1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại công ty cổ phần mạnh lĩnh, thành phố phúc yên, tỉnh vĩnh phúc

66 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Công ty Cổ phần Mạnh Lĩnh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả Trần Văn Đại
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Sửu
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. MỞ ĐẦU (8)
    • 1.1. Đặt vấn đề (0)
    • 1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài (9)
      • 1.2.1. Mục đích (9)
      • 1.2.2. Yêu cầu (9)
    • 1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩ thực tiễn của đề tài (0)
      • 1.3.1. Ý nghĩa khoa học (9)
      • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn (9)
  • Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (10)
    • 2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập (10)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên (10)
      • 2.1.2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập (12)
    • 2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có liên (17)
      • 2.2.1. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi (17)
      • 2.2.2. Những hiểu biết về những bệnh gặp tại cơ sở (20)
      • 2.2.3. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái (32)
      • 2.2.4. Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con (35)
  • Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH (39)
    • 3.1. Đối tượng (39)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian (39)
      • 3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi (39)
      • 3.4.2. Phương pháp thực hiện (39)
  • Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (45)
    • 4.1. Tình hình chăn nuôi lợn nái tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh (45)
  • trong 6 tháng (0)
    • 4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng trên đàn lợn nái nuôi tại (46)
      • 4.2.1. Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại (46)
      • 4.2.2. Tình hình sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại trại (48)
      • 4.2.3. Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại (49)
    • 4.3. Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh (51)
      • 4.3.1. Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh trên đàn lợn nái tại trại (51)
      • 4.3.2. Kết quả tiêm phòng vắc-xin cho đàn lợn nái của trại (52)
      • 4.3.3. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại (53)
    • 4.4. Một số chỉ tiêu sinh lý của đàn lợn nái sinh sản sau điều trị (56)
  • Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (58)
    • 5.1. Kết luận (58)
    • 5.2. Đề nghị (58)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (60)
  • PHỤ LỤC (64)

Nội dung

Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh.. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm kho

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

Đối tượng

- Lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Địa điểm và thời gian

- Địa điểm: Trang trại lợn công ty cổ phần Mạnh Lĩnh ở thôn Cao quang, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh

- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng trên đàn lợn nái sinh sản

- Áp dụng các biện pháp phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại

- Tham gia các công tác khác trong thời gian thực tập tại cơ sở

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi

- Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh

- Tình hình sinh sản của lợn nái tại trại

- Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái tại trại

- Biện pháp vệ sinh phòng bệnh

- Lịch tiêm phòng vắc-xin cho đàn lợn nái tại trại

- Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái tại trại

- Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại

3.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin Để đánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh chúng tôi đến thu thập thông tin qua sổ sách của trại kết hợp với theo dõi trực tiếp về tình hình thực tế trên đàn lợn nái của trại

3.4.2.2 Áp dụng quy trình vệ sinh phòng bệnh cho lợn tại trại

Công tác vệ sinh trong chăn nuôi đóng vai trò quan trọng, giúp gia súc giảm bệnh tật, sinh trưởng và phát triển tốt hơn Khi vệ sinh được thực hiện hiệu quả, chi phí thuốc thú y sẽ giảm, từ đó nâng cao hiệu quả chăn nuôi Nhận thức rõ điều này, trong suốt thời gian thực tập, tôi đã chú trọng thực hiện tốt các công việc vệ sinh.

Hàng ngày, công nhân và sinh viên đều phải trải qua quy trình sát trùng và tắm rửa sạch sẽ trước khi vào chuồng làm việc Sau đó, họ mặc quần áo lao động và đi ủng để đảm bảo vệ sinh và an toàn trong môi trường làm việc.

