1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn 2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập

135 713 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề án Xây Dựng Danh Mục Các Sản Phẩm Công Nghiệp Chủ Lực Tầm Nhìn 2025 Và Các Chính Sách Khuyến Khích Phát Triển Trong Môi Trường Hội Nhập
Tác giả Ks. Huỳnh Đắc Thắng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ngành cơ khí tuy đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng vẫn còn có một số chuyên ngành chưa phát huy hết tiềm năng để đáp ứng thị trường trong nước như sản xuất thiết bị đồng bộ, p

Trang 1

Bộ công thương

vụ kế hoạch

Báo cáo tổng kết đề tài

xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực giai đoạn 2008-2015, tầm nhìn

2020 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập

Chủ nhiệm đề tài: ks huỳnh đắc thắng

6887

05/6/2008

hà nội - 2007

Trang 2

Nội dung Trang

Chương I: Một số lý luận về ngành công nghiệp chủ lực và hiện

trạng phát triển công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2006 6

I Lý luận về công nghiệp chủ lực 6

I.1 Khái niệm về công nghiệp chủ lực 6I.2 Đặc điểm của ngành công nghiệp chủ lực 7I.3 Vai trò của công nghiệp chủ lực đối với phát triển của công

nghiệp ở Việt Nam

9

I.4 Phương pháp xác định ngành công nghiệp chủ lực 10

II Kinh nghiệm của một số nước trong việc xác định và phát

triển ngành công nghiệp chủ lực

14

II.1 Singapore 15

II.3 Nhật Bản 18II.4 Hàn Quốc 19II.5 Trung Quốc 20II.6 Một số nhận xét chung 21

III Hiện trạng phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001 -

III.1 Những kết quả đạt được 22

III.2 Những hạn chế của phát triển công nghiệp, nguyên nhân của

những hạn chế

35

Chương II: Xây dựng danh mục các ngành/sản phẩm công

nghiệp chủ lực giai đoạn 2008 - 2015, tầm nhìn 2025 và định

Trang 3

ngành/sản phẩm công nghiệp chủ lực

I.2 Về nguyên tắc lựa chọn 39I.3 Hệ thống tiêu chí đánh giá sản phẩm công nghiệp chủ lực 40I.4 Lựa chọn phương pháp xác định ngành công nghiệp chủ lực 42

II Xây dựng danh mục các ngành/sản phẩm công nghiệp chủ

II.1 Danh mục ngành công nghiệp chủ lực giai đoạn 2008 - 2015 43II.2 Danh mục ngành công nghiệp chủ lực giai đoạn 2016 - 2020 50II.3 Định hướng ngành công nghiệp chủ lực cho giai đoạn 2021 -

III Tổ chức thực hiện 94

III.1 Phê duyệt chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ

lực

94III.2 Trách nhiệm của các Bộ, ngành 94

Trang 4

III.3 Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực

thuộc trung ương

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX và X của Đảng đã xác

định mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế cho đất nước là: tạo nền tảng để

đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó phát triển công nghiệp được coi là nhiệm vụ trọng tâm hàng

đầu; cụ thể, đến năm 2010 tỷ trọng trong GDP của công nghiệp đạt 40 - 41%, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp (kể cả xây dựng) bình quân trong 10 năm 2001 - 2010 đạt 10 - 10,5%

Sau 6 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, kế hoạch 5 năm 2001 - 2005

và năm đầu của kế hoạch 2006 - 2010, tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức rất gay gắt, nhưng với sự chỉ đạo sâu sát và kịp thời của Đảng, Chính phủ, cùng với nỗ lực phấn đấu của các ngành các cấp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, nền kinh tế nước ta đã và đang tăng trưởng với nhịp độ khá

cao theo chiều hướng năm sau cao hơn năm trước

- Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định năm 1994) năm 2006 đạt 490.080 tỷ đồng, gấp 2,47 lần so với năm 2000 Như vậy, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 - 2006 đạt 16,3%/năm, gấp 2,13 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP (là 7,62%/năm) Tỷ trọng công nghiệp trong GDP (theo giá thực tế) tăng liên tục từ 31,4% năm 2000 lên 34,9% năm 2006 và dự kiến đạt 34,6% năm 2007 Nếu tính cả xây dựng thì tỷ trọng công nghiệp và xây dựng năm 2000 là 36,7%; năm 2006 là 41,6% và dự kiến 2007 là 41,6% Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tác tăng lên, ngành công nghiệp chế biến đã bước đầu khai thác được các lợi thế về nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước để nâng cao giá trị sản phẩm

- Hoạt động xuất khẩu có những bước phát triển quan trọng: Kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2006 đạt 39,826 tỷ USD, gấp 2,75 lần kim ngạch năm 2000; trong đó, riêng hàng công nghiệp đạt 30,2 tỷ USD, gấp 2,94 lần Tỷ trọng của hàng công nghiệp đã tăng từ 71% năm 2000 lên 76,1% năm 2006 và

dự kiến 76,3% năm 2007 Hàng hóa Việt Nam đã thâm nhập được vào một số thị trường mới, nhất là thị trường đầy tiềm năng là Hoa Kỳ; đến năm 2005 đã

có 7 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó công nghiệp

có 5 mặt hàng (dầu thô, dệt may, giầy dép, hàng điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ); cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch tích cực Bên cạnh những thành tựu đã đạt được cũng còn một số mặt yếu kém cần khắc phục, như:

- Phát triển của công nghiệp tuy đạt tốc độ cao, nhưng chưa thật vững chắc biểu hiện ở chỗ giá trị gia tăng chưa đạt yêu cầu Công nghiệp hỗ trợ còn yếu và chưa có quy hoạch phát triển

Trang 6

- Công nghiệp khai thác khoáng sản tuy đã giảm về tỷ trọng trong công nghiệp nhưng vẫn còn lớn Xuất khẩu khoáng sản còn chủ yếu ở dạng chưa qua chế biến sâu nên giá trị gia tăng còn hạn chế Ô nhiễm môi trường trong ngành khai thác khoáng sản là nghiêm trọng

- Sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm còn thấp hơn sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực

- Tiến độ thực hiện của một số dự án đầu tư lớn quan trọng, nhất là thuộc các ngành sản xuất tư liệu sản xuất, không được đảm bảo Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị nhìn chung chưa đạt yêu cầu phát triển

- Ngành cơ khí tuy đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng vẫn còn

có một số chuyên ngành chưa phát huy hết tiềm năng để đáp ứng thị trường

trong nước như sản xuất thiết bị đồng bộ, phụ tùng để tự trang bị cho ngành

và các ngành kinh tế khác nhằm tiết kiệm ngoại tệ và chủ động trong đầu tư phát triển, sản xuất máy công cụ kỹ thuật số, ngành công nghiệp hỗ trợ

- Việc thực hiện đầu tư theo quy hoạch chưa được thực hiện nghiêm túc

- Khoảng cách về phát triển công nghiệp giữa các vùng đồng bằng so với miền núi, nông thôn và thành thị còn chênh lệch lớn

- Nhiều doanh nghiệp vẫn còn lúng túng, trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước, chưa chuẩn bị tốt cho hội nhập

Nhằm phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại yếu kém trong thời gian qua, trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; duy trì tốc độ phát triển công nghiệp cao và bền vững trong 5 năm 2006 - 2010 và đạt mục tiêu đưa nước ta thành nước công nghiệp vào năm 2020; đồng thời triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/2006/NQ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ, Vụ Kế hoạch - Bộ Công nghiệp (nay là Vụ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ

Công Thương) xây dựng đề tài “Xây dựng danh mục các ngành công

nghiệp chủ lực giai đoạn 2008 - 2015, tầm nhìn 2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập” (Sau đây gọi tắt là Đề

Trang 7

- Xác định các tiêu chí lựa chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực

- Đề xuất danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực trong giai đoạn

2008 - 2015, tầm nhìn 2025

- Nêu định hướng phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực đến năm

2020 có xét đến khả năng phát triển đến 2025 và đề xuất các chính sách khuyến khích phát triển

Đề tài được xây dựng trên cơ sở các định hướng lớn của Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế - xã hội được Đại hội IX và X của Đảng đề ra, Chiến lược ngành công nghiệp đến năm 2020 đã trình Thủ tướng Chính phủ, các quy hoạch ngành đã được phê duyệt ; đồng thời có tính đến tình hình thực tế

về nguồn lực và tiềm năng của đất nước, những dự báo về xu thế phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và thế giới Cụ thể, Đề tài được xây dựng cho các sản phẩm công nghiệp của Việt Nam trên cơ sở 3 nhóm ngành công nghiệp (theo Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến 2020) là: Các ngành đang có lợi thế cạnh tranh, nhóm ngành công nghiệp nền tảng và nhóm ngành

công nghiệp tiềm năng (xem Phụ lục 1)

Đề tài được xây dựng trên cơ sở kết hợp các phương pháp sau đây:

- Phương pháp tổng hợp (tham khảo, phân tích, tổng hợp, kế thừa những kết quả đã có)

- Phương pháp điều tra (để xác định các tiêu chí ngành/sản phẩm công nghiệp chủ lực)

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp xử lý thống kê, dự báo

Chủ nhiệm đề tài

Huỳnh Đắc Thắng

Trang 8

CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ LỰC

VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2001 - 2006

I LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP CHỦ LỰC

I.1 Khái niệm về công nghiệp chủ lực

Khái niệm về ngành chủ lực đã được khá nhiều tài liệu nghiên cứu đưa

ra Ở đây, nhóm nghiên cứu xin đưa ra khái niệm về ngành chủ lực theo từ điển Wikipedia như sau:

“Key industry is the industry of primary importance to a nation's economy For instance, the defense industry is called a key industry since it is crucial to maintaining a country's safety The automobile industry is also considered key since so many jobs are directly or indirectly dependent on it.”

Tạm dịch: Ngành công nghiệp chủ lực là ngành quan trọng hàng đầu đối với nền kinh tế quốc gia Ví dụ, ngành công nghiệp quốc phòng được coi

là ngành công nghiệp chủ lực vì nó gìn giữ an ninh cho đất nước Ngành công nghiệp ô tô cũng được coi là chủ lực vì nó tạo ra rất nhiều việc làm cả trực tiếp và gián tiếp

Trên cơ sở khái niệm này, nhóm nghiên cứu xin đưa ra khái niệm về ngành công nghiệp chủ lực đơn giản và ngắn gọn như sau:

Ngành công nghiệp chủ lực (key industry) là ngành có vai trò trọng

yếu đối với sự phát triển kinh tế đất nước

Ngoài thuật ngữ công nghiệp chủ lực, hiện nay còn có một số thuật ngữ khác như: công nghiệp trọng điểm, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn Việc sử dụng các thuật ngữ này, trong một số trường hợp không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm "công nghiệp chủ lực"

Đối với ngành công nghiệp ưu tiên, nhóm nghiên cứu cho rằng đây là những ngành cần phải được ưu tiên đầu tư phát triển trong một giai đoạn nhất định nhằm đáp ứng một nhu cầu bức thiết nào đó của toàn bộ nền kinh tế Ngành công nghiệp trọng điểm và ngành công nghiệp mũi nhọn có ý nghĩa tương tự như công nghiệp chủ lực, đều là những ngành có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, có khả năng cạnh tranh cao, có tiềm năng về thị trường, và khả năng “lôi kéo” các ngành khác cùng phát triển

Việc xác định ngành công nghiệp chủ lực có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cũng như phát triển công nghiệp cho từng thời kỳ, góp phần hình thành và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Trang 9

I.2 Đặc điểm của ngành công nghiệp chủ lực

Với nội dung khái niệm được đưa ra ở trên, có thể hiểu ngành/sản phẩm công nghiệp chủ lực là các ngành/sản phẩm công nghiệp (hoặc nhóm sản phẩm hẹp) đóng vai trò quan trọng, quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra đối với từng thời kỳ nhất định

Trên cơ sở khái niệm, chúng ta có thể thấy ngành công nghiệp chủ lực

có một số đặc điểm sau đây:

- Thứ nhất, đây là những ngành có hiệu quả cao so với các ngành khác

Hiệu quả ở đây được hiểu là hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội Theo quan điểm phát triển bền vững, những ngành này không chỉ đạt được hiệu quả về mặt kinh tế mà còn phải đảm bảo được sự phát triển bền vững cho nền kinh

tế, tức là phải đảm bảo sự phát triển toàn diện của cả ba vấn đề: kinh tế, con người và xã hội Đây là những ngành/sản phẩm hiện đang phát triển, có giá trị sản lượng cao và chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu các ngành công nghiệp

- Thứ hai, những ngành công nghiệp chủ lực là những ngành có điều

kiện sớm thực hiện với chi phí đầu vào ít so với các ngành khác Đây là ưu thế của ngành công nghiệp chủ lực, đặc biệt trong điều kiện của các nước đang phát triển, hoặc chậm phát triển với sự hạn chế về nguồn lực, trong khi lại chịu sức ép do nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước phát triển

- Thứ ba, ngành/sản phẩm có vị trí quan trọng trong toàn ngành công

nghiệp, có khả năng chi phối và ảnh hưởng đến sự phát triển đối với nhiều sản phẩm công nghiệp khác

- Thứ tư, các ngành công nghiệp chủ lực có khả năng lan toả tác động

đến các ngành khác Đây là những ngành có điều kiện phát triển, có thị trường rộng lớn bên trong và bên ngoài và có tác động tích cực đối với các ngành, sản phẩm khác Trên một mức độ nào đó, các ngành, sản phẩm này cũng coi như các ngành, sản phẩm đột phá, dẫn đầu, có tốc độ tăng trưởng cao, có tác dụng lôi kéo các ngành khác cùng phát triển

- Thứ năm, ngành công nghiệp chủ lực có khả năng tạo một thế đứng và

góp phần tiến đến xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Đây là ngành có thế đứng vững chắc trong nền kinh tế, tức là có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong điều kiện hội nhập, thể hiện ở việc chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước, được biết đến như một thế mạnh của đất nước

- Thứ sáu, ngành công nghiệp chủ lực có thể đạt tới trình độ tiên tiến

hoặc vào hàng tiên tiến nhất trên thế giới trong khoảng thời gian không xa Đặc điểm này thể hiện khả năng cập nhật, chuyển giao công nghệ quốc tế để đưa ngành công nghiệp chủ lực trở thành ngành kinh tế có trình độ về công nghệ và quản lý ngang với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới trong khoảng thời gian ngắn nhất so với các ngành khác, trước mắt là những

Trang 10

công nghệ đã và đang được đưa ra áp dụng, đồng thời còn góp phần thúc đẩy, tìm kiếm các phát minh

I.3 Vai trò của công nghiệp chủ lực đối với phát triển công nghiệp ở Việt

Nam

I.3.1 Góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội

Lựa chọn những ngành công nghiệp chủ lực là một trong những nội dung quan trọng của Chiến lược và là cơ sở để Chính phủ và các cơ quan quản lý đưa ra những chính sách phát triển phù hợp, nhằm đạt được mục tiêu cao nhất đã đề ra, là mục tiêu phát triển kinh tế nhanh và mạnh Nếu xác định các ngành công nghiệp chủ lực không chính xác sẽ dẫn đến định hướng phát triển công nghiệp bị sai lệch, các cơ chế chính sách phát triển được xây dựng không hợp lý, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra

1.3.2 Giúp phát huy lợi thế so sánh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Một trong những đặc điểm của ngành công nghiệp chủ lực là có khả năng phát huy cao độ những lợi thế so sánh của đất nước, mà cụ thể ở đây là

1.3.3 Góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá

Lợi thế có được trong việc phát triển các ngành chủ lực là khả năng chuyển giao công nghệ cũng như trình độ quản lý, tiến tới ngang với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới trong thời gian không xa

Thực chất của việc lựa chọn ngành chủ lực chính là việc tìm ra một cơ cấu ngành hợp lý, trong đó hình thành các ngành chủ lực phát triển bền vững nhằm khai thác tốt nội lực, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động, hợp tác quốc tế để đáp ứng được các mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, phát triển toàn diện có trọng điểm với tốc độ cao và bền vững, đảm bảo công bằng xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái và hội nhập vững chắc, có hiệu quả

Như đã phân tích ở trên, những ngành công nghiệp chủ lực phải là những ngành có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, có thể đứng ngang hàng với các nước trong khu vực và trên thế giới trong một tương lai không

Trang 11

xa, và kéo các ngành khác cùng phát triển Như vậy, nếu xác định đúng ngành

công nghiệp chủ lực và có cơ chế phù hợp để tạo điều kiện cho các ngành này

phát triển thì sẽ tạo ra bước đột phá trong phát triển công nghiệp, tạo sự

chuyển dịch cơ bản về cơ cấu kinh tế Do vậy, xác định và phát triển ngành

công nghiệp chủ lực sẽ giúp đất nước đạt được những mục tiêu đã đề ra trong

kế hoạch 5 năm cũng như Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, trong đó có

mục tiêu quan trọng là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp

hoá và hiện đại hoá, đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp vào

năm 2020

I.4 Phương pháp xác định ngành công nghiệp chủ lực

1.4.1 Nhóm phương pháp xác định ngành kinh tế chủ lực trong điều kiện có

đủ thông tin

a Phương pháp so sánh hiệu quả

Đây là phương pháp xác định ngành công nghiệp chủ lực trong điều

kiện các số liệu về chi phí sản xuất và kết quả sản xuất các sản phẩm, các

ngành kinh tế đã xác định được trong điều kiện hệ thống giá cả ổn định và

công nghệ tính toán thống nhất Phương pháp này có thể thực hiện dễ dàng

dựa trên các bảng hướng dẫn tính toán chỉ tiêu hiệu quả kinh tế do Nhà nước

ban hành chính thức

Ví dụ: Ở tỉnh A, qua theo dõi nghiên cứu có thể đưa vào sản xuất sản

phẩm và các ngành kinh tế sau:

STT Sản phẩm/ngành kinh tế Chi phí bỏ ra Kết quả thu được

1 Sản xuất động cơ diesel C1 K1

2 Sản xuất điện C2 K2

i Sản xuất phân bón Ci Ki

Ở bảng trên, các chi phí và kết quả phải được quy về cùng một thời

điểm để tránh các sai lệch về thời hạn xây dựng, thời hạn bỏ vốn, thời hạn

khai thác Từ đó, ta có thể tính được hiệu quả kinh tế của ngành/sản phẩm

như sau:

i

i i

C

K

e = (i=1,n)

Ngành có giá trị ei lớn nhất tính theo công thức trên sẽ là ngành chủ

lực Với kết quả này, tỉnh A sẽ lập kế hoạch phát triển với mục tiêu ưu tiên

cho sự phát triển của ngành chủ lực, đảm bảo sự cân đối hài hoà trên điều

kiện đất đai, lao động, vốn, nhu cầu và thị trường

Trang 12

Phương pháp so sánh hiệu quả là phương pháp dễ tính toán và cho kết quả khá chính xác Nhược điểm của phương pháp này là việc so sánh mới chỉ

là so sánh trực tiếp chưa gắn liền với bài toán phải giải lúc sau (để chọn quy

mô, tốc độ và các ràng buộc phi kinh tế khác) Phương pháp này lấy chỉ tiêu hiệu quả là cơ sở để xác định ngành công nghiệp chủ lực Những ngành có hiệu quả cao là những ngành có chi phí sản xuất thấp hơn so với các ngành khác, hoặc có cùng chi phí sản xuất thì sẽ đạt kết quả cao hơn Với phân tích như trên, bản thân phương pháp này đã phù hợp với nội dung của một số lý thuyết phân tích lợi thế so sánh của David Ricardo và mô hình H - O về phát triển ngành sản xuất mà huy động được nguồn lực sẵn có của đất nước Đây là

cơ sở để giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả của các ngành kinh tế

Một lưu ý quan trọng là để thực hiện được phương pháp này phải thoả

mãn điều kiện là phải có đầy đủ số liệu theo yêu cầu Đây là khó khăn rất lớn

nếu chúng ta áp dụng phương pháp này (vì hiện nay các số liệu thống kê của chúng ta thường không đầy đủ)

b Phương pháp cân đối ma trận

Đây là phương pháp xác định ngành công nghiệp chủ lực trong điều kiện cũng có đủ số liệu ban đầu chính xác nhưng hệ thống biểu thu thập số liệu được cho dưới dạng các ma trận như dạng bảng cân đối liên ngành

Ví dụ ta có bảng cân đối ma trận của tỉnh B năm t như sau:

STT Tên ngành và sản phẩm Giá trị tổng sản lượng

Tiêu dùng nội bộ sản xuất trong năm của tỉnh

Sản phẩm hàng hoá

- Sau đó, ta tính ma trận hệ số kỹ thuật với các phần tử là aij

Trang 13

- Lập bảng cân đối ma trận cho năm t+1

+ Căn cứ vào số vốn đầu tư I(t+1) của năm t+1, dựa vào những dự báo

và phân tích của các chuyên gia kinh tế, tính toán cân đối về mọi mặt: lao động, vốn, công nghệ, thị trường để đưa ra các phương án khác nhau nhằm phân bổ số vốn I (t+1)

+ Mỗi một phương án đầu tư (trong số m phương án) của năm t+1 sẽ cho một kết quả tương ứng Ví dụ: với phương án 1, sản phẩm/ngành 1 được đầu tư thêm I 1 ( t 1)

1 + đồng và thu được mức tăng thêm về giá trị sản lượng là

1

1 + = + +

Χ (5) Tính tương tự cho các phương án từ 1÷n ta có:

1) (t

∆Χ (t) Χ ) 1 t

n

1 n

(t

01

1 n1

1 11

1 1

1 1n

1 n

an1 (t) ann (t)

(4)

Trang 14

[x (t 1) x (t 1)]

1) (t Χ 1)

(t

1n

1 11

1 1

1 n

1

n + = + − + + + + (7) Căn cứ vào kết quả số (5), (7), (8), ta xây dựng được bảng cân đối ma trận hoàn chỉnh của tỉnh B năm (t+1), có dạng như sau:

STT Tên ngành và sản phẩm Giá trị tổng sản lượng

Tiêu dùng nội bộ sản xuất trong năm của tỉnh

Sản phẩm hàng hoá

Từ bảng trên, ta tính được chỉ tiêu so sánh hiệu quả như sau:

1) (t I

(t) L (t) x 1) (t L 1) (t x

i

i 0i

1 i

1 0i 1

+

− + + +

(t) L (t) x 1)

(t L 1) (t x 1)

(t

e

n 1 i

n 1 i

1 i

1 0i

1 i

1 0i 1

+

+

− + + +

=

Tiếp tục lặp lại các phép tính trên cho các phương án khác (phương án

2 đến phương án thứ m) ta sẽ thu được các hiệu quả chung tương ứng e1(t+1) cho đến em(t+1) Phương án nào có hệ số hiệu quả chung lớn nhất sẽ là phương án tối ưu (ứng với nó là phương án đầu tư có hiệu quả nhất của năm (t+1))

Lập bảng cân đối ma trận cho các năm tiếp theo: t+2; t+3; t+4; t+5 (tương tự như cách làm đối với năm t+1)

Trang 15

Phối hợp 5 phương án đầu tư của 5 năm ta được phương hướng phát

triển sản xuất của địa phương, từ đó nghiên cứu để đưa ra các biện pháp tổ

chức, quản lý thích hợp

Phương pháp cân đối ma trận tính toán có phức tạp hơn nhưng độ chính

xác lại cao hơn so với phương pháp so sánh hiệu quả Phương pháp cân đối

ma trận trên thực tế là phương pháp phân bổ các nguồn lực hạn chế cho các

ngành kinh tế một cách ưu việt nhất

Yêu cầu đối với phương pháp này là hệ thống số liệu thống kê đầy đủ

và chính xác Tương tự như đối với phương pháp a, trong điều kiện hiện nay

của Việt Nam, việc áp dụng phương pháp này là rất khó

1.4.2 Xác định ngành kinh tế chủ lực trong điều kiện thiếu thông tin

Trong điều kiện thiếu thông tin, có một phương pháp khá hữu ích để

xác định ngành kinh tế chủ lực, đó là phương pháp chuyên gia kết hợp với cân

đối đa yếu tố Đây là phương pháp lấy ý kiến của các chuyên gia để xác định

nhóm ngành cần phát triển Sau đó căn cứ vào một số tiêu chí để xác định hệ

số quan trọng và tầm ảnh hưởng của các ngành để lựa chọn ngành chủ lực

Xác định tiêu chí phải căn cứ vào xu hướng phát triển của thế giới, vào thực

trạng và định hướng phát triển của đất nước trong tương lai Phương pháp này

gắn với các lý thuyết về giai đoạn tăng trưởng, lý thuyết đàn nhạn bay (phát

triển theo 4 giai đoạn) của Akamatsu

Phương pháp này khá đơn giản, tận dụng được chất xám của các

chuyên gia và loại trừ được một phần tính chủ quan khi có hệ thống các tiêu

chí xác định hệ số quan trọng và tầm ảnh hưởng của các ngành

Nội dung của phương pháp này như sau:

Trước hết ta liệt kê các sản phẩm, các ngành kinh tế mà địa phương có

thể đưa vào sản xuất - được gọi là các đối tượng phát triển: D1, D2, , Dn

Từ các đối tượng được đưa ra ở trên, căn cứ vào các nguồn lực về vốn,

đất đai, kỹ thuật, lao động, thị trường, công nghệ chỉnh lý lại một bảng cuối

cùng chuẩn xác, ví dụ được 10 đối tượng Để làm được điều nay cần khai thác

chất xám của các chuyên gia, các nhà công nghệ, các nhà kinh tế, quân sự,

chuyên gia trong và ngoài nước Sau đó, ta xếp lại thành 4 nhóm theo thứ tự

quan trọng từ I, II, III đến IV, theo bảng sau:

điểm: 8, 4, 2, 1

Trang 16

Khi đó hệ số quan trọng của từng đối tượng ở mỗi nhóm lần lượt là:

i b

R

Đối tượng nào có Ri lớn nhất thì đấy là sản phẩm/ngành chủ lực phải tìm

II KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH

VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ LỰC

Để xác định ngành công nghiệp chủ lực cần phải xuất phát từ đặc điểm

cụ thể của nền kinh tế mỗi quốc gia, vì bản thân các ngành chủ lực ở mỗi nước lại có tính đặc thù riêng, tuỳ thuộc vào lịch sử và điều kiện kinh tế của mỗi nước Đây sẽ là những kinh nghiệm cần thiết cho Việt Nam trong quá trình xác định các ngành chủ lực nói chung và ngành công nghiệp chủ lực nói riêng

Rij =

4 nếu Di có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của Dj

2 nếu Di có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của Dj

1 nếu Di có ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển của Dj

0 nếu Di không có ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng không đáng kể đến sự phát triển của Dj

Trang 17

II.1 Singapore

Singapore là quốc đảo đa dân tộc (77% là người Hoa; 15% người Mã Lai, ngoài ra còn có người Ấn Độ, Pakistan, Bangladet ), bao gồm 54 đảo, nằm ở Nam bán đảo Malắcca, giữa Malaixia và Indonesia, có tổng diện tích 693km2, mật độ trên 6.000 người/km2 Cho tới năm 1965, sau khi tách khỏi liên bang Malaysia tình hình kinh tế Singapore vẫn chưa được cải thiện, dân

số đông do tỷ lệ sinh đẻ cao và làn sóng nhập cư vẫn chưa chấm dứt Trước bối cảnh đó, Singapore tiến hành công nghiệp hoá theo mô hình “hướng ra xuất khẩu” như Hồng Kông đã và đang tiến hành khi đó, nhằm vươn tới thị trường rộng lớn bên ngoài Đến nay, Singapore đã trở thành một nước công nghiệp phát triển, là trung tâm của các ngành công nghiệp kỹ thuật và công nghệ cao như điện tử, đóng tàu, lọc dầu, sửa chữa tàu thuỷ, chế tạo máy chính xác và là trung tâm tài chính, buôn bán lớn nhất Đông Nam Á

- Thời kỳ trước những năm 1970, là một nước có lao động dồi dào, đất

đai không nhiều, tài nguyên ít nên đi lên bằng nông nghiệp là điều khó khăn Singapore đã khai thác lợi thế vị trí thuận lợi của mình để phát triển kinh tế

theo hướng gia công xuất khẩu Những ngành được khuyến khích trong chiến

lược công nghiệp hướng ra xuất khẩu là những ngành sử dụng nhiều lao động

nhằm giải toả tình trạng thất nghiệp như kéo sợi, may mặc chế biến gỗ và chế biến thực phẩm

Hướng đầu tư của Singapore là tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến cần nhiều lao động như sản xuất đồ điện và điện tử Ngoài ra, Singapore còn đầu tư vào một số ngành công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn như hoá chất, cao su, lọc dầu

- Vào những năm 1970 -1980, Singapore đã thay đổi cơ cấu công nghiệp theo hướng phát triển công nghiệp nặng, sử dụng nhiều vốn hơn sử dụng lao động ở giai đoạn trước như công nghiệp đóng tàu, công nghiệp lọc dầu Trong thời kỳ này, ngành công nghiệp lọc dầu phát triển rất mạnh

Singapore đã trở thành trung tâm lọc dầu lớn thứ 3 trên thế giới, sau Houston

và Rotterdam Ngoài công nghiệp lọc dầu, công nghiệp sản xuất má y thiết bị điện và điện tử cũng là những ngành chủ lực thúc đẩy sự phát triển công nghiệp của Singapore Đây là ngành công nghiệp không chỉ thu hút nhiều lao động nhất mà còn đòi hỏi vốn lớn, liên kết cao

- Vào những năm 1980, Singapore gặp nhiều khó khăn do tình hình

thương mại thế giới thiếu ổn định, thị trường xăng dầu thay đổi liên tục, mặc

dù thế, Singapore vẫn giữ cho ngành lọc dầu phát triển Trong khi một số nước xung quanh cũng xây dựng cơ sở lọc dầu để cạnh tranh như Indonexia, Malaysia, nhưng sản lượng hàng năm của Singapore vẫn đạt khoảng trên dưới

20 triệu tấn

Cùng với việc phát triển công nghiệp hướng ra xuất khẩu, Singapore đã chú ý đến các hoạt động dịch vụ nhằm phát huy lợi thế về vị trí của mình

Trang 18

Trong hoạt động này, cảng Singapore giữ vai trò quan trọng Do tăng cường đầu tư nên năng lực bốc dỡ của cảng tăng nhanh và đến nay đã đứng thứ hai thế giới

- Thời kỳ sau năm 1980, Singapore đã nhấn mạnh đến công nghiệp kỹ

thuật cao như luyện kim, chế tạo máy, chế tạo thiết bị chính xác cho ngành hang không vũ trụ, quang học, y học, thiết bị tự động hoá, đồ chơi, điện tử, hoá chất và hoá dầu

Singapore còn là nước năng động trong việc phát triển dịch vụ du lịch

Từ nhiều năm nay, Singapore đã tạo ra những tiền đề cho hoạt động này trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn Singapore có 4 sân bay, có hệ thống thông tin bưu điện cùng một lúc có thể liên lạc với hang chục quốc gia, có các khách sạn lộng lẫy và hàng hoá thuộc vào loại rẻ Chính vì vậy nhiều du khách tận dụng cơ hội đến Singapore, dù chỉ trong chốc lát Mỗi năm Singapore đón tiếp khoảng 3 đến 4 triệu khách du lịch

Những kết quả đạt được

- Hướng chính cho phát triển nền kinh tế là phát triển công nghiệp Cho đến nay công nghiệp đã mang lại lơi ích rất to lớn, đặc biệt là công nghiệp nặng, công nghiệp công nghệ cao

Trong những năm xây dựng và phát triển công nghiệp hoá hướng ra

xuất khẩu, sản xuất công nghiệp Singapore đã đạt mức tăng trưởng cao hơn

mức tăng GNP và GDP Những năm đầu công nghiệp hoá, tốc độ tăng của

ngành công nghiệp khoảng gấp rưỡi tốc độ tăng GNP và GDP, nhưng sau đó chậm dần

Sự phát triển công nghiệp không những đã tạo đủ việc làm cho người lao động mà còn là động lực đẩy mạnh xuất khẩu Nói chung cứ 3 đến 4 năm kim ngạch xuất khẩu của Singapore lại tăng lên gấp đôi Riêng giai đoạn sau, thời gian để tăng gấp đôi dài hơn vì mức tăng đã lớn nhưng cũng chỉ mất bảy đến tám năm

Khi mới dành được độc lập, nền kinh tế Malaysia còn mang nặng đặc trưng của một thuộc địa thực dân cũ điển hình Đó là nền kinh tế phụ thuộc, kém phát triển, cơ cấu ngành què quặt, chuyên cung cấp nông sản và khoáng sản, nguyên liệu cho các nước công nghiệp phát triển

Trang 19

Các giai đoạn phát triển

- Giai đoạn 1: từ cuối những năm 1950 đến những năm 1960 (chiến

lược thay thế nhập khẩu): Sau khi giành độc lập, Malaysia chủ trương thi hành những chính sách để nâng cao nhịp độ phát triển kinh tế, phá thế độc canh năng nề, bằng cách phát triển nông nghiệp và xây dựng các ngành công nghiệp chế biến mới Với điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho phát triển các

cây công nghiệp, giai đoạn này Malaysia đã chú ý đầu tư mạnh vào phát triển

cây công nghiệp nhiệt đới và phát triển công nghiệp chế biến nông sản Phát

triển cây cọ dầu là một thành công đáng chú ý của Malaysia trong việc phát huy thế mạnh của cây nhiệt đới xuất khẩu Đây được xem là sản phẩm có tính đột phá trong giai đoạn này Việc phát triển cây cọ dầu làm thay đổi mạnh cơ cấu trồng trọt của ngành nông nghiệp Malaysia Đến năm 1970, Malaysia trở thành nước sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới

- Giai đoạn 2: từ 1970 đến những năm 1980 (chiến lược hướng về xuất

khẩu): Sau giai đoạn phát triển có tính chất thay thể nhập khẩu, thu nhập bình quan đầu người đã tăng lên rõ rệt Quan hệ với bên ngoài là một đòi hỏi cấp bách Lúc này Malaysia bắt đầu quá trình công nghiệp hoá theo mô hình hướng vào xuất khẩu, dẫn đến những thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế và ngoại thương Chính sách đa dạng hoá cơ cấu sản xuất được tiếp tục đẩy mạnh Đặc điểm nổi bật của sự biến động cơ cấu trong giai đoạn này là ở chỗ công nghiệp tăng trưởng nhanh và phát triển nhiều ngành sản xuất mới Nhu cầu của thị trường trong nước về một số mặt hàng như xi măng, ô tô, sản

phẩm điện tử, hàng dệt, một số loại thực phẩm được thoả mãn Điện tử được

coi là ngành chủ lực, có mức phát triển nhanh nhất vào giai đoạn này

- Giai đoạn 3: Từ những năm 1980 đến nay (Tiếp tục công nghiệp hoá)

Sau 2 - 3 thập kỷ phát triển nhưng nền kinh tế vẫn mang tính rời rạc

Các ngành sản xuất trong nước ít gắn bó chặt chẽ với nhau mà lại liên kết với chu trình sản xuất của các công ty độc quyền xuyên quốc gia nước ngoài Malaysia hầu như chưa làm được gì lớn trong việc mở rộng chủng loại các ngành công nghiệp dựa vào nguyên liệu trong nước Bước sang những năm

1980, nền kinh tế Malaysia đứng trước đòi hỏi phải có những chuyển biến mới trong chiến lược phát triển Kết hợp cả hai giai đoạn trước, Malaixia nhấn mạnh trở lại xu hướng “thay thế nhập khẩu”, nhưng là thay thế nhập khẩu tư

liệu sản xuất chứ không phải hàng hoá tiêu dùng như trước đây Trong giai

đoạn này Malaysia hướng tới xây dựng nền kinh tế hiện đại dựa trên công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn và kĩ thuật cao Chủ trương nhấn mạnh hơn

công nghiệp nặng của Malaixia trong những năm 1980 từ chiến lược hướng vào xuất khẩu sang chiến lược tự cân đối nhằm đảm bảo vững chắc hơn các cân đối cần thiết trong nền kinh tế

Những kết quả đạt được

- Khai thác thành công những thế mạnh của mình, đi từ nông nghiệp, khai thác triệt để ưu thế về cây nhiệt đới, Malaysia đã lấy đó làm sản phẩm

Trang 20

chủ lực cho giai đoạn đầu, tích luỹ tư bản làm cơ sở cho việc phát triển xuất khẩu và hội nhập trong giai đoạn sau

