Định hướng phát triển các lãnh thổ trọng điểm 1, Phát triển hệ thống các trung tâm tạo vùng, các khu vực lớn 2, Hình thành các địa bàn động lực các tuyến hàng lang kinh tế cua ca nude 3
Trang 1
CHUGNG TRINH KHOA HOC GẤP NHÀ NƯỚC ĐỒI MỚI VÀ HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ
VA CO CHE QUAN LY (KX 03)
NGHIEN CUU XAC DINH CO CAU KINH TE LANH THO
THEO HUGNG PHAT TRIEN CO TRONG ĐIỂM
Trang 2NGHIÊN CỨI XÁC BỊNH CfŸ CẤU KINH TẾ LÃNH THO
THE0 HƯỚNG PHÁT TRIEN CO TRONG DIEM
{KX 03.20)
Co quan chủ trì:
Viện Chiến lược phát triển
Bộ kế hoạch và đầu tư
Trang 39
MỤC LỤC
mo pau
PHAN I
Những vấn đề lý luận và quan điểm chủ đạo xây dựng cơ cấu
lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm
† Những vấn đề lý luận cơ bản cua xác định cơ cấu lãnh thổ theo
hướng phát triển có trọng diễm
1 Phát triển không gian: Quá trình tìm tòi và những lý thuyết phản
ánh về các phát hiện có tính quy luật
2 Vấn đề tập trung đầu tư hay phân tán
3 Cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lý là thế nào?
1I Kinh nghiệm cuả một số nước về việc lựa chọn các trọng điểm
phát triển không gian
HH Quan điểm chủ dạo cuả việc xác định cơ cấu kinh tế phát
triển có trọng điểm
PHAN Il
Thực trạng về co cấu kình tế lãnh thỏ Việt Nam
1 Khái quát về lãnh thổ Việt Nam
1 Các nguồn tài nguyên phân bố không đều theo lãnh thổ
2 Việt Nam có yếu tố biển trội nhất trong số các nước ở lục địa
Đông Nam Á
3 Việt Nam là nước đông dân nhất trên bán đảo Trung An
4 Việt Nam có sự phản hoá lãnh thé mạnh mẽ tạo ra tiền đề phát
triển nẻn kinh tế hàng hoá đa dạng, nhưng không đồng đều
Š Việt Nam có địa hình đặc biệt, mạng lưới các tuyến trục và
cảng biển thuận lợi cho phát triển các địa bàn động lực
Trang 46 Việt Nam có cơ cấu kinh tế - xã hội đang bước vào thời ky
chuyển đổi theo hướng tích cực
PHAN Il
Dinh hướng cơ cấu kinh tế
lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm
1 Định hướng phát triển cud cả nước đến năm 2010
lI Định hướng cơ bản về phát triển vùng và lãnh thổ Việt Nam
đến năm 2010
1 Quan điểm và phương hướng cơ bản về phát triển vùng và lãnh
tho
2 Định hướng phát triển đồng bang ven bién DBVB}
3, Định hướng phát triển Trung du miền núi (TDMN)
THỊ Định hướng phát triển các lãnh thổ trọng điểm
1, Phát triển hệ thống các trung tâm tạo vùng, các khu vực lớn
2, Hình thành các địa bàn động lực (các tuyến hàng lang kinh tế)
cua ca nude
3 Phát triển tuyến hành lang biên giới
+4 Thúc đẩy sự phát triển cuả vùng lãnh thổ khó khán
Trang 5Dựa trên các quan điểm khoa học, xác định cơ cấu kinh tế lãnh thổ theo
hướng phát triển có trọng điểm, theo các giai đoạn phát triển của đất nước Kiến
nghị các biện pháp thực hiện xảy dựng cơ cấu đó trong tương lai
3 Nội dung nghiên cứu:
3.1 Tổng quan những văn đề lý luận và xác định các quan điểm chủ đạo
đảm bảo mnục tiêu của đề tài
3.2 Nghiên cứu thực trạng và kinh nghiệm phát triển cơ cấu kinh tế lãnh
3.6 Nghiên cứu biện pháp thực hiện phương án phát triển các lãnh thổ
trọng điểm (kể cả biện pháp kinh tế - hành chính)
Trang 6a) - Nguyên tắc phân định lãnh thổ để nghiên cứu
- Kết hợp chặt chế giữa tính thuan nhất (hay đồng nhất) về các yếu tố tự
nhiên, kinh tế, xã hội và sự giống nhau ở mức cao nhất trong việc thực hiện chức
năng lãnh thổ do nền kinh tế cả nước phân công
- Phát huy cao nhất các yếu tố mang tính thống nhất cho nền kinh tế quốc
gia như trục quốc lộ và tuyến đường sắt xuyên Bác Nam; yếu tố biển dọc theo
- Có khả năng phục vụ đắc lực cho việc chỉ đạo của Nhà nước, công tác
quản lý hành chính - kinh tế của chính quyền các địa phương, v.V
b) - Trên cơ sở xem xét thực tế, dựa vào các nguyên tắc chỉ đạo nêu trên và căn
cứ yêu cầu của chương trình đối với đề tài, sau khi tổng hợp các ý kiến chuyên
gia, chúng tôi phân lãnh thổ Việt Nam thành hai phần lãnh thổ lớn để nghiên
cứu Đó là:
- Phần lãnh thổ Trung du - miền núi ( viết tắt là TDMN)
- Phần lãnh thổ Đồng bằng - ven biển (viết tất là ĐBVB)
Ranh giới giữa TDMN và ĐBVB có tính chất mềm, ước lệ nhiều hơn là
tính chất cứng như trong các trường hợp phân vùng để nghiên cứu quy hoạch
Trang 76
PHAN |
NHUNG VAN DE LY LUAN VA QUAN DIEM CHU DAO
THEO HUONG PHAT TRIEN CO TRONG DIEM
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA XÁC ĐỊNH CƠ CẤU LÃNH THỔ THEO HUONG PHAT TRIEN CO TRONG DIEM
Dưới cách nhìn nhận theo quan điểm hệ thống, mỗi không gian lãnh thổ
là một hệ thống Vấn đề cơ bản của việc xác định tính quy luật về không gian và thời gian của hệ thống đó có ý nghĩa quan trọng, Khi nghiên cứu về tính vật chất của lãnh thổ, cần xác định chỗ nào là điểm "trồi” quan trọng mà khi tác động vào nó sẽ tạo ra sự biến đổi có lợi không chỉ cho lãnh thổ đó, mà cho cả các lãnh
thổ khác :
1 Phát triển không gian: qua trinh tìm tòi và những lý thuyết phản ánh phát hiện có tính quy luật
1.1.1.G Tunen với lý thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp (1833)
dưới ảnh hưởng của thành phố (trung tâm thị trường) Ông xem địa tô chênh lệch như là một nhân tố chìa khóa dẫn đến sự phân chia lãnh thổ đồng nhất của
một quốc gia thành các vùng sử dụng đất đai khác nhau
Cùng lúc đó, những mô hình không gian về phản bố công nghiệp cũng
xuất hiện Cơ sở của mô hình này dựa trên nguyên tấc cực tiểu hóa chỉ phí và
cực đại hóa lợi nhuận À Weber là người có nhiều đóng góp về lĩnh vực này
Tư tưởng của Tunen và Weber đều coi thành phố là những nút, những trọng điểm của lãnh thổ Sức lan tỏa ảnh hưởng của chúng rất lớn
1.2 Lý thuyết về "điểm trung tâm" của W Chritaller - (Mỹ, 1933) Có
thể nói lý thuyết này được hoàn thiện trên những ý tưởng và mô hình của Tunen
và Weber cũng như những luận điểm cơ bản của Niutơn về lực hấp dẫn Ông
cùng với A.Losch đã góp phần to lớn vào việc tìm kiếm những tính quy luật của
sự phát triển sản xuất và lĩnh vực phi sản xuất theo không gian
Trang 8điểm dân cư khác của vùng, đảm bảo cho chúng về các hàng hóa của trung tâm Các trung tâm tồn tại theo nhiều cấp, từ cao tới thấp Các trung tâm cấp cao có khả năng lựa chọn hàng hóa và dịch vụ còn các trung tâm cấp thấp ít
có khả năng lựa chọn hơn Ông quan niệm thành phố như những cực hút,
hạt nhân của sự phát triển Chúng là các đối tượng để đầu tư có trọng điểm
trên cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh hưởng của một trung tâm; để xác định bán kính vùng tiêu thụ các sản phẩm của trung tâm Trong giới hạn bán kính vùng tiêu thụ, xác định giới hạn thị trường, ngoài ngưỡng giới hạn không có lợi trong việc phục vụ hàng hóa của trung tâm
« = Lý thuyết trung tâm của Christaller đã được nhà bác học người Đức - A.Losch bé sung và phát triển A Losch đưa thêm vào nội dung của lý thuyết trung tàm vấn đề mức độ phụ thuộc cao hơn Từ đó ông cho rằng có
một điểm trung tâm chung Điểm trung tâm chung này là thành phố quan
trọng nhất, là đầu mối của toàn bộ hệ thống các điểm dan cu Vai trd trong
buôn bán và phục vụ của nó khống chế đối với các vùng phụ thuộc
Công lao của W.Christaller và A.Losch ở chỗ hai ông đã khám phá quy luật phân bố không gian từ tương quan giữa các điểm dân cư, phát hiện một trật
tự được tính toán trong sự phân bố các thành phố và nông thôn, sau khi đã nhận thức được quy luật khách quan, sẽ áp dụng nó khi quy hoạch các điểm dân cư trên những lãnh thổ mới khai phá; nghiên cứu các hệ thống không gian cơ sở để
Nhà kinh tế học người Pháp Francoi Perroux đưa ra lý thuyết cực phát triénvao đầu những năm 5O Lý thuyết này chú trọng vào những thay đổi trong
khuôn khổ một vùng, một khu vực của lãnh thổ làm phát sinh sự tăng trưởng
kinh tế của lãnh thổ Lý thuyết cực phát triển đã được cải biên qua các thời kỳ,
Trang 9sau đó đã được một số tác giả nhu Albert O Hirshman, Gunnar Myrdal, Jriedmamn tổng hợp lại Lý thuyết này cho rằng công nghiệp và địch vụ có vai trò lớn đối với sự tăng trưởng của vùng Đi kèm theo với điểm phát triển tăng
trưởng là một ngành công nghiệp then chốt Ngành công nghiệp then chốt phát
triển và phát đạt thì lãnh thổ địa phương nơi nó phân bố cũng phát triển và phát
đạt, do công ăn việc làm tăng nên, sức mua cũng tăng lèn, các ngành công
nghiệp và các hoạt động mới bị thu hút vào vùng đó
Sự chênh lệch trong táng trưởng kinh tế vùng mang cả tính tích cực lẫn tiêu cực Có một loạt ảnh hưởng xấu của sự tăng trưởng tập trung đối với vùng
tụt hậu Các ngành công nghiệp địa phương ở vùng tụt hậu có thể bị các ngành
công nghiệp then chốt ở trung tâm tăng trưởng cạnh tranh Cạnh tranh là ảnh
hưởng phân cực chủ yếu
1.4 Mô hình phát triển hình chuông
Khi nghiên cứu các mô hình phát triển kính tế, Alonso đã đưa ra mô hình
hình chuông để miêu tả quá trình thay đổi, giống như một đường cong bình thường mô tả nhiều sự phân bố thống ke Tại một điểm nào đó của quá trình
phát triển, sự tăng trưởng đạt tới điểm cong, sự tập trung hóa về mặt địa lý đạt
tới đỉnh cao nhất và sau đó bắt đầu tự đối chiều Đô thị hóa trở nên lan rộng
hơn là hạn chế ở một số ít trung tâm lớn, Các cơ hội phát triển mới bát đầu xuất hiện ở nhiều địa phương mà vừa mới trước đây khi chưa có sự hòa nhập kinh tế trong cả nước là không thể chấp nhận được
Mô hình đường cong hình chuông do Alonso đề cập là một phương
pháp rất có lợi cho nghiên cứu không gian của sự thay đối kinh tế trong một quốc gia, hay nói rõ hơn là nghiên cứu lựa chọn một cơ cấu lãnh thổ theo hướng có trọng điểm
2 Vấn đề đầu tư tập trung hay phân tán
Trong bối cảnh:
Nguồn vốn đầu tư có hạn
Ở các nước đang phát triển đều có trình độ thấp kém, có khi trì trệ và có
sự chênh lệch lớn giữa các lãnh thổ, giữa thành thị và nông thôn.
