Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh.. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm kho
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
Đối tượng
- Lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: Trang trại lợn công ty cổ phần Mạnh Lĩnh ở thôn Cao quang, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh
- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng trên đàn lợn nái sinh sản
- Áp dụng các biện pháp phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại
- Tham gia các công tác khác trong thời gian thực tập tại cơ sở
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
- Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh
- Tình hình sinh sản của lợn nái tại trại
- Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái tại trại
- Biện pháp vệ sinh phòng bệnh
- Lịch tiêm phòng vắc-xin cho đàn lợn nái tại trại
- Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái tại trại
- Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại
3.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin Để đánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh chúng tôi đến thu thập thông tin qua sổ sách của trại kết hợp với theo dõi trực tiếp về tình hình thực tế trên đàn lợn nái của trại
3.4.2.2 Áp dụng quy trình vệ sinh phòng bệnh cho lợn tại trại
Công tác vệ sinh trong chăn nuôi đóng vai trò quan trọng, giúp gia súc giảm bệnh tật, sinh trưởng và phát triển tốt hơn Khi vệ sinh được thực hiện hiệu quả, chi phí thuốc thú y sẽ giảm, từ đó nâng cao hiệu quả chăn nuôi Nhận thức rõ điều này, trong suốt thời gian thực tập, tôi đã chú trọng thực hiện tốt các công việc vệ sinh.
Hàng ngày, công nhân và sinh viên đều phải trải qua quy trình sát trùng và tắm rửa sạch sẽ trước khi vào chuồng làm việc Sau đó, họ mặc quần áo lao động và đi ủng để đảm bảo vệ sinh và an toàn trong môi trường làm việc.
+ Việc đầu tiên vào chuồng là cào phân tránh lợn nằm đè lên phân + Bắt nhốt lợn con vào ô úm rồi lau sàn nhựa
+ Rắc vôi lối đi giữa, xung quanh chuồng và dưới gầm chuồng
+ Thu phân vào bao và quét dọn sạch sẽ chuồng
Chuồng nuôi được vệ sinh sạch sẽ và tiêu độc bằng thuốc sát trùng hai lần mỗi ngày Sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển đến chuồng nái chửa 1 Sau khi xuất lợn con, các tấm đan chuồng được ngâm trong dung dịch NaOH 10% trong một ngày, sau đó được cọ sạch và phơi khô Khung chuồng cũng được vệ sinh và xịt bằng dung dịch NaOH loãng, sau đó xịt lại bằng nước vôi Gầm chuồng được khử trùng kỹ lưỡng và rắc vôi bột, để khô một ngày trước khi lắp đan vào Chuồng được để trống từ 3 đến 5 ngày trước khi đuổi lợn nái chờ đẻ từ chuồng nái bầu 2 xuống.
Lịch sát trùng được trình bày qua bảng 3.1
Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái
Ngoài khu vực chăn nuôi
Chuồng nái chửa Chuồng đẻ Chuồng cách ly
Phun sát trùng toàn bộ khu vực
Phun sát trùng toàn bộ khu vực
Thứ 3 Rắc vôi đường đi
Phun sát trùng + rắc vôi
Rắc vôi Rắc vôi đường đi
Thứ 5 Xả vôi gầm chuồng
Phun sát trùng + xả vôi gầm chuồng
Phun sát trùng + rắc vôi
Rắc vôi Rắc vôi đường đi
3.4.2.3 Phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại Để xác định được tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại, hàng ngày chúng tôi tiến hành theo dõi, quan sát về những biểu hiện của đàn lợn nái thông qua các bước sau:
* Kiểm tra tình trạng ăn uống bằng cách trực tiếp quan sát, theo dõi con vật hàng ngày:
- Trạng thái cơ thể bình thường: con vật ăn uống bình thường, vận động nhanh nhẹn
- Trạng thái bệnh lý: ăn uống giảm hoặc bỏ ăn
- Quan sát, cảm nhận bằng tay:
+ Trạng thái bình thường: Toàn thân lợn nái có màu bình thường, không đỏ, dùng mu bàn tay sờ không nóng
+ Trạng thái bệnh lý: Toàn thân đỏ ửng, dùng mu bàn tay sờ thấy nóng ran
- Đo thân nhiệt qua trực tràng bằng nhiệt kế 43°C:
+ Trước khi đo nhiệt độ phải vẩy nhiệt kế cho cột thủy ngân tụt xuống hết thang độ
+ Dùng bông cồn lau nhiệt kế trước và sau khi sử dụng
+ Cho từ từ nhiệt kế vào trực tràng theo hướng hơi xiên xuống dưới để tránh niêm mạc bị tổn thương
+ Để nhiệt kế ở trực tràng từ 5 - 10 phút, rồi lấy ra xem nhiệt độ trên thang nhiệt kế
+ Trạng thái bình thường: thân nhiệt bình thường, ổn định ở 38 – 40°C + Trạng thái bệnh lý: hơi sốt hoặc sốt cao 41 – 42°C
* Quan sát bên ngoài cơ quan sinh dục:
- Trạng thái bình thường: Màu sắc âm hộ bình thường, không sưng, không sung huyết hay thủy thũng
- Trạng thái bệnh lý: Âm hộ sưng, sung huyết, thủy thũng, có dịch viêm
36 chảy ra từ âm hộ, gốc đuôi có dính nhiều dịch viêm
- Rửa sạch và sát trùng mép âm môn
- Dùng mỏ vịt có hệ thống đèn soi đã được vô trùng để kiểm tra
+ Trạng thái bình thường: Con vật không đau, màu sắc niêm mạc âm đạo và mùi niêm dịch bình thường
+ Trạng thái bệnh lý: Con vật đau đớn, niêm mạc âm đạo đỏ, tổn thương, niêm dịch đục, có mùi tanh, hôi
+ Trạng thái bình thường: Nước tiểu trong, mùi khai tự nhiên, không có mùi tanh, hôi thối
+ Trạng thái bệnh lý: Nước tiểu đục, lẫn tổ chức hoại tử, dịch viêm, mùi tanh, hôi thối
Dựa trên các biểu hiện lâm sàng bất thường của lợn nái, chúng tôi đã ghi số tai hoặc đánh dấu từng con bằng sơn màu đỏ Sau đó, chúng tôi tiến hành chẩn đoán lâm sàng, ghi lại tuổi, thân nhiệt và các triệu chứng lâm sàng vào sổ nhật ký Từ những triệu chứng thu thập được, chúng tôi đã điều trị cho lợn nái bị bệnh theo hướng dẫn của kỹ sư phụ trách tại trại.
* Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi
Số liệu thu được được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2010 với các tham số như sau:
- Tỷ lệ lợn mắc bệnh:
Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%) = x 100
Tính tổng mẫu S = sum(x1,xn)
Tính số trung bình = average(x1,xn)
Tính độ lệch chuẩn = stdev(x1,xn)
Sai số trung bình = Sx/sqrt(n-1)
Chú giải: n : Dung lượng mẫu
: Số trung bình cộng : Sai số trung bình x1, x2, …xn : Giá trị của các biến số
∑ số con được tiêm phòng
tháng
Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng trên đàn lợn nái nuôi tại
4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại Để thực hiện được các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản của trại tôi được phân công chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái Kết quả được thể hiện ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại
Trong tháng 12/2017 và tháng 1/2018 tôi được giao chăm sóc đàn lợn thịt tại trại với số lượng lần lượt là 1550 con và 1620 con
Kết quả bảng 4.2 cho thấy:
Tôi trực tiếp chăm sóc tổng cộng 219 con lợn nái, bao gồm 55 con nái hậu bị, 92 con nái chửa và 72 con lợn nái nuôi con Cụ thể, trong tháng 5, tôi chăm sóc 55 con nái hậu bị; tháng 2, 92 con nái chửa; tháng 3, 35 con nái nuôi con; và tháng 4, 37 con nái nuôi con.
Trong giai đoạn 2 tuần trước khi lợn nái đẻ, việc chăm sóc và điều chỉnh khẩu phần ăn là rất quan trọng Cần theo dõi kỹ bảng cám của từng con lợn để đảm bảo cung cấp lượng thức ăn phù hợp, vì việc cho ăn quá nhiều hoặc quá ít đều có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai Quan sát một số lợn nái cho thấy rằng việc ăn nhiều hơn có thể mang lại lợi ích cho sức khỏe của chúng.
Lợn nái dễ béo và lợn con thường nặng hơn khối lượng trung bình, nhưng lợn mẹ thường gặp khó khăn khi đẻ Cần chú ý đến khẩu phần ăn của lợn hậu bị trước khi đẻ 1 - 2 lứa, cho ăn vào buổi sáng lúc 7 giờ và buổi chiều lúc 4 giờ Buổi sáng cho ăn sớm để lợn mẹ không bị đói sau một đêm dài, còn buổi chiều cho ăn lúc 4 giờ khi thời tiết mát mẻ giúp lợn mẹ tiêu thụ thức ăn tốt hơn Khẩu phần ăn nên chia thành 4 bữa cho lợn nái đẻ, bao gồm bữa sáng lúc 7h, bữa trưa lúc 10h, bữa chiều lúc 4h và bữa tối lúc 9h với lượng ít hơn Ngoài ra, việc thường xuyên xịt cọ sàn chuồng sạch sẽ sẽ giúp tránh nhiễm trùng cho lợn con và ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây viêm.
Trước khi lợn nái sinh, có những dấu hiệu quan trọng như bầu vú căng và tiết sữa, thường xuất hiện 3 ngày trước khi sinh Đối với nái tơ, quá trình tiết sữa có thể diễn ra sau 2-3 giờ Ngoài ra, nái cũng có thể tăng nhịp thở và thải phân lắt nhắt Nếu sau khi sinh vài con mà nái gặp khó khăn, có thể sử dụng oxytocin với liều 2 ml/nái Để chuẩn bị cho việc đỡ đẻ, cần chuẩn bị lồng úm cho lợn con đã được sát trùng và phơi khô, vệ sinh âm hộ và mông của nái, cũng như sàn chuồng Ngoài ra, cần chuẩn bị bóng điện úm cho lợn con và các dụng cụ như vải mềm sạch, cồn iod để sát trùng, kéo để cắt dây rốn và chỉ để buộc.
Hàng ngày, tôi tham gia vào việc vệ sinh chuồng trại và sát trùng chuồng nuôi, điều này rất có lợi cho sức khỏe của lợn mẹ và lợn con Việc sát trùng thường xuyên giúp tạo ra môi trường ít vi khuẩn, giảm thiểu bệnh tật cho lợn Mỗi hai ngày, tôi rắc vôi ở các khu vực cho ăn và lấy phân để tiêu diệt mầm bệnh Khi lau máng ăn của lợn mẹ, tôi luôn chú ý vét sạch cám thừa và lau thật kỹ để tránh tình trạng cám bị thiu, mốc, điều này có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của lợn mẹ.
Lợn bầu cần tránh ăn thức ăn mốc, ôi thiu để giảm nguy cơ sảy thai Việc xịt gầm hàng ngày giúp loại bỏ mùi hôi và giữ chuồng trại sạch sẽ Khi xịt gầm, cần chú ý không để nước bắn lên trên, tránh làm ẩm ướt chuồng nuôi Vào mùa đông, nên xịt gầm sau 9 giờ để bảo vệ lợn con khỏi lạnh, giúp ngăn ngừa bệnh hô hấp và tiêu chảy.
4.2.2 Tình hình sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại trại Để đánh giá về quá trình sinh đẻ của đàn lợn nái nuôi tại cơ sở, chúng tôi đã thu thập số liệu thông tin của đàn lợn nái sinh sản trực tiếp tôi chăm sóc tại trại Kết quả trình bày tại bảng 4.3
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại
Số nái đẻ bình thường (con)
Số nái đẻ khó phải can thiệp (con)
Kết quả từ bảng 4.3 cho thấy tôi đã chăm sóc 72 lợn nái sinh sản, trong đó có 67 con đẻ bình thường, chiếm 93,09%, và 5 con đẻ khó, chiếm 6,91% Số lượng lợn nái đẻ khó tương đối cao, có thể do xương chậu hẹp, bào thai có tư thế không bình thường, hoặc thai bị dị hình Ngoài ra, chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng chưa tốt cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đẻ khó ở lợn nái sinh sản.
Biểu hiện của đẻ khó ở lợn bao gồm việc lợn mẹ không có dấu hiệu rặn đẻ sau khi vỡ nước ối, hoặc sau khi đẻ được 1 đến 2 con mà không thấy lợn đẻ thêm trong khoảng 30 phút đến 1 giờ, dù lợn mẹ vẫn tiếp tục rặn Trong trường hợp này, cần nhanh chóng sát trùng tay, bôi gel bôi trơn, và đưa tay vào trong tử cung để nắm lấy lợn con, sau đó đưa lợn con ra ngoài.
Trong quá trình đỡ đẻ, việc chuẩn bị ô úm và vệ sinh vùng mông, âm hộ của con nái là rất quan trọng Cần chú ý theo dõi từng con để nhận biết tình trạng đẻ khó hay dễ, cũng như thời gian đẻ của mỗi con Nếu con mẹ gặp khó khăn, cần can thiệp sớm bằng oxytocin để kích thích co bóp tử cung và xoa bầu vú Trong trường hợp thai quá to, cần nhanh chóng can thiệp để đưa con ra ngoài, tránh ngạt cho những con còn lại Khi can thiệp, phải đảm bảo vệ sinh tay và vùng sinh dục, thực hiện nhẹ nhàng để tránh gây tổn thương Những người trực tiếp đỡ đẻ cần cắt móng tay để tránh làm tổn thương lợn con Cuối cùng, theo dõi ngày phối giống và ngày đẻ dự kiến là cần thiết để chuẩn bị kế hoạch đỡ đẻ hiệu quả.
4.2.3 Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại
Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản tại cơ sở là rất quan trọng Bảng 4.4 trình bày các chỉ tiêu kỹ thuật của lợn nái.
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại
Số lợn nái đẻ (con)
Số lợn con đẻ ra/ lứa ( x m x )
Số lợn con còn sống đến cai sữa/ lứa ( x m x )
Theo bảng 4.4, các chỉ tiêu về lợn con tại trại đạt kết quả cao Cụ thể, trong số 72 lợn nái được theo dõi, trung bình mỗi lứa đẻ ra 11,55 con, trong đó có 10,59 con sống đến giai đoạn cai sữa, tỷ lệ sống đạt 91,52%.
Trại lợn của Công ty Phát Đạt tại Vĩnh Phúc đạt trung bình 11,92 con đẻ ra mỗi lứa và 11,40 con sống đến cai sữa Số liệu này cho thấy hiệu quả sinh sản của trại Phát Đạt cao hơn so với trại lợn của công ty cổ phần Mạnh Lĩnh.
Chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh kịp thời cho lợn con từ sơ sinh đến cai sữa là những yếu tố quan trọng, bên cạnh năng suất sinh sản của lợn mẹ, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và sức khỏe của đàn lợn con.
Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh
4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh trên đàn lợn nái tại trại
Vệ sinh và sát trùng chuồng trại đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi, bao gồm vệ sinh môi trường, đất, nước và chuồng trại Hàng ngày, chúng tôi thu gom phân thải, rửa chuồng và quét lối đi giữa các dãy chuồng Định kỳ, chúng tôi phun thuốc sát trùng, quét vôi, diệt muỗi, quét mạng nhện và rắc vôi bột ở cửa ra vào chuồng và đường đi để đảm bảo vệ sinh Dưới đây là kết quả thực hiện vệ sinh và sát trùng trong 6 tháng thực tập tại trại.
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại
Số lượng được giao (lần)
Kết quả thực hiện (lần)
1 Vệ sinh chuồng trại hàng ngày 360 350 97,22
Phun sát trùng định kỳ xung quanh chuồng trại 80 75 93,75
Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy trại luôn chú trọng đến việc vệ sinh và sát trùng hàng ngày Theo quy định, việc vệ sinh chuồng được thực hiện 2 lần mỗi ngày Trong suốt 6 tháng thực tập, tôi đã thực hiện 350 lần, đạt tỷ lệ 97,22% so với yêu cầu.
Trong 6 tháng qua, việc quét và rắc vôi đường đi đã được thực hiện 46 lần, đạt tỷ lệ 92,00% so với yêu cầu Phun sát trùng xung quanh chuồng trại được thực hiện định kỳ 2 ngày một lần, và tôi đã tham gia 75 trên tổng số 80 lần, chiếm tỷ lệ 93,75% Nếu có tình hình nhiễm dịch bệnh, việc phun sát trùng sẽ được tăng cường hàng ngày Qua quá trình thực tập, tôi đã học được cách thực hiện vệ sinh và sát trùng trong chăn nuôi một cách hợp lý, nhằm hạn chế dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi.
4.3.2 Kết quả tiêm phòng vắc-xin cho đàn lợn nái của trại
Công tác tiêm phòng được ưu tiên hàng đầu tại cơ sở, đóng vai trò quan trọng trong quy trình kỹ thuật Đây là biện pháp tích cực và bắt buộc nhằm ngăn chặn rủi ro lớn về kinh tế và ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.
Tiêm vắc-xin cho gia súc giúp cơ thể tự tạo ra sức miễn dịch chủ động chống lại vi khuẩn xâm nhập, từ đó tăng cường sức đề kháng Do đó, việc tiêm phòng cần được thực hiện nghiêm ngặt và đúng lịch quy định để giảm thiểu thiệt hại kinh tế khi dịch bệnh bùng phát.
Tại cơ sở chăn nuôi, công tác phòng bệnh được kiểm soát chặt chẽ để hạn chế dịch bệnh, nhằm bảo vệ hiệu quả chăn nuôi Do dịch bệnh có thể gây thiệt hại lớn, nên phòng bệnh là ưu tiên hàng đầu Trong thời gian thực tập, tôi đã tham gia cùng cán bộ kỹ thuật và công nhân trong việc tiêm phòng cho đàn lợn, mang lại kết quả tích cực cho công tác tiêm phòng vắc-xin tại cơ sở.
Bảng 4.6 Kết quả tiêm phòng vắc-xin cho đàn lợn nái của trại
Liều lượng (ml) Đường tiêm
Số con được tiêm (con)
Số con an toàn (con)
Khô thai Parvo 22 đến 26 tuần tuổi 2 Tiêm bắp 72 72 100
Dịch tả Coslapast 10 tuần chửa 2 Tiêm bắp 72 72 100
Giả dại Begonia 23 đến 27 tuần tuổi 2 Tiêm bắp 72 72 100
Vắc-xin phòng bệnh cho đàn lợn con có tỷ lệ an toàn cao, với 100% số lợn được tiêm đầy đủ theo quy định của trại, như thể hiện trong bảng 4.6 Trại đã thực hiện nghiêm ngặt quy trình tiêm vắc-xin.
Em đã học được nhiều kinh nghiệm quý báu về việc phòng bệnh bằng vắc-xin, bao gồm việc sử dụng vắc-xin đúng liều lượng, đúng đường tiêm, đúng vị trí và đúng lịch tiêm Mỗi loại vắc-xin có những đặc thù riêng, hiệu quả và thời gian miễn dịch khác nhau, vì vậy việc tiêm không đúng kỹ thuật hoặc sai thời điểm có thể làm mất hoạt tính của vắc-xin Trước khi tiêm, cần lắc kỹ lọ vắc-xin và sử dụng ngay sau khi pha, nếu còn thừa thì phải hủy bỏ và không sử dụng cho ngày hôm sau Ngoài ra, cần theo dõi vật nuôi sau tiêm để kịp thời can thiệp nếu có dấu hiệu sốc phản vệ.
4.3.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại 4.3.3.1 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái của trại
Trong thời gian thực tập tại trại, chúng tôi đã tham gia vào công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái cùng với các kỹ sư Qua trải nghiệm này, chúng tôi đã nâng cao kiến thức và kinh nghiệm về chẩn đoán các bệnh thường gặp, nguyên nhân gây bệnh và phương pháp điều trị hiệu quả.
47 bệnh Sau đây là kết quả của công tác theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái tại trại
Bảng 4.7 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái của trại
TT Tên bệnh Số nái theo dõi
Kết quả từ bảng 4.7 cho thấy tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm tử cung cao nhất, chiếm 9,72% Nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ này ở đàn lợn nái tại trại là do chuồng trại không được vệ sinh sạch sẽ, còn bẩn và ẩm ướt Hơn nữa, trong quá trình phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, thao tác không an toàn và không đảm bảo vệ sinh đã tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển Thêm vào đó, việc can thiệp trong quá trình lợn đẻ khó, như sử dụng thủ thuật để lấy thai, cũng làm tăng nguy cơ viêm do vi khuẩn từ bên ngoài dễ dàng xâm nhập.
Số lợn nái mắc bệnh viêm vú là 3 con, chiếm 4,17% Nguyên nhân chính gây bệnh này là do kế phát từ các ca lợn nái mắc bệnh viêm tử cung nặng, khiến vi khuẩn theo máu đến vú gây viêm Thêm vào đó, quá trình mài nanh ở lợn con sơ sinh chưa tốt cũng góp phần gây tổn thương đầu núm vú của lợn mẹ khi lợn con bú.
Số lợn nái bị viêm phổi là 1 con chiếm 1,39%, nguyên nhân là do
Mycoplasma hyopneumoniae là tác nhân gây ra bệnh, lây nhiễm chủ yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng có thể phát sinh do điều kiện chăn nuôi kém vệ sinh, thay đổi thời tiết, và sức đề kháng của lợn giảm sút.
Số lợn nái bị sót nhau là 2 chiếm 2,78%, nguyên nhân gây nên bệnh này
Lợn nái có thể gặp tình trạng viêm niêm mạc tử cung, dẫn đến việc nhau thai không được đẩy ra hết sau khi sinh Việc can thiệp không đúng kỹ thuật có thể làm nhau thai bị đứt và sát lại Ngoài ra, bào thai quá lớn, dịch thai nhiều và tử cung co bóp kém cũng là nguyên nhân Thêm vào đó, việc mẹ ít vận động trong thời gian mang thai, đặc biệt là giai đoạn cuối, cùng với khẩu phần ăn thiếu khoáng chất, đặc biệt là canxi, có thể góp phần vào tình trạng này.
Số lợn nái sinh sản mắc bệnh bại liệt sau đẻ là 3 con với tỷ lệ 4,17%
4.3.3.2 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại
Số nái điều trị (con)
Tên thuốc và Liều lượng (ml) Đường đưa thuốc (tiêm/uống)
Thời gian điều trị (ngày)
+Amox: 1ml/10kgTT +Oxytoxin: 2ml/con +Anagin: 1ml/10kg TT +Dexa: 1ml/10kg TT
2 Viêm vú 3 3 100 +Amox: 1ml/10kgTT
+Anagin: 1ml/10kg TT Tiêm bắp 5
3 Viêm phổi 1 0 0 +Ceftiofur: 1ml/kgTT
+Anagin: 1ml/10kgTT Tiêm bắp 3
+Lincospec:1ml/10kgTT +Canxi: 1ml/10kgTT +Catosal: 1ml/10kgTT
+Oxytocin: 2ml/con +Amox: 1ml/10kgTT +Kết hợp thụt rửa
Tiêm bắp 3 cho thấy kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái đạt hiệu quả cao, với 7/7 con lợn mắc bệnh được điều trị khỏi.
49 tỷ lệ khỏi 100%, 3 con mắc bệnh viêm vú điều trị có 3 con khỏi đạt tỷ lệ 100%,
Trong quá trình điều trị, một con mắc bệnh viêm phổi đã không khỏi và bị loại thải, trong khi hai con sót nhau đã được điều trị thành công với tỷ lệ đạt 100% Ba con mắc bệnh bại liệt sau khi đẻ, trong đó hai con đã hồi phục, còn một con nặng đã bị loại thải Đối với bệnh sót nhau và viêm tử cung sau đẻ, trại đã sử dụng oxytocin với liều 2 ml/con để tăng cường co bóp cơ trơn tử cung, giúp đẩy nhau thai và sản dịch ra ngoài nhanh chóng Kết hợp với kháng sinh Amoxi LA AP với liều 1 ml/10 kg thể trọng để điều trị và phòng ngừa viêm nhiễm tái phát trong 3 ngày Sau khi nhau thai, dịch tử cung được rửa bằng nước muối sinh lý 0,9% trong ba ngày liên tiếp Đối với bệnh viêm vú, biện pháp điều trị bao gồm phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá lạnh cục bộ, tiêm anagin và tiêm Amoxi LA AP toàn thân.
Một số chỉ tiêu sinh lý của đàn lợn nái sinh sản sau điều trị
Theo dõi các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị là rất quan trọng để đánh giá hiệu quả điều trị bệnh Kết quả được trình bày trong bảng 4.9.
Bảng 4.9 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị
Số nái điều trị khỏi (con)
Số nái phối đạt lần
Tỷ lệ phối đạt lần
Số nái phối lại lần 2 (con)
Số nái phối đạt lần 2 (con)
Tỷ lệ nái phối đạt lần 2 (%)
Khả năng phối giống của lợn mắc bệnh viêm tử cung sau điều trị là cao, với 57,14% (4/7) lợn nái đạt phối lần 1 Trong số 3 lợn nái không đạt phối lần 1, cả 3 đều thành công ở lần phối thứ 2, đạt tỷ lệ 100% Kết quả cho thấy, những lợn nái không đạt ở lần 1 thường bị viêm tử cung ở thể nặng và thể vừa, dẫn đến sức đề kháng giảm.
Phát hiện sớm và điều trị kịp thời là yếu tố quan trọng để đạt hiệu quả điều trị cao, rút ngắn thời gian điều trị và giảm chi phí thuốc men.
Với bệnh viêm vú khả năng phối đạt sau điều trị là cao, 3 con sau điều trị đều phối giống đạt, tỷ lệ 100%
Sau khi mắc bệnh bại liệt sau đẻ, cả 2 lợn nái đã hồi phục nhưng không đạt kết quả khi phối lần đầu Tuy nhiên, ở lần phối thứ hai, cả 2 con đều thành công với tỷ lệ 100%.
Khả năng phối giống của lợn nái sau khi điều trị bệnh sót nhau rất cao Cụ thể, trong số 2 lợn nái đã khỏi bệnh, cả hai đều thành công trong việc phối giống.