1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã thương mại việt nam giai đoạn 2005 - 2010

158 361 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã thương mại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010
Tác giả Nguyễn Văn Long
Trường học Bộ Thương mại Viện Nghiên cứu Thương mại
Chuyên ngành Kinh tế thương mại
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp bộ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, phát triển kinh tế hợp tác, HTX trong lĩnh vực thương mại hoặc các HTX nông nghiệp tổ chức các hoạt động thương mại để làm các dịch vụ này phục vụ cho sản xuất của các hộ tốt hơn

Trang 1

Bộ Thương mại

Viện nghiên cứu thương mại

Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp bộ

Phương hướng và giải pháp

phát triển hợp tác x∙ thương mại

việt nam giai đoạn 2005-2010

Chủ nhiệm đề tài: nguyễn văn long

6479

20/8/2007

Hà nội - 2007

Trang 2

Mục Lục

Mở đầu 6

Chương I : Một số vấn đề lý luận về phát triển Hợp tác xã Thương mại ở Việt Nam 9

1 Cơ sở tồn tại và phát triển của các HTXTM ở Việt nam 9

1.1 Sự tồn tại tất yếu khách quan HTXTM trong nền kinh tế: 9

1.2 Vai trò của HTXTM 11

1.3 Quan niệm về HTXTM sau khi có luật HTX (2003) 12

1.3.1 Phân loại HTX 12

1.3 2 Bản chất kinh tế - xã hội của HTXTM 14

1.3.3 Các loại hình kinh doanh của HTXTM 15

1.3.4 Tiêu chí đánh giá các HTXTM 17

1.3.5 Những nhân tố tác động đến sự hình thành & phát triển HTXTM 17

2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước, Nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ đối với HTX 19

2.1 Quan điểm của Đảng được cụ thể hoá trong Nghị quyết 13- NQ/ TW tại Hội nghị Trung ương 5 ( khóa IX) 20

2.2 Nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với HTX .21

2.2.1 Nội dung quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ 21

2.2.2 Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ: 22

3 Kinh nghiệm của nước ngoài về phát triển HTXTM 22

3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 22

3.1.1 Liên hiệp HTX tiêu dùng Nhật Bản (JCCU) 23

3.1.2 Quản lý Nhà nước đối với các hợp tác xã tiêu dùng của Nhật Bản 24

3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 24

3.2.1 Hoạt động của các hợp tác xã cung tiêu Trung Quốc 24

3.2.2 Liên đoàn hợp tác xã cung tiêu toàn Trung Quốc(ACFSMS) 25

3.2.3 Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã cung tiêu Trung Quốc: 27

3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 27

3.3.1 Mô hình hoạt động dịch vụ của hợp tác xã nông nghiệp Hàn quốc 27

3.3.2 Liên đoàn quốc gia hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc (NACF) 28

3.3.3 Sự hỗ trợ của Chính phủ 30

3.4 Kinh nghiệm của Canada 31

3.4.1 Các loại hình hợp tác xã làm dịch vụ gồm: 31

3.4.2 Những đặc điểm của hợp tác xã ở Canada 32

3.4.3 Vai trò của Chính phủ 32

3.5 Những bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam 32

3.5.1.Sự phát triển của HTXTM có thể đượcc đánh giá giá bằng sự phát triẻn số lượng xã viên HTX,trong HTX của các nước số xã viên HTX rất lớn .32

3.5.2 Các loại hợp tác xã thuộc ngành sản xuất hay dịch vụ đều tập trung vào hoạt động dịch vụ đầu vào, đầu ra của xã viên, hợp tác xã .32

3.5.3 Cấu trúc hợp tác xã có thể theo nhiều hình thức: 33

3.5.4 Hoạt động theo Luật hợp tác xã, chịu sự quản lý nhà nước về ngành có liên quan Chính phủ có quyền giám sát và thực hiện các hoạt động hỗ trợ hợp tác xã theo chương trình, dự án hoặc chính sách ưu đãi về lãi suất, thuế tiêu thụ nội bộ hợp tác xã .33

3.5.5 lắng nghe nguyện vọng của xã viên hợp tác xã, 33

Trang 3

Chương II : Thực trạng phát triển HTX thương mại ở Việt Nam

Thời kỳ 1996 - 2004 34

1 Thời kỳ trước năm 1996 34

1.1 Đặc điểm chủ yếu về qui mô, tổ chức và hoạt động của các HTXTM 34

1.2 Quản lý nhà nước đối với HTXTM 37

2 Thời kỳ từ năm 1996 đến nay 38

2.1 Đặc điểm về qui mô, tổ chức và hoạt động của các HTXTM 38

2.1.1 Quá trình chuyền đổi mô hình tổ chức, kinh doanh của các HTXTM 38

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của các HTXTM 47

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước đối với HTXTM từ 1996 đến nay 53

2.2.1 Hoạt động chỉ đạo, tổ chức thực hiện luật pháp và cơ chế chính sách của nhà nước .53

2.2.2 Hướng dẫn cơ chế chính sách, khuyến khích hỗ trợ phát triển HTXTM 57

2.2.3 Công tác tổ chức - cán bộ 58

2.3 Đánh giá chung 59

2.3.1 Những thành tựu đạt được 59

2.3.2 Nguyên nhân của những mặt được 60

2.3.3 Những yếu kém, tồn tại 61

2.3.4 Nguyên nhân tồn tại, yếu kém và chậm phát triển của HTXTM 65

Chương III : Phương hướng và giải pháp phát triển HTXTM đến 2010 67

1 Quan điểm phát triển HTXTM đến 2010 và nhũng nhân tố tác động đến HTXTM 67

1.1 Dự báo về tình hình thị trường, thương mại đến 2010 67

1.2 Quan điểm phát triển HTXTM đến năm 2010 69

1.3 Những yếu tố tác động đến HTXTM 70

1.3.1 Những yếu tố tác động đến HTXTM trên thị trường thành phố, thị xã .70

1.3.2 Những yếu tố tác động đến HTXTM trên thị trường nông thôn .71

2 Phương hướng phát triển HTXTM đến 2010 72

2.1 Dự báo một số chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh HTXTM thời kỳ 2005 – 2010 72

2.2 Phương hướng chuyển đổi các HTXTM theo luật HTX (2003) 72

2.3 Định hướng phát triển HTX trên địa bàn thành thị 73

2.3.1 Định hướng chung 73

2.3.2 Một số mô hình kinh doanh đối với HTXTM có thể áp dụng trên địa bàn thành thị 73

2.4 Định hướng phát triển HTXTM trên địa bàn nông thôn, miền núi 74

2.4.1 Định hướng chung 74

2.4.2 Một số mô hình kinh doanh đối với HTXTM có thể áp dụng trên địa bàn nông thôn 75

2.5 Mô hình HTX kinh doanh và quản lý chợ ( áp dụng cho cả địa bàn thành thị và địa bàn nông thôn miền núi… ……….………74

2.5.1 Một số mục tiêu phát triển chợ đến năm 2010.……… ……… 75

2.5.2 Cơ sở pháp lý và thực tiễn để hình thành các HTXTM kinh doanh chợ.……… 75

2.5.3 Dịnh hướng phát triển HTXTM kinh doanh chợ……….……… ….76

3 Giải pháp phát triển HTXTM ở nước ta giai đoạn 2005-2010 80

3.1 Nhóm giải pháp đối với HTXTM, 80

Trang 4

3.1.1 Tích cực phát triển HTXTM nói chung và Xã viên HTX nói riêng trên cơ sở bảo đảm thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động đã được qui

định trong Luật HTX năm 2003 .80

3.1.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý, hoàn thiện quan hệ phân phối thu nhập trong HTX 81

3.1.3 Đổi mới phương thức huy động vốn 83

3.1.4 Phát triển các liên kết kinh tế giữa HTXTM, Liên hiệp HTXTM với các loại hình HTX, với doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác 84

3.1.5 Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng Chủ nhiệm HTXTM, người lao động và các chức danh khác trong HTXTM .86

3.2 Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước đối với HTXTM 87

3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật HTX (2003) 87

3.2.2 Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý nhà nước đối với HTXTM 88

3.2.3 Mở rộng và tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức quản lý Nhà nước đối với HTXTM 93

3.2.4 Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động quản lý Nhà nước đối với HTXTM 94

3.3 Nhóm giải pháp đối với Liên minh HTX 95

3.3.1 Nâng cao và phát huy vai trò của Liên minh các HTX đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ phát triển của VCA 95

3.3.2 Về mối quan hệ phối hợp hoạt động 96

3.4 Một số kiến nghị khác 97

Kết luận 99

Phụ lục .Error! Bookmark not defined Tài liệu tham khảo 111

Trang 5

Danh mục các chữ viết tắt

Số TT Viết tắt Viết đầy đủ

2 HTXTM Hợp tác xã Thương mại

3 HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp

4 HTXMB Hợp tác xã mua bán

5 WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

6 BTA Hiệp định thương mại Việt - Mỹ

7 ILO Tổ chức lao động quốc tế

17 VCA liên minh HTX Việt nam

18 JCCU Liên hiệp HTX tiêu dùng Nhật Bản

19 ACFSMS Liên đoàn HTX cung tiêu Trung Quốc

20 NACF Liên đoàn HTX NN Hàn Quốc

Trang 7

Mở Đầu

ở nước ta sau khi có luật Hợp tác xã năm 1996, nhiều hợp tác xã thương mại (HTXTM) được chuyển đổi và thành lập mới, từng bước đã có những chuyển biến phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường Đặc biệt từ khi có nghị quyết Trung

ương V khoá IX về “tiếp tục đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” Hoạt động của các HTX đã có nội dung hoạt động đa dạng và rõ nét hơn Một bộ phận các HTX đã tăng cường sức mạnh về vốn, công nghệ, chất lượng sản phẩm, năng động trong sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển sản xuất

Thực tiễn cho thấy, hầu hết các HTX không chỉ kinh doanh các lĩnh vực

đã đăng ký theo điều lệ mẫu của HTX mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác :

ở thành thị hình thành các HTX kinh doanh tổng hợp, ở nông thôn, miền núi hình thành HTX nông nhiệp - thương mại - dịch vụ, gần đây đã xuất hiện xu hướng liên doanh liên kết giữa các HTXTM hình thành Liên hiệp các hợp tác xã (LHHTX), liên doanh liên kết giữa các loại hình HTX khác nhau, giữa HTX và doanh nghiệp Bước đầu đã xuất hiện những xu hướng phát triển mới, hoạt động của các HTX thương mại có nhiều thay đổi như: Kết nạp thêm xã viên, mở rộng thành viên và đối tượng tham gia là pháp nhân, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ

và vừa, các nhà khoa học, cán bộ công chức… HTX tích cực phát triển ngành nghề, coi trọng các khâu kinh doanh tổng hợp và hình thành hệ thống phân phối có lợi thế cạnh tranh Vì vậy, cần nghiên cứu những xu hướng trên và có giải pháp hỗ trợ cho quá trình phát triển này

Luật HTX sửa đổi (2003) có hiệu lực thi hành từ 1/7/2004, đã và sẽ đặt ra các yêu cầu phát triển mới đối với các HTXTM cả về nội dung và phương thức hoạt động

ở nông thôn với việc thực thi quyết định 80/2002/QĐ-TTG cuả Thủ tướng Chính phủ “Về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng”, các doanh nghiệp sẽ khó có thể ký kết hợp đồng trực tiếp với hàng vạn hộ nông dân có qui mô sản xuất nhỏ để thu mua, chế biến một khối lượng nông phẩm lớn Vì vậy, việc khuyến khích sản xuất theo hợp đồng một mặt sẽ thúc đẩy sự ra đời của các HTXTM - Dịch vụ, đặt nó vào những “mắt xích” quan trọng làm cầu nối giữa các doanh nghiệp sản xuất, chế biến với các hộ nông dân, mặt khác thúc đẩy

sự liên kết chặt chẽ hơn các loại hình liên kết kinh doanh nhằm mở rộng qui mô, khối lượng hàng hoá, dịch vụ trên địa bàn nông thôn nước ta

Tuy nhiên, đến nay sự phát triển kinh tế tập thể còn chậm so với nhịp độ phát triển của các thành phần kinh tế khác Trên thực tế hầu hết các HTXTM hoạt động vớí quy mô kinh doanh nhỏ, trình độ quản lý kinh doanh thấp, khoa học kỹ thuật lạc hậu, một bộ phận HTX chuyển đổi trước đây còn hình thức, nhiều HTX còn trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước Vì vậy hiệu quả kinh doanh của HTXTM nhìn chung rất thấp, số lượng xã viên trong các HTXTM con

ít, kết quả hoạt động phục vụ xã viên thấp, không phát huy được vai trò tác động của chúng đến phát triển sản xuất và tiêu dùng ở nông thôn

Trang 8

Trước những xu hướng phát triển mới của HTXTM, việc tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương chính sách, chương trình hành động của các cấp còn chậm, chưa dúng mức Một số chính sách trong chương trình hành động của Chính phủ chưa được thể chế hoá kịp thời, hoặc hướng dẫn thiếu đồng bộ nên ở dưới lúng túng trong triển khai, làm ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức và quản lý các HTX cả ở tầm vĩ mô và vi mô Yêu cầu cấp thiết đặt ra là : Nhà nước cần xác

định hướng phát triển cho các HTXTM, hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện Luật HTX sửa đổi (2003) và có những giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy sự phát triển của các HTXTM

Trước những yêu cầu nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: “Phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã thương mại Việt nam giai đoạn 2005 – 2010” là việc làm cần thiết, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn quản lý thương mại ở Việt Nam, nhằm phát huy được vai trò của thành phần kinh tế tập thể nói chung và HTXTM nói riêng trong quá trình phát triển kinh tế, mở rộng thị trường tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

* Mục tiêu nghiên cứu:

Làm rõ cơ sở tồn tại và phát triển của các HTXTM ở Việt nam

Đánh giá thực trạng HTXTM ở Việt nam, nguyên nhân cản trở việc phát triển HTXTM ở nước ta

Xác định phương hướng phát triển HTXTM giai đoạn 2005-2010

Đề xuất các giải pháp vĩ mô và vi mô cho phát triển HTXTM ở Việt nam

* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu

HTXTM ở Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc

tế (nghiên cứu trong mối quan hệ với các loại doanh nghiệp thương mại khác)

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi nội dung:

Cơ sở tồn tại và phát triển của các HTXTM ; Đánh giá thực trạng HTXTM

;Xác định phương hướng và giải pháp phát triển HTXTM ở Việt nam giai đoạn 2005-2010

Trong đề tài này chúng ta chỉ nghiên cứu Thương mại hàng hoá và Thương mại dịch vụ

+ Phạm vi không gian:

Nghiên cứu trên cả 3 địa bàn (thành thị, nông thôn và miền núi ), song

tập trung nghiên cứu ở khu vực nông thôn miền núi

+ Phạm vi thời gian:

Trang 9

Thời gian nghiên cứu từ 1996 đến nay, đề xuất phương hướng và giải pháp cho đến 2010

* Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Kết hợp các phương pháp nghiên cứu Logic và lịch sử

- Tiến hành Khảo sát thực tiễn các HTXTM theo tiêu thức mẫu (chọn một

số địa bàn đại diện các tỉnh trên cả nước) để đánh giá thực trạng HTXTM ở nước

Trang 10

Chương I

Một số vấn đề lý luận về phát triển Hợp tác xã

Thương mại ở việt nam

1 Cơ sở tồn tại và phát triển của các HTXTM ở Việt nam 1.1 Sự tồn tại tất yếu khách quan HTXTM trong nền kinh tế:

Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược của Đảng và Nhà nước ta.Trong nền kinh tế ấy, kinh tế tập thể có vị trí, vai trò quan trọng, khi bước vào thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hoá, từng bước xoá

đói, giảm nghèo thì việc duy trì và phát triển HTX là một trong những vấn đề lớn

được Đảng và Nhà nước quan tâm, là nhu cầu cấp bách và không thể thiếu trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta hiện nay

- Hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX cần phải có hiệu quả, có thể tạo ra lợi nhuận; lợi nhuận này hoặc được sử dụng để mở rộng, tăng thêm việc phục vụ, hoặc được hoàn trả trực tiếp cho thành viên HTX tuyệt nhiên không coi mục tiêu thu lợi nhuận theo ý nghĩa của các loại hình doanh nghiệp khác (như công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân ), qua đó thành viên sẽ được chia lãi cổ phần cao hơn và hàm ý thành viên vào HTX là đầu tư vốn vào HTX để được trả nhiều tiền hơn Mục tiêu bao trùm của HTX là trợ giúp, là phục vụ xã viên, không phải vì lợi nhuận chính vì vậy nó tồn tại tất yếu khách quan trong nền kinh tế cùng với các loại hình doanh nghiệp khác

Hiện nay, ở nông thôn, nông dân đang có nhu cầu rất lớn về các dịch vụ thương mại, dịch vụ tài chính, các dịch vụ kỹ thuật như bảo vệ thực vật, nhân giống, cung cấp giống, dịch vụ điện nước , việc tiêu thụ nông sản cho nông dân hiện nay cũng rất khó khăn, nông dân bị tư thương ép cấp, ép giá cả đầu vào lẫn đầu ra Vì vậy, phát triển kinh tế hợp tác, HTX trong lĩnh vực thương mại hoặc các HTX nông nghiệp tổ chức các hoạt động thương mại để làm các dịch vụ này phục vụ cho sản xuất của các hộ tốt hơn, bảo vệ lợi ích của nông dân để nông dân không bị thua thiệt là yêu cầu cấp bách đối với nông dân ở nước ta, sản xuất công nghiệp nhỏ, thủ công nghiệp với các ngành nghề truyền thống đã được phát triển từ lâu đời và rất phong phú Nhiều làng nghề đã được hình thành với nhiều sản phẩm có giá trị cao không chỉ được ưa chuộng ở thịtrường trong nước mà còn có mặt ở thị trường nhiều nước trên thế giới Do vậy, việc phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, HTX thương mại để hỗ trợ người sản xuất công nghiệp nhỏ, thủ công nghiệp tiếp cận thị trường, giải quyết yêu cầu về cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, làm dịch vụ

đầu vào, đầu ra hoặc làm những khâu, những việc mà từng hộ cá thể không làm được hoặc làm không có hiệu quả là hết sức cấp thiết và có vai trò quan

Trang 11

trọng trong việc khôi phục, phát triển các ngành nghề truyền thống, tạo điều kiện cho công nghiệp nông thôn phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ở nông thôn, thu hút lao động từ lĩnh vực nông nghiệp chuyển sang công nghiệp Phát triển các HTX thương mại còn là nhu cầu tất yếu của người tiêu dùng ở nông thôn, cũng như ở thành thị, miền núi, vùng sâu, vùng xa để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của đời sống, bảo đảm mua sắm được hàng hoá một cách thuận lợi, với chất lượng bảo đảm và giá cả phù hợp, góp phần ổn định thị trường, mở rộng giao lưu hàng hoá giữa các vùng, tăng thu nhập cho xã viên và người lao động

- Phát triển kinh tế tập thể là con đường giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất nhỏ, manh mún và sản xuất hàng hoá lớn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong cơ chế thị trường, từng doanh nghiệp cũng như mỗi hộ nông dân có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, tạo nên sự phát triển mới trong kinh tế, văn hoá ở nông thôn Trong điều kiện đi lên từ một nền sản xuất nhỏ, phát triển kinh tế nhiều thành phần, sự hợp tác giữa những người sản xuất kinh doanh riêng

lẻ dưới nhiều hình thức là một nhu cầu bức xúc của những người kinh doanh cá thể Hiện nay, ở nông thôn nước ta, về cơ bản, hộ nông dân, hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ nhưng vẫn là những hộ tiểu nông nhỏ bé, có nơi còn nặng về sản xuất mang tính tự cung, tự cấp Thu nhập và đời sống của đa số nông dân trong thời kỳ đổi mới tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn ở mức thấp Nhiều vùng (đặc biệt ở các tỉnh Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung) thường xuyên bị thiên tai tàn phá làm tăng thêm những khó khăn về đời sống và sản xuất, kinh doanh của các nông hộ Trong những điều kiện đó, từng hộ nông dân đơn độc không thể tự mình khắc phục khó khăn để vươn lên nhanh chóng trong sản xuất, kinh doanh

và cải thiện đời sống Trước yêu cầu phát triển kinh tế hàng hoá, ở nước ta hiện nay đã xuất hiện hàng trăm ngàn tổ hợp tác và hàng ngàn hợp tác xã mới, ra đời một cách tự nguyện Đó là một nhu cầu khách quan mà Đảng và Chính phủ đã chủ động tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho hợp tác xã phát triển

- Kinh tế tập thể là hình thức tổ chức kinh tế mang tính xã hội hoá cao hơn kinh tế cá thể, hộ gia đình, là nhân tố quan trọng để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, giáo dục ý thức tập thể và đoàn kết cộng đồng

Những hạn chế, yếu kém của kinh tế hộ đòi hỏi phải có các hình thức liên kết kinh tế để tăng thên nguồn lực sản xuất, kinh doanh (đặc biệt là hỗ trợ cho nhau về vốn) cũng như chia sẻ rủi ro HTX trong lĩnh vực lưu thông không đụng chạm đến quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và quyền sử dụng đất của người lao

động, vẫn bảo lưu được phương thức sản xuất của kinh tế hộ, do đó, người lao

động dễ chấp nhận, hơn nữa, tổ chức kinh tế HTX có thể kết hợp và phát huy

được sức mạnh của từng cá nhân và của tập thể Do vậy, nhu cầu hợp tác của kinh tế hộ đã xuất hiện và trở thành tất yếu khách quan

Ngoài nông dân (vẫn là lực lượng đồng đảo, chủ yếu) và người buôn bán nhỏ, còn có một số đối tượng khác muốn tham gia HTXTM Họ là những người làm nghề chế biến lương thực thực phẩm, gia công hàng tiêu dùng, cán bộ công

Trang 12

nhân viên về hưu, mất sức hoặc đang công tác tại các bệnh viện, cơ quan nhà máy, giáo viên, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng Trong số đó, không

ít người có vốn nhàn rỗi từ nhiều nguồn khác nhau muốn tham gia HTX sẽ có lợi hơn so với gửi tiền tiết kiệm., hoặc chỉ có nhu cầu được hưởng dịch vụ của HTX với chất lượng hàng hoá bảo đảm, giá phù hợp, mua sắm thuận tiện, v.v * Đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa:

Do giao thông chưa phát triển, thu nhập của đại bộ phận dân cư nhìn chung còn ở mức rất thấp nên các tổ chức cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư, kinh doanh ở khu vực này vì lợi nhuận ít, hoặc không

có lợi nhuận trong khi chính sách khuyến khích của Nhà nước chưa đủ mức cần thiết, các HTXTM đã khẳng định được vị trí của mình và có vai trò quan trọng trong sản xuất, đời sống và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

1.2 Vai trò của HTXTM

- Trong điều kiện đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ

là chủ yếu thì hợp tác giữa những người sản xuất-kinh doanh riêng lẻ dưới nhiều hình thức là một nhu cầu, xu thế khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất

Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tập thể mà nòng cốt là các HTX là một bộ phận quan trọng, cùng với kinh tế Nhà nước từng bước trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001-2010 được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua đã xác định

rõ vai trò của kinh tế tập thể “phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu” để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”

- Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 75% dân số sống ở nông thôn;

tỷ trọng trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) của nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản còn cao (năm 2000 là 24,3%) Vì vậy, vai trò của kinh tế hợp tác xã nói chung và HTXTM nói riêng trên địa bàn nông thôn là hết sức quan trọng Kinh nghiệm trên thế giới cũng cho thấy vai trò không thể thiếu của hợp tác xã trong quá trình đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất hàng hoá lớn, đặc biệt trong ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm ở thị trường trong nước nói chung và thị trường nông thôn nói riêng Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao vai trò của HTX trong nền kinh tế nhiều thành phần Nghị quyết số 10/11/1998 của Bộ Chính trị và gần đây nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã khẳng định điều đó

- Sự phát triển của HTX đã góp phần đẩy mạnh trao đổi hàng hoá giữa thành thị và nông thôn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng của nhân dân và thúc

đẩy sản xuất, trước hết là sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, HTXMB thực sự là trợ thủ đắc lực của TNQD trên địa bàn nông thôn Những thành tựu của thương nghiệp quốc

Trang 13

doanh không thể tách rời những kết quả hoạt động của các HTXMB Là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu thụ, HTXMB chẳng những đã đem lại lợi ích trước mắt, mà còn đem lại lợi ích lâu dài cho nông dân Có thể nói, trong thời kỳ này, lợi ích riêng của nông dân đã gắn liền với lợi ích tập thể và lợi ích chung của Nhà nước

- Phát triển kinh tế hợp tác xã nói chung và hợp tác xã thương mại nói riêng không chỉ vì những mục tiêu kinh tế, mà còn có cả những mục tiêu xã hội Chỉ có trên cơ sở hợp tác với nhau, những người lao động, kinh doanh buôn bán nhỏ mới có thể tạo được sức mạnh tập thể trong sản xuất kinh doanh để tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập, thực hiện xoá đói, giảm nghèo Hơn nữa, phát triển kinh tế hợp tác xã nói chung, HTXTM nói riêng cũng nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đổi mới bộ mặt nông thôn, tăng cường mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và nông dân, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn, củng cố khối liên minh công - nông

- Trong nền kinh tế nhiều thành phần, vai trò của các HTXTM được thể hiện rõ nét qua việc cung ứng vật tư nông nghiệp, công cụ sản xuất và hàng tiêu dùng thiết yếu có chất lượng và giá cả hợp lý trên địa bàn nông thôn rộng lớn ở các vùng sản xuất tập trung, mặt khác nhiều HTXTM giúp nông dân tiêu thụ nông sản theo hướng đảm bảo lợi ích cho người lao động, hạn chế sự thao túng của thương nghiệp tư nhân, tránh cho họ không bị ép giá, tạo ra sự cạnh tranh lanh mạnh Hoạt động của HTX cũng chú trọng khai thác sản phẩm, hàng hoá thuộc thế mạnh của từng vùng, tổ chức chế biến (chủ yếu là sơ chế) và thực hiện các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp và góp phần xuất khẩu, phát triển các HTXTM là giải pháp đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, đáp ứng cả “đầu vào” cho sản xuất, cho tiêu dùng cá nhân và “đầu ra ” cho các loại sản phẩm hàng hoá của nông dân Hoạt động cung ứng tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và

tổ chức thu mua, tiêu thụ nông sản hàng hoá, cũng như các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống đã khẳng định vai trò to lớn của các HTXTM trong việc góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, ổn định đời sống, mở rộng thị trường trong nước nói chung và thị trường nông thôn nói riêng

1.3 Quan niệm về HTXTM sau khi có luật HTX (2003)

1.3.1 Phân loại HTX

ở nước ta, điều 1, chương I của Luật HTX năm 2003 khẳng định: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập

ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn

Trang 14

điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.”

Điều 6, Luật HTX (2003) quy định HTX có quyền kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh mà luật pháp không cấm

Tuy nhiên trong tổ chức, quản lý, đánh giá hoạt động của các HTX thì HTX được phân loại theo " ngành, nghề kinh doanh"

Gần đây, Thông tư số: 01/ 2006/TT-BKH ngày 19/1/2006 của Bộ kế hoạch và Đầu tư “ Hướng dẫn tiêu chí đánh giá và phân loại HTX “như sau:

1.3.1.1 Tiêu chí phân loại HTX theo ngành, nghề

Việc phân loại HTX theo ngành, nghề hoạt động được thực hiện theo hai tiêu chí sau đây:

a HTX được phân loại theo những ngành, nghề đã được quy định tại nghị

định số 75/CP của Chính phủ ngày 27 tháng 10 năm 1993 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 75/CP) về ban hành hệ thống ngành kinh tế quốc dân

b Trường hợp HTX hoạt động trong nhiều ngành, nghề khác nhau thì HTX được phân loại theo ngành, nghề có tỉ trọng doanh thu lớn nhất

Nhóm HTX giáo dục, đào tạo (Ngành thứ 14 theo NĐ 75/CP)

Nhóm HTX y tế, cứu trợ xã hội phục vụ cá nhân và cộng đồng (Ngành thứ 15 và 18 theo NĐ 75/CP)

Trang 15

b Đối với HTX hoạt động đa ngành, nghề trong số 12 nhóm ngành nghề nêu tại điểm a, mục này có báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì HTX được phân loại theo ngành có tỷ trọng doanh thu cao nhất

c Đối với HTX mới thành lập đăng ký nhiều ngành, nghề khác nhau, chưa

có báo cáo kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, cơ quan đăng ký kinh doanh phân loại HTX theo một (01) ngành, nghề trong số các ngành, nghề đã được

đăng ký kinh doanh của HTX và được quy định tại NĐ 75/CP trên cơ sở tham khảo ý kiến HTX

Như vậy từ nay HTXTM sẽ được gọi với tên mới : HTX Thương nghiệp Tuy nhiên trong đề tài này để tiện cho việc nghiên thống nhất về từ ngữ, chúng tôi vẫn sử dungtên HTXTM

1.3 2 Bản chất kinh tế - x∙ hội của HTXTM

Xây dựng và phát triển HTX nói chung và HTX thương mại nói riêng không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế, mà còn có mục tiêu xã hội Mục tiêu này xuất phát từ bản chất tổ chức và hoạt động của HTX HTX là tổ chức kinh tế, nhưng lại có chức năng xã hội HTX không trực tiếp thực hiện chức năng xã hội, mà thông qua việc thực hiện các giá trị và nguyên tắc HTX

Bản chất của HTXTM thể hiện đặc điểm căn bản của HTX nói chung

là HTX là tổ chức kinh tế mà chủ sở hữu nó là các xã viên góp vốn lập ra, mục tiêu tối cao là phục vụ nhu cầu của xã viên là chính, theo đó thì HTXTM là HTX mà các xã viên của nó phải tham gia hoạt động thương mại là chính Khái niệm “thương mại” ở HTXTM là xã viên của nó hoạt động trong lĩnh vực mua – bán các loại hàng hoá thuộc về TLSX và TLTD,

HTX là một tổ chức tự chủ do những người lao động, các hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tự nguyện liên kết lại với nhau để đáp ứng các mong muốn và nhu cầu chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua việc thành lập một tổ chức kinh tế sở hữu tập thể và quản lý dân chủ HTX là

tổ chức tự trợ giúp của các thành viên và được xây dựng trên cơ sở các giá trị

về tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công khai và đoàn kết Theo truyền thống của những nhà sáng lập, xã viên HTX tin tưởng vào các giá trị

đạo đức, cởi mở, trung thực, có trách nhiệm xã hội và quan tâm đến người khác Đồng thời với tư cách là một tổ chức kinh tế độc lập, tự chủ, HTX cũng tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng các chức năng kinh doanh như các doanh nghiệp để phục vụ cho lợi ích của các thành viên Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động, HTX với tư cách là tổ chức tự trợ giúp, nên mục tiêu trước hết là đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của thành viên về kinh tế và đời sống, phục vụ và

hỗ trợ thành viên phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng thêm lợi ích cho thành viên, cải thiện địa vị kinh tế và xã hội của họ, giáo dục tinh thần hợp tác, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi; trong hoạt động coi trọng cả lợi ích kinh tế - bao gồm lợi ích của thành viên và lợi ích tập thể - cả lợi ích xã hội của thành viên

Thành viên gia nhập HTX là vì họ cần được HTX phục vụ, cần HTX trợ giúp những việc mà họ không thể tự làm hoặc làm không có hiệu quả Nhờ

Trang 16

tham gia HTX mà các thành viên khắc phục được những nhược điểm và hạn chế của mình Hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX chỉ là một công cụ nhằm thúc đẩy tăng thêm lợi ích của thành viên thông qua vai trò phục vụ của HTX Hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX cần phải có hiệu quả, có thể tạo ra lợi nhuận; lợi nhuận này hoặc được sử dụng để mở rộng, tăng thêm việc phục vụ, hoặc được hoàn trả trực tiếp cho thành viên HTX tuyệt nhiên không coi mục tiêu thu lợi nhuận theo ý nghĩa của các loại hình doanh nghiệp khác (như công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân ), qua đó thành viên sẽ được chia lãi cổ phần cao hơn và hàm ý thành viên vào HTX là đầu tư vốn vào HTX để được trả nhiều tiền hơn Mục tiêu bao trùm của HTX là trợ giúp, là phục vụ xã viên, không phải vì lợi nhuận

HTX là một tổ chức mang tính cộng đồng cao, gắn với cộng đồng chung và cộng đồng địa phương, góp phần xoá đói, giảm nghèo, xoá mù, tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, phúc lợi công cộng, đề cao tinh thần đoàn kết tương trợ nhau trong đời sống, giúp đỡ gia đình khó khăn Tính cộng đồng xã hội thể hiện rất rõ ở nguyên tắc thứ tư Điều 5 Luật HTX năm 2003 “Hợp tác và phát triển cộng đồng: xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội; hợp tác giữa các HTX trong nước và ngoài nước theo qui định của pháp luật” và nguyên tắc thứ 7 của Liên minh HTX quốc tế: “Quan tâm đến cộng đồng Các HTX phấn đấu cho sự phát triển lâu

dài thông qua các chính sách với sự nhất trí của các xã viên”

Như vậy, HTX là một tổ chức xã hội, mang tính cộng đồng sâu sắc, có mục tiêu giúp đỡ lẫn nhau và phát triển cộng đồng, trong đó các thành viên tham gia HTX được bình đẳng, dân chủ trong việc quản lý HTX - mỗi người một phiếu bầu, cùng có quyền lợi, nghĩa vụ trong phát triển HTX; hoạt động theo các nguyên tắc HTX

Vì vậy, phát triển HTX nói chung và HTX thương mại nói riêng phải coi trọng cả yêu cầu phát triển kinh tế lẫn yêu cầu phát triển cộng đồng Đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX phải trên cơ sở toàn diện, cả kinh tế - chính trị - xã hội, cả hiệu quả của tập thể và của thành viên Phát triển HTX phải nhằm khẳng định được vai trò kinh tế - xã hội của HTX trong thực tiễn

1.3.3 Các loại hình kinh doanh của HTXTM

3.3.3.1 Theo mức độ kinh doanh

- Kinh doanh chuyên môn hoá:

HTXTM chỉ chuyên kinh doanh một hoặc một nhóm hàng hoá có cùng công dụng, trạng thái hoặc tính chất nhất định Chẳng hạn kinh doanh xăng dầu, kinh doanh xi măng, kinh doanh lương thực Loại hình kinh doanh này

có ưu điểm:

+ Do chuyên sâu theo ngành hàng nên có điều kiện nắm chắc được thông tin về người mua, người bán, giá cả thị trường, tình hình hàng hoá và dịch vụ nên có khả năng cạnh tranh trên thị trường, có thể vươn lên thành độc quyền kinh doanh

Trang 17

+ Trình độ chuyên môn hoá ngày càng được nâng cao, có điều kiện để tăng năng suất và hiệu quả kinh doanh, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật

Đặc biệt là các hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên dùng tạo ra lợi thế lớn trong cạnh tranh

+ Có khả năng đào tạo được những cán bộ quản lý giỏi, các chuyên gia và nhân viên kinh doanh giỏi

Bên cạnh đó loại hình kinh doanh này cũng có nhược điểm nhất định

+ Hạn chế được một số rủi ro trong kinh doanh do dễ chuyển hướng kinh doanh

+ Vốn kinh doanh ít bị ứ đọng do mua nhanh, bán nhanh và đầu tư vốn cho nhiều ngành hàng, có khả năng quay vòng nhanh , bảo đảm cung ứng

đồng bộ hàng hoá cho các nhu cầu

+ Có thị trường rộng, luôn có thị trường mới, việc đối đầu với cạnh tranh đã kích thích tính năng động sáng tạo và đòi hỏi sự hiểu biết nhiều của người kinh doanh, có điều kiện để phát triển các dịch vụ bán hàng

- Loại hình kinh doanh đa dạng hoá:

HTXTM kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau, nhưng bao giờ cũng có nhóm mặt hàng kinh doanh chủ yếu có cùng công dụng, trạng thái hoặc tính chất Đây là loại hình kinh doanh được một số HTXTM ứng dụng, nó cho phép phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của loại hình kinh doanh chuyên môn hoá và loại hình kinh doanh tổng hợp

3.3.3.2 Theo chủng loại hàng hoá kinh doanh:

- Loại hình kinh doanh hàng công nghiệp tiêu dùng:

Hàng công nghiệp tiêu dùng gồm các thứ phục vụ việc ăn mặc, ở của con người Hệ thống thương nghiệp chủ yếu kinh doanh các mặt hàng dệt, bách hoá phẩm, ngũ kim dân dụng, đồ điện, thực phẩm Mỗi loại hàng hoá nói trên gồm nhiều chủng loại rất đa dạng

- Loại hình kinh doanh hàng nông sản:

Trang 18

Hàng nông sản gồm sản phẩm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản và ngành công nghiệp chế biến như: lương thực , bông, dầu ăn, tơ , chè, đường, rau quả

- Loại hình kinh doanh tư liệu sản xuất công nghiệp:

- Loại hình kinh doanh tư liệu sản xuất nông nghiệp:

1.3.4 Tiêu chí đánh giá các HTXTM

Thông tư số: 01/ 2006/TT-BKH ngày 19/1/2006 của Bộ kế hoạch và Đầu tư về “ Hướng dẫn tiêu chí đánh giá và phân loại HTX “ HTX được đánh giá theo

6 tiêu chí sau đây:

a Mức độ dân chủ và sự tham gia của xã viên vào xây dựng và thực hiện điều lệ HTX

b Mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất – kinh doanh đã

được đề ra trong Nghị quyết Đại hội xã viên;

c Mức độ đáp ứng nhu cầu của hoạt động kinh tế và đời sống xã viên

d Mức độ tin cậy của xã viên đối với HTX;

e Mức độ phúc lợi chung của HTX tạo ra cho toàn thể xã viên;

g Mức độ đoàn kết, hợp tác giữa các xã viên và xây dựng cộng dồng HTX

* Về Mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh được

đánh giá bởi:

- Doanh thu hàng năm

- lợi nhuận bình quân

- Tỷ suất lợi nhuận

- Giá trị dịch vụ cung ứng bình quân/ 1XV

- Thu nhập bình quân của 1 XV HTX

- Thu nhập bình quân của 1 lao động HTX

- Chất lượng cán bộ quản lý (trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ,

đảng viên )

1.3.5 Những yếu tố tác động đến sự hình thành & phát triển HTXTM

Hoạt động kinh doanh được thực hiện trong những môi trường cụ thể, mức sinh lời phù thuộc trước hết vào khả năng phân tích và sự am hiểu môi trường kinh doanh của các chủ thể doanh nghiệp, từ đó hoạch định chiến lược kinh doanh và thực hiện chiến lựơc kinh doanh một cách nhất quán, năng

động, linh hoạt, không thụ động trước những rủi ro

Trang 19

Môi trường kinh doanh là một thực thể khách quan bao gồm tất cả các chủ thể kinh doanh trên thị trường và tổng thể các yếu tố, các mối quan hệ tác

động chi phối mọi hành vi hoạt động của họ Môi trường kinh doanh có thế chia thành hai nhóm:

+ Nhóm thứ nhất: Gồm những yếu tố và các mối quan hệ mà các chủ

thể kinh doanh có thể kiểm soát được Để làm chủ được các mối quan hệ này, các nhà doanh nghiệp phải hiểu biết được các loại, các hình thái thị trường cùng các quan hệ tương ứng của nó, từ đó dự đoán tình huống, sự rủi ro có thể xẩy ra và có phương pháp ứng phó thích hợp Trong điều kiện cạnh tranh và sự thành bại của hoạt động kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào khả năng nắm bắt

và làm chủ các yếu tố và các mối quan hệ của thị trường

+ Nhóm thứ hai: Gồm những yếu tố, những mối quan hệ nằm ngoài

khả năng kiểm soát của các nhà doanh nghiệp, như các yếu tố về chính trị, luật pháp, lạm phát, tập quán, tôn giáo Nhà doanh nghiệp phải tìm hiểu cặn

kẽ để có phương thức xử lý thích hợp, đặc biệt phải nghiên cứu,nắm vững luật pháp để thực hiện đúng, đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh trước pháp luật

1.3.5.2 Nhân tố kinh tế

HTX là sản phẩm khách quan của quá trình phát triển kinh tế, kinh tế hàng hoá càng cao thì nhiều yếu tố của quá trình sản xuất càng vượt ra ngoài khả năng của một hộ và do dó nhu cầu hợp tác càng phát triển ở đây bao hàm cả hai chiều tác động: môi trường kinh tế chung ( thị trường, quan hệ hàng hoá - tiền tệ, chính sách vv.) và sự phát triển của kinh tế hộ với tư cách là chủ thể tham gia của quá trình hợp tác Quy mô của nông hội, tổ nhóm , hiệp hội; áp lực kinh tế: Hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, áp lực cạnh tranh, giá cả nông sản , giá nguyên liệu , chi phí lao động…

1.3.5.3 Nhân tố khoa học - kỹ thuật

Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, quá trình chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho nông thôn, nông nghiệp càng được đẩy mạnh Chính quá trình này, nhanh hay chậm, đã đóng vai trò qui định sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nội bộ ngành nông nghiệp, cũng như cơ cấu kinh tế nông thôn, phân công lại lao

động trong nông nghiệp, làm xuất hiện từng bước các điều kiện đòi hỏi phải hợp

Trang 20

tác với nhau với sự đa dạng của các hình thức hợp tác, mô hình tổ chức và hoạt

động

1.3.5.4 Nhân tố văn hoá truyền thống

Truyền thống văn hoá Việt Nam luôn luôn được trân trọng và đề cao tính cộng đồng làng xã, tạo ra những ràng buộc thân tộc tự nhiên, mặt tích cực của nhân tố này là tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống Chính truyền thống này vừa là cơ sở, vừa là động lực thúc đẩy quá trình hợp tác, hình thành nhiều loại hình hợp tác đa dạng, phù hợp với các đặc điểm truyền thống văn hoá từng vùng Tuy nhiên nhân tố này cũng chứa đựng nhiều nhân tố tiêu cực (gia trưởng, ghen ghét, lệ làng) đã hạn chế đến phát triển kinh

tế hợp tác và hợp tác xã

I.3.5.5 Các yếu tố khác

- Sự trợ giúp về luật pháp và tài chính của Nhà nước

- Đào tạo nhân lực, trình độ xã viên và mức độ cung cấp thông tin

- Hội nhập kinh tế quốc tế

2 Quan điểm của Đảng, Nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ đối với HTX

Đường lối đổi mới do Đại hội VI đề xướng đã khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế hợp tác xã được khẳng định cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đồng thời thừa nhận sự tồn tại của kinh tế hợp tác xã phải đi đôi với

sự phát triển đa dạng của các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao, hợp tác xã là bộ phận nòng cốt của kinh tế hợp tác Nghị quyết 10- NQ/ TW của

Bộ chính trị ( khoá VI) đã khẳng định, kinh tế hợp tác xã có nhiều hình thức

từ thấp lên cao, mọi tổ chức sản xuất - kinh doanh do người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức được quản lý theo nguyên tắc dân chủ đều là hợp tác xã Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 (khoá VII) tháng 6/1993 làm rõ thêm bản chất của hợp tác xã trên cơ sở phát huy tính tự chủ của kinh tế hộ, coi kinh tế hộ là bộ phận khăng khít của kinh tế hợp tác xã Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khóa VII) tiếp tục khảng định và phát triển quan điểm của

Đảng coi kinh tế hợp tác với nhiều hình thức phong phú và đa dạng từ thấp

đến cao, phù hợp với nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ, kết hợp được sức mạnh của hộ xã viên, làm cho kinh tế hợp tác trở thành một thành phần kinh tế vững mạnh, cùng với kinh tế quốc doanh trở thành xương sống của nền kinh tế quốc dân Đến Đại hội VIII, quan điểm phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân

Trang 21

2.1 Quan điểm của Đảng được cụ thể hoá trong Nghị quyết 13- NQ/ TW tại Hội nghị Trung ương 5 ( khóa IX)

Thứ nhất: kinh tế tập thể mà nòng cốt là kinh tế hợp tác xã thời gian

tói phải phát triển đa dạng về hình thức, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và

địa bàn bao gồm nhiều hình thức sở hữu với nhiều trình độ khác nhau, từ tổ hợp tác đến hợp tác xã và lên đến trình độ cao là liên hiệp hợp tác xã:

- Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã;

- Sở hữu trong kinh tế tập thể dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi với các thành phần kinh tế khác, không giới hạn

về quy mô,lĩnh vực và địa bàn;

- Phân phối vừa theo lao động, vừa theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ;

- Nguyên tắc hoạt động : tự chủ , tự chịu trách nhiệm;

- Thành viên kinh tế tập thể bao gồm cả thể nhân và pháp nhân cùng góp vốn và góp sức trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ

Thứ hai: kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã phải là một tổ chức

kinh tế kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội của các thành viên

và lợi ích tập thể:

- Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của thành viên, góp phần xoá đói giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên và phát triển cộng đồng;

- Do vậy khi đánh giá hiệu quả kinh tế tập thể phải trên cơ sở quan điểm toàn diện, cả kinh tế - chính trị - xã hội, cả hiệu quả của tập thể và hiệu quả của các thành viên;

Thứ ba: khẳng định sự cần thiết phải: Tiếp tục phát triển rộng rãi các

hình thức kinh tế tập thể trong tất cả các ngành, lĩnh vực và địa bàn là cần thiết, trong đó trọng tâm là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn:

- Phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn phải đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại;

- Kinh tế tập thể đóng vai trò hỗ trợ, nâng đỡ kinh tế hộ, trang trại phát triển, làm cầu nối để tiếp nhận sự hỗ trợ của Nhà nước cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại;

- Khẳng định kinh tế tập thể tuyệt nhiên không thay thế hoặc thủ tiêu kinh tế hộ, trang trại;

- Gắn phát triển kinh tế tập thể với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới;

Trang 22

- Thúc đẩy kinh tế tập thể không ngừng phát triển sức sản xuất, vươn lên cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế;

Thứ tư: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và

phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân trong phát triển kinh tế tập thể:

- Nhà nước ban hành các chính sách trợ giúp kinh tế tập thể trong quá trình xây dựng và phát triển, thông qu việc giúp đỡ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, ứng dụng khoa học công nghệ, nắm bắt thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển, giải quyết nợ tồn đọng trước đây, khuyến khích việc tích luỹ và sử dụng có hiệu quả vốn tập thể trong hợp tác xã;

- Phát huy vai trò của Liên minh hợp tác xã Việt Nam, Mặt trận tổ quốc

và các đoàn thể nhân dân( Hội nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh ) trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia kinh tế tập thể, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, đảm bảo công tác kiểm tra, kiểm soát của các thành viên, ngăn ngừa tham nhũng lãng phí

Thứ năm: Nghị Quyết của Đảng đã chỉ rõ phương châm phát triển kinh

tế tập thể thời gian tới:

- Phát triển hợp tác xã phải theo phương châm tích cực, chủ động nhưng phải vững chắc, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, đi từ thấp đến cao, đa dạng về mô hình, vì hiệu quả thiết thực, trước hết là vì sự phát triển của sức sản xuất, triệt để tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, nhất quyết không nóng vội, chủ quan duy ý chí, áp đặt;

- Nhưng cũng yêu cầu các cấp Uỷ Đảng và chính quyền các cấp cần

khắc phục sự buông lỏng lãnh đạo, bị động ngồi chờ, để mặc sự phát triển tự phát của nền kinh tế, mà chậm trễ trong việc nắm bắt và đáp ứng những đòi hòi của nhân dân về phát triển kinh tế tập thể

2.2 Nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với HTX

Nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang

Bộ đối với HTX Theo nghị định của Chính phủ (số: 177/2004/NĐ-CĐ), quy

định chi tiết thi hành một số điều của luật HTX năm 2003 như sau:

2.2.1 Nội dung quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ

- Trình Chính Phủ,Thủ tướng Chính Phủ chiến lược, kế hoạch phát triển HTX thuộc ngành, lĩnh vực quản lý

- Trình Chính Phủ,Thủ tướng Chính Phủ ban hành cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển HTX thuộc ngành, lĩnh vực quản lý

- Hướng dẫn cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển HTX thuộc ngành, lĩnh vực quản lý

Trang 23

- Hướng dẫn ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ, hỗ trợ thông tin, tiếp thị và xúc tiến thương mại đối với HTX

- Xây dựng chế độ và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng các chức danh quản

lý và điều hành HTX

- Chỉ đạo tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nhân rộng các mô hình HTX hoạt động có hiệu quả

- Tổ chức chỉ đạo thực hiện hợp tác quốc tế và HTX

- Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về HTX

2.2.2 Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ:

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư giúp Chính Phủ thống nhất quản lý Nhà nước

về HTX trên phạm vi cả nước;

- Các Bộ: Nông nghiệp và PTNT, Thương mại, Công nghiệp, Giao thông vận tải, Xây dựng, Thủy sản, Giáo dục và Đào tạo thống nhất quản lý về HTX thuộc lĩnh vực Bộ phụ trách;

- Ngân hàng Nhà nước Việt nam hướng dẫn chế độ và nguyên tắc hoạt

động tín dụng nội bộ trong các HTX, thống nhất quản lý về Quỹ tín dụng nhân dân;

- Bộ Nội vụ hướng dẫn về bộ máy chuyên trách quản lý Nhà nước đối với HTX của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Bộ Tài chính hướng dẫn chính sách tài chính đối với HTX; phân bổ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý ,các chức danh trong HTX;

- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn đóng bảo hiểm xã hội đối với xã viên HTX theo quy định tại Điều 4 Nghị định này;

- Bộ Tài nguyên và môi trường hướng dẫn việc giao đất cho thuê đất đối với các HTX;

* Phân công quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

Hợp tác xã được phân vào nhóm ngành, nghề nào theo quy định tại Nghị định 75/CP của Chính phủ sẽ do Bộ, Sở, Ngành liên quan là cơ quan đầu mối thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với hợp tác xã đó.( Theo Thông tư số: 2006/TT-BKH ngày 01/2006 của Bộ kế hoạch và Đầu tư)

3 Kinh nghiệm của nước ngoài về phát triển HTXTM

3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Tổ chức có tính chất như hợp tác xã đầu tiên ở Nhật Bản thành lập là các liên hiệp tín dụng do nông dân lập ra từ thời Minh Trị (đầu TK 19), đến cuối TK

Trang 24

19 hợp tác xã kiểu mới được thành lập, năm 1900 Luật Hợp tác xã được ban hành

đánh dấu lịch sử phong trào HTX ở Nhật bản đến nay

3.1.1 Liên hiệp HTX tiêu dùng Nhật Bản (JCCU)

3.1.1.1 Hoạt động của hợp tác xã tiêu dùng Nhật Bản

Hoạt động từ trước chiến tranh thế giới thứ hai, tan rã dưới Chính phủ quân sự, đến năm 1951 hợp tác xã tiêu dùng tái lập và phát triển mạnh vào những năm 1960-1970 và đến nay phát triển theo chiều sâu, là bộ phận quan trọng trong

đời sống cộng đồng, hiện nay có 30% hộ gia đình ở Nhật Bản là xã viên hợp tác xã tiêu dùng

Tổ chức liên hiệp hợp tác xã tiêu dùng của Nhật Bản (JCCU) hiện nay có

617 hợp tác xã thành viên, trong đó có 47 liên hiệp cấp tỉnh; có khoảng 1000 cán

bộ chuyên trách làm việc ở trụ sở chính Các hợp tác xã đã tạo ra trên 10000 sản phẩm mang nhãn hiệu “CO-OP” bao gồm lương thực, thục phẩm, hàng tiêu dùng

3.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của (JCCU)

Trong môi trường cạnh tranh và hội nhập, cùng với sức ép đòi Nhật Bản

mở thị trường nông sản, JCCU đã tăng cường mối liên kết các thành viên bằng các chương trình phát triển sản phẩm, mở dịch vụ bảo hiểm và thiết kế lại hệ thống thông tin thị trường để đáp ứng nhu cầu xã viên Mặt khác JCCU cũng cải cách hệ thống từ Đại hội đồng đến nhân sự và cơ cấu tài chính, những công việc

cụ thể:

Soạn thảo các chính sách hợp tác xã quốc gia;

Điều phối các hoạt động của thành viên ở cấp quốc gia;

Đại diện cho các hợp tác xã ở cấp quốc gia và quốc tế;

Lập kế hoạch phát triển và cung cấp các sản phẩm mang nhãn hiệu “ OP”;

CO-Nhập khẩu và xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng;

Mở các hoạt động kinh doanh, bao gồm cả bảo hiểm và đại lý du lịch; Hướng dẫn các thành viên về quản lý và giáo dục nhân viên qua các khoá học và hội thảo

3.1.1.3 Mô hình hoạt động

- Nguyên tắc của JCCU là thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng bằng cách cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tốt về chất lượng và giá cả thấp hơn;

- Cung cấp mặt hàng nhãn hiệu “CO-OP” đạt tín nhiệm cao trên thị trường

về chất lượng, an toàn theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế đòi hỏi

Kết quả kinh doanh năm 2000: JCCU có trên 21 triệu xã viên, vốn cổ phần

là 508 tỷ yên, 2 445 cửa hàng với 55 375 người lao động, tổng doanh thu bán lẻ

Trang 25

đạt 3 016 tỷ yên (khoảng 26,33 triệu USD), doanh thu bán buôn đạt 278.406 tỷ yên (khoảng 22,3 tỷ USD)

3.1.2 Quản lý Nhà nước đối với các hợp tác x∙ tiêu dùng của Nhật Bản

Các hợp tác xã tiêu dùng ở Nhật Bản nằm dưới sự giám sát của Bộ Y tế, Lao động và phúc lợi Nhật Bản Các hợp tác xã tiêu dùng phải trả mức thuế giống như các tổ chức hợp tác xã khác ở Nhật Bản, không được nhận bao cấp hoặc giúp đỡ nào của Chính phủ

Luật hợp tác xã tiêu dùng Nhật Bản ban hành 30/7/1948, do Bộ Phúc lợi

và xã hội lao động là chủ quản Hiện nay xã viên của hợp tác xã tiêu thụ cao nhất trong 5 loại hình hợp tác xã , là 21.774 xã viên (Số liệu của Shuichi Matsuhita- 11-2004)

Ngoài ra, các hợp tác xã nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp, hợp tác xã doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động theo Luật riêng và đều tập trung vào việc cung ứng dịch vụ cho xã viên, Chính phủ đều có chính sách hỗ trợ về sản phẩm, công nghệ, tiêu thụ, duy trì các chợ bán buôn,…

3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

3.2.1 Hoạt động của các hợp tác x∙ cung tiêu Trung Quốc

- Cung ứng dịch vụ kinh doanh : Bao gồm việc cung cấp dịch vụ đầu vào cho nông nghiệp như mua phân bón, lưu kho, phân phối, phân tích chất đất, phương thức sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hợp lý Năm 1998, các hợp tác xã cung tiêu đã cung ứng 90 triệu tấn phân hóa học, chiếm đến 60% nhu cầu sử dụng của cả nước, 430 000 tấn thuốc trừ sâu và 260 000 tấn màng nhựa mái che, xây dựng 320000 trạm chăm sóc cây trồng và các trung tâm tư vấn dịch vụ của xã Trong những năm gần đây, các hợp tác xã cung tiêu đã mở rộng sang việc cung ứng các sản phẩm hàng hóa phục vụ nông nghiệp và nông thôn như xăng dầu, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, kim loại màu, ô tô,

- Hoạt động tiêu thụ: Đây là hoạt động bảo đảm ổn định đầu ra, tăng hiệu suất sản xuất hàng hoá Các hợp tác xã cung tiêu đã xây dựng hàng nghìn trạm thu mua nông phẩm, và nâng cao chất lượng bán hàng ở 2500 trung tâm tiêu thụ

ở các thành phố, nơi tập trung dân cư, và gần các nhà máy chế biến Tổng doanh

số năm 1998 đạt trên 66 tỷ nhân dân tệ

- Kinh doanh bán buôn, bán lẻ: Chuỗi cửa hàng của hợp tác xã cung tiêu thực hiện nguyên tắc mua chung (để giám giá đầu vào, bảo đảm chất lượng của xuất sứ hàng hoá) bán riêng để hạch toán lợi nhuận Cửa hàng bán sản phẩm tiêu dùng công nghiệp đã tổ chức hàng ngàn các xí nghiệp chế biến nông sản nâng giá trị gia tăng Tổng doanh thu hàng tiêu dùng năm 1998 đạt 111 tỷ nhân dân tệ

- Chế biến và xuất khẩu là một hướng phát triển gần đây của các các hợp tác xã cung tiêu Hệ thống gồm trên 6000 nhà máy hoạt động như những đơn vị

độc lập, trong đó có 341 nhà máy lớn với 87 nhà máy chế biến xuất khẩu nông

Trang 26

sản Năm 1998, doanh số chế biến đạt 95 tỷ nhân dân tệ, và xuất khẩu khoảng 1 triệu USD

- Tái chế phế liệu: Mạng lưới bao gồm trên 10 vạn trung tâm thu mua phế liệu với gần 80 vạn người làm việc và doanh số đạt khoảng 15 tỷ nhân dân tệ mỗi năm cho thấy tính năng động, nhạy bén của các hợp tác xã cung tiêu trước yêu cầu làm sạch môi trường, tận dụng triệt để phế liệu để tái chế, giảm chi phí đầu vào tạo sản phẩm có tính cạnh tranh

- Kho bãi chuyên chở: Hệ thống lưu kho và vận chuyển hoàn chỉnh với hơn 103 triệu m2 kho tổng hợp với công suất là 1,134 triệu tấn, hơn 20 vạn phương tiên xe máy, 2 ngàn tàu và hơn 200 km đường sắt chuyên dụng đáp ứng tốt nhu cầu vận tải, lưu kho với chi phí cạnh tranh

- Dịch vụ khác: Các hợp tác xã cung tiêu hiện đang điều hành 34 ngàn đơn

vị kinh doanh dịch vụ, trong đó có 290 doanh nghiệp lớn và vừa trong lĩnh vực du lịch, nhà hàng, khách sạn, trạm sửa chữa, hiệu ảnh, cửa hàng đồ chơi, thu hút

16000 lao động, thu nhập hàng năm đạt 4 tỷ nhân dân tệ

- Hoạt động khoa học, công nghệ: Hiện có 60 viện nghiên cứu trực thuộc Liên đoàn toàn quốc và các liên đoàn vận tải, thành phố, khu tự trị đã kịp thời triển khai, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ thành tựu của thế giới và trong nước, đồng thời có những đề tài nằm trong danh mục các dự án trọng điểm của quốc gia, những công nghệ áp dụng thành công như sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, xử lý sâu bệnh, sử dụng tấm nhựa làm mái che, công nghệ giống, công nghệ chế biến bảo quản sau thu hoạch, thiết thực và thích ứng với các vùng sinh thái

- Giáo dục - đào tạo: Hiện có khoảng 1000 cơ sở đào tạo với nhiều loại hình khác nhau, trong đó có 3 trường cao đẳng và 102 trường dạy nghề với 3 vạn giáo viên và cán bộ, nhiệm vụ đào tạo cán bộ, nhân viên phục vụ ngay trong hệ thống hợp tác xã cung tiêu toàn quốc

- Hợp tác quốc tế: ACFFSMC là thành viên của liên minh hợp tác xã quốc

tế (ICA) Trong những năm qua các hợp tác xã cung tiêu của Trung Quốc đã hợp tác với doanh nghiệp của trên 30 quốc gia thành lập 1100 liên doanh tại Trung Quốc, thành lập 2000 doanh nghiệp, liên doanh, văn phòng thương mại ở nước ngoài

3.2.2 Liên đoàn hợp tác x∙ cung tiêu toàn Trung Quốc(ACFSMS)

Tháng 7-1954, Liên đoàn hợp tác xã toàn Trung quốc được đổi thành Liên

đoàn hợp tác xã cung tiêu toàn Trung Quốc(ACFS MS) Trung quốc trải qua thời

kỳ của phong trào công xã nhân dân, sản xuất tập trung phi hiệu quả Đến năm

1978, Trung Quốc thực hiện 4 hiện đại, cùng với việc cơ cấu lại sản xuất, trong nông nghiệp đã thực hiện giao đất cho nông dân, từng bước tự do hóa sản xuất theo hướng thị trường có sự quản lý của Nhà nước Liên đoàn hợp tác xã cung tiêu đã chuyển hướng theo đúng tên gọi của nó: Cung ứng các dịch vụ đầu vào cho sản xuất và đảm nhận các dịch vụ đầu ra cho nông dân, đồng thời củng cố hệ thống các hợp tác xã cung tiêu trên toàn quốc

Trang 27

3.2.2.1 Cơ cấu tổ chức của ACFSMC

ACFSMC là tổ chức cấp cao nhất của các hợp tác xã cung tiêu toàn Trung Quốc, dưới ACFSMC là các liên đoàn cấp tỉnh, thành phố, khu tự trị và các hợp tác xã cơ sở, mặt khác vẫn tồn tại quan hệ chiều dọc trực tuyến giưa các hợp tác xã cung tiêu ở tất cả các cấp

* Nguyên tắc hoạt động:

- Liên đoàn cấp cao phục vụ liên đoàn thành viên của mình, liên đoàn các cấp phục vụ cho các hợp tác xã cơ sở, hợp tác xã cơ sở phục vụ các thành viên hợp tác xã và những người tham gia hoạt động của hợp tác xã theo chương trình với những cam kết

- Duy trì mối liên kết chặt chẽ giữa các khu vực trong nông thôn, nông thôn với thành thị, nông nghiệp nông thôn với nông dân, tăng cường các dịch vụ

đầu vào, đầu ra với chất lượng tốt, giá cả hợp lý để tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng thuộc về các thành viên trong toàn hệ thống ACFSMC

3.2.2.2 Cơ cấu ACFSMC

Cơ quan cao nhất là: Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Liên đoàn hợp tác xã cung tiêu Trung Quốc Đại hội bầu Ban giám đốc, ban kiếm soát Liên

đoàn Giúp việc Ban giám đốc là hệ thống hành chính bao gồm Văn phòng và 9

Vụ Các đơn vị kinh doanh trực thuộc liên đoàn bao gồm 8 tập đoàn chuyên ngành và đa ngành, 9 viện nghiên cứu, 3 trường cao đẳng và 1 trung tâm, 1 cơ quan phụ trách du lịch quốc tế, một tờ báo Cùng với hệ thống hành chính và các

đơn vị trực thuộc là hệ thống 11 hiệp hội nghề nghiệp, 1 hội đồng xúc tiến ngoại thương Cơ cấu này gần giống Liên minh hợp tác xã Việt Nam theo điều lệ năm

- Cơ chế: Chính phủ ủy quyền cho liên đoàn thực hiện những nhiệm vụ kinh tế xã hội nhất định kèm theo các bảo đảm pháp lý đã giúp liên đoàn thực hiện những nhiệm kinh tế thuận lợi hơn, các hợp tác xã có nhiều cơ hội phát triển

- Chính sách ly nông, bất ly hương của Trung Quốc đã tập trung phát triển hạ tầng tại các vùng nông thôn, kèm theo các ưu đãi đầu vào cho sản xuất và hỗ trợ xuất khẩu; điển hình là sự phát triển các xí nghiệp hương trấn có sự dẫn dắt của mô hình “đốm lửa trên đồng cỏ” về công nghệ và sự ổn định “vĩ mô” ở chi phí đầu vào cùng với hỗ trợ khi xuất khẩu tiểu ngạch “duyên biên khái phóng”, thành lập các cơ quan biên mậu trên đường biên giới rộng lớn của Trung Quốc

Trang 28

- Các liên doanh FDI với các hợp tác xã cung tiêu đã trợ giúp mạnh về mặt

kỹ thuật, công nghệ và thị trường đầu ra cũng như những lợi ích của tiêu dùng sản phẩm liên doanh trong nội địa mà cả hai bên được hưởng

3.2.3 Quản lý nhà nước đối với hợp tác x∙ cung tiêu Trung Quốc:

AFCFFSMC hoạt động theo mô hình của tổ chức phi chính phủ, tuy nhiên

nó được sự ủy quyền của Chính phủ theo kiểu “đơn đặt hàng” Đối tượng của ACFSMC là các hợp tác xã trong toàn quốc và xã viên, người lao động trong hệ thống liên đoàn, các hoạt động hướng vào lợi ích của người lao động, dẫn dắt các hợp tác xã cung tiêu tham gia thị trường

Chính phủ Trung quốc giành sự hỗ trợ thích đáng sự nghiệp của các hợp tác xã cung tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế đất nước hàng năm Mục tiêu thịnh vượng cộng đồng dân cư, trước hết là nông dân, nông nghiệp và nông thôn

được quan tâm hàng đầu thông qua hoạt động của liên đoàn cung tiêu Mặt khác những ưu đãi qua “ủy quyền” của Chính phủ đã giúp cho các hợp tác xã cung tiêu mở thị trường gắn kết với các vùng trong nước, thành thị với nông thôn và với quốc tế

3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Khác với Trung Quốc, Hàn quốc có nhiều liên đoàn độc lập là thành viên của Liên đoàn hợp tác xã Hàn quốc(ICA) Hàn quốc có nhiều liên đoàn như: Liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp, Liên đoàn hợp tác xã tiết kiệm và tín dụng, Liên đoàn hợp tác xã nghề cá,

3.3.1 Mô hình hoạt động dịch vụ của hợp tác x∙ nông nghiệp Hàn quốc

3.3.1.1 Tiếp thị nông sản:

Đây là dịch vụ quan trọng nhất mang lại thu nhập cao hơn cho nông dân NACF đã tổ chức hệ thống tiêu thụ gồm 99 trung tâm tiếp thực hiện bán buôn và

12 “Câu lạc bộ Hanaro” (cửa hàng giảm giá lưu kho cho các thành viên) và 2206

“Hanaro Mart “ (siêu thị cho những người không phải là xã viên) Mô hình này

đã giảm chi phí tiếp thị đơn lẻ, của các thành viên, mặt khác các thành viên bán sản phẩm ổn định về mức giá có lợi

Năm 1997, NACF đổi mới phương thức bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng bằng cách xây dựng 8 tổ hợp phân phối hàng ở Xơ-Un và các thành phố lớn trên toàn quốc với vốn đầu tư lên tới 302 tỷ won, nhiều tổ hợp hoạt động có hiệu quả Các tổ hợp này liên kết với các nhà phân phối khác cùng với công nghệ phân loại, sơ chế, bảo quản, bao gói,

Diện tích lãnh thổ Hàn Quốc nhỏ, NACF đã tổ chức hữu hiệu cơ chế “mua tận gốc, bán tận siêu thị”, đầu tư các xe chuyên dùng cùng với các trung tâm thu mua mới (1108 trung tâm) Cơ chế tái phân phối lợi nhuận cho quỹ hỗ trợ vận tải hàng hóa của hợp tác xã đã làm tăng giá trị nông sản hàng hóa của hợp tác xã, tăng tỷ trọng hàng hóa của hợp tác xã chiếm đến 70% doanh số bán nông sản của NACF

Trang 29

NAFC chú trọng các nhu cầu cá biệt của khách hàng là người nước ngoài, nhu cầu trong các ngày lễ, nhu cầu của chính nông dân mỗi vùng, mở ra các kênh tiêu thụ hướng dẫn sản xuất, phân loại sản phẩm, chuẩn bị chân hàng kịp thời vụ

Chế biến là con đường tăng giá trị nông sản, lấy lãi từ các nhà máy này để tái đầu tư cho các hợp tác xã thành viên và tăng giá trị thu mua nông sản NACF

đã tổ chức nhiều nhà máy chế biến gạo, kim chi (rau muối có gia vị), chè, đậu tương, tinh bột, tinh dầu Với công nghệ hiện đại, sản phẩm có phong cách riêng nên thị trường của NACF đã mở rộng ra nhiều quốc gia, phục vụ các hãng hàng không quốc tế món kim chi, đồ uống từ gạo, rau, hoa quả, sâm,

3.3.1.2 Cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các thành viên theo phương châm: giá cả hợp lý, chất lượng kèm theo hướng dẫn sử dụng, khắc phục những thiếu thốn thời vụ, cắt giảm những chi phí tiếp thị không cần thiết

Các vật tư chính là phân bón, hóa dược, máy nông nghiệp, màng mỏng pôlietilen, hạt giống, thức ăn chăn nuôi và xăng dầu Những vật tư đó được đặt ở các địa điểm thích hợp, tổ chức thành các trung tâm dịch vụ, trung tâm bán khí

đốt, xăng dầu và trung tâm thử nghiệm đất canh tác Trong tình trạng cạnh tranh gay gắt với các nhà phân phối khác, NACF đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chiến lược tiếp thị kinh doanh và gắn kết các lợi ích của các thành viên trong chu trình sản xuất, bao gồm việc mua vật tư đầu vào, bán nông sản đầu ra, không thụ

động đáp ứng nhu cầy của nông dân

Về cung cấp khoảng 2000 mặt hàng tiêu dùng khác cho các thành viên, NACF đã tin học hóa để lượng rõ nhu cầu thiết yêu và nhu cầu gia tăng, cùng với việc vận hành 2 449 siêu thị đã đáp ứng nhu cầu của xã viên, giảm được 10% chi phí bán hàng là cơ sở quan trọng để ổn định giá bán lẻ cho các thành viên

Dịch vụ tiếp thị và chế biến nông sản cùng với dịch vụ cung ứng vật tư, hàng tiêu dùng là hai mảng dịch vụ quan trong nhất, làm nền tảng cho sự gắn kết các thành viên với NACF Tuy nhiên lợi nhuận mà NACF thu được lại nhờ vào các dịch vụ gia tăng, đó là dịch vụ tín dụng tiết kiệm, tín dụng tương hỗ, bảo lãnh tín dụng cho sản xuất nông nghiệp, dịch vụ thẻ tín dụng, dịch vụ bảo hiểm; đồng thời trợ giúp các dịch vụ cộng đồng khác như tư vấn pháp luật miễn phí, khám chữa bệnh, tang lễ, nghiên cứu, đào tạo

3.3.2 Liên đoàn quốc gia hợp tác x∙ nông nghiệp Hàn Quốc (NACF)

Luật hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc 1988, tại “ Điều 5: (Nguyên tắc dịch vụ tối đa)

Mục đích của hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã trong các hoạt động kinh doanh là cung cấp dịch vụ không có sự phân biệt và tối đa cho các thành viên và hạn chế các hoạt động kinh doanh chỉ mang lại lợi ích cho bộ phận xã viên

Liên đoàn quốc gia hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc (NACF) được thành lập từ năm 1961, là tổ chức cao nhất của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc, được quy định trong Luật hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc

Trang 30

Liên đoàn có nhiều chức năng của một tổ chức kinh doanh đa ngành, từ tiếp thực hiện sản phẩm, chế biến, cung cấp vật tư nông nghiệp, hàng tiêu dùng, tín dụng và bảo hiểm, vận tải, lưu kho, quảng canh và các dịch vụ hỗ trợ cho 5 triệu nông dân Hệ thống kinh doanh gồm 1387 hợp tác xã thành viên, 5000 trung tâm kinh doanh khác, nắm giữ 40% thị phần nông phẩm trong nước, và là một ngân hàng có số tiền gửi lớn nhất trong nước, tổng số lao động làm việc trong các cơ sở của liên đoàn là 17806 người và 51231 nhân viên làm việc trong các hợp tác xã

* Kết quản kinh doanh của NACF năm 2000:

- Đầu ra: Kinh doanh các mặt hàng nông sản thực phẩm đạt doanh thu: 11

127 tỷ won ( 8831 triệu USD)

- Đầu vào: Cung cấp vật tư phục vụ nông nghiệp đạt doanh thu 4084 tỷ won (3242 triệu USD)

-Dịch vụ ngân hàng: Doanh số tiền gửi và tiền vay đạt 99090 tỷ won (78662 triệu USD)

-Tín dụng tương hỗ (cho vay trong nội bộ, tài trợ cho dự án) đạt 136030 tỷ won (100047 triệu USD)

- Bảo hiểm đạt 20 284 tỷ won (16102 triệu USD)

Kết quả trên cho thấy hoạt động của NACF lấy phục vụ nông nghiệp làm trọng tâm, từ đó đã mở rộng ra các lĩnh vực khác có sự tham gia của các thành viên và nông dân Hoạt động mở rộng thông qua mối liên hệ của các thành viên với thị trường

* Các nhân tố phát triển dịch vụ

Thứ nhất, NACF đã cơ cấu lại tổ chức sản xuất và dịch vụ của hợp tác xã theo hướng đa năng Tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận các dịch vụ khác nhau trong các chuyến khảo sát nội địa Giúp đỡ tài chính vào các hộ nông dân bằng bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ miễn phí một số dịch vụ, cung cấp các dịch vụ bổ sung trong sự kết hợp dịch vụ đầu vào, ra với tín dụng, tiếp thị và khuyến nông

Thứ hai, Tổ chức theo “ngành dọc” với hai cấp Liên đoàn toàn quốc và các hợp tác xã thành viên đã trực tuyến các quyết định trên xuống, tăng cường tính tự quản của hợp tác xã thành viên Cùng với việc sáp nhập liên tục các hợp tác xã thành viên từ 20000 hợp tác xã thời điểm cao nhất xuống còn 1345 hợp tác xã hiện nay Quá trình đó đã giúp các hợp tác xã phát triển cạnh tranh có hiệu quả với khu vực tư nhân

Thứ ba, tiền hoa hồng từ các dự án của Chính phủ đã được bổ sung và sử dụng có hiệu quả, cải thiện tình hình tài chính của hợp tác xã

Thứ tư, các dịch vụ cho xã viên như tín dụng lãi suất cạnh tranh đã giảm chi phí sản xuất do không phải vay nặng lãi Số tín dụng này chiếm đến 80% yêu cầu tín dụng ở nông thôn, mức độ đáp ứng và lãi suất thấp đã cải thiện căn bản tình hình tài chính của hộ nông dân

Trang 31

Thứ năm, các dịch vụ cộng đồng được giảm giá và miễn phí đã thu hút nông dân vào hợp tác xã, hợp tác xã trở thành trung tâm phát triển ở nông thôn, duy trì được nguồn nhân lực có khả năng tiếp cận các tiến bộ công nghệ và kinh nghiệm trong chiến lược phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn Hiện nay, NACF có 3 viện đào tạo cán bộ lãnh đạo hợp tác xã nông nghiệp ở Ansung, Chongju và Changyoung

“đặt hàng” đã mang lại hoa hồng bổ sung vào nguồn tài chính của các hợp tác xã tham gia thực hiện

Chính phủ Hàn Quốc đã bảo vệ và chuyển những khuyến nghị của NACF

đến Quốc hội với quan điểm lấy hợp tác xã là các đơn vị kinh tế ở nông thôn để thực hiện những chương trình phát triển quốc gia mà Chính phủ nhận trước Quốc hội

Các hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc được Chính phủ hỗ trợ thường xuyên từ những ưu đãi về thuế trong kinh doanh, hỗ trợ tài chính theo chương trình, hỗ trợ hạ tầng ký thuật và hoạt động xã hội có tính cộng đồng

Luật hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc hiện nay quy định Chính phủ hỗ trợ hợp tác xã :

- Tạo điều kiện để các hợp tác xã vay tín dụng với lãi suất ưu đãi để phục

vụ sản xuất nông nghiệp, kinh doanh khác và phục trực tiếp lợi ích của nô

- Các hợp tác xã nông nghiệp được phân loại theo mô hình tập đoàn kinh doanh nông nghiệp và chịu mức thuế theo tập đoàn là 10% trong khi doanh nghiệp tư nhân bị đánh thuế từ 18-32% Chính phủ cũng miễn, giảm thuế cho các chi phí hướng dẫn, tư vấn cho các hợp tác xã và dịch vụ mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh Do đó đã thu hút nguồn lực của nền kinh tế quan tâm đến phát triển hợp tác xã

- Các hợp tác xã được miễn giảm thuế giá trị gia tăng, điều này cho phép các hợp tác xã giảm thuế đầu vào và đầu ra của sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh với các, công ty doanh nghiệp tư nhân

Các chương trình dự án phát triển nông thôn, xây dựng làng văn hoá Chính phủ giành cho hợp tác xã những lợi ích thiết thực

Trong một số trường hợp, Chính phủ được phép áp dụng những chính sách

đặc biệt với hợp tác xã nông nghiệp để bảo vệ hợp tác xã và nông dân trước những biến cố bất lợi của thị trường, giảm chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn, điều tiết lợi ích của nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ xuất khẩu của Hàn Quốc trên thế giới

Trang 32

Luật Hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc:

Điều 11 ( Chính sách của nhà nước về các hợp tác xã )

(1) Tất cả các Bộ trưởng của Chính phủ phải ủng hộ tích cực các công việc kinh doanh của hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, và phải cung cấp ưu tiên các điều kiện thuận lợi của Chính phủ hay các tổ chức công cộng cho hợp tác xã

(2)Chính phủ phải cấp tiền trợ cấp cần thiết cho các hoạt động kinh doanh của các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã trong phạm vi ngân quỹ hàng năm của Chính phủ

(3) Chủ trương của liên hiệp có thể trình bày với Chính phủ những kiến nghị của mình liên quan tới việc phát triển các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

3.4 Kinh nghiệm của Canada

Hợp tác xã đầu tiên của Canađa gọi là hợp tác xã tín dụng nhân dân được thành lập năm 1900 ở Levis-Quebec, sau đó là các loại hình hợp tác xã khác phát triển và thành lập Hiệp hội hợp tác xã Canada (CCA) vào năm 1987 32 tổ chức thành viên của CCA đại diện cho nhiều lĩnh vực hoạt động của hợp tác xã với hai cấp: khu vực, tỉnh và cơ sở

Hợp tác xã ở Canada là những tổ chức kinh doanh do xã viên đồng sở hữu,

đồng thời cũng là người sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, quản lý hợp tác xã theo nguyên tắc đối nhân (mỗi thành viên một phiếu bầu) và lợi nhuận được chia theo mức độ sử dụng dịch vụ và công sức đóng góp Hợp tác xã có thể là doanh nghiệp lợi nhuận hoặc doanh nghiệp phi lợi nhuận Hiện nay, ở Canada có trên

15 triệu xã viên của 10 000 hợp tác xã (bao gồm cả các liên hiệp tín dụng và quỹ tín dụng nhân dân)

3.4.1 Các loại hình hợp tác x∙ làm dịch vụ gồm:

3.4.1.1 Hợp tác xã tiếp thị nông nghiệp :

Từ năm 1997, các hợp tác xã này giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nhu yếu phẩm, doanh số đạt 16,1 tỷ USD chiếm 56% tổng doanh số của các hợp tác xã phi tài chính ở Canada, hợp tác xã có số tài sản là 4,7 tỷ USD trong đó

Trang 33

3.4.1.4 Hợp tác xã tài chính

Hợp tác xã tài chính (liên hiệp tín dụng) hiện nay có đến 10 triệu người dân là xã viên với số tài sản trên 100 tỷ USD, cung cấp 32 % nhu cầu dịch vụ tài chính, họ đi tiên phong trong lĩnh vực công nghệ tiên tiến như máy rút tiền tự

động, dịch vụ tiền gửi, cho vay đáp ứng nhu cầu cộng đồng Hệ thống của liên hiệp là những quỹ tín dụng nhân dân ở các địa phương và liên hiệp khu vực

Các hợp tác xã phi nông nghiệp khác : hợp tác xã nhà ở, hợp tác xã thủ công, hợp tác xã lâm nghiệp

3.4.2 Những đặc điểm của hợp tác x∙ ở Canada

- Hoạt động trong môi trường của nền kinh tế thị trường phát triển, tự do cạnh tranh, các hợp tác xã vừa theo hướng chuyên ngành, vừa đa ngành hướng vào phục vụ nhu cầu của xã viên về sản xuất và tiêu dùng, cùng các dịch vụ mang tính xã hội

- Phân chia rõ loại hình hợp tác xã : (1) Nông nghiệp; (2) Tiêu dùng; (3) hợp tác xã phi nông nghiệp và tài chính Đều có xu hướng làm dịch vụ cho xã viên với mục tiêu phục vụ nhu cầu cho sản xuất, tiếp thị và tiêu dùng

- Cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác và cạnh tranh ngay chính trong khu vực hợp tác xã do cùng cung cấp những sản phẩm, dịch vụ tương tự

3.4.3 Vai trò của Chính phủ

Luật Hợp tác xã mới được sửa đổi có hiệu lực từ đầu năm 2000 Thông qua Luật này, Chính phủ tạo cơ hội cho các hợp tác xã cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác Chính phủ Canada công nhận những giá trị của hợp tác xã đóng góp vào nền kinh tế đất nước, vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thu nhập của xã viên và người lao động, Hợp tác xã là một bộ phận quan trọng trong xã hội bởi nó đã giúp phát triển cộng đồng và tạo ra một cơ cấu xã hội có sự tham gia dân chủ của người dân

Chính phủ hỗ trợ hợp tác xã ở hai phương diện: (1)Tạo môi trường pháp lý thuận lợi nhất để hợp tác xã cạnh tranh, (2) Mặt khác, thông qua các chương trình kinh tế -xã hội liên quan trực tiếp đến lợi ích cộng đồng thì Chính phủ có chính sách để dành cho hợp tác xã những cơ hội phát triển

3.5 Những bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam

3.5.1.Không ngừng phát triển x∙ viên HTX

Sự phát triển của HTXTM có thể được đánh giá giá bằng sự phát triẻn số lượng x∙ viên HTX,trong HTX của các nước số x∙ viên HTX rất lớn

3.5.2 Các loại hợp tác x∙ thuộc ngành sản xuất hay dịch vụ đều tập trung vào hoạt động dịch vụ đầu vào, đầu ra của x∙ viên, hợp tác x∙

Khi nghiên cứu hợp tác xã dù loại hình, ngành nghề nào cũng phải tập trung xem xét giá trị dịch vụ vào ra của hợp tác xã cho xã viên Các khâu của quá

Trang 34

trình sản xuất, dịch vụ tách ra nhiều công đoạn, mà những công đoạn đó do hợp tác xã đảm nhận với chi phí thấp hơn tự xã viên làm đều được coi như hợp tác xã làm dịch vụ (ví dụ như bảo vệ thực vật, tưới tiêu, làm đất, thu hoạch hay sơ chế,…)

3.5.3 Cấu trúc hợp tác x∙ có thể theo nhiều hình thức:

Hợp tác tổng hợp như hợp tác xã cung tiêu, hợp tác xã sản xuất và dịch vụ

3.5.4.Hỗ trợ hợp tác x∙ theo chương trình, dự án hoặc chính sách ưu

đ∙i

Hoạt động theo Luật hợp tác xã, chịu sự quản lý nhà nước về ngành có liên quan Chính phủ có quyền giám sát và thực hiện các hoạt động hỗ trợ hợp tác xã theo chương trình, dự án hoặc chính sách ưu đãi về lãi suất, thuế tiêu thụ nội bộ hợp tác xã

3.5.5 lắng nghe nguyện vọng của x∙ viên hợp tác x∙,

Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã thế giới có thể tham khảo cho Việt Nam thông qua việc mỗi Bộ, ngành, địa phương cần khảo sát, lắng nghe nguyện vọng của xã viên hợp tác xã, các tổ chức hợp tác xã để có chính sách thiết thực nhằm mang lại lợi ích của nhóm cộng đồng luôn gắn liền với chính quyền cơ sở, gắn với phát triển bền vững

Trang 35

Chương II Thực trạng phát triển htx thương mại ở việt nam

- Năm 1988: là thời điểm phát triển cao nhất của các HTXMB Cả nước

đã có 9.600 HTXMB cơ sở xã, phường với 5 vạn điểm mua và bán hàng (chiếm 13,06% tổng số HTX cả nước) Số lượng xã viên tăng lên đến 20,5 triệu người Trên địa bàn huyện, quận và thị xã đã có trên 360 đơn vị kinh doanh của các HTXMB huyện, quận và 25 Ban Quản lý tỉnh, thành phố Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ của toàn ngành HTXMB đạt 663 tỷ đồng

Đi đôi với việc phát triển mạng lưới HTXMB, để thích ứng với việc mở rộng hoạt động kinh doanh, số lượng cán bộ công nhân viên ngành HTXMB đã không ngừng phát triển Đến cuối năm 1988, số cán bộ, nhân viên của toàn ngành có trên 100.000 người, trong đó có khoảng 20.000 cán bộ, nhân viên trong biên chế Nhà nước làm việc trong các HTXMB quận, huyện, tỉnh, thành phố

Từ năm 1988, HTXVN đã trở thành thành viên chính thức của Liên minh HTX quốc tế Trên cơ sở phát triển quan hệ hợp tác trên, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá theo con đường HTX đã được triển khai và đã có bước phát triển nhất định

- Từ năm 1989: Môi trường và điều kiện kinh doanh của các HTX đã có

sự thay đổi; Khi chuyển sang cơ chế thị trường, do thực lực yếu nhưng phải cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác, nên phạm vi, qui mô, tốc độ phát triển của nhiều HTXMB bị thu hẹp và giảm dần Mối quan hệ kinh tế giữa HTXMB với các đơn vị kinh tế quốc doanh trong hoạt động mua bán ngày càng sa sút Đặc biệt, từ quí II/1989, khi ngân hàng Nhà nước thay đổi chế độ cho vay và lãi suất

đối với HTXMB, các HTXMB không thể trang trải được lãi và vốn vay ngân hàng, dẫn đến tình trạng tài chính vốn đã khó khăn, lại càng khó khăn hơn Nhiều hàng hoá tồn kho ứ đọng không tiêu thụ được Số HTX hoạt động không

có hiệu quả, bị thua lỗ, không có khả năng thanh toán công nợ, chiếm dụng vốn lẫn nhau ngày càng tăng Đến cuối năm 1990: cả nước còn khoảng 3.000 HTXMB cơ sở, 52 % ở tình trạng thua lỗ Hơn 2.300 HTXMB cơ sở đã chuyển sang HTX thuộc ngành khác, tổ chức khác Các đơn vị kinh doanh thuộc HTXMB quận, huyện cũng ở trong tình trạng đó, hơn 70 % tổng số các đơn vị này bị thua lỗ,

nợ nần không trả được Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ chiếm tỷ trọng 12,9

Trang 36

% năm 1986 đã giảm xuống 2,7 % trong 1989, đến năm 1991 còn 2 %, năm 1992

ở mức dưới 1%

Tính đến cuối năm 1992, các HTXMB cơ sở huyện còn gần 3,7 triệu xã viên tham gia, số cổ phần khoảng 4 triệu đồng Mạng lưới kinh doanh gồm 4.919 cửa hàng, 373 trạm thu mua cố định, 158 tổ bán hàng lưu động, 205 tổ thu mua lưu động theo thời vụ và nhiều cơ sở sản xuất, chế biến khác

- Thời kỳ 1995-1996, cả nước còn 403 HTXMB xã, phường, 21 HTX quận, huyện Trong đó, chỉ có gần 40% tổng số HTXMB kinh doanh có lãi hoặc hoà vốn Về cơ bản, HTXMB đã biến tướng và đổ vỡ gần hết HTXMB còn trụ lại được chủ yếu ở một số thành phố và ngoại ô (nhiều nhất ở thành phố HCM còn 87 đơn vị, các nơi khác như Đồng Nai, Huế, Đà Nẵng, An Giang, Tiền Giang, Cần Thơ mỗi địa phương còn duy trì được khoảng 3 - 4 HTX, nhưng đã thay đổi hình thức tổ chức cũng như về tính chất, mục tiêu, nội dung và phương thức hoạt động

- Đặc điểm các Liên hiệp HTXMB:

Trong giai đoạn này, tổ chức Liên hiệp HTX vẫn được duy trì ở một số

địa phương, đây là tổ chức kinh doanh ngành dọc, trùm lên các HTXMB cơ sở xã, phường Nhưng thực chất, các Liên hiệp này thường là độc lập trong hoạt

động kinh doanh, ít có các quan hệ kinh tế đối với HTXMB cơ sở Về cán bộ, nguồn vốn, cơ chế quản lý, điều hành, phân phối thu nhập, các Liên hiệp HTXMB cấp quận, thành phố, tỉnh cũng giống như những doanh nghiệp nhà nước.2/3 Các Liên hiệp HTX kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ, số còn lại gặp rất nhiều khó khăn, biểu hiện ở các mặt: Không có vốn kinh doanh, nợ chồng chất, không có khả năng thanh toán, lao động dôi dư, không tìm được thị trường, cơ sở vật chất nghèo nàn Cán bộ và xã viên thiếu tin tưởng vào khả năng, tác dụng của kinh tế HTX Do vậy, các Liên hiệp HTXMB đã lần lượt giải thể Đến năm 1996, cả nước còn 18 Liên hiệp HTXMB, chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh (10 đơn vị) Nhìn chung, hình thức tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của các liên hiệp HTX không còn phù hợp với cơ chế mới Các Ban Quản lý HTXMB quận, huyện, tỉnh, thành phố cho đến thời điểm này, về cơ bản đã bị giải thể, một

số chuyển sang thương nghiệp quốc doanh, số còn lại tự xoay sở kiếm sống

Thực trạng nêu trên phản ánh sự đổ vỡ, tan rã hàng loạt của hệ thống HTXMB trên phạm vi toàn quốc

Tuy nhiên bên cạnh xu hướng trên, một số HTXMB (rõ nét nhất là ở địa bàn phường, quận và thành phố) đã từng bước đổi mới từ tổ chức đến nội dung hoạt động và phương thức kinh doanh, linh hoạt trong việc huy động các nguồn vốn v.v tạo ra những điều kiện thích ứng với cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh bước đầu đạt hiệu quả

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, từ 1993 tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ của các HTX trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ có xu hướng nhích dần lên Năm 1993 đạt 612 tỷ đồng, năm 1995 đạt 1060 tỷ đồng, năm 1996 đạt trên 1.200 tỷ đồng Nhìn chung, từ 1993 - 1996, những HTX còn tồn tại đã cố

Trang 37

gắng hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước và có xu hướng năm sau cao hơn năm trước HTXMB thành phố Hồ Chí Minh năm 1991 nộp 5,3 tỷ đồng, năm 1994 đã nộp 53,2 tỷ đồng, năm 1996 là 56,2 tỷ đồng Các HTXMB Thừa Thiên - Huế, năm 1991 nộp ngân sách 94,8 triệu đồng, đến năm 1994 nộp 505,3 triệu đồng, năm 1996 đã lên tới 631 triệu đồng Các HTXMB Hải Phòng, năm 1994 nộp thuế 35 triệu đồng, năm 1996 đã nộp 99 triệu đồng

Do kinh doanh có lãi (mặc dù còn nhỏ và không đồng đều ở các địa phương) nên thu nhập của người lao động trong các HTX tăng dần, đời sống của xã viên được cải thiện một bước.,

Thu nhập bình quân 1lao động/tháng trong các HTXMB:

đảm, mua sắm thuận tiện; vì vậy, đã thu hút được nhiều người tham gia Thực tiễn trong thời gian qua cho thấy HTX tiêu dùng đã phát huy được vai trò của kinh tế HTX ở khu vực thành thị Mô hình trên xuất hiện chủ yếu ở thành phố

Hồ Chí Minh và thường được tổ chức dưới hình thức HTX phường hoặc liên phường

* Một số nhận xét:

- Đa số các HTXMB đều được hình thành từ thời bao cấp mang tính chất phong trào, gò ép, hoạt động chủ yếu là dựa vào thương nghiệp quốc doanh qua các hình thức như làm đại lý bán lẻ và mua hàng uỷ thác Khi chuyển sang cơ chế thị trường, chịu sự tác động của cơ chế mới, nhiều HTX không có thực lực kinh tế đảm bảo được yêu cầu và điều kiện để tổ chức kinh doanh trong môi trường hoàn toàn khác trước, khả năng cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác còn quá yếu (đặc biệt là thương nghiệp tư nhân với sự đông đảo của các hộ kinh doanh cá thể ) do đó, kinh doanh liên tục thua lỗ và tan rã

- Quá trình củng cố và phát triển HTXMB chưa chú ý đến các điều kiện cần thiết và buộc phải có để đảm bảo cho các HTX tồn tại và hoạt động có kết quả Một số HTX trong giai đoạn này vẫn hoạt động theo mô hình HTXMB kiểu

cũ nên không khuyến khích và tạo động lực cho xã viên, thậm chí một số HTX vẫn quá chú trọng đến sở hữu tập thể, coi nhẹ sở hữu của cá nhân xã viên Toàn

bộ tư liệu sản xuất, cổ phần xã viên góp vào HTX đều trở thành sở hữu chung của tập thể, phần tích luỹ được do lao động của xã viên tạo ra trong nhiều năm cũng chủ yếu chuyển thành quĩ không chia của HTX Việc quản lý và phân phối trong HTX không bảo đảm nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi, chế độ bảo hiểm không có hoặc quá ít ỏi

Trang 38

- Khi bước vào cơ chế thị trường, trong khi phần lớn HTXMB lâm vào tình trạng sa sút trầm trọng, có một số HTX và Liên hiệp HTX đã tìm ra hướng

đi mới cho mình bằng cách cải tiến tổ chức, quản lý, nội dung hoạt động Tuỳ theo điều kiện, có HTX tiến hành đổi mới toàn diện nhưng cũng có HTX tiến hành đổi mới từng phần Sự chuyển đổi kịp thời đó đã hạn chế được tình trạng giải thể hàng loạt các HTXMB và tạo cơ sở cho việc xây dựng một số mô hình HTX mới trong thương mại Cùng với sự đổi mới trong tổ chức và hoạt động của các HTX thành lập trước đây, trong giai đoạn này đã có hàng chục HTX mới thành lập theo những mô hình mới, tập trung chủ yếu ở một số thành phố lớn như

Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và một số tỉnh phía Nam như Long

An, Tiền Giang, An giang Mặc dù số lượng HTX thành lập mới còn ít, tốc độ còn chậm và chưa đủ thời gian cần thiết để có thể đánh giá hết những ưu điểm, nhược điểm của những mô hình mới nhưng là dấu hiệu tốt, tạo cơ sở cho các địa phương xây dựng điểm, từ đó rút kinh nghiệm để có thể vận động thành lập ở những nơi khác

- Với sự tác động của sự chuyển đổi cơ chế , mô hình HTX kiểu cũ đã bộc

lộ những yếu kém, lệch lạc, không phù hợp với cơ chế mới Trong cơ chế mới, quan hệ kinh tế truyền thống giữa HTXMB với thương nghiệp quốc doanh và giữa kinh tế tập thể với nhau đã thay đổi, làm cho HTXMB lâm vào tình trạng hết sức khó khăn, lúng túng Từ chỗ, HTXMB là trợ thủ đắc lực của TNQD, gần như

được nắm trọn khâu mua và bán đại lý cho TNQD đến chỗ bị bỏ rơi Về phía sản xuất, các nhà máy, xí nghiệp thuộc kinh tế quốc doanh đã tổ chức mạng lưới đại

lý phân phối hoặc đại lý thu mua riêng, hoặc là sử dụng thương nghiệp tư nhân, hoặc là giao dịch trực tiếp với nông dân Từ chỗ HTXNN là đối tác liên kết, xã viên HTXNN đồng thời là xã viên HTXMB đến chỗ hộ gia đình nông dân là đơn

vị sản xuất kinh doanh độc lập, tự chủ, trực tiếp quan hệ với thị trường

Tóm lại, trong giai đoạn này, để tồn tại và phát triển, phần lớn các HTXMB đều phải bươn chải, tự thân vận động trong cơ chế mới Những kết quả trong đổi mới tổ chức, quản lý và nội dung hoạt động đã góp phần ngăn chặn đà suy giảm của các HTXMB, góp phần nhất định vào việc mở rộng lưu thông hàng hoá, phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân Cũng chính nhờ quá trình tự

đổi mới trong nhiều HTXMB, khi Nhà nước ban hành Luật HTX (1996), công tác chuyển đổi của các HTX đó nhanh chóng và thuận lợi hơn so với các HTX khác

1.2 Quản lý nhà nước đối với HTXTM

- Khi chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, vai trò quản lý nhà nước đối với kinh tế HTX trong lĩnh vực thương mại-dịch vụ khá mờ nhạt, hoạt động của các HTXMB gần như tự phát Trong cả một thời kỳ dài (1990-1996), trước khi có Luật HTX, ngoài văn bản qui định về đăng ký kinh doanh cho các HTX, Chính phủ và các bộ, ngành thiếu các văn bản qui phạm pháp luật để quản lý các HTX nói chung, HTXTM nói riêng

- Do nhận thức sai lệch và cả quan điểm chưa thống nhất ở cán bộ các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương về sự tồn tại, vai trò, vị trí, ý nghĩa đích

Trang 39

thực và tính chất của HTXMB; vì vậy, các cơ quan quản lý có liên quan thiếu quan tâm theo dõi, giúp đỡ, củng cố, xây dựng HTX; lúng túng trong tổ chức, quản lý, chỉ đạo Thậm chí, có nhiều địa phương thả nổi, hoặc phủ định hình thức

tổ chức chủ yếu của kinh tế tập thể là các HTX, dẫn đến tình trạng giải thể, sáp nhập vào tổ chức kinh tế khác, đem bán, cho thuê, đóng cửa không hoạt động hoặc thu hồi địa điểm một cách tuỳ tiện

- Trong khi các HTX cần sự hỗ trợ của Nhà nước để tồn tại, đổi mới và phát triển thì việc cụ thể hoá các quan điểm, đường lối của Đảng thông qua các Nghị quyết VI, VII thành pháp luật, cơ chế, chính sách cho các HTX hoạt động

bị chậm trễ Nhiều khó khăn, vướng mắc trong kinh doanh chưa được các cơ quan, các ngành có liên quan xem xét, tháo gỡ, hướng dẫn cụ thể, kịp thời, đồng

bộ, tập trung chủ yếu là chính sách đất đai, thuế, tín dụng và các chính sách đối với cán bộ (tiền lương và bảo hiểm xã hội v.v ) Từ đó, dẫn đến tình trạng mỗi

địa phương, mỗi đơn vị tự tìm tòi phương án củng cố và phát triển các HTX cho riêng mình Vì vậy, kết quả củng cố các HTXMB đạt thấp Việc thực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động của HTXMB theo Quyết định 194/HĐBT của Hội

đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 23 tháng 12 năm 1988 cũng không đạt

được kết quả mong muốn, một phần quan trọng do chưa giải quyết đồng bộ những vướng mắc về cơ chế, chính sách Điều đó cũng phản ánh một thực trạng: trong những năm thực hiện chính sách đổi mới, HTXMB ra đời và hoạt động đã không có những điều kiện và biện pháp quá độ cần thiết (về thời gian, cơ chế, chính sách, mô hình thử nghiệm) để HTX có thể duy trì được hoạt động, thích nghi dần với môi trường hoạt động mới, vừa hoạt động vừa chuyển hoá, vừa tồn tại vừa tăng trưởng

Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò quản lý Nhà nước đối với kinh tế HTX nói chung, HTXTM nói riêng đã bị các cấp, các ngành coi nhẹ

“Quản lý Nhà nước về thương nghiệp còn nhiều yếu kém, không ít tiêu cực” ”HTXMB không được quan tâm giúp đỡ để đổi mới, hầu hết bị tan rã” (Nghị quyết 12-NQ/TW năm 1996 của Bộ Chính trị)

- Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ cốt cán, đặc biệt là ở HTXMB cơ sở

và quận, huyện không ổn định, thường được bố trí sau mỗi lần thay đổi nhân sự của cấp uỷ Đảng và chính quyền cơ sở; yếu kém và hạn chế về trình độ, kinh nghiệm, kiến thức tổ chức, quản lý và nghiệp vụ kinh doanh, thiếu nhạy cảm với diễn biến của thị trường, ít được đào tạo và bổ sung phù hợp với yêu cầu kinh doanh, khi chuyển sang cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác thì lâm vào tình trạng lúng túng, mất phương hướng hoạt động

2 Thời kỳ từ năm 1996 đến nay

2.1 Đặc điểm về qui mô, tổ chức và hoạt động của các HTXTM

2.1.1 Quá trình chuyền đổi mô hình tổ chức, kinh doanh của các HTXTM

Luật HTX được Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ IX thông qua ngày 20/3/1996 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1997 đánh dấu sự đổi mới nhận

Trang 40

thức về vị trí, vai trò của hợp tác xã đối với phát triển kinh tế-xã hội nói chung, với lĩnh vực thương mại nói riêng Đảng và Nhà nước ta đã nhất quán trong chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế hợp tác xã

là một bộ phận quan trọng

Sau khi Luật HTX có hiệu lực, các bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ của mình đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nhìn chung, các văn bản dưới Luật được xây dựng tương đối đồng bộ, tạo khung pháp lý để triển khai thực hiện Do đó, so với một số ngành khác, quá trình chuyển đổi và phát triển các HTX thương mại mói chung và các HTXTM ở địa bàn nông thôn nói riêng

đã diễn ra tương đối nhanh, rộng và khác về chất so với thời gian trước khi có Luật

Một số đặc điểm chủ yếu trong quá trình chuyển đổi, thành lập mới các HTX:

2.1.1.1 Chuyển đổi từ HTXMB sang HTXTM theo luật HTX

Đa số các HTXTM thành lập trước khi có Luật HTX(1996) đã được chuyển đổi; số HTXTM thành lập mới tăng liên tục hàng năm

So với các ngành khác, chuyển đổi các HTX trong ngành Thương mại

được coi là khó khăn nhất Sở dĩ có nhận định như vậy vì loại hình này đã bị biến dạng và tan rã nhiều trong những năm đầu thực hiện cơ chế thị trường Tuy nhiên, với sự chỉ đạo tích cực của các cơ quan quản lý nhà nước (cả ở trung ương

và địa phương), sự cố gắng của các HTX quá trình chuyển đổi và đăng ký lại của các HTXMB theo Luật HTX (1996) ở nhiều tỉnh, thành phố đã đạt được một số kết quả khả quan

Từ khi có Luật HTX, tình trạng giải thể hàng loạt các HTMB ở các địa phương về cơ bản đã chấm dứt Tại thời điểm cuối năm 1996, cả nước có 225 HTXMB thuộc diện chuyển đổi và có nguyện vọng chuyển đổi theo Luật Đến nay, có 212 HTX đã được chuyển đổi và cấp đăng ký kinh doanh, chiếm tỷ lệ gần 94,5 %, riêng các tỉnh phía Nam đã cơ bản hoàn thành Những HTX còn lại (12 HTX ở Thanh Hoá và 1 HTX ở Hà Nội) đang trong quá trình hoàn tất thủ tục chuyển đổi do còn một số vướng mắc chưa giải quyết được, đặc biệt là những vướng mắc về công nợ, tài sản, đất đai Một số HTX do không còn khả năng hoạt động theo Luật HTX nên đang làm thủ tục giải thể hoặc dự kiến giải thể Trong đó, thành phố HCM có 6 HTX, Hà Nội có 2 HTX

- Từ năm 1996 đến cuối năm 2000: cả nước có 149 thành lập mới theo Luật HTX và Điều lệ mẫu HTX Thương mại Khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long có tỷ lệ cao nhất về số lượng các HTX thành lập mới (26,62% và 25,90%) Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Bắc có số lượng HTX mới thành lập ít nhất (2,16% và 1,44%) Trước khi có Luật HTX, một số tỉnh còn rất

ít, thậm chí vắng bóng HTXTM như Hải Phòng, Hải Dương, nay đã phát triển mới từ 10- 20 HTX Những tỉnh miền núi có nhiều khó khăn như Gia Lai, Đắc Lắc, Lạng Sơn cũng đã phát triển mới được 4-15 HTX

Ngày đăng: 15/05/2014, 13:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Một số chỉ tiêu về kế hoạch sản xuất kinh doanh của HTXTM -  dịch vụ của một số tỉnh - phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã thương mại việt nam giai đoạn 2005 - 2010
Bảng 3 Một số chỉ tiêu về kế hoạch sản xuất kinh doanh của HTXTM - dịch vụ của một số tỉnh (Trang 52)
Bảng 4: Số l−ợng qui mô xã viên của HTXTM- dịch vụ của một số tỉnh - phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã thương mại việt nam giai đoạn 2005 - 2010
Bảng 4 Số l−ợng qui mô xã viên của HTXTM- dịch vụ của một số tỉnh (Trang 53)
Bảng 1: Tổng số các HTXTM tại các thời điểm: - phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã thương mại việt nam giai đoạn 2005 - 2010
Bảng 1 Tổng số các HTXTM tại các thời điểm: (Trang 119)
Bảng 3: Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động  kinh doanh của  HTXTM - dịch vụ của một số tỉnh - phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã thương mại việt nam giai đoạn 2005 - 2010
Bảng 3 Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh của HTXTM - dịch vụ của một số tỉnh (Trang 121)
Bảng 4: Dự báo một số chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh  HTXTM - dịch vụ của một số tỉnh thời kỳ 2005 – 2010 - phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã thương mại việt nam giai đoạn 2005 - 2010
Bảng 4 Dự báo một số chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh HTXTM - dịch vụ của một số tỉnh thời kỳ 2005 – 2010 (Trang 131)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w