LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp "Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
LỤC THANH SẮC
TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG SỬ DỤNG, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC DAO TẠI
XÃ HÀ LANG, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2014 – 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
LỤC THANH SẮC
TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG SỬ DỤNG, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC DAO TẠI
XÃ HÀ LANG, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn : TS Hồ Ngọc Sơn
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp "Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang” là công trình nghiên
cứu của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS
Hồ Ngọc Sơn Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã
được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra
Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2018
Xác nhận GV hướng dẫn Người viết cam đoan
TS HỒ NGỌC SƠN LỤC THANH SẮC
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện đề tài:"Tri thức bản địa trong
sử dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại
xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang” Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản báo cáo thực tập tốt nghiệp của em đã hoàn thành..
Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và hướng dẫn chúng em
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Hồ Ngọc Sơn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin cảm ơn các ban ngành lãnh đạo UBND xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang cùng người dân trong xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Lục Thanh Sắc
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tóm tắt thông tin phỏng vấn 17 Bảng 4.1: Đa dạng nguồn cây thuốc được cộng đồng Dao khai thác và
sử dụng 22 Bảng 4.2: Cây thuốc được người dân nhắc đến với số lần nhiều nhất 23 Bảng 4.3: Tóm tắt hoàn cảnh có được tri thức của cộng đồng dân tộc Dao tại
Xã Hà Lang 24 Bảng 4.4: Các bài thuốc của cộng đồng Dân tộc Dao tại xã Hà Lang 28 Bảng 4.5 Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài tại xã Hà Lang33 Bảng 4.6: So sánh sự khác biệt giữa cây thuốc dân tộc Dao và dân tộc Tày 34 Bảng 4.7: So sánh sự khác biệt về bài thuốc của dân tộc Dao và dân tộc Tày 34
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Hoàn cảnh tiếp nhận tri thức của cộng đồng dân tộc Dao tại xã
Hà Lang 25
Hình 4.2: Các bộ phận thu hái của cây thuốc 25
Hình 4.3: Kỹ thuật thu hái các loài cây thuốc 27
Hình 4.4: Biện pháp xử lý các loài cây thuốc 27
Trang 7IIRR Viện quốc tế và tái thiết nông thôn
NCCT Người cung cấp tin
SĐVN Sách đỏ Việt Nam
sp Chưa xác định rõ tên, họ theo khoa học
UBND Uỷ ban nhân dân
VU Bị đe dọa, sắp nguy cấp
WHO Tổ chức Y tế thế giới
WWF Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và mục tiêu 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2 Mục tiêu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở khoa học 5
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nuớc 7
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới 7
2.2.2 Những nghiên cứu trong nước 9
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 13
2.3.1 Vị trí địa lý 13
2.3.2 Địa hình địa thế 13
2.3.3 Khí hậu, thuỷ văn 13
2.3.4 Địa chất, thổ nhưỡng 14
Trang 92.3.6 Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội 14
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 15
3.3 Nội dung nghiên cứu 15
3.4 Phương pháp nghiên cứu 15
3.4.1 Phương pháp luận 15
3.4.2 Kế thừa tài liệu 16
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 16
3.4.4 Xử lý số liệu 18
3.4.5 So sánh sự khác biệt giữa 2 dân tộc Dao và Tày 19
3.4.6 Phương pháp nghiên cứu thực vật học 19
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Các loài cây thuốc được cộng đồng dân tộc Dao tại xã Hà Lang khai thác và sử dụng 22
4.1.1 Danh mục các loài thực vật được cộng đồng Dao tại xã Hà Lang khai thác và sử dụng 22
4.1.2 Một số loài cây tiêu biểu được cộng đồng Dân tộc Dao sử dụng làm thuốc 23
4.2 Tri thức bản địa trong việc khai thác, sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng Dân tộc Dao tại xã Hà Lang 24
4.2.1 Hoàn cảnh có được tri thức 24
4.2.2 Phương thức khai thác các loài cây thuốc 25
4.2.3 Tri thức bản địa trong việc sử dụng các bài thuốc dân gian 28
4.3 Các loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn 32
4.4 So sánh sự khác biệt cây thuốc và bài thuốc của dân tộc Dao với Dân tộc Tày tại xã Hà Lang 34
Trang 104.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc, bài
thuốc của cộng đồng dân tộc Dao 35
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Tồn tạị 38
5.3 Kiến nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 PHỤ LỤC
Trang 11PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng
Cho đến nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là khu vực Trường Sơn Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy qua 4000 năm lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc sống từ ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh … của cộng đồng 54 dân tộc anh em Đó là một ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống và sức khỏe của mọi người đặc biệt là các đồng bào Dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong đó có rừng
Theo các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam giàu tài nguyên thực vật nhất Đông Nam Á, nơi có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao Trong đó có
3.948 loài được dùng làm thuốc (Viện dược liệu, 2003)[11] chiếm khoảng 37%
số loài đã biết Đó chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 54 dân tộc thiểu
số Việt Nam, cho đến nay chúng ta chỉ mới biết được có một phần Ngoài ra các nhà khoa học Nông Nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng trong đó cũng có 179 loài cây sử dụng làm thuốc Theo kết quả điều tra của viện dược
