1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn nghiên cứu sinh trưởng và chăm sóc cây hoàng đằng fibraurea tinctoria lour trồng năm thứ 3 tại xã thông thụ, huyện quế phong, tỉnh nghệ an

68 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sinh trưởng và kỹ thuật chăm sóc cây hoàng đằng Fibraurea tinctoria Lour trồng năm thứ 3 tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Hoài Nam
Người hướng dẫn TS. Hồ Ngọc Sơn
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 4,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU (10)
    • 1.1. Đặt vấn đề (10)
    • 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài (11)
    • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (11)
      • 1.3.1. Ý nghĩa khoa học (11)
      • 1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn (11)
      • 1.3.3. Ý nghĩa trong học tập (11)
  • Phần 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 2.1. Cơ sở khoa học (12)
    • 2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước (12)
      • 2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (12)
      • 2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước (14)
    • 2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu (20)
      • 2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu (20)
  • Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.1 Đối tượng (25)
      • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (25)
      • 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu (25)
      • 3.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (25)
    • 3.2. Nội dung nghiên cứu (25)
      • 3.2.1. Các biện pháp chăm sóc (25)
      • 3.2.2. Đánh giá sinh trưởng (25)
      • 3.2.4. Tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ cây Hoàng đằng trồng năm thứ 3 (25)
    • 3.3. Phương pháp nghiên cứu (26)
      • 3.3.1. Phương pháp kế thừa số liệu (26)
      • 3.3.2. Phương pháp điều tra sinh trưởng của Hoàng đằng (26)
      • 3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu (31)
  • Phần 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (32)
    • 4.1. Chăm sóc Hoàng đằng (32)
    • 4.2. Sinh trưởng của cây Hoàng đằng năm thứ 3 (34)
      • 4.2.1. Kết quả sinh trưởng đường kính (34)
      • 4.2.2. Kết quả sinh trưởng chiều cao (36)
      • 4.2.3. Kết quả động thái ra lá nón (37)
      • 4.2.4. Kết quả tỷ ra chồi cây Hoàng đằng (0)
    • 4.3. Tỷ lệ sống, chất lượng và tỷ lệ ra mầm của cây Hoàng đằng (40)
      • 4.3.1. Tỷ lệ sống (40)
      • 4.3.2. Chất lượng cây Hoàng đằng (40)
    • 4.4. Tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ cây Hoàng Đằng trồng năm thứ 3 (41)
      • 4.4.1. Kết quả thành phần sâu hại và mức độ gây hại với cây Hoàng Đằng tuổi 3 (41)
      • 4.4.2. Kết quả thành phần bệnh hại và mức độ gây hại với cây Hoàng Đằng tuổi 3 (43)
    • 4.5. Đề xuất các biện pháp chăm sóc, phong trừ sâu bệnh hại (0)
  • Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (45)
    • 5.1. Kết luận (45)
    • 5.2 Kiến nghị (45)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (47)

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong thời gian nghiên cứu đề tài sinh trưởng của cây Hoàng đằng - Fibraurea tinctoria Lour trồng năm thứ 3 tại xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An , em đã nhận được rấ

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học

Cây Hoàng đằng, thuộc Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIA) theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, đang bị khai thác quá mức cho mục đích thương mại Theo Sách đỏ Việt Nam (1996), cây có khả năng tái sinh chồi trên thân già và rễ vào mùa xuân, nhưng hiếm gặp cây cái do khả năng tái sinh bằng hạt rất thấp Cây sống dưới tán rừng thứ sinh, ở độ cao từ 10 - 200 m, ưa ẩm và mọc trên đất cát lẫn đất đá Với nguy cơ tuyệt chủng cao, việc gây trồng cây Hoàng đằng là cần thiết để phát triển và bảo tồn nguồn gen quý hiếm này.

Cây Hoàng đằng được liệt kê trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIA) theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, nhằm hạn chế khai thác vì mục đích thương mại Theo Sách đỏ Việt Nam (1996), Hoàng đằng có khả năng tái sinh chồi trên thân già và rễ vào mùa xuân, nhưng cây cái hiếm gặp do khả năng tái sinh bằng hạt rất thấp Cây thường sống dưới tán rừng thứ sinh, ở độ cao từ 10 đến 200 m, trên đất cát và đất đá, ưa ẩm Hiện nay, cây đang bị khai thác quá mức để làm nguyên liệu dược liệu, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng cao Do đó, việc gây trồng cây Hoàng đằng là cần thiết để phát triển và bảo tồn nguồn gen của loài cây quý hiếm này.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:

Chữa bệnh bằng cây cỏ đang trở thành xu hướng toàn cầu, theo Hoàng Tích Huyền (2011) Trong 30 năm qua, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã nghiên cứu hơn 40.000 mẫu cây thuốc và phát hiện hàng trăm loại có khả năng chữa trị ung thư Hiện nay, 25% đơn thuốc tại Mỹ sử dụng chế phẩm dược tính từ thực vật Tại Madagascar, cây Hồng hoa (Catharanthus roseus) được sử dụng để điều trị bệnh máu trắng ở trẻ em, giúp tăng tỉ lệ sống cho các em.

Lê Tùng Châu và Nguyễn Văn Tập (1996) đã nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc và bản chất hóa học của dược liệu, cho thấy hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch tự nhiên Tác dụng kháng khuẩn của chúng chủ yếu đến từ các hợp chất tự nhiên như sulfua, saponin (trong Allium odium), becberin (trong Coptis chinensis Franch) và tamin (trong Zizyphus jujuba Miller) Mỗi loài cây có công năng riêng và được sử dụng theo bản sắc dân tộc tại từng địa phương.

Các vùng nhiệt đới trên thế giới, như lưu vực sông Amazon, Đông Nam Á, Ấn Độ - Malaixia và Tây Phi, chứa đựng một kho tàng cây cỏ phong phú và tri thức sử dụng đa dạng Những khu vực này có tiềm năng lớn trong nghiên cứu và phát triển dược phẩm mới từ thực vật.