- Chính sách từ thay thế nhập khẩu chuyển sang hướng mạnh vào xuất khẩu đã đề ra đúng lúc, phù hợp với tình hình thực tế đất rộng, người không đông và tài nguyên phong phú của mình

- Khuyến khích đầu tư cho xuất khẩu tiếp tục là phương hướng để phát triển công nghiệp Bên cạnh chính sách thuế quan ưu đãi, Malaysia đã thành lập thêm nhiều khu công nghiệp và khu mậu dịch tự do Đến năm 1990, công nghiệp chế biến tăng với nhịp độ nhanh nhất nhờ nâng cao trình độ khoa học-

kĩ thuật, áp dụng công nghệ mới Các ngành sử dụng nguyên liệu nội địa và hướng về xuất khẩu được ưu tiên

II.3 Nhật Bản

Quốc đảo Nhật Bản ở khu vực Bắc Á, đất chật người đông lại thường

bị thiên tai là trở ngại lớn cho phát triển kinh tế Bù lại do điều kiện thực tế lại giúp cho Nhật Bản phát triển công nghiệp rất sớm Diện tích tự nhiên của Nhật Bản khoảng 380 nghìn km2, mật độ dân số khoảng 335 - 340 người/km2 Nhật Bản có điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi cho phát triển kinh tế Trải qua nhiều bước thăng trầm trên công nghiệp đường phát triển giống như toàn bộ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa công nghiệp phát triển nhất của châu Âu để giành lấy vị trí thứ hai sau Mỹ Thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản đứng thứ hai thế giới, đạt 37.180 USD vào năm 2004

Các giai đoạn phát triển

- Giai đoạn 1 (Từ cuộc cách mạng Minh Trị 1868 đến Chiến tranh thế

giới thứ nhất): Nổi bật của giai đoạn này là cải cách nền kinh tế từ phong kiến sang tư bản chủ nghĩa Có thể nói rằng thời đại Minh Trị đã thực sự mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp ở Nhật Bản trên quy mô lớn Đây được coi

là thời kỳ tạo lập nền móng cơ bản cho cuộc công nghiệp hoá Coi trọng nhất trong giai đoạn này là chuẩn bị cơ sở vật chất chất để đón nhận kỹ thuật mới,

trong đó, lĩnh vực tập trung phát triển là xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển

vận tải

- Giai đoạn 2 (Từ Chiến tranh thế giới thứ nhất đến chiến tranh thế giới

thứ hai): Giai đoạn này khẳng định hoàn toàn chủ nghĩa tư bản và nền móng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân của Nhật Bản Trong hai thập kỷ, Nhật Bản đã phát huy các tiềm lực công nghiệp mà thời Minh Trị đã đặt nền

móng và được mở mang thêm Các ngành công nghiệp nặng phát triển rất

nhanh chóng, trước hết là công nghiệp khai khoáng Ngành khai thác than, ngành điện lực cũng có bước tiến nhảy vọt

- Giai đoạn 3 (từ chiến tranh thế giới thứ 2 đến cuộc khủng hoảng kinh

tế thế giới giữa những năm 1970): Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định trong việc đưa Nhật Bản tiến lên thành một cường quốc công nghiệp thứ hai trên thế giới sau Mỹ

Trang 21

Điều kiện lúc này là chiến tranh bùng nổ ở 1 số nước châu Á Bước sang những năm 1950, Nhật Bản bắt đầu cất cánh với tốc độ thần kỳ Việc cung cấp hàng quân sự cho Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên làm cho xuất khẩu tăng vọt, giải toả khối lượng hàng tồn đọng khổng lồ, phục hồi được mức sản xuất trước chiến tranh Từ đó, Nhật Bản bắt đầu kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế siêu tốc, chẳng những vượt xa tốc độ phát triển của chính

nó trong quá khứ mà còn bỏ xa tốc độ tăng trưởng của các nước khác Tập

trung phát triển lúc này là xuất khẩu hàng công nghiệp tiêu dùng, hàng chiến tranh Công nghiệp là lĩnh vực sản xuất then chốt và cũng là lĩnh vực phát

triển mạnh nhất Công nghiệp vừa là tiền đề, vừa được hỗ trợ mạnh mẽ của sự gia tăng ngoại thương Tốc độ gia tăng buôn bán quốc tế của Nhật Bản thời

kỳ này còn lớn hơn cả tốc độ tăng trưởng kinh tế

- Giai đoạn 4 (từ giữa những năm 1970 đến nay và tiếp sau): Với chính

sách phát triển mạnh công nghiệp xuất khẩu, Nhật Bản đã nhập khẩu công nghệ, ứng dụng và xuất khẩu sản phẩm Sau khi sản phẩm công nghiệp chiếm lĩnh thị phần lớn trên thế giới, Nhật Bản đã trở thành một nước công nghiệp

phát triển cạnh tranh với Mỹ và Tây Âu Đến nay Nhật Bản chuyển mạnh

sang sản xuất công nghiệp với công nghệ hiện đại, tinh vi, chính xác

Sau năm 1953, Hàn Quốc tách ra từ bán đảo Triều Tiên do cuộc chiến tranh Nam - Bắc Triều Tiên và trở thành 1 lãnh thổ dưới sự bảo trợ của Mỹ Điều kiện tự nhiên của Hàn Quốc không mấy thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Điều kiện về vị trí trung chuyển bằng đường biển là yếu tố thuận lợi cho Hàn Quốc phát triển công nghiệp sau này Cộng vào đó nền kinh tế dược nguồn tài trợ lúc đầu khá lớn từ phía Mỹ Từ đầu những năm 1980 đến nay, Hàn Quốc đã bước vào hàng ngũ của những nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới với tiềm năng kinh tế công nghệ khá phát triển Là lãnh thổ công nghiệp mới phát triển, có thu nhập bình quân đầu người năm 2004 đạt 13.980 USD

Các giai đoạn phát triển

- Giai đoạn những năm 1950 - 1960: Trở thành một lãnh thổ độc lập,

giai đoạn này Hàn Quốc hướng vào tái thiết kinh tế và cung cấp hàng chiến tranh do Mỹ phát động Chính quyền đưa ra kế hoạch xây dựng lãnh thổ với mục tiêu tự cung tự cấp đầy đủ thông qua việc sử dụng các nguồn lao động và

Trang 22

tài nguyên trong nước kết hợp với viện trợ nước ngoài Tập trung vốn cho kết

cấu hạ tầng và các ngành cần nhiều lao động Phát triển các ngành gia công, sản xuất hàng phục vụ chiến tranh, Hàn Quốc đã lợi dụng được lượng vốn từ

viện trợ nước ngoài như một “cú hích” trong giai đoạn này cho phát triển nền kinh tế khá lạc hậu của mình

- Giai đoạn những năm 1960 - 1980: Là đồng minh của Mỹ tham gia

các cuộc chiến tranh khu vực, trong giai đoạn này, Hàn Quốc đẩy mạnh tốc

độ phát triển công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp chế biến xuất khẩu cung

cấp sản phẩm làm ra cho hệ thống rộng lớn các nước tư bản chủ nghĩa Bên

cạnh việc chú trọng phát triển công nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến

để phục vụ chiến tranh trong hệ thống các nước đồng minh, giai đoạn này Hàn Quốc chú trọng rất nhiều đến phát triển kết cấu hạ tầng Tất cả hệ thống giao thông, liên lạc và hệ thống hạ tầng khác đều được khởi công ở mức độ hiện đại Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển công nghiệp của Hàn Quốc trong các giai đoạn sau

- Giai đoạn sau năm 1980: Nhờ phát triển mạnh mẽ kết cấu hạ tầng và

cơ sở công nghiệp do viện trợ của Mỹ ở giai đoạn trước mà giai đoạn này Hàn Quốc đã thu hút được nhiều đầu tư từ nước ngoài Điều này giúp cho Hàn Quốc phát triển công nghiệp sản xuất các hàng xuất khẩu với tốc độ rất nhanh Với điều kiện kết cấu hạ tầng tốt đủ điều kiện để phát triển nền kinh tế

hướng ngoại, giai đoạn này nền kinh tế Hàn Quốc phát triển chủ yếu là công

nghiệp kỹ thuật cao, trong đó các ngành điện và điện tử, công nghiệp chế tạo kim loại và chế tạo máy có tỷ lệ cao hơn cả

II.5 Trung Quốc

Trung Quốc là nước lớn nhất Châu Á, diện tích lớn thứ ba thế giới và dân số đông nhất thế giới Là nước thuộc Đông Bắc Á, đất rộng người đông, điều kiện tự nhiên đa dạng Diện tích khoảng 9.600 nghìn km2, mật độ khoảng

133 - 135 người/km2 Trung Quốc là một thị trường khổng lồ với nhiều tiềm năng chưa được khai thác, rất thuận lợi cho việc đầu tư từ bên ngoài Trung Quốc có nền văn hóa lâu đời Đến nay Trung Quốc còn có cả Hồng Kông và Đài Loan làm cho năng lực kinh tế rất hùng hậu Thu nhập bình quân đầu người năm 2004 của Trung Quốc đạt 1.280 USD, khoảng 10.625 nhân dân tệ

Trung Quốc phát triển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa Trải qua nhiều giai đoạn phát triển kinh tế, chuyển đổi cơ chế chính sách, từ năm 1982 Trung Quốc đã chuyển dần sang

cơ chế thị trường mang màu sắc Trung Quốc Thành tựu về kinh tế phát triển rất nhanh Năm 1999, Trung Quốc đã trở thành nhà sản xuất lớn nhất trên thế giới về các sản phẩm ngũ cốc, thịt, bông, thép, than, xi măng, phân bón hoá học và máy thu hình, là nhà phân phối đứng vị trí thứ 7 và 8 lên vị trí thứ 5 và thứ 2 về các lĩnh vực dầu thô và điện tử vào năm 1987 Trong khi đó, vị trí thứ hạng của Trung Quốc về sản xuất các sản phẩm trên toàn cầu ngày càng nhích lên

Trang 23

Các giai đoạn phát triển

- Giai đoạn trước năm 1970: Sản xuất nông nghiệp, cải cách nông thôn

Là nước nông nghiệp, Trung Quốc trải qua giai đoạn phát triển phong kiến đặc biệt, chia cắt qua nhiều thập kỷ Sau khi thống nhất đất nước, Trung Quốc phát triển theo chủ nghĩa xã hội, theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung như các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa khác

- Giai đoạn 1970 - 1980: phát triển công nghiệp, tiếp tục cải cách nông thôn

Đây là giai đoạn mở cửa đổi mới của Trung Quốc Đầu tư phát triển công nghiệp

nặng là chủ yếu tuân theo kịch bản phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa

- Giai đoạn 1980 - 1990: Những năm 1980 kinh tế Trung Quốc phát

triển nổi bật ở nhịp độ phát triển nhanh 8,9%/năm gấp 3,2 lần mức tăng của

thế giới Đây là giai đoạn đầu của quá trình đổi mới Trung Quốc đặt mục tiêu

giá trị sản lượng công, nông nghiệp năm 1990 gấp hai lần năm 1980, đồng thời phát triển công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp nhẹ

Từ giữa những năm 1980 có sự gia tăng một loạt các loại hàng hoá thay thế cho sự khan hiếm hàng hoá một thời kỳ dài trước đó mà điều đó gây ra không ít khó khăn trong đời sống và kinh tế của người dân Sự thay đổi này xuất phát từ sự phát triển lực lượng sản xuất, cũng như là từ quá trình cơ cấu lại hệ thống kinh tế quốc gia

- Giai đoạn sau năm 1990: Trong giai đoạn này có một nghịch lý là

Trung Quốc bằng mọi cách giảm nhịp độ tăng trưởng xuống dưới 10%, trong khi rất nhiều nước lại tăng trưởng rất thấp và khó có khả năng tăng lên Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng lên làm giảm dần sự mất cân đối trong

cơ cấu kinh tế của Trung Quốc chỉ thiên về sản xuất nông nghiệp trong thời

kỳ trước Công nghiệp với công nghệ tiên tiến ra đời đã cung cấp trang thiết

bị hiện đại đưa kinh tế đất nước phát triển Sản xuất công nghiệp đã làm cho

bộ mặt nông thôn thay đổi về căn bản Sản phẩm công nghệ cao đã xuất hiện

và chiếm 14,9% trong tổng xuất khẩu toàn quốc Trung Quốc đã có một sự chuyển dịch lớn trong cơ cấu kinh tế, một thời kỳ mà công nghiệp hoá đã tăng tốc hơn bất kỳ một quốc gia nào