Trang 10Do đó vấn đề đầu tư tập trung hay phân tán luôn luôn đồi hỏi sợ cân nhác khó khăn
Trên thế giới ngày nay đang tồn tại 2 chính sách đầu tu: Tập trung và phân tán,
Chính sách đầu tư công cộng phân tán rất thông dụng, thường là chú
trọng tới nhiều công trình nhỏ và có thể tập trung một chừng mực nào đó cho các vùng "tụt hậu" hoặc bị đình trẻ Loại chính sách này bị chỉ trích ở chỗ nó
làm loãng ảnh hưởng của đầu tư do chi phí vào những hoạt động chỉ có hiệu quả tới hạn Nó cũng chứng tỏ dễ bị mác phải áp lực của nhiều nơi được rải đầu
tư vì họ ganh đua nhau để giành được một phần quyền lợi Đặc biệt là trong những trường hợp khi nhà nước tìm kiếm sự ủng hộ của tất cả các vùng trên đất
nước thì chính sách kiểu phân tán có thể mang lại lợi ích chính trị hơn Thế nhưng sẽ đem lại những hậu quả ảnh hưởng tới tăng trưởng vùng Kết quả có thể
là 1 hệ thống giao thông vận tải bị cất rời, hoặc ít nhất là một hệ thống tiến triển
nhờ qua những điều chỉnh cho vừa vạn hơn là một hệ thống thống nhất và có hiệu quả Tuy nhiên theo khía cạnh khác của lý luận này thì chính sách đầu tư
phản tán có ưu việt là tất cả mọi bộ phận ít nhiều đều được đối xử công bằng
theo kiểu bình quan Hon nữa ở các nước đang phát triển, thường có khả nang
đầu tư vào các công trình nhỏ cho địa phương có sẵn năng lực quản lý và công nghệ hơn là đổ các khối lượng đầu tư khổng lồ vào một công trình lớn Các công trình nhỏ thường phù hợp với khả năng kế hoạch hóa, kỹ thuật và quản lý của
đội ngũ cán bộ địa phương, và do đó khi nhận được đầu tư địa phương sẽ là người có lợi đầu tiên -
Chính sách thứ hai mong muốn tập trung đầu tư vào những công trình
lớn, để thúc đẩy tăng trưởng ở những vùng mà đã có sẵn tiềm năng cho phát triển rồi từ đó lôi kéo sự phát triển của các vùng xung quanh Chính sách này
phù hợp hơn với lý thuyết cực phát triển nhưng khó thực thi đối với đầu tư còng
cộng Nếu vốn của tư nhàn không có đủ với số lượng lớn trong thời gian ngắn thì sẽ cần phải chỉ từ quỹ chung để tạm thời đáp ứng nhu cầu cấp bách của sự
phát triển.
Trang 1110
Những điều trình bày ở trên là những cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu xác định cơ cấu kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm
Dưới đây là bai cách lựa chọn đầu tư quan trọng nhất:
Mot la: Kim hãm tạm thời các vùng thịnh vượng để tập trung vốn nham
vực dáy, khỏi phục và phát triển các vùng đình đốn, đồng thời để mở mang các
vùng kinh tế mới của đất nước
Hai là: Làm cho các vùng thịnh vượng, các vùng có điều kiên ưu đãi bứt lên, đồng thời có chính sách phát triển các vùng còn lại của đất nước, nhằm xóa
bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển trong cơ cấu lãnh thổ
Trong nhiều năm qua các nước Tây Âu và ASEAN đã vận dụng lý thuyết
cực phát triển của Francoi Peroux để lựa chọn các trọng điểm phát triển theo
lãnh thổ theo cách thứ hai Với cách lựa chọn như vậy, qua thực tiễn, các nước
đó đã đạt được những kết quả nhất định
3 Cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lý là thế nào?
Việc hình thành một cơ cấu lãnh thổ hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng đối
với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Một cơ cấu lãnh thổ hợp
lý phải đáp ứng được những tiêu chuẩn sau:
a "Phù hợp nhất” với những điều kiện cấu thành và những nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước giao cho vùng
b Dam bảo sự ” ăn khớp nhịp nhàng" của các yếu tố phát triển nói chung
và của sức sản xuất nói riêng
c Đảm bảo hiệu qủa kinh tế - xã hội cao nhất, hài hòa giữa tăng trưởng và
công bằng xả hội
Một cơ cấu lãnh thổ được coi là hợp lý phải đạt được 3 nhóm mục tiêu:
e Thứ nhất, đạt được những mục tiêu vùng: Vùng phải hoàn thành những
: nhiệm vụ kinh tế quốc dân nhằm nâng cao hiệu qua sử dụng tài nguyên va các nguồn lực có trong vùng, hoàn thiện cơ cấu kinh tế của vùng để phát
triển tối đa kinh tế vùng về lâu dài, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật và những
Trang 12điều kiện kinh tế - xã hội khác cho việc phát triển nhanh chóng kimh tế và
nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng, bảo vệ môi trường thiên nhiên
VV
© = Thứ hai, đạt được những mục tiêu của ngành: Hoàn thành nhiệm vụ sản
xuất những sản phẩm chủ yếu, đáp ứng nhu cầu của toàn nền kinh tế quốc
dân, giảm đến mức thấp nhất chỉ phí sản xuất, phối hợp hài hòa với các bộ phan khác trong ngành và ngoài ngành nầm ở các vùng khác
«e _ Thứ ba, đạt được những mục tiêu của nền kinh tế cả nước; thể hiện đúng
chiến lược phát triển quốc gia (cả trong kinh tế, xã hội, môi trường và an ninh quốc phòng)
il KINH NGHIEM CUA MOT SO NƯỚC VỀ VIỆC LỰA CHỌN CÁC TRỌNG ĐIỂM PHAT TRIEN KHÔNG GIAN
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia (mà chúng tôi có được tài liệu hoặc có dịp khảo sát) cho thấy:
Các quốc gia thường lấy những vùng có vị trí gần đường giao thông, ven biển, gần các đô thị (hoặc ngay chính nó); có nhiều nguồn lực nhất để tập trung đầu tư, lap các trọng điểm công nghiệp với các tên gọi KCNTT, KCX, khu màu dịch tự do, khu du lịch, khu công nghiệp cảng v.v
Ở Trung Quốc:
Nam 1979, họ đã chọn 4 vùng dong dân ở bờ biển phía đông nam làm
những trọng điểm lãnh thổ - đặc khu kinh tế Những vùng này được sự ưu đãi
của Trung ương về chính sách thuế Ba trong số các đặc khu đầu tiên - Thẩm
Quyến, Hạ Miôn, Sán Dầu là ở tỉnh Quảng Đỏng, khu thứ 4 - Phúc Đông ở tỉnh
Phú Giang Thẩm Quyến, bên phải giáp Hồng Kông, hiện có khoảng 2 triệu người và Hạ Môn gần Mlacao và Carton Đảo Hải Nam ở ngoài khơi Quảng
Đông về phía Nam được lập thành một tỉnh tách biệt và là đặc khu kinh tế thứ Š vào năm 1988
Trang 1312
Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến rộng 327 km2, có vị trí địa lý hết sức ưu
việt là nằm ngay cạnh Hồng Kông, chỉ cách một con sông và một cái cầu
Mục tiêu phát triển của Thẩm Quyến là: thu hút đầu tư phát triển công
nghiệp là chính, trong đố tỷ lệ ngành dịch vụ tương đối lớn; loại hình "kỹ thuật tương đối tiên tiến”, khòng cho đặc khu trở thành nơi tập kết các ngành công nghiệp "xế bóng” mà một số nước khi thành lập KCX đã gánh chịu Phương hướng phát triển nền kinh tế là "hướng ra ngoài" nhưng có kết hợp thích đáng đến "hướng vào trong"; do đó Thẩm Quyến đã liên kết với 28 tỉnh, thành phố trong nước; cơ chế kinh tế là thị trường dưới sự chỉ đạo của kế hoạch nhà nước; loại hình thành phố là "hiện đại hóa, có tính quốc tế, đa chức nang”
Sau 12 năm xảy dựng (thành lập 3-1980), đạc khu kinh tế Thẩm Quyến
đã trở thành một khu công nghiệp phát đạt, có hơn 30 loại ngành kỹ thuật cao, sản xuất trên 1000 mặt hàng, trong đó 800 mặt hàng đang cạnh tranh có uy tín
trên thế giới Trong 10 năm tổng giá trị công nghiệp từ 6O triệu nhân dân tệ lên
11.650 triệu, tăng 193 lần Kim ngạch xuất khẩu từ 9 triệu DSD lên 2.170 triệu
USD, táng 232 lần
Bài học thành công của Trung Quốc là phát triển mạnh vùng ven biển
trên cơ sở lựa chọn một số khu vực cho nó cơ chế thích hợp Thấm Quyến biết tận dụng lợi thế của nước đi sau, học tập và rút kinh nghiệm của các nước đi trước một cách sáng tạo Trung Quốc đã sử dụng đầy đủ lợi thế của đặc khu để
huy động sức mạnh tổng hợp của đất nước, tạo ra hàng xuất khẩu, không chỉ
trong đặc khu mà cả hàng hóa nội địa đều tránh được quan thuế, hạ giá thành,
kích thích và thúc đẩy xuất khẩu, tái đầu tư mở rộng sản xuất
Các lãnh thổ trọng điểm ở Ái Nhĩ Lan:
Shannon được coi là KCX đầu tiên trên thế giới, thành lap nam 1960 do
Chính phủ tài trợ xảy dựng cơ sở hạ tầng Trước đó kinh tế Ai Nhi Lan nang vé
bảo hé mau dich, thi trường trong nước không phát triển, tỷ lẻ thất nghiệp cao