Trang 12liệu trong thời gian 2002 – 2005 số loài cây thuốc ở một số vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơn như sau: Đắc Lắc (751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814 loài), Lâm Đồng (756 loài) Với hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc hết sức phong phú và đa dạng
Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến, đây là nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học
Dân tộc Dao là một trong những dân tộc thiểu số ít người Nguồn kiến thức bản địa của họ vô cùng quý giá, nhất là nguồn kiến thức về các loài thực vật được sử dụng làm dược liệu Kho kiến thức của họ về dược liệu được đúc kết qua rất nhiều thế hệ và được lưu truyền từ đời này sang đời khác Nguồn kiến thức này chưa được khoa học công nhận nhưng qua việc sử dụng và kiểm nghiệm trên thực tế đã được người dân sử dụng một cách có hiệu quả và tốt hơn cả mong đợi Bằng chứng là bao đời nay họ đã sử dụng chúng để chữa bệnh cho cộng đồng, các bài thuốc Đông Nam đều được chế biến từ các loài cây dược liệu có nguồn gốc từ rừng tự nhiên Những kinh nghiệm quý báu, công thức pha chế, cách sử dụng cây cỏ tự nhiên làm thuốc đã được lưu truyền và tích luỹ qua nhiều thế hệ Các ông lang, bà mế của đồng bào các dân tộc miền núi nước ta đã tích luỹ nhiều đời tạo nên nhiều bài thuốc dân gian quý giá lấy từ cây cỏ Những kiến thức này chủ yếu được người dân truyền miệng, truyền từ đời này sang đời khác Vấn đề đặt ra là làm thế nào
có thể ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức qúy báu trong việc trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc đồng thời làm sao để việc khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao đạt một cách hiệu và bền vững
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên nghiên cứu:"Tri thức bản địa trong
sử dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang" là rất cần thiết
Trang 131.2 Mục đích và mục tiêu
1.2.1 Mục đích
Tìm hiểu, đánh giá, hệ thống lại kiến thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn
và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Hà Lang,
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang liên quan đến việc nghiên cứu và bảo tồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ Từ đó, đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hệ thống kiến thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát triển cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao một cách bền vững và hiệu quả
1.2.2 Mục tiêu
- Xác định danh mục các loài cây thuốc cộng đồng khai thác và sử dụng Xác định được các loài cây thuốc tiêu biểu được người dân sử dụng và đặc điểm của chúng
- Xác định được phương thức khai thác, bộ phận sử dụng để làm thuốc của các loài cây tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Xác định được các bài thuốc được dân tộc Dao sử dụng tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- So sánh sự khác biệt cây thuốc, bài thuốc của dân tộc Dao và dân tộc Tày
- Đề xuất được một số giải pháp để bảo tồn và phát triển những hệ thống kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao ở xã Hà Lang
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết các thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân
Trang 141.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Góp phần vào việc quản lí tài nguyên rừng bền vững
- Phát hiện, bảo tồn và phát triển tiềm năng của thực vật rừng được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng làm thuốc
- Duy trì và phát huy hệ thống kiến thức bản địa về cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Tri thức bao gồm sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới tự
nhiên xung quanh con người Tri thức được tích lũy từ những kinh nghiệm của quá trình lao động sản xuất thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày của con người, trải qua thời gian dài lịch sử, tri thức được tồn tại và phát triển qua sự trải nghiệm của nhân dân lao động
Vậy tri thức bản địa là gì? Tri thức bản địa (Hoàng Xuân Tý, 1998) nói
một cách rộng rãi, tri thức được sử dụng bởi những người dân địa phương,
trong cuộc sống của một môi trường nhất định (Dẫn theo Võ Văn Thoan,
Nguyễn Bá Ngãi, 2002) [14]
Theo Johnson (1992), tri thức bản địa là nhóm kiến thức được tạo ra bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong
một vùng nhất định (Dẫn theo Võ Văn Thoan, Nguyễn Bá Ngãi, 2002) [14]
Theo Warren (1991) kiến thức bản địa là một phần của kiến thức địa phương, dạng kiến thức duy nhất cho một nền văn hóa hay một xã hội nhất định Đây là kiến thức cơ bản cho việc ra quyết định ở mức địa phương về nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, chế biến thức ăn, giáo dục, quản lý tài
nguyên thiên nhiên và các hoạt động chủ yếu của cộng đồng nông thôn (Dẫn
theo Võ Văn Thoan, Nguyễn Bá Ngãi, 2002) [14]
Kiến thức bản địa là kiến thức của cộng đồng dân cư trong một cộng đồng nhất định phát triển vượt thời gian và liên tục phát triển (IIRR, 1999) Kiến thức bản địa được hình thành dựa vào kinh nghiệm, thường xuyên kiểm nghiệm trong quá trình sử dụng thích ứng với văn hóa và môi trường địa phương, năng động
và biến đổi (Dẫn theo Võ Văn Thoan, Nguyễn Bá Ngãi, 2002) [14]
Trang 16Tóm lại, tri thức bản địa là những nhận thức, những hiểu biết về môi trường sinh sống được hình thành từ cộng đồng dân cư ở một nơi cứ trú nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của cộng đồng (Nguyễn Thanh Thự và
Hồ Đắc Thái Hoàng, 2000) (Dẫn theo Võ Văn Thoan, Nguyễn Bá Ngãi,
2002) [14]
Trước đây người ta khái niệm lâm sản chủ yếu là gỗ, ít quan tâm đến các thành phần khác gỗ Ngày nay, trong các chiến lược phát triển bền vững của các dự án lâm nghiệp xã hội, nông lâm kết hợp người ta đã chú ý nhiều