+ Việc đầu tiên vào chuồng là cào phân tránh lợn nằm đè lên phân + Bắt nhốt lợn con vào ô úm rồi lau sàn nhựa

+ Rắc vôi lối đi giữa, xung quanh chuồng và dưới gầm chuồng

+ Thu phân vào bao và quét dọn sạch sẽ chuồng

Chuồng nuôi được vệ sinh sạch sẽ và tiêu độc bằng thuốc sát trùng hai lần mỗi ngày Sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển đến chuồng nái chửa 1 Sau khi xuất lợn con, các tấm đan chuồng được ngâm trong dung dịch NaOH 10% trong một ngày, sau đó được cọ sạch và phơi khô Khung chuồng cũng được vệ sinh và xịt bằng dung dịch NaOH loãng, sau đó xịt lại bằng nước vôi Gầm chuồng được khử trùng kỹ lưỡng và rắc vôi bột, để khô một ngày trước khi lắp đan vào Chuồng được để trống từ 3 đến 5 ngày trước khi đuổi lợn nái chờ đẻ từ chuồng nái bầu 2 xuống.

Lịch sát trùng được trình bày qua bảng 3.1

Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái

Ngoài khu vực chăn nuôi

Chuồng nái chửa Chuồng đẻ Chuồng cách ly

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Thứ 3 Rắc vôi đường đi

Phun sát trùng + rắc vôi

Rắc vôi Rắc vôi đường đi

Thứ 5 Xả vôi gầm chuồng

Phun sát trùng + xả vôi gầm chuồng

Phun sát trùng + rắc vôi

Rắc vôi Rắc vôi đường đi

3.4.2.3 Phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại Để xác định được tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại, hàng ngày chúng tôi tiến hành theo dõi, quan sát về những biểu hiện của đàn lợn nái thông qua các bước sau:

* Kiểm tra tình trạng ăn uống bằng cách trực tiếp quan sát, theo dõi con vật hàng ngày:

- Trạng thái cơ thể bình thường: con vật ăn uống bình thường, vận động nhanh nhẹn

- Trạng thái bệnh lý: ăn uống giảm hoặc bỏ ăn

- Quan sát, cảm nhận bằng tay:

+ Trạng thái bình thường: Toàn thân lợn nái có màu bình thường, không đỏ, dùng mu bàn tay sờ không nóng

+ Trạng thái bệnh lý: Toàn thân đỏ ửng, dùng mu bàn tay sờ thấy nóng ran

- Đo thân nhiệt qua trực tràng bằng nhiệt kế 43°C:

+ Trước khi đo nhiệt độ phải vẩy nhiệt kế cho cột thủy ngân tụt xuống hết thang độ

+ Dùng bông cồn lau nhiệt kế trước và sau khi sử dụng

+ Cho từ từ nhiệt kế vào trực tràng theo hướng hơi xiên xuống dưới để tránh niêm mạc bị tổn thương

+ Để nhiệt kế ở trực tràng từ 5 - 10 phút, rồi lấy ra xem nhiệt độ trên thang nhiệt kế

+ Trạng thái bình thường: thân nhiệt bình thường, ổn định ở 38 – 40°C + Trạng thái bệnh lý: hơi sốt hoặc sốt cao 41 – 42°C

* Quan sát bên ngoài cơ quan sinh dục:

- Trạng thái bình thường: Màu sắc âm hộ bình thường, không sưng, không sung huyết hay thủy thũng

- Trạng thái bệnh lý: Âm hộ sưng, sung huyết, thủy thũng, có dịch viêm

36 chảy ra từ âm hộ, gốc đuôi có dính nhiều dịch viêm

- Rửa sạch và sát trùng mép âm môn

- Dùng mỏ vịt có hệ thống đèn soi đã được vô trùng để kiểm tra

+ Trạng thái bình thường: Con vật không đau, màu sắc niêm mạc âm đạo và mùi niêm dịch bình thường

+ Trạng thái bệnh lý: Con vật đau đớn, niêm mạc âm đạo đỏ, tổn thương, niêm dịch đục, có mùi tanh, hôi