Do đó, Chính phủ mở ra chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, khu kinh tế tự
do Shannon được thành lập Trong những năm đầu mọi cổ găng là để thu hút
dau tư càng nhiều càng tốt Shannon chỉ có công nghệ lấp ráp với giá trị gia tăng
thấp Sau đó Chính phủ đưa ra chương trình liên kết giữa KCX với các khu vực
Kinh tế trong nước bao gồm các ngành cóng nghiệp vừa và nhỏ Nhờ đó kinh tế
của Ái Nhĩ Lan có bước phát triển mạnh Nguyên tắc chỉ đạo của KCX ái Nhĩ
Trang 14Lan là tạo công việc làm ăn và thúc đẩy công nghiệp trong nước phát triển, với phương châm "Cơ sở công nghiệp trong nước có mạnh mới thu hút đầu tư dễ
dàng" Khả năng cạnh tranh của KCX Ái Nhĩ Lan là đựa trên trình độ kỹ thuật
và công nghệ của chính mình KCX Shannen hiện đang chuyển dần sang thời
kỳ tiến tới một trung tâm kỹ thuật cao gắn liền với cơ sở công nghiệp nội địa, một hệ thống giáo dục, mạng lưới các trường Đại học và cơ sở nghiên cứu triển
khai (R & D)
Dai Lean:
Đầu tiên cũng là lập KCX Khu chế xuất đầu tiên là Cao Hùng thành lập
1966 Sau 3 nam thấy có kết quả Đài Loan mở thêm KCX Nam Tử và Đài
Trung, tổng cộng ba KCX chỉ rộng 192 ha nhưng qua 27 nam hoạt động đã thu được 20 tỷ đô la lợi nhuận và giải quyết việc làm cho 96.000 người Sự kết hợp giữa vốn đầu tư, đào tạo tay nghề và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới
đã làm cho Đài Loan phát triển công nghiệp thành công và không ngừng nâng cao trình độ công nghiệp của mình Nhờ đó Đài Loan, từ một nước nông nghiệp
đã trở thành nước công nghiệp, từ nước thu hút đầu tư vào KCX trở thành nước
đầu tư xây dựng KCX ở nước khác Đến nay cả Chính phủ và tư nhân Đài Loan
đã đầu tr vào 12 KCX ở 10 nước tại Châu Á, Mỹ La Tỉnh và Châu Âu
Mới đây Đài Loan có chủ trương chuyền các KCX thành "Khu mậu dịch tự do" như là Hông Kông Để làm điều này, sẽ sửa đổi "Quy chế quản lý KCX" hủy bỏ việc hạn chế tỷ lệ nội tieu sản phẩm KCX, sửa đổi việc hạn chế sử
dụng đất đai trong KCX cho phép các dịch vụ được đưa vào KCX
Hàn Quốc:
Họ cũng chọn con đường phát triển khu chế xuất để tạo khâu đột phá
Khu chế xuất Masan của Hàn Quốc được thành lập 1970, như là một
trong số 20 biên pháp của Ủy ban Kế hoạch kinh tế Hàn Quốc đề ra trong ''chính sách khuyến khích xuất khẩu" Như vậy, KCX Hàn Quốc chỉ là một bộ phận trong tổng thể các biện pháp nhầm kích thích xuất khẩu, bèn cạnh các biên pháp khác như hiện đại hóa kỹ thuật sản xuất, hỗ trợ tài chính cho ngành xuất khẩu và cho việc sử dụng nguyên liệu sản xuất trong nước, đa dạng hóa hàng xuất khẩu và thị trường, tăng cường kiểm hóa chất lượng hàng xuất khẩu v.v
Trang 1514
Nét nổi bật nhất của KCX Hàn Quốc mà nhiều KCX ở các nước chưa đạt được là nó đã đồng vai trò tích cực, làm cầu nối giữa nền kinh tế trong và ngoài
nước Việc xác lập mối liên hệ chặt chš giữa KCX với các bộ phận kính tế trong
nước, được thực hiện qua 2 khâu chủ yếu là việc cung cấp nguyèn liệu trong
nước cho KCX và tổ chức các hợp đông gia công giữa KCX với các xí nghiệp trong nước, tạo nên cái gọi là "chế xuất ngoài khu chế xuất”
Các xí nghiệp KCX thường có khuynh hướng nhap nguyen liệu "đầu vào”
từ các Công ty mẹ ở nước ngoài, họ chỉ mua nguyên liệu tại địa phương chừng nào mà chất lượng tương đượng và giá cả cạnh tranh được với thị trường quốc tế
Do đó các nhà cung cấp nguyên liệu của Hàn Quốc đáp ứng được yêu cầu đó thì
không có lý do gì các xí nghiệp KCX không mua nguyèn liệu tại chỗ Ngoài ra
Chính phủ Hàn Quốc còn đưa ra luật lệ để khuyến khích, chẳng hạn nếu xí
nghiệp KCX có quan hệ nhiều với các bộ phận kinh tế trong nước thì họ được
phép tiêu thụ sản phẩm ngay tại Hàn Quốc với một tỷ lệ nhất định tương ứng
Các xí nghiệp "được ủy thác" ngoài KCX có thể hoạt động hết công suất
để đáp ứng nhu cầu của xí nghiệp trong KCX Năm 1984 có 252 xí nghiệp nằm
ngoài KCX Masan có hợp đồng gia công với KCX Chị phí lao động cho người làm công ngoài KCX chiếm khoảng 20% tổng chi phí lao đệng trong KCX tức
là nếu chỉ 1 USD cho tiền công trong KCX thì phải chị 0,2 USD cho tiền công ở
các hợp đồng phụ ngoài KCX Ngành sản xuất điện tử của KCX Masan dùng lao động ở ngoài chiếm 27% số người lao động trong KCX, và ngành may mặc là 60%
Malaysia:
Lựa chọn các trọng điểm phát triển từ KCX rôi lập khu thương mại tự do, khu tự do trên cơ sở công nghiệp và thương mại gắn với cảng biển
- Malaysia bất đầu xây dựng Khu chế xuất (gọi là khu thương mại tự do)
từ những nam 1970 sau khi có "luật về khu thương mại tự do” năm 1971 Từ khu chế xuất đầu tiên Bavan Lapas (diện tích 135 ha) xảy dựng năm 1972 tại Penang, sau 20 năm, đến nay Malaysia đã có 10 khu chế xuất lớn (với tổng diện
tích 1.720 ha nằm xen kẽ với các khu công nghiệp tập trung 6 cdc bang Penang,
Perak, Selangor, Malaca va Johor, khong ké hang tram "kho hang san xudt theo
giấy phép" (Licensed Mamufactturing Warchousd - LMW) là các xí nghiệp sản
xuất hàng xuất khẩu nầm ngoài khu chế xuất nhưng được hưởng mọi quy chế
Trang 16dành cho KCX, thực chất là KCX con véi quy mo 1 vai xi nghiép - nam rải rác khắp nơi trong nước
- Khu chế xuất của Malaysia vê hình thức rất linh hoạt và đa dạng, không rập khuôn máy móc (từ khu chế xuất tập trung quy mô hàng trãm ha đến quy
mô vừa, nhỏ vài ba, thảm chí quy mô 1 nhà máy như hình thức "kho hàng sản
xuất theo giấy phép", hoặc trong cảng biển cũng có xí nghiệp hưởng quy chế khu chế xuất để chế biến, đóng gói
Thái Lan:
Thái Lan bất đâu phát triển các trọng điểm là từ xây dựng Băng Cốc đủ
mạnh đến xây dựng khu còng nghiệp tập trung (bao gồm cả Khu chế xuất) từ đầu những năm 70 (Khu công nghiệp đầu tiên là Bang Chan, diện tích 108 ha xây dựng năm 1972) Đến nay theo thống kê của IEAT và BOI, Thái Lan có 37
khu công nghiệp tập trung với tổng diện tích khoảng 9.900 ha, khu lớn nhất là
Maptaphut (960 ha) khu nhỏ nhất là Bang Chan (108 ha), (rung bình điện tích mỗi khu là khoảng 560 ha)
Các khu công nghiệp được xây dựng ở 25 tỉnh thành thuộc cả 4 Miền
(Trung, Đòng Bắc, Bác, Nam) của Thái Lan, nhưng phần lớn các khu công nghiệp nằm tập trung ở khu vực miền Trung, ở các tỉnh quanh Băng Cốc
Thái Lan hiện nay có 2 loại khu công nghiệp:
- Khu công nghiệp tập trung gồm các xí nghiệp sản xuất sản phẩm vừa
để tiêu thụ trong nước vừa xuất khẩu
- Khu chế xuất: gồm các xí nghiệp làm sản phẩm chỉ để xuất khẩu (Các
khu chế xuất Thái Lan thường năm trong khu công nghiệp tập trung, không nằm riêng rễ)
Mục tiêu chính trong việc xây dựng khu còng nghiệp ở Thái Lan là:
+ Thu hút đầu tư nước ngoài, phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa Thái Lan đưa Thái Lan trở thành 1 nước công nghiệp mới ở Châu Á
Trang 1716
+ Phan tán khu công nghiệp tập trung khu vực Băng Cốc về các
địa phương kém phát triển để giảm mật độ dân cư quá đông đúc ở Băng Cốc và giảm mức độ chênh lệch quá lớn về sự phát triển không đồng đều giữa Băng Cốc và các Tỉnh
+ Tap trung các xí nghiệp lại sẽ thuận lợi hơn trong việc quản lý
và cung cấp dịch vụ điện, nước, điện thoại, xử lý chất thải, cũng như hạ giá thành sản xuất
+ Tạo công ăn việc làm, nhất là ở các địa phương
Sau 20 năm xây dựng đến nay Thái Lan có 37 khu (theo 3 hình thức của Nhà nước, của tư nhân và liên doanh Nhà nước và tư nhân)
It QUAN DIEM CHỦ ĐẠO CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ PHÁT THIÊN
CÓ TRỌNG DIEM
Từ tổng kết về lý luận và kinh nghiệm của các nước, bám sát đường lối
và chiến lược phát triển của cả nước, qua thực tế ở Việt Nam, việc xác định cơ
cấu kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm sẽ tuân theo những
quan điểm chỉ đạo sau đây:
1 Việc xác định cơ cấu lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm căn cứ vào đường lối đổi mới của đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước và căn cứ vào Nghị quyết TW VII về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2 Phát triển cơ cấu lãnh thổ có trọng điểm phải tính tới yêu cầu hòa nhập với
khu vực theo xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế thế giới Hình thành cho được
bộ xương cuả lãnh thổ, các cửa VÀO - RA cho quốc gia
Trang 183 Cần tính toán khả năng thích ứng nhanh nhạy với điền biến thị trường và các
xu hướng chính trị trên thế giới Quan tâm đúng mức tới yêu cầu "đối trọng”
trong phát triển giữa các nước trong quan hệ vừa hợp tác, vừa cạnh tranh
4 Việc phát triển cơ cấu có trọng điểm không thẻ thực hiện trong cùng một
thời gian mà phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển và tùy thuộc vào chiến lược
phát triển của cả nước
Trước hết cần: định hướng lựa chọn các vùng và khu vực ưu tiên phát
triển, nơi tập trung những điều kiện ưu việt thu hút đầu tư của cả nước và quốc tế
để phát huy mạnh mẽ vai trò trung tâm tăng trưởng và phát triển, đầu mối phát triển kinh tế đối ngoại, liên kết thúc đầy và lôi kéo các vùng khác phát triển, Những khu vực khác chưa được ưu tiền phát triển, chịu sự lan tỏa của các tàm phát triển sẽ có mức phát triển thấp hơn, chịu sự rủi ro Song để đảm bảo cong bằng xã hội rút bớt khoảng cách chênh lặch, cần thiết phải xác định những trọng
điểm hỗ trợ - đó là những vùng khó khăn nhất, những vùng mà có mức thu nhập
và đời sống thấp nhất; ở cả miền núi và đồng bàng ven biển
Trang 1918
PHAN Il THỰC TRẠNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ LÃNH THỔ VIỆT NAM
| KHAI QUAT VE LANH THO VIET NAM
Nước Việt Nam giữ một vị trí độc đáo ở lục địa Đông Nam Á, vì đồng
thời đứng đầu về dân số và về tính chất biển trong tổng số năm quốc gia ở đây Năm ở bờ biển phía đông của bán đảo Trung Ấn Việt Nam không tổ chức
chung quanh một lưu vực sông lớn như các nước láng giềng phía tây, mà chung
quanh hai chau thé, chau thé song Hong 6 Bac BO và một phần lớn châu thổ sông Cứu Long ở Nam Bộ được nối bởi một chuỗi các đồng bang nhỏ Duyên hải Trung Bo Tổng thể này là nơi tập trung chủ yếu của người Kinh Lãnh thổ đất
liền của Việt Nam kéo dài đọc theo kinh tuyến trên 2000 km từ biên giới Việt - Trung đến mũi Cà Mau, hẹp đàn ở Trung Bọ, chỗ hẹp nhất chỉ 50 km tại Quảng Bình, và có một sự phản hóa đa dang hơn nhiều so với các nước khác trên bán đảo
1 Các nguồn tài nguyên phân bố không đều theo lãnh thổ
Lãnh thổ Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú song phân bố không đều theo lãnh thổ Miền núi và Trung du Đông Bác, Tay Bác phía Tây đải Duyên hải miền Trung và ĐNB tập trung hầu hất các khoáng sản kim loại đen, kim loại màu và các nguyên liệu khoáng, vàt liệu xây dựng và các tiềm năng thủy điện, các tiềm năng đất trồng cây làu năm; rừng, song đất trồng cây lương
thực ít, trình độ dân trí thấp, số cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao đảng trở lên chiếm khoảng 20,2% so với cả nước Ngược lại, Đóng bằng ven biển tiềm năng khoáng sản nổi trội chỉ có đầu khí ở phía Nam và cát thạch anh ở đải
ven biển gần các trục giao thông cửa VÀO - RA thuận tiện cho việc thiết lập các khu công nghiệp tập trung Tiềm lực cán bộ khoa học kỹ thuật cua cả nước tập trung phần lớn ở ĐBVB; tính riêng số cán bộ khoa học kỹ thuật từ cao đẳng trở lên chiếm 78-80% cuả cả nước
Trang 20Biểu 1 Tỉ trọng phân bố tài nguyên theo các lành thổ (8 vùng)
Trang 2120
2 Việt Nam có yếu tố biển trội nhất trong số các nước ở lục dia Dong Nam A
Bờ biển đất liền Việt Nam từ biên giới Việt - Trung đến biến giới Việt Nam - Campuchia đài khoảng 3260 km, nếu tính cả bờ biển các đảo và quần
đảo trên Biển Đông thì chiều dài này còn lớn hơn nhiều, khiến cho Việt Nam có một chỉ số về tính biển (tỷ số giữa chiều đài bờ biển so với điện tích đất liền) là 0,016, đứng đầu các nước trên bán đảo Trung Ấn, trên Thái Lan (0,007) và
ngang với Malaixia thuộc nhóm các nước Quần đảo Lãnh thổ biển rộng gấp nhiều lần lãnh thổ đất liền, bao gồm lãnh hải thuộc chủ quyền và quyền tài phán
của Việt Nam, rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở và vùng đặc quyền kinh tế
cùng với thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam, rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở Tầm quan trọng của vùng biển này được tăng thêm bởi vị trí của
nó, vì Biển Đông nằm trên một trong những đường hàng hai dong tau thuyền qua lại nhất thế giới, giữa một bên là Chau Au va Trung Dong va ben kia là Nhật Bản và Đông Á Nó cũng tạo mối quan hệ quy mô khu vực giữa các nước Đông Nam A với các nước công nghiệp mới ở Châu Á là bốn "con rồng" mà nhờ tốc
độ phát triển nhanh va kha nang đầu tư của chúng, đang trở thành người bạn
hàng được ưu đãi ,
Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam nầm ở giữa Biển Đông đang là đối tượng tranh chấp giữa các nước có liên quan, vì
chúng có những tiềm năng kinh tế quan trọng Chúng có thể chứa đựng những via dau lớn và có một trữ lượng quan trọng về hải sản mà hầu hết đang được khai thác bởi các tầu thuyền đánh cá của Nhật Bản và Hàn Quốc, làm cho các
nước ven bờ đang tăng cường xuất khẩu hải sản phải quan tâm Một sự thỏa thuận giữa các nước ven bờ sẽ không chỉ củng cố hòa bình và ổn định trong khu
vực mà còn tránh được một cuộc xung đột trên biển sau cuộc chiến tranh trên đất liền tại bán đảo trong các thập kỷ vừa qua, và sẽ cho phép huy động các vốn đầu tư quốc tế để khai thác các nguồn tài nguyên này
3 Việt Nam là nước đông dân nhất trên bán đảo Trung Ấn
Với 70,9 triệu dân năm 1993, Việt Nam đứng thứ 13 trên thế giới và thứ
hai ở Đông Nam Á sau Inđônexia rất xa (184.6 triệu), nhưng đứng đầu trèn bán đảo Trung Ấn, vượt rõ Thái Lan và Miến Điện (55,6 và 40,4 triệu) Khoảng cách giữa các nước trên bán đảo sẽ tăng lên trong những năm tới, vì Việt Nam đang
có sự tăng nhanh hơn Thái Lan Dân số Việt Nam theo dự báo tin cậy nhất sẽ vượt ngưỡng 80 triệu vào năm 2000 và sẽ đạt tới 95,1 triệu vào nám 2010 Tuy
Trang 22nhiên sự phân bố dân cư ở Việt Nam rất không đồng đều Châu thổ Bác Bộ va vùng Trung du chiếm 27,1% dân số trên 8% dian tích lãnh thổ, châu thổ Nam
Bọ và vùng đất thấp bao quanh chiếm 34,7% dân số trên 19,1% điện tích lãnh
thổ Như thế hai cực của đất nước chiếm hơn một phần ba một chút về điện tích
(34,7%), nhưng đã tập trung gan hai phần ba dân số (61,2%) Vùng Trung du
miền núi Bác Bộ và Tây Nguyên thưa dân như nhan, chỉ có 14,2% dân số và 43,5% diện tích
Bảy tỉnh hợp thành châu thổ sông Hông có một mật độ trung bình 1018
người/km2 (925 người/km2) nếu không tính Hà Nội), ngưỡng này ở Đông Nam
Á chỉ thấy ở Gia Va, vượt xa chau thổ sông Cửu Long với 445 người/km2 Có
một khoảng cách lớn giữa hai châu thổ và các vùng thượng du Bác Bộ và Tày Nguyên rất thưa dân (70 và 45 người/km2) Sức ép dân số mạnh mẽ là đặc tính nổi bạt của Việt Nam trong số các nước trên bán đảo Trung Ấn Diện tích canh tác theo đầu dân rất ít, trung bình ca nước là 1360 m2, tut xuống 1136 tại các
đồng bằng Duyên hải Trung Bộ và chỉ 1091 tại châu thổ sông Hồng và Trung
du Bác Bò Diện tích nhà ở theo đầu đân ở Bấc Bộ cũng kém hơn so với Nam
Bộ (3,3 so với 5,1 m2) và đưới mức tối thiểu 6 m2 gần hai lăn
4 Việt Nam có sự phân hóa lãnh thổ mạnh mẽ, tạo ra tiền đề phát triển nên
kinh tế hàng hóa đa dạng, nhưng không đồng đều
Sự tương phản giữa các vùng đông dân và thưa dân cùng với sự đa dạng của các cảnh quan tự nhiên và nhân văn, hình dáng lãnh thổ đặc biệt, và với dấu
ấn của một sự tiến triển kinh tế khác nhau dẫn tới sự phản hóa của lãnh thổ quốc