đến các lâm sản khác ngoài gỗ và có khái niệm cơ bản về Lâm sản ngoài gỗ Theo Trần Ngọc Hải (2000): Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh
học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa
mủ, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi…
(Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2007) [6]
Các loài cây thuốc đa phần là các sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ thuộc
một phần của tài nguyên thực vật Tài nguyên thực vật là tổng hợp của sinh
quyển trong một loạt các thảm thực vật Tài nguyên thực vật như là các nhà sản xuất chính, để duy trì chu kỳ dinh dưỡng sinh quyển và cơ sở dòng năng lượng trên trái đất Tài nguyên thực vật giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người nói riêng và sinh vật nói chung Nhưng trong thời gian vừa qua tài nguyên này đã bị suy thoái nghiêm trọng do sự tác động tiêu cực của con người, chính vì vậy gần đây Đảng và nhà nước ta đã có những chủ trương, đường lối mới như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm
2004, Luật đất đai 2015, Luật đa dạng sinh học 2008, Nghị định 99 của Chính phủ 2010…cùng với hàng loạt các văn bản khác đã ra đời nhằm bảo vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lí Đây là một cơ sở pháp lí quan
trọng để thực hiện thành công đề tài: "Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn
Trang 17Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang"
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nuớc
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc, nhiều nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiều nguồn tài nguyên này xuất khẩu làm dược liệu và thu được nguồn ngoại tệ đáng kể Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia
đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh
Những nghiên cứu về tri thức bản địa các loài cây thuốc có thể liệt kê
có một số công trình dưới đây:
Harsha V.H và cs (2002) nghiên cứu tri thức thực vật dân tộc tại huyện Uttara Kannada, bang Karnataka Ấn Độ [19] Kết quả cho thấy có 45 loài cây thuộc 26 họ được cộng đồng người Kunabis sử dụng làm thuốc Các loài được
sử dụng để chữa trị một số bệnh như sốt, ho, bệnh ngoài da, thấp khớp, rắn cắn, bệnh vàng da, kiết lỵ,…
Parinitha M và cs (2005) nghiên cứu kiến thức sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng tại huyện Shimoga, bang Karnataka, Ấn độ [22] Kết quả cho thấy có 47 loài thực vật thuộc 46 chi trong 28 họ được sử dụng để điều trị 9 bệnh nhiễm trùng và 16 bệnh không truyền nhiễm Mười hai tuyên
bố mới về kiến thức ethnomedical đã được báo cáo và có công thức mà là tương tự như mô tả đã có trong văn học
Muthu C và cs (2006) nghiên cứu cây thuốc được sử dụng bởi các thầy lang ở Kancheepuram, bang Tamil, Ấn độ [21] Kết quả cho thấy, những thầy lang sử 7 dụng 85 loài thực vật thuộc 76 chi và 41 họ để điều trị các bệnh khác nhau Các cây thuốc đã được ghi nhận chủ yếu được sử dụng để chữa trị các bệnh về da, độc cắn, đau bụng và rối loạn thần kinh
Uniyal S.K và cs (2006) nghiên cứu tri thức sử dụng cây thuốc của các bộ
Trang 18lạc ở khu vực phía Tây dãy Himalaya [24] Kết quả cho thấy, có 35 loài thực vật thường được sử dụng bởi người dân địa phương trong việc chữa các bệnh khác nhau Có đến 45% loài cây, người dân đã sử dụng phần dưới đất để làm thuốc
Sajem A.L và Gosaik (2006) nghiên cứu tri thức sử dụng các loài cây thuốc của tộc người Jaintia ở Ấn độ [23] Kết quả cho thấy cộng đồng sử dụng
39 loài thuộc 27 họ và 35 chi Để trị nhiều loại bệnh, việc sử dụng các bộ phận của cây trên mặt đất chiếm tỷ lệ cao hơn (76,59%) so với các bộ phận dưới mặt đất (23,41%) Lá đã được sử dụng trong đa số các trường hợp (23 loài), tiếp theo là quả (4 loài) Tổng cộng có 30 loại bệnh đã được báo cáo được chữa khỏi bằng cách sử dụng 39 loài cây thuốc
Manju Panghal và cs (2010) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng tại huyện Jhajjar, bang Haryana, Ấn độ [20] Kết quả cho thấy có 57 loài cây thuốc được sử dụng, thuộc 51 chi và 35 họ thực vật Trong đó có 19 loài thuộc 13 họ có tác dụng chữa trị rắn cắn Có 48 loài thuộc 34 họ được sử dụng để chữa trị các bệnh khác Phân theo dạng sống có 20 loài cây thân thảo (36%), 16 loài cây gỗ (28%), 10 loài dây leo (18%), 9 loài cây bụi (16%) và 1 loài thân bò (2%) Những họ có số loài
nhiều nhất là họ Đậu (Fabaceae) 8 loài, họ Loa kèn (Liliaceae) 5 loài, họ Hoa môi (Laminaceae) và họ Cúc (Asteraceae) mỗi họ có 3 loài
Theo ước tính của tổ chức Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu
hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006) [ 7] Tiến sĩ
Trang 19James A.Dule – nhà dược lý học người Mỹ đã có nhiều đóng góp cho tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các loại cây thuốc
(Trần Thị Lan, 2005) [9]
2.2.2 Những nghiên cứu trong nước
Việt Nam nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thích hợp cho
sự phát triển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng Một số vùng cao lại có khí hậu á nhiệt đới, phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát
mẻ Đặc biệt là nước ta có dãy núi Trường Sơn rộng lớn là nơi có rất nhiều cây thuốc phục vụ cho đồng bào nhân dân sống gần ở trong rừng mà họ sống
xa các trạm xá, bệnh viện thì việc cứu chữa tại chỗ là vô cùng cần thiết và cấp bách
Theo nguồn thông tin Viện Dược liệu (2003) [12] thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ, trong đó có cộng đồng dân tộc Dao ở
xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng
200 loài cây Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi
Trang 20rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát huy và chưa có cách duy trì hiệu quả, chưa có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân
sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó
họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc Họ đã đánh giá được mức độ tác động của người dân