+ Trạng thái bình thường: Nước tiểu trong, mùi khai tự nhiên, không có mùi tanh, hôi thối

+ Trạng thái bệnh lý: Nước tiểu đục, lẫn tổ chức hoại tử, dịch viêm, mùi tanh, hôi thối

Dựa trên các biểu hiện lâm sàng bất thường của lợn nái, chúng tôi đã ghi số tai hoặc đánh dấu từng con bằng sơn màu đỏ Sau đó, chúng tôi tiến hành chẩn đoán lâm sàng, ghi lại tuổi, thân nhiệt và các triệu chứng lâm sàng vào sổ nhật ký Từ những triệu chứng thu thập được, chúng tôi đã điều trị cho lợn nái bị bệnh theo hướng dẫn của kỹ sư phụ trách tại trại.

* Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi

Số liệu thu được được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2010 với các tham số như sau:

- Tỷ lệ lợn mắc bệnh:

Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%) = x 100

Tính tổng mẫu S = sum(x1,xn)

Tính số trung bình = average(x1,xn)

Tính độ lệch chuẩn = stdev(x1,xn)

Sai số trung bình = Sx/sqrt(n-1)

Chú giải: n : Dung lượng mẫu

: Số trung bình cộng : Sai số trung bình x1, x2, …xn : Giá trị của các biến số

∑ số con được tiêm phòng

tháng

Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng trên đàn lợn nái nuôi tại

4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại Để thực hiện được các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản của trại tôi được phân công chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái Kết quả được thể hiện ở bảng 4.2

Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại

Trong tháng 12/2017 và tháng 1/2018 tôi được giao chăm sóc đàn lợn thịt tại trại với số lượng lần lượt là 1550 con và 1620 con

Kết quả bảng 4.2 cho thấy:

Tôi trực tiếp chăm sóc tổng cộng 219 con lợn nái, bao gồm 55 con nái hậu bị, 92 con nái chửa và 72 con lợn nái nuôi con Cụ thể, trong tháng 5, tôi chăm sóc 55 con nái hậu bị; tháng 2, 92 con nái chửa; tháng 3, 35 con nái nuôi con; và tháng 4, 37 con nái nuôi con.

Trong giai đoạn 2 tuần trước khi lợn nái đẻ, việc chăm sóc và điều chỉnh khẩu phần ăn là rất quan trọng Cần theo dõi kỹ bảng cám của từng con lợn để đảm bảo cung cấp lượng thức ăn phù hợp, vì việc cho ăn quá nhiều hoặc quá ít đều có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai Quan sát một số lợn nái cho thấy rằng việc ăn nhiều hơn có thể mang lại lợi ích cho sức khỏe của chúng.

Lợn nái dễ béo và lợn con thường nặng hơn khối lượng trung bình, nhưng lợn mẹ thường gặp khó khăn khi đẻ Cần chú ý đến khẩu phần ăn của lợn hậu bị trước khi đẻ 1 - 2 lứa, cho ăn vào buổi sáng lúc 7 giờ và buổi chiều lúc 4 giờ Buổi sáng cho ăn sớm để lợn mẹ không bị đói sau một đêm dài, còn buổi chiều cho ăn lúc 4 giờ khi thời tiết mát mẻ giúp lợn mẹ tiêu thụ thức ăn tốt hơn Khẩu phần ăn nên chia thành 4 bữa cho lợn nái đẻ, bao gồm bữa sáng lúc 7h, bữa trưa lúc 10h, bữa chiều lúc 4h và bữa tối lúc 9h với lượng ít hơn Ngoài ra, việc thường xuyên xịt cọ sàn chuồng sạch sẽ sẽ giúp tránh nhiễm trùng cho lợn con và ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây viêm.