Theo Tran Cong Khanh và cộng sự (2002), Trung Quốc không chỉ có nền y học cổ truyền của người Hán mà còn có các nền y học dân tộc cổ truyền của các cộng đồng không phải người Hán, với dân số khoảng 100 triệu người Những nền y học này sử dụng khoảng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc, trong đó có 5 nền y học chính: y học cổ truyền Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài), Ugur và Thái (800 loài).

- Nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của cây Hoàng đằng trên thế giới

Gao-Xiong Rao và các cộng sự (2009) đã nghiên cứu các thành phần hóa học của cây Hoàng đằng bằng phương pháp phân tích quang phổ, phát hiện ra một loại alkaloid mới là 1,2-methylenedioxy-8-hydroxy-6a (R)-aporphine Thân cây Hoàng đằng được biết đến như một loại thảo dược có hiệu quả trong việc chống nấm.

Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) chứa các hoạt chất có khả năng chống viêm và chống ôxy hóa, bao gồm Furanoditerpene glucosides Nghiên cứu của Irokawa và cộng sự (Phytochemistry, 1986) đã chỉ ra sự hiện diện của các hợp chất này trong Hoàng đằng.

3 diterpenglycosist là tenophylloside 3, fibleucinoside 4 và fibraurinoside 5 Trước đó một số tác giả đã phát hiện 2 diterpen khác là fibleucine 1 và fibraucine

Hoàng đằng có tác dụng ức chế các bệnh do vi trùng gây ra, đặc biệt là trong việc điều trị lị trực trùng Thành phần chính của Hoàng đằng là palmatin, chiếm tỷ lệ từ 1-3,5%, cùng với một lượng nhỏ jatrorrhizin và columbamin.

+ Công dụng, tầm quan trọng của alkaloid và nguyên liệu chứa alkaloid

Alkaloid là những hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh và có nhiều chất độc Tác dụng của alkaloid có thể khác nhau, và các nguyên liệu thu hái không phải lúc nào cũng mang lại tác dụng giống như alkaloid tinh khiết Chúng ta cần xem xét tổng quát các tác dụng khác nhau của alkaloid, bao gồm cả liều điều trị và độc tính.

Nhiều alkaloid ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, với tác dụng ức chế như morphin, codein, scopolamin, reserpin, hoặc kích thích như strychnin, cafein, lobelin Một số chất tác động lên hệ thần kinh giao cảm, gây kích thích như ephedrin, hordenin, trong khi các chất như ergotamin, yohimbin làm liệt hệ thần kinh giao cảm Ngoài ra, có những chất kích thích phó giao cảm như philocarpin, eserin, và các chất gây liệt phó giao cảm như hyoscyamin, atropin, cùng với những chất phóng bế hoạch giao cảm như nicotin, spartein, conin.

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:

Hoàng đằng, còn được gọi là Hoàng liên đằng, dây vàng giang, và Nam hoàng liên, là vị thuốc được chiết xuất từ thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria hoặc Fibraurea recisa) Cây này phân bố rộng rãi trên thế giới, từ Ấn Độ, Malaysia, Lào, Campuchia, Philippines đến Indonesia Tại Việt Nam, Hoàng đằng được tìm thấy ở các tỉnh như Hòa Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam.

Cây sống dưới tán rừng thứ sinh ở các khu vực như Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kom Tum (Đăk Gle, Sa Thầy) và Lâm Đồng (Đan Kia, Bảo Lộc) thường phát triển ở độ cao từ 10 đến 200m Chúng mọc trên đất hoặc trên đất lẫn đá, ưa ẩm và thường xuất hiện hoang dã ở ven rừng, nơi có độ ẩm cao, trong các thung lũng và dọc bờ suối.

Sách đỏ Việt Nam (1996) xếp Hoàng đằng vào tình trạng cấp V, có nguy cơ tuyệt chủng do nạn phá rừng và khai thác bừa bãi Danh mục đỏ Việt Nam phân hạng Hoàng đằng ở hạng VU a1b, c, d, với lý do mặc dù có phân bố rộng nhưng nhiều khu rừng bị chặt phá nghiêm trọng Cây Hoàng đằng cũng bị khai thác để làm thuốc Để bảo vệ loài này, cần cấm phá rừng và có kế hoạch luân chuyển để cây kịp tái sinh Tại Quảng Bình, tỉnh có rừng che phủ cao, cơn sốt tìm kiếm Hoàng đằng đã dẫn đến việc hạ sát những khoảnh rừng cấm, trong khi nhiều người dân không biết rõ công dụng của Hoàng đằng nhưng vẫn đổ xô tìm kiếm vì giá trị kinh tế cao.

Tất cả các bộ phận của cây Hoàng đằng, bao gồm thân cây, rễ và lá, đều được tiểu thương thu mua với giá cao Sau đó, sản phẩm này được xuất khẩu sang Trung Quốc để sử dụng trong ngành thuốc bắc.

Hoàng đằng là cây thuốc quý, được sử dụng để thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu và chữa trị nhiều bệnh như viêm ruột cấp tính, đau họng, viêm kết mạc, và bệnh hoàng đảm Rễ cây Hoàng đằng có giá trị cao, dẫn đến việc khai thác bừa bãi, ảnh hưởng đến môi trường Người dân thường bán rễ Hoàng đằng cho thương lái với giá từ 5.000-10.000 đồng/kg, trong khi giá tiêu thụ có thể lên tới 17.000-18.000 đồng/kg Để bảo vệ nguồn tài nguyên này, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình đã bắt giữ 60.458kg Hoàng đằng vào năm 2009.

Ngọc Lý (2010) cho biết Trung tâm tư vấn, quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á (CIRUM) đã khảo sát tình hình cây dược liệu tại Lạng Sơn và cảnh báo về sự cạn kiệt nguồn thuốc nam Tổ chức này đã sưu tầm các cây thuốc quý để bảo tồn tại các khu vườn thuốc nam ở địa phương Tuy nhiên, nhiều cây thuốc quý khó tìm kiếm và nhân giống Nếu không có chính sách bảo vệ kịp thời từ các cấp chính quyền, nguồn dược liệu quý ở vùng Đông Bắc sẽ sớm biến mất.

Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

- Tọa độ: Nằm trong khoảng 19 o 26’ đến 20 o vĩ độ Bắc, 104 o 30’ đến 105 o 10’ kinh Đông

- Địa giới hành chính của huyện trải rộng trên 13 xã và 01 thị trấn:

+ Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá

+ Phía Nam giáp huyện Tương Dương

+ Phía Đông giáp huyện Quỳ Châu

+ Phía Tây giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, Nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào

Huyện Quế Phong cách thành phố Vinh 180km, có 15km đường quốc lộ

Huyện có 48 tuyến đường chạy qua, nhưng giao thông nội huyện và kết nối kinh tế với bên ngoài vẫn gặp nhiều khó khăn Nằm trong vùng kinh tế Tây Nghệ An đã được Thủ tướng phê duyệt, huyện này giữ vị trí quan trọng và chiến lược về an ninh quốc phòng.

Trong vùng có 3 dạng địa hình chính: a Địa hình đồi núi cao

Khu vực này nổi bật với địa hình đặc trưng, bao gồm các dải núi cao trên 1.000m, chủ yếu tập trung ở ba xã Đồng Văn, Thông Thụ và Hạnh Dịch Địa hình bị chi cắt mạnh bởi các dãy núi cao và hệ thống sông suối dày đặc, trong đó có dãy núi Trường Sơn với độ cao từ 1.600 đến 1.828m, núi Chóp Cháp cao 1.705m, và đỉnh Phù Hoạt, đỉnh cao nhất với 2.452m, cùng với núi Pả Môn (1.197m) và núi Canh.

Cỏ (1.123m) và Núi Mong (1.071m) có địa hình dốc trên 30 độ, dễ xảy ra sạt lở và trượt đất, chiếm gần 52% diện tích tự nhiên Đây là vùng thượng lưu của hai con sông lớn, sông Chu và sông Hiếu Thảm thực vật chủ yếu là rừng cây tự nhiên, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì độ che phủ đất rừng, bảo vệ môi trường và điều hòa khí hậu trong khu vực.

Khu vực này bao gồm các dãy đồi núi có độ cao trung bình từ 250 đến 850m, nằm ở phía Tây Nam của huyện, tập trung chủ yếu ở các xã Châu Thôn, Cắm Muộn, Quang Phong, Nậm Nhoóng, Tri Lễ và Nậm Giải Diện tích của khu vực chiếm 50% tổng diện tích tự nhiên, với thảm thực vật chủ yếu là rừng tự nhiên và rừng trồng đặc sản như quế, cùng với các loại rừng nguyên liệu gỗ như keo lai, mỡ, trám Ngoài ra, còn có diện tích đất đồi núi chưa sử dụng, có tiềm năng khai thác cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm trồng cây ăn quả, làm nương rẫy, ruộng bậc thang và trồng rừng theo mô hình nông lâm kết hợp.

Các thung lũng nằm dưới chân núi cao và dải đất bằng dọc hai bên bờ suối có diện tích từ 300 đến 400 ha, chủ yếu tập trung ở các xã Mường Nọc, Châu Kim, Quế Sơn, Tiền Phong và thị trấn Kim Sơn Với độ dốc từ 3 - 5 độ, khu vực này rất thuận lợi cho canh tác, trở thành vùng sản xuất lúa, rau và màu lớn của huyện Quế Phong Sông suối phân bố tương đối đều trên địa bàn, tạo điều kiện cho hoạt động nông nghiệp phát triển.

Huyện Quế Phong có 04 con sông chính, phân bố đều từ Tây Bắc sang Tây Nam:

- Sông Chu bắt nguồn từ Lào chảy qua các xã Đồng Văn, Thông Thụ, huyện Quế Phong về Thanh Hoá

- Sông Nậm Việc (đầu nguồn sông Hiếu) bắt nguồn từ biên giới và huyện qua xã Hạnh Dịch chảy về phía Nam huyện vào địa phận huyện Quỳ Châu

- Sông Nậm Quàng là một nhánh lớn của sông Hiếu bắt nguồn từ biên giới Việt Lào ở xã Tri Lễ dài 71km, diện tích lưu vực 594,8km 2

Sông Nậm Giải, một nhánh của sông Hiếu, bắt nguồn từ biên giới Việt Lào, dài 43km và chảy qua các xã Châu Kim, Mường Nọc Với hệ thống sông suối dày đặc và địa hình cao, khu vực này có tiềm năng lớn để phát triển các công trình thủy điện phục vụ lợi ích quốc gia và xã hội Hiện tại, huyện đã có 06 công trình thủy điện được đầu tư xây dựng, bao gồm Thủy điện Hủa Na, Nhãn Hạt, bản Cốc, Sao Va, sông Quang, và Châu Thôn, với tổng công suất gần 280 MW, trong đó 02 công trình đã đi vào vận hành và hòa vào mạng lưới điện quốc gia.

Thác Sao Va là một điểm đến tuyệt vời cho những du khách yêu thích khám phá vẻ đẹp tự nhiên của huyện Quế Phong.

2.3.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết

Huyện Quế Phong thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia thành 3 khu vực với 2 tiểu vùng khí hậu khác nhau Vùng cao có lượng mưa lớn, độ ẩm cao và nhiệt độ thấp, trong khi vùng thấp có khí hậu ôn hòa Sự khác biệt lớn nhất giữa hai vùng là nhiệt độ mùa hè, với vùng thấp thường cao hơn 2 đến 3 độ C và độ ẩm không khí thấp hơn, dẫn đến thời tiết khô nóng.

- Chế độ gió: Có hai loại gió chính:

Gió Tây Nam (gió Lào) hoạt động từ tháng 4 đến tháng 9 với tốc độ 0,5 m/s, mang đến khí hậu khô nóng, đặc biệt tại các vùng thung lũng và lòng chảo của huyện, dẫn đến nguy cơ xảy ra lốc lớn và mưa đá.

Gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau có tốc độ 0,6m/s, mang theo khí hậu khô hanh, mưa phùn và rét Điều này dễ dẫn đến tình trạng thiếu nước, làm giảm tốc độ sinh trưởng của cây trồng và gia tăng nguy cơ dịch bệnh cho gia súc, gia cầm, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sức khỏe con người.

+ Nhiệt độ trung bình năm từ 22 đến 24 o C

+ Nhiệt độ cao nhất trung bình năm là 34 o C

+ Nhiệt độ trung bình năm thấp nhất là 9 o C

+ Nhiệt độ mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm nhiệt độ cao có ngày lên 38 đến 40 o C

+ Nhiệt độ mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ xuống thấp 2-3oC

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí bình quân 84%, tháng khô nhất 18% (từ tháng 1 đến tháng

3), tháng ẩm nhất 90% (tháng 8 và tháng 9)

Lượng bốc hơi bình quân 638mm, tháng cao nhất 82mm (từ tháng 4 đến tháng 6), tháng thấp nhất 22mm (tháng 12, tháng 1 và tháng 2)

Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.800mm, với sự phân bố theo mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó 70 đến 90% tổng lượng mưa năm rơi vào thời gian này, thường dẫn đến tình trạng ngập lụt, lũ quét và lũ ống Mùa khô diễn ra từ tháng 11 đến tháng 4.

4 năm sau, lượng mưa thấp nên dễ gây thiếu nước, khô hạn ở một số nơi Số ngày mưa trên 190 ngày/năm

2.3.1.4 Về đất đai thổ nhưỡng

Huyện Quế Phong có tổng diện tích tự nhiên là 189.543,45 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 2,89%, đất lâm nghiệp chiếm 65,2% và đất chưa sử dụng chiếm 33,41% Thành phần đất ở huyện này rất phức tạp, đặc biệt là đá mẹ.

2.3.1.5 Về tài nguyên - khoáng sản

Huyện Quế Phong sở hữu hàng trăm hecta rừng nguyên sinh với nhiều loại gỗ quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới như pơ mu, sa mu, Lim, Lát hoa, Đinh hương, Sến, Táu, Kim giao Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều lâm đặc sản và dược liệu quý hiếm như Sa nhân, Hà thủ ô, Nhân trần, Sâm, Câu y, Mộc nhĩ, Nấm hương Huyện cũng là nơi bảo tồn nhiều loài động vật quý hiếm.

Ngoài ra huyện Quế Phong còn nhiều khoáng sản như: đá vôi, cát sỏi, mỏ sét gạch ngói, các mỏ thiếc, quặng sắt,

Huyện Quế Phong được thiên nhiên và con người ban tặng nhiều di tích lịch sử và thắng cảnh đẹp như Đền Chín gian, làng Thái cổ, Thác Sao Va, thác bảy tầng, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, hang Mẹ mòn, và Lòng hồ thủy điện Hủa Na Đây cũng là vùng đất đa dạng về văn hóa với sự hiện diện của nhiều đồng bào dân tộc như Kinh, Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông, Tày, Nùng, Mường, tạo nên bản sắc văn hóa phong phú và đặc trưng.

Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội do Trung ương, bộ ngành quản lý tăng từ

496 tỷ đồng năm 2006 lên 1.837 tỷ đồng năm 2010; do địa phương quản lý tăng từ 90 tỷ đồng năm 2006 lên 530 tỷ đồng năm 2010; trong đó xây dựng cơ bản

Giá trị thực hiện Giao thông nông thôn đạt 150 tỷ đồng, với 55,4 km đường nhựa và 8 km đường bê tông được xây dựng Một số công trình trọng điểm đang thi công bao gồm đường Tiền Phong-Hạnh Dịch, đường vào trung tâm xã Đồng Văn, Nậm Nhóng, đường Kim Sơn-Quế Sơn, và cầu treo bản Quàng xã Châu Tổng giá trị đầu tư cho các dự án này là 490 tỷ đồng.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) tuổi 3 trồng tại xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An

Đề tài nghiên cứu tập trung vào việc chăm sóc và theo dõi sự sinh trưởng của cây Hoàng đằng tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An Nội dung chính bao gồm việc đo đạc đường kính gốc, chiều cao vút ngọn, cũng như theo dõi tình hình sâu bệnh hại và các biện pháp phòng trừ hiệu quả.

3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An

Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Các biện pháp chăm sóc

- Theo dõi về đường kính và chiều cao vút ngọn

- Theo dõi động thái ra lá của cây

3.2.3 Tỷ lệ sống, chất lượng cây hoàng đằng

3.2.4 Tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ cây Hoàng đằng trồng năm thứ 3

3.2.5 Đề xuất 1 số biện pháp chăm sóc và phòng trừ sâu, bệnh hại cho cây Hoàng đằng trồng tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Kế thừa một số nguồn thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa phương của xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An

Kế thừa các tài liệu về nghiên cứu cây Hoàng đằng ở Việt Nam trong các tài liệu sách vở và các trang mạng

3.3.2 Phương pháp điều tra sinh trưởng của Hoàng đằng

3.3.2.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi

Lập 1 OTC có diện tích 500 m 2 tại nơi đang trồng và theo dõi cây Hoàng đằng ở xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An

Chọn ngẫu nhiên trên thực địa và áp dụng phương pháp đo đạc đơn giản để xác định ranh giới của OTC Ranh giới này được thể hiện bằng đường thẳng kéo dài, với khoảng cách đều đặn.

Cắm một cọc ở vị trí dễ nhận biết với chiều cao từ 4 đến 6 mét, sau đó sử dụng thước dây để đo và đánh dấu đường ranh bằng cọc gỗ Tại những nơi có tảng đá hoặc gốc cây lớn, có thể tận dụng để làm mốc Sử dụng dây dựa (dây bao) để căng thành OTC với kích thước 25 x 20 mét, tạo ra diện tích OTC là 500 mét vuông.

