1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loài lan rừng sóc ta (rhynchostylis retusa), hài điểm ngọc (paphiopedilum emersonii), hoàng thảo nghệ tâm

68 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loài lan rừng sòc ta (Rhynchostylis retusa), hài điểm ngọc (Paphiopedilum emersonii), hoàng thảo nghệ tâm
Tác giả Đỗ Văn Xuân
Người hướng dẫn TS. Trần Cụng Quõn
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loài lan rừng
Thể loại Luận văn nghiên cứu
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 3,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài: ”Nghiên cứu kỹ thuật gây trồ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẠI VƯỜN LAN HỒ NÖI CỐC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp

Khóa học : 2014 – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẠI VƯỜN LAN HỒ NÖI CỐC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Lâm nghiệp

Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Công Quân

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Công Quân Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận

là quá trình điều tra hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn

toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra

Thái Nguyên,ngày tháng năm 2018

XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả

trước Hội đồng khoa học

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm

(Ký, họ và tên)

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Thực tập nghề nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp sinh viên kiểm tra, hệ thống lại những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,

cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất

Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt

nghiệp với đề tài: ”Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ

sâu bệnh hại các loài lan rừng: Sóc ta (Rhynchostylis Retusa), Hài điểm ngọc (Paphiopedilum emersonii), Hoàng thảo nghệ tâm (Dendrobium loddigesii) tại vườn lan Hồ Núi Cốc“

Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Trần Công Quân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Trần Công Quân

đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốt khóa luận, nhưng do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế Vì vậy khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vậy tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy cô và toàn thể các bạn để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

Đỗ Văn Xuân

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1: Bảng tổng hợp chỉ số sinh trưởng của lá cây lan Sóc ta 33

Bảng 4.2: Bảng tổng hợp chỉ số sinh trưởng, phát triển rễ ở cây lan Sóc ta 34

Bảng 4.3: Bảng tổng hợp ngày/tháng phát triển chồi hoa và số lượng chồi hoa trên cây lan Sóc ta 35

Bảng 4.4: Bảng tổng hợp sinh trưởng của chồi hoa cây lan Sóc ta 36

Bảng 4.5: Bảng tổng hợp số lượng lá ở cây lan Hoàng thảo nghệ tâm 36

Bảng 4.6: Bảng tổng hợp sinh trưởng và phát triển chồi non ở cây lan Hoàng thảo nghệ tâm 38

Bảng 4.7: Diễn biến hoa ở cây lan Hoàng thảo nghệ tâm 39

Bảng 4.8: Bảng tổng hợp sinh trưởng của lá ở cây lan Hài điểm ngọc 40

Bảng 4.9: Tổng hợp mức độ bệnh hại lá ở loài lan Sóc ta 41

Bảng 4.10: Tổng hợp mức độ sâu hại lá ở loài lan Sóc ta 41

Bảng 4.11: Tổng hợp mức độ bệnh hại lá ở loài lan Hoàng thảo nghệ tâm 42

Bảng 4.12: Theo dõi mức độ sâu hại lá ở loài lan Hoàng thảo nghệ tâm 42

Bảng 4.13: Theo dõi mức độ bệnh hại lá ở loài lan Hài điểm ngọc 43

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1: Toàn cảnh khu vực nghiên cứu 21

Hình 4.1: Một số giá thể lan Sóc ta sau khi hoàn thành 29

Hình 4.2: Đôn lan sau khi hoàn thành 30

Hình 4.3: Một giá thể lan nghệ tâm sau khi hoàn thành 31

Hình 4.4: Một số hình ảnh trong quá trình xử lý phân bón 33

Hình 4.5: Biểu đồ tổng hợp tăng trưởng lá ở cây lan Sóc ta 34

Hình 4.6: Biểu đồ sinh trưởng, phát triển rễ ở cây lan Sóc ta 35

Hình 4.7: Biểu đồ theo dõi số lượng lá ở cây lan Hoàng thảo nghệ tâm 37

Hình 4.8: Biểu đồ sinh trưởng và phát triển chồi non ở cây lan Hoàng thảo nghệ tâm 38

Trang 8

vi

MỤC LỤC

Trang

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa đề tài 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.1.1 Về cơ sở sinh học 4

2.1.2 Cơ sở trồng, chăm sóc, bảo vệ lan rừng 4

2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 5

2.2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới 5

2.2.2 Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam 8

2.3 Tình hình điều kiện tự nhiên tại khu vực nghiên cứu 20

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

3.3 Nội dung nghiên cứu 22

3.4 Phương pháp tiến hành 22

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 22

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 23

Trang 9

vii

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 29

4.1 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 03 loài lan 29

4.1.1 Kỹ thuật gây trồng các loài hoa lan nghiên cứu 29

4.1.2 Kỹ thuật chăm sóc 31

4.2 Khả năng sinh trưởng phát triển của 03 loài lan 33

4.2.1 Khả năng sinh trưởng, phát triển của loài lan Sóc ta 33

4.2.2 Khả năng sinh trưởng, phát triển của loài lan Hoàng thảo nghệ tâm 36

4.2.3 Khả năng sinh trưởng của loài lan Hài điểm ngọc 40

4.3 Tình hình sâu hại, bệnh hại 03 loài lan 41

4.3.1 Sóc ta 41

4.3.2 Hoàng thảo nghệ tâm 42

4.3.3 Hài điểm ngọc 43

4.4 Đề xuất một số biện pháp trong gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại 44

4.4.1 Một số biện pháp kỹ thuật gây trồng lan 44

4.4.2 Kỹ thuật chăm sóc cây hoa lan 44

4.4.3 Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại cây hoa lan 45

PHẦN 5 KẾT LUẬN 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Kiến nghị 48

PHỤ LỤC

Trang 10

Hoa lan là một món quà của tạo hóa, nó không chỉ là một loài hoa đẹp

có giá trị về mặt tinh thần mà còn có giá trị kinh tế cao và hiện đang có thị trường tiêu thụ mạnh trong nước cũng như xuất khẩu Ngày nay, chúng ta có thể thấy hoa lan ở khắp mọi nơi và dễ bị choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ, biến hóa muôn màu,muôn vẻ của các loài hoa như: Cattleya, Hồ Điệp, Dendrobium, Vanda, Cymbidium Hoa lan được ưa chuộng phải chăng bởi đó

là biểu tượng của niềm khao khát cuộc sống phong lưu và hạnh phúc bền bỉ

Trên thế giới có hơn 25.000 giống khác nhau, cùng với những loài mới được khám phá và mô tả theo hàng năm Chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới

và Việt Nam Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của các loài hoa Hoa lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, cái đẹp của hoa lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã đến dạng hình thân, lá, cành duyên dáng ít có loài hoa nào sánh nổi

Màu sắc thắm tươi, đủ vẻ, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho đến chấm phá, loang sọc vằn…

Hình dáng đa dạng phong phú, dù rằng phần lớn chỉ là 5 cánh bao bọc chung quanh một cái môi elip, nhưng mỗi thứ hoa lại có những dị biệt khác thường Hoa lan có loại cánh tròn, có loại cánh dài nhọn hoắt, có loại cụp vào, có loại xoè ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có

Trang 11

2

râu, có vòi quấn quýt, có những hoa giống như con bướm, con ong Hoa lan

có những bông nhỏ nhưng cũng có bụi lan rất lớn và nặng gần một tấn

Ngoài ra lan rừng có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa thích Tuy nhiên, hầu hết các loài lan rừng chỉ được khai thác và nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên, chưa được áp dụng các biện pháp kỹ thuật nên năng suất, chất lượng hoa không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng

Trong khi các giống lan nhập nội lại có các ưu điểm như sinh trưởng, phát triển khỏe, sản lượng hoa cao, chất lượng hoa tốt: Hoa to, màu sắc đẹp,

đa dạng, độ bền hoa kéo dài và điều khiển ra hoa được vào các dịp lễ tết, nên

đã mang lại hiệu quả cao cho người trồng lan

Trên cơ sở đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loài lan rừng: Sóc ta

(Rhynchostylis Retusa), Hài điểm ngọc (Paphiopedilum emersonii), Hoàng thảo nghệ tâm (Dendrobium loddigesii) tại vườn lan Hồ Núi Cốc” Đề tài

hoàn thành là tài liệu tham khảo cho cán bộ sinh viên quan tâm và yêu thích lan rừng, góp phần hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học, khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được kỹ thuật gây trồng và chăm sóc 03 loài lan: Sóc ta, Hài

điểm ngọc, Hoàng thảo nghệ tâm

- Xác định khả năng sinh trưởng của 03 loài lan: Sóc ta, Hài điểm ngọc, Hoàng thảo nghệ tâm tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất được một số biện pháp chăm sóc các loài lan được nghiên cứu

Trang 12

- Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn và những vai trò

mà loài lan mang lại cho cuộc sống Tuyên truyền cho nhân dân và các cán bộ quản lý tài nguyên rừng cần có biện pháp bảo vệ và bảo tồn các loại lan một cách hợp lý

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Giúp tôi hiểu thêm các kỹ thuật gây trồng và chăm sóc lan: Sóc ta, Hài

điểm ngọc, Hoàng thảo nghệ tâm

- Ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn

- Hiểu được vai trò sinh thái của lan rừng trong tự nhiên

Trang 13

4

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Về cơ sở sinh học

Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài.Việc hiểu rõ về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động vật quý hiếm, từ đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật

2.1.2 Cơ sở trồng, chăm sóc, bảo vệ lan rừng

Một trong những đặc điểm sinh học đặc trưng của lan là có khả năng chịu cớm cao, ưa ẩm và bóng râm, nhưng nếu thiếu ánh sáng cũng giảm năng suất và phẩm chất

Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếp chiếu vào, đặc biệt

“kỵ” với nắng quái chiều và gió tây (gió Lào)

Chú ý phun tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho toàn bộ cây

và giá thể theo kinh nghiệm “2 ướt 1 khô” trong ngày, đó là vào các thời điểm trước bình minh và sau hoàng hôn Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt

rễ và dự trữ

Đối với địa lan: Chăm sóc như đối với phong lan, cần chú ý đảm bảo đất

nền tơi xốp, nhiều màu ở thể hữu cơ đang hoại mục là tốt nhất Nên bổ sung từ 10-20% vụn gỗ mục (cả vỏ), 10-20% (theo khối lượng tổng thể) các mẫu than

gỗ nhỏ, luôn ẩm (nhưng không ướt sũng) để nhử rễ ăn ra (gọi là hồ rễ)

Tránh gió khô, nóng lùa qua phần nổi của cây Làm mát đất bằng phun tưới nước loang theo bóng tán Cần loại bỏ ngay những lá già để ngăn chặn sâu bệnh bội nhiễm, tỉa các cành khô, rễ đã hết chức năng hấp thụ hơi nước và

Trang 14

5

Không nên dùng NPK – loại dùng cho cây hoa màu, cây lương thực để bón cho lan Để cây tươi lâu, đẹp bền, hoa sai thắm màu, hương đậm có thể thúc cho lan (phun tưới toàn bộ giá thể) với nước gạo mới vo, nước ngâm tro

và rắc xỉ than (nguồn phân vi lượng tổng hợp) Nếu có điều kiện lấy bông (hoặc vải cotton) nhúng vào dung dịch glycerin 10-15% cuốn vào cổ rễ để giữ

ẩm cho cây

Kỹ thuật chăm sóc lan ra hoa: Cây sau khi ra hoa nếu không đáp ứng độ

ẩm sẽ khiến rễ, lá teo nhăn lại rất khó hồi phục Nếu mới trồng, nên tưới phân

số 1 (phân nhiều đạm) hay phân số 2 (phân trung hòa đạm và NPK) nồng độ 1- 2g/lít nước Trung bình nên tưới nước cho cây hai lần/ngày, tưới vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát Làm đúng như vậy thì cây sẽ ra hoa [12]

2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới

Họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan

Orchidales, lớp thực vật một lá mầm

Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo Hoa lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae)

Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa lan là phong lan Hoa lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại:

1 Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống

2 Terestrials: Địa lan mọc dưới đất

3 Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá

4 Saprophytes: Loại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục

Đối với các loài lan (phong lan và địa lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang

Trang 15

6

trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài lan đã phát hiện

có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng Trong số những loài đó người ta

đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan Kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay rất cao như lan Thạch hộc tía lên tới hàng triệu đồng/kg [15]

- Phân bố:

Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các xa mạc và sông băng Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa

Theo Helmut Bechtel (1982) [9] hiện nay trên thế giới có hơn 750 loài lan rừng, gồm hơn 25.000 giống được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lượng Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 5 khu vực:

+ Vùng nhiệt đới châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus…

+ Vùng nhiệt châu Mỹ gồm các giống: Brassavola, Catasetum, Cattleya, Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis

+ Châu Phi gồm các giống: Lissochilus, Polystachiya, Ansellia, Disa… + Châu Úc gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Phaius, Cymbidium, Eria, Dendrobium, Pholidota, Sarchochilus…

Trang 16

Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi

Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi

Châu Đại Dương: 50 - 70 chi

Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi

Bắc Mỹ: 20 - 25 chi

-Những nghiên cứu về lan:

Cây hoa lan được biết đến đầu tiên từ năm 2800 TCN, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đã lai tạo, nhân nhanh được giống mới đem lại kinh tế cao Chính vì vậy, việc nghiên cứu và sản xuất hoa lan trên thế giới ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn, đặc biệt nhất là Thái lan

Thái Lan có lịch sử nghiên cứu và lai tạo phong lan cách đây khoảng

130 năm (Arjan Germy, 2005), hiện nay là nước đứng đầu về xuất khẩu hoa phong lan trên thế giới (kể cả cây giống và hoa lan cắt cành) trong đó các giống phong lan thuộc chi lan Hoàng Thảo Dendrobium chiếm 80%

Cây lan biết đến đầu tiên ở Trung Quốc là Kiến lan (được tìm ra đầu

tiên ở Phúc Kiến) đó là Cymbidium ensifonymum là một loài bán địa lan Ở

phương Đông, lan được chú ý đến bởi vẻ đẹp duyên dáng của lá và hương thơm tuyệt vời của hoa Vì vậy trong thực tế lan được chiêm ngưỡng trước tiên là lá chứ không phải màu sắc của hoa (quan niệm thẩm mỹ thời ấy chuộng tao nhã chứ không ưa phô trương sặc sỡ)

Lan đối với người Trung Hoa hay lan đối với người Nhật, tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp, hương thơm tao nhã, tất cả thuộc về phái yếu, quý

Trang 17

8

phái và thanh lịch như có người đã nói “Mùi hương của nó tỏa ra trong sự yên lặng và cô đơn” Khổng Tử đề cao lan là vua của những loài cây cỏ có hương thơm Phong trào chơi phong lan và địa lan ở Trung Quốc phát triển rất sớm, từ thế kỷ thứ V trước công nguyên đã có tranh vẽ về phong lan còn lưu lại từ thời Hán Tông

Ở châu Âu bắt đầu để ý đến phong lan từ thế kỷ thứ 18, sau Trung Quốc đến hàng chục thế kỷ và cũng nhờ các thuỷ thủ thời bấy giờ mà phong lan đã đi khắp các miền của địa cầu Lúc đầu là Vanny sau đó đến Bạch Cập, Hạc Đính rồi Kiến Lan lan chính thức ra nhập vào ngành hoa cây cảnh trên thế giới hơn 400 năm nay

Địa lan (Cymbidium) hay còn gọi Thổ lan là một loại hoa lan khá phổ

thông, vì hội đủ điều kiện: Có nhiều hoa, to đẹp, đủ màu sắc và lâu tàn, rất thông dụng cho việc trang trí trưng bày Hiện nay nước Mỹ có nhiều vườn địa lan dùng cho kỹ nghệ cắt bông như Gallup & Tripping ở Santa Barbara nhưng cũng phải nhập hàng triệu đô la mỗi năm từ các nước Âu Châu và Á châu để cung ứng cho thị trường trong nước

Trước năm 1930, nước Mỹ không có nhiều giống lan và cũng không có nhiều người thích chơi lan hay vườn lan Nói riêng về California thì chỉ có 2-

3 vườn lan ở Oakland và San Francisco, nhưng chỉ dùng cho kỹ nghệ cắt

bông, không có bán cây Lúc bấy giờ các vườn lan chỉ có Cát lan (Cattleya) hay địa lan (Cymbidium) nhưng cũng không có nhiều giống lan hay hoa đẹp, những

giống này được nhập cảng từ nước Anh

2.2.2 Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam

2.2.2.1 Tổng quan về nghiên cứu sinh thái

Ý nghĩa của nghiên cứu sinh thái loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là cơ sở cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên,

Trang 18

9

ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường

Khi nghiên cứu sinh thái các loài thực vật, Lê Mộng Chân (2000) [2]

Đã nêu tóm tắt khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu Sinh thái thực vật nghiên cứu tác động qua lại giữa thực vật với ngoại cảnh Mỗi loài cây sống trên mặt đất đều trải qua quá trình thích ứng và tiến hoá lâu dài, ở hoàn cảnh sống khác nhau các loài thực vật thích ứng và hình thành những đặc tính sinh thái riêng, dần dần những đặc tính được di truyền và trở thành nhu cầu của cây đối với hoàn cảnh

Con người tìm hiểu đặc tính sinh thái của loài cây để gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, sử dụng và bảo tồn các loài cây đúng lúc, đúng chỗ đồng thời lợi dụng các đặc tính ấy để cải tạo tự nhiên và môi trường

Ngoài ra điều kiện sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến tính đa dạng của hệ sinh thái rừng Việt Nam Lãnh thổ lục địa trải dài từ vĩ tuyến 23º24’B đến vĩ tuyến 8º35’B, nằm trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu tiếp cận gần với xích đạo.Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh và cận xích đạo Bờ biển dài 3.260 km từ Móng Cái đến Hà Tiên, nơi có rừng ngập mặn, nơi có rừng phi lao trên cát

Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [8] nước ta có khoảng 11.373 loài thực vật thuộc 2.524 chi và 378 họ Các nhà thực vật học dự đoán con số loài thực vật ở nước ta còn có thể lên đến 15.000 loài Trong các loài cây nói trên

có khoảng 7.000 loài thực vật có mạch, số loài thực vật đặc hữu của Việt Nam chiếm khoảng 30% tổng số loài thực vật ở miền Bắc và chiếm khoảng 25% tổng số loài thực vật trên toàn quốc (Lê Trần Chấn, 1997), có ít nhất 1.000 loài cây đạt kích thước lớn, 354 loài cây có thể dùng để sản xuất gỗ thương phẩm Các loài tre nứa ở Việt Nam cũng rất phong phú, trong đó có ít nhất 40 loài có giá trị thương mại Sự phong phú về loài cây đã mang lại cho rừng Việt Nam những giá trị to lớn về kinh tế và khoa học

Trang 19

10 Phan Kế Lộc (1970) [7] Đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5.609 loài thuộc 2.000 loài thuộc 1.660 chi và 240 họ,tác giả đã đề nghị áp dụng công thức đánh giá tổ thành loài rừng nhiệt đới Theo thống kê của Viện Dược liệu (2013) hiện nay đã phát hiện được 3.850 loài cây dùng làm dược liệu chữa bệnh, trong đó chữa được cả những bệnh nan y hiểm nghèo Theo thống kê ban đầu, đã phát hiện được 76 loài cây cho nhựa thơm, 600 loài cây cho tananh, 500 loài cây cho tinh dầu và 260 loài cây cho dầu béo

Sóc ta (Rhynchostylis Retusa)

Còn có tên gọi khác Đuôi chồn, là loại lan họ Ngọc Điểm, Sóc ta cũng như Đai Châu có các sọc trắng mờ chạy dọc mặt dưới của lá, không rõ rệt như Đai Châu, mặt dưới màu nhạt hơn mặt trên lá, lá rất dày và mọng thường dài khoảng 20-40 cm, bề rộng lá 2-3 cm và xếp khép chữ V chứ không mở phẳng, đầu lá non chia 2 thùy nhọn hoắt, đầu lá già thì tù hơn nhiều Lá xếp sát nhau nhìn dáng cây chắc chắn

Rễ Sóc ta to mập, thường cỡ cây bút chì, cây to được chăm tốt rễ có thể to bằng ngón tay út, có màu trắng bạc, đầu rễ đang phát triển có màu xanh sẫm

Hoa có dạng chùm dài khoảng 30-45 cm gồm nhiều bông đơn kích cỡ khoảng 2 cm, về cơ bản dáng hoa Sóc ta cũng giống con chim đang sà xuống như Đuôi Cáo nhưng cánh bên nhỏ và môi hoa nhỏ hơn, nhiều chấm tím hơn

Mùa hoa khoảng tháng 4-6 dương lịch, hoa có mùi thoang thoảng đặc trưng, độ bền khoảng 20-25 ngày tùy sức cây [14]

Hài điểm ngọc (Paphiopedilum emersonii)

Cỏ lâu năm, Lá rất giống P hangianum, chất da, có hình thuôn - bầu dục, mặt trên màu lục bóng, mặt dưới màu lục nhạt Cụm hoa có cuống dài 10

- 15 cm, mang 1 hoa Lá bắc hình bầu dục rộng, màu trắng

Hoa thơm dịu, lá đài và cánh hoa dày, màu trắng, có lông ngắn ở cả 2 mặt Lá đài ở gần trục hoa hình bầu dục trứng, lá đài kia hình bầu dục rộng

Trang 20

11

gần tròn Cánh hoa hình bầu dục rộng, ở gốc có lông dài và chấm tía, mép bên đôi khi uốn vào trong, môi màu vàng hay da cam nhạt Gân hình cầu với các chấm to và trắng đục như hạt ngọ, mép cuốn vào trong với mạng gân lõm, nhị lép màu vàng với 2 vệt màu đỏ cam Bầu dài khoảng 3 cm, có lông

nhung trắng

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4-6 Tái sinh bằng hạt Mọc rải

rác dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng trên núi đá vôi, ở độ cao 400-600 m, trong các khe nứt ít đất của các vách dốc đứng ở sườn gần đỉnh núi [1]

Hoàng thảo nghệ tâm (Dendrobium loddigesii)

Hay còn gọi là thạch học duyên dáng có tên khoa học là Dendrobium Loddigesii là một trong những dòng lan hoàng thảo rất đáng sưu tầm Hoàng thảo nghệ tâm sinh sống ở những khu rừng nguyên sinh, rừng lá kim có nhiều rêu, ẩm ướt ở độ cao 1.000-1.500m Chúng phân bố chủ yếu ở các cách rừng Tây Bắc Việt Nam, các tỉnh phía nam của Trung Quốc, Lào,… Nhiệt độ ưa thích 20-30 độ C, cây ưa ẩm [10]

Nguồn gen hoa phong lan của Việt Nam rất phong phú trong đó lan Hoàng Thảo chiếm khoảng 30-40% trong tổng số các loài lan của Việt Nam- Võ Văn Chi, Lê Khả Kế, (1969) [3] Chi lan Hoảng thảo chúng được biết đến như loài hoa tràn đầy sức sống rất mạnh mẽ, sống bám trên những thân cây Được trải rộng trên một diện tích lớn từ địa đầu Móng Cái xuống tới những khu rừng ngập mặn vẫn còn tìm thấy hoàng thảo

Như những dòng lan thân thòng khác, Hoàng thảo nghệ tâm cũng cần

có 1 thời gian ngủ đông trước khi ra hoa Nhưng điểm khác biệt ở đây là Hoàng thảo nghệ tâm không rụng hết lá mà chỉ rụng 1/4 - 1/3 số lượng lá trên thân Do đó, vào mùa hoa, chúng ta vẫn được chứng kiến những cánh hoa

Trang 21

12

xinh xắn xen lẫn với màu xanh của cành lá Đây không phải là đặc điểm mà dòng lan hoàng thảo nào cũng có [4]

2.2.2.2 Tổng quan về các loài lan rừng ở Việt Nam

Lan rừng Việt Nam – Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học đã được rất nhiều tác gia để cập đến Có thể tóm tắt đặc điểm thực vật học của lan rừng

Việt Nam theo tiêu trí chính sau:

Khi sống ở đất, chúng thường có củ giả, rễ mập và xum xuê hoặc có chân rễ bò dài hay ngắn Tuy nhiên, nét độc đáo của họ lan là lối sống phụ (bì sinh) bám, treo lơ lửng trên các thân cây gỗ khác Hoa lan phát triển thân rễ nạc dài, ngắn, mập hay mảnh mai (tuỳ thuộc vào từng loài) đưa cơ thể bò đi

xa hay chụm lại thành các bụi dày Hệ rễ phát triển nhiều hay ít phụ thuộc vào hình dạng chung của cơ thể Nhiều loài lan rất nhỏ bé, hình dạng xấu xí, khó khăn lắm mới nhận được chúng trong kẽ nứt của vỏ cây gỗ, trên các cành, nhánh cao tít Hệ rễ cũng nhỏ, đan thành búi, ngược lại ở các loài phong lan

có kích thước lớn hay trung bình, hệ rễ khí sinh phát triển rất phong phú, mọc rất dài, mập, khoẻ vừa giữ cho cơ thể khỏi bị gió làm lung lay, vừa làm cột chống đỡ cho thân vươn cao

Để làm nhiệm vụ hấp thu dinh dưỡng, chúng được bao bọc bởi một lớp

mô hút dày, ẩm, bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí Với lớp

mô xốp đó, rễ không những có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc trên vỏ cây mà còn lấy được nước lơ lửng trong không khí (sương sớm hay hơi nước)

Nhiều loài có hệ rễ đan, bện chằng chịt, là nơi thu gom mùn để làm nguồn dự trữ chất dinh dưỡng cho cây Ngược lại, có loài mọc bò dài, hệ rễ có khi buông thõng xuống theo các đoạn thân, cứng hoặc mảnh mai, treo lơ lửng trong không khí kéo dài xuống tận đất và hoạt động phá rễ của cây khác Ở một số loài lan có thân, lá kém phát triển (thậm chí tiêu giảm hoàn toàn) hệ rễ

Trang 22

13

phá triển dày đặc và kiêm nhiệm luôn cả vai trò quang hợp Rễ có dạng dẹt,

bò rất dài, màu xanh như lá

Đặc biệt các loài phong lan sống hoại, bộ rễ có hình dạng, cấu trúc khá độc đáo Nó có dạng búi nhỏ với những vòi hút ngắn, dày đặc để lấy được dinh dưỡng từ những đám xác thực vật thông qua hoạt động của nấm Tuy nhiên, có một ít loài tuy sống hoại, nhưng cây có thể dài đến vài chục mét, nó

có khả năng leo, bò rất cao

Thân

- Lan có 2 loại thân: đa thân và đơn thân

- Ở các loài lan sống phụ có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành) Đó là bộ phận dự trữ nước và các chất dinh dưỡng để nuôi cây trong điều kiện khô hạn khi sống bám trên cao

- Củ giả rất đa dạng: Hình cầu hoặc hình thuôn dài xếp sát nhau hay rải rác đều đặn hoặc hình trụ xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả

- Cấu tạo củ giả: Gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy, phía ngoài là lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ, tránh sự mất nước do mặt trời hun nóng Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó làm nhiệm vụ quang hợp [16]

- Thân rất ngắn hay kéo dài, đôi khi phân nhánh, mang lá hay không mang lá Theo M.E Pfizer (1882)- dẫn theo Trần Hợp, 1990) [5], phong lan

có 2 loại thân, mà đa số thuộc loại sinh trưởng hợp trục (nhóm không thân) Thân này gồm hệ thống của nhiều nhánh lâu năm, với bộ phận nằm ngang, bò dải trên giá thể hay ẩn sâu trong lòng đất, gọi là thân rễ Ngược lại, rất ít khi gặp các loài phong lan sinh trưởng đơn trục (nhóm có thân) nghĩa là sự sinh trưởng của trục chính không giới hạn, làm cho thân rất dài, cơ thể khó có khả năng duy trì được tư thế thẳng đứng, nó phải nhờ đến các rễ chống đỡ để vươn cao, nếu không, nó đành phải bò dài hay leo cuốn Đôi khi thân của một

số loài lan rất ngắn, bị che khuất bởi hệ thống lá hay rễ mọc thành bụi dày

Trang 23

14

- Ở các loài phong lan sống phụ, có nhiều đoạn phình lớn, tạo thành củ giả Đó là bộ phận dự trữ nước và chất dinh dưỡng để nuôi cây trong hoàn cảnh khô hạn khi sống bám trên cao Củ giả rất đa dạng, hoặc hình cầu, thuôn dài, xếp sát nhau hay rải rác, đều đặn (Bulbophylum) hay hình trụ xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả (Dendrobium) Kích thước của củ giả cũng rất biến động, từ dạng củ rất nhỏ chỉ lớn bằng đầu chiếc kim găm (Bulbophylum) đến to bằng chiếc mũ người lớn (Peristeria elata) Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó cũng làm nhiệm vụ quang hợp

- Hầu hết các loài phong lan đều là cây tự dưỡng, do đó nó phát triển rất đầy đủ hệ thống lá, lá mềm mại, duyên dáng và hấp dẫn Lá mọc đơn độc, hoặc xếp dày đặc ở gốc, hay xếp cách đều đặn trên thân, trên củ giả Hình dạng lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nước, nạc, dài hình kim, hình trụ dài, tiết diện tròn hay có rãnh, đến loại lá hình phiến mỏng, dài màu xanh bóng, đậm hay nhạt tuỳ theo vị trí sống của cây, đặc biệt rất hiếm loại lá hình tròn thuôn dài thành bẹ ôm lấy thân Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung (như cái quạt hay chỉ gấp lại theo gân giữa, hình chữ V), những lá dưới sát gốc thường tiêu giảm đi chỉ còn những bẹ không có phiến

hay giảm hẳn thành các vẩy

- Về màu sắc: Phiến lá thường có màu xanh bóng, nhưng đôi khi hai mặt lá có màu khác nhau thường mặt dưới lá có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lá khảm thêm nhiều màu sắc sặc sỡ Nhiều loài lan lại có lá màu hồng và nổi lên các đường vẽ trắng theo các gân rất đẹp

Hoa

- Hoa đối xứng qua một mặt phẳng

- Bên ngoài có 6 cánh hoa, trong đó 3 cánh ngoài cùng là 3 cánh đài, thường có màu sắc và kích thước giống nhau Một cánh đài nằm ở phía trên

Trang 24

15

hay phía sau của hoa gọi là cánh đài lý, hai cánh đài nằm ở 2 bên gọi là cánh đài cạnh Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa, chúng giống nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc Cánh còn lại nằm ở phía trên hay phía dưới, có hình dạng và màu sắc khác hẳn với các cánh còn lại gọi là cánh môi Cánh môi quyết định giá trị thẩm mỹ của hoa lan

- Ở giữa hoa có một trụ nổi lên, đó là bộ phận sinh dục của cây, giúp cây duy trì nòi giống Trụ gồm nhị và nhuỵ Sau khi thụ phấn, các cánh hoa héo, cuống hoa hình thành quả lan

Quả và hạt

- Quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3-6 đường nứt dọc, có dạng từ quả cải dài (Vanilla) đến dạng hình trụ ngắn phình ở giữa (ở đa số các loài khác) Khi chín, quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc Ở một số loài, quả chín nở theo 1-2 khía dọc, thậm chí không nứt ra

mà hạt chỉ ra khỏi vỏ quả khi vỏ này bị mục nát

- Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti (do đó trước đây gọi họ phong lan là họ vi tử) Hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chưa phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí Phải trải qua 2-18 tháng hạt mới chín Phần lớn hạt thường chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy mầm Do đó hạt nhiều

có thể theo gió bay rất xa, nhưng hạt nảy mầm thành cây lại rất hiếm Chỉ ở trong những khu rừng già ẩm ướt, vùng nhiệt đới mới đủ điều kiện cho hạt lan nảy mầm Khối lượng toàn bộ hạt trong một quả chỉ bằng 1/10 đến 1/1000 miligam Trong đó không khí chiếm khoảng 76-96% thể tích của hạt Rõ ràng hạt cây lan hầu như không có khối lượng [11]

2.2.2.3 Các nghiên cứu gây trồng và chăm sóc các loài lan rừng ở Việt Nam

 Các nghiên cứu về gây trồng

Theo cuốn Phong lan Việt Nam của Trần Hợp (1998) [6] thì Việt Nam

có 137-140 chi gồm trên 800 loài lan rừng Hiện tại ngoài hoa lan mọc hoang

Trang 25

Các cây lan nhập nội được nuôi trồng ở Đà Lạt nằm trong các chi: Catleya, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedillum, Oncidium, Odontoglossum, Vanda Các cây lan nhập nội được trồng trọt nhiều nhất là trong chi Cymbidium với trên 300 giống Các giống Bengal Bay Golden Hue, Suva Royal Velvet, Sayonara Raritan, Balkis, Eliotte được nhập nội từ thập niên 1960 cho đến nay vẫn còn được ưa chuộng và trồng trọt khá nhiều tại các vườn lan

Các loài lan nội địa cũng đã được sưu tập và trồng trọt phổ biến tại Đà Lạt từ thập niên 1940 cho đến nay

Các loài lan được ưa chuộng tại các vườn lan Đà Lạt - Tây Nguyên là:

Long tu (Dendrobium primulinum Lindl.)

Kim điệp (Den Chrysotosum Lindl var Delacourii Gagn.)

Thủy tiên trắng (Den Farmeri Paxton)

Thủy tiên vàng (Den Thyrsiflorum Rchb f.)

Thủy tiên mỡ gà (Den Densiflorum Wall)

Long nhãn kim điệp (Den Fimbriatum Hook, var oculatum Hook) Giả hạc (Den Superbum Reich in Walp)

Ý thảo (Den gratiotissimum Rchb f.)

Các loại Lọng (Bulbophyllum sp.)

Ngoài ra còn một số tỉnh thành khác như ở Yên Bái với tiểu vùng khí hậu tương đối ôn hòa nóng ẩm mưa nhiều, rất thích hợp cho việc phát triển thảm thực vật nói chung và phong lan nói riêng Trên khắp các cánh rừng của

Trang 26

17

Yên Bái có rất nhiều loài lan quý như: Hoàng thảo, Thanh đạm, Hạc đính, Giáng hương, Ngọc điểm, Phượng vĩ, Cẩm báo, Vân đa, Hài gấm, Thạch hộc,

 Các giá thể trồng lan thông dụng ở Việt Nam

Than củi: Được dùng khá phổ biến, là một chất trồng tốt không bị mục,

sạch bệnh tạo thông thoáng cho hệ rễ lan phát triển, than sẽ hấp thụ chất dinh dưỡng qua quá trình bón phân và cung cấp dưỡng chất qua sức hút rất mạnh của rễ lan Than được dùng ở đây là các loại than gỗ rừng, được nung (hun) thật chín

Đất sét nung: Đây là loại giá thể nhân tạo được làm từ đất sét dạng viên

lục giác hoặc viên đùn thỏi phù hợp theo kích thước của giá thể than củi hoặc dừa miếng

Đá núi lửa: Có ưu điểm dễ ngấm nước, không bị mục, thoáng hơi và

không quá nặng Rất tốt để lót đáy chậu Đá núi lửa chứa nhiều khoáng chất

và vi lượng rất tốt cho sự phát triển của cây và màu sắc hoa Tôi thấy đá núi lửa được sử dụng nhiều để trồng Lan vũ nữ cho hoa nhiều và to

Vỏ cây: Cũng được sử dụng nhiều trong giá thể trồng lan, có rất nhiều

vỏ cây có thể làm giá thể trồng lan nhưng nên chọn loại cây nào lâu mục Đồng thời vỏ cây cũng là môi trường thích hợp cho một số loại sâu bệnh hại

rễ lan sinh sống, do vậy trồng lan bằng vỏ cây cần phải quan sát tình trạng của

vỏ cây để thay chậu

Trong các loại vỏ cây thì vỏ thông là loại vỏ cây thích hợp nhất cho trồng lan vì trong vỏ thông có chất resin có tính sát khuẩn cao, lâu mục, không đóng rêu và ít các mầm bệnh gây hại

Xơ dừa: Có ưu điểm là trọng lượng nhẹ, giúp tiện lợi trong việc di dời

chậu, giúp giữ ẩm tốt cho cây, đồng thời cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cây được phát triển khỏe mạnh xơ dừa còn có tác dụng chống nóng

Trang 27

18

Ngoài ra, xơ dừa còn có tác dụng kích thích sự phát triển của rễ lan giúp cung cấp chất dinh dưỡng đầy đủ cho

Gỗ: Đối với các loại ưa thoáng và có rễ đẹp có thể ghép gỗ, loại gỗ tốt

để ghép là các cành cây gỗ nghiến, nhưng do giá thành cao, khó kiếm nên người miền Bắc hay dùng cây gỗ nhãn, dễ kiếm lại khá bền, lâu mục với thời gian, người miền Nam hay dùng thân cây vú sữa để ghép

 Các giá thể để trồng 3 loại lan được nghiên cứu

- Sóc ta được gây trồng trên giá thể gỗ nhãn

- Hoàng thảo nghệ tâm được gây trồng trên giá thể gỗ nhãn

- Hài điểm ngọc được trồng trong chậu với một số thành phần như than củi, xỉ than tổ ong, sỏi nhẹ, đá nham thạch, đá thấm thủy…là chủ đạo, phụ gia thêm một ít xơ dừa nhỏ, vỏ thông, vỏ cây, vỏ lạc, đất mùn hốc đá,

 Chăm sóc và phòng trừ sâu hại, bệnh hại cho các loài lan:

Sóc ta (Rhynchostylis Retusa):

- Lưu ý trong gây trồng:

Sóc ta nên ghép gỗ treo cao, thoáng rễ, đối với khu vực nghiên cứu được thiết kế khoa học có thể điều chỉnh các yếu tố như độ ẩm, ánh sáng thuận lợi cho sự gây trồng trên giá thể gỗ Mới trồng hàng ngày tưới nước 2-3 lần tùy

xem giá thể còn ẩm hay đã khô, khoảng 5 ngày phun thuốc kích rễ một lần

- Phân bón và phòng tránh bệnh cho sóc ta:

Để cây sinh trưởng và phát triển mạnh hơn trong thời điểm cây ra rễ nên cung cấp thêm phân bón rễ Với lan rừng thì đa số thích phân hữu cơ hơn phân vô cơ, nhưng cần phun với liều lượng loãng, có thể tưới phân hữu cơ loãng hàng tuần và bón phân bón lá vô cơ khoảng nửa tháng 1 lần để cây phát triển cân đối và được bổ sung các nguyên tố vi lượng giúp tăng sức đề kháng

Hoàng thảo nghệ tâm (Dendrobium loddgesii):

Trang 28

19

- Độ ẩm:

Cũng giống những loài hoa phong lan khác chỉ phát triển tốt nhất ở điều kiện không khí ẩm và thoáng Độ ẩm tương đối cần thiết là khoảng 40-70% Những cấu tạo giá thể ẩm và úng là điều kiện bất lợi cho sự sinh trưởng của Dendrobium

- Tưới nước:

Nếu trong mùa nghỉ của lan cần tưới 1 lần/ngày sẽ làm cho các giả hành của lan nhăn nheo nhưng vào mùa mưa đến những chồi non sẽ mọc lên rất nhanh và rất mạnh, các chồi hoa sẽ hình thành dần Hoa sẽ nở trong thời gian từ 3 tháng sau khi mưa và có thể kéo dài đến tháng 12

- Bón phân:

Loài Dendrobium thân đứng là loài đòi hỏi dinh dưỡng cao, vì thế chúng cần nhiều phân bón và có thể dùng ở nhiều loại phân bón khác nhau Nhưng với những loài thân thòng ăn phân yếu phải dùng nồng độ thật loãng Phân heo cũng là một trong những loại phân khá tốt có thể dùng để tưới phong lan Có thể tưới bằng cách pha loãng hay dùng phân khô vo thành từng viên dài rồi đặt trên bề mặt giá thể Trồng lan Hoàng thảo nghệ tâm chúng ta cũng chỉ cần một lượng phân bón cân đối tỷ lệ NPK như loại 15-15-15 hoặc 20-20-20 là được Cây ít bệnh nhưng thỉnh thoảng có sâu đen, sâu xanh nên cần chú ý để tránh bị phá hoại

- Một số bệnh thường gặp:

Bệnh thối rữa: Do loại vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra Triệu

chứng của bệnh này ban đầu sẽ có màu nâu nhạt, hình tròn, mọc nước, sau đó, chỗ vết bệnh đậm dần và lan ra hết cả giả hành Nếu không kịp thời điều trị sẽ làm lan bị héo úa, các tết bào lá dần chết đi, thối rữa và rụng làm ảnh hưởng đến cây lan

Trang 29

20

Đối với bệnh này, đầu tiên bạn phải cách ly ra khỏi những chậu cây còn khỏe, cắt tỉa chỗ lá bị bệnh và dùng thuốc điều trị nấm chuyên dụng để trị bệnh cho lan

Bệnh đốm nâu: Bệnh này do vi khuẩn Curvularia eragrostidis gây nên,

chúng có thể gây bệnh cho hầu hết lan thuộc họ Dendrobium Cây lan mắc bệnh sẽ có xuất hiện những đốm màu nâu đỏ trên cánh hoa lan, nhưng những đốm này lại rất khó nhận thấy được, trừ loại lan có màu trắng Bệnh này

thường xuất hiện vào thời điểm mùa mưa

Bệnh đốm lá: Cây lan mắc bệnh đốm lá sẽ có triệu chứng là xuất hiện

các chấm nhỏ màu đen ở 2 bên mép lá, sau đó chúng dần phát triển tạo thành những nốt mụn nhỏ, đây chính là mấm móng gây bệnh nặng hơn Nếu ta không phát hiện kịp thời sẽ làm chết các tế bào của lá và làm hư hại hết hoàn toàn lá của cây lan Vì vậy, khi thấy trường hợp bệnh này thì ta nên cắt ngay

lá bị bệnh và phun thuốc điều trị vị khuẩn Guignardia spp gây bệnh đốm lá ngay để bảo vệ cây lan [16]

Để cây lan có thể sinh trưởng, phát triển và ra hoa đẹp thì phải có kế hoạch chăm sóc, phòng trừ các loại sâu bọ, vi khuẩn, nấm gây hại cho lan kịp thời Không nên để bệnh xuất hiện rồi mới tìm biện pháp trị bệnh sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của lan Luôn theo dõi cẩn thận, giám sát để phòng bệnh là chính

2.3 Tình hình điều kiện tự nhiên tại khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu được bố trí tại khu du lịch Hồ Núi Cốc (HNC) trực thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 30

21

b) Địa hình

Địa hình khu vực Hồ Núi Cốc bị chia cắt tạo thành nhiều khe suối Vùng lòng Hồ Núi Cốc nằm giữa hai dãy núi chạy theo hướng Bắc-Nam là dãy núi Pháo (425m) nằm ở phía Đông của hồ và dãy núi Thằn lằn (449m) ở phía Tây của hồ

c) Khí hậu

Hồ Núi Cốc thuộc địa phận tỉnh Thái Nguyên nên nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm Nhiệt độ trung bình của Thái Nguyên là 25°C; chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9 °C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô

từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp

Hình 2.1: Toàn cảnh khu vực nghiên cứu

Trang 31

22

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là: Sóc ta (Rhynchostylis Retusa), Hài điểm

ngọc (Paphiopedilum emersonii), Hoàng thảo nghệ tâm (Dendrobium loddgesii)

- Giới hạn nghiên cứu khóa luận: Nghiên cứu về trồng, chăm sóc và theo dõi sinh trưởng và phòng trừ sâu bệnh hại của 3 loài lan trên

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Tại vườn lan Hồ Núi Cốc, Thái Nguyên

- Thời gian thực hiện khóa luận: Từ tháng 1 đến tháng 5

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu được kỹ thuật gây trồng và chăm sóc 03 loài hoa lan: Sóc

ta (Rhynchostylis Retusa), Hài điểm ngọc (Paphiopedilum emersonii), Hoàng

thảo nghệ tâm (Dendrobium loddgesii)

- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của 03 loài hoa lan: Sóc ta

(Rhynchostylis Retusa), Hài điểm ngọc (Paphiopedilum emersonii), Hoàng thảo nghệ tâm (Dendrobium loddgesii)

- Đánh giá tình hình sâu hại, bệnh hại của 03 loài hoa lan: Sóc ta

(Rhynchostylis Retusa), Hài điểm ngọc (Paphiopedilum

- Đề xuất các biện pháp gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu hại lan:

Sóc ta (Rhynchostylis Retusa), Hài điểm ngọc (Paphiopedilum emersonii), Hoàng thảo nghệ tâm (Dendrobium loddgesii)

3.4 Phương pháp tiến hành

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Thừa kế số liệu về điều kiện tự nhiên (Đất đai, khí hậu, thuỷ văn và điều kiện cơ sở vật chất, kinh tế để thực hiện đề tài của Ban quản lý rừng

Trang 32

23

phòng hộ Hồ Núi Cốc Đề án “Phát triển và bảo tồn một số giống lan rừng tại Thái Nguyên” do thầy Vũ Văn Thông chủ trì

- Thừa kế các tài liệu liên quan đến các nghiên cứu về hoa lan, đặc biệt

về kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại cây lan

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Đối với cây Sóc ta, cây Hoàng thảo nghệ tâm: Là phong lan nên được trồng trên các giá thể bằng gỗ Chọn gỗ tốt, tồn tại được lâu, chống chịu mối mọt tốt, Tại cơ sở nghiên cứu toàn bộ giá thể đều chọn từ gỗ nhãn

Bước 2: Chuẩn bị giá thể

Phong lan chọn kích thước gỗ phù hợp với các loại lan trồng (cây to chọn giá thể to, cây bé chọn giá thể bé) làm sao cho khóm lan trồng có hình

Trang 33

24

Lưu ý: Cây lan lấy, mua về phải đảm bảo về tình trạng sinh trưởng, lá phát triển khỏe, không sâu bệnh,

Giá thể gỗ nhãn đường kính 9-13 cm, dài 35-40 cm

Ghép áp cây lan vào khúc gỗ dùng dây thít nhựa vừa nhanh vừa chặt, thắt đến đâu chặt đến đó, dây ngắn thì nối nhiều dây lại với nhau thành một đoạn dài hơn hoặc đè đoạn dây nhựa ngang thân cây đóng đinh bé 2 đầu dây đảm bảo căng, chặt, phần rễ của khóm phải cố định với giá thể Mới trồng hàng ngày tưới nước 2-3 lần tùy xem giá thể còn ẩm hay đã khô, khoảng 10 ngày phun thuốc kích rễ một lần Quan trọng phải treo được nơi râm mát cây

sẽ ra rễ, có rễ rồi mới hút được nước và dinh dưỡng, từ đó cây hồi phục và phát triển dần, lá sẽ căng cứng

- Đối với hài điểm ngọc

Lưu ý: Lan hài không chịu được nhiều nắng, ưa râm mát, nên đặt đôn

dưới gốc cây hoặc dưới lưới che tuy nhiên sắp xếp sao cho có nắng sớm chiếu xiên vào cây 1-2 tiếng mỗi ngày thì rất tốt Nếu nắng buổi trưa trực tiếp chiếu vào thì cây sẽ cháy lá

Cây hài mới mua về chỉ cần cắt các rễ đã chết khô, rửa sạch, ngâm dung dịch Atonik hoặc B1 khoảng 30 phút

Sau đó tiến hành như sau

Cho 1 lớp than hầm xuống đấy đôn, than thoát nước làm nền cho lớp giá thể (than thước khi đem trồng phải ngâm nước vôi trong trong 24h nhằm tránh nguồn bệnh và rêu phát triển) Trên lớp than là lớp giá thể lan sinh trưởng gồm đá vôi (đá vôi lấy ở các nhũ đá hay tích tụ theo suối là tốt nhất), trộn vỏ cây thông, nhãn Trước khi đem trồng phải ngâm nước vôi trong 24h Cho lớp than củi vào đáy chậu dày 3-5 cm, trồng lan vào giữa chậu rồi dùng

xơ dừa xếp xung quanh rễ giữa cho cây khỏi đổ Tỷ lệ than củi và xơ dừa là 1:1 theo thể tích chậu Mỗi đôn trồng 3 cây là vừa Sau khi trồng xong lấp 1

Trang 34

25

lớp rong biển xung quanh để giữ ẩm Hoàn chỉnh xong trồng lan phải tiến

hành phun ngay Vitamin B1

- Đối với Hoàng thảo nghệ tâm

Lưu ý: Hoàng thảo nghệ tâm có thân bé nên được trồng theo khóm, mỗi khóm có khoảng 20-30 thân, vì lan nghệ tâm có thân rất nhỏ

Yêu cầu cây lan giống: Cây khỏe mập không bị thối gẫy ngọn non,

không lấy những cây không có ngọn non (ngọn mới sinh trưởng năm trước hoặc trong năm, nên chọn lấy vào đầu mùa sinh trưởng của cây hay mua trên thị trường)

Sau đó tiến hành như sau:

Khóm lan được xếp gọn gắn chặt lên giá thể gỗ bằng dây thít nhựa Tùy vào hình dạng giá thể mà người trồng có thể lựa chọn hướng đổ của khóm lan sao cho đẹp nhất Có thể đặt thêm ít xưa dừa vào phần gần gốc khóm lan rồi

thít chặt nhằm giữ ẩm cho khóm lan có thể sinh trưởng nhanh chóng Có thể phun thêm B1 cho rễ mau mọc

3.4.2.2 Theo dõi sinh trưởng

Để theo rõi các chỉ tiêu sinh trưởng của lan sau khi trồng chúng tôi tiến hành theo dõi 29 giá thể lan Sóc ta, 16 cá thể lan Hài điểm ngọc, 14 giá thế

lan Hoàng thảo nghệ tâm Định kỳ theo rõi là 15 ngày 1 lần:

Các số liệu sinh trưởng của rễ được ghi vào mẫu bảng 3.1 (Phụ lục 1) Các số liệu sinh trưởng của thân được ghi vào mẫu bảng 3.2 (Phụ lục 1) Các số liệu sinh trưởng của chồi non được ghi vào mẫu bảng 3.3 (Phụ lục 1) Các số liệu sinh trưởng của lá được ghi vào mẫu bảng 3.4 (Phụ lục 1) Các số liệu sinh trưởng của hoa được ghi vào mẫu bảng 3.5 (Phụ lục 1)

3.4.2.3 Kỹ thuật chăm sóc các loài hoa lan nghiên cứu

 Tưới nước: Tạo độ ẩm cho lan, giúp cho cây lan sinh trưởng và phát triển tốt

Ngày đăng: 21/04/2023, 06:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w