gia với những đặc điểm độc đáo theo tuyến, dải,
Trải đài trên 1Š độ vĩ tuyến, với các dấy núi nhìn chung chạy theo hướng tây bác - đông nam vuông góc với hai lưồng gió mùa luân phiên trong năm, với
sự tương phản Duyên hải - nội địa giữa vùng đồng bằng ở phía đông, nơi cư trú
của người Kinh với vùng núi phía tây có nhiều dân tộc thiểu số, tất cả đã dẫn
đến một sự đa đạng hóa cảnh quan tự nhiền và cảnh quan nhân văn trên một lãnh thể đất liền chỉ ròng 330.363 km2, Thêm vào đó là những cấu trúc không
gian đặc thù: trước hết là sự tập trung quanh hai châu thổ ở hai đầu được nối bởi
một chuỗi không liên tục các đồng bằng duyên hải ở vị trí trung gian; tiếp đến là
sự tồn tại của các ranh giới mà tính chất phân chia kém hơn tính chất nối liền vì nhiều dân tộc thiểu số không tuân thủ ranh giới chính trị của các Quốc gia, dù
đó là cư dân miền núi ở thượng du Bác Bộ và Tây Nguyên, hay là đân tộc thiểu
Trang 2322
số Khơme ở hạ du châu thổ sông Cửu Long rộng lớn, cuối cùng là Tây Nguyên nơi còn dự trữ đất đai rộng lớn cho phép khai khẩn nông nghiệp để phát triển
các cây công nghiệp và xuất khẩu
Sự phân hóa lãnh thổ còn thể hièn rõ bởi những di sản của lịch sử Ở thế
kỷ XVII, cũng như trong thời kỳ sau chế độ thực dân từ 1954 đến 1975, lãnh thỏ
Việt Nam được phản đôi, xưa kia theo sông Gianh, sau là theo sông Bén Hai (vi tuyến 17) Vào thế kỷ XIX, cũng như trong thời kỳ thực dân Pháp với ba Kỳ:
Bác Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, sau Cách mạng tháng Tám 1945 ba Kỳ đổi thành ba Bộ Ngày nay sự phân chia này không còn mang ý nghĩa nhiều lắm
Ba đơm vị lãnh thổ ấy gấn với những đi sản của môi trường tự nhiên cũng
như của lịch sử, chưa đủ để nói lên sự phân chia cần thiết của quốc gia Những
sự phân hóa theo chiều đọc, trong mối quan hệ với hướng chính của địa hình và của sông ngòi, hướng Tây Bắc - Đông Nam, đã hình thành hai tuyến lãnh thổ kinh tế - xã hội tương đối rõ
Miền Bác có Hà Nội là thủ đỏ của cả nước, châu thổ sông Hồng có vùng Trung du bao quanh là nơi tập trung phần chủ vếu của hoạt động kinh tế quốc
gia Vùng núi từ Đòng Bác đến Tày Bác, cách biệt hơn vĩ được hình thành từ các cánh cung và các dãy núi chạy song song nối tiếp hệ thống sơn văn ở miền nam
Trung Quốc và ở bán đảo Đông Dương
Miền Trung kéo đài trên nhiều vĩ tuyến cũng có sự khác nhau từ bấc vào nam, Bắc Trưng Bộ với những châu thổ nhỏ bé, kéo dài đến tạn Nam Trung Bộ
Dãy Trường Sơn phân lãnh thổ miền Trung thành Đông Trường Sơn (đồng băng ven biển) và Tây Trường Sơn (núi và cao nguyên)
Miền Nam có thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm kinh tế nằm ở nơi tiếp giáp giữa các thềm phù sa cổ của đồng bằng Đông Nam Bộ, nơi có nhiều cơ
sở công nghiệp và vùng đất Bazan đệ tứ và châu thổ sông Cửu Long, vựa lúa của đất nước, nhiều đất phèn và đất mặn, và các tài nguyên biển đã giữ một vị trí quan trọng
Trang 245 Việt Nam có địa hình đặc biệt, mạng lưới các tuyến trục và cảng biến
thuận lợi cho phát triển các địa bàn động lực
Với ba phần tư lãnh thể là núi, cao nguyên, đồi thấp, trung du ở phía tây;
một phần tư là đồng bằng không liên tục dọc biển ở phía Đông; hình đáng đất
nước kéo dài với hai trung tâm lớn ở phía Bắc, phía Nam cách nhau gân 2000
km Sự đa dạng của địa hình đã ảnh hưởng đến việc thiết lập những trục giao
thông đường bọ, đường sát, đường biến, đường hàng không theo hướng Bắc -
Nam (hay theo hướng kinh tuyến) bảo đảm cho sự thống nhất cần thiết trong xây dựng và phát triển kinh tế cũng như quốc phòng
Mạng lưới dòng chảy có hướng Tây - Đông hay Tây bắc - Đông nam
(theo hướng vĩ tuyến) tạo điều kiện để thiết lập một hệ thống đường nhánh ngang đan chéo với các đường đọc nói trên
Bờ biển đài 3260 km, có nhiều cảng tự nhiên, nước sâu nhiều vịnh, vũng,
cửa sông, tạo điều kiện thiết lập một hệ thống cảng lớn nhỏ, vừa thuận lợi cho giao lưu Bắc Nam, vừa thuận lợi cho việc mở ra những đầu mối đường thủy nối
liền duyên bải với nội địa trong nước và cả ba nước Đông Dương, đồng thời gấn
liền với các tuyến đường hàng hải liên đại đương
Những tuyến trục Bắc - Nam bao gồm đường sắt Thống nhất Bác - Nam;
quốc lộ 1A giữ vai trò xương sống, đường huyết mạch của Việt Nam Cùng với đường bộ, đường hàng không và đường biển (Hải Phòng - Thành phố Hồ Chí Minh) là tiền đề quan trọng để huy động các vùng vào qúa trình hưng thịnh đất nƯỚc
Những tuyến trục ngang theo hướng Tây - Dong hay Tay bac - Dong nam nối với các trục dọc tạo thành hệ thống đường xương cá Xuất phát từ trục dọc, suốt từ Lạng Sơn - Hà Nội - Cà Mau có rất nhiều đường nhánh:
- Miền Bác có: đường 6, 2, 3, 8, 29, 20, 9
- Miền Nam có đường +4 (Hồ Chí Minh - Tày Ninh), đường Š1 (Biên Hòa -
Vũng Tàu), đường 19 (Quy Nhơn - Gia Lai - KonTum nổi với đường 14), đường
11 (Phan Rang - Đà Lạu, đường 26 (Ninh Hòa - Buỏn Mía Thuột, dường 35 g 35 (Tuy Hòa - Pleiku), đường 24 (Quảng Ngãi - Kơn Tum)
Mạng lưới giao thong có những đặc điểm sau:
Trang 2524
- Ở Bắc Bộ: mạng lưới giao thông từ Hà Nội trải ra đi các nơi dễ đàng
(bán kính từ 100 - 500 km) Các khu vực miền núi thiếu các trục ngang nối với
nhau Cửa ra biển đã và sẽ được hình thành đều có quy mô tương đối lớn
- Ở miền Trung: Các tuyến giao thông hình thành theo kiểu xương sống
và xương sườn Các nơi đổ về trục chính rồi đi các trung tâm kinh (ế lớn, Các
cửa ra đã có nhưng đều có quy mô vừa và nhỏ, song ở một số khu vực như: Hòn
La, Đà Nẵng, Dung Quất, Cam Ranh, có thể phát triển cảngnước sâu có quy mô tương đối lớn
- Ở Nam Bộ: Mạng lưới giao thông đường bộ lấy quốc lộ I làm chính rôi
rẽ đi các nơi theo các nhánh Ở đồng bằng sông Cửu Long, mạng lưới đường
thủy chằng chịt như mạng nhèn, cửa ra biển chỉ có quy mô lớn ở khu vực Đông Nam bộ, còn ở ĐBSCL hầu hết là quy mô vừa và nhỏ
- Cùng với các tuyến trục, hệ thống cảng biển - cửa mở của Việt Nam với
bên ngoài, thuận lợi cho phát triển các địa bàn động lực Theo các tài liệu báo
cáo của Bộ Giao thông vận tải hiện nay ta có 52 cảng biển thuộc các ngành và địa phương quản lý, được phân bổ từ Bác vào Nam, bao gồm:
- Các Cảng Hải Phòng, Cái Lan, Cửa Lò, Đà Năng, Quy Nhơn, Nha
Trang, Sài Gòn và cảng Cần Thơ (đang do Trung ương quản lý)
- Cạnh các thương cảng còn có các cảng chuyên dùng của các ngành:
+ Cảng đầu: Cảng B12, Thượng Lý (Hải Phòng), Mỹ Hien, Nai Hiên, Nhà
Bè, Cát Cái, Petechim
+ Cảng than: Cửa Ông, Hòn Gai, Điều Công
+ Cảng dịch vụ đầu khí Vũng Tầu
+ Cảng xuất cát Ba Ngòi, Đầm Miôn (Khánh Hòa),
- Ngoài các cảng lớn kế trên còn có các cảng ven biển do các địa
uan ly
huong quan ly
Trang 26Tổng lượng hàng qua hệ thống cảng biển năm 1993 là: 21,5 triệu tấn;
Trong đó hàng thêng qua cảng Trung ương: 10 triệu tấn, qua các cảng chuyên
dùng: 9 triệu tấn, còn lại qua các cảng địa phương
Biểu 2: Thống kê hàng qua cảng theo khu vực
Thực tế hoạt động của các cảng biển có thể rút ra một số nhận xét:
- Hầu hết các cảng chưa có bến cho tàu lớn (trên 15000 T) Bến chuyên dùng và thiết bị hiện đại còn quá ít (bến container, bến hàng rời ) Công trình cầu bến bị xuống cấp nghiêm trọng, không đáp ứng được tải trọng cần thiết
- Luồng hàng vào các cảng bị hạn chế do chiều rộng lòng hẹp hoặc độ sâu luồng kém, luồng gấp khúc nhiều Đặc biệt là ở lưông vào các cảng Hải
Phòng, Cửa lò, Sài Gòn Hệ thống dẫn luồng chưa được nâng cấp, thiết bị thiếu
thốn Hiện tượng sa bồi tại các lưỡng chưa có biện pháp khắc phục hữu hiệu
- Nhiều cảng có mặt bằng chật hẹp, khó cải tạo, phát triển (Cảng Sài Gòn,
Sông Hàn ) xiang lưới đường sắt, đường bộ chuyên ,chở hàng hoá ra, vào cảng
còn rất hạn chế Hệ thống kho bãi chặt hẹp, chưa bảo đảm yêu cầu kỹ thuật Tổ
chức xếp dỡ tuyến kho bãi h&u phương còn thô sơ dẫn đến năng suất còn thấp
Trang 2726
- Việc xây dựng và khai thác cảng chưa được quản lý theo quy hoạch, sảy
ra tình trạng xảy dựng tràn lan, lãng phí vốn đầu tư của Nhà nước
6 Việt Nam có cơ cấu kinh tế - xã hội đang bước vào thời kỳ chuyển đổi
theo hướng (ích cực
6.1 Khái quát chung về thành tựu kinh tế xã hội Việt Nam (1991 - 1994)
Từ nam 1986 khởi đâu đường lối đối mới nền kinh rế xã hội Việt Nam đã
có những biến đổi sau sắc Từ năm 19§9 khi cóng cuộc đổi mới được đẩy mạnh hơn, những thay đối điển ra ngày căng rõ nét, đưa Việt Nam thoát khoi khủng hoảng
Thời kỳ 1991 - 1991, nền kimh tế liền tục có tốc độ tăng trưởng khá, nhịp
độ tăng bình quản tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thời kỳ 1991 - 1994 là 7,9%, Các căn đổi lớn vẻ cơ bản được đảm báo, từng bước đây lùi và kiểm soát lạm
phát CHI số tảng siá hàng tiẻu dùng hàng năm đã giâm từ 67,1% năm 1991
xuống Ã,3% năm 1995 và xấp xI 10% năm 1954, Huy động ngắn sách từ GDP tang từ 13.8 nam ¡9ö1 lên 35,72 năm 1994,
trong đó phần ngàn sách đầu tư 2,44 ty USD Tỷ lệ tích luý đầu tư từ nội bộ nền
kinh tế tăng từ hơn 10% GDP năm 1992 lên khoảng 15 - 18% GDP nam 1994
Cơ cấu ngành của GDP có sự chuyển địch theo hướng giảm tÝ trọng nông lam
nghiệp (từ 37,5% năm 1990 xuống 27.7% nam 1994}, tang ty trọng công
nghiệp, xây dung Ty trong cong nghiép tir 18.8% năm 1990 lên 22% nam 1004, xảy dựng từ 3,3% nám 1990 lén 7,65 và dịch vụ từ 39,9% năm 1990 lên 42,7%
nam 1994)
Kinh tế đổi ngoại được phát triển thị trường xuất nhập khẩu được cùng
cỏ và bước đâu mở rộng, Thời Kỳ 1991 - 1994 kim ngạch xuất khâu tăng bình quản năm trên 2ð
tổng kim ngạch xuất khẩu của thời Kỳ này đạt (1.2 tý
SP Tếc độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (DI) bình quan hàng
APHO HOCH
Trang 28Đời sống của các tầng lớp dân cư từng bước ổn định và cải thiện; các mặt
xã hội có những chuvến biển tích cực
Mức chênh lệch giữa các vùng lãnh thể còn lớn,
6.2 Thực trạng cơ cầu kinh tế lãnh thổ của Việt Nam có sự chènh lạch rõ về
tình độ phát triển giữa các phản đồng bằng và đải ven biến với Trung du mien
nul
Lanh thé Vist Nam hinh thanh 2 phan lanh thé kha r6 nét Dé 1a Dong
bằng ven biển và Trung du miền núi
a Trung du miền núi là nơi tập trung nhiều tài nguyên song đản cư
thưa thớt, kinh tế chảm phát triển, nhiều vùng đang trong tình trạng chậm
phát triển cần cải biến
* Khái quất tiềm nắng và cu dân
Trung du miền núi có chung đường biền giớt đất liền với Trung Quốc, Lao Campuchia dai trên 4000 km, có nhiều cửa khẩu thuận tiện cho việc phát triển mậu địch biên giới giữa nước ta với các nước nêu trèn,
Trung du miền núi là đầu nguồn của hệ thống các sông lớn, hàng năm
» 2 3 N N x 3 Lh 22 “ + ^ a 2
mang hàng tỷ m2 phu sa boi dap cho dong bang ven biến; có vai trò quyết định
với mỏi trường sinh thái cả nước
Trung du miền núi chiếm 3/4 vé dién tich ca nude trong d6 80% diện tích
là rừng và đất rừng, có hơn 2 triệu ha đất đỏ nâu trèn các cao nguyên và rải rắc ở miền Trung; tập trung nhiều mô khoáng sản Kim loại và loại phi khoáng khác
Với đặc điểm như vay, khu vực này có thế mạnh vẻ nghẻ rừng, trồng cay cong nghiệp chăn nuôi đại gia súc nguồn nguyên liệu cũng cấp cho công nghiệp khai khoáng và chế biến khả năng thuỷ điện lớn Có nhiều hang dong va thang cảnh tự nhiên thuận lợi cho phát triển du lịch Nhiều khu đất bang gan đường giao thông thuận lợi chơ xây dựng khu công nghiệp
Dân số vào khoảng 18 - 19 triệu người, chiếm 36% dan 36
độ 195 người/kmẺ (băng 40 mat độ dan số chung cả nước và khoảng 30%
độ đân số vùng đông băng đuyện hải, có những vùng cao, xa chỉ có khoảng Õ -
§ người/km2 Đây là nơi cư trú của đại bộ phận dân tộc ít người Trong đó đông
aPpHanacn
Trang 2928
nhat 1A dan toc Tay, Ning, Thai, Muéng, H'Mong, Ebé, Ba Na, Gia Rai Mot sd
đân tộc chỉ còn vai tram người như Bràu, Chứt, Rục, Kháng, Hà Nhì, Ổ Ðu
© Trình độ phát triển kinh tế
Thực hiện nghị quyết 22 của Bộ chính trị và quyết định 72/HĐBT về phát
triển kinh tế - xã hội miền núi, những năm gần đây TDMIN đã có bước tiến về
đời sống kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng:
Biểu 3: Một số chỉ tiêu của vùng TDMN
Trung du miền núi Cả nước
1 Nhịp độ tăng trưởng bình quân 5,2 7,9
Thời kỳ 1991 - 1994, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng bình quản
hàng năm 5,2% Giá trị xuất nhập khẩu bình quan đầu người từ 10,1 USD nam
1990 lèn 18,9 USD nam 1994, Co cau kinh tế ngành có sự chuyển dịch theo
hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại và dịch vụ (công nghiệp xây dựng trong GDP từ 8,0% năm 1990 lên 1Ô,4% nam 1994; thương mại dịch vụ từ 34,6% lên 36,0%) nóng lam nghiệp giảm từ 53% xuống 495%)
Bước đầu hỉnh thành các vùng tập trung như các vùng cà phê, chà, quế, được liệu, cao su, đâu tầm, cây ăn trái gắn với công nghiệp chế biến tại chỗ, giải quyết việc làm Trong lâm nghiệp đã giao Š triệu ha đất cho nóng dân, thực hiện 1150 dự án đầu tư giữ rừng và phủ xanh đất trống đồi trọc của chương trình
321
Trang 30Các mật như y tế - giáo dục văn hoá được nang lên một bước Nhiều nơi
đã mở trường bản trú ở xã và mở trường dân lập đến các bản làng thu hút được
nhiều con em đân tộc đến tuổi đi học đến trường đến lớp Các dịch bệnh từng
bước được hạn chế: 54% dân số bị bướu có (năm 1991) đã giảm xuống còn 40%
(nam 1993), bệnh sốt rét từ 20 - 25% giảm xuống còn 10 - 1ấ%, 85% trẻ em
được tiêm chủng mở rộng
Tuy vậy, Trung dụ miền núi còn nhiều khó khăn, điểm xuất phát còn quá thấp so với cả nước Sản xuất hàng hoá kém phát triển, hàng năm thiếu hụt 30 -
40% ngân sách (trừ Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lâm Đồng); Các tính Lai Châu, Hà
Giang, Kon Tum, Cao Bằng thiếu hụt đến 80 - 90% ngàn sách Qua số liệu điều tra cho thấy: 55 - 60% số hộ đủ ăn và trang trải được chỉ tiêu; 1Ô - 15% số hộ có
thu nhập khá, làm đủ ăn và có tích luy; 30% số hộ nghèo và đói
Đô thị hoá chưa phát triển, tỷ lệ đô thị hoá thấp 14% (cả nước là 20,5%); nhiều khu vực còn trống vắng đô thị, những đô thị đã có thì ở trình độ thấp
* Tĩnh độ phát triển đã thấp, song cơ cấu kinh tế lãnh thổ cồn có sự chênh lệch: Bên cạnh những khu vực đô thị tương đối phát triển là khu vực còn
Nguồn: Viện quy hoạch đô thị và nông thôn
Mang lưới đô thị ở TDMN mặc dù thưa thớt, chủ vếu là các loại đỏ thị
nhỏ Song ở mức độ nào đó, thời gian qua đã có ý nghĩa nhất định Ở các đo thị
này đã hình thành nhiều các khu cụm công nghiệp như: Việt Trị, Phù Ninh - Làm Thao, Thái Nguyên - Lưu Xá, Gò Đàm - Phổ Yên, Cam Đường, Bắc
Giang, Các khu vực công nghiệp này được xem như các hạt nhân tạo vùng, có
tác dụng thúc đẩy kinh tế vùng phát triển Các đô thị ở Tay Nguyên đã trở thành những trung tam chế biến các sản phẩm công nghiệp dài ngày của vùng Có
Trang 3130
những đô thị là những trung tảm du lịch của vùng và cả nước như Đà Lạt Kinh
tế các đô thị này đã đóng góp phàn lớn kinh tế cho các tỉnh trong vùng Qua số liệu thống kê và xử lý chuyên gia của 1 số đô thị ở Tây Nguyên và Đông Nam
Bộ đã phần nào chứng mỉnh có nhận định trên
Biểu 5: Tỷ trọng của một số đô thị đóng góp với nên kinh tế của tỉnh
(Cả tỉnh là 100%)
GDP Thu ngân sách Đóng góp cho tỉnh của các đò thị:
Bên cạnh đó còn những khu vực trì trệ Đó là những huyện xã khó khăn
và đặc biệt khó khăn: Thu nhập bằng tiền dưới 500.000 đ/ng/năm; Tỷ lệ mù chữ
trên 55%, số thày thuốc trên l vạn dân xấp xỈ 2 người, ty lé trẻ suy dinh dưỡng
trên 50% Tỷ lệ đất trống đồi trọc trên diện tích tự nhiên vượt quá 40%,
Theo kết quả điều tra và phân loại bước đầu trên lãnh thổ miền núi có 54 huyện khó khăn, trong đó có 13 huyện đặc biệt khó khăn Đó là Mường Tòè, Sông Mã, Bác Hà, Mù Cang Chải, Bảo Lạc, Đồng Văn, Quan Hoá, Kỳ Sơn, Minh Hoá, Hương Hoá, Phước Son, Dakglei, Kom Plong Các huyện đặc biệt