Trước khi lợn nái sinh, có những dấu hiệu quan trọng như bầu vú căng và tiết sữa, thường xuất hiện 3 ngày trước khi sinh Đối với nái tơ, quá trình tiết sữa có thể diễn ra sau 2-3 giờ Ngoài ra, nái cũng có thể tăng nhịp thở và thải phân lắt nhắt Nếu sau khi sinh vài con mà nái gặp khó khăn, có thể sử dụng oxytocin với liều 2 ml/nái Để chuẩn bị cho việc đỡ đẻ, cần chuẩn bị lồng úm cho lợn con đã được sát trùng và phơi khô, vệ sinh âm hộ và mông của nái, cũng như sàn chuồng Ngoài ra, cần chuẩn bị bóng điện úm cho lợn con và các dụng cụ như vải mềm sạch, cồn iod để sát trùng, kéo để cắt dây rốn và chỉ để buộc.

Hàng ngày, tôi tham gia vào việc vệ sinh chuồng trại và sát trùng chuồng nuôi, điều này rất có lợi cho sức khỏe của lợn mẹ và lợn con Việc sát trùng thường xuyên giúp tạo ra môi trường ít vi khuẩn, giảm thiểu bệnh tật cho lợn Mỗi hai ngày, tôi rắc vôi ở các khu vực cho ăn và lấy phân để tiêu diệt mầm bệnh Khi lau máng ăn của lợn mẹ, tôi luôn chú ý vét sạch cám thừa và lau thật kỹ để tránh tình trạng cám bị thiu, mốc, điều này có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của lợn mẹ.

Lợn bầu cần tránh ăn thức ăn mốc, ôi thiu để giảm nguy cơ sảy thai Việc xịt gầm hàng ngày giúp loại bỏ mùi hôi và giữ chuồng trại sạch sẽ Khi xịt gầm, cần chú ý không để nước bắn lên trên, tránh làm ẩm ướt chuồng nuôi Vào mùa đông, nên xịt gầm sau 9 giờ để bảo vệ lợn con khỏi lạnh, giúp ngăn ngừa bệnh hô hấp và tiêu chảy.

4.2.2 Tình hình sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại trại Để đánh giá về quá trình sinh đẻ của đàn lợn nái nuôi tại cơ sở, chúng tôi đã thu thập số liệu thông tin của đàn lợn nái sinh sản trực tiếp tôi chăm sóc tại trại Kết quả trình bày tại bảng 4.3

Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại

Số nái đẻ bình thường (con)

Số nái đẻ khó phải can thiệp (con)

Kết quả từ bảng 4.3 cho thấy tôi đã chăm sóc 72 lợn nái sinh sản, trong đó có 67 con đẻ bình thường, chiếm 93,09%, và 5 con đẻ khó, chiếm 6,91% Số lượng lợn nái đẻ khó tương đối cao, có thể do xương chậu hẹp, bào thai có tư thế không bình thường, hoặc thai bị dị hình Ngoài ra, chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng chưa tốt cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đẻ khó ở lợn nái sinh sản.

Biểu hiện của đẻ khó ở lợn bao gồm việc lợn mẹ không có dấu hiệu rặn đẻ sau khi vỡ nước ối, hoặc sau khi đẻ được 1 đến 2 con mà không thấy lợn đẻ thêm trong khoảng 30 phút đến 1 giờ, dù lợn mẹ vẫn tiếp tục rặn Trong trường hợp này, cần nhanh chóng sát trùng tay, bôi gel bôi trơn, và đưa tay vào trong tử cung để nắm lấy lợn con, sau đó đưa lợn con ra ngoài.

Trong quá trình đỡ đẻ, việc chuẩn bị ô úm và vệ sinh vùng mông, âm hộ của con nái là rất quan trọng Cần chú ý theo dõi từng con để nhận biết tình trạng đẻ khó hay dễ, cũng như thời gian đẻ của mỗi con Nếu con mẹ gặp khó khăn, cần can thiệp sớm bằng oxytocin để kích thích co bóp tử cung và xoa bầu vú Trong trường hợp thai quá to, cần nhanh chóng can thiệp để đưa con ra ngoài, tránh ngạt cho những con còn lại Khi can thiệp, phải đảm bảo vệ sinh tay và vùng sinh dục, thực hiện nhẹ nhàng để tránh gây tổn thương Những người trực tiếp đỡ đẻ cần cắt móng tay để tránh làm tổn thương lợn con Cuối cùng, theo dõi ngày phối giống và ngày đẻ dự kiến là cần thiết để chuẩn bị kế hoạch đỡ đẻ hiệu quả.

4.2.3 Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại

Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản tại cơ sở là rất quan trọng Bảng 4.4 trình bày các chỉ tiêu kỹ thuật của lợn nái.

Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại

Số lợn nái đẻ (con)

Số lợn con đẻ ra/ lứa ( x  m x )

Số lợn con còn sống đến cai sữa/ lứa ( x  m x )

Theo bảng 4.4, các chỉ tiêu về lợn con tại trại đạt kết quả cao Cụ thể, trong số 72 lợn nái được theo dõi, trung bình mỗi lứa đẻ ra 11,55 con, trong đó có 10,59 con sống đến giai đoạn cai sữa, tỷ lệ sống đạt 91,52%.

Trại lợn của Công ty Phát Đạt tại Vĩnh Phúc đạt trung bình 11,92 con đẻ ra mỗi lứa và 11,40 con sống đến cai sữa Số liệu này cho thấy hiệu quả sinh sản của trại Phát Đạt cao hơn so với trại lợn của công ty cổ phần Mạnh Lĩnh.

Chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh kịp thời cho lợn con từ sơ sinh đến cai sữa là những yếu tố quan trọng, bên cạnh năng suất sinh sản của lợn mẹ, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và sức khỏe của đàn lợn con.

Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh

4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh trên đàn lợn nái tại trại

Vệ sinh và sát trùng chuồng trại đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi, bao gồm vệ sinh môi trường, đất, nước và chuồng trại Hàng ngày, chúng tôi thu gom phân thải, rửa chuồng và quét lối đi giữa các dãy chuồng Định kỳ, chúng tôi phun thuốc sát trùng, quét vôi, diệt muỗi, quét mạng nhện và rắc vôi bột ở cửa ra vào chuồng và đường đi để đảm bảo vệ sinh Dưới đây là kết quả thực hiện vệ sinh và sát trùng trong 6 tháng thực tập tại trại.

Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại

Số lượng được giao (lần)

Kết quả thực hiện (lần)

1 Vệ sinh chuồng trại hàng ngày 360 350 97,22

Phun sát trùng định kỳ xung quanh chuồng trại 80 75 93,75

Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy trại luôn chú trọng đến việc vệ sinh và sát trùng hàng ngày Theo quy định, việc vệ sinh chuồng được thực hiện 2 lần mỗi ngày Trong suốt 6 tháng thực tập, tôi đã thực hiện 350 lần, đạt tỷ lệ 97,22% so với yêu cầu.

Trong 6 tháng qua, việc quét và rắc vôi đường đi đã được thực hiện 46 lần, đạt tỷ lệ 92,00% so với yêu cầu Phun sát trùng xung quanh chuồng trại được thực hiện định kỳ 2 ngày một lần, và tôi đã tham gia 75 trên tổng số 80 lần, chiếm tỷ lệ 93,75% Nếu có tình hình nhiễm dịch bệnh, việc phun sát trùng sẽ được tăng cường hàng ngày Qua quá trình thực tập, tôi đã học được cách thực hiện vệ sinh và sát trùng trong chăn nuôi một cách hợp lý, nhằm hạn chế dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi.

4.3.2 Kết quả tiêm phòng vắc-xin cho đàn lợn nái của trại

Công tác tiêm phòng được ưu tiên hàng đầu tại cơ sở, đóng vai trò quan trọng trong quy trình kỹ thuật Đây là biện pháp tích cực và bắt buộc nhằm ngăn chặn rủi ro lớn về kinh tế và ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.