500 m 2 Sau khi lập xong OTC đi đánh dấu các cây mà cần điều tra bằng cách cắm cọc có đánh dấu số thứ tự ở từng cây

3.3.2.2 Chăm sóc cây Hoàng đằng

Cây Hoàng đằng cần được chăm sóc trong 3 năm đầu sau khi trồng Trong năm thứ 3, việc chăm sóc được thực hiện 4 lần: lần đầu vào tháng 2-3, lần thứ hai vào tháng 4-6, lần ba vào tháng 7-8, và lần cuối vào tháng 9-10.

Nội dung công việc chăm sóc gồm:

- Trồng dặm những nơi cây sống đạt có tỷ lệ dưới 85%

- Phát dọn dây leo cỏ dại xung quanh gốc, vun xới gốc đường kính 1

- Bón thúc phân NPK 0,2kg/cây/năm

- Sau khi chăm sóc lần 1 của năm thứ 2 tiến hành cắm giá thể leo cho cây

Hoàng đằng, giá thể leo được làm bằng tre, cây gỗ nhỏ đường kính 3-5cm, chiều dài 2-2,5m tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển tốt

3.3.2.3 Phương pháp theo dõi tỉ lệ sống, chất lượng, chiều cao cây, đường kính gốc:

Các chỉ tiêu theo dõi sinh trưởng bao gồm tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính gốc (Doo), sinh trưởng chiều cao (Hvn), và chất lượng cây Hoàng đằng (tốt, trung bình, xấu) Ngoài ra, cần theo dõi động thái ra lá non và tỷ lệ đẻ nhánh của 108 cây trong OTC Dữ liệu sẽ được thu thập định kỳ mỗi tháng một lần, vào ngày 15 hàng tháng.

Tỷ lệ sống của cây được xác định bằng tổng số cây sống X 100/ tổng số cây trong OTC đã lập Qua quan sát đánh giá trực tiếp

Để thu thập số liệu sinh trưởng chiều cao cây Hoàng đằng, cần sử dụng thước dây để đo chiều cao (Hvn) từ gốc cây đến ngọn cao nhất của cây.

Đo sinh trưởng đường kính gốc (Doo) của cây được thực hiện bằng thước Panme theo hai chiều Đông – Tây và Nam – Bắc, sau đó lấy trị số trung bình Chiều cao cây (Hvn) được đo bằng thước có chia tới mm, đồng thời cũng cần đếm số chồi có trên cây.

- Động thái ra lá của cây: đo đếm số lá mới ra của từng cây mới ra theo định kỳ đo đếm mỗi tháng một lần

- Tỷ lệ sống của cây được xác định bằng tổng số cây sống X 100/tổng số cây trong OTC đã lập

Qua quan sát đánh giá trực tiếp Các số liệu thu thập được ghi vào mẫu bảng 3.1

- Chất lượng cây trồng Hoàng đằng được xác định theo 3 cấp quan sát đánh giá trực tiếp:

Cây tốt có thân thẳng, sinh trưởng mạnh mẽ và không bị sâu bệnh, trong khi cây xấu thường cong queo, cụt ngọn, và dễ bị sâu bệnh tấn công.

Còn lại là cây có chất lượng trung bình

Số liệu thu thập được ghi vào mẫu bảng 3.1

Bảng 3.1: : Phiếu đo đếm cây sống, sinh trưởng đường kính gốc, chiều cao vút ngọn, chất lượng và động thái ra lá , ra chồi cây Hoàng đằng

Người đo đếm: Ngày đo đếm

Chất lượng Số lá mới ra

- Động thái ra lá của cây được theo dõi đồng thời theo định kỳ đo các chỉ tiêu sinh trưởng khác

Tỷ lệ đẻ nhánh tính bằng tỷ lệ số cây đẻ nhánh

3.3.2.4 Theo dõi sâu bệnh hại

- Nghiên cứu xác định thành phần sâu hại cây Hoàng đằng trên 108 cây trong OTC

- Nghiên cứu hiệu quả của một số thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong phòng trừ các loài sâu hại chính trên cây Hoàng đằng

Để kiểm soát sâu hại, cần thường xuyên quan sát và áp dụng biện pháp bắt diệt bằng phương pháp cơ giới khi phát hiện Nếu số lượng sâu hại vượt quá mức cho phép và không thể bắt hết, việc phun thuốc là cần thiết Kết quả thu thập tình hình sâu hại sẽ được ghi vào mẫu bảng 3.2.

Bảng 3.2 Phiếu theo dõi sâu hại lá

Loài sâu hại: Khu vực: Lần đo: Người đo đếm: Ngày đo đếm

STT cây Tổng số lá Số lá bị sâu hại ở các cấp

108 Đánh giá sâu hại theo tháng:

Cấp 0: Lá không bị hại

Cấp 1: Lá bị hại dưới 25 %

Cấp 2: Lá bị hại từ 25 đến 50 %

Cấp 3: Lá bị hại từ 51 đến 75 %

R (%) : Là mức độ bị hại trung bình ni : Là số cây bị hại ở cấp hại i vi : Là trị số của cấp hại i

N : Là tổng số cây điều tra

V : Là trị số cấp bị hại cao nhất (V=4)

Khi phát hiện sâu hại, cần thường xuyên quan sát và áp dụng biện pháp bắt diệt bằng phương pháp cơ giới Nếu số lượng sâu quá lớn không thể bắt hết, việc phun thuốc là cần thiết.

Để ngăn chặn bệnh hại lá, cần thường xuyên quan sát và áp dụng các biện pháp cơ giới Nếu bệnh hại trở nên nghiêm trọng, cần nhổ bỏ cây bị bệnh hoặc phun thuốc điều trị Kết quả thu thập sẽ được ghi vào mẫu bảng 3.3.

Bảng 3.3 Phiếu theo dõi bệnh hại lá

Loài sâu hại: Khu vực: Lần đo:

Người đo đếm: Ngày đo đếm

STT cây Tổng số lá Số lá bị bệnh hại ở các cấp

108 Điều tra, đánh giá mức độ bệnh hại lá, trên các cây điều tra tiến hành đếm tất cả các lá và được phân cấp như sau:

Cấp 0: Những lá không bị hại

Cấp 1: Những lá bị hại dưới 1/4diện tích lá

Cấp2: Những lá bị hại từ 1/4 - 1/2 diện tích lá

Cấp 3: Những lá bị hại từ trên 1/2 – 3/4 diện tích lá

Cấp 4: Những lá bị hại >3/4 diện tích lá

Trong đó: R: Là chỉ số bệnh n : Số lá bị hại ở mỗi cấp v : Là trị số cấp bệnh tương ứng

N : Là tổng số lá theo dõi

V : Là trị số của cấp cao nhất (V luôn luôn bằng 4)

Sau khi có R% chúng ta có thể đánh giá mức độ hại như sau :

* Sử dụng các loại thuốc phòng bệnh:

Dựa trên kết quả điều tra và đánh giá, cần xác định các loại sâu bệnh hại trong khu vực trồng Hoàng Đằng Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải được cân nhắc kỹ lưỡng, tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc, đúng liều lượng và nồng độ, đúng thời điểm và đúng cách.

- Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đối với các loài sâu hai khi chúng hại cây ở mức tới ngưỡng gây hại (hại nặng trở lên)

- Thuốc phòng chống nấm cần phun theo định kỳ vao những tháng có độ ẩm cao, có khả năng gây bệnh hại nặng cho cây

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được đã được phân tích và xử lý bằng các phương pháp thống kê, so sánh, sử dụng phần mềm Excel trên máy tính để thực hiện tính toán và xử lý dữ liệu.

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Chăm sóc Hoàng đằng

- Cây Hoàng đằng sau khi trồng được chăm sóc trong 3 năm đầu Chăm sóc cây Hoàng đằng năm thứ 2, cây cần chăm sóc trong 4 lần 1 năm

Hình 4.1: Làm cỏ cho cây Hoàng đằng

* Chăm sóc lần thứ một vào tháng 3-4 :

Chăm sóc gồm các bước: Phát dọn dây leo, cỏ dại trong diện tích trồng Hoàng đằng

Làm cỏ sạch xung quanh gốc cây đường kính 1m , khi phát cỏ chủ ý tránh dây Hoàng Đằng lẫn trong dây leo, cỏ dạị

Tiến hành tỉa thưa cây keo trồng xen với cây Hoàng Đằng ở những khu vực có tán lá dày (độ tàn che > 0,5) là cần thiết Việc tỉa thưa cần được thực hiện đồng đều, tránh tình trạng quá thưa hoặc quá dày, nhằm đảm bảo không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây Hoàng Đằng.

Hình 4.2: Phát dọn, tỉa thưa cho cây Hoàng đằng

Sau khi hoàn tất việc phát dọn và tỉa thưa, cần quan sát để xác định những cây đã chết và tiến hành trồng dặm cây mới nhằm đảm bảo mật độ cây trồng Sau khi trồng dặm, sử dụng cuốc để vun xới gốc cây với đường kính 1m và bón phân NPK với liều lượng 0,2kg/cây/năm đều xung quanh gốc, lưu ý không bón phân sát gốc cây.

Hình 4.3: Cắm cọc làm giá thể leo cho Hoàng đằng

Tiến hành cắm giá thể leo cho cây Hoàng Đằng bằng cây keo tỉa thưa có đường kính 3-5cm và chiều dài 2-3m Một đầu của cây keo được cắm sát gốc Hoàng Đằng, trong khi đầu còn lại được buộc vào cây gỗ gần nhất Cách làm này tạo thành giá thể vững chắc cho cây Hoàng Đằng leo lên, giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt.

Vào tháng 4-5, các loài cây cỏ phát triển mạnh mẽ, do đó cần chăm sóc kịp thời để tránh ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây Sự cạnh tranh về không gian và dinh dưỡng từ các loài cỏ dai và dây leo có thể gây hại cho cây trồng Việc chăm sóc lần này bao gồm việc phát toàn bộ các loài cây cỏ và dây leo, đồng thời kiểm tra và bổ sung các cọc giá thể leo cho cây Hoàng đằng, thay thế những cọc bị hỏng và mất.

Vào tháng 7-8, các loài cây cỏ sinh trưởng mạnh mẽ, do đó cần chăm sóc kịp thời để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển của cây Sự cạnh tranh về không gian và dinh dưỡng từ các loài cỏ dai và dây leo có thể gây hại cho cây trồng Trong lần chăm sóc này, cần phát toàn bộ các loài cây cỏ và dây leo Đồng thời, kiểm tra và bổ sung kịp thời các cọc giá thể leo của cây Hoàng đằng bị hỏng hoặc mất.

Mặc dù đã vào mùa đông, nhiệt độ vẫn cao và cây cỏ vẫn tiếp tục sinh trưởng Do đó, việc làm cỏ và xới xáo là cần thiết để đảm bảo cây phát triển tốt.

Sinh trưởng của cây Hoàng đằng năm thứ 3

4.2.1.Kết quả sinh trưởng đường kính:

Dựa trên số liệu từ bảng 4.1, chúng tôi đã chuyển đổi thành biểu đồ cột để cung cấp cái nhìn tổng quát về sự tăng trưởng đường kính trung bình qua các lần đo.

Bảng 4.1: Sinh trưởng đường kính trung bình cây Hoàng đằng

Tháng Lần Đo Doo (cm)

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra

Hình 4.4: Biểu đồ sinh trưởng đường kính gốc trung bình cây Hoàng đằng

Cây Hoàng Đằng có tốc độ sinh trưởng đường kính trung bình rất chậm, theo bảng 4.1 và hình 4.4 Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 2, cây tạm ngừng sinh trưởng đường kính Qua 5 lần đo, cây chỉ tăng trưởng đường kính trung bình từ 0,35 cm đến 0,38 cm Tuy nhiên, từ tháng 3 đến tháng 5, cây Hoàng Đằng tại nơi trồng thí nghiệm đã có sự tăng trưởng đường kính gốc.

4.2.2 Kết quả sinh trưởng chiều cao

Từ những số liệu thu thập được khi điều tra ta có bảng 4.2 và hình 4.5 dưới đây:

Bảng 4.2: Sinh trưởng chiều cao trung bình cây Hoàng đằng theo các tháng

Tháng Hvn (cm) Lần đo

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra

Hình 4.5: Biểu đồ sinh trưởng chiều cao trung bình cây Hoàng đằng

Từ bảng 4.2 và hình 4.5 ta thấy cây Hoàng Đằng sinh trưởng chiều cao trung bình không quá nhanh nhưng tăng trưởng nhanh hơn so với đường kính

Từ tháng 1 đến tháng 2, cây chỉ tăng trưởng chiều cao trung bình không đáng kể Tuy nhiên, từ tháng 3 đến tháng 4, chiều cao cây đã tăng từ 72,42 cm lên 75,67 cm Đến tháng thứ 5, cây tiếp tục phát triển, đạt chiều cao từ 75,67 cm đến 77,08 cm.

Trong khu vực thí nghiệm năm thứ 3, cây Hoàng Đằng có sự tăng trưởng chiều cao chậm, mặc dù mỗi tháng đều có sự phát triển nhưng tỷ lệ tăng trưởng không cao và không đồng đều Kết quả đo lần đầu cho thấy sự chênh lệch chiều cao giữa các cây trong ô tiêu chuẩn rất lớn, với cây thấp nhất chỉ đạt 19 cm và cây cao nhất lên tới 320 cm Như vậy, Hoàng Đằng tại nơi trồng thí nghiệm đã có sự tăng trưởng chiều cao từ tháng 3 đến tháng 5.

4.2.3 Kết quả động thái ra lá nón

Từ những số liệu thu thập được khi điều tra ta có bảng 4.3 và hình 4.6 dưới đây:

Bảng 4.3: Động thái ra lá cây Hoàngđằng

Tháng Lá / cây Lần đo

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra

Hình 4.6 : Biểu đồ động thái ra lá cây trung bình Hoàng đằng

Theo bảng 4.3 và hình 4.6, cây Hoàng đằng liên tục tăng số lá qua các tháng Cụ thể, từ tháng 1 đến tháng 4, số lá tăng lần lượt là 1,89, 2,38, 2,54 và 2,78 lá Đến tháng 5, cây tiếp tục phát triển với 3,63 lá, cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ vào mùa xuân hè Trong 5 lần đo, tháng 5 ghi nhận số lá cao nhất (3,63 lá), trong khi tháng 1 có số lá thấp nhất (1,89 lá).

Hình 4.7: Lá non cây Hoàng Đằng

4.2.4 Kết quả tỷ lệ ra chồi cây Hoàng đằng

Bảng 4.4: Tỷ lệ ra chồi non cây Hoàng đằng

Tháng Số chồi mới Lần đo

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra

Hình 4.8: Biểu đồ tăng trưởng của chồi

Cây Hoàng đằng là loại dây leo sống dưới tán rừng, cần ánh sáng đầy đủ để phát triển Để thúc đẩy sự sinh trưởng, cây cần ra nhiều lá cho quá trình quang hợp Sau khi trồng, cây Hoàng đằng phải phát triển nhiều chồi mới, bên cạnh chồi chính, nhằm tăng số lượng lá Việc ra chồi non là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng tăng trưởng của cây Kết quả cho thấy chồi non của cây Hoàng đằng sinh trưởng mạnh nhất vào tháng 5.

Hình 4.9: Chồi non cây Hoằng đằng

Tỷ lệ sống, chất lượng và tỷ lệ ra mầm của cây Hoàng đằng

Sau ba năm trồng, tỷ lệ sống của cây Hoàng đằng đạt 90,75%, cho thấy đây là một mức cao Nhờ vào tỷ lệ sống ấn tượng này, số lượng cây cần trồng dặm là rất ít.

4.3.2 Chất lượng cây Hoàng đằng:

Chất lượng cây trồng Hoàng đằng được xác định theo 3 cấp quan sát đánh giá trực tiếp:

Cây tốt có thân thẳng, sinh trưởng mạnh mẽ và không bị sâu bệnh, trong khi cây xấu thường cong queo, cụt ngọn, và dễ bị sâu bệnh tấn công.

Còn lại là cây có chất lượng trung bình

Từ các tiêu chí trên ta có số liệu bảng 4.5 dưới đây

Bảng 4.5:Chất lượng sinh trưởng cây Hoàng đằng

Các chỉ tiêu Tốt Trung Bình Xấu

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra

Mặc dù cây Hoàng Đăng có tỷ lệ sống cao, chỉ 64,8% cây đạt chất lượng tốt, trong khi 35,2% còn lại là cây trung bình và xấu Nguyên nhân chính là do điều kiện lập địa không đồng nhất và sự chăm sóc chưa đều Để đảm bảo cây sinh trưởng tốt, cần chú trọng chăm sóc, đặc biệt là lượng phân bón thúc hàng năm.

Tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ cây Hoàng Đằng trồng năm thứ 3

4.4.1 Kết quả thành phần sâu hại và mức độ gây hại với cây Hoàng Đằng tuổi 3:

Trong quá trình điều tra tại khu vực nghiên cứu xác định được thành phần sâu hại của cây ở bảng 4.6 dưới đây

Bảng 4.6: Thành phần sâu hại

Loài sâu Bộ phân bị hại Tháng gây hại

Thường ăn lá non và lá trưởng thành, sâu thường ăn vào buổi sáng sớm và chiều tối lúc trời mát

Bọ xít muỗi sử dụng vòi chích để xuyên qua mô thực vật, với nước bọt độc hại gây hoại tử trên lá non, cành và trái non Hậu quả là tạo ra các vết sẹo trên lá và trái, dẫn đến biến dạng trái, chết chồi, cành hoặc thậm chí toàn bộ cây Chúng thường hoạt động vào sáng sớm và chiều mát, và có thể chích hút nhựa cả ngày trong những ngày âm u.

Bảng 4.7 Tính R% mức độ hại của sâu Tháng Đánh giá mức độ sâu hại Sâu hại lá (R%)

Hình 4.10 : Lá cây Hoàng đằng bị sâu hại

Cây Hoàng đằng ít bị sâu hại, với mức độ sâu hại thấp Sâu róm thường xuất hiện vào tháng 3-4, trong khi bọ xít muỗi xuất hiện từ tháng 4-5 tại tất cả các khu vực nghiên cứu Mức độ gây hại của chúng chỉ ở cấp rất nhẹ, và trong suốt thời gian sinh trưởng, cây Hoàng đằng chỉ bị hại ở cấp 1.

Sâu hại trong khu vực nghiên cứu ở mức độ nhẹ có thể được kiểm soát bằng biện pháp cơ giới mà không cần phun thuốc Tuy nhiên, khi mức độ sâu hại đạt 3 trở lên, cần sử dụng thuốc Cyper 25EC chứa hoạt chất Cypermethrin và thuốc Antaphos 25EC với hoạt chất Alpha-Cypermethrin 25g/l Việc phát hiện kịp thời loại sâu hại này và xử lý sớm là rất quan trọng để ngăn chặn mức độ hại mạnh.

4.4.2 Kết quả thành phần bệnh hại và mức độ gây hại với cây Hoàng Đằng tuổi 3 :

Trong quá trình điều tra tại khu vực nghiên cứu xác định được thành phần bệnh hại của cây ở bảng 4.6 dưới đây

Bảng 4.8 :Thành phần bệnh hại

Loại bệnh Bộ phận bị hại Tháng hại

Bệnh Đốm Lá Lá trưởng thành 3-5

Hình 4.11 Bệnh đốm lá cây Hoàng đằng

Bảng 4.9: Tính R% mức độ bệnh hại lá

Tháng Đánh giá mức độ hại Bệnh hại lá(R%)

Cây Hoàng đằng ít bị bệnh hại, trong quá trình thí nghiệm chỉ ghi nhận bệnh đốm lá với mức độ hại rất nhẹ, chỉ ở cấp I Bệnh này thường xuất hiện ở góc mép lá hoặc trên bề mặt lá, với những đốm nâu nhỏ dần lan rộng, gây khô héo và rụng lá.

Như vậy, tỷ lệ sâu, bệnh hại trên cây Hoàng đằng ở tất cả khu vực nghiên cứu là rất ít và không gây thiệt hại lớn cho cây

4.5 Đề xuất các biện pháp chăm sóc, phong trừ sâu bệnh hai cho cây Hoàng đằng :

Khi trồng cây, cần lựa chọn giống cây có nguồn gốc rõ ràng và khả năng kháng bệnh tốt Việc trồng cây với mật độ hợp lý, không quá dày và thực hiện tỉa thưa hợp lý sẽ giúp đảm bảo thông thoáng cho cây, từ đó nâng cao hiệu quả sinh trưởng.

Phát hiện sớm triệu chứng bệnh trên cây là rất quan trọng để có biện pháp xử lý kịp thời Đối với cây bị sâu hại, cần chặt bỏ ngay các cành bị ảnh hưởng để ngăn chặn sự lây lan.

Biện pháp phòng trừ sâu hại có thể áp dụng thủ công bằng cách bắt diệt khi mật độ sâu thấp và diện hẹp Tuy nhiên, khi mật độ sâu hại tăng cao, cần sử dụng thuốc đặc trị như Cyper 25EC chứa hoạt chất Cypermethrin và Antaphos 25EC với hoạt chất Alpha-Cypermethrin 25 để phun trừ hiệu quả.

Đề xuất các biện pháp chăm sóc, phong trừ sâu bệnh hại

- Hoàng đằng được chăm sóc đầy đủ theo đúng quy trình sẽ sinh trưởng ổn định và có sức chống chịu sâu bệnh cao

- Cây Hoàng đằng tuổi 3 có tốc độ sinh trưởng về đường kính gốc chậm Trong 5 lân đo cây đạt tăng trưởng đường kính Doo 0.35 tới 0.38 cm

Cây Hoàng đằng 3 tuổi có tốc độ sinh trưởng chiều cao chậm, với sự gia tăng từ 72,24 cm lên 77,08 cm trong 5 tháng điều tra Tuy nhiên, sự phát triển này không đồng đều giữa các cây trong khu vực nghiên cứu.

Cây Hoàng đằng có sự ra lá không đồng đều giữa các mùa, với thời điểm ra lá nhiều nhất vào cuối xuân và đầu hè Đặc biệt, tháng 5 là thời gian cây phát triển mạnh, cho ra số lượng lá mới cao nhất, đạt trung bình 3,63 lá.

- Cây Hoàng đằng ra chồi nhiều nhất vào cuối xuân đầu hè (15 chồi tháng 5)

- Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu có tỷ lệ sống cao 90,75%, chất lượng cây đạt: 64,8% cây tốt, 27,7% cây trung bình, 7,5 % cây xấu

- Trong quá trình theo dõi sâu, bệnh hại cây Hoàng đằng thấy xuất hiện 2 loại sâu: Sâu róm, bọ xít muỗi và bệnh có 1 loài: bệnh đốm lá

Bệnh hại cây Hoàng đằng tại nơi trồng trong thời gian theo dõi vẫn ở mức độ nhẹ, do đó khoá luận chưa áp dụng biện pháp xử lý bằng hóa chất phòng trừ sâu bệnh Vì vậy, chưa có biện pháp phòng trừ nào được đề xuất dựa trên các loại thuốc bảo vệ thực vật.

Do thời gian thực tập khóa luận hạn chế, cùng với điều kiện kinh tế khó khăn và kiến thức còn thiếu trong lĩnh vực nghiên cứu thực vật, khóa luận của tôi vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu sót Để cải thiện chất lượng nghiên cứu trong tương lai, tôi xin đưa ra một số kiến nghị.

Ngày đăng: 21/04/2023, 06:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm