Để tìm hiểu một số kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài Lan rừng, tôi ngh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
PHẠM HƯƠNG LY
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GÂY TRỒNG, CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CÁC LOÀI LAN RỪNG TẠI VƯỜN LAN HỒ NÚI CỐC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông Lâm kết hợp Khoa : Lâm Nghiệp
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
PHẠM HƯƠNG LY
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GÂY TRỒNG, CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CÁC LOÀI LAN RỪNG TẠI VƯỜN LAN HỒ NÚI CỐC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông Lâm kết hợp Lớp : K46 - NLKH
Khoa : Lâm Nghiệp
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Văn Mạn
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, các số liệu và kết quả thực hiện trình bày trong khóa luận là quá trình theo dõi, điều tra tại cơ sở thực tập hoàn toàn trung thực, khách quan
Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2018
Xác nhận của giáo viên HD Xác nhận của người viết cam đoan
ThS Nguyễn Văn Mạn Phạm Hương Ly
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Thực tập nghề nghiệp là nội dung rất quan trọng đỗi với mỗi sinh viên trước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp sinh viên kiểm tra, hệ thống lại những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt
nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ
sâu bệnh hại các loại lan rừng: Hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum), Hoàng thảo hoa vàng (Dendrobium chrysanthum), Tục đoạn mềm (Pholidota chinensis) tại vườn lan Hồ Núi Cốc.”
Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong và ngoài khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là sự hướng dẫn
chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Văn Mạn đã giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình làm đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Lâm
Nghiệp, gia đình, bạn bè đặc biệt là thầy giáo ThS Nguyễn Văn Mạn đã
giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốt bản khóa luận, nhưng do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế Vì vậy bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vậy tôi rất mong được
sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy cô và toàn thể các bạn để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2018
Sinh viên Phạm Hương Ly
Trang 5iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tổng hợp sự sinh trưởng của thân Hoàng Thảo hoa vàng 48
Bảng 4.2 Tổng hợp sự sinh trưởng của lá Hài Lông 49
Bảng 4.3 Tổng hợp sự sinh trưởng của lá Tục Đoạn mềm 50
Bảng 4.4 Tổng hợp sự sinh trưởng của lá Hoàng Thảo hoa vàng 52
Bảng 4.5 Tổng hợp sự sinh trưởng của chồi mới Hoàng Thảo hoa vàng 53
Bảng 4.6 Tổng hợp sự sinh trưởng của hoa Hài Lông 55
Bảng 4.7 Tổng hợp sự sinh trưởng của hoa Tục Đoạn mềm 57
Bảng 4.8 Tổng hợp bệnh hại lá ở lan Hài Lông 59
Bảng 4.9 Tổng hợp sâu hại lá ở lan Hài Lông 60
Bảng 4.10 Tổng hợp bệnh hại lá ở Tục Đoạn Mềm 61
Bảng 4.11 Tổng hợp sâu hại lá ở Tục Đoạn Mềm 62
Bảng 4.12 Tổng hợp bệnh hại lá ở Hoàng Thảo hoa vàng 62
Bảng 4.13 Tổng hợp sâu hại lá ở Hoàng Thảo hoa vàng 63
Trang 6iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Sự sinh trưởng của thân cây Hoàng Thảo hoa vàng 48
Hình 4.2: Sự tăng trưởng của lá cây Hài Lông 49
Hình 4.3: Động thái ra lá lan Hài lông 51
Hình 4.4: Sự tăng trưởng của lá cây Tục Đoạn mềm 51
Hình 4.5: Động thái ra lá lan Tục đoạn mềm 51
Hình 4.6: Sự tăng trưởng của lá cây Hoàng Thảo hoa vàng 52
Hình 4.7: Động thái ra lá lan Hoàng Thảo hoa vàng 54
Hình 4.8: Sự tăng trưởng của chồi non Hoàng Thảo hoa vàng 54
Hình 4.9: Tổng hợp bệnh hại lá ở lan Hài Lông 59
Hình 4.10: Tổng hợp sâu hại lá ở lan Hài Lông 60
Hình 4.11: Tổng hợp bệnh hại lá ở lan Tục Đoạn mềm 61
Hình 4.12: Tổng hợp sâu hại lá ở lan Tục Đoạn mềm 62
Hình 4.13: Tổng hợp bệnh hại lá ở Hoàng Thảo hoa vàng 63
Hình 4.14: Tổng hợp sâu hại lá ở Hoàng Thảo hoa vàng 64
Trang 7v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.2 Tổng quan về các loài lan 5
2.2.1 Đặc điểm sinh thái 5
2.2.2 Đặc điểm phân bố 6
2.2.3 Đặc điểm hình thái 7
2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 11
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 11
2.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 17
2.4 Tổng quan về khu vực 34
2.4.1 Vị trí địa lý 34
2.4.2 Điều kiện địa hình 34
2.4.3 Điều kiện khí hậu thời tiết 35
2.4.4 Về đất đai thổ nhưỡng 35
Trang 8vi
2.4.5 Về tài nguyên - khoáng sản 35
2.4.6 Kết cấu hạ tầng 35
2.4.7 Nguồn nhân lực 36
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 37
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 37
3.3 Nội dung khóa luận 37
3.4 Phương pháp nghiên cứu 37
3.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp 37
3.4.2 Phương pháp nội nghiệp 42
PHẦN 44: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 44
4.1 Kỹ thuật trồng 3 loài lan 44
4.1.1 Kỹ thuật trồng lan Hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum) 44
4.1.2 Kỹ thuật trồng Tục đoạn mềm (Pholidota chinensis) 44
4.1.3 Kỹ thuật trồng lan Hoàng thảo hoa vàng (Dendrobium chrysanthum) 45
4.2 Các bước chăm sóc lan 45
4.2.1 Tưới nước 45
4.2.2 Bón phân dung dịch 46
4.2.3 Bón phân 47
4.3 Khả năng sinh trưởng, sâu, bệnh hại và phòng trừ sâu bệnh hại cho lan 47 4.3.1 Khả năng sinh trưởng và phát triển thân 47
4.3.2 Khả năng sinh trưởng và phát triển lá của 3 loài 48
4.3.3 Khả năng sinh trưởng và phát triển hoa và quả 54
4.3.4 Tình hình sâu bệnh hại 3 loài lan nghiên cứu 58
4.3.4.1 Sâu bệnh hại lá ở lan Hài Lông 58
4.3.4.2 Sâu bệnh hại lá ở lan Tục Đoạn Mềm 60
Trang 9vii
4.3.4.3 Sâu bệnh hại lá ở lan Hoàng thảo hoa vàng 60
4.4Đề xuất các biện pháp gây trồng, chăm sóc, bảo tồn các loài lan 64
4.4.1Đề xuất các biện pháp gây trồng và chăm sóc lan Hài lông 64
4.4.2 Đề xuất các biện pháp gây trồng và chăm sóc lan Tục đoạn mềm 65
4.4.3 Đề xuất các biện pháp gây trồng và chăm sóc lan Hoàng thảo hoa vàng 65
PHẦN 5 : KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Kiến nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC
Trang 101
