ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM BẾ VĂN ĐỀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN SINH TRƯỞNG CÂY ĐINH THỐI FERNANDOA BRILLETII TẠI TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cơ sở khoa học
Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật trồng trọt quan trọng nhất, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của thực vật, đặc biệt là cây Đinh thối Phương pháp này không chỉ giúp cây sinh trưởng nhanh chóng mà còn đóng vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển cơ thể thực vật.
Trong giai đoạn vườn ươm, các yếu tố sinh thái như thành phần ruột bầu, kích thước bầu, ánh sáng và nước có ảnh hưởng lớn đến sự sống và khả năng sinh trưởng của cây con Những yếu tố này quyết định đến sự phát triển tốt hay xấu của cây con.
Phân bón, dù là sản phẩm tự nhiên hay công nghiệp, đều đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng của cây trồng Đất không chỉ là giá thể mà còn là môi trường sống cho bộ rễ, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất giữ vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ sự phát triển của cây trồng, đặc biệt là trong giai đoạn gieo ươm, khi nó cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho cây con.
Việc chọn loại đất cho vườn ươm rất quan trọng vì nó ảnh hưởng lớn đến sự nảy mầm của cây trồng trong nhân giống hữu tính Đất vườn ươm cần có thành phần cơ giới cát pha, với kết cấu tơi xốp, thoáng khí, và khả năng thấm nước cũng như giữ nước tốt Loại đất này tạo điều kiện thuận lợi cho hạt giống nảy mầm và giúp cây con sinh trưởng dễ dàng, đồng thời cũng thuận tiện cho việc làm đất và chăm sóc cây con.
… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng cần căn cứ vào đặc tinh sinh vật học loài cây
Khi chọn đất cho vườn ươm, cần ưu tiên đất có độ phì cao, với hàm lượng dinh dưỡng khoáng tốt như N, P, K, Mg, Ca và các vi lượng khác Tỷ lệ các chất dinh dưỡng phải cân đối và phù hợp để cây con sinh trưởng nhanh chóng và khỏe mạnh Đất tốt giúp các bộ phận rễ, thân, cành lá phát triển đồng đều, từ đó khi trồng cây con vào rừng, cây sẽ có sức đề kháng cao với điều kiện khắc nghiệt, giảm thiểu công chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và mưa nhiều, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều sâu bệnh hại trong các vườn ươm, ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng cây con, làm tăng giá thành sản xuất và thậm chí có thể dẫn đến thất bại hoàn toàn Do đó, trước khi xây dựng vườn ươm, cần điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đất để có biện pháp xử lý thích hợp hoặc tránh xây dựng ở những nơi bị nhiễm nặng Hỗn hợp ruột bầu, bao gồm đất và phân bón, là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của cây con Đất sử dụng cho ruột bầu thường là loại có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, kết hợp với phân hữu cơ đã ủ hoai, phân vi sinh và phân vô cơ Tỷ lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cần được điều chỉnh phù hợp với tính chất đất và đặc tính sinh thái học của cây con.
Theo nghiên cứu của Bùi Việt Hải (2015) [11], kích thước bầu khác nhau đã có tác động đến sinh trưởng, đường kính và chiều cao cây Trai Nam
Các nghiệm thức trong nghiên cứu cho thấy kích thước bầu 15 x 25 cm giúp cây sinh trưởng tốt và ổn định về đường kính và chiều cao Ngoài ra, phân bón NPK có tác dụng tích cực trong việc tăng cường chiều cao và đường kính của cây Trai Nam Bộ trong vườn ươm, tuy nhiên, số lượng lá trên cây không bị ảnh hưởng bởi các tỷ lệ phân bón.
Nguyễn Yến Trang (2017) đã nghiên cứu khả năng nhân giống bằng hạt của cây Viết trong vườn ươm và nhận thấy rằng thành phần ruột bầu ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ sống và tăng trưởng chiều cao của cây con Cụ thể, thành phần ruột bầu tối ưu là 80% đất và 20% phân vi sinh, mang lại tỷ lệ sống đạt 92% và chiều cao trung bình sau 9 tháng là 18,82 cm.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Sở (2004) chỉ ra rằng thành phần hỗn hợp ruột bầu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây con trong vườn ươm Hỗn hợp ruột bầu cần đảm bảo các điều kiện lý tính và hóa tính để cây phát triển khỏe mạnh Một hỗn hợp nhẹ, thoáng khí và giữ nước tốt nhưng thiếu khoáng chất sẽ không hỗ trợ sự phát triển của cây Ngược lại, hỗn hợp chứa nhiều khoáng nhưng có cấu trúc nặng, khó thấm và thoát nước cũng gây hại cho cây con Thành phần hỗn hợp bao gồm đất, phân bón hữu cơ và vô cơ, cùng với chất phụ gia để đảm bảo các điều kiện lý hóa Đất được chọn phải có khả năng giữ ẩm, thoát nước tốt, có cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, pH trung tính và không mang mầm bệnh.
Nguyễn Xuân Quát (1985) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bổ sung chất khoáng và cải thiện tính chất của ruột bầu thông qua việc bón phân để cây con sinh trưởng và phát triển tốt Trong giai đoạn vườn ươm, các yếu tố như đạm, lân, kali và các chất phụ gia cần được chú trọng Lân (P) đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng, giúp tăng cường khả năng chịu lạnh, phát triển hệ rễ, và cần thiết cho sự phân chia tế bào, ra hoa, cũng như sự phát triển của hạt và quả Cây được cung cấp đầy đủ lân sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn với các điều kiện bất lợi Ngược lại, thiếu lân sẽ dẫn đến cây nhỏ hơn bình thường, lá cứng và chuyển màu từ xanh đậm sang vàng, thân cây mềm và thấp, đồng thời làm giảm năng suất chất khô Thiếu lân cũng hạn chế hiệu quả sử dụng đạm, gây ra hiện tượng đổi màu lá ở một số loại cây.
Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Cuối thế kỷ 20, kỹ nghệ phân hóa học ra đời, giúp cây trồng sinh trưởng nhanh hơn và nâng cao năng suất Nghiên cứu cho thấy sản lượng cây trồng trên toàn cầu tỷ lệ thuận với lượng phân hóa học (NPK, trung, vi lượng) được sử dụng Ngoài ra, phân bón còn giúp cây chống chịu tốt hơn với hạn hán và sâu bệnh Do đó, phân bón sinh học đã trở thành một phần thiết yếu trong sản xuất nông nghiệp.
Vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, Thaer (1873) đã đề xuất thuyết mùn, cho rằng mỗi cây hấp thụ mùn để sống Đến thế kỷ XIX, nhà hóa học người Đức Liebig (1840) đã phát triển thuyết chất khoáng, nhấn mạnh rằng độ màu mỡ của đất phụ thuộc vào muối khoáng có trong đất và việc bón phân hóa học sẽ tăng năng suất cây trồng Năm 1963, Kinur và Chiber khẳng định rằng việc bón phân cho đất cần được điều chỉnh theo từng thời kỳ khác nhau Cùng năm, Turbittki nhấn mạnh rằng phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây, và cần có nghiên cứu cụ thể cho từng loài và từng độ tuổi cây để tránh lãng phí Việc bón phân thừa hoặc thiếu đều dẫn đến sự sinh trưởng chậm và chất lượng cây trồng kém.
Nhà thực vật học người Hà Lan, Van Helmont, vào năm 1629, đã tiến hành thí nghiệm trồng một cây Liễu nặng 2.25kg trong thùng chứa 80kg đất Sau một năm, cây Liễu phát triển nặng 66kg, trong khi lượng đất chỉ hao hụt 66g Từ kết quả này, ông kết luận rằng cây chỉ cần nước để sinh trưởng.
Phân bón được phát hiện sớm từ giữa thế kỹ XVII(1676) lúc mà ông E Mariotte (người pháp) đã tìm thấylá cây có thể hấp thụ nước từ bên ngoài
Vào thế kỷ XIX, đặc biệt trong thập niên 70-80, các nhà khoa học toàn cầu đã công nhận rằng phân bón không chỉ giúp cây sinh trưởng nhanh hơn mà còn tăng cường khả năng chống chịu với hạn hán và sâu bệnh Phân bón sinh học đã trở thành một phần thiết yếu trong sản xuất nông nghiệp, với mức tiêu thụ hàng năm trên toàn thế giới đạt khoảng 130 triệu tấn.
Nghiên cứu của Polster, Fidler và Lir vào năm 1974 cho thấy sự sinh trưởng của cây thân gỗ phụ thuộc vào khả năng hút các khoáng chất từ đất trong suốt quá trình phát triển Mỗi cây thân gỗ có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau ở từng giai đoạn sinh trưởng.
Chất lượng cây con liên quan chặt chẽ đến tình trạng chất khoáng, trong đó nito và photpho đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng và phát triển Tình trạng dinh dưỡng của cây con còn được thể hiện rõ qua màu sắc của lá, như đã được nêu bởi Thomas D Landis (1985).
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến cây trồng là rất quan trọng cho sự sinh trưởng và phát triển của chúng.
Nhà thực vật học Hà Lan, Van Helmont, vào năm 1629, đã tiến hành thí nghiệm trồng cây Liễu nặng 2.25kg trong thùng chứa 80kg đất Sau một năm, cây Liễu nặng 66kg, trong khi lượng đất chỉ giảm 66g Từ kết quả này, ông đã kết luận rằng cây chỉ cần nước để sinh trưởng.
Vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, thuyết mùn do Thaer (1873) đề xuất rằng từng cây hấp thụ mùn để sống Đến thế kỷ XIX, nhà hóa học người Đức Liebig (1840) đã xây dựng thuyết chất khoáng, cho rằng độ màu mỡ của đất phụ thuộc vào muối khoáng Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân hóa học sẽ tăng năng suất cây trồng Năm 1963, Kinur và Chiber khẳng định rằng việc bón phân cho đất cần được điều chỉnh theo từng thời kỳ khác nhau Cùng năm, Turbittki cho rằng phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây, và cần nghiên cứu cụ thể cho từng loài và độ tuổi cây để tránh lãng phí Việc bón phân thừa hoặc thiếu đều dẫn đến cây sinh trưởng chậm và chất lượng kém.
Năm 1974, các nhà nghiên cứu Polster, Fidler và Lir đã chỉ ra rằng sự sinh trưởng của cây thân gỗ phụ thuộc vào khả năng hấp thụ các yếu tố khoáng từ đất trong suốt quá trình phát triển Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây thân gỗ thay đổi theo từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau.
Chất lượng cây con liên quan chặt chẽ đến tình trạng chất khoáng, theo nghiên cứu của Theo Thomas (1985) Nitơ và phốt pho là hai yếu tố quan trọng cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con Tình trạng dinh dưỡng của cây con được thể hiện rõ qua màu sắc của lá Để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng, phân tích thành phần hóa học của mô là phương pháp duy nhất hiệu quả.
Nghiên cứu của Ekta và Singh (2000) cho thấy cường độ ánh sáng và hỗn hợp ruột bầu ảnh hưởng rõ rệt đến sự nảy mầm, sống sót và sinh trưởng của cây gỗ non Phân bón được coi là "thức ăn" cho cây trồng, và việc bón phân hợp lý không chỉ tăng năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện hiệu suất kinh tế mà không gây tác động xấu đến kết cấu đất và môi trường.
Ngày nay, việc phát hiện và kiểm soát các loài sâu hại ngày càng được chú trọng, đặc biệt là thông qua việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và các biện pháp sinh học Tại Bắc Mỹ, để tiêu diệt sâu ăn Sồi dẻ (Porthetria disporr L), người ta đã áp dụng chất Gipton lầy từ bướm cái làm bẫy, có khả năng thu hút con đực từ khoảng cách 2-3 km Ngoài ra, việc đưa côn trùng có ích như tổ kiến vống vào rừng trồng và rừng tự nhiên cũng được thực hiện nhằm hạn chế sự phát triển của sâu hại.
Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Nhật Bản và Trung Quốc đã áp dụng các chế phẩm phân bón qua lá nhằm tăng năng suất nông sản mà không gây ô nhiễm môi trường, bao gồm Atonik, Yogen (Nhật Bản), Bloom, Blus, Solu, Spray-NGrow (Hoa Kỳ), và Diệp lục tố, đặc phong (Trung Quốc) Nhiều chế phẩm này đã được nghiên cứu và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam.
2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Phân bón là yếu tố quan trọng giúp tăng năng suất cây trồng, góp phần nuôi sống nhân loại Tuy nhiên, nhiều quốc gia thiếu công nghệ sản xuất phân bón và gặp khó khăn về tài chính, dẫn đến sự chênh lệch trong việc sử dụng phân khoáng Sự khác biệt này chủ yếu không phải do tính chất đất đai mà là do điều kiện tài chính và trình độ hiểu biết về dinh dưỡng cây trồng.
Tổng quan về loài cây Đinh thối
Tên khoa học: Fernandoa brilletii (Dop) Steenis, tên đồng nghĩa
Hexaneurocarpon brilletii Dop Thuộc trong chi Đinh Fernandoa (tên đồng nghĩa Ferdinandia, Ferdinandoa, Fernandia, Haplophragma), họ Chùm ớt
Cây Đinh thối, thuộc bộ Hoa môi (Lamiales), được Steenis mô tả khoa học vào năm 1976 Đây là loài cây gỗ lớn, có chiều cao từ 25-30m, với thân cây thẳng và gốc có bạnh nhỏ Cành cây rậm rạp, vỏ thân có màu xám trắng hoặc xám tro, thường có hiện tượng rạn nứt dọc hoặc bong mảng Đinh thối là một loài cây thường xanh.
Phân bố của loài này rải rác ở phía Bắc Việt Nam, chủ yếu xuất hiện trong các cánh rừng thường xanh mưa mùa nhiệt đới tại các tỉnh như Hòa Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng và Bắc Kạn.
Cây gỗ lớn có chiều cao từ 25 đến 30 mét và đường kính có thể đạt từ 50 đến 100 cm Vỏ cây có màu xám tro, bong mảng và được cấu tạo từ nhiều lớp mỏng, lớp trong có màu nâu vàng Cây có phân cành thấp, với cành non hơi vuông cạnh và được phủ lông màu nâu vàng.
Lá kép lông chim có chiều dài từ 40-45cm, mọc đối xứng một lần Lá chét có hình dạng trái xoan hoặc trứng trái xoan, với đầu nhọn và đuôi gần tròn, kích thước dài từ 10-13cm và rộng từ 5-6cm Mặt dưới của lá chét có lông mịn và có các tuyến nhỏ ở gốc, trong khi gân bên nổi rõ và gân nhỏ gần như song song Cuống lá chét ngắn.
Hoa tự xim viên chuỳ ở đầu cành, có kích thước lớn và hình dáng không đều, với đặc điểm lưỡng tính Đài hoa hình chuông, tràng hoa hợp gốc, có màu trắng hoặc trắng vàng và tạo thành hai môi Hoa có 5 nhị, trong đó có 2 nhị dài, và bầu hoa có 2 ô.
Quả nang có hình trụ, dài khoảng 40cm và rộng 4cm, với đầu quả nhọn Khi chín, vỏ quả hóa gỗ và tách ô Hạt bên trong dẹt, nhẵn bóng, có cánh màu trắng, được sắp xếp thành 2 hàng trong mỗi ô.
Cây mọc chậm, mùa hoa tháng 9 –11 Mọc rải rác trong rừng kín lá rộng thường xanh ở các tỉnh miền Bắc
Phân bố: Hoà Bình, Ninh Bình và một số tỉnh ở phía Bắc Việt Nam
Gỗ màu vàng, mùi hắc, dễ làm có thể đóng đồ dùng và đồ thủ công mỹ nghệ
5 Khả năng kinh doanh, bảo tồn
Là cây trước đây phổ biến, nay khai thác kiệt quệ nen còn lại số lượng rất ít, chủ yếu còn lại những cây nhỏ và mới tái sinh
Theo tài liệu từ Công ty cổ phần kiến trúc và đầu tư xây dựng (2016), Việt Nam có 12 loài gỗ quý hiếm, trong đó gỗ cây Đinh thối được xếp hạng cao nhất trong nhóm gỗ quý và thuộc nhóm "Tứ Thiết" Loại gỗ này có đặc điểm sinh trưởng chậm, nặng và chắc, với bề mặt mịn màng Gỗ Đinh thối có vân chun rất đẹp, được coi là một trong những loại gỗ đẹp nhất, có giá trị rất cao và hiện nay gần như không còn, việc mua bán chủ yếu diễn ra qua mối quan hệ quen biết.
Theo Nguyễn Tiến Bân và Cs (2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam tập III [1] ở Việt Nam đã phát hiện 5 loài cây trong chi Đinh (Fernandoa):
-Fernandoa adenophylla (Wall ex G.Don) Steenis, 1976 - Đinh lá tuyến, ngọt nai
-Fernandoa bracteata (P.Dop) Steenis, 1976 - Đinh lá hoa, đinh vàng -Fernandoa brilletii (P.Dop) Steenis, 1976 - Đinh thối
-Fernandoa collignonii (P.Dop) Steenis, 1976 - Đinh, đinh vàng, đinh collignon
Fernandoa serrata (P.Dop) Steenis, 1976, hay còn gọi là Đinh vàng, kẹn, sò đo, là một loài cây mới được phát hiện tại Hòa Bình Loài cây này thuộc dạng sống sinh thái là cây gỗ lớn, thường sinh trưởng trong rừng mưa nhiệt đới ẩm Với nhiều công dụng, Đinh thối được sử dụng để đóng đồ gia dụng, sản phẩm thủ công mỹ nghệ và trong xây dựng.
2.4 Đặc điểm hình thái cây Đinh thối
2.4.1 Đặc điểm hình thái thân cây
Cấu trúc hình thái của thân cây phản ánh cách lắp ghép các trục thân trên cơ thể thực vật, được hình thành từ các loại chồi Cây Đinh thối có thân đơn trục, với chồi ngọn phát triển mạnh theo một hướng, trong khi các chồi nách thường không hoặc kém phát triển.
Đinh thối là cây gỗ lớn, cao từ 18-25m, với đường kính từ 40-50cm, có thể đạt hơn 1m Thân cây thẳng, hình trụ, với tán thưa hình trứng hoặc cầu Vỏ ngoài có màu xanh trắng hoặc nâu nhạt, khi non thì trơn nhẵn, còn khi trưởng thành thì nứt dọc nông, thịt vỏ có màu vàng hoặc hơi hồng Gỗ Đinh thối có màu vàng nhạt, bề mặt mịn màng và có mùi thối khó chịu, đặc biệt là ở những cây để lâu giác mục Cành cây phân bố ở 3/4 chiều cao, với góc phân cành lớn từ 60-70 độ, cành lớn thường cong vặn và có xu hướng xà xuống.
2.4.2 Đặc điểm hình thái lá cây
Lá cây Đinh thối có hình dạng đơn nguyên, với phiến lá dày và hơi nhọn, dài từ 10-15 cm và rộng 3-4,5 cm Mặt sau của lá có 5-8 đôi gân thứ cấp nổi rõ, phân bố so le qua gân chính, trong khi mặt trước các gân không nổi bật Lá non có màu xanh Kết quả được minh họa trong hình 4.2.
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại vườn trung tâm Đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc thuộc trường ĐHNL Thái Nguyên Vườn ươm tọa lạc ở khu vực chân đồi, với loại đất feralit phát triển trên đá sa thạch Do vườn ươm mới chuyển về đây, đất sử dụng cho hoạt động đóng bầu gieo cây là đất mặt ở đồi, có chất lượng tương đối tốt.
Tổng quan khu vực nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Là cây Đinh thối - Fernandoa brilletii (Dop) Steenis, Thuộc trong chi Đinh- Fernandoa, họ Chùm ớt (Đinh) - Bignoliaceae, bộ Hoa môi (Lamiales)
- Phạm vi nghiên cứu: Ảnh hưởng của các công thức hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Đinh thối trong giai đoạn vườn ươm
3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường đại học Nông lâm Thái nguyên
- Thời gian tiến hành: Từ 20/12/2017 đến ngày 30/5/2018.
- Xác định tỉ lệ % cây sống ở công thức hỗn hợp ruột bầu
- Ảnh hưởng của các công thức phân đến sinh trưởng đường kính
- Ảnh hưởng của các công thức phân đến sinh trưởng chiều cao
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các tài liệu, số liệu, kết quả đã nghiên cứu trước
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra là rất quan trọng trong lâm nghiệp Qua việc thu thập số liệu từ các mẫu biểu điều tra ngoại nghiệp, chúng ta tiến hành tổng hợp và phân tích thí nghiệm bằng các phương pháp thống kê toán học.
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bước 1: Chuẩn bị các dụng cụ, vật tư, phân bón phục vụ nghiên cứu đề tài
- Hạt giống, túi bầu, đất tầng B, sàng đất; Phân chuồng hoai, phân vi sinh
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Là cây Đinh thối - Fernandoa brilletii (Dop) Steenis, Thuộc trong chi Đinh- Fernandoa, họ Chùm ớt (Đinh) - Bignoliaceae, bộ Hoa môi (Lamiales)
- Phạm vi nghiên cứu: Ảnh hưởng của các công thức hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Đinh thối trong giai đoạn vườn ươm
3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường đại học Nông lâm Thái nguyên
- Thời gian tiến hành: Từ 20/12/2017 đến ngày 30/5/2018.
Nội dung nghiên cứu
- Xác định tỉ lệ % cây sống ở công thức hỗn hợp ruột bầu
- Ảnh hưởng của các công thức phân đến sinh trưởng đường kính
- Ảnh hưởng của các công thức phân đến sinh trưởng chiều cao
Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các tài liệu, số liệu, kết quả đã nghiên cứu trước
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra là rất quan trọng trong lâm nghiệp Qua việc thu thập số liệu từ các mẫu biểu điều tra ngoại nghiệp, chúng ta tiến hành tổng hợp và phân tích thí nghiệm bằng các phương pháp thống kê toán học.
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bước 1: Chuẩn bị các dụng cụ, vật tư, phân bón phục vụ nghiên cứu đề tài
- Hạt giống, túi bầu, đất tầng B, sàng đất; Phân chuồng hoai, phân vi sinh
- Thước đo cao, thước kẹp (Pan me), thước dây, Bảng biểu giấy, bút
Bước 2: Bố trí thí nghiệm
Để nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sự sinh trưởng của cây con, chúng tôi đã thực hiện thí nghiệm với 5 công thức khác nhau nhằm xác định công thức hiệu quả nhất.
Thí nghiệm 1: Đất tầng B + Phân chuồng hoai + phân vi sinh, với tỷ lệ:
+ CT1: 96% đất tầng B + 4% phân chuồng hoai
+ CT2: 93% đất tầng B + 6% phân chuồng hoai + 1% phân vi sinh
+ CT3: 90% đất tầng B + 8% phân chuồng hoai + 2% phân vi sinh
+ CT4: 87% đất tầng B + 10% phân chuồng hoai + 3% phân vi sinh + CT5: 100% Đất tầng B
Bước 3: Thực hiện gieo ươm và chăm sóc thí nghiệm
Những biện pháp chăm sóc (làm cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh…) cây con được thực hiện giống nhau trên tất cả các lô thí nghiệm
Lần lặp 1 CT 3 CT5 CT 2 CT 1 CT 4
Lần lặp 2 CT 2 CT1 CT 3 CT 4 CT 5
Lần lặp 3 CT 1 CT4 CT 3 CT 5 CT 2
Các bước được tiến hành như sau:
+ Tạo luống đặt bầu: Luống rộng 1m, dài 12m, mặt luống được rẫy sạch cỏ dại, san phẳng, nền đặt bầu là nền đất cố định
Để tạo bầu, đất cần được sàng lọc kỹ lưỡng nhằm loại bỏ rễ cây, sỏi đá và tạp chất Sau đó, đất được trộn đều với phân supe lân và phân chuồng hoai theo các công thức đã được hướng dẫn.
Vỏ bầu bằng Polyetylen kích thước 9 cm x12 cm có đáy đục lỗ 2 bên
Hạt giống sử dụng trong thí nghiệm cần có kích thước từ trung bình trở lên, với chiều dài lớn hơn 1,5 cm và đường kính lớn hơn 1 cm Sau khi xử lý để hạt nảy mầm, chúng được cấy vào bầu có kích thước 9 cm x 12 cm Trước khi cấy, cần tưới nước để đảm bảo độ ẩm, sau đó dùng que nhọn để tạo lỗ giữa bầu và cấy cây vào Bầu được đặt nổi trên luống và xếp sát nhau, với các nghiệm thức được che bóng 50% trong 2 tháng đầu, sau đó giảm xuống 25%.
Để đảm bảo cây phát triển khỏe mạnh, cần tưới nước đủ ẩm vào buổi sáng sớm và chiều tối Số lần tưới sẽ phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và độ ẩm của đất, thường là 2-3 lần trong những ngày khô nắng.
- Cấy dặm: Nếu cây nào chết cấy ngay, đảm bảo mỗi bầu 1 cây sinh trưởng và phát triển tốt
Trước khi nhổ cỏ phá váng, cần tưới ẩm cho bầu cây khoảng 1 giờ để đảm bảo độ ẩm Nhổ sạch cỏ trong bầu và quanh luống, sử dụng que nhỏ để phá váng và xới xa gốc nhằm tránh làm tổn thương cây Để phòng ngừa sâu bệnh, nên phun thuốc định kỳ mỗi 15 ngày, sử dụng thuốc chống nấm như Ridomil gold 68.
WG dạng bột) liều lượng 25 gam/20 lít nước
Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu
Thời gian đo đếm các chỉ tiêu thí nghiệm diễn ra vào cuối đợt thí nghiệm, trong đó mỗi ô tiêu chuẩn theo dõi 30 cây được đánh số từ 1 đến 30 Sử dụng nan tre nhỏ để đánh số và cắm ở vị trí đã chọn.
Cách đo: đo theo phương pháp đường chéo góc, lấy 5 điểm đại diện cho mỗi ô tiêu chuẩn, 4 điểm ở 4 góc và điểm ở giữa mối điểm lấy 5 cây
- Đo đường kính cổ rễ (D00): dùng thước đo đường kính (Pan me) ở vị trí cổ rễ
- Đo chiều cao (Hvn) sử dụng thước đo chiều cao với độ chính sác của thước là ± 0,1cm, đặt thước sát miệng đến hết ngọn cây
- Số lá: đếm số lá theo thứ tự của các cây đo chiều cao, đường kính cổ rễ của các công thức
Kết quả thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm irristat 4.0
1 Click window data editor File new (điền các thống số thí nghiệm cần xử lý) file save
3 Trong mục file name tìm file số liệu đã lưu xóa đuôi sys ok
4 Trong hộp thoại information yes
5 Trong hộp thoại open thay file name đuôi sys open
6 Trong hộp thoại iristat: balanced analysis of variance add biến cần xử lý vào ô analysis variantes, trong ô factor add CT, NL, trong ô ANOVA Model specification add CT, NL OK
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
Ảnh hưởng của các CTTN đến số lượng và tỷ lệ cây Đinh thối
Kết quả về số lượng cây và tỷ lệ (%) cây sống của cây Đinh thối trong giai đoạn vườn ươm được thể hiện ở bảng 4.1:
Bảng 4 1 Ảnh hưởng của các CTTN đến số lượng và tỷ lệ cây Đinh thối
Sau … ngày trồng CTTN Số lượng và tỷ lệ % cây sống
Số lượng (cây) Tỷ lệ
Số lượng cây trong các công thức hỗn hợp ruột bầu thay đổi theo từng tháng tuổi so với số cây ban đầu là 90 cây, như thể hiện trong bảng 4.1.
Sau 70 ngày trồng, hỗn hợp ruột baaug của công thức đối chứng (100% đất tầng B) giảm nhiều nhất, chỉ còn 85 cây, chiếm 94% Các công thức còn lại đều đạt 100% cây sống.
Sự suy giảm số lượng cây sống chủ yếu do sự nảy mầm không đồng đều trong cùng một CTTN và giữa các CTTN khác nhau Bên cạnh đó, sự sinh trưởng không đồng đều trong quá trình phát triển của cây và các điều kiện ngoại cảnh như ánh sáng và nắng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cây Đinh Thối.
Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến vn , 00 , động thái ra lá của cây Đinh thối dưới ảnh hưởng của các CTTN trong giai đoạn vườn ươm
cây Đinh thối dưới ảnh hưởng của các CTTN trong giai đoạn vườn ươm
4.2.1 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến vn của cây Đinh thối dưới ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm
Chiều cao của cây Đinh thối là một yếu tố hình thái quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây Do đó, chỉ tiêu này luôn được chú trọng trong quá trình chọn tạo cây trồng để đưa vào sản xuất.
Chiều cao của cây phụ thuộc vào chất dinh dưỡng và mùa vụ, trong đó lượng chất dinh dưỡng mà cây hấp thụ là yếu tố quan trọng nhất Thành phần của các loại giá thể khác nhau ảnh hưởng đến lượng chất dinh dưỡng, độ tơi xốp và thông thoáng, từ đó làm thay đổi khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của cây.
Bảng 4 2 Kết quả sinh trưởng vn cây Đinh thối ở các CTTN Đơn vị tính: cm
Công thức Ngày sau cấy (ngày)
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ động thái tăng trưởng vn cây Đinh thối
Qua bảng 4.2 và biểu đồ 4.1 cho thấy:
Dựa vào chỉ số LSD.05 và công thức đối chứng, hiệu số trung bình giữa công thức đối chứng và giá trị sai khác nhỏ nhất là 4,2-0,8 3,4, với tổng số trung bình là 5,0 Khoảng tương đương với công thức đối chứng là 3,4 – 5,0 cm; giá trị dưới 3,4 cm có chỉ số vn thấp hơn, trong khi giá trị trên 5,0 cm có chỉ số vn cao hơn so với công thức đối chứng CT1 và CT2 có chỉ số vn lần lượt là 4,9 cm và 4,6 cm, trong khi CT3 và CT4 có chỉ số vn cao hơn, với CT4 đạt 7,2 cm, cao nhất trong các công thức thí nghiệm, ở mức tin cậy 95% Sai số thí nghiệm (CV%) là 8,3, cho thấy độ chính xác cao Phân tích cho thấy hỗn hợp ruột bầu ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây ngay sau khi trồng, với công thức đối chứng 100% đất làm cây phát triển chậm P 8,2cm có chỉ số vn cao hơn Chỉ số vn dao động từ 6,7-17,0cm, với CT3 và CT4 có chỉ số vn vượt trội so với công thức đối chứng CT1 và CT2 có chỉ số vn tương đương với công thức đối chứng ở mức tin cậy 95% CT4, với thành phần hỗn hợp 87% đất tầng B, 10% phân chuồng hoai và 3% phân vi sinh, đã giúp cây tăng trưởng vn nhanh chóng, đạt mức tăng 5,1cm trong 10 ngày Độ chính xác của thí nghiệm được xác nhận với CV% đạt 8,0.
Nghiên cứu chỉ số vn cho thấy rằng hỗn hợp ruột bầu của CT4 mang lại sự tăng trưởng chiều cao tốt nhất cho cây, trong khi hỗn hợp ruột bầu của công thức đối chứng (đất) không phù hợp để gieo ươm cây Đinh thối Chiều cao của cây trong vườn ươm phụ thuộc vào chất dinh dưỡng và giá thể, trong đó lượng chất dinh dưỡng mà cây hấp thụ là yếu tố quan trọng nhất Thành phần của các loại giá thể khác nhau ảnh hưởng đến lượng chất dinh dưỡng, độ tơi xốp và thông thoáng, từ đó làm thay đổi khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của cây.
4.2.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến đường kính cổ rễ của cây Đinh thối dưới ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm
Thân cây là bộ phận chính chịu trách nhiệm vận chuyển các chất khoáng từ đất và các chất hữu cơ đến các bộ phận khác của cây thông qua hệ thống mạch dẫn Mối quan hệ giữa phần trên và phần dưới của cây được điều hòa bởi thân cây, giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây.
Bảng 4.3 Kết quả sinh trưởng 00 của cây Đinh thối giai đoạn vườn ươm ở các CTTN Đơn vị tính: cm
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5
Biểu đồ 4.2 Biểu đồ động thái sinh trưởng 00 của cây Đinh thối giai đoạn vườn ươm ở các CTTN
4.2.2.1 Kết quả sinh trưởng 00 của cây Đinh thối sau 20 ngày cấy
Qua bảng 4.3 và hình 4.2 cho thấy: sau 20 ngày cấy hầu hết chỉ số