khó khăn này chủ yếu tập trung ở Trung du miền núi phía Bấc và các tỉnh Tây Nguyên Lãnh thổ khó khán này chiếm 38% diện tích, 15,6% dân số cả nước, GDP/người băng 50% so mức trung bình cả nước,
b Đồng bằng - ven biển là nơi tập trung dân cư, phần lớn năng lực sản xuất, có thể hình thành một số trọng điêm phát triển và nhiều cực tăng trưởng trong tương lai
© Khái quái vê tiềm năng và cư dân
Đồng băng - ven biển chiếm 1⁄4 điện tích đất liền của nước ta, diện tích
vùng biển và thêm lục địa gấp 3 lần diện tích đất liền của cả nước, Day 1a ving
có 2 đồng bằng châu thổ lớn: Đồng bằng sông Hông và đồng bằng sông Cửu
Trang 32Long, cùng với dải đồng bằng miền Trung Bờ biển kéo đài từ Móng Cái đến
Hà Tiên với chiều đài hơn 3200 km, có nhiều vùng vịnh, cửa sông , cửa biển
Đồng bằng ven biển là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, Các
tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là tài nguyên đất, ngưồn lợi biển và các nguồn tài
nguyên trong lòng đất và trong lòng biển khá phong phi, da dang Ndi bat 1a
đầu khí, hải sản, muối biển, các hoá chất từ biển cùng tài nguyên thiên nhiên
phục vụ cho phát triển du lịch Nhiều nơi ven biển có thể xây dựng cảng biển và
phát triển hàng hoá Vùng ven biển còn nhiều điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu thương raại và du lịch
Dong băng ven biển có dân cư tập trung đông đúc, chiếm tới 73,8% dàn
số cả nước Mật đệ dân sẽ: 341 ng/km2, gấp 1,4 lần mật độ dan số cả nước và gấp 3 lần mật độ dân số vùng Trung du miền núi Ở đây tập trung hơn 73% cán
bộ khoa học kỹ thuật và 76% v bác sĩ của cả nước; có nhiều trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá và khoa học kỹ thuật cả nước như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ
Biểu 6: Tỷ trọng một số chỉ tiêu tiềm năng của ĐBVB so cả nước (năm 1994)
Trang 33
trà 3
« Trình độ phát triển kinh tế
Thời kỳ 1991 - 1994 nèn kinh tế có nhịp độ tăng trưởng bình quan nam
khoảng 8,2%, cao hơn mức trung bình cả nước và gấp 1,6 lần mức tăng trưởng của Trung du miền núi Trong cơ cấu kinh tế các ngành công nghiệp, thủy sản, địch vụ, nông lâm nghiệp đều được gia tăng Đồng bằng- ven biển đã tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hớa và đóng góp phần lớn về GDP, giá trị xuất khẩu,
giá trị công nghiệp, nông nghiệp và thu ngàn sách cho nền kinh tế cả nước
Biểu 7: Tỷ trọng một số chỉ tiêu kinh tế của ĐBVB so cả nước
5 | Giá trị xuất khẩu (%) 100 90
6_ | Giá trị sản lượng công nghiệp (%) 100 85,6
7 | Giá trị sản lượng nông nghiệp (%) 100 45
Đồng bằng - ven biển tập trung nhiều đô thị, khu công nghiệp của cả
nước Ở Hà Nội, Hải Phòng thành phố Hồ Chí Minh, 6 khu chế xuất đã được thành lập và 3 khu công nghiệp dự kiến sẽ được thành lập Kinh tế đô thị của
vùng đã đóng góp 36% GDP cả nước và 55% nguồn vốn tích luỹ đầu tư trong
nước Sự phát triển của vùng này tuy có khá hơn Trung du miền núi, song so với
tiềm năng phát triển của vùng thì sự phát triển đó chưa tương xứng, còn nhiều
lực tiềm ẩn nhưng chưa được phát huy, sản phẩm xuất khẩu còn ít, chưa hình
thành các trung tâm kinh tế mạnh làm động lực lôi kéo sự phát triển của các
vùng và tạo tiền đề để nên kinh tế cả nước mở cửa, giao lưu kinh tế với các
nước Trong vùng có những khu vực "nông nghiệp thuần”, trong đó đặc biệt là
Trang 34tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau, một số nơi thuộc vùng trũng Nam Hà,
Ninh Bình, Hà Tay, Hải Hưng Nhìn chung ở những nơi này sự phát triển còn trỉ
tr, đời sống dân cư còn nhiều khó khán
Vì vậy, để phát triển nền kinh tế nước ta theo hướng công nghiệp hoá,
góp phần tầng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển
thì phát triển kinh tế đồng bằng - ven biển có ý nghĩa chiến lược
PHAN Ill
DINH HUONG CO CAU LANH THO THEO HƯỚNG
PHAT TRIEN CO TRONG DIEM
i DINH HUONG CHUNG VE PHAT TRIEN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁ NƯỚC
DEN NAM 2010
Mấy năm gần đây hệ thống kinh tế - xã hội của nước ta đã có những biến đổi sâu sắc, nền kinh tế thoát khỏi vòng luấn quan của tình trạng mất én định kinh tế Cơ cấu cuả nền kinh tế đã có sự thay đối theo hướng tích cực: tỉ trọng
cuả công nghiệp, xây đựng, dịch vụ từng bước tăng lên, tỉ trọng cuả nông lâm
nghiệp giảm dan (xem biéu 8)
Biểu 8: Cơ cấu kinh tế qua các nam
4 Dịch vụ
1 Công nghiệp 18,8
2 Xây dựng cơ bản 3,8
3 Nông - lám nghiệp 375
Trang 3534
_ Nénkinh tế đang chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, khơi dạy làm thức tỉnh tiềm năng to lớn cuả các thành phần kinh tế Tỉ trọng khu vực
ngoài quốc doanh trong GDP tăng từ 33,6% năm 1990 lén 42,4% năm 1994 và
đang tiếp tục có xu hướng tăng Kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo,
nhất là đối với ngành công nghiệp then chốt, dịch vụ tài chính, ngàn hàng
Nèn kinh tế trong suốt mấy năm liền đều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá (xem biếu 9), cao hơn mức do Đại hội lần thứ VI cuả Dang dé ra cho ca thời kỳ chiến lược 1991-2000
Những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được là to lớn, cho phép Tổ quốc
ta chuyển sang một giai đoạn phái triển mới, giai đoạn đẩy tới một bước sự
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, với những mục tièu, chỉ tiêu cao hơn
Cần tranh thủ những cơ hội mới rất thuận lợi và đồng thời phải đối phó với các sức ếp và những thử thách lớn cần vượt qua
Biểu 9: Nhịp độ tăng trướng của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 1991 -1994
(Nhịp độ tăng trưng bình năm sau so năm trước; giá 1989)
Những chuyển biến tích cực cuả giai đoạn 1991-1994, nhất là hai năm gần đây (1993-1994) cho thấy đến năm 2000 có khả năng dạt mức GDP bình quân đầu người Việt Nam tăng gấp đôi so với năm 1990, và đến năm 2010 GDP
bình quản đầu người cuả nước ta có khả năng tang 2.3-2.5 Tần so với năm 2000
Nói cách khác, mức tăng GDP/người năm 2010 so với năm 2000 sẽ cao hơn
mifc tang GDP/ngudi nam 2000 so với năm 1990, Có như vậy, chúng ta mới hy vọng giảm đần khoảng cách chênh lèch với một số nước trong khu vực
Trang 36Đề đạt được mục tiêu trên, cơ cấu cuả nền kinh tế sẽ chuyển địch theo
hướng tăng tỷ trọng còng nghiệp, địch vụ và giảm ty trong nong- lam nghiệp
đảm bảo đạt hiểu quá cao và phát triển bên vững Sau khi can nhac nhiều phương án cơ cấu kinh tế của đất nước chúng tỏi xin nêu một phương án tích cực (xem biểu 10) Nếu có đột biến về phát triển công nghiệp do đầu tư nước ngoài vào thì cơ cấu kinh tế có tỉ trọng còng nghiệp còn cao hơn nữa,
Biểu 10: Dự báo cơ cấu kinh tế Việt Nam dén nam 2010
ở mức 2 con số (xem biểu 11)
Biểu 11: Dự báo nhịp độ tăng trưởng cuả nên kinh tế Việt Nam qua các giai đoạn đến năm 2010
Ca giai đoạn Trong đó |
1994-2010 94-2600 2001-2010 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 11 10,7 12.5
Trang 37q2 &
- Lù tiên đầu tư vào các lĩnh vực năng lượng - nhiên liệu, giao thông vận
tải và thông tin liên lạc, cũng như các cong winh kết cấu hạ tang kinh tế khác, tạo ra moi trường thuận lợi để phát triển sản xuất và trao đổi sản phẩm giữa các
vùng và với nước ngoài ,
- Coi trong dau tu cho mot s6 nganh cong nghiệp tạo nguyên Hiệu co ban cho quá trinh céng nghiệp hoá đất nước như xi măng, sắt, thép, hoá chất để chủ động báo đảm một phần nhu cầu trong nước (với hơn $ÒÖ triệu đản vào năm 2000
và khoảng 9Š triệu dân vao nam 2010)
- Đầu tư đề tạo điều kiện ến định và tiến bộ xã hội, cai thiện đời sống vật chat va van hod ca nhân dan, dac biệt là vẻ lĩnh vực giáo dục, y tế, Khoa học - cong nghe, văn hoá
- Xây dựng một số cóng trình quy mô lớn và hiện đại đáp ứng nhu cầu của cong cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tao ra những tiền đề cần
thiết để phát triển nhanh và toàn điện trong thể kỷ 21
Chú trọng các địa bàn kinh tế trọng điểm ở cả 3 miền Bac Tring, Nam
như đã néu trong chiến lược, tạo ra các vùng phát triển nhanh hơn trong nước,
trong sự liên kết giữa các vùng, làm động lực đấy tới sự phát triển chung của cả nước Đồng thời chú trọng đầu tư cơ sở hạ tang cho các vùng miền núi, các nơi
có nhiều khó khán, các địa bàn xung vếu vẻ an ninh quốc phòng
Những chuyển biến tích cực trên tất vấu dẫn đến sự phát triển nhanh chóng cuả các mối quan hệ giữa các vùng nhất là mối quan hệ giữa các vùng và các địa bàn trọng điểm trong cả nước Và ngược lại chính các mối quan hệ đó lại
là một vếu tố quan trọng không thể thiếu được thúc đầy các vùng các địa bàn trọng điểm phát triển nhanh và vững chắc hơn
Dưới đày là định hướng phát triển một số ngành lĩnh vực chủ vấu:
a, Định hướng phát triển công nghiệp
Đây mạnh tốc độ phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hóa, năng tỷ trọng công nghiệp trong GDP cuả cả nước từ khoảng 22% năm 1994 lên 26,9% vào năm 2000 và 33,5% vào nám 2010
APHö TT
Trang 38Định hướng phát triển công nghiệp phải nhằm vào việc khai thác tôi đa các ngưồn lực và thế mạnh cả đất nước Trong những năm trước mắt phát triển công nghiệp chế biến và chẽ tạo là chính, đấy mạnh xuất khẩu để có thể nhập
khẩu công nghệ, kỹ thuật hiện đại và các nguyên vật liệu cần thiết Các ngành công nghiệp nặng phát triển trên cơ sở thế lợi về tài nguyên và nhu câu thiết yếu cua đất nước Công nghiệp quốc phòng phải được chú ý thích đáng Các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống cần được khỏi phục, hiện đại hoá và phát
triển Phát triển mạnh công nghiệp nhỏ nông thỏn,
+ Công nghiệp nhiên liệu - năng lượng
Nước ta tiếp tục đẩy mạnh thăm dò và khai thác đầu khí nhiều dự báo
cho rang nam 2000 đạt khoảng 2Š triệu tăn đầu thỏ và năm 2010 đạt khoảng 3§- 4Ô triệu tấn Nhà máy foc dau sd 1 quy mo 6,5 triệu tấn đầu thỏ/năm sẽ được xây đựng trong ké hoach 1996-2000, sau nam 2000 sé xay dựng tiếp nhà máy số 2
và số 3 với công suất tương tự, Khai thác và sử dụng triệt để nguồn khí thiên
nhiên và khí đông hành Sử dụng các chế phẩm từ lọc đầu và khí, phát triển
còng nghiệp hoá đầu, sản xuất phản đạm (nhà máy 1000 tấn NH+/ngày), các hoá chất quan trọng, chất đẻo, đầu nhờn, nhựa đường
- Khai thác than nhằm đấp ứng nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu Năm 2000 khai thác 9-10 triệu tấn, nãm 2010 khoảng 13-15 triệu tấn
Các nhà máy thủy điện sẽ được phát triển mạnh Nỗi bật là thác Mơ (150 MIW); Ya Ly (720 MW): thuỷ điện Hăm Thuận - Đani (427 MW) ở miền Nam
và thủy điện Sơn La ở miền Bác (2400-3600 MW); Di ddi voi thay điện, phát triển nhiệt điền, mở rộng nhà máy nhiệt điện Phả Lai (6O0MDW), xây mới nhiệt
điện Quáng Ninh (1200MIW), nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ sử dụng nhiên liệu
khí (600 MW) và một số nhà máy nhiệt điện chạy khí Sản lượng điện đến năm
2000 đạt 50-60 t¡ KWVh
+ Luyện kim: xây dựng các cơ sở luyện thép từ phôi nhập và sắt vụn từ các tỉnh thuộc vùng ven biển (có điều kiện vạn tải đường biển) như: Hải Phòng, Quang Ninh, Vĩnh, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Biên Hoà Đầu tư chiều sảu cho khu công nghiệp luyện kim Thái Nguyên Sau nãm 2000 khi điều kiện cho phép sẽ xảy dựng nhà máy luyện thếp quy mô lớn khoảng l,5 triệu tấn/năm Đầu tư
Trang 39khai thác mỏ sắt Thạch Khê ( Hà Tĩnh) Nam 2010 sản xuat khoang 7-8 triéu tan
thép Đầy mạnh khai thác và chế biến các kim loại màu như: đồng, chì thiếc, vàng
+ Hoá chất: phát triển hoá chất phục vụ cho sản xuất hàng tiêu dùng Sau
khi có công nghiệp hoá đâu, công nghiệp hoá chất sẽ có một bước phát triển
mạnh mẽ, nhất là sản xuất phân bón như phản đạm, phân lan, DAP Xay dung
nhà máy phân đạm từ khí thiền nhiên công suất 1000 tấn NH3/ngày, mở rộng nhà máy phản đạm Hà Bắc, nguyên liệu từ khí hoá than Đối mới với công nghệ
tir supe don sang supe kép và mở rộng sản xuất nhà máy phan lan Lam Thao Sé xav dung mdi mot s6 co so san xuat phan DAP ở Quảng Ninh, Vũng Tau cdc
cơ sở sản xuất xút, xó đa và hoá chất khác, đảm bảo nhu cầu trong nước trong nước và xuất khẩu Xây dựng nhà máy sản xuất PVC và bóng polyester làm nguyên liệu sản xuất hàng tiêu đùng và cho ngành dặt
+ Vật liệu xây dựng: với nguồn đá vôi lớn ở trong một vùng, phát triển mạnh còng nghiệp sản xuất xi mang, để đạt khoảng 15 triệu tan vao nam 2000
và 30 triệu tấn vào năm 2010 Đi đôi với phát triển một số nhà máy xi mang quy
mỏ nhỏ cỡ 8-10 vạn tấn/năm, xây dựng các nhà máy quy mó lớn trẻn 1 triệu
tấn/năm ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Hà, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Kiên Giang
Ở tất cả các địa phương những nơi có điều kiện phát triển sản xuất gạch ngói đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại địa phương Đồng thời phát triển các loại vật liệu xây dựng chất lượng cao như kính xây dựng, khung cửa nhôm, sứ về sinh,
đá ốp lát
+ Cơ khí - điện tử: ‘
- Đối với công nghiệp cơ khí, từng bước đổi mới công nghệ nàng cao
chất lượng chế tạo trong nước, Nhập khẩu những phụ tùng chỉ tiết của nước ngoài để sản xuất các thiết bị trang bị cho nền kinh tế: các dây chuyên cho chế biến nòng sản, vật liệu xây dựng, đóng mới và sửa chữa tàu thủy, toa xe lửa, lấp ráp Ó tò, xe máy, đáp ứng sân xuất các động cơ nó, thiết bị điện máy kéo, máy công cụ cho gia cong kim loại và gia công gò, tiện tiến tới hình thành các cơ
sở cơ khí nặng để sản xuất phụ tùng lớn, một số máy trong dây truyền thiết bị toàn bộ cỡ lớn, các trang thiết bị nàng, hạ
Trang 40Công nghiệp sản xuất phụ tùng - linh kiện điện tử từng bước phát triển theo hướng hiện đại, đạt trình độ công nghệ tiên tiến, hướng về xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu trong nước về lấp ráp các sản phẩm điện tử Từng bước sản xuất các thiết bị hoàn chỉnh và điện tử dân dụng (ti vị, radio, casset ) điện thông
tin, tin học, điện tử y tế Đi từ lấp ráp SKD, CKD đến IKD tiến đến không còn
lắp ráp các sản phẩm điện tử,
+ Chế biến nóng - lâm - thuỷ sản
Ngành công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản đang chiếm tỷ trọng cao
trong giá trị gia tăng công nghiệp (trên 30%) Trong những năm tới vẫn tiếp tục
phát triển mạnh với công nghệ cao ở các đỏ thị, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và tiêu
đùng trong nước với chất lượng cao, mẫu mã đa dạng, gắn với còng nghiệp phát
triển nông thôn :
Mở rộng phát triển công nghiệp chế biến gắn với các vùng nguyên liệu tập trung như vùng chè, cao su, cà phẻ, dâu tầm, mía đường; vùng chăn nuôi tập trung (chế biến thịt, sữa) phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước
+ Sản xuất hàng tiêu dùng
Tiến tới thảo mãn nhu cầu hàng tiêu dùng cho nhu cầu trong nước với sản
phẩm đa dạng, mẫu mã phong phú
Phát triển mạnh các ngành công nghiệp đệt, may, đa, giày, thủ công mỹ `
nghệ, các hàng gia công xuất khẩu khác, đóng góp phần quan trọng vào kim
ngạch xuất khẩu cuả toàn quốc
b Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp
Khẩn trương chuyển dịch cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và trên cơ sở phát triển nên nông nghiệp sinh thái bền vững
+ Đối với nông nghiệp:
- Lương thực vẫn giữ vị trí quan trọng, tiếp tục đầu tư phát triển để vào
năm 2000 đạt 30 triệu tấn, bảo đảm an toàn lương thực quốc gia, đáp ứng nhu cầu xã hội, phát triển chãn nuôi, có dự trữ và xuất khẩu mỗi năm khoảng 2 triệu tấn