ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LƯƠNG THỊ DUNG NHI Tên chuyên đề: TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC BỆNH TIÊU CHẢY GIAI ĐOẠN SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN CHU BÁ THƠ Ở VIỆT YÊN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG THỊ DUNG NHI Tên chuyên đề:
TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC BỆNH TIÊU CHẢY GIAI ĐOẠN SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN CHU BÁ THƠ Ở VIỆT YÊN, BẮC GIANG VÀ HIỆU LỰC CỦA PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2014 – 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG THỊ DUNG NHI Tên chuyên đề:
TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC BỆNH TIÊU CHẢY GIAI ĐOẠN SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN CHU BÁ THƠ Ở VIỆT YÊN, BẮC GIANG VÀ HIỆU LỰC CỦA PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn: TS Trương Hữu Dũng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học Được sự giúp đỡ giảng dạy nhiệt tình của các Thầy Cô giáo khoa Chăn nuôi -Thú y, Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới:
Ban Giám Hiệu Nhà trường, các thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y cùng tất cả bạn bè và người thân đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất giúp em thực hiện đề tài và hoàn thiện cuốn khóa luận này
Em xin cảm ơn tới cấp ủy, chính quyền xã Việt Yên, trại lợn Chu Bá Thơ
đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Trương Hữu Dũng đã dành nhiều thời gian, công sức, hướng dẫn chỉ bảo tận tình, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành cuốn khóa luận này
Một lần nữa em xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo, các bạn bè lời cảm ơn
và lời chúc sức khỏe, cùng mọi điều tốt đẹp nhất
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Sinh viên
Lương Thị Dung Nhi
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 6Bảng 2.2 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 7Bảng 2.3 Quy mô và cơ cấu đàn lợn của trại Chu Bá Thơ qua 3 năm
(2015-2017) 8Bảng 4.1 Tỷ lệ mắc tiêu chảy lợn con theo đàn và cá thể 31Bảng 4.2 Kết quả điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con qua
các tháng 7, 8 và 9 trong năm 2017 32Bảng 4.3 Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn theo lứa tuổi 35
Bảng 4.4 Bảng kết quả triệu chứng lâm sàng lợn con mắc tiêu chảy Error!
Bookmark not defined.
Bảng 4.5 Phác đồ điều trị của hai lô thí nghiệm 39
Bảng 4.6 Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc Error! Bookmark not defined Bảng 4.7 Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát bệnh tiêu chảy lợn con Error!
Bookmark not defined.
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Lợn bị ỉa chảy gầy còm,mất nước, phân màu vàng 19Hình 2.2 Niêm mạc ruột nợt nhạt, xuất huyết 19Hình 4.1 Biểu đồ kết quả điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn
con qua các tháng 7, 8 và 9 năm 2017 33Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo lứa tuổi 36
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đánh giá chung 9
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 10
2.2.1 Khái niệm chung về hội chứng tiêu chảy 10
2.3 Vài nét về tình hình nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa trong và ngoài nước 24
2.3.1 Nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy trong nước 24
2.3.2 Nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy trên thế giới 27
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28
3.1 Đối tượng 28
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28
3.3 Nội dung tiến hành 28
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 28
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 28