địa phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc (Phạm
Thanh Huyền, 2000) [8]
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Trung
Thành (2015) [3] tại Thái Nguyên “Nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử
dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở tỉnh thái nguyên để bảo tồn và phát triển bền vững” Tác giả dùng các phương pháp: phỏng vấn cộng đồng, phỏng vấn, quan sát, kế thừa tài liệu, thu mẫu, miêu tả mẫu vật, điều tra theo tuyến với người cung cấp tin.Tác giả đã phát hiện kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng này chủ yếu là lá và thân chiếm từ 26,3% - 54,7 % tổng số bộ phận sử dụng Đồng thời họ còn thu thập được 180 bài thuốc được nhiều người tin dùng và thừa nhận hiệu quả chữa bệnh Họ đã điều tra tỷ lệ về độ tuổi và giới tính của các thầy thuốc trong khu vực nghiên cứu, kết quả cho thấy chủ yếu là nam giới năm trong độ tuổi từ 50-70 tuổi
Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền (CREDEP) từ trước đến nay khá nhiều địa phương trong nước đã có truyền thống trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về cây thuốc, bài thuốc chữa các bệnh thường gặp hang ngày Trong 2 năm gần đây, Ngô Quý Công đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Họ chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả
Trang 21cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp, đề xuất hợp lý để bảo tồn và
phát triển (Ngô Quý Công, 2005) [5]
Trong công trình nghiên cứu đề tài Khóa luận tốt nghiệp của Mùi Thị
Ím (2015) [4] “Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc H’Mông tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang,
tỉnh Tuyên Quang” Các phương pháp được dùng ở nghiên cứu này như là: Liệt kê tự do, xử lý số liệu, phương pháp nghiên cứu thực vật học Kết quả tác
giả đã thống kê được 110 loài thực vật làm thuốc tại cộng đồng dân tộc H’Mông, xác định tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học gồm 59 họ thực vật Tác giả đã điều tra phát hiện ra 21 bài thuốc với tổng số 100 loài cây được sử dụng trong bài thuốc, xác định được bộ phận dùng và cách pha chế Ngoài ra tác giả còn phân hạng được mức độ đe dọa của mỗi loài và lựa chọn
ra 25 loài cây thuốc, 5 bài thuốc có giá trị cao cần được ưu tiên bảo tồn
Trong báo cáo khoa học của Viện Tài nguyên và môi trường (2012)
“Kiến thức bản địa trong quản lý và sử dụng thực vật lâm sản ngoài gỗ của
cộng đồng người Vân Kiều ở thôn Là Tó, xã Húc Nghì, huyện Đa Krông, tỉnh Quảng Trị” Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:
Phương pháp kế thừa, thu thập và tổng hợp các thông tin từ các tài liệu, công trình nghiên cứu về người Vân Kiều; phương pháp thu thập và sử dụng kiến thức bản địa (Viện Quốc tế Tái thiết Nông thôn, 1996 – Tố Linh và Hoàng Xuân Tý biên dịch); và phương pháp nghiên cứu thực vật dân tộc học Kết quả cho thấy ở thôn Tà ló có 28,5% số người dân không có khả năng và điều
Trang 22kiện khai thác lâm sản và lâm sản ngoài gỗ chiếm 20-30% trong cơ cấu thu nhập của người dân[13]
Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác,
sử dụng về tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật Người dân thuộc vùng đệm ở đây chủ yếu là cộng đồng dân tộc Sán Dìu
sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên
cơ sở các nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên
và bảo tồn (Đỗ Hoàng Sơn, 2008) [1]
Việt Nam là một nước có tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phú nhưng vì ở trong những khu rừng hay gần rừng lại thường tập trung nhiều thành phần dân tộc sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, kiến thức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng khác nhau Nên hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị suy giảm trong đó có
cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn sử dụng tài nguyên cây thuốc bản địa là một việc rất cần thiết Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số, họ có những bài thuốc kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng chữa bệnh lại hiệu quả rất cao Tuyên Quang cũng là một tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống và đặc biệt là xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa nơi có khá nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống trong rừng và gần rừng, trong đó có dân tộc
Trang 23Dao Chính vì vậy, đây là một nơi lý tưởng cho nghiên cứu kiến thức bản địa
về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc, các bài thuốc dân gian từ thiên nhiên của cộng đồng dân tộc địa phương nơi đây
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Vị trí địa lý
Theo UBND Xã Hà Lang (2017) [10], xã Hà Lang cách trung tâm huyện lỵ Chiêm Hóa 25km, có tổng diện tích đất tự nhiên là 7.750,96 ha, có
vị trí tiếp giáp với các đơn vị sau:
- Phía Tây Bắc và phía Bắc giáp với xã Trung Hà
- Phía Nam giáp với xã Tân An
- Phía Đông bắc giáp xã Tân Mỹ
- Phía Tây nam giáp với xã Phù Lưu (huyện Hàm Yên)
2.3.2 Địa hình địa thế
Địa hình xã Hạ Lang phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và sông suối, đặc biệt ở khu vực phía Bắc tỉnh Phía Nam tỉnh địa hình thấp dần,
ít bị chia cắt, có nhiều đồi núi thấp và thung lũng chạy dọc theo các con sông
2.3.3 Khí hậu, thuỷ văn
Khí hậu của Hà Lang mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á - Trung Hoa, có 2 mùa rõ rệt: mùa đông lạnh khô và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm toàn tỉnh từ 220-240C, cao nhất trung bình từ 330-350C, thấp nhất trung bình từ 12-130C
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500mm - 1.800mm, khá ổn định
Độ ẩm bình quân hàng năm là 85%, rất thích hợp với cây rừng nhiệt đới, xanh tốt quanh năm
Do địa hình bị chia cắt, Hà Lang có 2 tiểu khu khí hậu rõ rệt, cho phép phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp đa dạng Hệ thống sông suối khá dầy và
Trang 24phân bố tương đối đều giữa các vùng.