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Không điệu đà như hoa huệ, không rực rỡ như hoa hồng, hoa lan mang trong mình một vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng rất riêng, chính nhờ có vẻ đẹp ấy
mà loài hoa lan không chỉ được coi là loài hoa quý hiếm trên thế giới mà ngay
cả ở Việt Nam loài hoa này cũng mang lại một giá trị kinh tế rất cao Trước đây hoa lan được coi là hình ảnh tượng trưng cho các bậc vua chúa, vương giả
và ngày nay nó chính là niềm tự hào của người dân Việt Nam trong mắt bạn
bè, du khách quốc tế Hoa lan không những đẹp về màu sắc còn đẹp cả về hình dáng
Màu sắc thắm tươi, đủ vẻ, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho đến chấm phá, loang, sọc, vằn thẩy đều không thiếu
Hình dáng đa dạng phong phú, mỗi thứ hoa lại có một dị biệt hác thường Hoa lan có loại cánh tròn, có loại cánh dài nhọn hoắt, có loại cụp vào,
có loại xòe ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có râu, có vòi cuốn, có những hoa giống như con bướm, con ong Hoa lan có những bông nhỏ nhưng cũng có bụi lan rất lớn và nặng
Hương lan thơm ngát, dịu dàng, thoang thoảng, ngọt ngào, thanh cao, vương giả Hoa lan nếu được nuôi giữ ở nhiệt độ và ẩm độ thích hợp có thể giữ được nguyên hương, nguyên sắc từ 2 tuần lễ cho đến 2 tháng, có những bông lâu đến 4 tháng, có những giống nở hoa liên tiếp quanh năm
Cũng giống như một số quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam hoa phong lan có sự đa dạng về hình dáng, màu sắc cũng như chủng loại Các nhà khoa học dựa trên đặc điểm của các loài lan mà phân chia chúng thành hai
Trang 112
nhóm lớn là phong lan và địa lan Phong lan là loài hoa sống được nhờ vào các thân cây ẩm ướt ở trên núi cao hoặc trong rừng, còn địa lan là loài hoa sống nhờ đất ẩm ướt ở bờ suối, sườn núi, dưới mặt đất hay ở tán từng…
Hoa lan là cây cảnh được nhiều người ưa chuộng và có hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh doanh ở Việt Nam hiện nay Nếu phát triển hoa lan hợp lý, đồng bộ, không chỉ đáp ứng cho nhu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng hiệu quả, bền vững, đủ sản phẩm cho tiêu thụ tại chỗ mà còn cung cấp sản phẩm hoa, giống cho thị trường nội địa và nước ngoài
Để tìm hiểu một số kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài Lan rừng, tôi nghiên cứu khóa luận: “ Nghiên cứu
kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loại lan rừng: Hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum), Hoàng thảo hoa vàng (Dendrobium chrysanthum), Tục đoạn mềm (Pholidota chinensis) tại vườn lan Hồ Núi Cốc.”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được kỹ thuật gây trồng các loai lan: Hài lông (Paphiopedilum
hirsutissimum), Hoàng thảo hoa vàng (Dendrobium chrysanthum), Tục đoạn
mềm (Pholidota chinensis)
Đánh giá được mức sinh trưởng của Hài lông (Paphiopedilum
hirsutissimum), Hoàng thảo hoa vàng (Dendrobium chrysanthum), Tục đoạn
mềm (Pholidota chinensis)
Đề xuất các biện pháp gây trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại cho 3
loài lan nghiên cứu
Trang 12về hoa
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Giúp tôi hiểu thêm về đặc điểm sinh thái của các loài lan được nghiên cứu Ứng dụng được kiến thức đã học vào trong thực tiễn
Kết quả đề tài góp phần giải quyết yêu cầu thực tế sản xuất của các hộ nông dân, các doanh nghiệp trồng hoa lan để lựa chọn các biện pháp kỹ thuật tốt nhất để nuôi trồng các loài lan
Tạo tiền đề thúc đẩy nghề trồng hoa lan ở Thái Nguyên, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Trang 13
4
Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Về cơ sở sinh học
Việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ được đặc điểm sinh học của từng loài lan Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp và kịp thời, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật một cách khái quát hơn
Cơ sở thực tiễn
Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếp chiếu vào, đặc biệt
"kỵ" với nắng quái chiều và gió tây (gió Lào)
Chú ý phun tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho toàn bộ cây và giá thể theo kinh nghiệm "2 ướt - 1 khô" trong ngày, đó là vào các thời điểm trước bình minh và sau hoàng hôn Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt rễ
Không nên dùng NPK - loại dùng cho cây hoa màu, cây lương thực để bón cho lan Để cây tươi lâu, đẹp bền, hoa sai thắm màu, hương đậm có thể
Trang 145
thúc cho lan (phun tưới toàn bộ giá thể) với nước gạo mới vo, nước ngâm tro hoai và rắc xỉ than (nguồn phân vi lượng tổng hợp) Nếu có điều kiện lấy bông (hoặc vải cotton) nhúng vào dung dịch glycerin 10-15% cuốn vào cổ rễ
để giữ ẩm cho cây
Kỹ thuật chăm sóc lan ra hoa:
Cây sau khi ra hoa nếu không đáp ứng độ ẩm sẽ khiến rễ, lá teo nhăn lại rất khó hồi phục Nếu mới trồng, nên tưới phân số 1 (phân nhiều đạm) hay phân số 2 (phân trung hòa đạm và NPK) nồng độ 1- 2g/lít nước Trung bình nên tưới nước cho cây hai lần/ngày, tưới vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát Làm đúng như vậy thì cây sẽ ra hoa
2.2 Tổng quan về các loài lan
2.2.1 Đặc điểm sinh thái
Hoa là nguồn tài nguyên, là vẻ đẹp tôn quý của thiên nhiên ban tặng cho con người, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội nghề trồng hoa và thú vui chơi hoa trong những năm gần đây dần đi theo chiều sâu, thưởng thức những loài hoa có chất lượng cao và có giá trị kinh tế lớn Trong các loài hoa, hoa lan đang là nhu cầu của nhiều thị trường trong và ngoài nước
Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa lan là phong lan Hoa lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại:
1 Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống
Trang 156
2 Terestrials: Địa lan mọc dưới đất
3 Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá
4 Saprophytes: Loại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục
Đối với các loài lan (phong lan và địa lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài lan đã phát hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng Trong số những loài đó người ta đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay lên tới 7 triệu đồng/kg lan Thạch hộc tía
2.2.2 Đặc điểm phân bố
- Phân bố
Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa
Theo Helmut Bechtel (1982) [13], hiện nay trên thế giới có hơn 750 loài lan rừng, gồm hơn 25.000 giống được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lượng Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 05 khu vực:
+ Vùng nhiệt đới Châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus…
Trang 16+ Vùng ôn đới của Châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Châu Á gồm các giống: Cypripedium, Orchis, Spiranthes…
Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ Orchidaceae: Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi
Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi
Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi
Châu Đại Dương: 50 - 70 chi
Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi
Bắc Mỹ: 20 - 25 chi
2.2.3 Đặc điểm hình thái
Lan rừng Việt Nam – Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học đã được rất nhiều tác gia để cập đến Có thể tóm tắt đặc điểm thực vật học của lan rừng Việt Nam theo tiêu trí chính sau:
Rễ
Rễ lan có 2 nhiệm vụ:
- Hút nước và chất bổ dưỡng để nuôi cây
- Giữ cho cây bám vào trên cành cây, hốc đá hay dưới đất
Nếu rễ quá ít, cây sẽ không đủ nước, không bám cành cây hốc đá đươc, hoa sẽ không nhiều và không đẹp Nếu rễ không mọc được, bị thối, bị bệnh hay bi chết, cây sẽ thiếu nước, thiếu chất bổ dưỡng cây sẽ còi cọc và sẽ chết dần chết mòn
Trang 17Nếu tình trạng sũng nước kéo dài ngày này qua ngày khác, rễ sẽ bị thối
Rễ bị thối không có gì để hút nước, lá cũng có thể thấm nước nhưng không đủ
để nuôi cây cho nên lá bị nhăn nheo, thân, bẹ cây bị tóp lại Chúng ta cũng đừng nhầm lẫn giữa thối rễ và tưới không đủ nước Nếu tưới không đủ, cây sẽ
bị cằn cỗi và không tăng trưởng đúng mức Những loại lan có lá dài và mềm như Oncidium, Brassia hay Odontoglossum… khi thiếu nước lá sẽ có triệu chứng chun xếp lại
Rễ lan cần ẩm chứ không ướt và có không khí chuyển động quanh rễ Nhìn vào rễ có thể biết ngay việc tưới nước và bón phân ra sao Nếu rễ có mầu trắng, cứng và đầu rễ có mầu xanh là tốt, còn nếu tưới quá nhiều chỉ có một vài rễ tốt, số còn lại mềm nhũn và có mầu nâu
Bón phân quá mạnh hoặc quá nhiều sẽ làm cho rễ cháy xám lại Vì vậy nên bón phân rất loãng và thưa không nên bón bằng phân viên, phân hột vì chúng ta không thể kiểm soát được liều lượng
Muốn quan sát tình trạng của rễ ra sao, nhiều người dùng loại chậu nhựa trong suốt để dễ dàng quan sát
Đầu rễ của lan rất dễ bị tổn thương và rất dễ gãy khi chúng ở ngoài chậu Hầu hết rễ lan thường phải nằm yên trong chậu, nhưng theo bản năng chúng thường hướng về phía có không khí và nước nên thường mọc tràn ra
Trang 18 Thân
Lan có 2 loại thân đa thân và đơn thân Ở các loài lan sống phụ có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành) đó là bộ phận giữ trử nước và các chất dinh dưỡng để nuôi cây khi điều kiện gặp khô hạn khi sống bám trên cao Củ giả hành đa dạng, hình cầu hay thuôn dài xếp sát nhau hay rải rác đều đặn hoặc hình trụ xếp chồng chất thành một thân giả, cấu tạo củ giả, gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy phía ngoài là lớp biểu bì, với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ để trách sự mất nước do mặt trời hun nóng Đa số củ
giả đều xanh bóng để làm nhiệm vụ quang hợp cùng với lá
Lá
Hầu hết các loài phong lan là cây tự dưỡng, nó phát trển đầy đủ hệ thống
lá, hình dạng của lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nước đến loại lá phiến mỏng phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung, hay chỉ gấp lại theo hình chữ v Màu sắc lá thường xanh bóng, nhưng có trường hợp hai mặt
Trang 1910
cánh đài giống nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc Hầu hết các giống lan, lá đài có cùng kích thước và giống như cánh hoa Tuy nhiên, trong một số giống, lá đài lý trở nên to lớn và lòe loẹt, 2 lá đài cạnh thấp ở hai bên đôi khi hợp nhất lại thành ra một, và trong những giống khác tất cả 3 lá đài hợp nhất thành kết cấu hình chuông chung quanh hoa Trong một vài giống, các lá đài hoàn toàn lấn áp hoa thật
Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa Cánh hoa bảo
vệ bao bọc nụ hoa So với 2 cánh hoa hai bên sườn, cánh hoa phía dưới còn lại gọi là cánh môi Cánh môi đôi khi đặc biệt to lớn khác hẳn với 2 cánh kia Cánh môi thường sặc sỡ, viền cánh hoa dợn sóng hoặc dưới dạng một cái túi, trang hoàng với những cái mũ mào (như mào gà), những cái đuôi, cái sừng, những nốt màu, những cái lông,… Cánh môi quyết định giá trị thẩm mỹ của hoa lan Trong một số trường hợp, cánh môi còn là một cái bẫy dụ dỗ các côn trùng giúp thụ phấn
Cơ quan sinh sản của hoa lan kết hợp thành một trụ đơn không giống hình dạng tiểu nhị đực/túi phấn và nhuỵ cái nướm như các loại hoa khác Đây
là đặc điểm để nhận dạng đầu tiên của hoa lan Ở trên đầu của trụ hoa là bao phấn bao gồm nhiều hạt phấn gọi là túi phấn Phía dưới túi phấn là nhuỵ cái, một shallow, vách thường ẩm ướt nơi mà hạt phấn rơi vào thụ tinh Có một bộ phận nhỏ đó là vòi nhuỵ có tác động rào cản bảo vệ ngăn chận tự thụ phấn của chính hoa này Để ngăn chận việc tự thụ phấn, một số loài chúng có hoa đực
và hoa cái riêng rẽ
Cấu tạo hoa lan
- Lá đài: Mặc dù chúng giống như cánh hoa, chúng thực sự tô điểm cho
phần còn lại của nụ hoa Thường 3 lá đài có kích thước bằng nhau
- Cánh hoa: Hoa luôn luôn có 3 cánh hoa Hai cánh “bình thường”, và
cánh thứ ba trở thành một cấu trúc đặc biệt gọi là cánh môi
Trang 2011
- Cánh môi hay Cánh dưới: Cánh hoa thấp phía dưới của hoa Lan Hoa
dùng cánh này để cung cấp một “bãi đáp” dành cho những côn trùng thụ phấn
- Trụ nhụy:
Một cấu trúc giống ngón tay, đó là bộ phận sinh dục của hoa
Đầu nhuỵ (nhụy cái) và phấn hoa (nhị đực) ở dưới đầu nắp bao phấn (nắp)
Quả lan: Sự tạo quả của hoa lan trong tự nhiên rất khó do cấu tạo đặc
biệt của hoa và thường phải nhờ côn trùng Quả lan thuộc loại quả nang, thời gian tạo quả đến khi quả chín kéo dài Đối với Cattleya phải từ 12 đến 14 tháng, Vanda 18 tháng hoặc hơn, Cypripedium 1 năm, Dendrobium từ 9 tới
15 tháng Khi chín quả nở ra theo 3 đến 6 đường nứt dọc mảnh vỏ còn dính
lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc
Hạt lan: Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ty Hạt cấu tạo bởi một khối chưa
phân hóa, trên một mạng lưới nhỏ xốp chứa đầy không khí Phải trải qua 2 –
18 tháng hạt mới chín Hạt muốn nẩy mầm trong tự nhiên phải có sự cộng sinh của nấm Phizotonia nuôi dưỡng