II.6 Một số nhận xét chung

Hầu hết các nước và vùng lãnh thổ, nhất là những nước và vùng lãnh thổ có bước phát triển nhảy vọt, cũng đều trải qua những mô hình, giai đoạn phát triển kinh tế chung, người ta đã nghiên cứu và tìm ra những ngành/sản phẩm chủ lực trong những thời kỳ nhất định và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ

Tại Malaysia, trong nhiều năm người ta đã xác định phát triển nông nghiệp là chủ lực, đặc biệt là đi lên từ cây cọ dầu và các sản phẩm được chế biến từ nông sản, sau đó mới tập trung vào ngành công nghiệp điện tử và hiện đang hướng vào phát triển công nghiệp nặng với trình độ kỹ thuật cao

Trang 24

Singapore lại lấy việc phát triển cảng biển và tổ chức đào tạo nhân lực

chất lượng cao làm chủ lực phát triển cho mình, để từ đó phát triển các ngành

công nghiệp kỹ thuật cao như luyện kim, chế tạo máy, chế tạo thiết bị chính

xác cho các ngành hoá chất hoá dầu, hàng không vũ trụ, quang học, y học,

thiết bị tự động hoá, đồ chơi điện tử

Còn Hàn Quốc thì đã tiến hành chuyển từ sản xuất công nghiệp nhẹ ở giai

đoạn đầu vào những năm 1950, sang giai đoạn sau bằng công nghiệp nặng với

sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, sau đó tập trung sang nhóm ngành công nghiệp kỹ thuật

cao như điện và điện tử, công nghiệp chế tạo kim loại và chế tạo máy

Trung Quốc là nước thành công trong việc khai thác lợi thế từ khu mậu dịch

tự do, khu chế xuất, khu công nghiệp duyên hải ra biển, từ đó chuyển dịch dần từ

nông nghiệp sang công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp nhẹ, hiện nay đang

tập trung vào công nghiệp với công nghệ tiên tiến như công nghiệp chế tạo, điện

điện tử,… góp phần cung cấp các thiết bị hiện đại để đưa kinh tế đất nước phát triển

Nhìn chung, tuỳ từng điều kiện cụ thể, với những quan điểm thống nhất,

mỗi nước đều phải và đã chọn cho mình những ngành chủ lực cần tập trung phát

triển trong từng thời kỳ và nhiều nước đã thành công với những lựa chọn đó

III HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM GIAI

ĐOẠN 2001 – 2006 VÀ ƯỚC THỰC HIỆN NĂM 2007

III.1 Những kết quả đạt được

III.1.1 Về giá trị sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định năm 1994) năm 2006 đạt

490.080 tỷ đồng, gấp 2,47 lần so với năm 2000 Như vậy, tăng trưởng bình

quân giai đoạn 2001 - 2006 đạt 16,3%/năm, gấp 2,13 lần so với tốc độ tăng

trưởng GDP (là 7,62%/năm) Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước tăng

7,1%/năm, khu vực ngoài nhà nước tăng 25,8%/năm, khu vực có vốn đầu tư

nước ngoài tăng 17,7%/năm (Biểu 1.1)

Biểu 1.1: Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994)

Đơn vị: Tỷ đồng

Số

Tăng trưởng

BQ

01-06 (%)

Tăng trưởng 07/06 (%)

Ước tăng trưởng

- Nhà nước trung ương 54,962.1 88,390.0 100,160.4 8.2 13.3 9.0

- Nhà nước địa phương 27,934.9 36,630.0 37,729.4 4.6 3.0 4.4

2 Khu vực ngoài nhà nước 44,144.1 175,308.6 211,870.8 25.8 20.9 25.1

3 Khu vực có vốn ĐTNN 71,285.0 189,751.6 224,286.2 17.7 18.2 17.8 Phân theo cấp quản lý

1 Công nghiệp trung ương 54,962.1 88,390.0 100,160.4 8.2 13.3 9.0

2 Công nghiệp địa phương 72,079.0 211,938.6 249,600.2 19.7 17.8 19.4

Trang 25

+ Quốc doanh địa phương 27,934.9 36,630.0 37,729.4 4.6 3.0 4.4 + Ngoài quốc doanh 44,144.1 175,308.6 211,870.8 25.8 20.9 25.1

3 Kinh tế có vốn ĐTNN 71,285.0 189,751.6 224,286.2 17.7 18.2 17.8

(Nguồn: TC Thống kê, Ước 2007 của Bộ Công Thương)

Năm 2007 tuy gặp nhiều khó khăn nhưng dự kiến giá trị sản xuất công

nghiệp tăng khoảng 17,1% so với năm 2006 Như vậy, tốc độ tăng trưởng

bình quân 7 năm 2001 - 2007 là 16,4%/năm

III.1.2 Về giá trị tăng thêm

- Theo giá thực tế (Biểu 1.2a và 1.2b), tỷ trọng giá trị tăng thêm các

ngành công nghiệp cấp 1 có sự biến động nhưng không nhiều (Biểu 1.2b)

Biểu 1.2a: Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp (giá thực tế)

2 Khai thác dầu thô và khí tự nhiên 39.115 38.211 51.567 79.385 89.468 99.880

3 Khai thác quặng kim loại 181 234 318 483 585 822

13 Sản xuất kim loại 2.032 2.291 3.450 4.658 5.823 6.910

14 Sản xuất sản phẩm bằng kim loại 2.948 3.634 5.870 7.611 9.615 10.891

15 Sản xuất máy móc thiết bị 1.143 1.505 2.149 2.903 3.667 4.280

16 Sản xuất thiết bị văn phòng, máy tính 174 212 509 543 744 1.010

17 Sản xuất thiết bị điện, điện tử 2.234 3.130 4.119 5.689 7.012 8.460

1 Sản xuất và phân phối điện, ga 12.690 14.666 20.404 26.595 30.856 36.649

2 Sản xuất và phân phối nước 1.303 1.362 1.820 2.334 2.530 3.120

Trang 26

(Nguồn: TC Thống kê; Ước 2007 của Bộ Công Thương)

Tỷ trọng giá trị tăng thêm của công nghiệp chế biến trong toàn ngành

công nghiệp tăng dần từ 59,2% (năm 2000) đến cao nhất là 63,1% (năm

2002), sau đó giảm dần xuống 59,5% (năm 2005) và đến năm 2006 tăng lên

60,8% và ước năm 2007 đạt 61,7% Tỷ trọng giá trị tăng thêm của công

nghiệp khai thác và công nghiệp điện, khí đốt, nước dao động trong khoảng

(26,4 - 30,6%) và (9,8 - 10,8%)

Từ những số liệu trên biểu 1.2a và 1.2b có thể thấy rằng giá trị tăng thêm

của các ngành công nghiệp vẫn chưa có thay đổi đáng kể trong 6 năm qua

Biểu 1.2b: Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp

theo giá trị tăng thêm

2 Khai thác dầu thô và khí tự nhiên 28,2 24,6 25,2 27,3 26,3 25,2

3 Khai thác quặng kim loại 0,1 0,2 0,2 0,2 0,2 0,2

7 Sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy 1,1 1,3 1,2 1,2 1,2 1,2

8 Xuất bản,in và sao bản ghi 1,1 1,1 1,2 1,1 1,1 1,2

13 Sản xuất kim loại 1,5 1,5 1,7 1,6 1,7 1,7

14 Sản xuất sản phẩm bằng kim loại 2,1 2,3 2,9 2,6 2,8 2,7

15 Sản xuất máy móc thiết bị 0,8 1,0 1,0 1,0 1,1 1,1

16 Sản xuất thiết bị văn phòng,máy tính 0,1 0,1 0,2 0,2 0,2 0,3

17 Sản xuất thiết bị điện, điện tử 1,6 2,0 2,0 2,0 2,1 2,1

18 Sản xuất radio, tivi, thiết bị truyền thông 1,5 1,4 1,5 1,4 1,5 1,6

19 Sản xuất dụng cụ y tế, chính xác 0,2 0,2 0,3 0,2 0,3 0,3

20 Sản xuất sửa chữa xe có động cơ 1,4 1,9 2,9 2,3 2,6 2,9

21 Sản xuất sửa chữa phương tiện vận tải khác 2,3 3,2 2,4 2,6 2,6 2,6

22 Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế 1,8 1,9 2,7 2,4 2,7 3,1

23 Sản xuất sản phẩm tái chế 0,01 0,01 0,02 0,02 0,02 0,02

1 Sản xuất và phân phối điện, ga 9,2 9,4 10,0 9,1 9,1 9,3

2 Sản xuất và phân phối nước 0,9 0,9 0,9 0,8 0,7 0,8

(Nguồn: TC Thống kê, Ước 2007 của Bộ Công Thương)

Trang 27

- Theo giá cố định (Biểu 1.2c và 1.2d), giá trị tăng thêm của ngành công

nghiệp (biểu 1.2c) đều có tăng trưởng theo từng năm, năm 2006 đạt 136.007

tỷ đồng tăng 78,3% so với năm 2000, tương ứng với tăng trưởng bình quân 6

2 Khai thác dầu thô và khí tự nhiên 16.643 17.262 17.851 20.106 19.959 19.108

3 Khai thác quặng kim loại 75 81 112 120 131 143

13 Sản xuất kim loại 1.353 1.394 1.811 2.219 2.465 2.764

14 Sản xuất sản phẩm bằng kim loại 1.737 2.001 2.648 3.234 3.746 4.320

15 Sản xuất máy móc thiết bị 778 954 1.241 1.492 1.720 1.980

1 Sản xuất và phân phối điện, ga 5.768 6.532 8.205 10.273 11.535 12.960

2 Sản xuất và phân phối nước 569 637 739 974 1.039 1.115

(Nguồn: TC Thống kê, ước 2007 của Bộ Công Thương)

Với dự kiến giá trị tăng thêm năm 2007 đạt 149.880 tỷ đồng, tăng 10,2%

so với năm 2006 thì bình quân 7 năm 2001 - 2007 tăng trưởng giá trị tăng

Trang 28

thêm là 10,1%/năm, đạt chỉ tiêu tăng trưởng công nghiệp và xây dựng 10 năm

2001 - 2010 theo Nghị quyết Đại hội IX (là 10 - 10,5%)

Biểu 1.2d: Chỉ số phát triển giá trị tăng thêm phân theo ngành công nghiệp (Năm trước = 100%)

Đơn vị: %

Ước

2007 TỔNG SỐ 109,7 110,4 110,6 110,2 110,2

1 Khai thác than 104,0 117,5 82,3 114,8 114,0

2 Khai thác dầu thô và khí tự nhiên 103,7 104,9 104,0 99,3 95,7

3 Khai thác quặng kim loại 107,8 115,7 82,1 109,4 109,3

7 Sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy 113,8 102,9 112,6 110,1 111,6

8 Xuất bản,in và sao bản ghi 101,7 107,8 121,6 110,1 111,9

9 Sản xuất cốc, dầu mỏ 130,2 88,1 114,9 105,6 106,6

10 Sản xuất hóa chất 115,2 98,4 119,7 108,4 108,9

11 Sản xuất sản phẩm cao su và Plastic 110,6 103,7 102,1 114,9 114,9

12 Sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại 111,3 113,3 115,2 112,4 112,5

13 Sản xuất kim loại 103,0 110,2 119,9 111,1 112,1

14 Sản xuất sản phẩm bằng kim loại 115,2 117,1 105,6 115,8 115,3

15 Sản xuất máy móc thiết bị 122,5 116,4 108,7 115,3 115,1

16 Sản xuất thiết bị văn phòng, máy tính 53,3 157,3 105,9 116,1 115,8

17 Sản xuất thiết bị điện, điện tử 135,7 109,8 104,3 116,9 116,5

18 Sản xuất radio, tivi, thiết bị truyền thông 114,2 124,6 116,1 112,1 112,2

19 Sản xuất dụng cụ y tế, chính xác 100,3 136,0 106,2 116,6 115,4

20 Sản xuất sửa chữa xe có động cơ 121,3 140,2 103,6 123,0 120,2

21 Sản xuất sửa chữa phương tiện vận tải khác 109,0 121,7 105,7 114,7 114,4

22 Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế 111,8 118,8 96,1 120,8 121,7

23 Sản xuất sản phẩm tái chế 126,1 150,2 94,1 122,9 123,9

1 Sản xuất và phân phối điện, ga 113,3 112,8 111,5 112,3 112,4

2 Sản xuất và phân phối nước 111,9 103,3 121,7 106,7 107,3

(Nguồn: TC Thống kê, Ước 2007 của Bộ Công Thương)

III.1.3 Về chuyển dịch cơ cấu công nghiệp

- Theo cơ cấu các ngành kinh tế quốc dân, tỷ trọng công nghiệp trong

GDP (theo giá thực tế) tăng liên tục từ 31,4% năm 2000 lên 34,9% năm 2006

và dự kiến đạt 35,6% năm 2007 Nếu tính cả xây dựng thì tỷ trọng công nghiệp và xây dựng năm 2000 là 36,7%; năm 2006 là 41,6% và dự kiến 2007

là 41,6%

Trang 29

- Theo cơ cấu các thành phần kinh tế trong công nghiệp (giá thực tế), tỷ

trọng khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm dần, từ 34,2% năm 2000 giảm xuống 22,8% năm 2006 và dự kiến năm 2007 còn 21,1%

Khu vực ngoài nhà nước năm 2000 là 24,5%; từ năm 2000 đến nay, nhờ thực hiện Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp và thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nên tỷ trọng của khu vực này năm 2006 là 33,6% và năm 2007 ước khoảng 35,1%

Biểu 1.3: Cơ cấu sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp cấp 2

Đơn vị: %

2000 2002 2003 2005 2006 2007 Ước TỔNG SỐ 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0

A Công nghiệp khai thác 15,8 12,9 13,6 11,2 10,4 9,9

1 Khai thác than 1,2 1,4 1,3 1,6 1,5 1,4

2 Khai thác dầu thô và khí tự nhiên 13,5 10,3 11,1 8,7 8,0 7,6

3 Khai thác quặng kim loại 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1

7 Sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy 1,8 1,9 1,8 1,9 1,9 1,9

8 Xuất bản, in và sao bản ghi 1,2 1,2 1,3 1,3 1,3 1,4

9 Sản xuất than cốc,sản phẩm dầu mỏ tinh chế 0,3 0,2 0,2 0,2 0,2 0,3

10 Sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất 5,1 5,2 5,0 5,6 5,7 5,6

11 Sản xuất SP cao su và plastic 3,1 3,6 3,7 3,9 4,0 4,0

12 Sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác 6,4 6,9 6,6 5,5 5,1 5,0

13 Sản xuất kim loại 2,7 3,2 3,5 3,8 3,7 3,6

14 Sản xuất sản phẩm bằng kim loại (trừ máy móc, thiết bị) 3,0 4,1 4,2 4,6 4,7 4,8

15 Sản xuất máy móc, thiết bị 1,2 1,3 1,4 1,4 1,5 1,4

16 Sản xuất TB văn phòng, máy tính 0,5 0,8 1,1 1,5 1,6 2,0

17 Sản xuất thiết bị điện 2,3 2,9 2,8 3,4 3,5 3,6

18 Sản xuất radio, tivi và TB truyền thông 2,2 2,3 2,3 2,1 2,1 2,0

19

Sản xuất dụng cụ y tế, chính xác,

dụng cụ quang học và đồng hồ các

loại 0,3 0,3 0,3 0,2 0,2 0,2

20 Sản xuất, sửa chữa xe có động cơ 1,7 3,3 3,6 2,9 2,6 2,4

21 Sản xuất, sửa chữa phương tiện vận tải khác 4,0 4,2 4,0 4,5 4,4 4,1

22 Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế 2,2 2,7 3,3 4,1 4,2 4,3

Trang 30

23 Sản xuất sản phẩm tái chế 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1

C Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước 5,5 5,6 5,1 5,6 5,7 5,7

1 Sản xuất và phân phối điện, ga 5,1 5,2 4,8 5,2 5,3 5,3

2 Sản xuất và phân phối nước 0,5 0,4 0,4 0,3 0,4 0,5

(Nguồn: TC Thống kê, Ước 2006, 2007 của Bộ Công Thương)

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng dần, từ 41,3% năm 2000 lên 43,7% năm 2006 và dự kiến đạt 43,8% năm 2007 do tình hình thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng có chuyển biến tích cực hơn

- Trong nội bộ ngành công nghiệp, cơ cấu các ngành trong nội bộ ngành

công nghiệp trong những năm qua chuyển dịch theo hướng tích cực, cụ thể:

+ Tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng dần từ 78,7% năm 2000 lên 83,9

% năm 2006 và dự kiến lên 84,4% năm 2007

+ Tỷ trọng công nghiệp khai thác giảm dần từ 15,8% năm 2000 xuống 10,4% năm 2006 và dự kiến còn 9,9% năm 2007

+ Tỷ trọng ngành sản xuất và phân phối điện ổn định ở mức khoảng 5,6 - 5,7% trong 3 năm 2000 đến 2002, sau đó giảm xuống 5,1% năm 2003 nhưng ngay sau đó năm 2004 tăng lên 5,9% (nguyên nhân của sự tăng này là do có

sự huy động công suất của các nhà máy điện mới), sau đó giữ tương đối ổn định ở mức 5,6 - 5,7%

Nhìn chung, cơ cấu công nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực cả về ngành và về thành phần kinh tế phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và X đã đề ra Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tác tăng lên, ngành công nghiệp chế biến đã bước đầu khai thác được các lợi thế về nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước để nâng cao giá trị sản phẩm xuất khẩu

III.1.4 Về cung cầu các sản phẩm chủ yếu

Căn cứ vào các chiến lược, quy hoạch của các ngành công nghiệp đã được phê duyệt và tham khảo một số dự thảo chiến lược, quy hoạch khác đang trình các cấp có thẩm quyền, dự báo cung cầu năm 2010 các sản phẩm công nghiệp chủ yếu (39 sản phẩm) như trên biểu 1.4 Theo đó:

- Có 20/39 sản phẩm, chiếm 51,3%, cơ bản đáp ứng nhu cầu (khả năng đáp ứng nhu cầu trên 96%) Trong số này có các sản phẩm thiết yếu cho sản xuất và đời sống, như: điện, than, dầu thô, khí đốt, động cơ diesel, máy công

cụ, máy biến thế, phân bón NPK, phân lân, sữa đặc có đường, dầu thực vật, xi măng, xe máy

- Có 19/39 sản phẩm, chiếm 48,7%, chưa đáp ứng nhu cầu (khả năng đáp ứng nhu cầu dưới 96%), cần phải nhập khẩu, như: thép, động cơ điện, máy bơm các loại, sợi, vải lụa, ô tô

Trang 31

Biểu 1.4: Dự báo cung cầu các sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Số

TT Sản phẩm

Đơn vị tính

Sản lượng

2006

Sản lượng

2010

Dự báo nhu cầu đến 2010

Khả năng đáp ứng nhu cầu (%)

7 Động cơ điện các loại 1000 cái 215,0 141,0 150,0 94,0

8 Động cơ diezen 1000 cái 171,5 198,0 200,0 99,0

9 Máy bơm CN Cái 1.200,0 1.534,0 2.500,0 61,4

10 Máy bơm NN Cái 900,0 1.100,0 2.000,0 55,0

11 Máy công cụ Cái 3.233,0 4.496,0 4.000,0 112,4

12 Máy biến thế các loại Cái 52.430,0 58.180,0 59.000,0 98,6

13 Quạt điện các loại 1000 cái 1.387,8 1.853,0 5.000,0 37,1

24 Lốp ô tô máy kéo 1000 cái 1.225,8 4.000,0 4.500,0 88,9

25 Tổng dung lượng ắc quy 1000 kWh 3.879,0 4.507,0 4500 - 5000 100,0

26 Tổng số chất tẩy rửa 1000 tấn 493,3 708,0 700 - 750 100,0

27 Sợi toàn bộ Tấn 265.000,0 373.008,0 790.000 47,2

28 Vải lụa thành phẩm Triệu m 2 575,0 1.100,0 3.500 31,4

29 Quần áo dệt kim các loại Triệu sp 157,5 300,0 250 120,0

30 Quần áo may sẵn Triệu sp 1.212,0 1.908,8 1.800 106,0

31 Giấy bìa các loại 1000 tấn 997,4 1.110,0 1.500 74,0

32 Giầy dép các loại Triệu đôi 262,8 620,0 720,0 86,1

33 Thuốc lá bao các loại Triệu bao 4.029,9 5.300,0 5000 - 5500 100,0

34 Bia các loại Triệu lít 1.547,9 2.580,0 2.500 103,2

35 Sữa đặc có đường Triệu hộp 336,2 476,0 450 105,8

36 Dầu thực vật 1000 tấn 415,0 780,0 660,0 118,2

37 Xi măng 1000 tấn 32.690,0 50.000,0 48.600,0 102,9

38 Xe máy lắp ráp 1000 cái 2.094,0 2.020,0 2.000,0 101,0

39 Ô tô lắp ráp 1000 cái 41,6 186,1 400,0 46,5

(Nguồn: Kế hoạch 5 năm 2006-2010 ngành công nghiệp, Bộ Công Thương)

III.1.5 Về xuất nhập khẩu

a Xuất khẩu: Trong giai đoạn 2001 - 2006, hoạt động xuất khẩu có

những bước phát triển quan trọng, cụ thể:

Trang 32

- Hàng hóa Việt Nam đã thâm nhập được vào một số thị trường mới, nhất là thị trường đầy tiềm năng là Hoa Kỳ

- Tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm 2001 - 2005 đạt 110,8 tỷ USD, bằng 98,94% mục tiêu kế hoạch (là 114 tỷ USD)

- Đến năm 2006 đã có năm (05) nhóm hàng công nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là: dầu thô (8,26 tỷ USD), dệt may (5,83 tỷ USD), giầy dép (3,59 tỷ USD), hàng điện tử và linh kiện máy tính (1,70 tỷ USD) và sản phẩm gỗ (1,93 tỷ USD)

- Kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2006 đạt 39,826 tỷ USD, gấp 2,75 lần kim ngạch năm 2000 Tỷ trọng của hàng công nghiệp đã tăng từ 71% năm

2000 lên 76,1% năm 2006 và ước thực hiện là 77,0% năm 2007

Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu của nước ta giai đoạn 2001 - 2006 tăng mạnh (bình quân đạt 18,4%) là do tác động tăng cả về lượng và giá Theo tính toán, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch tích cực Nhóm hàng CN nặng và khoáng sản tăng 17,3% và chiếm tỷ trọng 35,15% tổng kim ngạch XK; trong đó than đá là mặt hàng tăng cao nhất 46,4%, dầu thô 15,4% Nhóm hàng CN nhẹ và TTCN tăng 22% và chiếm tỷ trọng 40,68%; trong đó hàng may mặc tăng 20,5%, giày dép 15,9%, hàng thủ công

mỹ nghệ 17,6%, sản phẩm gỗ 41,6% (bình quân 5 năm 2002-2006), dây và cáp điện 35,4% (bình quân 5 năm 2002-2006)

Về thị trường, cho đến nay, hàng hóa Việt Nam đã xuất khẩu đến nhiều thị trường trên thế giới Trong đó, các thị trường có kim ngạch lớn gồm: Hoa

Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Australia, ASEAN

Chi tiết về xuất khẩu xem biểu 1.5a, trong đó có cả ước thực hiện năm

2007 với một số chỉ tiêu chính như: tăng trưởng xuất khẩu cả nước so với

2006 là 17,51%; xuất khẩu hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng 76,3% và tăng 18,21%

b Nhập khẩu: Để phục vụ sản xuất và nhu cầu tiêu dùng trong nước,

kim ngạch nhập khẩu cả nước tăng dần qua các năm (xem biểu 1.5b) với tốc

độ tăng bình quân 6 năm 2001 - 2006 là 19,2% năm Sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là vật tư, nguyên liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất; trong đó, các nhóm hàng nhập khẩu tăng cao gồm: linh kiện ô tô tăng 31,6%/năm; thép thành phẩm 24,9%/năm; phôi thép 21,4%/năm; xăng dầu 19,4%/năm; giấy các loại 22,3%/năm; chất dẻo nguyên liệu 25,4%/năm; hoá chất nguyên liệu 22,6%/năm; linh kiện điện tử 18,3%/năm (tốc độ tăng bình quân 6 năm giai đoạn 2001 - 2006) Một số mặt hàng được thống kê từ 2002 cũng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao (bình quân 4 năm 2003 - 2006) như: bông 23,4%/năm; vải 31,2%/năm

Trang 33

Biểu 1.5a: Xuất khẩu hàng hoá công nghiệp

Đơn vị: Triệu USD

TT

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Ước TH

2007 TỔNG SỐ 14.483 15.029 16.706 20.149 26.485 32.447 39.826 48.387

I Phân theo khu vực kinh tế

1 Khu vực kinh tế trong nước 7.672 8.231 8.834 9.988 11.997 13.893 16.812 20.551

2 Khu vực có vốn ĐTNN 6.811 6.798 7.872 10.161 14.488 18.554 23.014 27.836

II Phân theo nhóm hàng

1 Nhóm công nghiệp 10.285 10.616 12.090 15.083 20.513 24.995 30.202 37.201

Tỷ trọng hàng công nghiệp trong tổng XK 71,0% 70,6% 72,4% 74,9% 77,5% 77,0% 76,1% 77,0%

a Công nghiệp nặng và khoáng sản 5.382 5.247 5.304 6.485 9.642 11.701 14.000 19.207

(Nguồn: Bộ Công Thương)

c Vấn đề nhập siêu: Nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu nên nhập siêu

ngày càng lớn, năm 2000 nhập siêu chỉ 1,15 tỷ USD thì đến năm 2006 nhập

siêu đã là 5,06 tỷ USD, gấp 4,38 lần năm so với 2000 và dự kiến năm 2007

còn cao hơn (khoảng 12,3 tỷ USD) Tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu biến

động tăng dần từ năm 2000 (7,98%) lên cao nhất là năm 2003 (18,22%) sau

đó giảm xuống 12,72% năm 2006 Cùng với việc chính thức trở thành thành

viên của WTO, hoạt động nhập khẩu năm 2007 có chiều hướng tăng nên tỷ lệ

nhập siêu so với xuất khẩu dự kiến khoảng 25,6%

Tình trạng nhập siêu tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ

yếu là do xuất khẩu tăng mạnh nên nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, nhiên

liệu, vật liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu cũng tăng theo; ngoài ra, trong

thời gian qua nhiều công trình đầu tư phải nhập khẩu máy móc, thiết bị Bên

cạnh đó, còn do mặt bằng giá cả thế giới liên tục tăng; một số đồng tiền mạnh

(như EURO, JPY) đã tăng giá so với đồng USD; do nhu cầu mua sắm hàng

Trang 34

hóa nhập khẩu để cải thiện cuộc sống của dân cư tăng mạnh; do nhập máy bay

chở khách, ô tô phục vụ Hội nghị ASEM, APEC

Biểu 1.5b: Nhập khẩu hàng hoá công nghiệp

Đơn vị: Triệu USD

1 Ô tô nguyên chiếc các loại 134 197 261 266 323 281 213 523

2 Linh kiện ô tô 97 234 363 571 647 798 505 921

16 Nguyên, phụ liệu dệt may, da giày 1.422 1.589 1.711 2.034 2.253 2.308 1.951 2.187

(Nguồn: Bộ Công Thương)

III.1.6 Lao động ngành công nghiệp

Năm 2000 ngành công nghiệp có hơn 3,3 triệu lao động, chiếm 8,8% tổng số lao động cả nước Trong giai đoạn 2001 - 2006, số lao động trong ngành công nghiệp tăng thêm 2,69 triệu người, nâng tổng số lao động năm

2006 lên gần 6 triệu người, chiếm 13,9% lao động toàn xã hội Tuy nhiên, chất lượng lao động vẫn còn bất cập, lực lượng lao động công nghiệp chưa qua đào tạo, chưa có kỹ năng còn lớn, năng suất lao động chưa cao Một số được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng ít có cơ hội tìm được việc làm phù hợp với nghề nghiệp nên chưa phát huy được năng lực

Về cơ cấu lao động trong các ngành công nghiệp, trong 6 năm tỷ trọng

lao động trong ngành công nghiệp khai thác giảm từ 6,8% (trong tổng số lao động ngành công nghiệp) năm 2000 xuống 4,7% năm 2006; tương tự, ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước giảm từ 2,2% (năm 2000) xuống 2,3% (năm 2006); trong khi đó công nghiệp chế biến tăng từ 91% (năm 2000) lên 93,1% (năm 2006) Việc chuyển dịch cơ cấu lao động

Trang 35

như vậy là hợp lý và phù hợp với đòi hỏi tăng tỷ trọng giá trị ngành công nghiệp chế biến trong giá trị của toàn ngành

Biểu 1.6a: Cơ cấu lao động công nghiệp 2000 - 2006

(Nguồn: TC Thống kê, Bộ Công Thương)

Về năng suất lao động, tính theo giá trị tăng thêm thì năng suất lao động

(NSLĐ) công nghiệp trong 6 năm qua có mức cải thiện đáng kể Năm 2000, bình quân NSLĐ/người/năm của ngành công nghiệp đạt 41,9 triệu đồng; năm

2006 con số này 55,7 triệu đồng, gấp 33,9% năm 2000 Theo phân ngành cấp

1, NSLĐ cao nhất thuộc ngành công nghiệp khai thác mỏ, năm 2006 đạt 344,5 triệu đồng/người/năm; tiếp theo là ngành công nghiệp điện, khí đốt, nước đạt 245,5 triệu đồng/người/năm và thấp nhất là ngành công nghiệp chế biến 36,4 triệu đồng/người/năm

Biểu 1.6b: Năng suất lao động công nghiệp 2000 - 2006 (giá thực tế)

Đơn vị: Triệu đồng/người/năm

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Toàn ngành công nghiệp 41,9 43,4 41,2 44,2 49,3 55,2 56,7

1 Công nghiệp khai thác mỏ 189,7 215,0 183,4 224,0 290,8 360,5 344,5

2 Công nghiệp chế biến 27,2 28,8 28,3 29,2 31,8 35,3 36,4

3 Công nghiệp điện, khí đốt, nước 191,9 203,8 218,2 251,5 237,6 233,0 245,5

(Nguồn: TC Thống kê, Bộ Công Thương)

Về công tác đào tạo lao động ngành công nghiệp, nhìn chung trong

những năm qua, quy mô các bậc học của các trường đào tạo trên cả nước đều tăng Cơ cấu ngành nghề đào tạo ngày càng hợp lý, hiện nay các ngành kỹ thuật và công nghệ chiếm khoảng 80%, sư phạm kỹ thuật chiếm 5%, kinh tế chiếm 15% Chất lượng đội ngũ giáo viên cũng được nâng lên rõ rệt, giáo viên có trình độ trên đại học chiếm khoảng 16%; trình độ đại học chiếm 76,5%; còn lại chiếm 7,5% Nhiều Sở Công nghiệp cũng đã phối hợp với các Viện, Trường trong và ngoài Bộ tổ chức các lớp tập huấn cho các bộ lãnh đạo,

Trang 36

cán bộ quản lý về công tác quản lý nhà nước về công nghiệp; các lớp tập huấn nghiệp vụ kỹ thuật trong các lĩnh vực an toàn điện, vật liệu nổ công nghiệp,

thiết bị áp lực, quản lý điện nông thôn, hội nhập kinh tế quốc tế

III.1.7 Về thực hiện đầu tư

Tổng đầu tư ngành công nghiệp cả nước 6 năm 2001 - 2006 (theo giá thực tế) tăng dần qua các năm, năm 2006 đạt 148.588 tỷ đồng, gấp 2,67 lần so với năm 2000; trong đó 3 năm đầu tiên (2001 - 2003) đạt thấp (224.734 tỷ đồng) 3 năm tiếp theo (2004 - 2006) lượng vốn đầu tư đã tăng khá hơn (394.665 tỷ đồng, gấp 1,76 lần 3 năm trước) Tỷ trọng vốn đầu tư công nghiệp trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội cũng tăng dần từ 36,9% năm 2000 lên 38,9% năm 2004 và 38,7% năm 2005, năm 2006 giảm xuống còn 37,6% và

dự kiến năm 2007 còn 36,7% Nguyên nhân giảm chủ yếu do tình hình thực hiện các dự án gặp nhiều khó khăn (như: giải phóng mặt bằng, giá cả tăng, thủ tục thay đổi, năng lực tư vấn và năng lực nhà thầu còn hạn chế ) Xét về hiệu quả đầu tư (tính theo chỉ số ICOR) của công nghiệp năm 2006 uớc đạt 3,01 cao hơn năm đầu kỳ kế hoạch (năm 2001 là 3,72)

Trong giai đoạn 2001 - 2006 có nhiều công trình đầu tư hoàn thành, được đưa vào sử dụng làm tăng năng lực sản xuất của ngành, đặc biệt là các

dự án ngành năng lượng và công nghiệp nặng như: nhà máy đạm Phú Mỹ; nhà máy thép cán nguội Phú Mỹ, nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2; nhà máy điện

Na Dương; nhà máy điện Cao Ngạn; nhà máy điện Phú Mỹ, nhà máy kẽm điện phân Thái Nguyên

Biểu 1.7a: Thực hiện đầu tư (Giá thực tế)

1 Ngành nông, lâm, thuỷ sản 20.933 16.142 17.539 20.220 22.963 25.749 29.843 33.300

2 Ngành công nghiệp 55.743 63.203 74.244 87.287 113.175 132.902 148.588 171.400

2.1 CN khai thác mỏ 9.588 8.141 7.964 11.343 22.477 26.862 30.563 34.800 2.2 CN chế biến 29.172 38.141 45.337 51.060 58.715 68.297 75.375 87.800 2.3 CN điện, ga khí đốt, nước 16.984 16.922 20.943 24.884 31.983 37.743 42.650 48.800

3 Ngành xây dựng 3.563 9.046 10.490 11.508 11.197 13.202 15.243 17.500

4 Ngành dịch vụ 70.944 82.105 97.872 120.231 143.592 171.282 205.226 239.700

(Nguồn: TC Thống kê, Ước 2007 của Bộ Công Thương)

Biểu 1.7b: Cơ cấu đầu tư

1 Ngành nông, lâm, thuỷ sản 13,85 9,47 8,76 8,45 7,89 7,50 7,48 7,21

2 Ngành công nghiệp 36,87 37,07 37,10 36,48 38,90 38,73 37,25 37,6

2.1 CN khai thác mỏ 6,34 4,77 3,98 4,74 7,73 7,83 7,66 7,53 2.2 CN chế biến 19,30 22,37 22,65 21,34 20,18 19,90 18,90 19,01

Trang 37

2.3 CN điện, ga khí đốt, nước 11,23 9,92 10,46 10,40 10,99 11,00 10,69 10,57

3 Ngành xây dựng 2,36 5,31 5,24 4,81 3,85 3,85 3,82 3,79

4 Ngành dịch vụ 46,93 48,16 48,90 50,25 49,36 49,92 51,45 51,9

(Nguồn: TC Thống kê, Ước 2007 của Bộ Công Thương)

Biểu 1.7c: Chỉ số phát triển vốn đầu tư (Giá cố định 1994)

1 Ngành nông, lâm, thuỷ sản 76,9 105,6 109,2 104,1 108,5 111,1 109,7

2 Ngành công nghiệp 113,1 114,7 111,3 119,0 112,6 108,6 109,7

2.1 Công nghiệp khai thác mỏ 84,7 97,0 140,7 178,1 112,8 109,5 109,7 2.2 Công nghiệp chế biến 130,4 114,9 103,9 101,9 112,9 107,4 109,9 2.3 Công nghiệp điện, ga khí đốt, nước 99,4 122,8 115,6 124,1 112,0 109,9 109,2

3 Ngành xây dựng 253,2 112,9 104,0 92,8 112,7 111,5 111,5

(Nguồn: TC Thống kê, Ước 2007 của Bộ Công Thương)

Riêng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tính từ khi Luật Đầu tư nước

ngoài được thực hiện, từ năm 1988 đến 2006, có 8.266 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 78,25 tỷ USD và tổng vốn pháp định là 32,95 tỷ USD Trong đó, ngành công nghiệp chiếm 66,1% số dự

án , 59,9% vốn đăng ký và 58,5% vốn pháp định Trong nội bộ ngành công nghiệp, về số dự án, công nghiệp khai thác mỏ 1,9%; công nghiệp chế biến 97,7% và công nghiệp điện, khí đốt, nước 0,4%; về vốn đăng ký, công nghiệp khai thác mỏ 7,4%; công nghiệp chế biến 88,5% và công nghiệp điện, khí đốt, nước 4,1%; về vốn pháp định, công nghiệp khai thác mỏ 13,0%; công nghiệp chế biến 84,0% và công nghiệp điện, khí đốt, nước 3,0%

Nhìn chung, nhờ có nhiều thay đổi về mặt luật pháp và các quy định của Nhà nước nên từ 2005, nhất là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO vào tháng 01/2007, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày một tăng và đến nay đã vượt qua ngưỡng 10 tỷ USD/năm Riêng năm 2007, theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào Việt Nam cả cấp mới và tăng vốn đạt khoảng 20,3 tỷ USD, trong đó vốn cấp mới là trên 17,83 tỷ USD, vốn tăng thêm (tính đến 22/12) là 2,47 tỷ USD, tăng 69,2% so với năm 2006 (12 tỷ USD) Đầu tư nước ngoài tiếp tục tập trung chủ yếu vào khu vực công nghiệp và dịch vụ Tính đến ngày 22/12/2007, trong tổng số 1.445 dự án được cấp phép đã có

823 dự án đầu tư vào ngành công nghiệp, bằng 57% tổng số dự án ĐTNN của

Trang 38

Trong giai đoạn 2001 - 2006 (và các tháng đầu năm 2007), ngành công nghiệp đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đã thực sự trở thành động lực cho sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn

có những tồn tại cần được nhìn nhận và khắc phục để có thể phát triển một cách hiệu quả hơn, bền vững hơn trong giai đoạn tới

- Phát triển của công nghiệp tuy đạt tốc độ cao, nhưng chưa thật vững chắc, biểu hiện ở chỗ giá trị gia tăng chưa đạt yêu cầu, tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp bình quân 7 năm 2001 - 2007 ước chỉ đạt khoảng 10,1%/năm Giá trị gia tăng sản xuất và xuất khẩu thấp thể hiện chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của ngành còn chậm cải thiện, chưa phản ứng được một cách hiệu quả trước những thách thức ngày càng tăng từ bên ngoài Ngành công nghiệp phát triển chủ yếu theo bề rộng, tỷ trọng gia công, lắp ráp là chủ yếu Đặc biệt, các ngành may mặc, da giầy, hàng điện tử

và linh kiện xuất khẩu tuy được nhiều về giá trị kim ngạch xuất khẩu, nhưng phần lớn sản xuất bằng vật tư, nguyên phụ liệu nhập khẩu từ nước ngoài Chẳng hạn, giá trị gia tăng xuất khẩu của hàng dệt may khoảng trên 30%, hàng da giày khoảng 20% Công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển và quy hoạch

phát triển ngành này cũng chỉ mới được phê duyệt vào cuối tháng 7 năm

2007

Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp luôn cao hơn tốc độ tăng giá trị tăng thêm, do đó tỷ lệ VA/GO có xu hướng giảm (năm 2000 là 38,45%, năm 2006 còn 27,90% và dự kiến năm 2007 chỉ còn 26,39%)

Tỷ lệ VA/GO (giá cố định 1994)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Ước

2007

VA/GO 38,45% 36,81% 35,00% 33,08% 31,38% 29,63% 27,75% 26,11%

(Nguồn: Bộ Công Thương)

- Công nghiệp khai thác khoáng sản tuy đã giảm về tỷ trọng trong công nghiệp nhưng vẫn còn lớn Xuất khẩu khoáng sản còn chủ yếu ở dạng chế biến thô (chủ yếu là các công đoạn sàng tuyển) nên giá trị gia tăng còn hạn chế Ô nhiễm môi trường trong ngành khai thác khoáng sản chưa được hạn chế có hiệu quả

- Sức cạnh tranh của một số sản phẩm công nghiệp tuy đã được cải thiện một bước, nhiều sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường quốc tế nhưng nhìn chung sức cạnh tranh còn thấp hơn sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực

- Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị nói chung chưa đáp ứng yêu cầu phát triển (ước khoảng 10 - 12%/năm) Công nghệ hiện đại trong các ngành

Trang 39

chiếm tỷ trọng thấp (phổ biến là công nghệ trung bình); ngành sản xuất vật liệu, vật liệu mới mới được hình thành ở giai đoạn đầu

- Tỷ trọng vốn đầu tư cho công nghiệp còn thấp (chiếm 13,1% GDP năm

2001 và tăng lên 15,8% GDP năm 2004 - 2005, sau đó giảm xuống 15,3% năm 2006 và dự kiến 15,1% năm 2007) Hiệu quả đầu tư cho công nghiệp chưa cao, hệ số ICOR giai đoạn 2001 - 2006 dao động trong khoảng 2,72 đến 3,90 (riêng năm 2006 là 3,01 và dự kiến năm 2007 là 3,07)

- Một số dự án đầu tư lớn quan trọng thuộc các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất thực hiện không đạt tiến độ đã tác động xấu tới việc gia tăng năng lực sản xuất cho kỳ kế hoạch tiếp theo

- Tuy đã có một số khởi sắc trong công nghiệp đóng tầu biển, sản xuất

ô tô, thiết bị điện, máy động lực nhiều lĩnh vực khác của ngành cơ khí vẫn còn yếu, nhất là trong sản xuất thiết bị đồng bộ, phụ tùng để tự trang bị cho nội bộ ngành và cho các ngành công nghiệp khác nhằm tiết kiệm ngoại tệ và chủ động trong đầu tư phát triển Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng còn lớn (giai đoạn 2002 - 2006 bình quân nhập 5,24 tỷ USD/năm, chiếm khoảng 16,5% tổng kim ngạch nhập khẩu)

- Chiến lược và quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp tuy đã được xây dựng và phê duyệt; nhiều quy hoạch đã được phê duyệt, song việc thực hiện đầu tư theo quy hoạch chưa được thực hiện nghiêm túc Chưa có cơ chế quản lý chặt chẽ và đồng bộ để các chủ đầu tư và các cơ quan cấp phép

đầu tư phải tuân thủ qui hoạch

- Phát triển công nghiệp trong các vùng kinh tế trọng điểm chưa đủ sức lôi cuốn và tác động lan toả các vùng khác Khoảng cách về phát triển công nghiệp giữa các vùng đồng bằng so với miền núi còn chênh lệch lớn Cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho đầu tư vào các khu vực này còn yếu kém Công nghiệp

ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa chưa được chú trọng đúng mức để

góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, giảm bớt khoảng cách

giầu nghèo giữa nông thôn và thành thị

- Công tác chuẩn bị cho hội nhập ở nhiều doanh nghiệp trong ngành vẫn còn lúng túng, thậm chí một số ít doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước) vẫn còn trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước

III.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế

- Vốn đầu tư cho xây dựng chiến lược, quy hoạch quá thấp Trình độ, phương pháp luận và thông tin còn bị hạn chế nên chất lượng các chiến lược, quy hoạch chưa cao; tiến độ thực hiện và phê duyệt thường bị chậm Một số quy hoạch tuy đã được phê duyệt nhưng do nền kinh tế (cả trong nước và thế giới) phát triển nhanh nên cần phải điều chỉnh

- Cơ chế quản lý nhà nước còn nhiều bất cập và chồng chéo Việc thực hiện chính sách phát triển các thành phần kinh tế còn nhiều hạn chế, chưa

Trang 40

khai thác tốt nội lực trong dân và nguồn vốn bên ngoài Nhiều cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp, đặc biệt các ngành mũi nhọn cũng như phát triển công nghiệp ở các vùng khó khăn không đi vào cuộc sống

- Một số công trình trọng điểm chưa được triển khai đúng kế hoạch đề ra chủ yếu do chậm đổi mới cơ chế quản lý đầu tư, cơ chế đấu thầu theo hướng phân cấp mạnh cho doanh nghiệp; hoặc việc sửa đổi, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng còn thiếu nhất quán, không phù hợp với thực tế quản lý cho nên gây khó dễ cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện Mặt khác, năng lực quản lý của nhiều chủ đầu tư còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý của ngành; chất lượng công tác tư vấn chưa cao; chưa tìm được giải pháp hữu hiệu đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, đền bù nguồn vốn đầu tư cho các dự án, nhất là nguồn vốn tín dụng rất hạn chế, việc thu xếp vốn cho các dự án lớn thường gặp khó khăn kéo dài

- Chủ trương phát huy nội lực là đúng đắn, nhưng còn thiếu các chính sách cụ thể, phù hợp để khai thác nguồn lực trong nước, nhất là vốn Tuy chưa có một số liệu chính xác nhưng ước tính lượng vốn trong dân còn nhiều nhưng chưa khai thác được chủ yếu do thị trường vốn còn chưa phát triển Ngoài ra, trong số lượng vốn đầu tư tư nhân thì đầu tư trực tiếp vào sản xuất chỉ chiếm một phần rất nhỏ, một lượng vốn lớn đang được đầu tư vào đất đai và bất động sản nên chưa phát huy được tính tích cực của nguồn vốn trong dân

- Thu hút đầu tư nước ngoài tuy có tăng dần qua các năm nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra Môi trường đầu tư tuy có được cải thiện nhưng vẫn còn chậm so với các nước trong khu vực Cơ cấu đầu tư còn mất cân đối, kể

cả cơ cấu vùng và ngành Tính bình quân, vốn đầu tư đăng ký vào công nghiệp chỉ đạt 8,6 triệu USD/dự án (vốn pháp định bình quân 3,7 triệu USD/dự án) và tập trung vào các ngành có thời gian hoàn vốn ngắn như công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến thực phẩm Số dự án công nghệ cao do các công ty xuyên quốc gia đầu tư chưa nhiều Công tác tuyên truyền

và xúc tiến đầu tư của Việt Nam còn chưa thật chủ động, chậm đổi mới, hình thức có phần còn đơn giản; việc cung cấp thông tin, tuyên truyền thu hút đầu

tư còn chưa được quan tâm đúng mức

- Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, doanh nhân và đội ngũ công nhân lành nghề chưa được quan tâm, dẫn đến phát triển tự phát, thiếu định hướng

- Cải cách hành chính thực hiện chưa đạt yêu cầu, chưa thực sự tạo thuận lợi và góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp như là trong các khâu thủ tục đầu tư, cấp đất, thông quan, hoàn thuế…

Ngày đăng: 15/05/2014, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Điểm số về ảnh hưởng của các ngành - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Bảng 2.1 Điểm số về ảnh hưởng của các ngành (Trang 47)
Bảng 2.2: Hệ số mức độ ảnh hưởng r ij - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Bảng 2.2 Hệ số mức độ ảnh hưởng r ij (Trang 48)
Bảng 2.4: Ma trận hệ số tổng thể (b ij ), i,j = 1÷12 - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Bảng 2.4 Ma trận hệ số tổng thể (b ij ), i,j = 1÷12 (Trang 50)
Bảng 2.5: Mức độ quan trọng R i  của các D i - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Bảng 2.5 Mức độ quan trọng R i của các D i (Trang 51)
Bảng 2.6 (trang 52). - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Bảng 2.6 (trang 52) (Trang 53)
Bảng 2.10: Mức độ quan trọng R i  của các D i - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Bảng 2.10 Mức độ quan trọng R i của các D i (Trang 54)
Bảng 2.6: Điểm số về  ảnh hưởng của các ngành - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Bảng 2.6 Điểm số về ảnh hưởng của các ngành (Trang 55)
Bảng 2.7: Hệ số mức độ ảnh hưởng r ij - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Bảng 2.7 Hệ số mức độ ảnh hưởng r ij (Trang 56)
Bảng 2.9: Ma trận hệ số tổng thể  (b ij ), i,j = 1÷11 - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Bảng 2.9 Ma trận hệ số tổng thể (b ij ), i,j = 1÷11 (Trang 58)
Bảng 2.12: Năng lực sản xuất ngành da giầy theo thành phần kinh tế - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Bảng 2.12 Năng lực sản xuất ngành da giầy theo thành phần kinh tế (Trang 70)
Hình chân không, rót đổ định hình, nhúng ...)  900 chiếc 15% - Đề án Xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp chủ lực tầm nhìn  2025 và các chính sách khuyến khích phát triển trong môi trường hội nhập
Hình ch ân không, rót đổ định hình, nhúng ...) 900 chiếc 15% (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w