Tiêm vắc-xin cho gia súc giúp cơ thể tự tạo ra sức miễn dịch chủ động chống lại vi khuẩn xâm nhập, từ đó tăng cường sức đề kháng Do đó, việc tiêm phòng cần được thực hiện nghiêm ngặt và đúng lịch quy định để giảm thiểu thiệt hại kinh tế khi dịch bệnh bùng phát.

Tại cơ sở chăn nuôi, công tác phòng bệnh được kiểm soát chặt chẽ để hạn chế dịch bệnh, nhằm bảo vệ hiệu quả chăn nuôi Do dịch bệnh có thể gây thiệt hại lớn, nên phòng bệnh là ưu tiên hàng đầu Trong thời gian thực tập, tôi đã tham gia cùng cán bộ kỹ thuật và công nhân trong việc tiêm phòng cho đàn lợn, mang lại kết quả tích cực cho công tác tiêm phòng vắc-xin tại cơ sở.

Bảng 4.6 Kết quả tiêm phòng vắc-xin cho đàn lợn nái của trại

Liều lượng (ml) Đường tiêm

Số con được tiêm (con)

Số con an toàn (con)

Khô thai Parvo 22 đến 26 tuần tuổi 2 Tiêm bắp 72 72 100

Dịch tả Coslapast 10 tuần chửa 2 Tiêm bắp 72 72 100

Giả dại Begonia 23 đến 27 tuần tuổi 2 Tiêm bắp 72 72 100

Vắc-xin phòng bệnh cho đàn lợn con có tỷ lệ an toàn cao, với 100% số lợn được tiêm đầy đủ theo quy định của trại, như thể hiện trong bảng 4.6 Trại đã thực hiện nghiêm ngặt quy trình tiêm vắc-xin.

Em đã học được nhiều kinh nghiệm quý báu về việc phòng bệnh bằng vắc-xin, bao gồm việc sử dụng vắc-xin đúng liều lượng, đúng đường tiêm, đúng vị trí và đúng lịch tiêm Mỗi loại vắc-xin có những đặc thù riêng, hiệu quả và thời gian miễn dịch khác nhau, vì vậy việc tiêm không đúng kỹ thuật hoặc sai thời điểm có thể làm mất hoạt tính của vắc-xin Trước khi tiêm, cần lắc kỹ lọ vắc-xin và sử dụng ngay sau khi pha, nếu còn thừa thì phải hủy bỏ và không sử dụng cho ngày hôm sau Ngoài ra, cần theo dõi vật nuôi sau tiêm để kịp thời can thiệp nếu có dấu hiệu sốc phản vệ.

4.3.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại 4.3.3.1 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái của trại

Trong thời gian thực tập tại trại, chúng tôi đã tham gia vào công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái cùng với các kỹ sư Qua trải nghiệm này, chúng tôi đã nâng cao kiến thức và kinh nghiệm về chẩn đoán các bệnh thường gặp, nguyên nhân gây bệnh và phương pháp điều trị hiệu quả.

47 bệnh Sau đây là kết quả của công tác theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái tại trại

Bảng 4.7 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái của trại

TT Tên bệnh Số nái theo dõi

Kết quả từ bảng 4.7 cho thấy tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm tử cung cao nhất, chiếm 9,72% Nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ này ở đàn lợn nái tại trại là do chuồng trại không được vệ sinh sạch sẽ, còn bẩn và ẩm ướt Hơn nữa, trong quá trình phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, thao tác không an toàn và không đảm bảo vệ sinh đã tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển Thêm vào đó, việc can thiệp trong quá trình lợn đẻ khó, như sử dụng thủ thuật để lấy thai, cũng làm tăng nguy cơ viêm do vi khuẩn từ bên ngoài dễ dàng xâm nhập.

Số lợn nái mắc bệnh viêm vú là 3 con, chiếm 4,17% Nguyên nhân chính gây bệnh này là do kế phát từ các ca lợn nái mắc bệnh viêm tử cung nặng, khiến vi khuẩn theo máu đến vú gây viêm Thêm vào đó, quá trình mài nanh ở lợn con sơ sinh chưa tốt cũng góp phần gây tổn thương đầu núm vú của lợn mẹ khi lợn con bú.

Số lợn nái bị viêm phổi là 1 con chiếm 1,39%, nguyên nhân là do

Mycoplasma hyopneumoniae là tác nhân gây ra bệnh, lây nhiễm chủ yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng có thể phát sinh do điều kiện chăn nuôi kém vệ sinh, thay đổi thời tiết, và sức đề kháng của lợn giảm sút.

Số lợn nái bị sót nhau là 2 chiếm 2,78%, nguyên nhân gây nên bệnh này

Lợn nái có thể gặp tình trạng viêm niêm mạc tử cung, dẫn đến việc nhau thai không được đẩy ra hết sau khi sinh Việc can thiệp không đúng kỹ thuật có thể làm nhau thai bị đứt và sát lại Ngoài ra, bào thai quá lớn, dịch thai nhiều và tử cung co bóp kém cũng là nguyên nhân Thêm vào đó, việc mẹ ít vận động trong thời gian mang thai, đặc biệt là giai đoạn cuối, cùng với khẩu phần ăn thiếu khoáng chất, đặc biệt là canxi, có thể góp phần vào tình trạng này.

Số lợn nái sinh sản mắc bệnh bại liệt sau đẻ là 3 con với tỷ lệ 4,17%

4.3.3.2 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại

Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại

Số nái điều trị (con)

Tên thuốc và Liều lượng (ml) Đường đưa thuốc (tiêm/uống)

Thời gian điều trị (ngày)

+Amox: 1ml/10kgTT +Oxytoxin: 2ml/con +Anagin: 1ml/10kg TT +Dexa: 1ml/10kg TT

2 Viêm vú 3 3 100 +Amox: 1ml/10kgTT

+Anagin: 1ml/10kg TT Tiêm bắp 5

3 Viêm phổi 1 0 0 +Ceftiofur: 1ml/kgTT

+Anagin: 1ml/10kgTT Tiêm bắp 3

+Lincospec:1ml/10kgTT +Canxi: 1ml/10kgTT +Catosal: 1ml/10kgTT

+Oxytocin: 2ml/con +Amox: 1ml/10kgTT +Kết hợp thụt rửa

Tiêm bắp 3 cho thấy kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái đạt hiệu quả cao, với 7/7 con lợn mắc bệnh được điều trị khỏi.

49 tỷ lệ khỏi 100%, 3 con mắc bệnh viêm vú điều trị có 3 con khỏi đạt tỷ lệ 100%,

Trong quá trình điều trị, một con mắc bệnh viêm phổi đã không khỏi và bị loại thải, trong khi hai con sót nhau đã được điều trị thành công với tỷ lệ đạt 100% Ba con mắc bệnh bại liệt sau khi đẻ, trong đó hai con đã hồi phục, còn một con nặng đã bị loại thải Đối với bệnh sót nhau và viêm tử cung sau đẻ, trại đã sử dụng oxytocin với liều 2 ml/con để tăng cường co bóp cơ trơn tử cung, giúp đẩy nhau thai và sản dịch ra ngoài nhanh chóng Kết hợp với kháng sinh Amoxi LA AP với liều 1 ml/10 kg thể trọng để điều trị và phòng ngừa viêm nhiễm tái phát trong 3 ngày Sau khi nhau thai, dịch tử cung được rửa bằng nước muối sinh lý 0,9% trong ba ngày liên tiếp Đối với bệnh viêm vú, biện pháp điều trị bao gồm phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá lạnh cục bộ, tiêm anagin và tiêm Amoxi LA AP toàn thân.

