1.2 Mục tiêu của đề tài 1.2.1 Mục tiêu tổng quát Khảo sát, phân tích để đánh giá thực trạng các tác nhân trong chuỗi giá trị rau an toàn từ đó đề xuất những giải pháp, chiến lược nâng
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Tổng quan về chuỗi giá trị rau an toàn trên địa bàn thành phố Ninh Bình
- Những thành phần tham gia chuỗi giá trị.
Phạm vi nghiên cứu
Chuỗi giá trị rau an toàn trên địa bàn thành phố Ninh Bình
Thời gian và địa điểm thực tập
- Thời gian: 20 tháng 2 đến 20 tháng 5 năm 2019
- Địa điểm: Chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật Nình Bình
Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của của thành phố Ninh Bình
- Thực trạng chuỗi giá trị rau an toàn của thành phố Ninh Bình
- Phân tích những khó khăn, thuận lợi và các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị rau an toàn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển chuỗi giá trị rau an toàn
Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo có sẵn, bao gồm diện tích sản xuất, sản lượng, chất lượng đất đai, tình hình sâu bệnh, và các nghiên cứu liên quan Các thông tin này được lấy từ báo cáo của Chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh Ninh Bình, niên giám thống kê, cùng với các nguồn tài liệu khác liên quan đến ngành sản xuất rau an toàn tại tỉnh Ninh Bình.
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập từ tất cả các cấp trong chuỗi giá trị, bao gồm sản xuất, cung cấp đầu vào, sản xuất, chế biến, thương mại và các hợp tác xã Thông tin được thu thập thông qua các phương pháp nghiên cứu chuỗi hàng hóa, chủ yếu bằng cách phỏng vấn các bên liên quan thông qua bảng câu hỏi.
Phương pháp chọn mẫu phi xác suất được áp dụng để thu thập thông tin từ nông dân trồng rau an toàn tại Ninh Bình, do tổng thể nghiên cứu gần như không xác định và khó khăn trong việc lập danh sách khung mẫu Việc xác lập danh sách các hộ thu gom, thương lái và doanh nghiệp cũng gặp nhiều trở ngại Hơn nữa, nhóm nghiên cứu cần xây dựng mối quan hệ quen biết và tin cậy với nhóm đối tượng này, khiến cho việc chọn mẫu quan sát không thể hoàn toàn ngẫu nhiên Cuối cùng, các doanh nghiệp thường bảo vệ dữ liệu kinh doanh của họ như một bí mật, làm cho việc thu thập thông tin trở nên phức tạp hơn.
Mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu bản chất chuỗi giá trị dừa và các mối quan hệ giữa các nhóm tác nhân tham gia, không nhằm tìm ra các chỉ báo kinh tế, kỹ thuật đại diện cho toàn bộ ngành trồng rau an toàn Các chỉ báo này chỉ được ước tính để minh họa cho chuỗi giá trị rau an toàn tại Ninh Bình Do đó, phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp với chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để thu thập dữ liệu.
1 Căn cứ trên khả năng thực hiện, kinh phí và quỹ thời gian cho phép, xác lập cỡ mẫu cần thiết
2 Chọn xã đại diện cho vùng trồng rau an toàn có quy mô lớn của thành phố Ninh Bình
3 Chọn hộ theo phương pháp thuận tiện, dựa trên sự lựa chọn và thu xếp gặp gỡ của cán bộ khuyến nông địa phương
Bảng 3.1: Số mẫu lựa chọn trong nghiên cứu
STT Tác nhân trong chuỗi Số mẫu Phương pháp điều tra
1 Phiếu điều tra hộ sản xuất 40 Bảng câu hỏi
2 Bảng khảo sát ý kiến người sản xuât rau an toàn
3 Bảng khảo sát nhu cầu sử dụng rau an toàn ( RAT) của người dân
-Sử dụng các kết quả có sẵn làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu
3.5.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Phương pháp xử lý số liệu được thực hiện thông qua máy tính cá nhân và sử dụng chương trình Excel, nhằm nhập liệu và xử lý thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp phân tích thống kê là kỹ thuật sử dụng số liệu đã được phân bổ và trình bày trong các bảng biểu cụ thể nhằm tìm ra những đặc điểm nổi bật và cơ bản Qua việc phân tích các thông số trong bảng biểu, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các vấn đề hiện tại và từ đó xác định những thay đổi cần thiết để cải thiện tình hình.
Bằng các phương pháp nghiên cứu, tôi đã thu thập được kết quả về thực trạng chuỗi giá trị rau an toàn tại thành phố Ninh Bình Những kết quả này sẽ là căn cứ để phân tích, nhận xét và đánh giá đầy đủ, chính xác các nội dung cần thiết phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài.
3.6 Hệ thống chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu
3.6.1 Chỉ tiêu kết quả, chi phí
Tổng giá trị sản xuất thu được (GO - Gross Output) là tổng thu nhập từ một loại mô hình, bao gồm các loại sản phẩm khác nhau hoặc một đơn vị diện tích cụ thể.
Công thức tính là: GO=ΣQi*Pi
Trong đó: Qi: là khối lượng sản phẩm thứ i
Pi: là giá sản phẩm thứ i
( Thu nhập thuần: Được tính bằng cách lấy sản lượng (kg) nhân với đơn giá (đồng/kg): GO = Ql*Pl)
Chi phí trung gian (IC-Intermediational Cost), hay còn gọi là chi phí sản xuất, là chi phí liên quan đến một mô hình hoặc một đơn vị diện tích trong một khoảng thời gian nhất định Chi phí này bao gồm các yếu tố như chi phí vật chất và dịch vụ, nhưng không bao gồm công lao động và khấu hao.
Công thức tính là: IC=Σij*cj
Trong đó: ij: Số đơn vị đầu vào thứ j đã sử dụng cj: Giá đầu vào thứ j đã sử dụng
*Chi phí lao động (CL): Chi phí số ngày công lao động cho một chu kỳ sản xuất hoặc một thời gian cụ thể
* Giá trị ngày công (VC): Bằng phần giá trị gia tăng (VA) chia cho tổng số ngày công lao động(CL)
Công thức tính là: VC=VA/CL
* Khấu hao tài sản cố định (KH): Tài sản cá nhân, hộ đầu tư để sản xuất (Như nhà kho, máy bơm, máy khác )
*Tổng chi phí (TC): TC= IC+CL+KH+K
Giá trị gia tăng (VA - Value Added) là một chỉ số quan trọng phản ánh giá trị được tạo ra trong nền kinh tế Nó tương đương với tổng doanh thu mà các nhà vận hành chuỗi tạo ra Giá trị gia tăng được tính bằng hiệu số giữa giá bán của mỗi tác nhân và chi phí trung gian, bao gồm chi phí nguyên vật liệu đầu vào của nhà sản xuất ban đầu hoặc chi phí sản phẩm đầu vào của các tác nhân tiếp theo trong chuỗi.
Công thức: VA= GO-IC
Hiệu suất đồng vốn (HS) trong sản xuất nông nghiệp, với chu kỳ ngắn, thể hiện "Hiệu quả sử dụng đồng vốn" Chỉ tiêu này cho biết trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất, mỗi đồng chi phí trung gian tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
Công thức tính là: HS=VA/IC
* Lợi nhuận (Pr): Là phần thu được sau khi trừ đi toàn bộ chi phí
(TC), bao gồm chi phí vật chất , các dịch vụ cho sản xuất , công lao động và khấu hao tài sản cố định
Công thức tính: Pr = GO-TC
*Chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế : - Hiệu quả kinh tế tuyệt đối
So sánh tuyệt đối giữa giá trị gia tăng (VA) và lợi nhuận (Pr) của mô hình này với mô hình khác, cũng như giữa các phương án sản xuất khác nhau, là rất quan trọng để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của từng lựa chọn.
Công thức tính: H0 = VA1-VA2 hoặc Pr1- Pr2
Hiệu quả kinh tế tương đối là việc so sánh giá trị gia tăng (VA) hoặc lợi nhuận (Pr) của một mô hình với mô hình khác, cũng như so sánh các phương án sản xuất khác nhau.
Công thức tính: H1 = VA1/VA2 hoặc Pr1/Pr2
- Hiệu quả kinh tế tăng thêm (ΔH) = ΔGO/ΔIC hoặc ΔGO/ΔTC; ΔGO
= GO2 - GO1; ΔIC = IC2-IC1; ΔTC = TC2-TC1
Trong đó: GO2 là giá trị sản xuất ở mức đầu tư IC2 hoặc TC2, GO1 là giá trị sản xuất ở mức đầu tư IC1 hoặc TC1
Hiệu quả theo chi phí trung gian:
Giá trị tăng thêm (VA) và chi phí trung gian (IC) là chỉ tiêu quan trọng, phản ánh khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ mỗi đồng chi phí trung gian trong một kỳ nhất định.
GO/IC là chỉ số thể hiện giá trị sản xuất so với chi phí trung gian, cho biết mỗi đồng chi phí trung gian có thể tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong một kỳ.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Thành phố Ninh Bình
Ninh Bình tọa lạc tại ranh giới của ba khu vực địa lý: Tây Bắc, châu thổ Sông Hồng và Bắc Trung Bộ, đồng thời nằm giữa ba vùng kinh tế quan trọng.
Ninh Bình, nằm ở trung tâm nửa phía Bắc Việt Nam, kết nối vùng duyên hải Bắc Bộ và miền Trung, bao gồm các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra.
Phía bắc giáp với Hòa Bình, Hà Nam
Phía đông giáp Nam Định qua sông Đáy
Phía tây giáp Thanh Hóa
Tỉnh Ninh Bình nằm ở phía nam giáp biển Đông, với điểm cực Đông tại cảng Đò Mười, xã Khánh Thành, huyện Yên Khánh; điểm cực Tây tại rừng Cúc Phương, huyện Nho Quan; điểm cực Nam gần bãi biển xã Kim Đông, huyện Kim Sơn; và điểm cực Bắc tại vùng núi xã Xích Thổ, huyện Nho Quan Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình, cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía nam, trong khi thành phố Tam Điệp cách Hà Nội 105 km.
4.1.12 Địa hình, địa mạo Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình bao gồm cả ba loại địa hình Vùng đồi núi và bán sơn địa ở phía tây bắc bao gồm các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp Đỉnh Mây Bạc thuộc rừng Cúc Phương với độ cao 648 m là đỉnh núi cao nhất Ninh Bình Vùng đồng bằng ven biển ở phía đông nam thuộc 2 huyện Kim Sơn và Yên Khánh Xen giữa 2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp Rừng ở Ninh Bình có đủ cả rừng sản xuất và rừng đặc dụng các loại Có 4 khu rừng đặc dụng gồm rừng Cúc Phương, rừng môi trường Vân Long, rừng văn hóa lịch sử môi trường Hoa Lư và rừng phòng hộ ven biển Kim Sơn Khu rừng đặc dụng Hoa Lư - Tràng An đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới thuộc quần thể danh thắng Tràng An Ninh Bình có bờ biển dài 18 km
Bờ biển Ninh Bình hàng năm mở rộng ra hơn 100m nhờ phù sa bồi đắp Khu vực ven biển và biển Ninh Bình đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, với hai đảo nổi bật là Cồn Nổi và Cồn Mờ.
Ninh Bình có khí hậu cận nhiệt đới ẩm với mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9, trong khi mùa đông khô lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Tháng 4 và tháng 10 là mùa xuân và mùa thu, nhưng không rõ rệt như các vùng khác Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.700-1.800 mm, nhiệt độ trung bình là 23,5 °C, số giờ nắng trong năm dao động từ 1.600 đến 1.700 giờ, và độ ẩm tương đối trung bình khoảng 80-85%.
Tài nguyên đá vôi: Đá vôi là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của
Ninh Bình nổi bật với những dãy núi đá vôi lớn kéo dài hơn 40 km theo hướng tây bắc - đông nam, bao gồm các khu vực như Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp và Yên Mô Với diện tích trên 12.000 ha và trữ lượng hàng chục tỷ mét khối đá vôi cùng hàng chục triệu tấn đôlômít, Ninh Bình là nguồn nguyên liệu phong phú cho ngành sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng và một số hóa chất khác.
Tài nguyên đất sét phân bố rải rác tại các vùng đồi núi thấp ở xã Yên Sơn, Yên Bình (Tam Điệp), huyện Gia Viễn và Yên Mô, được sử dụng chủ yếu trong sản xuất gạch ngói và làm nguyên liệu cho ngành đúc.
Nước khoáng Ninh Bình có chất lượng tốt, chủ yếu tập trung tại Cúc Phương (Nho Quan) và Kênh Gà (Gia Viễn), với trữ lượng lớn phục vụ cho sinh hoạt và du lịch Đặc biệt, nước khoáng Kênh Gà có độ mặn và nhiệt độ thường xuyên dao động từ 53 đến 54 độ C.
Phương có thành phần Magiêbicarbonat cao, sử dụng chế phẩm nước giải khát và chữa bệnh
Tài nguyên than bùn tại Việt Nam có trữ lượng khoảng trên 2 triệu tấn, chủ yếu phân bố ở các xã Gia Sơn, Sơn Hà (Nho Quan) và Quang Sơn (Tam Điệp) Than bùn có thể được sử dụng để sản xuất phân vi sinh, góp phần hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của Thành phố Ninh Bình
Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ chiêm xuân năm
Năm 2019, tổng diện tích cây trồng đạt 49,2 nghìn ha, tăng 0,8% so với năm trước Diện tích cây lương thực có hạt đạt 42,6 nghìn ha, trong đó diện tích lúa là 40,6 nghìn ha (giảm 0,1%) và diện tích ngô đạt trên 2,0 nghìn ha (tăng 11,9%) Diện tích cây có củ giảm 27,0%, với khoai lang đạt 230,2 ha (giảm 22,4%) Diện tích cây công nghiệp đạt 2,9 nghìn ha, giảm 25,6%, trong đó cây lạc đạt 2,6 nghìn ha (giảm 7,4%) Ngược lại, diện tích rau, đậu các loại tăng 14,2%, đạt trên 2,6 nghìn ha so với cùng vụ năm trước.
Biểu đồ 4.1 Cơ cấu cây trồng thành phố Ninh Bình năm 2019
(Nguồn: Chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật Ninh Bình 2019
Chỉ số công nghiệp (IIP) toàn tỉnh tháng Tư năm 2019 ước tính tăng 30,65% so với cùng tháng năm trước Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 17,76%, ngành công nghiệp chế biến tăng 33,01%, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14,32%, trong khi ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 17,64%.
So với tháng 03/2019, chỉ số phát triển công nghiệp (IIP) toàn tỉnh trong tháng này tăng 0,36% Ngành công nghiệp khai khoáng ghi nhận mức tăng 3,3%, trong khi công nghiệp chế biến tăng 0,59% Tuy nhiên, ngành sản xuất và phân phối điện giảm 3,54%, và sản xuất cung cấp nước cùng hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm mạnh 10,82%.
Trong 4 tháng đầu năm 2019, chỉ số phát triển công nghiệp (IIP) toàn tỉnh tăng 21,31% Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 20,21%, trong khi công nghiệp chế biến tăng 22,41% Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 18,21%, và sản xuất cung cấp nước cùng hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,08%.
4.1.2.3 Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Xuất khẩu: Giá trị xuất khẩu tháng Tư năm nay ước đạt 202,1 triệu
Trong 4 tháng đầu năm, tổng giá trị xuất khẩu ước đạt trên 677,3 triệu USD, tăng 51,2% so với cùng kỳ năm trước Đặc biệt, giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng lớn như quần áo đạt 82,3 triệu USD, xi măng và clanke đạt 164,2 triệu USD, giày dép đạt 94,1 triệu USD, camera và linh kiện điện thoại đạt 283,8 triệu USD, cùng với linh kiện điện tử đạt 13,3 triệu USD So với cùng tháng năm trước, USD đã tăng 83,2%.
Kết quả thực tập
4.2.1 Thực trạng chuỗi giá trị rau an toàn của Thành phố Ninh Bình
Nông dân tại thành phố Ninh Bình trực tiếp sản xuất rau an toàn và có hợp đồng với Hợp tác xã để bao tiêu sản phẩm với giá cố định Một số nông dân bán sản phẩm cho thương lái, trong khi những người năng động hơn đã tìm được người tiêu dùng trực tiếp, giúp họ có giá bán cao hơn so với các kênh khác.
4.2.1.1 Thực trạng sản xuất của thành phố Ninh Bình
Tỉnh và thành phố đã chú trọng đến việc hỗ trợ sản xuất rau an toàn, cùng với sự nâng cao nhận thức của nông dân về an toàn thực phẩm Diện tích sản xuất rau theo quy trình an toàn đã mở rộng, hiện đạt khoảng 39,40 ha, chiếm 15% tổng diện tích rau Tuy nhiên, sản xuất rau an toàn vẫn gặp khó khăn do yêu cầu vốn đầu tư lớn, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và kênh tiêu thụ không ổn định Năng suất rau an toàn đạt trên 120,2 tạ/ha, với sản lượng khoảng 4.735,95 tấn, chủ yếu bao gồm các loại rau như bắp cải, rau muống, cà chua, su hào, súp lơ, hành và các loại cải khác.
Bắt đầu từ năm 2015, các hộ dân tại thành phố Ninh Bình đã tiến hành sản xuất thử nghiệm quy trình trồng rau an toàn, bao gồm các loại như cải bắp, cà chua, su hào, súp lơ và xà lách xoăn Kể từ đó, sản xuất rau an toàn đã không ngừng phát triển, với số lượng hộ trồng rau an toàn ngày càng gia tăng.
Biểu đồ 4.2 Cơ cấu diện tích Rau ở thành phố Ninh Bình qua các năm ( Nguồn : Chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật Ninh Bình, 2019 )
Bảng 4.1 trong nghiên cứu về năng suất và sản lượng tại thành phố Ninh Bình đã thể hiện sự biến động của số liệu qua các năm.
Bảng 4.1 Năng suất và sản lượng RAT ở thành phố Ninh Bình qua các năm STT Diễn giải Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Năng suất bình quân trên 1 ha gieo giống của thành phố Ninh Bình đã tăng từ 115,5 tạ/ha năm 2016 lên 120,2 tạ/ha năm 2018 Sự gia tăng này chủ yếu nhờ vào việc các hộ nông dân áp dụng giống cây mới có năng suất cao, thay thế các giống cũ kém chất lượng, cùng với việc tích lũy kinh nghiệm và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất.
Diện tích rau an toàn tại thành phố Ninh Bình đang gia tăng do quá trình công nghiệp hóa đô thị, dẫn đến việc thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Để tăng thu nhập trên cùng một diện tích, nông dân đã chuyển từ trồng sản phẩm nông nghiệp sang trồng rau Bên cạnh đó, nhu cầu ngày càng cao về vệ sinh an toàn thực phẩm đã thúc đẩy người nông dân chuyển hướng sang sản xuất rau an toàn.
Sản xuất rau an toàn tại thành phố Ninh Bình đã có sự phát triển mạnh mẽ nhờ vào việc tăng diện tích và năng suất, dẫn đến sản lượng tăng trưởng Theo bảng 4.2, sản lượng rau an toàn của thành phố Ninh Bình đã liên tục gia tăng trong giai đoạn 2016 – 2018.
Với sự gia tăng sản lượng rau an toàn và sự quan tâm từ các lãnh đạo cũng như người sản xuất tại Ninh Bình, sản lượng rau an toàn của thành phố dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước.
Bảng 4.2 Diện tích, năng xuất , sản lượng phân bổ rau tại các phường trên địa bàn thành phố Ninh Bình
Theo báo cáo của Chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật Ninh Bình, diện tích sản xuất rau an toàn tại thành phố Ninh Bình đã có sự gia tăng đáng kể Cụ thể, phường Ninh Sơn dẫn đầu với diện tích rau an toàn tăng từ 14,95 ha năm 2016 lên 15,76 ha vào năm 2018 Mặc dù các xã khác cũng có sự tăng trưởng, nhưng không mạnh mẽ như Ninh Sơn Đáng chú ý, năng suất sản xuất rau an toàn tại Ninh Sơn và các xã khác đều đạt 120,2 tấn vào năm 2018.
Theo điều tra, rau an toàn chủ yếu được phát triển tại các địa phương có truyền thống lâu đời như phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình Những khu vực như Ninh Sơn, Ninh Nhất, Ninh Phúc có diện tích, sản lượng và năng suất cao, đồng thời có vị trí thuận lợi cho việc lưu thông và vận chuyển sản phẩm vào nội thành cũng như các tỉnh lân cận Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sản xuất hàng hóa.
DT rau an toàn (ha)
DT rau an toàn (ha)
DT rau an toàn (ha)
Thời gian và điều kiện vận chuyển có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm, đặc biệt là đối với cây rau, do sản phẩm này chứa nhiều nước.
4.2.1.2 Thực trạng thị trường tiêu thụ Rau an toàn tại thành phố
4.2.1.2.1 Thị trường tiêu thụ RAT tại thành phố
Thị trường tiêu thụ rau an toàn tại Ninh Bình vẫn chủ yếu dựa vào các kênh truyền thống, với sản lượng rau an toàn chỉ chiếm khoảng 5 tấn trong tổng sản lượng rau tiêu thụ Tuy nhiên, khi kinh tế phát triển và đời sống người dân được cải thiện, nhu cầu về chất lượng bữa ăn sẽ gia tăng, dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng trong tiêu thụ rau an toàn.
Bảng 4.3 Thị trường tiêu thụ rau an toàn tại thành phố tính % theo sản lượng
Thị trường tiêu thụ rau an toàn tại thành phố Ninh Bình chủ yếu tập trung vào thị trường truyền thống trong nội thành, chiếm từ 60-75% sản lượng năm 2018, thông qua các chợ đầu mối, siêu thị và bán lẻ Ngoài ra, ngoại thành chiếm 20% và 15% lượng rau an toàn được tiêu thụ tại các thành phố như Hà Nội và Thanh Hóa Đáng chú ý, chỉ có 3% lượng rau được xuất khẩu sang Nhật Bản và Trung Quốc.
4.2.1.3 Giá cả và mức tiêu thụ của RAT
* Về giá cả tiêu thụ RAT
Giá bán sản phẩm là yếu tố quyết định trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với rau xanh, khi giá cả thường xuyên biến động theo thời gian, mùa vụ và chủng loại Nông dân thường phải đối mặt với rủi ro khi rau xanh có thể mất giá trong mùa được mùa hoặc ngược lại Điều này dẫn đến sự chênh lệch giá cả giữa các năm, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng sản xuất Tính cung trong nông nghiệp thường chậm, khiến nông dân trở thành người bị động trong quá trình sản xuất.
Do chi phí sản xuất RAT cao hơn RTT và năng suất thu được thấp hơn, giá bán RAT luôn cao hơn từ 1,2 đến 1,5 lần so với RTT Mức chênh lệch giá này còn được thể hiện qua hình thức bán hàng, và để đánh giá cụ thể, chúng tôi đã tiến hành khảo sát giá bán RAT qua các đối tượng kinh doanh khác nhau.
Bảng 4.4 Chênh lệch giá RAT và RTT tại thành phố Ninh Bình
Chợ Của hàng Siêu thị
7 Dưa chuột 10.000 12.000 1,20 15.000 1.25 20.000 1.67 (Nguồn: Điều tra hộ, năm 2019)