Trang 93.4.3 Một số phương pháp xử lý số liệu 30
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Kết quả điều tra lợn mắc bệnh theo đàn và theo cá thể 31
4.2 Kết quả theo mắc dõi tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con qua các tháng 32
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC 46
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong nền nông nghiệp Việt Nam thì ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng khá cao và đóng vai trò quan trọng, chăn nuôi không những cung cấp thực phẩm cần thiết cho con người mà còn tạo công ăn việc làm cho người thất nghiệp mà còn góp phần xóa đói giảm nghèo, giúp người dân tăng thu nhập, làm giàu từ chăn nuôi chính vì thế cần phải được chú trọng nhiều hơn
Hiện nay ngành chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại ở nước ta ngày càng phổ biến và đạt hiệu quả kinh tế cao, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp cùng với lúa nước là hai hợp phần quan trọng và xuất hiện sớm nhất trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Chăn nuôi lợn không những cung cấp sản phẩm dinh dưỡng cao cho con người mà còn tạo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, phân bón cho cây trồng Tuy nhiên vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, khó khăn nan giải nhất gặp phải trong chăn nuôi chính là vấn đề dịch bệnh Nó đã, đang và sẽ gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi Một trong những bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế đó là hội chứng tiêu chảy của vật nuôi Trong chăn nuôi lợn tập trung, bệnh lây lan mạnh, lại thường xuyên gặp, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi, tỷ lệ chết cao, giảm khả
năng tăng trọng của đàn lợn
Bệnh thường xảy ra làm cho lợn con bị viêm ruột ỉa chảy, mất nước và điện giải dẫn đến giảm sức đề kháng, còi cọc và chết nếu không được điều trị kịp thời Cũng xoay quanh bệnh này, rất nhiều các trang trại hay các nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp đã sử dụng kháng sinh trộn vào thức ăn, nước uống để phòng tiêu chảy và điều trị bệnh Do không thực hiện đúng nguyên tắc
sử dụng kháng sinh nên hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn ngày càng gia
Trang 11Xuất phát từ tình hình thực tế trên cùng sự giúp đỡ của cơ sở thực tập và đặc
biệt dưới sự hướng dẫn của Ts Trương Hữu Dũng tôi đã tiến hành đề tài “Tình
hình lợn con mắc bệnh tiêu chảy giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn Chu Bá Thơ ở Việt Yên, Bắc Giang và hiệu lực của phác đồ điều trị”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Đánh giá thực trạng bệnh lợn con tiêu chảy tại trại chăn nuôi lợn Chu
Bá Thơ ở Việt Yên, Bắc Giang
- Đánh giá hiệu quả điều trị của hai loại thuốc: Norfacoli + Atropine và Nor 100
1.3 ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu dịch tễ học bệnh tiêu chảy lợn con là những tư liệu khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo tại trại lợn Chu Bá Thơ ở Việt Yên, Bắc Giang
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu về biện pháp phòng trị bệnh, đánh giá hiệu quả điều trị bằng 2 loại thuốc kháng sinh góp phần phục vụ sản xuất ở trại để kiểm soát và khống chế bệnh tiêu chảy lợn con nuôi tại cơ sở
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
Trại lợn Chu Bá Thơ thuộc thôn Năm, làng Chàng, xã Việt Tiến, huyên Việt Yên, Bắc Giang
Vị trí địa lí tiếp giáp của trại :
- Phía Bắc giáp xóm 7, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang
- Phía Nam giáp xóm 4, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang
- Phía Đông giáp xóm 3, xã Việt Tiến,huyện Việt Yên, Bắc Giang
- Phía Tây giáp xóm 9, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang
Trại lợn Chu Bá Thơ nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn, có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi, với diện tích là khoảng 5000 m2 Trong đó:
- Đất trồng cây ăn quả: 1000 m2
- Đất xây dựng: 2000 m2
- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 1500 m2
Trang trại đã dành khoảng 500 m2 đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho
320 nái cơ bản bao gồm: 2 chuồng đẻ 720 m2 (1 chuồng có 40 ô đẻ và 1 chuồng 30
ô đẻ), 1 chuồng nái chửa 690 m2 (chuồng có 270 ô nái chửa và chờ phối, 3 ô đực,
1 ô thử lợn ), 1 chuồng hậu bị 300 m2, 1 chuồng thịt 300 m2, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, kho thuốc
Trang 13Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 4 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng hậu bị Hai bên tường
có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m2, cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái chửa Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống
2.1.1.2 Tình hình chăn nuôi lợn của trang trại
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,3 - 2,32 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,00 con/đàn, số con cai sữa: 10,50 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và bán hoặc chuyển xuống chuồng thịt nuôi Trong trại có 3 con lợn đực giống, 1 lợn đực giống được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái, 2 lợn đực giống Duroc nuôi khai thác tinh
sử dụng phối giống cho lợn nái trong trại Lợn nái được phối 2 lần ( hoặc 3 lần đối với những con bị trào ngược tinh ra ngoài, hậu bị )
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao của công ty Emivet
2.1.1.3 Công tác phòng bệnh của trại
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trại được thực hiện nghiêm ngặt,
chặt chẽ
Trang 14Trong chăn nuôi việc phòng bệnh là rất quan trọng nhằm nâng cao sức đề kháng không đặc hiệu cho đàn lợn Cùng với việc vệ sinh thức ăn, nước uống,
vệ sinh thân thể cho lợn thì việc tạo bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi thuận lợi cho lợn là một việc rất quan trọng vì ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm là rất lớn đối với lợn.Trại lợn Chu Bá Thơ, thôn Năm, làng Chàng, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang là một trại lợn có trang thiết bị hiện đại, thiết kế phù hợp với việc vệ sinh thú y Hai bên đường vào khu chăn nuôi là ao cá, do đó chỉ có 1 đường duy nhất vào khu chăn nuôi Trên đường này đặt nhà sát trùng có hệ thống phun sát trùng cho người và xe ô tô
Khi công nhân, kỹ thuật, khách tham quan vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng tại nhà sát trùng và thay quần áo bảo hộ lao động mới được vào khu chuồng nuôi
Hệ thống chuồng nuôi lợn của trại được thiết kế là hệ thống chuồng kín, do
đó thuận lợi cho việc tạo bầu tiểu khí hậu thuận lợi cho lợn phát triển Nhiệt độ trong chuồng được điều tiết nhờ hệ thống giàn mát, quạt thông gió và bóng điện Việc thu dọn phân và vệ sinh máng tắm cũng được thực hiện hai lần mỗi ngày vào đầu buổi sáng và cuối buổi chiều Việc quét dọn hành lang trong chuồng cũng được vệ sinh thường xuyên và rắc vôi bột hoặc quét vôi định kì 1 tuần 1 lần, kết hợp với dọn vệ sinh xung quanh chuồng trại và tiêu diệt chuột Các chuồng lợn
đã bán hết và chờ nhập lứa mới cũng được rửa sạch, để khô rồi phun thuốc sát trùng tiêu độc, quét vôi và để trống chuồng 1 tuần rồi mới cho lứa khác vào
Để phòng chống các dịch bệnh xảy ra, trại lợn đã thực hiện các biện pháp như:
+ Đảm bảo chuồng trại thoáng mát về mùa hè, ấm vào mùa đông
+ Tăng cường chế độ dinh dưỡng
+ Lợn nhập vào trại đảm bảo không có bệnh
+ Tiêm phòng vaccine đúng lịch
Trang 15Bảng 2.1 Lịch sát trùng trại lợn nái
Thứ
Trong chuồng
Ngoài Chuồng
Ngoài khu vực chăn nuôi
Chuồng
Chuồng Hậu bị và chuồng thịt
