1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đối với tăng trưởng kinh tế ở nước ta

332 597 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đối với tăng trưởng kinh tế ở nước ta
Trường học University of Economics and Business Hanoi
Chuyên ngành Economics
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 332
Dung lượng 11,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

£ Chỉ riêng việc so sánh với các nước trong Hiệp hội Đông Nam Á ASEAN, Việt Nam cùng với Lào, Campuchia, Mianma là 4 quốc gia có trình độ phát triển kinh tế thấp nhất của ASEAN “Nguy c

Trang 1

TONG QUAN KHOA HOC

DE TAI CAP BO NAM 2005

Co quan chi tri : Vién Kinh tế và phát triển Chủ nhiệm dé tài: 7S Nguyễn Từ -

Thư ký đểtài : CN Trần Thị Tuyết Lan

Nam — 2006

Trang 2

DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN

NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1 7S Nguyễn Văn Chiễn - Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

2 GS.TS Trần Văn Chử - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

3 PGS.TS Võ Văn Đức - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

4 ThS Phí Thị Hằng - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

5 TS Trần Thị Minh Hoà — - Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội

6 GS.TS Hoang Ngọc Hoà — - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

7 ThS Nguyễn Vũ Hoàng — - Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội

8 TS Nguyễn Thị Hường — - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

9 TS Pham Thị Khanh - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

11.CN Trần Thị Tuyết Lan - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

12.CN Nguyễn Thị Miễn — - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

13 TS Nguyễn Thị Thơm — - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

14 1S Nguyễn Mạnh Tuân _ - Trường Đại học quốc gia Hà Nội

15 ThS Trần Mạnh Tuyến — - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

16 PGS.TS Nguyễn Hữu Tư - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

17 TS Nguyễn Từ - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

18 ThS Nguyễn Tấn Vinh — - Học viện Chính trị quốc gia khu vực III

19 TS Trần Thị Yến - Trường Đại học xây dựng Hà Nội

Trang 3

WTO

CCKT

NHUNG CHU VIET TAT

: Tăng trưởng kinh tế

: Công nghiệp : Nông nghiệp : Dịch vụ : Xây dựng

: Xã hội chủ nghĩa : Phát triển bền vững

: Ngân hàng thế giới : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

: Tổ chức thương mại thế giới : Cơ cấu kinh tế

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đẻ tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

6 Kết cấu của tổng quan đề tài

Trang 5

MUC LUC

MG DAU

1 Sự cần thiếtcủa dé tài nghiên cứu

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

CHUONG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VE TĂNG TRƯỞNG KINH TE

1.1 Khái niệm và chỉ tiêu đánh giá TTKT

1.2 Vai trò của TTKT và quan hệ giữa TTKT với một số vấn để kinh tế — xã

hội, môi trường trong quá trình phát triển

1.3 Chất lượng tăng trưởng kinh tế — quan niệm và những chỉ tiêu đánh giá

1.4 Nhận thức về TTKT từ nghiên cứu lịch sử các lý thuyết kinh tế tiêu biểu

1.5 Kinh nghiệm giải quyết vấn đề TTKT của một số quốc gia và vùng lãnh thổ

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIA THUC TRANG TANG TRUONG KINH TẾ VUA VIỆT

NAM

I Tăng trưởng kinh tế ngành công nghiệp

1.1 Những thành tựu, tiến bộ chủ yếu trong tăng trưởng ngành công nghiệp

và nguyên nhân

12 Những hạn chế, yếu kém trong tăng trưởng CN ở nước ta và nguyên nhân

Il Tăng trưởng kinh tế ngành nông nghiệp

2.1 Những thành tựu chủ yếu trong tăng trưởng ngành NN ở nước ta và

nguyên nhân

2.2 Những hạn chế, yếu kém trong tăng trưởng NN và nguyên nhân

Ill Tăng trưởng kinh tế ngành dịch vụ

3.1 Quan niệm về ngành dịch vụ

3.2 Những yếu kém, hạn chế trong tăng trưởng dịch vụ và nguyên nhân

IV Tăng trưởng kinh tế ngành xây dựng

4.1 Những thành tựu, tiến bộ trong tăng trưởng ngành xây dựng

- 4.2 Những hạn chế, yếu kém trong tăng trưởng ngành xây dựng và nguyên nhân

V Tăng trưởng kinh tế theo vùng lãnh thổ và theo thành phần kinh tế

5.1 Tăng trưởng kinh tế theo vùng lãnh thổ

5.2 Tăng trưởng kinh tế theo thành phần kinh tế

VỊ Đánh giá chung về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam -

6.1 Những thành tựu, tiến bộ chủ yếu trong tăng trưởng kinh tế nước ta và

nguyên nhân

6.2 Những hạn chế, yếu kém trong tăng trưởng, kinh tế và nguyện nhân

CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY TANG

RUONGKINH TE VIET NAM THEO HUGNG BEN VUNG VA CHAT LƯỢNG

3.1 Quan điểm tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

3.2 Những biện pháp chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nước ta theo

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

- Trong những năm gần đây, mục tiêu TTKT đã trở thành mục tiêu

cơ bản trong chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế — xã hội ở nước ta

Duy trì và nâng cao mức TTKT đã trở thành mối quan tâm lớn của Đảng,

Nhà nước và xã hội Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIN, lần thứ IX, lần thứ X, Nghị quyết của các kỳ họp Quốc hội và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ đã xác định rõ mục tiêu TTKT là một

trong những mục tiêu cơ bản cần đạt được cho từng thời kỳ phát triển ở nước ta

- Đảng ta đã chỉ rõ, nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế so với

các nước trong khu vực và thế giới là một trong 4 nguy cơ lớn của nước ta

£

Chỉ riêng việc so sánh với các nước trong Hiệp hội Đông Nam Á

(ASEAN), Việt Nam cùng với Lào, Campuchia, Mianma là 4 quốc gia có trình độ phát triển kinh tế thấp nhất của ASEAN “Nguy cơ tụt hậu xa hơn

về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vân là thách thức to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của ta quá thấp lại trong môi trường cạnh tranh

quyết liệt”), Để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế và

đuổi kịp các nước trong khu vực và thế giới, việc nâng cao tốc độ TTKT

và hạ thấp tỷ lệ tăng dân số được xem là 2 hướng cơ bản để tăng nhanh

tổng sản lượng của nên kinh tế và thu nhập bình quân theo đầu người ở

Việt Nam Nghị quyết Đại hội Đảng lân thứ VIII (cuối năm 1996), khi nêu mục tiêu “từ nay đến năm 2010, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp” đã nêu yêu cầu “tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu

© Dang Cong san Viet Nam, Van kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIHI, Nxb Chính trị quốc gia, 1996, tr79.

Trang 7

quả cao và bén vững ”?' Để “năm 2010, tống sản phẩm trong nước (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000”)

- Tăng trưởng kinh tế có vai trò rất toàn điện Như trên đã phân tích,

TTKT là điều kiện cơ bản dé nang cao thu nhập bình quân cho 1 người

dân Để thúc đấy tăng trưởng, việc huy động nhiều nguồn lực cho phát triển kinh tế, sẽ góp phần tạo thêm việc làm, giảm thất nghiệp cho xã hội

Hơn nữa, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan giữa tốc độ tăng

trưởng với mức độ giảm tỷ lệ nghèo đói của dân cư

- Trong nhiều năm vừa qua nên kinh tế nước ta đạt được sự TTKT

cao liên tục trong nhiều năm Việt Nam trở thành một trong những quốc

gia có tốc độ TTKT cao nhất thế giới Tuy vậy, việc thực hiện mục tiêu

thúc đẩy nhanh TTKTtrong thời gian vừa qua và sắp tới đã và đang đặt ra

nhiều vấn đề cấp bách cần phải giải quyết Sau đây là một số biểu hiện :

+ Trong quá trình thúc đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, sẽ có những nhân tố làm tăng nhu cầu việc làm cho xã hội nhưng cũng đang xuất hiện những nhân tố làm giảm nhu cầu việc làm

Lam thé nào để vừa thúc đẩy nhanh việc TTKT nên kinh tế theo hướng

hiện đại, đồng thời tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, giảm thất nghiệp

là vấn để đòi hỏi phải được nghiên cứu giải quyết cả trong thời kỳ ngắn

hạn và cả trong dài hạn

+ Trong TTKT, sự đóng góp của các nguồn lực (tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, khoa học công nghệ) có mối quan hệ chặt chẽ với

nhau Thực tiễn ở các nước có nền kinh tế phát triển cao chứng tỏ, nền

kinh tế phải được tăng trưởng trên cơ sở sử dụng lao động chất lượng cao, khoa học, công nghệ tiên tiến Ở nước ta, trong những năm vừa qua sự

đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp - TEP còn ở mức độ thấp và

chậm thay đổi Làm thế nào để vừa nâng cao được mức độ huy động

nguồn lực lao động, vốn trong và ngoài nước cho tăng trưởng nhưng phải

@.@ Dang Cong san Viet Nam, Van kién Dai hội VII, Sach di dẫn, tr 80

Trang 8

tang nhanh chóng sự đóng góp cia TFP vao tăng trưởng là vấn đề đòi hỏi

cần phải được nghiên cứu giải quyết

+ Chất lượng tăng trưởng TTKT ở nước ta còn thấp và có một số mặt

có biểu hiện giảm sút Vậy nguyên nhân của tình hình trên được lý giải

như thế nào cho sát thực và làm thế nào trong thời gian tới, vừa nâng cao được tốc độ tăng trưởng vừa nâng cao được chất lượng TTKT là vấn đề đặt

ra rất cấp bách

+ Để thúc đẩy TTKT, buộc phải sử dụng động lực của kinh tế thị

trường, khai thác nhiều hơn tài nguyên thiên nhiên và tăng mức độ chất

thải Vậy phải làm thế nào để kết hợp giữa thúc đẩy nhanh TTKT với

bằng xã hội, xoá đói, giảm nghèo và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái là vấn đề cấp bách cần giải quyết

+ Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại

thế giới (WTO) Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhiều tài liệu

nghiên cứu đã phân tích những cơ hội và thách thức của Việt Nam trong phát triển kinh tế — xã hội nói chung và giải quyết vấn đề TTKT nói riêng Vậy làm thế nào để tìm ra những giải pháp sát thực, khả thi nhằm tiếp tục duy trì và nâng cao tốc độ TTKT ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập

kinh tế là vấn để cần phải được tiếp tục lý giải v.v

Như vậy, rất nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực TTKT cần phải được nghiên cứu, lý giải Từ đó chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu để tài nói

trên sẽ góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn của TTKT

ở nước ta

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề TTKT được các học giả quốc tế và nước ta quan tâm nghiên cứu

Những nghiên cứu về TTKT được công bố ở nước ta được thể hiện

dưới nhiều hình thức và nhiều chủ để khác nhau Trước hết, về mặt lý

thuyết, nhiều nhà nghiên cứu đã để cập những khía cạnh thuộc phạm vi

lịch sử kinh tế liên quan đến vấn đề TTKT như GS.TS Chu Văn Cấp,

Trang 9

GS.TS Mai Ngọc Cường, PGS.TS Nguyễn Hữu Tư Hoặc nghiên cứu dưới

dạng kinh nghiệm nước ngoài về TTKT để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như PGS.TS Nguyễn Xuân Thắng, PGS.TS Kim Ngọc, PGS.TS Lê Cao Đoàn v.v Về những vấn đề TTKT của Việt Nam,

nhiều nhà nghiên cứu đã để cập nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến phạm trù TTKT Trước hết một số nhà nghiên cứu trình bày những khía cạnh thuộc về lý thuyết TTKT và trình bày những vấn đề thực tiễn của TTKT Việt Nam như PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc, PGS.TS Trần Văn Chử, PGS.TS Võ Văn Đức, PGS.TS Trần Đình Thiên, Một số nhà nghiên cứu còn đi sâu nghiên cứu các nguồn lực của tăng trưởng, sự đóng góp của từng nguồn lực vào TTKT ở nước ta như TS Tăng Văn Khiên, PSG.TS

Nguyễn Đức Minh, TS Lê Xuân Bá, TS Nguyễn Thị Tuệ Anh v.v

Gần đây, vấn đề chất lượng TTKT và thúc đẩy TTKT ở nước ta được

một số tác giả như như GS.TS Nguyễn Văn Thường, TS Nguyễn Ngọc Trung, TS Lê Huy Đức, TS Trần Đào, TS Lê Xuân Bá, TS Tang Van

Khiên quan tâm nghiên cứu và đã bước đầu đưa ra một số kết luận về lý thuyết và thực tiễn rất có giá trị Sau đây, chúng tôi xin nêu một số công -

Công trình nghiên cứu : “Mô hình tăng trưởng kinh tế” do TS Trần

Văn Tùng chủ biên là một công trình khoa học công phu có hàm lượng lý luận và thực tiễn rất phong phú Công trình trên của TS Trần Văn Tùng và cộng sự được Nhà xuất bản Đại học quốc gia ấn hành thành sách có độ

dày 312 trang Sách được viết thành 9 chương Từ chương I đến chương

VI, tác giả đã trình bày những vấn đẻ về lý thuyết chung về TTKT, phân tích 6 mô hình TTKT như mô hình Solow — Swan; mô hình tăng trưởng tối

ưu hoá tiêu dùng; mô hình tăng trưởng nội sinh một khu vực; mô hình tăng

trưởng nội sinh hai khu vực Chương IX của công trình này đi sâu vào giải thích việc TTKT ở một số khu vực và quốc gia trên thế giới như khu

vực Đông Á, khu vực Mỹ la tinh va chau Phi cận Xahara, khu vực Đông

Âu thuộc các nước có nền kinh tế chuyển đổi Ưu điểm nổi bật của công

Trang 10

trình nghiên cứu trên là đã trình bày nhiều mô hình TTKT, nêu lên các

phương pháp phân tích lượng hoá để trình bày rõ các mối quan hệ kinh tế trong quá trình TTKT

- Đề tài khoa học cấp Bộ (năm 2004) do PGS.TS Võ Văn Đức làm chủ nhiệm được bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trong công trình này, các tác giả tham gia nghiên cứu đã đi sâu phân tích

những khía cạnh lý thuyết của Solow về TTKT và bước đâu sử dụng để đánh giá TTKT của Việt Nam Ngoài nội dung chính như đã nêu ở trên,

các thành viên tham gia nghiên cứu để tài này đã trình bày một số khía cạnh về lịch sử nghiên cứu phạm trù TTKT, phân tích kinh nghiệm của

một số nước châu Á trong TTKT, phân tích vai trò của một số nguồn lực

trong TTKT của Việt Nam thời gian qua Công trình trên được biên tập, bổ sung thành sách do Nxb Chính trị quốc gia ấn hành năm 2006 với tiêu đề

“Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam qua mô hình tăng trưởng kinh tế của RSolow”

- Sách : “Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và những rào cần cần vượt

qua” (năm 2004) do GS.T§ Nguyễn Văn Thường và GS.TS Nguyễn Kế Tuấn đồng chủ biên, do Nhà xuất bản Lý luận chính trị ấn hành năm 2004

Trong công trình này, các tác giả đã phân tích những kết quả nổi bật trong

TTKT của Việt Nam cũng như những hạn chế, yếu kém cần khắc phục

Đặc biệt công trình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích các rào cản và xem đố như là những nhân tố cản trở quá trình TTKT của Việt Nam

Trong đó, rào cản về hệ thống pháp luật, chính sách, chỉ đạo thực tiễn

được các nhà nghiên cứu trình bày rất sâu sắc

Công trình sách “Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” do GS.TS Nguyễn Văn Nam và PGS.TS Hoàng Thọ Đạt chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2006 Công trình tập trung

phân tích phạm trù chất lượng tăng trưởng kinh tế và đánh giá chất lượng

tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua.

Trang 11

- PGS.TS Tăng Văn Khiên, công tác ở Tổng cục Thống kê đã dày

công nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến TTKT thông qua

một số bài báo được công bố liên quan đến vấn đề này Đặc biệt, công

trình nghiên cứu: “Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng bợp của toàn

bộ nền kinh tế quốc dân Việt Nam giai đoạn 1991-2002” được đăng tải ở Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế tháng 5 - 2005 là một công trình nghiên cứu công phu chỉ ra mức đóng góp của các nhân tố nhất là nhân tố năng suất

tổng hợp (TFP) đến TTKT của Việt Nam trong 10 nam (1991 — 2002) Do

sử dụng phương pháp lượng hoá, PGS.TS Tăng Văn Khiên đã xác định rõ mức độ đóng góp của từng nhân tố vào TTKT của Việt Nam

Trong những năm gần đây, phạm trù chất lượng TTKT được các nhà

nghiên cứu kinh tế của Việt Nam đặc biệt quan tâm Có thể nhận thức về

vấn đề này qua nghiên cứu của TS Nguyễn Ngọc Trung (Tạp chí Phát triển

Kinh tế tháng 2 - 2006), TS Lê Huy Đức (Tạp chí Kinh tế và Dự báo,

tháng 5 — 2004), tác giả Trần Đào (Tạp chí Cộng sản, tháng 12 — 2004) Đặc biệt TS Lê Xuân Bá và cộng sự đã nghiên cứu vấn đẻ chất lượng

TTKT dưới dạng một dự án nghiên cứu tương đối công phu Dự án “Chất lượng tăng trưởng, một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam” được trình bày gồm 2 nội dung chính : nội dung thứ nhất các tác giả đã phân tích

những khía cạnh lý thuyết về chất lượng TTKT và những biểu hiện của nó

- và cho rằng không nhất thiết phải đạt được tốc độ TTKT quá cao mà điều quan trọng hơn là đạt được ở mức cao hợp lý nhưng bên vững, đồng thời tăng thu nhập của dân cư và giải quyết những vấn đê phúc lợi xã hội bên

vững Ngoài ra, các nhà nghiên cứu tham gia dự án nói trên đã có sự đánh giá bước đầu bằng những tư liệu cụ thể và được lượng hoá trên một mức

độ nhất định về chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu như TS Phạm Khôi Nguyên, TS Hoàng Thị Thành, PGS.TS Nguyễn Thế Chính, PGS.TS Ngô Thắng Lợi, TS Nguyễn Thị Thơm đã có những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng

Trang 12

Trong thời kỳ gần đây, trước thực tiễn Việt Nam chuẩn bị gia nhập

WTO và chính thức trở thành thành viên của WTO, nhiều nhà nghiên cứu

ở Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh v.v đã bước đầu trình bày một

số vấn đề về TTKT của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

nói chung và gia nhập WTO nói riêng

Những sự phân tích trên cho thấy vấn để TTKT ở nước ta được các

nhà nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn rất quan tâm Tuy nhiên, trong quá

trình nghiên cứu về vấn đề này, hoặc có đề tài nặng về khía cạnh lý thuyết,

cũng có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu phân tích một số mặt của thực tiễn Đặc biệt, trong khi phân tích TTKT của Việt Nam, ít tài liệu đi sâu nghiên cứu TTKT ngành dịch vụ, ngành xây dựng mà thường gộp chung xây dựng và công nghiệp thành một nhóm ngành Hơn nữa, thường tách rời nghiên cứu tăng trưởng ngành với tăng trưởng của các nguồn lực hoặc

ít xem xét quan hệ giữa tăng trưởng theo vùng, tăng trưởng theo các thành phần kinh tế với tăng trưởng theo ngành Đặc biệt, quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, bội chỉ Ngân sách, thâm hụt cán cân ngoại thương tuy được nhiều nhà nghiên cứu luận giải nhưng đến nay vẫn _ chưa đi đến thống nhất Tạp chí Ngân hàng số 23 tháng 12/2006 đã đăng bài của tác giả Lant Pritchett với tiêu để “$0 năm lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại và cuộc tìm kiếm vẫn tiếp tục ”chứng tỏ vấn đề TTKT dù

đã được nghiên cứu nhiều thập kỷ những vẫn là đề tài có tính thời sự Đặc biệt, những nghiên cứu trước đây liên quan đến TTKT của Việt Nam trong điều kiện hội nhập khi chưa có những thông tin về những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO v.v

Như vậy, việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề TTKT ở nước ta vẫn là một

công việc còn cần thiết phải tiếp tục

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Để tài phải thực hiện được 2 mục đích sau đây:

Trang 13

Một là, đánh giá rõ những thành tựu, hạn chế, những vấn đề đặt ra trong tăng trưởng theo ngành kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây

Hai là, để xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy TTKT ở Việt Nam thời gian tới theo yêu cầu phát triển bền vững

4 Đối tượng và phạm vì nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý thuyết và thực tiễn TTKT

của Việt Nam

- Về phạm vi nghiên cứu, đề tài chủ yếu nghiên cứu tăng trưởng các

ngành kinh tế, còn việc tăng trưởng kinh tế theo vùng lãnh thổ và thành phần kinh tế chỉ được xem xét nhằm bổ sung cho việc đánh giá theo

ngành

- Việc phân tích, đánh giá và kiến nghị được nhận mạnh chủ yếu ở

những vấn để quản lý vĩ mô của nền kinh tế; đánh giá thực trạng TTKT

được xem xét trong thời gian 10 năm gần đây Còn những giải pháp, khuyến nghị được đề xuất đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

- Trong nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã có gắng bổ sung những nội

dung mới so với một số công trình đã nghiên cứu cùng chủ đề Ví dụ, lâu

nay trong các báo cáo về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế nước ta thường gộp

chung ngành công nghiệp và xây dựng, đề tài sẽ phân tích riêng việc tăng

- trưởng ngành xây dựng ; đồng thời cố gắng nghiên cứu những vấn đề thiết

thực đang đặt ra cho tăng trưởng kinh tế nước ta Ví dụ, khi tìm hiểu kinh nghiệm tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, nhiều tài liệu đã công bố

nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của quốc gia này, đề tài chỉ đi sâu vào phân tích những khía cạnh tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO)

nhằm cung cấp những kinh nghiệm thiết thực cho tăng trưởng kinh tế Việt

Nam khi nước ta trở thành thành viên thứ 150 của WTO Cũng với hướng

tư duy đó, trong phân tích tăng trưởng ngành dịch vụ, sau khi đánh giá

chung, đề tài không đi sâu vào việc phân tích tăng trưởng dịch vụ thương

Trang 14

mại là ngành truyền thống ở nước ta mà đi sâu vào một số ngành dich vu mới hoặc có tác dụng tạo cơ sở hạ tầng cho tăng trưởng kinh tế như dịch

vụ tài chính — ngân hàng, dịch vụ giao thông, vận tải

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

- Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu: Đề tài kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết với khảo sát thực tiễn, giữa chủ đề nghiên cứu của từng thành viên với tư tưởng chung của cả đề tài nghiên cứu Trong quá

trình nghiên cứu đề tài, một số thành viên đã đi nghiên cứu thực tế ở tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Giang, Ninh Bình, Thanh Hoá, thành phố Hà Nội Để đánh giá được TTKT theo yêu cầu lượng hoá, các thành viên trong nhóm đề tài không có điều kiện sử dụng các phương pháp phân tích kinh tế lượng mà

sử dụng kết quả nghiên cứu của TS Tăng Văn Khiên, PGS TS Nguyễn

Khắc Minh và một số tác giả khác

- Các tác giả tham gia nghiên cứu đề tài đã kế thừa, nghiên cứu một

cách nghiêm túc những tư tưởng, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta, tư

tưởng Hồ Chí Minh và tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những thành quả

nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài Đồng thời qua nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, toạ đàm với một số cán bộ địa phương, các cộng tác viên của

để tài đã cố gắng tìm ra những nội dung mới liên quan đến chủ đề nghiên

cứu

6 Kết cấu của tổng quan:

Ngoài lời mở đầu, kết luận;:đanh mục s##*tiệu tham khảo và phụ

lục, tổng quan gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế

Chương 2: Đánh giá thực trạng tăng trưởng kinh tế ở nước ta trong

thời gian vừa qua

Chương 3: Quan điểm và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế nước ta đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 theo yêu cầu bền vững

Trang 15

oo Chuong I NHUNG VAN DE LY LUAN VE TANG TRUONG KINH TE

Tăng trưởng kinh tế (TTKT) bao gồm nhiều vấn đề lý luận và thực tiến phức tạp Để làm rõ được những vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế,

nhất là tăng trưởng kinh tế từ điểm xuất phát là một nước nông nghiệp đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế

quốc tế như Việt Nam đồi hỏi phải nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều phạm

trù lý thuyết có liên quan Trong giới hạn đề tài nghiên cứu này, chúng tôi

đã tiếp cận những nội dung chủ yếu: Khái niệm và chỉ tiêu đánh giá TTKT; Vai trò của TTKT và quan hệ giữa TTKT với một số vấn đề kinh tế

— xã hội trong quá trình phát triển; Chất lượng TTKT - quan niệm và chỉ tiêu đánh giá; Những nhận thức về TTKT từ việc nghiên cứu một số lý

thuyết kinh tế tiêu biểu; bài học kinh nghiệm từ tìm hiểu TTKT của một

Theo Pramit Chaudhuri thì TTKT là sự tăng lên của hàng hoá, dịch _ vụ mà sự tăng lên này được duy trì trong một thời gian đài Như vậy theo

Pramit Chaudhuri thì TTKT không chỉ là sự tăng lên của sản lượng hàng

hoá, dịch vụ mà sự tăng lên đó phải được đuy trì trong một thời gian dài

Còn Samuelson cho rằng: TTKT là sự mở rộng GDP hay sản lượng tiêm

năng của một nước, cũng có nghĩa là TTKT diễn ra khi đường giới hạn khả

năng sản xuất của một quốc gia chuyển dịch ra phía ngoà#? Tuy quan

niệm của Samuelson đã làm rõ TTKT là sự mở rộng của GDP hay sản

© Theo Th.s Đoàn Mạnh Tuyến, Luận văn Thạc sĩ “Những giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế của Việt Nam giai đoạn 2005-2010”, Đại học KTQD, 2005

Trang 16

lượng tiềm năng của một nước phản ảnh được bản chất của TTKT nhưng

lại đùng phạm trù “đường giới hạn khả năng sản xuất” của một quốc gia là một phạm trù rất khó nhận thức, thậm chí khó lượng hoá một cách cụ thể

Theo nhà kinh tế học Mỹ gốc Nga được giải thưởng Nôben về kinh tế

(năm 1971)- Simon Kuzents thì TTKT là sự tăng lâu dài về khả năng cung

cấp ngày càng tăng các mặt hàng kinh tế da dang cho số dân của mình, khả năng này ngày càng tăng lên dựa trên công nghệ tiên tiến và những điều chỉnh về thể chế vào tư tưởng mà nói đòi hỏi” Như vậy, quan niệm của Simon Kuzents có sự tương đồng với một số nhà nghiên cứu khi cho

rằng TTKT là sự tăng lên của sản lượng trong thời kỳ dài hạn Hơn nữa Simon Kuzents lại đưa ra yêu cầu về việc nâng cao mức độ tăng trưởng

bằng việc sử dụng công nghệ và sự điều chỉnh về nhận thức và thể chế

Theo chúng tôi, quan niệm của Simon Kuzents có điều không hợp lý là đề cập phương thức, điều kiện để đạt tới sự tăng trưởng mà phương thức đó lại đặt ra trong điều kiện có khoa học, công nghệ tiên tiến Trong thực tế,

ở nhiều nước nông nghiệp, khoa học công nghệ còn lạc hậu nhưng vẫn đạt được sự tăng trưởng Do đó theo chúng tôi, mội khái niệm về tăng trưởng kinh tế chỉ cần trình bày bản chất của vấn đê TT KT, còn phương thức, môi trường, mục tiêu của TTKT thì cần phải được xem xét ở một góc độ khác của nội dung này Ö Việt Nam, nhiêu giáo trình Kinh tế học phát triển, nhiều tài liệu nghiên cứu khoa học cũng đưa ra quan niệm về TTKT Có quan niệm lưu ý rằng, TTKT trước hết là sự tăng lên của sản lượng hàng hoá dịch vụ đồng thời còn là sự tăng thêm của thu nhập bình quân theo đầu người Khoa Kinh tế phát triển thuộc trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng TTKT phải thoả mãn hai khía cạnh: mộ: /à, sự tăng lên của

sản lượng nền kinh tế va hzi là, sự tăng lên về thu nhập tính cho một

người' Như vậy còn nhiều quan niệm khác nhau về TTKT Ở đây, có thể

thấy: nếu theo quan niệm của Simon Kuzents thì ở các quốc gia trình độ

'® Th.s Đoàn Mạnh Tuyến, Tài liệu đã dẫn

Trang 17

khoa học công nghệ thấp thì không tồn tại phạm trù TTKT Còn theo quan niệm của một số nhà khoa học Việt Nam đã giới thiệu trên đây thì TTKT của nền kinh tế chỉ được thể hiện khi thoả mấn hai yêu cầu: sự tăng lên

của tổng sản lượng của nền kinh tế và sự tăng lên của thu nhập theo đầu

người Cần nhận thức rằng, thu nhập bình quân theo đầu người của một quốc gia sẽ bằng tổng thu nhập chia cho số dân trong một thời kỳ nào đó Như vậy, có trường hợp tổng thu nhập của quốc gia tăng lên —- nền kinh tế

đạt được sự tăng trưởng nhưng thu nhập bình quân 1 người không tăng

hoặc cá biệt lại giảm xuống Trong trường hợp đó tốc độ tăng của tổng thu

nhập quốc gia tăng lên nhưng chậm hơn tốc độ tăng đân số Trong trường

hợp đó, không thể nói rằng nền kinh tế của quốc gia không đạt được sự

tăng trưởng Việc dùng chỉ tiêu mức tăng thu nhập của một người đối với

các nước đang phát triển nhằm đặt ra yêu cầu phải giảm tốc độ tăng đân số

nhưng điều đó không có nghĩa là tốc độ tăng thu nhập theo đầu người mới

là chỉ tiêu phản ảnh bản chất của phạm trù TTKT Như vậy, xét ở sự biểu hiện chung nhất, TTKT của một quốc gia, một ngành, vùng lãnh thổ nào

đó là sự gia tăng sản lượng hàng hoá, dịch vụ trong một thời kỳ nào đó Còn khi trình bày mối quan hệ giữa sự gia tăng sản lượng với mức tăng dân số, phản ảnh tăng trưởng chung với nâng cao thu nhập, đời sống của đân cư, thường xem xét tăng trưởng thu nhập bình quân 1 người Vì thế, theo chúng tôi có thể định nghĩa TTKT một cách chung nhất là: TTKT của

một quốc gia là việc gia tăng (hay tăng lên) về sản lượng hang hod, dich

vụ của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm

1.1.2 Chỉ tiêu phản ảnh TTKT

Chỉ tiêu phân ánh TTKT (hay là chí tiêu đo lường sự tăng trưởng) là

tiêu thức phản ảnh được sự TTKT của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định Vì thế, để đo lường TTKT phải sử dụng những chỉ tiêu nào phản ảnh

'® Trường Đại học KTQD, Giáo trình Kinh tế phát triển, 2005, tr 21

Trang 18

rõ nhất sự lớn lên của hàng hoá, dịch vụ của quốc gia đó trong một thời kỳ nhất định Hiện nay thường sử dụng những chỉ tiêu chủ yếu sau đây:

+ Mức tăng tổng giá trị sản xuất (GO)

Tổng giá trị sản xuất (GO) là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời

kỳ nhất định

GO =IC + VÀ

Trong đó, GO là giá trị sản xuất ; IC là chi phí trung gian và VÀ là gid tri gia tang

+ Mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội (hay tổng sản phẩm trong

nước - GDP) Theo quan niệm của Tổng cục Thống kê Việt Nam, GDP là

giá trị mới của hàng hoá, dịch vụ của một quốc gia tạo ra trong một thời

kỳ nhất định trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó, không phân biệt

nguồn lực tạo ra sản lượng hoặc sở hữu sản lượng như thế nào (của dân cư

trong nước hay của người nước ngoài)”),

+ Mức tăng của tổng sản phẩm quốc dân — GNP

Tổng sản phẩm quốc dân là sản lượng hàng hoá dịch vụ tạo ra bằng

nguồn lực của công dân của một nước (cùng quốc tịch) trong một thời kỳ nhất định, không phân biệt hàng hoá, địch vụ đó được tạo ra ở trong nước

hay ở nước ngoài”,

+ Mức tăng của tổng thu nhập quốc gia - GNI

Theo Tổng cục Thống kê, tổng thu nhập quốc gia là tổng thu nhập lần đầu được tạo ra từ các yếu tố thuộc sở hữu quốc gia vào hoạt động sản xuất trên lãnh thổ quốc gia hay ở nước ngoài trong một thời kỳ nhất dinh™,

Giữa GDP và GNI có phần chênh từ yếu tố nước ngoài Để phản ảnh

chênh lệch của yếu tố nước ngoài, trong hạch toán nền kinh tế quốc dân,

thường sử dụng phạm trù “thu nhập ròng” từ nhân tố nước ngoài

Œ® Niên giám Thống kê năm 2005, tr 53-54

Trang 19

Thu nhập về các nhân _ Chi tra cdc nhan t6

tố sản xuất thuộc sở thuộc sở hữu nước

6 Việt Nam và nhiều nước đang phát triển còn có sự chênh lệch khá

lớn giữa GDP và GNI Đến năm 2005, tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đạt trên 60 tỷ USD nhưng phần của công dân, doanh nghiệp

Việt Nam đầu tư trực tiếp nước ngoài mới đạt hơn 900 triệu USD Theo

Tổng cục Thống kê, những năm gần đây, ở nước ta GNI thường đạt trên 95% GDP

+ Ở phạm vi nên kinh tế quốc dân, GDP được tính bằng 3 phương

pháp : phương pháp tính theo luồng sản phẩm ; phương pháp tính theo

luồng thu nhập hoặc chi phí và phương pháp tính theo giá trị gia tăng Hiện nay ở Việt Nam, việc tính toán TTKT chủ yếu được thực hiện bằng

phương pháp giá trị gia tăng Giá trị gia tang của nền kinh tế là kết quả

giá trị gia tăng của mọi đơn vị sản xuất trong nước Theo phương pháp này GDP của nền kinh tế bằng tổng giá trị gia tăng của các công đoạn và

các ngành kinh tế trong một thời kỳ nhất định

san luong "_ đùng hết cho việc

tạo ra các sản lượng đó

+ Ngoài việc tính tăng trưởng chung của nền kinh tế, thông thường tính thêm mức tăng trưởng thu nhập theo đầu người

Nếu ta gọi Yn là GDP hay GNI của nền kinh tế năm n

Y, 1&8 GDP hay GNI cha nén kinh tế năm chọn làm gốc

so sánh

Trang 20

AYn là qui mô tăng trưởng GDP hay GNI cua nền kinh tế năm n so với năm so sánh thì có công thức tính qui mô tăng trưởng GDP hay GNI

của nền kinh tế quốc dân như sau:

AYn=Yn- Yo

Nếu gọi y„ là GDP hay GNI bình quân đầu người của năm n

vọạ là GDP hay GNI bình quân đầu người năm chọn làm gốc năm so sánh

A y, là qui mô tăng trưởng GDP hay GƠNI bình quân (Ay,) đầu

người của năm n so với năm so sánh thì ta có công thức tính qui mô tăng

trưởng GDP hay GNI bình quân đầu người như sau:

AYn =Yn—Ÿo

Ngoài việc tính qui mô tăng trưởng như trên, cần phải tính thêm tốc

độ tăng trưởng GDP hay GNI trén phạm vị nền kinh tế quốc dân hay bình quân theo đầu người Nếu gọi g(Yn) là tốc độ tăng trưởng GDP hay GNI của năm n so với năm so sánh, ø(y„) là tốc độ tăng trưởng bình quân đầu

GDP hay GNI cia năm n so với năm so sánh thì ta có công thức tính tốc

độ tăng trưởng như sau:

- Ngoài việc tính mức tăng trưởng cho toàn bộ nên kinh tế, còn có

sự đánh giá TTKT cho từng ngành, lĩnh vực hoặc địa phương

Trang 21

- Giá trị sản xuất của nên kinh tế hoặc từng ngành, địa phương phụ

thuộc vào 2 nhân tố: sản lượng sản phẩm và đơn giá của từng đơn vị sản

phẩm Giá cả của hàng hoá thường xuyên thay đổi, khi tính toán TTKT cần phải loại trừ sự chỉ phối của nhân tố giá cả Do đó, khi tính toán TTKT giữa các thời kỳ cần phải lấy theo giá cố định giá so sánh Năm lựa chọn

để làm giá so sánh do Tổng cục Thống kê Quyết định

- Trong thực tế, việc đánh giá TTKT thường được sử dụng một cách

phổ biến cho thời kỳ sau so với thời kỳ trước Tuy vậy, để phân tích

TTKT, góp phần phát hiện những khía cạnh khác nhau phục vụ cho việc

lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội cần phải xem xét, so sánh ở nhiều khía

cạnh thuộc về thời kỳ nghiên cứu Ví dụ, ở nước ta thường so sánh bình

quân 5 năm của thời kỳ kế hoạch này so với 5 năm của thời kỳ kế hoạch

khác, hoặc so sánh giữa mức đạt được của TTKT thực tế với mức được đặt

ra trong Kế hoạch hay Nghị quyết Cũng có thể so sánh giữa các thời kỳ

khi có sự thay đổi cách thức vận hành của nền kinh tế hoặc của những văn

bản luật pháp, chính sách có tác động chi phối đến TFKT Ví dụ, khi so sánh TIKT của nông nghiệp Việt Nam, chúng ta thường so sánh mức TTKT của nông nghiệp trước khi có Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (năm 1981), hoặc so sánh với trước khi có Nghị quyết 10 của

Bộ Chính trị vẻ đổi mới quản lý nông nghiệp (năm 1988) Ở một số quốc gia, còn có sự so sánh mức TTKT giữa các nhiệm kỳ Chính phủ hoặc nhiệm kỳ của người đứng đầu Nhà nước Như vậy, tuỳ mục đích của việc nghiên cứu TTKT, các chỉ tiêu phản ảnh TTKT được sử dụng rất phong phú, linh hoạt

- Mức thu nhập bình quân theo đầu người ở mỗi quốc gia được tính

theo đồng tiền của quốc gia đó Do sức mua của đồng tiền của các quốc

gia khác nhau nên để so sánh thu nhập theo đầu người giữa các quốc gia, người ta sử dụng phạm trù “sức mua tương đương” (P.P.P- Purrchasing

Powenr Parrity) nhằm qui đổi đồng tiền của quốc gia với đồng tiền nước

Trang 22

ngoài Sau đây 1a céng thic tinh thu nhap binh quan 1 ngudi cua Việt Nam theo phương pháp sức mua tương đương:

GDP của Việt Nam tính theo

GDP của Việt Nam tiên Việt Nam (VNĐ)

tính theo ngoại tệ Hệ số qui đổi giữa tiền quốc

gia (VNĐ) đối với đồng ngoại tệ

1.2 Vai trò của TTKT và quan hệ giữa TTKT với một số vấn đề

kinh tế — xã hội, môi trường trong quá trình phát triển

1.2.1 Vai trò của TTKT

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, dân số trên trái đất

ngày càng gia tăng, nhu cầu của con người cũng không ngừng tăng lên và

phất triển ngày càng phong phú Để đáp ứng được sự tăng lên của dân số

và nhu cầu con người, sản xuất xã hội đòi hỏi phải đạt được sự tăng

trưởng liên tục với tốc độ ngày càng cao Đối với Việt Nam và nhiều nước

đang phát triển có điểm xuất phát thấp, muốn rút ngắn khoảng cách về

trình độ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống dân cư thì tất yếu phải thúc đẩy tăng trưởng nhanh nền kinh tế

Nhiều tài liệu nghiên cứu và thực tiễn ở Việt Nam, ở một số quốc

gia trên thế giới cho thấy TTKT có vai trò rất quan trọng Sau đây là

những biểu hiện chính

- Góp phần rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển với các

nước phát triển trên thế giới

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng chỉ ra 4 nguy cơ trong quá trình phát triển kinh tế ~ xã hội, rong đó có nguy cơ tụt hậu

ngày càng xa về mặt kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới

Trong những năm đổi mới, mặc đầu nên kinh tế Việt Nam đạt được sự

tăng trưởng cao, liên tục trong nhiều năm nhưng cho đến năm 2005 GDP

bình quân theo đầu người mới đạt 640USD Với mức thu nhập 640 USD 1 người thì năm 2005, GDP bình quân theo đầu người của Việt Nam chỉ mới

Trang 23

bằng 2/3 của Inđônêxia, bằng 1/2 của Trung Quốc; 1/3 của Thái Lan; 1/4

mục tiêu lợi nhuận Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp buộc

phải tính đến mối quan hệ giữa đầu tư tư liệu sản xuất với thuê lao động

để đạt hiệu quả cao nhất Do đó, xu hướng dãn lao động trong quá trình phát triển kinh tế có thể ra tăng Tuy vậy, ở nước ta trong những năm vừa qua TTKT gắn liền với việc phát triển khu vực nông nghiệp, kinh tế nông thôn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành thị với công nghệ thấp nên việc thúc đẩy nhanh TTKT đã góp phần tạo thêm việc làm cho xã hội Có thể thấy mối tương quan giữa TTKT với tạo việc làm cho xã hội ở nước ta qua các giai đoạn sau đây:

+ Từ năm 1991 đến năm 1996: nền kinh tế tăng trưởng cao và liên tục nên tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm xuống; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của lao động trong độ tuổi ở nông thôn tăng lên

+ Từ năm 1997 đến năm 2000: TTKT giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị tăng và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của lao động trong độ

tuổi ở nông thôn giảm

+ Từ năm 2001 đến năm 2006: TTKT được khôi phục và có xu hướng tăng lên làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở thất nghiệp ở thành thị giảm

® Bộ kế hoạch và Đầu tư, Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 2006-2010, tr 14

Trang 24

xuống, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của lao động trong độ tuổi ở nông

thôn tăng lên

- Nền kinh tế tăng trưởng cao, liên tục phản ảnh môi trường đầu tư

ổn định, tăng khả năng thu hút đầu tu

TTKT là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố Trong điều kiện toàn

cầu hoá kinh tế quốc tế, việc cạnh tranh về thu hút đầu tư, mở rộng thị

trường diễn ra rất gay gắt TTKT cao, liên tục phản ảnh môi trường chính

trị — xã hội, môi trường kinh tế ngày càng hoàn thiện Ở nước ta, nên kinh

tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong nhiều thập kỷ là minh chứng quan trọng làm yên tâm các nhà đầu tư quốc tế Qui mô đầu tư FDI

và các nguồn đầu tư khác từ nước ngoài ở nước ta trong những thập kỷ gần đây đã minh chứng rõ điều đó

- TTKT làm tăng của cải của xã hội, tạo cơ sở vật chất và tài chính cho tái sản xuất mở rộng và giải quyết các vấn đề xã hội

Bản chất của TTKT trước hết là sự tăng lên của sản lượng hàng hoá,

dịch vụ của nền kinh tế, các hoạt động kinh tế được mở rộng cả về bề rộng

và bề sâu Đồng thời TTKT cao là cơ sở vật chất để tăng thu cho Ngân sách Nhà nước và nâng cao thu nhập, đời sống của dân cư Ở nước ta,

trong hơn 20 năm đổi mới, thu ngân sách Nhà nước tăng trưởng cao và

liên tục Trong đó, nguồn thu trong nước là chủ yếu và thuế và phí chiếm

tỷ trọng chủ yếu trong đóng góp cho thu ngân sách Nguồn thu ngân sách chủ yếu có được trên cơ sở nguồn thụ từ kinh tế Nhà nước, từ kinh tế dân doanh, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, từ gia tăng của hoạt động hải

quan, từ gia tăng của sản lượng dầu khí v.v Nhờ tăng thu của ngân sách Nhà nước nên chỉ cho đầu tư phát triển, chi cho các nhu cầu xã hội

những năm đổi mới tăng lên liên tục Như vậy, TTKT cao, liên tục la co sé

vật chất và tài chính để tăng năng lực của nên kinh tế, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, góp phần tích cực vào đầu tư cho giải quyết các vấn để xã

hội

Trang 25

- TTKT góp phần tích cực vào việc xoá đói, giảm nghèo

Quan hệ giữa TTKT với nghèo đói thường diễn ra theo 2 hướng Thứ nhất, để nâng cao tốc độ tăng trưởng đòi hỏi phải sử dụng động lực của

kinh tế thị trường, đầu tư vào những ngành, vùng có tốc độ tăng trưởng

cao, ổn định từ đó làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo Thứ hai, việc

nâng cao tốc độ tăng trưởng, thu hút các nguồn lực tạo điều kiện mở rộng việc làm, tăng thu nhập cho nhiều nhóm xã hội nên góp phần tích cực vào xoá đói giảm nghèo Nhiễu nhà nghiên cứu ở nước ta và một số nước trên

thế giới đã phân tích sự tương quan giữa tốc độ tăng trưởng và mức độ giảm nghèo đói Trong những năm vừa qua, ở nước ta, thời kỳ nào, vùng nào có tốc độ tăng trưởng cao thường có mức độ xoá đói giảm nghèo tốt

Những thành tựu của nước ta về xoá đói, giảm nghèo thời gian qua có sự đóng góp lớn của nhiều thập kỷ của nền kinh tế tăng trưởng cao, tương đối

liên tục

1.2.2 Quan hệ giữa TTKT với một số vấn đề kinh tế, xã hội, môi

trường

Tăng trưởng kinh tế, lạm phát và thất nghiệp là những mục tiêu kinh

tế vĩ mô được các quốc gia rất quan tâm trong việc hoạch định chiến lược

và chính sách

Đến nay, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa TTKT với thất

nghiệp, lạm pháp đã được triển khai nhiều thập kỷ Tuy vậy, chưa có những kết luận xác đáng rút ra những vấn đề có tính qui luật trong các mối quan hệ nói trên

+ Về mối quan hệ giữa TTKT với thấp nghiệp

Trước hết, cần khẳng định, thất nghiệp là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân Hơn nữa, mức độ, loại hình thất nghiệp còn phụ thuộc vào trình độ phát triển và những nhân tố chính trị — xã hội của từng quốc gia

Như trên (trang 19) đã phân tích, TTKT có thể được thực hiện theo

chiều rộng hoặc chiều sâu TTKT theo chiều rộng là việc tăng trưởng thực

Trang 26

hiện chủ yếu bằng tăng qui mô, số lượng các điều kiện sản xuất Còn tăng trưởng theo chiêu sâu được thể hiện chủ yếu thông qua tăng chất lượng

các yếu tố nguồn lực, nâng cao năng suất lao động và hoàn thiện cách thức quản lý Đối với TTKT theo chiều rộng, nền kinh tế tăng trưởng càng cao, càng tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, góp phần tích cực vào việc giảm

thất nghiệp cho xã hội Còn tăng trưởng theo chiều sâu luôn đồng hành với công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và năng suất lao động Từ đó dẫn tới khả năng tăng thất nghiệp ở cả 2 khía

cạnh: một là, thay đổi cấu tạo hữu cơ, thay đổi tương quan giữa đóng góp

của kỹ thuật, công nghệ với lao động trong quá trình tạo ra sản phẩm; hai

là, một bộ phận lao động trình độ thấp bị loại ra khỏi ngành nghề cũ và không đủ khả năng để tham gia vào những công việc, ngành nghề mới Trong kinh tế học, hệ số co dãn việc làm thường được dùng để chỉ quan hệ giữa TTKT với tốc độ tạo việc làm từng thời kỳ Hệ số co dãn việc làm thường được tính theo công thức:

Hệ số co dãn việc làm Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Ở nước ta, trong những năm đổi mới, tăng trưởng chủ yếu vẫn theo

chiều rộng Ngành nông nghiệp công nghệ thấp, khu vực tiểu thủ công

nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ cao trong nền kinh tế nên trong những năm vừa qua, tốc độ TTKT cao thường tạo việc làm nhiều hơn cho xã hội Kết quả nghiên cứu của Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động, thương binh và xã hội đều cho thấy rằng: ;

Giai đoạn 1991-1996: Tốc độ TTKT tăng dần nên tỷ lệ thất nghiệp ở

thành thị giảm, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của lao động trong độ tuổi ở nông thôn tăng lên

Giai đoạn 1997-2000: Tốc độ TTKT giảm sút nên tỷ lệ thất nghiệp ở

Trang 27

thành thị tăng và tỷ lệ sử dụng thời gian lao

động của lao động trong độ tuổi giảm

xuống

Giai đoạn 2001-2006: Tốc độ TTKT được khôi phục và có xu hướng

tăng nên tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm,

tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của lao

động trong độ tuổi ở nông thôn tăng

Từ đó, việc đuy trì và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế là cơ sở

quan trọng để giảm thất nghiệp ở nước ta Nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương khuyến khích những ngành nghẻ, sản phẩm có thị trường và tạo nhiều việc làm (như dệt may, đa giầy, thủ công, mỹ

nghệ ) đồng thời cải thiện giáo dục đào tạo để người lao động có thể chủ

động tạo được việc làm trong điều kiện nền kinh tế thường xuyên vận động Đồng thời, Nhà nước cũng có những chính sách khuyến khích các đoanh nghiệp tạo thêm việc làm cho xã hội

+ Về quan hệ giữa TTKT với lạm phát Đến nay, chưa có những quan niệm thống nhất về quan hệ trên, kết quả những tư liệu thực tiễn của nước ta chỉ khẳng định giữa TTKT với lạm phát có mối quan hệ với nhau nhưng theo những qui luật nào thì chưa có

lời giải thoả đáng Có thể tham khảo diễn biến giữa tốc độ TTKT và tốc độ

lạm phát ở nước ta thời gian qua để tham khảo

Biểu 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở Việt Nam trong 10

Trang 28

Từ nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn nước ta qua nhiều năm có thể rút ra một số kết luận:

Một là, những năm 1996, 1997, 2002, 2003 đêu có tốc độ TTKT cao nhưng lạm phát thấp Nhưng năm 2000, thiểu phát nhưng tốc độ TTKT vẫn khá cao -6,7% Như vậy, trong thời gian vừa qua, từ số liệu thực tế có thể thấy giữa TTKT với lạm phát không có quan hệ hữu cơ, có tính qui luật nào cả

Hai là, lạm phát đo nhiều nguyên nhân Hiện nay thường chia làm 2

nhóm: do cầu kéo và do chi phí đẩy Để tăng trưởng nhanh, nhu cầu đầu tư

vốn, tư liệu sản xuất gia tăng lại trong điều kiện giá nhiều loại nhiên liệu, năng lượng trên thế giới tăng lên thì tăng trưởng kinh tế cao, nhất là tăng trưởng nóng làm cho lạm phát tăng lên là điều có thể xảy ra nhưng việc cho rằng, lạm phát tiền tệ là điều kiện, là “chất men” cho TTKT là không

có căn cứ thuyết phục

Nhưng lý luận và thực tiễn ở Việt Nam và nhiều nước cho thấy rằng

nếu tốc độ lạm phát cao sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế

- VÊTTKT với thâm hụt Ngân sách

Đến nay, nhiều tài liệu nghiên cứu đã khẳng định quan hệ giữa

TTKT với thâm hụt Ngân sách là một trong những quan hệ kinh tế vĩ mô

Để TTKT cao, Chính phủ có thể dùng nhiều phương thức để vay vốn, huy

động vốn trong và ngoài nước Tuy vậy, nếu thâm hụt Ngân sách lớn sẽ đe doa sự ổn định kinh tế ví mô và ảnh hưởng trực tiếp đến TTKT và gây nên

nhiều hậu quả xấu về kinh tế — xã hội Ở nước ta, trong nhiều năm, khi

hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế ~- xã hội thường cố gắng đạt ứmc

thâm hụt Ngân sách dưới 5%

Trong kinh tế học, những mục tiêu như TTKT, thất nghiệp, lạm phát thấp và thâm hụt Ngân sách thường được gọi là “tứ giác” mục tiêu kinh tế

vi mô

Trong một số bài viết đăng tải ở Thời báo kinh tế Việt Nam số chuyên đề cuối năm 2003 — 2004; 2004-2005, ngoài 4 mục tiêu đó, có tác

Trang 29

giả còn đưa ra chỉ tiêu mức tham hụt cán cân thương mại - tức là mức

chênh lệch xuất, nhập khẩu Nhiều cơ quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

Bộ Tài chính và các tác giả như Chân Đình Phương, Nguyễn Đắc Hưng

cho rằng, ở các nước đang phát triển ở thời kỳ đầu công nghiệp hoá, hiện

đại hoá thì việc nhập siêu — tức thâm hụt cán cân thương mại ở tỷ lệ vừa phải là cần thiết

- Quan hệ giữa TTKT với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Ở nước ta, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) thường bao gồm 3

nội dung chủ yếu: chuyển địch cơ cấu theo ngành ; theo vùng lãnh thổ và chuyển dịch theo thành phần kinh tế Giữa chuyển dịch CCKT với TTKT

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Ví dụ, ở Việt Nam, năm 2005, công nghiệp và xây dựng đóng góp 49,7% hay 4,2 điểm trong 8,4 điểm của tăng trưởng chung Còn địch vụ, năm 2005, tốc độ tăng của giá trị gia tăng ước

đạt 8,5%, đóng góp tới 40,5% hay 3,4 trong 3,4 điểm của tăng trưởng

chung Còn nông nghiệp chỉ đóng góp 10% vào tăng trưởng hay 0,8 điểm

trong 8,4 điểm của tăng trưởng chung”

Nếu theo vùng kinh tế, do vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam

bộ vừa chiếm tỷ trọng cao trong GDP của đất nước vừa có tốc độ tăng trưởng cao nên là 2 khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế

những năm gần đây

Từ nghiên cứu các quan hệ trên có thể kết luận:

Một là, ngành công nghiệp, dịch vụ, xây dựng thường có tốc độ tăng trưởng cao nên các ngành này chiếm tỷ lệ càng cao trong CCKT thì tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế càng cao

Hai là, các vùng kinh tế trọng điểm thường có tốc độ tăng trưởng

cao hơn các vùng còn lại Do đó, tỷ lệ các vùng này càng cao trong CCKT thì tốc độ TTKT chung càng cao

“© Thời báo Kinh tế Việt Nam, Kinh tế Việt Nam và thế giới, năm 2003-2004 va 2004-2005

Trang 30

Ba là, nguy cơ tao ra chênh lệch thu nhập, đời sống giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng khác với các vùng kinh tế trọng điểm càng tăng Do đó, Nhà nước phải có những chính sách, giải pháp để khuyến khích những ngành, vùng có sức tăng trưởng cao vừa phải giải quyết những chênh lệch, bất bình đẳng giữa các vùng, các nhóm xã hội trong tăng trưởng

- Quan hệ giữa TTKT với huy động và sử dụng các nguồn lực phát

triển kinh tế

Giữa các nguồn lực với TTKT có mối quan hệ nhân quả với nhau

Trước hết, nếu nguồn tài nguyên dồi dào, chất lượng nguồn nhân lực,khoa học, công nghệ tốt và nguồn vốn đây đủ là những điều kiện tiên quyết cho TTKT Đồng thời, TTKT cao, tăng thu cho Ngân sách, cho doanh nghiệp

và đời sống dân cư do TTKT mang lại lại là điều kiện để tái tạo, phát triển

các nguồn lực trên Ở nước ta, trong giai đoạn 1993-2000, nhân tố năng

suất tổng hợp (TEP) đóng góp 15% cho tăng trưởng, đến giai đoạn 2000-

2002, TFP đóng góp tăng lên 22% Tuy có tiến bộ nhưng tỷ lệ TFP còn thấp, tỷ lệ đóng góp của lao động và vốn còn cao Đặc biệt, ở giai đoạn

2000-2002, tỷ lệ đóng góp của vốn vào TTKT vẫn chiếm tới 57,5% Chỉ

tiêu này cùng thời gian của các nước trong khu vực thấp hơn nhiều Ví dụ: Thái Lan 35% ; Philipin: 42% ; Inddonêxia: 43%

- Quan hệ giữa TTKT với các vấn đề xã hội nhất là công bằng xã

hội và phân hoá giàu nghèo

Giữa TTKT với các vấn để xã hội diễn ra khá phức tạp và nhiều chiều Trước hết TTKT là cơ sở tạo ra điều kiện vật chất, tài chính để giải quyết các vấn đề xã hội Ngược lại, giải quyết tốt những vấn dé xã hội vừa

là mục tiêu, vừa là động lực của TTKT

Sau đây là mối quan hệ giữa TTKT với nghèo đói

+ Quan hệ giữ TTKT với phân hoá giàu nghèo

Trang 31

Để TTKT, cần sử dụng động lực của kinh tế thị trường, thu hút vốn đầu tư vào những vùng thuận lợi dẫn đến gia tăng chênh lệch giàu

nghèo Ở nước ta, trong những năm đổi mới, chênh lệch về thu nhập, đời

sống giữa các vùng, giữa các tầng lớp dan cư gia tăng Tuy chưa ở mức cao gây mất ổn định nhưng xu hướng gia tăng phân hoá giàu nghèo là xu hướng đáng lo ngại cần tập trung giải quyết Ở nước ta, năm 1990, chênh

lệch thu nhập giữa 20% số hộ giàu nhất với 20% mới ở mức 4,1 lần, đến

năm 1995 tăng lên 6,5 lần và 2002 là 8,1 lần Hệ số ghi người năm 1993 là 0,33; 1996: 0,36 ; 2002: 0,39 Như vậy, chênh lệch giàu nghèo, bất bình

đẳng ở nước ta có xu hướng gia tăng,

+ Quan hệ giữa TTKT với giảm tỷ lệ nghèo đói

Trong những năm đổi mới, bên cạnh mức độ chênh lệch giàu nghèo

gia tăng nhưng tỷ lệ hộ nghèo đói không ngừng giảm xuống Nhiều nhà nghiên cứu như Đinh Quang Thành, Ngô Thắng Lợi đã phân tích mối quan hệ giữa TTKT với xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam thời gian qua Tỷ

lệ giảm nghèo bình quân thời kỳ 1995-2005 là 10,65% so với tổng số hộ

nghèo Trong đó, thời kỳ 1995-2000, hàng năm tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,3- 3%, thời kỳ 2001-2003 giảm 14 1,5 — 2% mỗi năm Khi biết tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân theo đầu người và hệ số nghèo đói giảm xuống

trong từng thời kỳ, có thể xác định được hệ số co đãn nghèo đói Có thể

xác định được như sau: thời kỳ 1995-1999, GDP đầu người ở Việt Nam tăng 1% thì tỷ lệ nghèo đói giảm 2,25% so với tỷ lệ nghèo đói hiện có,

còn ở giai đoạn 2000-2003 thì hệ số trên giảm là 2,05%?

- Quan hệ giữa TTKT với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường

Trang 32

khẩu sản phẩm thô sẽ làm cho tài nguyên môi trường suy giảm Bên

cạnh đó, tăng trưởng công nghiệp, nâng cao trình độ đô thị hoá nông thôn cũng tạo nguy cơ suy giảm chất lượng môi trường Do đó, TTKT

theo chiều sâu, nâng cao mức đóng góp của TFP trong tăng trưởng, thực

hiện sản xuất sạch là những yêu cầu cơ bản để đảm bảo vừa TTKT cao vừa bảo vệ được môi trường sinh thái Ngày nay, bảo vệ môi trường đã trở

thành vấn đề toàn cầu, buộc mọi quốc gia phải quan tâm đến giải quyết

mối quan hệ giữa TTKT cao với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi

trường theo yêu cầu bên vững Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề bảo

vệ môi trường và những suy giảm môi trưởng ở nước ta nên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về bảo vệ môi trường

trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nhà nước ta cũng đã ban hành hệ thống luật pháp, chính sách và thực hiện nhiều giải pháp để bảo

vệ môi trường

Những mối quan hệ trên đây tuy rất phức tạp về mặt lý luận và hiện nay còn có nhiều quan niệm khác nhau nhưng nếu xem xét trong một thời

gian đài từ thực tiễn ở Việt Nam, có thể rút ra một số kết luận làm cơ sở

cho chính sách và giải pháp thực tiễn

1.3 Chất lượng tăng trưởng kinh tế —- quan niệm và những chỉ

tiêu đánh giá

1.3.1 Quan niệm về chất lượng TTKT

Trong những năm gần đây, van dé đánh giá và nâng cao chất lượng

TTKT được Đảng, Nhà nước, các nhà nghiên cứu kinh tế ở nước ta quan tâm Liên quan đến phạm trù này, một số tác giả như TS Nguyễn Ngọc Trung, TS Lê Huy Đức, TS Lê Xuân Bá, TS Vũ Quang Việt đã có những

nghiên cứu công phu về phạm trù chất lượng TTKT Tác giả Nguyễn Ngọc

Trung “Tuy không nêu lên khái niệm về chất lượng TTKT)? nhưng khi

“9 TS Nguyễn Ngọc Trung, Chất lượng TTKT, Vấn đề đặt ra với nên kinh tế Việt Nam, Tạp chí Phát triển kinh tế, 2-2006, tr 2-8

Trang 33

đánh giá chất lượng TTKT ở nước ta đã đưa ra những yêu cầu sau day của

TIKT:

+ Sự tăng trưởng gắn liền với duy trì, bảo vệ môi trường

+ Sự tăng trưởng nhằm mục đích cải thiện phúc lợi xã hội

Nhà nghiên cứu Trần Đào, công tác ở Tổng cục Thống kê” cũng

không nêu khái niệm về chất lượng TTKT nhưng khi đánh giá những tiến

bộ, hạn chế của chất lượng TTKT nước ta, đã đưa ra các phân tích sau đây: phân tích các yếu tố đầu vào của tăng trưởng lao động ; đánh giá cơ cấu kinh tế như là nội lực của TTKT; đánh giá mức độ xuất nhập khẩu ; hiệu

quả nền kinh tế và tác động đến môi trường

TS Lê Huy Đức đã nghiên cứu trực điện phạm trù chất lượng TTKT Trong bài báo “Chất lượng tăng trưởng kinh tế và các tiêu chí đánh

giá”4”, tác giả cho rằng, “chất lượng TTKT là một khái niệm chỉ tính ổn

định của trạng thái bên trong vốn có của quá trình TTKT, là thuộc tính cơ bản hay đặc tính tạo thành bản chất của tăng trưởng kinh tế trong một giai đoạn và hoàn cảnh nhất định” Đồng thời TS Lê Huy Đức đã sử dụng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá chất lượng TTKT nước ta thời gian qua

/ Vién nghién citu quan ly Trung ương đã có dự án nghiên cứu về chất lượng TTKT với tiêu đề “Chất lượng TTKT, một số đánh giá ban đầu cho

Việt Nam”®, Công trình nghiên cứu này cho rằng chất lượng TTKT vừa bao hàm yêu cầu tăng trưởng cao, bền vững, vừa tăng thu nhập cho dân cư

và phúc lợi xã hội vừa bao hàm cả hoàn thiện thể chế Như vậy, điều khác biệt lớn trong quan niệm của TS Nguyễn Xuân Bá và cộng sự là cho rằng mức độ hoàn thiện thể chế cũng thuộc nội dung của phạm trù chất lượng tăng trưởng

Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân năm 2006 đã xuất bản sách

chuyên khảo “Tốc độ và chất lượng TIKT ở Việt Nam”, năm 2006 do

® Trân Đào, Về thực trạng chất lượng TTKT ở nước ta, TC Cộng sản, 12-2004, tr 26-30

0% TS Lê Huy Đức, Chất lượng TTKT và các tiêu chí đánh giá, Kinh tế và Dự báo, 5-2004, tr 8 -10

99 TS Lê Xuân Bá và TS Nguyễn Tuệ Anh, Chất lượng TTKT, một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam, Dự án của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 4-2005

Trang 34

GS.TS Nguyén Van Nam va PGS.TS Trần Thọ Đạt chủ biên Về phạm trù chất lượng TTKT, đưa ra quan niệm về chất lượng TTKT cao” “Chất lượng

TTKT cao là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất nhân tố tổng hợp

năng suất lao động tăng và ổn định, mức sống của dân cư được nâng cao không ngừng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi tiến bộ, công bằng xã hội xã hội và bảo vệ môi trường, quản lý Nhà

nước có hiệu quả”t”, Quan niệm trên tuy nêu khá cụ thể nhưng theo

chúng tôi có một số vấn đề chưa hợp lý quan niệm chất lượng TTKT như

trên là quá rộng; chỉ dé cập quan niệm chất lượng TTKT cao và bao gồm

cả nội dung quản lý Nhà nước Theo chúng tôi, quản lý Nhà nước về kinh

tế là nhân tố ảnh hưởng quyết định TTKT nhưng không thuộc phạm trù

TTKT

Những công trình nghiên cứu của các cá nhân và cơ quan khoa học

ở nước ta về chất lượng TTKT thường phân tích chất lượng TTKT ở những khía cạnh sau đây:

- Từ việc đánh giá phương thức tăng trưởng, sử dụng các nguồn lực cho tăng trưởng nhất là phân tích vai trò của nhân tố năng suất tổng hợp

CTEP) trong thúc đẩy tăng trưởng

- Từ việc phân tích tính ổn định, tính đài hạn của TTKT

- Từ việc phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của TTKT

- Từ việc phân tích mức độ thực hiện các mục tiêu, các điều kiện để thực hiện TTKT như vấn để phân hoá giàu nghèo, công bằng xã hội, ô nhiễm môi trường, đồng thuận và ổn định xã hội v.v Trên cơ SỞ tiếp thu,

kế thừa kết quả nghiên cứu của nhiều công trình khoa học và của nhóm

nghiên cứu đề tài, chúng tôi cho rằng : chất lượng TTKT là một khái niệm phản ảnh mức độ, tính ổn định và trạng thái bên vững của tăng trưởng,

°? GS.TS Nguyễn Văn Nam, PGS.TS Trần Thọ Đạt, chủ biên, Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản DDH KTQD, 2006, tr 24

Trang 35

phản ảnh phương thức để đạt được sự tăng trưởng và việc thực hiện các

mục tiêu của TTKT cả trong ngắn hạn và đài hạn của quá trình phát triển kinh tế— xã hội

1.3.2 Các chỉ tiêu phản ảnh chất lượng tăng trưởng TTKT

Từ khái niệm về chất lượng TTKT, có thể thấy rằng, để đánh giá chất lượng TTKT cần phải vận dụng hệ thống các chỉ tiêu một cách đồng

bộ

Theo chúng tôi, sau đây là những nhóm chỉ tiêu chủ yếu:

a Các chỉ tiêu phản ảnh mức độ TTKT: Tốc độ tăng của GDP, của giá trị sản xuất (GO), các vùng, các thành phần kinh tế có sự so sánh giữa các thời kỳ hoặc so sánh với các nước cùng thời kỳ có hoàn cảnh tương tự

b Các chỉ tiêu phản ảnh mức độ đóng góp các nguồn lực vào TTKT

Thông thường sử dụng các chỉ tiêu như mức đệ đóng góp của vốn, lao động, năng suất tổng hợp (TFP) Ngoài ra, còn xem xét trình độ năng suất lao động, trình độ khoa học công nghệ, mức độ sử dụng tài nguyên thiên nhiên cho tăng trưởng

c Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sử dụng các nguồn lực như hiệu quả sử dụng tài nguyên, lao động, vốn Trong nhóm chỉ tiêu này, chỉ tiêu được sử dụng phổ biến là hệ số ICOR Hệ số ICOR là chỉ tiêu cơ bản phản

ảnh hiệu quả sử dụng vốn cho tăng trưởng, nói lên rằng để tạo thêm một đồng giá trị mới của sản lượng thì phải đầu tư thêm bao nhiêu đồng để tạo

ra sản lượng mới đó

d Cac chỉ tiêu phản ảnh tính bền vững, tính dài hạn của TTKT

Để phản ảnh tính bền vững của TTKT không những chỉ sử dụng,

phân tích TTKT trong một chuỗi thời gian dai mà còn trình bày những chỉ

tiêu phân ảnh năng lực của nền kinh tế trong việc tạo ra khả năng để nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững như mức độ đầu tư so với GDP; tỷ lệ vốn trong nước so với tổng đầu tư; tỷ lệ của công nghiệp, dịch vụ trong tổng GDP; năng lực cạnh tranh của nên kinh tế ; tỷ lệ xuất khẩu so với

GDP v.v

Trang 36

e Các chỉ tiêu phản ảnh mức độ phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng

xã hội và sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường

Để phản ảnh nội đung trên, thường sử dụng nhiều chỉ tiêu như tỷ lệ

nghèo đói; chỉ số phát triển con người (HDD, sự chênh lệch về thu nhập giữa nhóm dân cư có thu nhập cao nhất so với nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất giữa các thời kỳ; suất sử dụng tài nguyên cho một đơn vị sản

phẩm; độ che phủ rừng; mức độ ô nhiễm không khí, nguồn nước.v.v

Trên cơ sở nhận thức về quan niệm và các chỉ tiêu đánh giá chất

lượng tăng trưởng như trên, ở chương II, đề tài sẽ đánh giá cụ thể thực

trạng chất lượng TTKT của Việt Nam trong thời gian qua

1.4 Nhận thức về TTKT từ nghiên cứu lịch sử các lý thuyết kinh

tài này

TTKT là một vấn đề rất quan trọng nhưng cũng rất phức tạp về mặt

lý luận Trong lịch sử phát triển của các khoa học kinh tế, nhiều nhà khoa

học đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến phạm trù TTKT Đề

tài đã phân tích những nhận thức về TTKT từ nghiên cứu lý thuyết kinh tế

cổ điển; học thuyết kinh tế của C Mác; nghiên cứu lý thuyết kinh tế học tân cổ điển, việc nghiên cứu lý thuyết của Solow Đặc biệt quan tâm nghiên cứu đến lý thuyết liên quan đến TTKT của J.M.Keynes, của Harrod

¬ Domar Hiện nay còn nhiều vấn đề chưa nhất quần trong việc xem xét

nghiên cứu khía cạnh lý thuyết về TTKT Thậm chí, còn có những mâu

thuẫn trong việc nhìn nhận phạm trù TTKT và quan hệ giữa TTKT với các vấn đề kinh tế — xã hội khác Ví dụ, ông Edmund Phelps 14 ngudi dugc

Trang 37

giải thưởng Nobel về kinh tế năm 2006 do những công trình nghiên cứu xuất sắc vẻ kinh tế nhưng trong lý thuyết của ông có nhiều điểm không

tương đồng với trường phái của J.M.Keynes Vì thế, trong khi nghiên cứu những lý thuyết tiêu biểu có liên quan đến TTKT, chúng tôi chỉ trình bày những nét đặc trưng nhất liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài

- Về lý thuyết kinh tế cổ điển

Sau khi tìm hiểu các quan niệm của trường phái kinh tế học cổ điển,

nhất là tư tưởng của Ađam Smith (1723 — 1790), Đavid Ricardo (1772 —

1823) có thể đi đến một số kết luận về quan niệm của lý thuyết tân cổ điển

đến TTKT là :

+ TTKT được biểu hiện là tăng sản lượng đầu ra bình quân theo đầu

ngudi

+ TTKT chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động co ban : đất đai,

lao động, tư bản, tiến bộ kỹ thuật

+ Cho rằng tiết kiệm là nhân tố cơ bản để tạo vốn đầu tư cho tăng

trưởng Đồng thời cải tiến kỹ thuật, thay đổi phân công lao động, tác động

của “bàn tay vô hình” - thị trường là những nhân tố thường xuyên tác động đến tăng trưởng

+ Adam Smith phủ nhận sự cần thiết về sự can thiệp của Nhà nước

vào quá trình kinh tế Đồng thời ông là người đưa ra guan niệm lợi thế

tuyệt đối và nhấn mạnh vai trò của thương mại quốc tế đến TTKT

+ Để cập vai trò của phân phối, của thuế đối với TTKT David Ricardo bổ sung lý thuyết về lợi thế của Adam Smith bằng việc đưa ra

phạm trù “lợi thế so sánh” trong thương mại quốc tế

- Về học thuyết kinh tế của C.Mác

C.Mác là lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản Học thuyết Mác bao gồm rất nhiều lĩnh vực

Khi nghiên cứu học thuyết kinh tế của C.Mác, đề tài đã rút ra một

số tư tưởng cơ bản của Người liên quan đến TTKT

Trang 38

+ Dé cập những nhân tố liên quan đến TTKT: lao động, tư bản, tài

nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, quan hệ sản xuất Đặc biệt, C.Mác phân tích tâm quan trọng đặc biệt của lao động của người làm thuê

trong việc tạo ra sản phẩm cho xã hội

+ Dé cập lý thuyết về tuần hoàn và chu chuyển của tư bản và nêu ra

những định hướng có tính nguyên tắc để xác định hợp lý cơ cấu đầu tư, thúc đẩy tuần hoàn và chu chuyển của vốn đầu tư

+ Trình bày quan niệm về tái sản xuất xã hội và chu kỳ kinh tế Từ

đó nêu lên tầm quan trọng của việc kết hợp các khâu của quá trình tái sản xuất , vai trò của tích lũy trong TTKT

+ Đặt hoạt động kinh tế trong sự hình thành, vận động của bản thân

phương thức sản xuất mà nổi bật là tính chất của quan hệ sản xuất C.Mác khẳng định mặc đầu nền kinh tế TBCN đã đạt được sự phát triển vượt bậc so với chế độ phong kiến nhưng xuất hiện mâu thuẫn không thể

dung hoà giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất với bản thân quan hệ sản xuất TBCN - tức giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất và

chiếm hữu tư nhân tư bản

- Về lý thuyết kinh tế tân cổ điển

Tuy có một số điểm tương đồng với các nhà kinh tế học cổ điển

nhưng liên quan đến TTKT, lý thuyết của trường phái tân cổ điển có một

số điểm mới liên quan đến TTKT như sau:

+ Đề ra “Lý thuyết về cận biên”, quan niệm về “lợi ích cận biên ”và

“chi phí cận biên”

+ Phân tích vai trò và các mối quan hệ liên quan đến phạm trù giá cả trong kinh tế thị trường

+ Đặc biệt, các nhà kinh tế học tân cổ điển đã đưa ra hàm số Cobb-

Douglas để phản ảnh mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra của nên kinh tế với các yếu tố đầu vào là: Y = AK“LẺ Trong đó Y là sản lượng - kết quả

đầu ra; K là vốn; L là lao động còn A là tham số hiệu quả sản xuất Hàm

Cobb — Douglas gắn liên với nhiều giả định nhưng cũng đã trình bày một

Trang 39

cách khái quát mối quan hệ giữa tăng trưởng với việc đầu tư các nguồn lực

cho tăng trưởng

- Nhận thức về TTKT từ nghiên cứu lý thuyết của Solow

Ở trên đã nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng với các yếu tố đầu

vào Trong thực tế, tốc độ tăng của GDP phụ thuộc vào yếu tố đầu vào

Vấn đề đặt ra là phải xác định được mức đóng góp của từng yếu tố đầu

vào mức tăng trưởng để lựa chọn hướng đầu tư phù hợp Lý thuyết của

Solow đã góp phần giải quyết yêu cầu trên Ông đưa ra phương pháp tính toán, lượng hoá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến TTKT của nền

kinh tế từng thời kỳ Hiện nay ở nước ta, Tổng cục Thống kê và các nhà

nghiên cứu như Tăng Văn Khiên, Nguyễn Đức Minh đã vận dụng tư tưởng

trên của Solow để xác định mức đóng góp của các nhân tố : vốn, lao động,

nhân tố năng suất tổng hợp (TEP) vào TTKT nước ta từng thời kỳ

- Nhận thức về TTKT từ việc nghiên cứu lý thuyết của J.M.Keynes J.M.Keynes là nhà kinh tế học xuất sắc Lý thuyết của ông đã được vận dụng vào việc hoạch định chính sách vĩ mô của nhiều quốc gia trên

thế giới Nghiên cứu lý thuyết của J.M.Keynes có thể xem xét những khía cạnh trong tư tưởng của ông liên quan đến TKT sau đây:

- Lý thuyết về vai trò của tổng cầu trong nền kinh tế

- Về sự cân bằng của nên kinh tế

- Vai trò của Nhà nước đối với TTKT J.M.Keynes không những

khẳng định vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước mà còn chỉ ra hướng vận

dụng những giải pháp về chính sách — nhất là chính sách về tài chính - tiền

tệ của Nhà nước liên quan đến TTKT

- Nhận thức về TTKT từ lý thuyết của Harrod - Domar

Mô hình Harrod - Domar chủ yếu nghiên cứu quan hệ giữa sản

lượng đầu ra của nền kinh tế với mức độ đầu tư các yếu tố đầu vào Mô

Trang 40

ơ : là hệ số hiệu quả của một đơn vị vốn và giải thiết là

một hằng số Qua nhiều phép biến đổi toán học có thể rút ra công thức :

Ss

K

Trong đó g là tốc độ tăng trưởng của sản lượng đầu ra Y; 5 1a ty lé

tiết kiệm Từ đó, xác định K là hệ số gia tăng tư bản - đầu ra được gọi là

hệ số ICOR Hệ số ICOR từ kết quả nghiên cứu của Harrod - Domar chỉ

ra rằng: để tạo ra một đồng giá trị sản lượng mới thì cần phải đầu tư thêm

bao nhiêu đồng vào các yếu tố đầu vào của nền kinh tế Từ đó, muốn tăng sản lượng với tốc độ nhất định trong một thời kỳ nào đó thì phải có lượng

vốn đầu tư đạt đến một tỷ lệ nhất định so với GDP Trong các báo cáo về

TTKT ở Việt Nam thường đưa ra các tỷ lệ về vốn đâu tư so với GDP (như

tỷ lệ đầu tư bằng 27% GDP, bằng 32% GDP v.v ) Ở đây, cân lưu ý rằng

mô hình Harrod — Domar sử dụng nhiều giả định Tuy vậy, nhận thức cơ bản từ việc nghiên cứu mô hình trên là một quốc gia muốn đạt được tốc độ

tăng sản lượng nhất định thì phải thu hút được một lượng vốn đầu tư tương

ứng với lượng GDP và tốc độ tăng tương ứng

Ngoài những lý thuyết tiêu biểu đã nêu trên, còn có nhiều lý thuyết khác Hên quan đến TTKT như lý thuyết các giai đoạn phát triển của W.Rostow, lý thuyết hai khu vực của David, lý thuyết tăng trưởng nội sinh, ngoại sinh Qua nghiên cứu những lý thuyết trên có thể rút ra một

số kết luận liên quan đến việc nghiên cứu TTKT ở nước ta là

- TTKT là yêu cầu bức thiết của mọi xã hội Quy mô dân số và nhu

cầu của xã hội không ngừng tăng lên đòi hỏi cần phải liên tục tăng sản lượng của nền kinh tế Ở các nước có điểm xuất phát thấp như ở Việt Nam, muốn rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển, muốn giảm nguy

cơ tụt hậu ngày càng xa về mặt kinh tế so với các nước trên thế giới, càng cần thiết phải nâng cao tốc độ TTKT

- Để TTKT, cần thiết phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào, xử lý mối

quan hệ giữa các yếu tố đầu vào đó Đồng thời xử lý mối quan hệ giữa các

Ngày đăng: 15/05/2014, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w