Một số chỉ tiêu sinh lý của đàn lợn nái sinh sản sau điều trị

Theo dõi các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị là rất quan trọng để đánh giá hiệu quả điều trị bệnh Kết quả được trình bày trong bảng 4.9.

Bảng 4.9 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị

Số nái điều trị khỏi (con)

Số nái phối đạt lần

Tỷ lệ phối đạt lần

Số nái phối lại lần 2 (con)

Số nái phối đạt lần 2 (con)

Tỷ lệ nái phối đạt lần 2 (%)

Khả năng phối giống của lợn mắc bệnh viêm tử cung sau điều trị là cao, với 57,14% (4/7) lợn nái đạt phối lần 1 Trong số 3 lợn nái không đạt phối lần 1, cả 3 đều thành công ở lần phối thứ 2, đạt tỷ lệ 100% Kết quả cho thấy, những lợn nái không đạt ở lần 1 thường bị viêm tử cung ở thể nặng và thể vừa, dẫn đến sức đề kháng giảm.

Phát hiện sớm và điều trị kịp thời là yếu tố quan trọng để đạt hiệu quả điều trị cao, rút ngắn thời gian điều trị và giảm chi phí thuốc men.

Với bệnh viêm vú khả năng phối đạt sau điều trị là cao, 3 con sau điều trị đều phối giống đạt, tỷ lệ 100%

Sau khi mắc bệnh bại liệt sau đẻ, cả 2 lợn nái đã hồi phục nhưng không đạt kết quả khi phối lần đầu Tuy nhiên, ở lần phối thứ hai, cả 2 con đều thành công với tỷ lệ 100%.

Khả năng phối giống của lợn nái sau khi điều trị bệnh sót nhau rất cao Cụ thể, trong số 2 lợn nái đã khỏi bệnh, cả hai đều thành công trong việc phối giống.

Ngày đăng: 21/04/2023, 06:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh (2016), “Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XXIII (số 5), tr. 51 – 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh
Tác giả: Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Năm: 2016
2. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr.29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2000
3. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
4. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
7. Nguyễn Văn Điền (2015), Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Văn Điền
Nhà XB: Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ
Năm: 2015
8. Nguyễn Mạnh Hà, Đào Đức Thà, Nguyễn Đức Hùng (2012), Giáo trình công nghệ sinh sản vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công nghệ sinh sản vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà, Đào Đức Thà, Nguyễn Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
9. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y, nhà xuất bản đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Nhà XB: nhà xuất bản đại học Nông nghiệp
Năm: 2012
10. Nguyễn Huy Hoàng (1996), Tự trị bệnh cho heo, Nxb Tổng hợp, Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự trị bệnh cho heo
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 1996
11. Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình truyền thống nhân tạo, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình truyền thống nhân tạo
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
12. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, tập II, Nxb Nông nghiệp, tr.44 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
13. Nguyễn Quang Linh (2005), Giáo trình kỹ thuật Chăn nuôi Lợn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật Chăn nuôi Lợn
Tác giả: Nguyễn Quang Linh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
14. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr.165 - 169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2004
15. Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công (2017), Giáo trình thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thú y
Tác giả: Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2017
16. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp
Năm: 2014
17. Lê Văn Năm (2009), Phòng và trị bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh ở lợn
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2009
18. Lê Văn Năm (2013), Bệnh viêm phổi địa phương – suyễn lợn, Nxb Lao động – Xã hội, Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm phổi địa phương – suyễn lợn
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2013
19. Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên (2016), Giáo trình Dược lý học thú y, Nxb Đại học Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý học thú y
Tác giả: Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên
Nhà XB: Nxb Đại học Hùng Vương
Năm: 2016
20. John Nichl (1992), Quản lý lợn nái và hậu bị để sinh sản có hiệu quả( người dịch Nguyễn Văn Hải), Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn nái và hậu bị để sinh sản có hiệu quả
Tác giả: John Nichl
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1992

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm