ nữ xã đóng vai trò quan trọng trong việc vận động và hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương của Đảng, đồng thời tham gia quản lý Nhà nước Hội cũng kết nối mọi tầng lớp phụ nữ, tạo điều kiện cho họ học hỏi kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trong cuộc sống, phát triển kinh tế và nâng cao nhận thức về vai trò của mình trong gia đình và xã hội.
Trong số các phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể, hội nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất với 554 hội viên, tương đương 64,3% Tiếp theo là hội viên hội cựu chiến binh với 54 người, chiếm 6,2%; hội người cao tuổi có 92 hội viên, chiếm 10,7%; và chị em là cán bộ - công nhân viên chức với 162 người, chiếm 18,8%.
Bảng 4.6: Cơ cấu phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể năm 2018
Các chức danh Tổng số
Lãnh đạo cấp Ủy Đảng 2 0 0
Lãnh đạo hội, đoàn thể 5 1 20
Tham gia ban chấp hành Đảng ủy xã 15 2 13,2
(Nguồn: Hội liên hiệp Phụ nữ xã Chiềng Hoa 2018)
Hiện nay, phụ nữ đang ngày càng khẳng định vị thế trong xã hội, nhưng tại xã Chiềng Hoa, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo vẫn còn thấp, chỉ có 3 người tham gia lãnh đạo các cấp Uỷ Đảng, chính quyền và đoàn thể, chiếm 1% trong cơ cấu lãnh đạo Tình trạng này do nhận thức hạn chế về bình đẳng giới và áp lực công việc gia đình Để tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, cần có sự quan tâm từ chính quyền trong việc bồi dưỡng cán bộ nữ, gia đình cần ủng hộ họ, và bản thân phụ nữ cũng cần nâng cao trình độ và nhận thức về vai trò của mình trong sự phát triển xã hội.
4.3.2 Thực trạng vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
4.3.2.1 Vai trò của phụ nữ trong quản lý và điều hành sản xuất
Bảng 4.7: Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý điều hành sản xuất
Tỷ lệ nữ làm chủ hộ 23,3
Tỷ lệ tham gia điều hành sản xuất 53,19 54,87 52,94
(Nguồn:Tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2018)
Người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong công việc gia đình, sản xuất và phát triển kinh tế, nhưng theo quan niệm xưa, vai trò này chưa được công nhận đúng mức Hiện nay, khi xã hội phát triển, vị trí của người phụ nữ đang dần được cải thiện và thay đổi tích cực.
Nghiên cứu trên 60 hộ cho thấy, mặc dù tỷ lệ nữ làm chủ hộ còn thấp, nhưng phụ nữ đã có tiếng nói hơn trong gia đình, với 23,3% nữ làm chủ hộ và 53,19% tham gia quản lý sản xuất ở hộ khá Tuy nhiên, phụ nữ vẫn chỉ dừng lại ở mức độ tham gia mà chưa có quyền quyết định Để tăng cường sự chủ động và dễ dàng trong các hoạt động sản xuất, cần nâng cao tỷ lệ phụ nữ làm chủ hộ và khuyến khích phụ nữ trở nên năng động hơn.
4.3.2.2 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập
Sự tham gia của nam và nữ trong các hoạt động sản xuất tạo thu nhập của các hộ gia đình khác nhau có sự khác biệt rõ rệt Mặc dù cả hai giới đều đóng góp công sức, nhưng phụ nữ thường đóng góp nhiều hơn nam giới Các hoạt động tạo thu nhập rất đa dạng, với mỗi loại hộ gia đình có ít nhất hai hoạt động khác nhau Đối với hộ nông dân, chủ yếu tập trung vào sản xuất nông, lâm nghiệp và chăn nuôi, bên cạnh đó, một số hộ còn tham gia vào các hoạt động kinh doanh và dịch vụ trong và ngoài nông nghiệp, cũng như làm thuê.
Bảng 4.7 cho thấy sự phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp tại xã Chiềng Hoa, trong đó nhóm hộ khá và trung bình có sự chia sẻ công việc giữa nam và nữ cao hơn nhóm hộ nghèo Đặc biệt, tỷ lệ người được điều tra cho rằng công việc trồng trọt và chăn nuôi là của cả hai giới rất cao, cho thấy sự thống nhất trong quyết định sản xuất của gia đình Vai trò của phụ nữ trong các khâu như chọn giống, chăm sóc, mua vật tư và bảo quản nông sản rất rõ ràng, với tỷ lệ nữ giới tham gia cao hơn nam giới ở cả ba nhóm hộ Phụ nữ thường tỉ mỉ và chịu khó tìm hiểu thông tin để có được giống cây trồng hoặc vật nuôi tốt Mặc dù sự chia sẻ của nam giới trong các công việc nặng nhọc như làm đất cũng tăng lên, nhưng trong nhóm hộ nghèo, quyết định chọn giống chủ yếu thuộc về nam giới (41.17%), trong khi tỷ lệ ý kiến của vợ chỉ là 17.64% Ngược lại, ở nhóm hộ khá và trung bình, tỷ lệ ý kiến của cả hai vợ chồng lần lượt là 64.28% và 58.62%, cho thấy tiếng nói của phụ nữ trong các hộ nghèo còn hạn chế hơn.
Bảng 4.8 phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp 2018
Hoạt động Hộ khá Hộ trung bình khá Hộ nghèo vợ chồng Cả hai thuê vợ chồng Cả hai thuê vợ chồng Cả hai thuê
Chọn giống(quyết định trồng cây gì ) 10 20 70 17,64 35,29 47,08 7,69 46,15 46,15
Chăm sóc (bón phân, làm cỏ ) 60 10 30 52,94 11,76 35,29 30,76 15,38 53,84
Bảo quản sau thu hoạch (Phơi, sấy ) 50 10 40 64,70 11,76 23,52 15,38 61,53 23,07
Tìm thị trường tiêu thụ 10 60 30 5,88 76,47 17,64 15,38 61,53 23,07
Bán nông sản (quyết định thời điểm bán) 20 30 50 50,92 30,05 19,91 7,71 61,53 30,76
Chọn giống (quyết định nuôi con gì ) 20 30 50 11,76 29,41 58,82 19,65 41,17 39,18
Mua vật tư, làm chuồng ( cám tăng trọng, ) 0 60 40 0 82,35 17,69 0 76,92 23,07
Chăm sóc 60 20 20 70,88 11,76 17,29 53,84 23,07 23,09 Đi bán (quyết định thời điểm bán ) 10 30 60 10,35 27,61 62,04 0 29,41 61,53
(Nguồn:Tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2018)
Bảng 4.8 cho thấy sự phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp tại xã Chiềng Hoa, trong đó nhóm hộ khá có sự chia sẻ công việc đồng áng cao nhất Qua khảo sát, nhiều hoạt động trồng trọt được thực hiện với sự bàn bạc giữa các thành viên trong gia đình Đặc biệt, ở nhóm hộ khá, phụ nữ tham gia nhiều hơn trong các khâu sản xuất, như việc chọn giống, với 11,76% do phụ nữ quyết định, 17,29% do chồng và 53,84% có sự thảo luận giữa cả hai.
Tỷ lệ tham gia bàn bạc trong gia đình ở nhóm hộ trung bình khá và hộ nghèo thấp, đặc biệt là ở hộ nghèo chỉ đạt 37,5% Quyết định về việc trồng cây hay nuôi con chủ yếu thuộc về nam giới (50%) Nam giới cũng đảm nhiệm các công việc như làm đất và phun thuốc trừ sâu, do yêu cầu sức khỏe cao hơn, nhưng tỷ lệ này có xu hướng giảm ở nhóm hộ trung bình và khá Mặc dù sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động này ở nhóm hộ nghèo thấp hơn so với nam giới, nhưng vẫn cao hơn so với hai nhóm hộ còn lại Nhóm hộ khá có xu hướng thuê ngoài nhiều hơn do điều kiện kinh tế tốt hơn, trong khi các hoạt động mua vật tư và chăm sóc chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm.
Trong cả ba nhóm hộ, công việc trong các hoạt động này đều được chia sẻ, với mức độ chia sẻ cao nhất ở nhóm hộ khá và thấp nhất ở nhóm hộ nghèo Ở nhóm hộ khá, việc bán sản phẩm do gia đình tạo ra chủ yếu do phụ nữ đảm nhận, trong khi ở nhóm hộ nghèo, công việc này chủ yếu do nam giới quyết định.
Theo bảng phân công lao động 4.8, phụ nữ tham gia rất nhiều vào các hoạt động sản xuất, khẳng định vai trò quan trọng trong việc tạo thu nhập Sự chia sẻ công việc đồng áng rõ ràng hơn ở nhóm hộ khá và trung bình, trong khi nhóm hộ nghèo vẫn để phụ nữ gánh vác hầu hết công việc nặng Điều này cho thấy họ phải chịu đựng gánh nặng công việc mà ít nhận được sự hỗ trợ từ nam giới trong gia đình.
4.3.2.3 Phân công lao động trong trong hoạt động nội trợ và chăm sóc con cái
Bảng 4.9: Phân công lao động trong trong hoạt động nội trợ và chăm sóc con cái 2018
Hộ khá Hộ trung bình khá Hộ nghèo vợ chồng Cả hai vợ chồng Cả hai Vợ chồng Cả hai
Nội trợ: nấu cơm, giặt
Chăm sóc sức khỏe gia đình
Kèm con cái học hành
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Sự phân công trong các hoạt động ngoài sản xuất nông nghiệp được thể hiện rõ qua bảng 4.9, cho thấy sự phân công trong các hoạt động tái sản xuất một cách rõ rệt.
Tỷ lệ phụ nữ đảm nhận công việc nhà và chăm sóc con cái, đặc biệt trong nhóm hộ nghèo, rất cao, với 75% phụ nữ phải thực hiện các công việc như dọn dẹp, nấu ăn và giặt giũ mà ít nhận được sự hỗ trợ từ chồng Ngược lại, trong nhóm hộ khá và trung bình, tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng tham gia vào các công việc này cao hơn, cho thấy nhận thức của nam giới trong các gia đình này đã cải thiện, họ không còn xem công việc nhà là trách nhiệm riêng của phụ nữ mà coi đó là nghĩa vụ chung của cả hai.
4.3.2.4 Vai trò của phụ nữ trong việc kiểm soát nguồn lực của hộ
* Kiểm soát nguồn lực đất đai
Mặc dù phụ nữ đảm nhận vai trò chính trong sản xuất và chăm sóc gia đình, nhưng trong kiểm soát kinh tế hộ, họ vẫn bị đánh giá thấp hơn nam giới, đặc biệt là trong việc sở hữu đất đai Nghiên cứu cho thấy, việc người chồng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) được coi là điều hiển nhiên, và cả vợ lẫn chồng đều hài lòng với thực trạng này, thậm chí có phụ nữ từ chối quyền đứng tên Điều này dẫn đến sự bất công trong việc sở hữu và kiểm soát tài nguyên đất đai giữa hai giới Tỷ lệ phụ nữ đứng tên trên sổ đỏ ở nhóm hộ khá chỉ đạt 23.08%, trong khi ở hộ nghèo, con số này chỉ là 14.29%, trong khi nam giới chiếm 85.71% Đặc biệt, những phụ nữ nghèo đứng tên thường là những người cơ nhỡ, góa chồng hoặc có chồng sức khỏe kém, cho thấy họ chưa thực sự có quyền kiểm soát nguồn lực đất đai trong hộ nghèo.
* Kiểm soát nguồn lực tài chính
Bảng 4.10: Tình hình quản lý vốn vay của hộ
Người thực hiện Hộ khá Hộ trung bình khá
2 Quyết định sử dụng vốn
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra 2018)
Để phát triển kinh tế gia đình, người phụ nữ cần kiểm soát nguồn lực tài chính bên cạnh nguồn lực đất đai Trong ba nhóm hộ, hộ trung bình có tỷ lệ vay vốn thấp nhất do lo ngại rủi ro và chỉ đầu tư khi chắc chắn Mục đích vay vốn chủ yếu là cho con cái học hành và đầu tư sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ Trong quá trình ra quyết định tài chính, cả vợ và chồng thường bàn bạc, nhưng quyết định cuối cùng thường thuộc về người chồng, đặc biệt ở nhóm hộ nghèo, nơi 77,8% quyết định sử dụng vốn do chồng quản lý Người vợ đóng vai trò như thủ quỹ gia đình, trong khi quyền quyết định về tài chính thuộc về người chồng.
Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát huy vai trò của phụ nữ trên địa bàn xã Chiềng Hoa – huyện Mường La – tỉnh Sơn La
Ngày càng có nhiều chính sách hỗ trợ nữ giới, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, trong các lĩnh vực như nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo, đào tạo nghề, hỗ trợ học tập và chăm sóc sức khỏe.
Hội phụ nữ từ trung ương đến cơ sở được kiện toàn và hoạt động hiệu quả, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phụ nữ trong kinh tế và xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng Họ cũng là cầu nối giúp phụ nữ tiếp nhận thông tin và truyền đạt tâm tư, nguyện vọng đến các cơ quan, ban ngành.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tại Việt Nam tạo điều kiện cho phụ nữ nông thôn nâng cao kiến thức và năng lực, từ đó hoàn thiện bản thân.
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và các phương tiện truyền thông đã tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận thông tin, từ đó giúp họ lập kế hoạch hiệu quả cho sản xuất và phát triển kinh tế hộ gia đình.
Phụ nữ là những người cần cù, chịu khó và tỉ mỉ, đồng thời biết lắng nghe Những đặc điểm này đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và nâng cao năng lực cho phụ nữ.
Vấn đề vốn hiện nay rất quan trọng đối với các hộ gia đình, khi hầu hết đều mong muốn phát triển sản xuất kinh doanh nhưng gặp khó khăn do thiếu vốn Thủ tục vay vốn phức tạp và lãi suất cao là những trở ngại lớn Đặc biệt, phụ nữ thường không có tài sản lớn để thế chấp, vì họ ít khi được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi việc vay vốn thường do người vợ thực hiện Tại nông thôn, hội nông dân và hội phụ nữ là hai tổ chức mà phụ nữ có thể tin cậy để vay vốn với lãi suất thấp, nhưng số tiền vay lại hạn chế Để vay nhiều hơn, họ phải chấp nhận lãi suất cao từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng và các tổ chức tư nhân khác Những hộ nghèo, không có tài sản thế chấp, thường không có cơ hội vay vốn để phát triển sản xuất và cải thiện cuộc sống.
Phụ nữ nông thôn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và tạo ra của cải vật chất cho xã hội Họ phải làm việc vất vả nhưng không được hưởng các chế độ như phụ nữ làm việc trong cơ quan hay doanh nghiệp, bao gồm bảo hiểm thương tật, thai sản và nghỉ phép Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và khả năng sản xuất, tái sản xuất của họ, gây thiệt thòi lớn cho phụ nữ nông thôn.
Trình độ học vấn của phần lớn phụ nữ trong khu vực nghiên cứu còn thấp, điều này ảnh hưởng đến khả năng ra quyết định trong sản xuất và việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Hệ quả là năng suất và sản lượng không được nâng cao, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng quản lý hộ gia đình và tham gia vào công tác quản lý cộng đồng.
Do ảnh hưởng của tư tưởng từ ngàn đời xưa, nhiều phụ nữ chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình Họ thường ngại bộc bạch chính kiến, tránh tranh luận với nam giới và từ chối tham gia các lớp tập huấn về khoa học kỹ thuật Sự tự ti và lối sống khép kín khiến họ không dám vận động để thoát khỏi tình trạng hiện tại Tư tưởng này trở thành lực cản bên trong, kìm hãm sự độc lập trong suy nghĩ, sáng tạo và khả năng cống hiến của phụ nữ.
Phụ nữ nông thôn thường gặp khó khăn trong việc tham gia và hưởng thụ các hoạt động văn hóa, tinh thần Họ còn hạn chế trong việc tiếp cận phúc lợi xã hội, đặc biệt là dịch vụ y tế và nước sạch Điều này dẫn đến nhiều vấn đề trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, tỷ lệ tử vong bà mẹ chưa giảm đáng kể, ảnh hưởng lớn đến tâm lý, mức độ hòa nhập cộng đồng, cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống hàng ngày của họ.
Trong gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn hiện hữu, gây ra tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh Bên cạnh đó, bạo lực gia đình dưới nhiều hình thức vẫn tiếp tục diễn ra ở một số hộ gia đình.
Vấn đề việc làm tại chỗ là cần thiết để giảm thiểu thời gian lao động nông nhàn, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế khó khăn Nhiều người, chủ yếu là nam giới, di cư đến các thành phố, khiến phụ nữ phải gánh vác cả công việc sản xuất lẫn nội trợ Điều này tạo ra áp lực cho các khu công nghiệp và đô thị, dẫn đến gia tăng tệ nạn xã hội và ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình Trong thời vụ, phụ nữ phải làm việc hết công suất nhưng lại rơi vào tình trạng nhàn rỗi khi hết mùa vụ Do đó, việc làm tại chỗ không chỉ hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương mà còn giúp phụ nữ nhận được sự chia sẻ gánh nặng từ chồng.
Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ xã Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La trong phát triển kinh tế hộ
Xã hội không thể tiến bộ và nền kinh tế không thể phát triển nếu một bộ phận nào đó bị loại trừ Phụ nữ thường là đối tượng yếu thế hơn so với nam giới, do đó cần tạo ra môi trường thuận lợi để họ tự tin tiếp cận các điều kiện sản xuất và tiến bộ mới Cần có các chủ trương phù hợp và thường xuyên tổ chức hội nghị, hội thảo nhằm cải thiện đời sống cho phụ nữ, từ đó giúp họ khẳng định năng lực của mình trong xã hội.
4.5.1 Nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ Để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thì phát triển kinh tế hộ gia đình đóng vai trò không nhỏ, muốn vậy cần quan tâm đến vai trò của người phụ nữ bằng việc:
Nâng cao kiến thức cho phụ nữ là rất quan trọng, đặc biệt trong việc tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi dạy con cái và chăm sóc sức khỏe Cần tăng cường hiểu biết về luật pháp, chính sách và bình đẳng giới Đồng thời, khuyến khích sự quan tâm của các thành viên trong gia đình để chia sẻ các hoạt động lao động cũng như trong đời sống tinh thần và tình cảm.
Tuyên truyền và vận động về giới và vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội cần được thực hiện qua các phương tiện và hình thức sinh hoạt địa phương, phù hợp với từng đối tượng Để đạt được bình đẳng giới, việc tham gia của nam giới là rất quan trọng, giúp họ có những biện pháp thúc đẩy quá trình này Đồng thời, điều này cũng hỗ trợ phụ nữ trong việc tự nhìn nhận và đánh giá bản thân, từ đó nâng cao ý thức phấn đấu vươn lên trong cuộc sống.
Các phương tiện thông tin đại chúng cần nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của người phụ nữ trong gia đình Trách nhiệm của phụ nữ không chỉ dựa vào khả năng kiếm tiền mà còn bao gồm vai trò làm mẹ, góp phần nuôi dạy những công dân tốt cho xã hội.
4.5.2 Nâng cao trình độ cho người phụ nữ
Cần chú trọng bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ nữ trong công tác chính quyền và đoàn thể từ thôn đến cấp xã Đồng thời, cần phát triển đội ngũ cán bộ nữ tương lai có đủ năng lực và trình độ để tham gia vào các hoạt động chính quyền, đoàn thể, từ đó nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội địa phương.
Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã và các chi hội phụ nữ thôn là cần thiết Việc xây dựng các câu lạc bộ nữ thôn sẽ tạo điều kiện cho phụ nữ hỗ trợ lẫn nhau trong việc phát triển kinh tế và nuôi dạy con cái Đồng thời, cần chú trọng hỗ trợ các phụ nữ đơn thân để họ có thể vươn lên trong cuộc sống.
Trong sản xuất nông nghiệp, việc khuyến khích phụ nữ tiếp cận kiến thức và công nghệ mới là rất quan trọng Cần tạo điều kiện cho họ có cơ hội tiếp cận vốn và công cụ sản xuất hiện đại Áp dụng những kiến thức mới vào trồng trọt và chăn nuôi sẽ giúp nâng cao năng suất và thu nhập cho phụ nữ nông thôn.
UBND xã cần chủ động phối hợp với phòng nông nghiệp, trạm khuyến nông và các trung tâm đào tạo nghề để xây dựng và phát triển các trung tâm dạy nghề tại địa phương, nhằm tăng cường sự tham gia của nữ giới Cần mở rộng các hình thức dạy nghề ngắn hạn và bồi dưỡng kiến thức, đặc biệt là về quản lý kinh tế hộ cho phụ nữ, đồng thời thu hút nam giới tham gia các khóa học có lồng ghép giới Hình thành các nhóm hạt nhân gồm nông dân nam và nữ sản xuất giỏi, am hiểu công nghệ mới và có mối liên hệ chặt chẽ với chính quyền và các tổ chức hội đoàn thể là rất cần thiết.
4.5.3 Tăng cường khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
Thực hiện đúng quy định của Luật đất đai năm 2003 và các nghị định sửa đổi, bổ sung là rất quan trọng Theo nguyên tắc, việc đứng tên sử dụng đất thuộc về cả hai vợ chồng, nhưng thực tế cho thấy nam giới thường là người đứng tên chính Do đó, cần kiểm soát để các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều ghi tên cả vợ và chồng, nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ.
Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu vay vốn cho phát triển sản xuất của các hộ gia đình là rất lớn, nhưng thực tế cho thấy nông dân gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay Số tiền vay hiện tại không đủ để mở rộng sản xuất, chỉ giải quyết một phần khó khăn trước mắt Do đó, ngân hàng cần đơn giản hóa thủ tục và điều kiện vay, tăng thời gian vay và chấp nhận các mục tiêu sử dụng vốn đa dạng hơn Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ ngân hàng và cán bộ khuyến nông, khuyến lâm để hỗ trợ kỹ thuật và thông tin thị trường cho các hộ vay Đặc biệt, phụ nữ cần được cung cấp thông tin cụ thể về các hình thức tín dụng mà họ có thể tiếp cận.
4.5.4 Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động cộng đồng
Vận động và tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia sinh hoạt từ các đoàn thể như phụ nữ, thanh niên, hội nông dân, giúp họ tiếp cận với sách, báo và phương tiện truyền thông Hình thành các câu lạc bộ văn hoá, thể thao tại các xóm với kế hoạch sinh hoạt định kỳ hàng tháng tại nhà văn hoá xóm Mục tiêu là nâng cao trình độ của phụ nữ, tạo môi trường để họ phát huy vai trò trong gia đình và xã hội, đồng thời nâng cao nhận thức và giảm thiểu tính tự ti, rụt rè của một bộ phận phụ nữ.
4.5.5 Trong việc thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình dự án phát triển của địa phương cần đặc biệt quan tâm đến vai trò, sự tham gia của phụ nữ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương thông qua việc phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp và dịch vụ nông thôn là cần thiết Điều này không chỉ tạo thêm việc làm phi nông nghiệp cho phụ nữ mà còn giúp tăng thu nhập cho gia đình từ các nguồn thu ngoài nông nghiệp, giảm bớt gánh nặng và lo toan về kinh tế cho phụ nữ.
Khuyến khích thành lập các tổ nghề thủ công và nghề truyền thống ở nông thôn sẽ tạo cơ hội cho cả phụ nữ và nam giới, giúp họ hạn chế thời gian lao động nông nhàn và tăng thu nhập Điều này không chỉ giúp phụ nữ có khoản thu nhập riêng mà còn hỗ trợ chồng trong sản xuất và công việc gia đình Tham gia vào các nhóm sản xuất cũng giúp phụ nữ nông thôn mở rộng quan hệ giao tiếp, nâng cao nhận thức về các vấn đề xã hội và kiến thức nuôi dạy con cái.