- Đất nâu đỏ trên đá vôi;
- Đất phù sa không được bồi hàng năm;
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước;
- Đất mùn vàng đỏ trên đá Macma axít;
- Đất phù sa được bồi hàng năm;
2.3.5 Tài nguyên rừng
Đất lâm nghiệp 7.016,95 gồm rừng phòng hộ và rừng sản xuất
2.3.6 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội
Xã Hà Lang có tổng dân số 3847 nhân khẩu, số hộ là 888 hộ, được phân
bố 9 thôn bản, có một số thôn dân cư sống thưa thớt như thôn Phia Xeng Phân chia theo dân tộc: dân tộc thiểu số chiếm 88,7%, trong đó: Dân tộc Kinh 141 người; Dân tộc Tày 2697 người; Dân tộc Dao 846 người; Dân tộc Hoa 03 người; Dân tộc H’mông 34 người; Dân tộc Cao lan 04 người; Dân tộc Thủy 04 người; Dân tộc Thái 02 người; Dân tộc Mường 04 người; Dân Tộc Nùng 01 người
Ngành nghề kinh tế chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội là trồng trọt và chăn nuôi như chăn nuôi lợn, trâu và thủy sản, thu nhập bình quân trên đầu người 16.800.000đ/người/năm
Trang 25PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao
- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 01 năm 2018 đến tháng 05 năm 2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài có những nội dung sau:
Nội dung 1: Xác định các loài cây được người dân khai thác sử dụng và phát triển để làm thuốc
Nội dung 2: Tri thức bản địa trong khai thác sử dụng các loài cây thuốc Nội dung 3: Các loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn
Nội dung 4: So sánh sự khác nhau giữa cây thuốc, bài thuốc của dân tộc Dao với dân tộc khác
Nội dung 5: Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng Dân tộc Dao
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp luận
- Nghiên cứu được thực hiện dựa trên lý luận về lý thuyết hệ thống, quan điểm sinh thái, nhân văn, quan điểm bảo tồn, phát triển có sự tham gia
- Sưu tầm các tài liệu liên quan đến công tác nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp điều tra như: Kế thừa tài liệu, phỏng vấn người dân tại khu vực nghiên cứu
Trang 263.4.2 Kế thừa tài liệu
Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cùng các tài liệu có liên quan tới các chuyên đề của các tác giả trong và ngoài nước tại khu vực nghiên cứu
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.3.1 Phỏng vấn
Sử dụng một câu hỏi duy nhất cho tất cả người cung cấp tin, ví dụ:
“Xin Bác (Anh/ Chị/ Ông/ Bà) kể tên tất cả các cây có thể làm thuốc mà Bác (Anh/ Chị/ Ông/ Bà) biết”.Tên cây thuốc ở được thể hiện bằng tiếng phổ
thông, địa phương nhằm tránh sự nhầm lẫn tên loài giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau
Phỏng vấn bán cấu trúc: Phỏng vấn những người đưa tin then chốt, có uy tín như trưởng thôn, thầy lang, những người già trong làng, những người hành nghề bốc thuốc (sử dụng trong phỏng vấn bài thuốc)
Phỏng vấn hộ gia đình: Phỏng vấn 35 hộ dân am hiểu về cây thuốc, những người hay nhặt thuốc cho người khác trên tổng số 3/9 thôn Các hộ phỏng vấn được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên Tiêu chuẩn của các những người được phỏng vấn này là: Biết khai thác/chế biến các cây thuốc; có kiến thức/kỹ năng thực hành; am hiểu truyền thống quản lý, sử dụng cây thuốc của cộng đồng; sử dụng tốt hai thứ tiếng phổ thông và tiếng Dao hoặc có người biết tiếng phổ thông phiên dịch; đại diện cho các thành phần khác trong thôn bản như: lứa tuổi, lãnh đạo thôn, giới, thành phần kinh tế, mối quan tâm Đề tài sử dụng bảng câu hỏi với nội dung ngắn gọn, rõ ràng để khi phỏng vấn thu được nhiều thông tin, giúp cho người dân dễ hiểu, dễ trả lời Điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là đề nghị người cung cấp tin liệt kê đầy đủ tên những cây thuốc được người dân trong vùng sử dụng làm thuốc, thực phẩm bằng tiếng dân tộc của họ để tránh được sự nhầm
Trang 27lẫn tên cây giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau (Các thông tin phỏng vấn
thu thập được ghi chép và mô tả vào các mẫu biểu 01, mẫu biểu 02 và mẫu biểu 03 của phụ lục 1)
Bảng 3.1: Tóm tắt thông tin phỏng vấn
STT Tên thôn
Tổng số hộ dân tộc Dao
Số hộ phỏng vấn
Giới tính Độ tuổi
Ghi chú Nam Nữ
Dưới
35 tuổi
35-50 tuổi
Trên
50 tuổi
3.4.3.2 Thảo luận nhóm
Phương pháp này được thực hiện sau khi thực hiện công cụ phỏng vấn
hộ gia đình Các cuộc thảo luận được tiến hành dựa trên khung thảo luận chuẩn bị sẵn:
Một nhóm thảo luận được hình thành tại 01 xã trong vùng nghiên cứu(3 thôn điều tra) Nhóm 5 người với đủ các thành phần kinh tế trong thôn Thảo luận này nhằm khẳng định lại và bổ sung các hình thức khai thác, chế biến và
sử dụng cây thuốc Đồng thời tìm hiểu những khó khăn và khuyến nghị của cộng đồng trong phát triển sản xuất và sử dụng cây thuốc, tài nguyên rừng
một cách bền vững
Trang 283.4.3.3 Xác định các loài cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn
Phân hạng cây thuốc theo mức độ bảo tồn của loài:
+ Độ hữu ích của loài đối với người dân địa phương: sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài không có tiềm năng được dùng ở địa phương: 0 điểm
- Loài sử dụng ít đối với người dân địa phương: 1 điểm
- Loài có tầm quan trọng đối với người dân địa phương: 2 điểm
+ Mức độ để xâm nhập (vị trí mọc của loài để bị tìm thấy để khai thác):
sử dụng thang 2 mức điểm
- Loài mọc ở nơi rất khó xâm nhập: 0 điểm
- Loài mọc ở nơi rất dễ xâm nhập: 1 điểm
+ Tính chuyên biệt về nơi sống (sự xuất hiện của loài thể hiện khả năng sống thích nghi của loài hạn hẹp hay phổ biến): sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau: 0 điểm
- Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống: 1 điểm
- Loài có nơi sống hẹp: 2 điểm
+ Mức độ tác động đến sự sống của loài (sự tác động của người dân ảnh hưởng đến sự sống của loài): sử dụng thang 3 mức điểm
- Loài có ít nhất vài nơi sống của loài ổn định: 0 điểm
- Loài có nơi sống phần nào không ổn định hay bị đe dọa: 1 điểm
- Loài có nơi sống không chắc còn tồn tại: 2 điểm
3.4.4 Xử lý số liệu
Dữ liệu điều tra được xử lý bằng tay bao gồm: (i) liệt kê tất cả các tên
cây thuốc được NCCT nhắc đến, (ii) đếm số lần tên cây thuốc n được nhắc đến (tần số nhắc đến), và (iii) xếp danh mục các tên theo thứ tự nào đó, ví dụ như xếp theo tần số giảm dần Có thể xác định danh mục các loài được dùng làm thuốc tiêu biểu (hay các loài cốt lõi), là các loài được nhiều NCCT nhắc đến,
Trang 29cộng với một số lượng lớn các loài được một số ít NCCT hay chỉ một người nhắc đến Các loài tiêu biểu phản ánh sự tồn tại của một tiêu chuẩn văn hóa, tri thức chung của cộng đồng liên quan đến lĩnh vực cây thuốc trong khu vực điều tra Các loài còn lại thể hiện cái nhìn, tri thức, kinh nghiệm riêng của các thành viên trong cộng đồng [2]
3.4.5 So sánh sự khác biệt giữa 2 dân tộc Dao và Tày
Sau khi phỏng vấn xong dân tộc Dao, để tiến hành so sánh tri thức bản địa của dân tộc Dao và dân tộc khác, ta tiếp tục phỏng vấn thêm 5 NCCT dân tộc Tày tại thôn Cuôn (những người thầy lang, những người có kinh nghiệm bốc thuốc).Sau đó tiến hành so sánh thông tin thu được từ 5 NCCT dân tộc Tày với kết quả có được của dân tộc Dao trước đó, để tìm hiểu sự khác biệt giữa tác dụng của các loài cây, cách dùng và mục đích sử dụng các cây làm thuốc của 2 dân tộc
3.4.6 Phương pháp nghiên cứu thực vật học
Thu mẫu: Các mẫu vật được thu thập theo kinh nghiệm sử dụng của
người dân địa phương
Các mẫu tiêu bản tốt phải đảm bảo có đầy đủ các bộ phận đặc biệt là cành, lá cùng với hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (cây thảo nhỏ hay dương xỉ) Các cây lớn thu từ 3-5 mẫu trên cùng cây, các cây thảo nhỏ và dương xỉ thì thu 3-5 cây (mẫu) sống gần nhau Điều này là rất cần thiết để bổ sung cho nhau trong quá trình định mẫu và trao đổi mẫu vật[2]
Tuy nhiên trong điều tra thực vật dân tộc học, các mẫu tiêu bản thu được thường không đầy đủ các tiêu chuẩn trên Trong các trường hợp này, cần thu thập các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt, rễ ), các mẫu này không đủ cơ
sở để xác định chính xác tên khoa học nhưng có thể định hướng cho quá trình thu thập thông tin kèm theo và thu mẫu tiêu bản bổ sung sau này
Bên cạnh các mẫu thực vật điển hình thì để mô phỏng cho giá trị sử dụng, chúng tôi còn thu thập các mẫu thực vật dân tộc học các mẫu thực vật
Trang 30chứa đựng giá trị tri thức dân tộc như: Bộ phận dùng, các bộ phận có đặc điểm
để phân biệt bởi tri thức dân tộc, các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật [2]
Ghi chép thông tin: Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải
được ghi chép ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: Dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả trong đó đặc biệt lưu ý đến các thông tin không thể hiện được trên mẫu tiêu bản khô như màu sắc hoa, quả khi chín, màu của nhựa, dịch, mủ; mùi, vị của hoa quả nếu có thể biết được… Bên cạnh đó, các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, điều kiện tự nhiên, sinh thái nơi sống, mật độ, người thu mẫu…cũng nên được ghi cùng
Các thông tin về thực vật dân tộc học được ghi chép thông qua tri thức của người cung cấp thông tin Có thể phỏng vấn trực tiếp hay quan sát cách thức thực hiện các tri thức đó để thu nhận thông tin Các thông tin cần ghi là: tên dân tộc của cây, ý nghĩa của tên, mục đích sử dụng, bộ phận dùng, cách khai thác, bảo quản và sử dụng, cách thức dùng khi phối hợp với các cây khác, nguồn gốc thông tin… Ngoài ra, do mẫu thực vật dân tộc thường không
có đầy đủ các bộ phận để quan sát trực tiếp nên cán bộ điều tra đề nghị người cung cấp tin mô tả các bộ phận còn thiếu tuy nhiên những mô tả này chỉ để tham khảo và định hướng tiếp theo chứ không được coi là các mô tả thực vật
vì cách nhìn nhận, mô tả của người dân không hoàn toàn trùng khít với cách
mô tả thực vật của người nghiên cứu Các thông tin có thể được vào phiếu điều tra ngay tại hiện trường hoặc ghi vào sổ tay sau đó đến cuối ngày phải vào phiếu [2]
Xử lý mẫu: Trong khi thực địa, các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau
đó kẹp vào giữa hai tờ báo (kích thước 45 x 30 cm) và được ngâm trong dung dịch cồn 40o - 45o để mang về Khi về, mẫu được lấy ra khỏi cồn và được đặt giữa hai tờ báo khô, cứ như vậy thành từng tập, kẹp bằng kẹp mắt cáo để mang đi phơi hoặc sấy khô Mẫu có thể được xử lý độc và khâu hay không là
Trang 31tùy vào yêu cầu cụ thể
Các mẫu vật phức tạp, không có nhiều đặc điểm nhận dạng sẽ được chuyển cho các chuyên gia phân loại sâu để giám định
Lập danh lục: Từ các mẫu tiêu bản đã có tên, tiến hành lập danh lục
thực vật, tên khoa học của các loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh
lục các loài thực vật Việt Nam” Danh mục được sắp xếp theo ngành và họ
Trong bảng danh lục có các cột là: Số thứ tự, tên phổ thông, tên dân tộc, tên
khoa học, chế biến và sử dụng
Trang 32PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các loài cây thuốc được cộng đồng dân tộc Dao tại xã Hà Lang khai thác và sử dụng
4.1.1 Danh mục các loài thực vật được cộng đồng Dao tại xã Hà Lang khai thác và sử dụng
Trên cơ sở điều tra nghiên cứu, thu thập thông tin đã thống kê được một
số loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng làm thuốc, các loài cây thuốc được xác định theo tiếng địa phương và tên phổ thông, mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái sau đó mang về làm tài liệu tra cứu xác định tên phổ thông cùng tên khoa học Kết quả nghiên cứu được tổng hợp trong bảng 4.1:
Bảng 4.1: Đa dạng nguồn cây thuốc được cộng đồng Dao khai thác và
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018)
Qua bảng bảng 4.1 ta thấy có 85 loài cây thuốc, thuộc 52 họ và 2 ngành gồm: Ngành hạt trần và ngành hạt kín, trong 2 ngành trên ngành hạt kín phong phú và đa dạng hơn cả Các loài cây thuốc này không chỉ chữa một bệnh mà có thể chữa được nhiều bệnh khác nhau, tùy theo sự hiểu biết của mỗi người trong cộng đồng dân tộc nghiên cứu Những hiểu biết của họ về công dụng, bộ phận sử dụng của các loài cây thuốc phụ thuộc nhiều vào độ tuổi, giới tính mà có những hiểu biết khác nhau Bởi vì những hiểu biết này phải trải qua thời gian tích lũy kinh nghiệm thực tiễn và khả năng
Trang 334.1.2 Một số loài cây tiêu biểu được cộng đồng Dân tộc Dao sử dụng làm thuốc
Từ kết quả điều tra tổng hợp lại cây thuốc được người dân biết đến với
số lần nhiều nhất được thống kê từ cao đến thấp trong bảng 4.2
Bảng 4.2: Cây thuốc được người dân nhắc đến với số lần nhiều nhất
Số lần được nhắc đến
1 Dâm bụt Phù cuối pèng Hibiscusrosa sinesis 7
6 Khế chua Mắc pường sia Averrhoa
Trang 34Qua bảng 4.2 ta thấy các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng làm thuốc trong các bài thuốc rất đa dạng và phong phú,
đó là những loài cây gần gũi và quen thuộc với người dân nhưng khi đi phỏng vấn thì rất ít người biết sử dụng Một số loài chúng ta có thể gặp thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày như: Cây khế, cây gừng Những bộ phận của các loài cây được sử dụng nhiều trong các bài thuốc như: cành, lá, rễ, vỏ hoặc có thể sử dụng được cả cây phụ thuộc vào cách chữa trị của từng căn bệnh Mỗi một bài thuốc có các cách pha chế khác nhau tùy vào công dụng
mong muốn và mức độ nặng nhẹ của từng trường hợp ở mỗi một người bệnh 4.2 Tri thức bản địa trong việc khai thác, sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng Dân tộc Dao tại xã Hà Lang
4.2.1 Hoàn cảnh có được tri thức
Thống kê từ mẫu biểu 1 hoàn cảnh có được tri thức dân tộc của cộng đồng dân tộc Dao tại Xã Hà Lang tóm tắt bằng bảng 4.3:
Bảng 4.3: Tóm tắt hoàn cảnh có được tri thức của cộng đồng
dân tộc Dao tại Xã Hà Lang
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018)
Qua bảng 4.3 ta thấy hoàn cảnh do người dòng tộc truyền lại là 16 người chiếm 45.71%, tự tìm tòi và phát hiện là 4 người chiếm 11.43%; học từ người là 14 người chiếm 40%;cách khác là 1 người chiếm 2.86%
Trang 35Hình 4.1: Hoàn cảnh tiếp nhận tri thức của cộng đồng dân tộc Dao
tại xã Hà Lang
4.2.2 Phương thức khai thác các loài cây thuốc
4.2.2.1 Tri thức bản địa về bộ phận thu hái các loài cây thuốc
Việc thu hái các bộ phân của cây thuốc theo kinh nghiệm của đồng bào được tóm tắt bằng hình 4.2:
Hình 4.2: Các bộ phận thu hái của cây thuốc
6
23
2310
61623
Bộ phận thu hái
CủLáRễVỏQuả
Cả câyCách khác
Trang 36Qua hình 4.2 trên, ta thấy mức độ khai thác và sử dụng các bộ phận thu hái bằng củ có 6 lượt nhắc, thu hái bằng lá có 23 lượt nhắc, thu hái bằng rễ có
23 lượt nhắc, thu hái bằng vỏ có 10 lượt nhắc, thu hái bằng quả có 6 lượt nhắc, thu hái cả cây có 16 lượt nhắc và cách khác có 23 lượt nhắc Bên cạnh
đó người dân còn thu hái lá kết hợp cả rễ, thân, hoa hoặc củ để sử dụng Khi
số lượng dân số còn ít thì sự tác động này của người dân vẫn chưa gây ảnh hưởng lớn đến tài nguyên cây thuốc cũng như thực vật rừng, nhưng khi số lượng dân số ngày một tăng cao kéo theo nhu cầu của họ cũng tăng lên nên sự tác động này gây ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp tới nguồn tài nguyên cây thuốc cũng như các nguồn tài nguyên khác tại khu vực nghiên cứu Đặc biệt khi người dân không chỉ khai thác các bộ phận mà cây có thể tái sinh được như:
lá, vỏ cây để sử dụng Họ đã thực hiện khai thác triệt để thu hái cả cây, đào cả
rễ, cả củ lên, từ đó đã làm cho số lượng các loài cây thuốc suy giảm mạnh chúng không còn khả năng tái sinh lại trong tự nhiên
Trang 374.2.2.2 Tri thức bản địa trong kỹ thuật thu hái các loài cây thuốc
Hình 4.3: Kỹ thuật thu hái các loài cây thuốc
Qua hình 4.3 ta thấy người kỹ thuật thu hái như sau: Bằng cách hái có
26 lượt nhắc đến, bằng cách đào có 20 lượt nhắc đến, bằng cách nhổ có 22 lượt nhắc đến và cách dùng khác có 39 lượt nhắc
4.2.2.3 Tri thức bản địa trong biện pháp xử lý các loài cây thuốc
Hình 4.4: Biện pháp xử lý các loài cây thuốc
Qua hình 4.4 biện pháp xử lý bằng cách đun uống có 33 lượt nhắc đến, giã đắp 31 lượt nhắc, tắm có 30 lượt nhắc, cách khác có 13 lượt nhắc
26
2022
39
Kỹ thuật thu hái
HáiĐàoNhổCách khác
33
3130
13
Biện pháp xử lý
Đun uốngGiã ĐắpTắmcách khác
Trang 384.2.3 Tri thức bản địa trong việc sử dụng các bài thuốc dân gian
Từ các phương pháp nghiên cứu của đề tài thảo luận, điều tra, phỏng vấn những người có kinh nghiệm lâu năm về việc khai thác và sử dụng các loài thực vật làm thuốc, chúng tôi đã phát hiện ra các bài thuốc có giá trị cao được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng từ rất lâu đời Những bài thuốc này được lưu truyền từ ông bà sang thế hệ con cháu trong một dòng họ nào đó nhưng chủ yếu là con trưởng trong một gia đình hay một dòng tộc, cứ như thế được truyền miệng từ đời này sang đời khác Sau khi tổng hợp và loại
bỏ các bài thuốc trùng nhau, kết quả chúng tôi đã xác định được 22 bài thuốc với tổng cộng 57 loài thực vật (kể cả có tên và chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam) mà cộng đồng dân tộc Dao tại xã Hà Lang đã và đang sử dụng để điều trị các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y Dưới đây là bảng 4.4 thống kê chi tiết các bài thuốc:
Bảng 4.4: Các bài thuốc của cộng đồng Dân tộc Dao tại xã Hà Lang
STT Bài thuốc
Tên cây thuốc, vị thuốc (phổ thông/ địa phương) Bộ phận sử
dụng Cách pha chế Tên phổ
thông
Tên địa phương
1 Quai bị
Lấy mỗi thứ 1 ít rửa sạch, băm nhỏ, giã đắp vào vùng
lấy lưỡi cày hơ nóng nhúng
3 lần, chắt nước uống
Bổ quả dứa rừng đun nước
Trang 39Củ bình vôi Kèng tìn Củ
Lấy củ rửa sạch đun nước uống, uống trước khi đi ngủ,uống trong 1 tuần
5 Hạ huyết áp
Cây ba gạc Piết pua khoái Vỏ, rễ Lấy 2 thứ cây này rửa sạch,
đun nước uống, ngày 2-3 lần uống trong 1 tuần
sau đó giã trộn với nước
gạo nếp
8 Đau bụng
Lấy 3 loại cây này rửa sạch, đun nước uống
9 Rắn cắn Găng Lờ cãng ghin Lá Mỗi loại 1 ít, mang giã đắp,
đắp ngày 4-5 lần đến khi