Phun sát trùng + rắc vôi
Phun sát trùng
Phun sát trùng toàn
bộ khu vực
Phun sát trùng toàn bộ khu vực
Trùng
Phun sát trùng + quét vôi đường đi
Quét hoặc rắc vôi đường đi
Thứ 5
Phun sát trùng + xả vôi, xút gầm
Trùng
Phun sát trùng + rắc vôi
Phun sát Trùng
Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng khu
- Phòng bệnh bằng Vaccine
Quy trình phòng bệnh bằng vaccine luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con
Tiêm vaccine nhằm tạo miễn dịch chủ động cho lợn chống lại mầm bệnh
Trang 16khi nó xâm nhập vào cơ thể Vaccine chỉ có hiệu quả phòng bệnh cao khi sức khỏe của con vật được đảm bảo, trên cơ sở đó trại chỉ tiêm vacxin cho lợn ở trạng thái lợn khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và mạn tính khác, tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Lợn được tiêm vaccine ở trạng thái khoẻ mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mạn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng cho đàn lợn luôn đạt 100%
Sau đây là quy trình phòng bệnh bằng thuốc và vaccine cho các loại lợn
Bảng 2.2 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái
Loại lợn Tuần tuổi Phòng
bệnh
Vaccine/
Thuốc/chế phẩm
Đường đưa thuốc
Liều lượng (ml/con)
Lợn con
21 – 26 ngày Circo ,
Dịch tả
Pro-Vac CricoMaster ,Dịch tả lợn
Trang 17Định kỳ hàng năm vào tháng 4, 8, 12 tiêm phòng bệnh tổng đàn vacxin giả dại Begonia tiêm bắp 2 ml/con
Bảng 2.3 Quy mô và cơ cấu đàn lợn của trại Chu Bá Thơ qua 3 năm
(2015-2017)
Tháng 11/2017
Nái sinh sản từ năm 2015 đến 2016 tăng rõ rệt, tuy nhiên năm 2017 trại bị dịch PED và nhu cầu, giá cả giảm mạnh , tiêu thụ chậm lại nên loại thải 65% nái
3 máu, sức sinh sản kém Thay vào đó nhập thêm nái hậu bị ông bà nên tỉ lệ hậu
bị tăng cao trong cơ cấu đàn Lợn con theo mẹ từ năm 2015 dến 2016 tăng và giảm ở năm 2017, năm 2017 lợn thịt tăng rõ rệt do thị trường tiêu thụ lợn con đang chững lại, tiêu thụ chậm
Trang 18Kết quả này cho thấy, cơ cấu lợn của trại có nhiều thay đổi trong 3 năm
do thị trường lợn trong nước có sự biến động, trại phải tăng, giảm số lượng lợn của trại để đáp ứng thị trường cũng như là khả năng chăn nuôi của trại Thức ăn cho lợn sử dụng thức ăn hỗn hợp của Công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi Emivet Sau khi cai sữa lợn con được xuất đi các trại nuôi thịt lợn thịt thương phẩm hoặc chuồng thịch để chăm sóc Lợn mẹ sau khi được tách con thì chuyển xuống chờ phối Sau từ 3 đến 10 ngày thì phối giống, lợn mẹ trước khi
đẻ 7-10 ngày chuyển sang chuồng chờ đẻ
2.1.2.2 Khó khăn
- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn
- Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng
- Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử
lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
Trang 192.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Khái niệm chung về hội chứng tiêu chảy
Tiêu chảy là tình trạng bệnh lý đường tiêu hoá, con vật có hiện tượng ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hoá hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn
Tiêu chảy do rất nhiều nguyên nhân gây ra và được đánh giá là hội chứng phổ biến trong các bệnh của đường tiêu hoá, xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể, nhưng khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 – 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75 -76% trở lên gọi là hội chứng tiêu chảy
Theo Phan Thanh Phượng và cộng sự (2004) [14] sai sót về chế độ dinh dưỡng, sự thay đổi đột ngột về thức ăn, sự sai sót về sử dụng thuốc điều trị, dùng kháng sinh điều trị quá dài hoặc bị một số đường tiêu hóa Lúc đó vi sinh vật có hại sẽ phát triển, áp đảo vi sinh vật có lợi, gây ra hội chứng tiêu chảy hay còn gọi là hội chứng loạn khuẩn Ngoài những nguyên nhân trên thì thời tiết thay đổi đột ngột đang nắng chuyển sang mưa cũng dẫn tới rối loạn tiêu hóa Theo Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2005) [1] đã đưa ra nhận xét: Các nguyên nhân gây cho lợn con bị bệnh tiêu chảy là gió lùa, chuồng trại lạnh giá không đủ ấm, nhiệt độ ban ngày và đêm biên đọ chênh lệch quá xa, ẩm độ chuồng cao, nuôi dưỡng kém, do lây truyền từ con khác sang, tiêm phòng không đảm bảo, tiêu trùng chuồng giữ hai lứa kém, cơ năng tiêu hóa của lợn còn yếu, hệ thần kinh hoạt động chưa chưa hoàn chỉnh, sức chống đỡ bệnh tật của cơ thể kém
2.2.1.1 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy
Trong lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy, nhiều tác giả đã dày công nghiên cứu và cho thấy nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy rất phức tạp
Trang 20Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, hội chứng tiêu chảy ở gia súc xảy ra do các nguyên nhân sau đây:
Do vi sinh vật
Vi sinh vật bao gồm các loại virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, và nấm mốc Chúng vừa là nguyên nhân nguyên phát, cũng vừa là nguyên nhân thứ phát gây tiêu chảy
có lợi cho cơ thể vật chủ Hoạt động sinh lý của gia súc chỉ diễn ra bình thường khi mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái cân bằng
Đào Trọng Đạt và cs., (1996) [3] cho biết, khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút E.coli thường xuyên cư trú trong đường ruột của lợn thừa cơ sinh sản rất nhanh và gây nên sự mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, gây tiêu chảy Khi tiến hành xét nghiệm 140 mẫu phân lợn khoẻ ở các lứa tuổi khác nhau (từ
sơ sinh đến lợn nái) Hồ Văn Nam (1982) [8] đã cho biết 100% các mẫu phân lợn ở các lứa tuổi có E.coli, xét nghiệm 170 mẫu phân lợn bị tiêu chảy ở các lứa tuổi tương tự, tỷ lệ này cũng là 100%, nhưng có sự bội nhiễm vi khuẩn đường ruột một cách rõ rệt Trong phân lợn không tiêu chảy số lượng vi khuẩn 150,70 triệu/1gram phân, nhưng khi bị tiêu chảy số lượng này đã là 196,35 triệu, tăng hơn 45, 65 triệu
Theo Nguyễn Thị Nội (1985) [7], các tác nhân bệnh tiêu chảy cho lợn
Trang 21Streptococcus, Klebsiella, Proteus, Pseudomonas, trong đó chủ yếu là do E.coli độc, Salmonella và Streptococcus
Nguyễn Anh Tuấn và cs., (2013) [14] khi nghiên cứu về E.coli và Salmonella trong phân lợn tiêu chảy và lợn không tiêu chảy cho biết: ở lợn không tiêu chảy có 83,30% - 88,29% số mẫu có E.coli; 61,00% - 70,50% số mẫu có mặt Salmonella Nguyễn Thị Kim Lan và cs., (2010) [10] cũng cho biết, khi lợn bị tiêu chảy ở các lứa tuổi, số lượng trung bình vi khuẩn Cl.perfringens trong phân tăng 173,84% so với lợn bình thường
Do virus
Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng virus cũng là nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn Nhiều tác giả đã nghiên cứu và kết luận một số virus như Porcine circovirus type 2 (PCV2), Rotavirus, TGE, PED, Enterovirus, Parvovirus, Adenovirus có vai trò nhất định gây hội chứng tiêu chảy ở lợn Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, suy giảm sức
đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể cấp tính
Trước tiên là virus TGE (Transmissible gastro enteritis) gây bệnh viêm
dạ dày ruột truyền nhiễm ở lợn, là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng Bệnh thường xảy ra ở các
cơ sở chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh Ở lợn, virus nhân lên mạnh nhất trong niêm mạc của không tràng và tá tràng rồi đến hồi tràng
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs., (2009) [12] virus TGE có sự liên hệ đặc biệt với các tế bào màng ruột non Khi virus xâm nhập vào tế bào nó nhân lên và phá hủy tế bào trong vòng 4 – 5 tiếng Sữa và các thức ăn khác ăn vào không tiêu hóa được ở lợn nhiễm virus TGE Các chất dinh dưỡng không được tiêu hóa, nước không được hấp thu, con vật tiêu chảy, mất dịch, mất chất điện giải và chết
Do ký sinh trùng
Khi ký sinh trong đường tiêu hóa ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh
Trang 22dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động
cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây
ra hội chứng tiêu chảy như: Sán lá ruột lợn (Fasciolopsis busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)…
Giun đũa ký sinh trong ruột non của lợn là loài Ascaris suum Vòng đời giun đũa lợn phát triển và gây bệnh không cần vật chủ trung gian, lợn trực tiếp nuốt phải trứng gây nhiễm và phát triển thành giun trưởng thành ký sinh ở đường tiêu hóa Số lượng giun có thể từ vài con đến hàng nghìn con trong một
cơ thể lợn
Lợn nhiễm giun đũa với biểu hiện lâm sàng là tiêu chảy vì giun đũa tác động bằng cơ giới gây viêm ruột, tiết độc tố để đầu độc và chiếm đoạt thức ăn của cơ thể lợn, làm cho lợn con gầy yếu, chậm lớn, suy dinh dưỡng, sinh trưởng phát dục chậm và không đầy đủ, sản phẩm thịt giảm đến 30%
Nguyên nhân khác
Do thời tiết khí hậu, do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, do stress, do ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại, do ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn
+ Do thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá lạnh, mưa gió, ẩm độ, vệ sinh chuồng trại, đều là các yếu tố stress có hại tác động đến tình trạng sức khỏe của lợn
Ở lợn con, do cấu tạo và chức năng sinh lý của các hệ cơ quan chưa ổn định,
hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện Vì vậy lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh
Trang 23Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh,
ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội mô Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thể giảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh Theo Đào Trọng Đạt và cs., (1996) [3] thì trong những tháng mưa nhiều,
độ ẩm cao lợn con bị bệnh phân trắng tăng lên ró rệt, có khi lên đến 90 – 100%
+ Do thức ăn và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi Việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ đem lại sức khỏe và tăng trưởng cho lợn Khi thức ăn chăn nuôi không đảm bảo, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật chăm sóc không phù hợp, là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợn giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Trong các loại độc tố nấm mốc thì Aflatoxin là loại độc tố được quan tâm nhất hiện nay Hàm lượng Aflatoxin trong các mẫu thức ăn chăn nuôi ở các tỉnh phía Bắc biến động từ 10 đến 2800 µg/kg thức ăn Có đến 10% các loại thức ăn hiện dùng là không an toàn cho gia súc, gia cầm Một số loại như: Aspergilus, Penicillium, Fusarium, có khả năng sinh nhiều độc tố Aflattoxin (Aflattoxin B1, B2, G1, G2, M1)
Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protid và axitamin không cân đối dối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt Hệ quả là khả năng miễn dịch của
cơ thể giảm đi rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển và gây bệnh Nếu khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và vitamin cũng là nguyên nhân làm cho lợn con dễ mắc bệnh Chất khoáng góp phần tạo tế bào, điều hòa thức ăn đạm và chất béo Lợn con thiếu khoáng dễ dẫn đến bị còi xương, cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm tạo điều kiện cho vi khuản đường ruột tăng độc
Trang 24lực và gây bệnh
Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể động vật, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường Thiếu một vitamin sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa
+ Do stress
Sự thay đổi các yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuông nuôi, vận chuyển
đi xa đều là các tác nhân stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh tật trong đó có tiêu chảy (Trích theo Đoàn Thị Kim Dung, 2004 [2])
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs., (2001) [4] hệ thống tiên hóa (dạ dày, ruột) của lợn mẫn cảm đặc biệt với stress Hiện tượng stress thường gây nên biểu hiện chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng
+ Ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại
Phần lớn thời gian sống của lợn là ở trong chuồng do vậy chuồng trại có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chúng Chuồng trại xây dựng đúng kiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợp với chăm sóc quản lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh tật của gia súc và ngược lại
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, về mùa hè khí hậu nóng,
ẩm, về mùa đông khí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông
Chuồng công nghiệp (có sàn cao hơn mặt đất 40 – 70 cm) đã góp phần cải thiện đáng kể tiểu khí hậu chuồng nuôi Theo Đào Trọng Đạt và cs., (1996) [3] chuồng khô, thoáng, đủ ánh sáng thì tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng thấp hơn so với chuồng ẩm, tối
Ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn
Trang 2525% từ mặt đất (ổ lót, tường ẩm) bốc ra và 10 – 15% từ không khí bên ngoài
chuồng nuôi đưa vào
Trong chuồng nuôi nếu độ ẩm quá cao ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể gia súc cho dù nhiệt độ không khí cao hay thấp Độ ẩm trong chuồng nuôi từ 55 – 85% ảnh hưởng đến cơ thể gia súc chưa rõ rệt nhưng nếu độ ẩm chuồng nuôi >90% sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể gia súc Nhiều thí nghiệm cho thấy lợn nuôi trong chuồng có độ ẩm cao trong thời gian dài không muốn ăn, giảm sức tiêu hóa thức ăn, giảm sức đề kháng với bệnh tật trong đó có hội chứng tiêu chảy
Bất kỳ mùa nào độ ẩm chuồng nuôi cao cũng có hại Đặc biệt, với lợn sơ sinh khi chức năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh, lợn con sống trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm độ cao sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh, sau khi đẻ 30 phút thân nhiệt lợn con có thể giảm thấp đến 5 – 60C sau
đó mới dần ổn định Nếu nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp thì thân nhiệt lợn con phục hồi nhanh và ngược lại, nếu nhiệt độ chuồng nuôi quá lạnh hoặc quá nóng
sẽ kéo dài thời gian phục hồi thân nhiệt sẽ làm cho con vật suy yếu rõ rệt Con vật bị stress nhiệt – nguyên nhân gây ỉa chảy Độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi là từ 80 – 85%
Theo Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng (1995) [9] chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối loạn tiêu hóa
Cũng theo các tác giả trên, chuồng trại sạch sẽ, kín, ấm vào mùa đông
và vào mùa xuân giữ cho chuồng khô ráo, chống ẩm ướt sẽ giúp lợn con phòng được bệnh lợn con phân trắng
2.2.1.2 Cơ chế sinh bệnh
Hệ thống dạ dày – ruột đặc biệt mẫn cảm với stress Ngay ở giai đoạn báo động của quá trình stress, nhu động ruột tăng thậm chí có thể gây ỉa chảy cấp tính Nếu các tác nhân stress tác động với cường độ mạnh kéo dài thì viêm
dạ dày – ruột, loét dạ dày là điều chắc chắn xảy ra Selye cũng chứng minh rằng
Trang 26các hormon stress chia làm 2 nhóm: nhóm kích thích viêm (STS, cortisol, ) và nhóm chống viêm (ACTH, cortisol ) Chính các hormon này đã tiềm ẩn một khả năng gây viêm cho niêm mạc và phần dưới của niêm mạc dạ dày – ruột Tiếp theo quá trình viêm của dạ dày – ruột bởi stress, các vi khuẩn có trong đường tiêu hoá đã làm cho bệnh trầm trọng hơn, tổn thương nặng nề hơn Khi nói đến nguyên nhân gây bệnh do E.coli, cơ chế gây bệnh được diễn
ra như sau:
Khi có điều kiện thuận lợi từ môi trường và vật chủ, vi khuẩn E.coli tăng sinh trong ruột và gây tiêu chảy bằng các yếu tố gây bệnh đặc hiệu Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp gồm các loại: Kháng nguyên O (kháng nguyên thân), kháng nguyên H (kháng nguyên lông), kháng nguyên K (kháng nguyên bề mặt, vỏ bọc) và F (kháng nguyên bám dính) (Đỗ Ngọc Thuý và cs, 2002-2003) [16] E.coli xâm nhập vào cơ thể động vật từ rất sớm, sau vài giờ được sinh ra Sau khi phát triển và tăng nhanh ở tế bào thành ruột, vi khuẩn xâm nhập vào hệ lâm ba, hệ tuần hoàn gây nhiễm trùng Vi khuẩn theo máu tới các
cơ quan tổ chức phá huỷ các tổ chức tế bào, gây viêm ruột, tiêu chảy và ngộ độc cấp làm cho gia súc chết nhanh Các chủng E.coli thuộc nhóm ETEC và VTEC thường gây tiêu chảy ở lợn sơ sinh và lợn con sau cai sữa Dựa vào các yếu tố gây bệnh, người ta đã phân vi khuẩn E.coli thành các loại sau: Enterotoxigenic E.coli (ETEC), Enteropathgenic E.coli (EPEC), Sdherence Enteropathogenic E.coli (AEEC) và Verotoxingenic E.coli (VTEC) Hầu hết vi khuẩn E.coli gây bệnh sản sinh một hay nhiều kháng nguyên bám dính (Fimbriae), 4 loại kháng nguyên bám dính quan trọng của ETEC gây bệnh ở lợn sơ sinh là F4(K88), F5(K99), F6(987P) và F41 Nhờ các kháng nguyên bám dính này mà vi khuẩn E.coli bám vào các cơ quan cảm nhận (receptor) chuyên biệt trên màng tế bào của các tế bào biểu mô ruột Sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô ruột non và cư trú ở đó, ở đây chúng phát triển và sản sinh độc tố đường ruột Enterotoxin Hai loại độc tố đường ruột đó là độc tố chịu nhiệt (ST) và độc tố
Trang 27thay đổi cân bằng trao đổi nước và chất điện giải, nước được rút vào cơ thể gây tiêu chảy Tiêu chảy làm lợn con mất nước, mất chất điện giải dẫn đến truỵ tim mạch và chết
Tóm lại quá trình tiêu chảy ở lợn con đã đưa lợn con vào 3 trạng thái rối loạn:
- Rối loạn chức năng tiêu hoá và hấp thu
- Rối loạn cân bằng của khu hệ vi sinh vật đường ruột
- Rối loạn cân bằng nước và điện giải do lợn con tiêu chảy quá nhiều Lợn con trong tình trạng nhiễm độc, truỵ tim mạch mà chết Những con chữa khỏi bệnh thường tăng trọng giảm, chậm lớn, còi cọc
2.2.1.3 Triệu chứng
Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt không tăng, nếu tăng thì chỉ sau 2 – 3 ngày rồi hạ xuống trở về lúc bình thường, có con thân nhiệt hạ xuống do ỉa chảy mất nước nhiều Lợn gầy tóp nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân
Tiêu chảy có thể ở mức nhẹ lợn không có biểu hiện mất nước hoặc tiêu chảy nặng với triệu chứng phân toàn nước Phân lợn có màu sắc khác nhau phân vàng kem hay hơi xanh, trắng hoặc xám Phân có thể chảy tự do từ hậu môn xuống sàn Trong trường hợp nặng, triệu chứng lâm sàng là mất nước, rối loạn trao đổi chất, tiêu chảy có thể gây sốt hoặc không sốt và lợn con suy nhược rất nhanh rồi chết Khối lượng cơ thể giảm 30 – 40% do mất nước Cơ bụng hóp lại, lợn gầy, suy kiệt và đi siêu vẹo, mắt trũng sâu, da tái xám và nhợt nhạt Sự mất nước và giảm khối lượng cơ thể làm cho lợn bị suy sụp nhanh, những con lợn con này thường bị chết Trong trường hợp mạn tính hay bệnh ít nghiêm trọng, da quanh hậu môn và vùng háng có thể đỏ lên do tiếp xúc với phân kiềm tính, lợn ít bị mất nước và điều trị tích cực thì có thể khỏi bệnh
Trang 28Hình 2.1 Lợn bị ỉa chảy gầy còm,mất nước, phân màu vàng
2.2.1.4 Bệnh tích
Những bệnh tích điển hình quan sát thấy như: Xác lợn gầy, vùng đuôi bê bết phân Niêm mạc mắt, miệng nhợt nhạt Trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc thức ăn chưa tiêu, mùi khó ngửi Thành dạ dày phù và xuất huyết, niêm mạc ruột non xuất huyết Trong ruột non chứa đầy khí căng phồng, có khi lẫn máu Gan, lách, thận không biến đổi nhiều
Hình 2.2 Niêm mạc ruột nhợt nhạt, xuất huyết