2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Những nghiên cứu về lan
Cây hoa lan được biết đến đầu tiên từ năm 2800 trước công nguyên, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đã lai tạo, nhân nhanh được giống mới đem lại kinh tế cao Chính vì vậy, việc nghiên cứu và sản suất hoa lan trên thế giới ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn, đặc biệt nhất là Thái lan
Thái Lan có lịch sử nghiên cứu và lai tạo phong lan cách đây khoảng 130 năm (Arjan Germy, 2005), hiện nay là nước đứng đầu về xuất khẩu hoa phong lan trên thế giới (kể cả cây giống và hoa lan cắt cành) trong đó các giống phong lan thuộc chi lan Hoàng Thảo Dendrobium chiếm 80%
Trang 2112
Cây lan biết đến đầu tiên ở Trung Quốc là Kiến lan (được tìm ra đầu tiên
ở Phúc Kiến) đó là Cymbidium ensifonymum là một loài bán địa lan Ở
Phương Đông, lan được chú ý đến bởi vẻ đẹp duyên dáng của lá và hương thơm tuyệt vời của hoa Vì vậy trong thực tế lan được chiêm ngưỡng trước tiên là lá chứ không phải màu sắc của hoa (quan niệm thẩm mỹ thời ấy chuộng tao nhã chứ không ưa phô trương sặc sỡ)
Lan đối với người Trung Hoa hay Lan đối với người Nhật, tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp, hương thơm tao nhã, tất cả thuộc về phái yếu, quý phái và thanh lịch như có người đã nói “Mùi hương của nó tỏa ra trong sự yên lặng và cô đơn” Khổng Tử đề cao lan là vua của những loài cây cỏ có hương thơm Phong trào chơi phong lan và địa lan ở Trung Quốc phát triển rất sớm,
từ thế kỷ thứ V trước công nguyên đã có tranh vẽ về phong lan còn lưu lại từ thời Hán Tông
Ở châu Âu bắt đầu để ý đến phong lan từ thế kỷ thứ 18, sau Trung Quốc đến hàng chục thế kỷ và cũng nhờ các thuỷ thủ thời bấy giờ mà phong lan đã
đi khắp các miền của địa cầu Lúc đầu là Vanny sau đó đến Bạch Cập, Hạc Đính rồi Kiến Lan lan chính thức ra nhập vào ngành hoa cây cảnh trên thế giới hơn 400 năm nay
Địa lan (Cymbidium) hay còn gọi Thổ lan là một loại hoa lan khá phổ
thông, vì hội đủ điều kiện: có nhiều hoa, to đẹp, đủ màu sắc và lâu tàn, rất thông dụng cho việc trang trí trưng bày Hiện nay nước Mỹ có nhiều vườn địa lan dùng cho kỹ nghệ cắt bông như Gallup & Tripping ở Santa Barbara nhưng cũng phải nhập hàng triệu đô la mỗi năm từ các nước Âu Châu và Á châu để cung ứng cho thị trường trong nước
Trang 2213
Trước năm 1930, nước Mỹ không có nhiều giống lan và cũng không có nhiều người thích chơi lan hay vườn lan Nói riêng về California thì chỉ có 2-3 vườn lan ở Oakland và San Francisco, nhưng chỉ dùng cho kỹ nghệ cắt bông,
không có bán cây Lúc bấy giờ các vườn lan chỉ có Cát lan (Cattleya) hay địa lan (Cymbidium) nhưng cũng không có nhiều giống lan hay hoa đẹp, những giống
này được nhập cảng từ nước Anh
Nước Anh là nơi nghiên cứu và lưu trữ hồ sơ những loài thảo mộc hay bông hoa, tất cả tên tuổi của những loài thào mộc hay bông hoa đều được đăng ký
và lưu trữ ở Anh Quốc Sau năm 1930 địa lan mới được nhập cảng vào nước Mỹ nhưng rất giới hạn Lúc bấy giờ địa lan rất đắt giá, giá tính từng củ một, dù củ không có lá, hay củ có lá giá cả cũng không khác biệt bao nhiêu Có nhiều l oại, một củ với giá có thể tới 800 đô la, vào thời đó 800 đô là mua được một chiếc xe hơi mới tinh Một cây địa lan tên Cym ros anna ‘pinkie’ được bán đấu giá 2.500
đô la và có người mua với giá 2.600 đô la (Dẫn theo Phạm Cường - Thursday
November 1, 2007 - 07:42am (PDT)
Những nghiên cứu về gây trồng lan
Theo tạp chí (Chinese Cymbidium History Part 1),hiện nay tại Mỹ đã có
những nghiên cứu về cây địa lan ở một số khâu kỹ thuật sau:
+ Nghiên cứu giá thể (môi trường) trồng:
Mỗi một điều kiện khác nhau có thể dùng các giá thể khác nhau:
Ở vùng có nhiệt độ môi trường thấp (650 F ban ngày và 450 F ban đêm)với độ ẩm trung bình có thể thêm vỏ cây linh sam và đá bọt biển (peclit thô) vào hỗn hợp trên Hỗn hợp này có nhiều tác dụng nhất cho khí hậu lạnh vào mùa đông và ấm nóng vào mùa hè vì vỏ cây giúp giữ lại lượng ẩm đáng
kể trong hỗn hợp
Trang 2314
Ở điều kiện khí hậu khô có thể tăng thêm rêu và rong biển chúng sẽ làm
sự thoát ẩm diễn ra chậm lại Nhýng cần sử dụng cẩn thận khi thêm rong (rêu)
vì sự tưới nước thường xuyên sẽ dẫn đến thừa ẩm, úng làm bộ rễ thối rữa, cây
Lượng nhiệt
Tần xuất tưới nước Độ ổn định
Đá gai bọt biển Thấp - Thấp - Thường xuyên Cao Cây dương xỉ Thấp + Thấp - Thường xuyên Thấp
Vỏ cây thông Trung bình + Thấp + Trung bình + Thấp
Than hoạt tính Trung bình Thấp Trung bình Trung bình
+ Nghiên cứu về thay chậu và tách cây:
Phương pháp chính sự sinh sản của Địa lan kiếm châu Á đặc biệt bởi sự
đẻ nhánh Những chậu cây sâu và rộng sẽ cho một số sự phát triển mới hay là (thân hành - giả hành), có thể để từ 2-3 năm mới thay giá thể và cho nhiều cây vào chậu tạo sự sinh sản mới, ở điều kiện này sẽ tạo nhiều cụm hoa Tuy nhiên cần lưu ý tới vết cắt khi tách cây phải được sử lý bằng sunfua làm giảm
sự tiếp xúc của virut
+ Chọn giống (cây khoẻ có nhiều rễ, rễ trắng)
+ Chế độ tưới nước dựa vào các yếu tố:
- Giá thể trồng lan
- Ẩm độ trong vùng trồng
Trang 24+ Nghiên cứu về ánh sáng, mùa hè cần độ che phủ khoảng 60-70% ánh sáng, trong mùa đông có thể giảm 20% Lá cây tiếp nhận ánh sáng tốt nhất sẽ xanh, bóng và có độ cong thanh nhã Màu xanh vàng có thể cho biết là lá quá thừa ánh sáng, lá bị gãy gập và rụng có thể là ánh sáng yếu
+ Nghiên cứu về nhiệt độ tới sinh trưởng và phát triển:
Nhiệt độ khác nhau có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình ra hoa Địa lan Kanran và Gorengi đòi hỏi nhiệt độ ban đêm khoảng 40-500F để bắt đầu
nở hoa, địa lan Sinence cần nhiệt độ 50-600F
+ Nghiên cứu về bón phân
Khi cây con phát triển cần bón phân 1 lần/tuần, ngừng tưới phân khi cây chuyển sang giai đoạn nghỉ ngơi
+ Nghiên cứu về bộ rễ, đánh giá khả nãng sinh trưởng của cây
Mùa xuân là thời gian tốt nhất để kiểm tra bộ rễ, nếu rễ bám quá chặt vào chậu có thể đập bỏ chậu Kiểm tra bộ rễ sẽ giúp ta biết được lượng nước tưới, giá thể trồng và sức khoẻ của cây
Trang 25- Cây thiếu nước
- Tăng sự lưu thông nhiệt trong hỗn hợp, dùng chậu gốm
- Tưới nước thường xuyên
Cây bị rụng lá
- Không đủ ánh sáng
- Không đủ phân bón
- Quá nhiều phân bón
Kiểm tra lượng phân bón và số lần bón, chuyển cây ra vùng có nhiều ánh ság hơn
- Lượng phân bón nhiều
- Giữ độ ẩm khỏang 40-60% vào mùa đông và dưới 80% vào mùa
hè, tăng lượng lưu thông không khí
- Kiểm tra lượng phân bón
Hoa bị hoá nâu
Trang 2617
- Giá trị kinh tế
Trên thế giới, việc sản xuất hoa đã trở thành một ngành kinh doanh khá quan trọng và phát triển một cách mạnh mẽ Diện tích hoa của thế giới ngàu càng mở rộng Tổng kim ngạch xuất khẩu hoa tươi trên thế giới hàng năm khoảng 25 tỷ USD và đang tăng mạnh, trong đó hoa lan chiếm tỷ lệ không nhỏ (Đồng Văn Khiêm, 2003) [6]
Hoa lan là một loài hoa quý, có giá trị thương mại lớn (trên thế giới một cây lan quý có thể có giá trị khoảng 400 USD, một cành hoa lan cắt có giá trị
2 USD) (Đồng Văn Khiêm, 2003) [6]
Hoa lan thực sự trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao,
nó thúc đẩy ngành sản xuất kinh doanh hoa la phát triển mạnh mẽ: Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia trong đó Thái Lan có kim ngạch xuất khẩu hoa lan cắt cành năm 1987 là 21 triệu USD, năm 1990 26 triệu USD, năm
1991 là 30 triệu USD, Singapore thu lợi nhuận từ hoa cắt cành mỗi năm là 10 triệu USD
2.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
2.3.2.1 Tổng quan về nghiên cứu sinh thái
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi về các yếu tố địa lý, khí hậu cũng như nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng, rất thích hợp với việc trồng phong lan Rừng Việt Nam có nhiều loài phong lan quí Do đó nếu chúng ta biết bảo vệ các loài lan hiện có và mở rộng việc trồng lan cùng với sự giao lưu, trao đổi những giống lan quí với các nước bạn thì giá trị khoa học cũng như giá trị kinh tế của các loài lan ở nước ta sẽ tăng lên đáng kể Hiện nay, nhu cầu về hoa lan trên thế giới rất cao, nghề nuôi trồng hoa lan đã trở thành một bộ phận chủ yếu nhất của ngành trồng hoa cảnh xuất khẩu của nhiều nước
Trong điều kiện hội nhập, đầu tư phát triển công nghiệp, đô thị và du lịch với tốc độ cao, nhu cầu về hoa cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu gia tăng
Trang 2718
mạnh Hoa, cây cảnh mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người trồng hoa, đồng thời thúc đẩy du lịch, hội nhập và đời sống văn hóa tinh thần của quốc gia Đã có những công ty hàng năm sản xuất và tiêu thụ hoa lan doanh thu lên hàng tỷ đồng như Sài gòn Orchidex, công ty hoa Hoàng Lan, song các công ty này chủ yếu buôn bán các giống lan nhập nội
Ý nghĩa của nghiên cứu sinh thái loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là cơ sở cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
Khi nghiên cứu sinh thái các loài thực vật, Lê Mộng Chân (2000) [2] Đã nêu tóm tắt khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu Sinh thái thực vật nghiên cứu tác động qua lại giữa thực vật với ngoại cảnh Mỗi loài cây sống trên mặt đất đều trải qua quá trình thích ứng và tiến hoá lâu dài, ở hoàn cảnh sống khác nhau các loài thực vật thích ứng và hình thành những đặc tính sinh thái riêng, dần dần những đặc tính được di truyền và trở thành nhu cầu của cây đối với hoàn cảnh
Con người tìm hiểu đặc tính sinh thái của loài cây để gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, sử dụng và bảo tồn các loài cây đúng lúc, đúng chỗ đồng thời lợi dụng các đặc tính ấy để cải tạo tự nhiên và môi trường Lê Mộng Chân (2000) [2]
Phan Kế Lộc (1970) [8] Đã xách định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có
5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ, tác giả đã đề nghị áp dụng công thức đánh giá tổ thành loài rừng nhiệt đới
Thái Văn Trừng (1978) [12] Thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ
Nguyễn nghĩa Thìn (1997) [11] Đã thống kê thành phần loài của VQG
có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213
Trang 2847 họ khác nhau Các nghiên cứu có liên quan
Đỗ Tất Lợi (1995) [9] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay
Viện Công nghệ Sinh học thực vật, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
đã thành công trong việc nghiên cứu một số môi trường nhân nhanh một số giống phong lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) (Nguyễn Quang Thạch và cộng tác viên, 2005) [10]
Viện Di truyền Nông nghiệp đã có một số nghiên cứu cây lan nhưng chưa đưa ra được sản xuất, bước đầu mới khởi động do một số yếu tố khách quan Hiện nay, đã có những công ty hàng năm sản xuất và tiêu thụ hoa lan doanh thu lên hàng tỷ đồng như Sài gòn Orchidex, công ty hoa Hoàng Lan, các công ty này chủ yếu buôn bán các giống lan nhập nội (Đồng Văn Khiêm, 2005) [6]
Viện Công nghệ Sinh học Nông nghiêp , trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã thành công trong việc nghiên cứu một số môi trường nhân nhanh một số giống phong lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) (Nguyễn Quang Thạch và cộng tác viên, 2005) [10]
Nghiên cứu sinh thái của 3 loài lan trong khóa luận
Trang 2920
Hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum) Cây thảo, sống ở đất hoặc trên
đá Lá 5 - 6 chiếc, hình dải, thuôn dần đến đỉnh hai thùy lệch, kích thước 45 x 1,5 - 2 cm, màu xanh, ít nhiều có chấm màu tía ở mặt dưới Cụm hoa 1 hoa; cuống hoa dài 17 - 25 cm, có lông dài phủ dầy, che ở gốc bởi bẹ dài tới 11 cm; lá bắc hình bầu dục, dài 1,5 - 2,8 cm, có lông Hoa lớn, đường kính 11 -
14 cm
- Phân bố:
Trong nước: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lâm Đồng (trồng ở Đà Lạt) Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan
- Đặc điểm sinh học và sinh thái: Tái sinh bằng chồi và hạt Mọc rải rác
trong rừng thưa, vùng núi đá, trên đất hoặc trên đá, ở độ cao 700-1800m
Giá trị: Là loài Lan hài quý, có giá trị làm cảnh vì thân, lá đẹp, hoa to cỡ
10 cm; đẹp bởi màu xanh của lá đài, màu tía và tím của cánh hoa và màu tía nâu của môi Tình trạng: Loài có khu phân bố và nơi cư trú chia cắt Thuộc nhóm Lan Hài, là nhóm Lan bị săn lùng vì các mục đích thương mại
Phân hạng: VU A1c,d+A2d
Biện pháp bảo vệ: Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với
cấp đánh giá "bị đe dọa" (T) Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Đề nghị xây dựng khu bảo tồn và nhân giống Lan trong vườn quốc gia và di chuyển một lượng cây sống có thể của loài này về khu vực bảo tồn và chăm
sóc (Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật) [1]
Hoàng thảo hoa vàng (Dendrobium chrysanthum) Lan phụ sinh Thân dài
70 - 160 cm, hình trụ, dầy 0,6 - 0,8 cm, thõng xuống, lóng dài 2 - 3,5 cm Lá hình mác nhọn, dài 10 - 16 cm, rộng 3 - 4 cm Cụm hoa bên mọc trên thân còn
Trang 30- Đặc điểm sinh học và sinh thái:
Ra hoa vào tháng 7-8, tái sinh bằng chồi và hạt Mọc bám trên các cây gỗ lớn trong rừng, ở đô cao 100-1200m
Giá trị: Dùng trị miệng khô, táo khát, phổi kết hạch, dạ dày thiếu vị
chua; chữa di tinh, ra mồ hôi trộm, thắt lưng đau mỏi, bệnh nhiệt gây tổn tân dịch Cây dùng làm cảnh vì có hoa màu vàng rất đẹp với đốm màu tím đỏ ở giữa môi Tình trạng: Loài có khu phân bố và nơi cư trú chia cắt Hiện đã bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác để trồng, bán chủ yếu làm cây cảnh, đôi khi làm thuốc và chặt phá rừng hủy hoại nơi cư trú
Phân hạng: EN B1+2e+3d
Biện pháp bảo vệ: Đề nghị xây dựng khu bảo tồn và nhân giống Lan
trong các vườn quốc gia và di chuyển một lượng cây sống có thể của loài này
về khu bảo tồn và chăm sóc (Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật) [1]
Tục đoạn mềm (Pholidota chinensis) Lan sống phụ sinh, thân rễ bò dài,
có đót, củ giả xềp cách xa nhau, hình trụ hay hình thoi cao 4 - 6cm, đường kính 1cm, khi khô có rãnh dọc đỉnh mang 2 lá Lá thuôn hình giáo tù dài 12 - 18cm, rộng 21 - 6cm, có 5 - 7 gân, cuống dài 3 - 5cm, cụm hoa bông trên củ giả non, cao 10 - 15cm, nhiều lá bắc màu hồng Hoa màu trắng, thơm
- Phân bố:
Cây mọc rất rộng rãi từ miền bắc, Sapa (Lào Cai), Tam Đảo, Ba Vì đến Tây Nguyên (Gia Lai, Kontum, Nha Trang, Khánh Hòa) và phân bố ở Trung Quốc
Trang 3122
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi về các yếu tố địa lý, khí hậu cũng như nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng, rất thích hợp với việc trồng phong Lan Rừng Việt Nam có nhiều loài phong Lan quý Do đó nếu chúng ta biết bảo vệ các loài Lan hiện có và mở rộng việc trồng Lan cùng với sự giao lưu, trao đổi những giống lan quí với các nước bạn thì giá trị khoa học cũng như giá trị kinh tế của các loài Lan ở nước ta sẽ tăng lên đáng kể Hiện nay, nhu cầu về hoa Lan trên thế giới rất cao, nghề nuôi trồng hoa Lan đã trở thành một bộ phận chủ yếu nhất của ngành trồng hoa cảnh xuất khẩu của nhiều nước
Việt nam là quê hương của khoảng 91 chi, 463 loài Lan và khoảng 1000 giống nguyên thủy Những cây lan này phân bố tại vùng rừng, núi các tỉnh Thái Nguyên, Cao bằng, Lào Cai, Huế, Hải Vân, Quy nhơn, Kontum, Pleiku, Đắc Lắc, Đà lạt, Nam Cát Tiên Trong số Lan của Việt Nam có rất nhiều cây hiếm quý và có những cây trước kia chỉ thấy mọc ở Việt nam như cây Lan nữ
hài Paphiopedilum delenati, cánh trắng môi hồng do một binh sĩ người Pháp
đã tìm thấy ở miền Tây Bắc Việt Nam vào năm 1913, sau đó đến năm 1922 đã phát hiện chúng có phân bố tại miền Trung Việt Nam và đến năm 1990-1991
phát hiện được ở Khánh Hòa, (Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học) [14]
Việt Nam, dấu vết những nghiên cứu về Lan ở buổi đầu không rõ rệt lắm,
có lẽ người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, Ông đã mô tả cây Lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào
năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis” gọi tên các cây Lan trong cuộc hành trình đến Nam phần Việt Nam là aerides, Phaius và Sarcopodium mà đã
được Ben Tham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera plante rum” (1862- 1883)
dẫn theo Nguyễn Hữu Huy - Phan Ngọc Cấp (1995) Chỉ sau khi người Pháp
đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên cứu được công bố, đáng kể là F.gagnepain và A.gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ "Thực vật Đông Dương chí" (Flora Genera Indochine) do H
Trang 3223
Lecomte chủ biên, xuất bản từ những năm 1932 - 1934.Ở nước ta đã biết được
897 loài thuộc 152 chi của họ hoa Lan (dẫn theo Dương Xuân Trinh, et) Nguồn
gen hoa phong lan của Việt Nam rất phong phú trong đó lan Hoàng Thảo chiếm
khoảng 30 – 40% trong tổng số các loài lan của Việt Nam (Nguyễn Nghĩa Thìn,
2000) Nguyen Nghia Thin, T V Tiệp (2000) Trong điều kiện hội nhập, đầu tư
phát triển công nghiệp, đô thị và du lịch với tốc độ cao, nhu cầu về hoa cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu gia tăng mạnh Hoa, cây cảnh mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người trồng hoa, đồng thời thúc đẩy du lịch, hội nhập và đời sống văn hóa tinh thần của quốc gia Đã có những công ty hàng năm sản xuất và tiêu thụ hoa Lan doanh thu lên hàng tỷ đồng như Sài gòn Orchidex, công ty hoa Hoàng Lan, song các công ty này chủ yếu buôn bán các giống Lan nhập nội Hiện nay trong nước có nhiều người sưu tầm, nghiên cứu về Lan, có những Công ty trồng Lan để bán trong nước và xuất khẩu nhưng với số vốn hạn hẹp, kỹ thuật thô sơ nên không thể nào cạnh tranh nổi với các nước láng giềng như Thái Lan, Đài loan đã có mặt trên thị trường quốc tế từ lâu
Ngoài ra do luật quốc tế bảo vệ các giống động vật và cây hiếm quý do Hiệp ước Convention on International Trade in Endangered S pecies of wild fauna and flora (CITIES) đã cấm mua bán một số đặc sản, cho nên hoa Lan của Việt nam khó lòng được chính thức nhập khẩu vào Hoa kỳ Trong khi đó nhiều lái buôn đã thuê người vào rừng thẳm, núi cao để kiếm Lan bất kỳ lớn, nhỏ quý giá hay không đem bán cho các lái buôn Trung Quốc, Thái lan hoặc Đài loan với giá: 2 – 3 USD/kg Những cụm lan rừng vẫn được bầy bán tại các hội hoa lan tại Santa Barbara hay South Coast Plaza có thể là xuất xứ tại Việt
Nam, (dẫn theo Bùi Xuân Đáng )
Nói đến Đà Lạt, không thể không nhắc đến địa Lan với hàng trăm loại cùng sinh sống và sinh trưởng với địa Lan ngoại nhập Theo các nhà nghiên cứu, hiện tại Đà Lạt có khoảng 300 loài phong Lan và trên 300 giống địa Lan
Trang 3324
nội và ngoại nhập cùng khoe sắc tỏa hương Trong đó Cymbidium còn gọi là
kiếm địa Lan, phong phú đa dạng hơn cả Các loài địa Lan thuộc họ
Cymbidium như: Lan Lô Hội, Thanh Lan, Xích Ngọc, Gấm Ngũ Hồ, Bạch
Lan, Mặc Lan, Bạch Hồng, Hoàng Lan, Tử Cán…Từ những năm 1990, Liên hiệp khoa học và sản xuất Đà Lạt đã thực hiện một số phương pháp lai ghép giữa các loài Lan, gieo hạt Lan trong ống nghiệm để duy trì nguồn Lan tự nhiên của địa phương Bên cạnh còn có một giống Lan mà duy nhất chỉ có ở
Đà Lạt đó là giống Lan Cymbidium Insigne var Dalatensis (Hồng Lan), đây là
loài địa Lan vô cùng độc đáo, màu sắc hoàn toàn khác biệt với những giống
Lan đã biết, các nhà khoa học đang cho nhân giống, và trồng rộng rãi, (dẫn
theo Vietnam Records Books)
Viện Công nghệ Sinh học thực vật, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã thành công trong việc nghiên cứu một số môi trường nhân nhanh một số giống phong Lan Hồ Điệp
(Phalaenopsis), Nguyễn Quang Thạch và cộng tác viên, (2005) [10]
Những kết quả nghiên cứu trên đây của các tác giả đã công bố là cơ sở
để Nhiệm vụ khoa học này lựa chọn phương pháp điều tra đem lại kết quả cao nhất, lựa chọn loài để nghiên cứu phương pháp nuôi cấy mô để tránh nghiên cứu trùng lặp với những kết quả đã công bố
2.3.2.2 Các nghiên cứu gây trồng và chăm sóc các loài lan rừng ở Việt Nam
Các nghiên cứu gây trồng
Trồng lan theo kiểu treo
Đây là một trong nhưng cách trồng lan mới và khá mạo hiểm vì cây lan chỉ treo lủng lẳng bằng một sợi dây cột dính vào thân cây Cách trồng này có
ưu điểm là loại bỏ được các mầm bệnh gây ra do các riêu bám thành chậu, rễ cũng không bao giờ bị úng do nước, không tốn chậu và môi trường trồng ( than, gạch hay dơn)
Trang 3425
Tuy nhiên kiểu trồng này cũng có những nhược điểm như lượng phân bón sử dụng cho mỗi lần tưới vô cùng tốn kiếm Điều kiện trồng này đòi hỏi phải luôn có đọ ẩm cao hơn và phải ổn định để cây không bị cuốn lá Cách trồng này chỉ áp dụng ở những giống lan có độc trụ, cụ thể như Vanda
Ascocentrum, Ascocenda…(Các kiểu trồng lan phổ biến hiện nay tại Hồ Chí
Minh) [14]
Trồng lan theo kiểu thân cây
Với cách trồng này lại được phân ra thành hai loại là thân cây sống và thân cây chết
Thân cây sống:
Phong lan trồng trên những thân cây sống thường áp dụng ở những nơi công cộng hơn là trồng riêng ở những hộ gia đình, chúng có tính cách sưu tập hơn là thẫm mỹ Mục đích của cách trồng này chính là góp phần xây dựng lại một không gian thiên nhiên thu hẹp Số lượng giống đòi hỏi phải nhiều và rất khó làm nổi bật vẻ đẹp của hoa lan Với cách trồng này thì không phải hoa lan nào cũng có thể sống cũng như phát triển tốt được
Có thể sử dụng những loại cây sau để trồng phong lan ở khu vực thành thị như:
Cây sao hay còn gọi là cây giá trị giả - Berrya mollis
Cây sao – Hopea Odorata
Cây me chua – Tamarindus indica
Cây vú sữa - Chrysophyllum Cainnito
Cây vừng - Careya Arorea
Một điểm bạn cần lưu ý với kiểu trồng này chính là bạn phải chú ý đến giờ chiếu sáng đối với điểm trồng lan, vì những cây có tán cây to sẽ che khuất thân
Trồng lan trên thân cây chiết:
Trang 3526
Đây là cách trồng phổ biến và thường được khuyến khích vì mật độ trồng cao và cây phát triển nhanh ít bị sâu bệnh Trong các loại cây thì vú sữa chính là loại cây thường được ưa chuộng nhất để thực hiện cách trồng này Theo một nghiên cứu trong bốn năm cho thấy hoa phong lan phát triển trên thân cây khô phát triển gấp 1,5 lần so với những cây trồng trong chậu
Với cách trồng này thì bạn có thể sử dụng vú sữa có chiều dài khoảng 1,5m và có thể cả nhánh Bạn có thể dựng đứng thân vào trong chậu và giữ vững chúng bằng gạch vụn hay xi – măng đổ vào gốc
Phương thức này có rất nhiều những ưu điểm là cây phát triển nhanh, hiếm xuất hiện những mầm bệnh hay thối rễ, mật độ trồng cao Có thể tạo ra một số lượng lan nhanh chóng trong một thowig gian ngắn Phương pháp này giúp cho các nhà vườn phát triển các giống lan của mình
Phương pháp này áp dụng tốt cho những giống hoa phong lan như Dendrobium, Cattleya, Ascocenda… Một khuyết điểm duy nhất chính là rất khó bán và rất khó trưng bày vì không ai lại muốn mua một cây lan trổ hoa bị
đứt rễ do nhổ ra khỏi thân cây Các kiểu trồng lan phổ biến hiện nay tại Hồ
Chí Minh [14]
Trồng phong lan trong chậu
Là cách trồng phổ biến nhất với người yêu lan ở khu thành thị vì tính tiện dụng như có thể mang đi trưng bày ở phòng khách, bán hay làm quà tặng
mà không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của nó Trồng lan trong chậu thì đòi hỏi phải có những bước chuẩn bị hết sức cẩn trọng để phong lan có thể sinh trưởng và phát triển tốt nhất
Chọn chậu để trồng hoa lan
Một chậu lan hoàn hảo phải đảm bảo những yêu cầu về kích thướt sau đây: + Kích thướt vừa phải và nên phù hợp với tầm cỡ của cây lan, chậu phải thật thoáng khi được nhúng nước
Trang 3627
+ Chất lượng của sét và đọ nung phải đamt bảo sao cho chậu không đóng rêu + Miệng chậu không nên có gờ vì rất khó khăn cho việc gắn ti tơ buộc chặt cây lan mới bám rễ
+ Nên sử dụng loại chậu tráng men vì rễ rất khó bám vào thành chậu vì với loại này cây rất ít bị bám rễ
+ Loại chậu gỗ thường được dùng để trồng các loại cây đơn thân vì gỗ
có thể giữ ẩm tốt và không bị mục
+ Qủa dừa khô, để nguyên và bạn có thể tạo vài lỗ thoát nước ở đáy cũng
là một trong những loại chậu lý tưởng để trồng lan, (Các kiểu trồng lan phổ
biến hiện nay tại Hồ Chí Minh) [15]
Các loại giá thể trồng lan thông dụng ở Việt Nam
Than củi: Được dùng khá phổ biến Là một chất trồng tốt vì không bị mục, sạch bệnh, tạo thông thoáng cho hệ rễ lan phát triển Than sẽ hấp thụ dinh dưỡng qua quá trính bón phân và cung cấp dưỡng chất qua sức hút rất mạnh của rễ lan Than được dùng ở đây là loại than gỗ rừng, được hun (nung) thật chín Tránh tuyệt đối dùng các loại than gỗ rừng sác (như than đước) vì hàm lượng NACL trong than cao, dễ làm chết lan Than được chặt nhỏ vừa (kích thước 1x3x2 cm) không nên chặt quá nhỏ sẽ làm ảnh hưởng đến hô hấp của rễ Nhược điểm là giữ ẩm kém, giá thành khá cao
Gỗ vú sữa, gỗ cây me: là chất trồng thông dụng cho các loại lan rừng có
rễ to và thích thoáng khí như ngọc điểm, sóc, hoàng thảo các loại … vì bản thân lan rừng khi ở trong rừng bám vào các loại cây để sống
Vỏ dừa chặt khúc: Có khả năng giữ ẩm tốt và chất dinh dưỡng được cung cấp từ phân bón giúp cho rễ phát triển tốt Vỏ dừa chặt khúc nhỏ (1 x 3 x
2 cm) xử lý bằng nước vôi 5% hoặc NaOH 2% Nhược điểm là không bền, dễ
bị rong rêu phát triển trên bề mặt
Trang 37dễ mọc rêu, không thoáng, dễ mục Đối với chất trồng này phải phun thuốc ngừa sâu bệnh thường xuyên
Dớn cọng: Đây là dạng sợi của thân và rễ cây dương xỉ (Cybotium baronletz) là một loại cây mọc nhiều ở các vùng thung lũng đồi núi Đà Lạt
Sở dĩ dớn cọng được chọn vì không bao giờ đóng rêu, rất lâu mục, ít bị nhiễm
vi sinh vật gây bệnh, tạo thông thoáng cho hệ rễ Nhược điểm là hút ẩm và hấp thu phân bón kém Ngoài ra còn có dớn miếng, dớn đá, dớn cây…
Đất sét nung: Đây là loại giá thể nhân tạo được làm từ đất sét dạng viên lục giác hoặc viên đùn thỏi phù hợp theo kích thước của giá thể than củi hoặc dừa miếng Đất sét nung khá phù hợp cho nhiều loại lan
Vỏ Cây thông: Có xuất xứ từ Đà Lạt hoặc nhập ngoại Giữ nước và độ
ẩm, khá thích hợp cho nhiều thứ lan cho nên nhiều người dùng Điều bất tiện
là thứ này giữ chất muối có sẵn trong nước và trong phân bón, chỉ giữ được chừng 2/3 số Nitrogene trong phân bón và thông thường sẽ bị mục nát trong
khoảng 2-3 năm, (Các loại giá thể trồng lan) [16]
Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại cho các loài lan
Chăm sóc lan
Lan là cây trồng dễ chăm sóc nếu chúng ta đảm bảo được các điều kiện thuận lợi cho lan phát triển Các yếu tố quan trọng nhất đối với lan là ánh sáng, nước tưới, độ ẩm, chậu hay giá thể và dinh dưỡng
Trang 3829
Chiếu sáng: Mật độ chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh
trưởng, phát triển và ra hoa của lan Thiếu nắng cây lan vươn cao nhưng nhỏ
và ốm yếu, lá màu xanh tối, dễ bị sâu bệnh tấn công, cây ít nảy chồi, khó ra hoa, hoa nhỏ và ngắn màu sắc không tươi, hoa nhanh tàn Thừa nắng lan thấp cây, lá vàng có vết nhăn và khô, mép lá có xu hướng cụp vào, dễ ra hoa sớm khi cây còn nhỏ nên hoa ngắn, nhỏ, cây kém phát triển Nếu nắng gắt quá lá
sẽ bị cháy, khô dần rồi chết
Lan có yêu cầu khác nhau về mức độ chiếu sáng tùy theo loài lan và tuổi cây Lan Hồ điệp (Phalaenopsis) ít chịu nắng nhất, có thể chịu được 30% nắng, lan Cattleya chịu được 50% nắng, lan Dendrobium hay Vanda lá hẹp chịu được 70% nắng, trong khi lan Vanda lá dài và Bò cạp chịu được tới 100% nắng Lan con từ 0-12 tháng đang trong giai đoạn tăng trưởng thân lá chỉ cần chiếu sáng 50%, lan nhỡ từ 12-18 tháng cần chiếu sáng tới 70% và thời điểm kích thích ra hoa có thể cho chiếu sáng nhiều hơn, thậm chí bỏ dàn che để chiếu sáng tự nhiên Hướng chiếu sáng cũng rất quan trọng đối với lan Lan đặt ở hướng Đông nhận ánh nắng buổi sáng sẽ tốt hơn nhiều so với lan đặt ở hướng Tây nhận ánh nắng buổi chiều Chính vì vậy nếu trồng lan trên sân thượng hay ban công ở phía Tây lan kém phát triển và ít hoa Khi trồng lan cần bố trí hàng theo hướng Bắc – Nam để cây nhận được ánh sáng phân
bố đầy đủ nhất, (Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa phong lan toàn tập) [17]
Phân bón: Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với lan Khi lan
đầy đủ dinh dưỡng cây tươi tốt, ra nhiều hoa, hoa to đẹp, bền trong khi thiếu dinh dưỡng lan còi cọc, kém phát triển, không hoặc ít có hoa Lan cần 13 chất dinh dưỡng khoáng, thuộc các nhóm đa, trung và vi lượng: Dinh dưỡng đa lượng gồm Đạm (N), Lân (P) và Kali (K) Dinh dưỡng trung lượng gồm Lưu huỳnh (S), Magiê (Mg) và Canxi (Ca) Dinh dưỡng vi lượng gồm Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Đồng (Cu), Mangan (Mn), Bo (B), Molypđen (Mo) và Clo (Cl)
Trang 3930
Thiếu đạm, cây còi cọc, ít ra lá, ra chồi mới, lá dần chuyển vàng theo qui luật lá già trước, lá non sau, rễ mọc ra nhiều nhưng cằn cỗi, cây khó ra hoa Thừa đạm, thân lá xanh mướt nhưng mềm yếu, dễ đổ ngã và sâu bệnh, đầu rễ chuyển xám đen, cây khó ra hoa
Thừa đạm, thân lá xanh mướt nhưng mềm yếu, dễ đổ ngã và sâu bệnh, đầu rễ chuyển xám đen, cây khó ra hoa
Thiếu lân, cây còi cọc, lá nhỏ, ngắn, chuyển xanh đậm, rễ không trắng sáng mà chuyển màu xám đen, không ra hoa
Thừa lân cây thấp, lá dày, ra hoa sớm nhưng hoa ngắn, nhỏ và xấu, cây mất sức rất nhanh sau ra hoa và khó phục hồi Thừa lân thường dẫn đến thiếu Kẽm, Sắt và Mangan
Thiếu kali, cây kém phát triển, lá già vàng dần từ hai mép lá và chóp lá sau lan dần vào trong, lá đôi khi bị xoắn lại, cây mềm yếu dễ bị sâu bệnh tấn công, cây chậm ra hoa, hoa nhỏ, màu không sắc tươi và dễ bị dập nát
Thừa kali, thân lá không mỡ màng, lá nhỏ Thừa kali dễ dẫn đến thiếu magiê và can xi
Thiếu lưu huỳnh, lá non chuyển vàng nhạt, cây còi cọc, kém phát triển, sinh trưởng của chồi bị hạn chế, số hoa giảm
Thiếu magiê, thân lá èo uột, xuất hiện dải màu vàng ở phần thịt của các
lá già trong khi hai bên gân chính vẫn còn xanh do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, cây dễ bị sâu bệnh và khó nở hoa
Thiếu canxi, cây kém phát triển, rễ nhỏ và ngắn, thân mềm, lá nhỏ, cây yếu dễ bị đổ ngã và sâu bệnh tấn công
Thiếu kẽm, xuất hiện các đốm nhỏ rải rác hay các vệt sọc màu vàng nhạt chủ yếu trên các lá đã trưởng thành, các lá non trở nên ngắn, hẹp và mọc sít nhau, các đốt mắt ngọn ngắn lại, cây thấp, rất khó ra hoa
Trang 4031
Thiếu đồng, xuất hiện các đốm màu vàng và quăn phiến lá, đầu lá chuyển trắng, số hoa hình thành ít bị hạn chế, cây yếu dễ bị nấm tấn công Thiếu sắt, các lá non chuyển úa vàng sau trở nên trắng nhợt, cây còi cọc,
ít hoa và dễ bị sâu bệnh tấn công
Thiếu mangan, úa vàng giữa các gân của lá non, đặc trưng bởi sự xuất hiện các đốm vàng và hoại tử, các đốm này xuất hiện từ cuống lá non sau lan
ra cả lá, cây còi cọc, chậm phát triển
Thiếu bo, lá dày, đôi khi bị cong lên và dòn, cây còi cọc, dễ bị chết khô đỉnh sinh trưởng, rễ còi cọc số nụ ít, hoa dễ bị bị rụng, không thơm và nhanh tàn
Thiếu molypden, xuất hiện đốm vàng ở giữa các gân của những lá dưới, nếu thiếu nặng, các đốm này lan rộng và khô, mép lá cũng khô dần, cây kém phát triển
Thiếu clo, xuất hiện các vệt úa vàng trên các lá trưởng thành sau chuyển màu đồng thau, cây còi cọc, kém phát triển
Lan rất cần phân bón nhưng không chịu được nồng độ dinh dưỡng cao,
vì vậy bón phân cho lan phải thực hiện thường xuyên và tốt nhất là bằng cách phun qua lá Phân bón cho lan phải chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung
và vi lượng với thành phần và tỷ lệ phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây Nguyên tắc chung là lan trong thời kỳ sinh trưởng thân lá mạnh cần đạm cao, lân và kali thấp, trước khi ra hoa cần lân và kali cao, đạm thấp trong khi lan nở hoa cần kali cao, lân và đạm thấp hơn
Tưới nước: Lan rất cần nước cho quá trình sinh trưởng phát triển Nếu
thiếu nước cây sẽ khô héo, giả hành teo lại, lá rụng nhưng không chết, nụ có thể trước khi nở hoa Thừa nước, cây dễ bị thối đọt nhất là với các giống lan
có lá đứng mọc sít nhau Quá nhiều nước rễ có rong rêu và nấm bệnh phát triển mạnh Nước tưới cho lan không quá mặn, phèn và clor dưới ngưỡng cho