1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam

108 485 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức Hệ Thống Phân Phối Mặt Hàng Thép Xây Dựng Ở Việt Nam
Tác giả Cử Nhân Lê Thị Kim Ngân, Tiến Sĩ Nguyễn Thị Nhiễu, Cử Nhân Vũ Viết Tụy, Cử Nhân Lê Thị Hồng
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kinh doanh Nông nghiệp
Thể loại đề tài khoa học cấp bộ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục Nội dung Trang2 Vị trí, vai trò của HTPP mặt hàng phân bón 14 2.1 Vai trò của HTPP phân bón đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường 14 2.2 Vai trò của hệ thống phân phối đố

Trang 1

VỤ THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

===***===

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ

MSKH: 2007-78-023

Tên đề tài: Tổ chức hệ thống phân phối mặt

hàng phân bón ở Việt Nam

Ban chủ nghiệm đề tài:

Chủ nhiệm đề tài : Cử nhân Lê Thị Kim Ngân

Thành viên : Tiến sĩ Nguyễn Thị Nhiễu

7330

04/5/2009

Hà Nội, 12/2008

Trang 2

Mục Nội dung Trang

2 Vị trí, vai trò của HTPP mặt hàng phân bón 14

2.1 Vai trò của HTPP phân bón đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường 14

2.2 Vai trò của hệ thống phân phối đối với việc tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp 15

2.3 HTPP phân bón giữ vai trò quyết định đối với việc đảm bảo ổn định đầu vào cho sản xuất nông nghiệp 17

II TỔ CHỨC HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG PHÂN BÓN 17

1 Đặc điểm và các yếu tố cần thiết của tổ chức HTPP

1.1 Nhóm yếu tố thuộc tính và đặc điểm thương phẩm của mặt

1.3 Những yếu tố liên quan tới nhu cầu 18

2 Một số nguyên tắc cơ bản tổ chức HTPP mặt hàng phân bón 19

3 Xây dựng mô hình cấu trúc HTPP mặt hàng phân bón 21

1 Quản lý HTPP mặt hàng phân bón của doanh nghiệp 23

2 Quản lý Nhà nước đối với HTPP mặt hàng phân bón 24

IV KINH NGHIỆM TỔ CHỨC HTPP PHÂN BÓN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 25

1 Kinh nghiệm của một số nước về tổ chức hệ thống phân

TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 39

I THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG PHÂN BÓN CỦA VIỆT NAM 39

1 Tình hình sản xuất và cung ứng phân bón 39

Trang 3

1.2 Nhập khẩu phân bón 41

1.3 Đặc điểm tiêu dùng và nhu cầu tiêu thụ phân bón tại Việt Nam 42

2 Diễn biến giá phân bón trên thị trường Việt Nam thời gian qua 45

3 Những yếu tố tác động tới thị trường và hệ thống phân phối phân bón thời gian qua 48

II THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI PHÂN BÓN 50

1 Quá trình hình thành và phát triển HTPP phân bón ở nước ta 50

2 Cơ chế chính sách quản lý nhà nước đối với hệ thống

2.1

Hệ thống văn bản pháp luật chung về quản lý hoạt động

thương mại có liên quan đến phát triển HTPP mặt hàng

2.2 Hệ thống các văn bản liên quan đến cơ chế chính sách về điều

hành thị trường nội địa liên quan đến kinh doanh phân bón 58

3 Một số mô hình tổ chức hệ thống phân phối của các

doanh nghiệp kinh doanh phân bón lớn hiện nay 61

3.1 Kênh phân phối phân bón của Tổng công ty Vật tư nông nghiệp 61

3.2 Hệ thống phân phối của Công ty CP phân đạm và hóa chất dầu khí Phú Mỹ 64

4 Đánh giá chung về thực trạng hệ thống phân phối phân bón 69

CHƯƠNG

III

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT

HÀNG PHÂN BÓN Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010 VÀ ĐỊNH

I DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG PHÂN BÓN THỜI GIAN TỚI 72

1 Xu hướng của thị trường phân bón thế giới 72

1.2 Dự báo triển vọng cung ứng 75

1.3 Cán cân cung cầu phân bón thế giới và triển vọng giá phân bón thế giới 76

2 Dự báo thị trường phân bón Việt Nam 78

2.2 Chiến lược phát triển ngành hóa chất của Việt Nam tới năm 2010 và mục tiêu sản xuất phân bón 80

2.3 Dự báo nhập khẩu phân bón của Việt Nam trong thời gian tới 81

3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển

của hệ thống phân phối hàng phân bón 82

3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất

nước, đặc biệt là phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam 82

3.2 Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đối với phát 83

Trang 4

3.3 Đặc điểm và tính chất của mặt hàng phân bón, đặc điểm

3.4 Sự phát triển của các doanh nghiệp, nguồn lực của

3.5 Các điều kiện tự nhiên và xã hội khác 84

II QUAN ĐIỂM VỀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG PHÂN BÓN THỜI GIAN TỚI 85

1 Tổ chức HTPP phân bón phải đảm bảo sự vận hành

theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước 85

2

Phát triển hệ thống phân phối phân bón của Việt nam

phải dựa trên quan điểm chủ động hội nhập kinh tế

3

Tổ chức HTPP phân bón phải trên quan điểm lịch sử

cụ thể, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa

hệ thống cấu trúc và phương thức phân phối mặt hàng

phân bón

86

4

Tổ chức HTPP phân bón phải đảm bảo tạo thuận lợi

và lưu thông thông suốt mặt hàng phân bón đáp ứng

tốt các yêu cầu của một nền nông nghiệp sản xuất

hàng hoá lớn, thâm canh tăng năng suất, cải tiến chất

lượng và hiệu quả cao

86

III

GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THIỆN TỔ

CHỨC HTPP MẶT HÀNG PHÂN BÓN TRONG THỜI

GIAN TỚI

88

1 Định hướng tổ chức HTPP mặt hàng phân bón 88

1.1

Xây dựng và củng cố hệ thống phân phối của các doanh

nghiệp sản xuất và cung ứng phân bón có quy mô lớn theo

1.2

Xây dựng và phát triển hệ thống phân phối bán lẻ phân

bón do nhà bán buôn lãnh đạo và quản lý, phát triển các

liên kết theo mô hình Hợp tác xã

90

2 Giải pháp đối với quản lý nhà nước 93

2.3 Cơ sở hạ tầng quốc gia về phân phối 96

2.4 Hỗ trợ đào tạo nhân lực 97

Trang 5

DANH SÁCH VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT NỘI DUNG

HHPB Hiệp hội phân bón

HĐH Hiện đại hóa

QLNN Quản lý nhà nước

HTPP Hệ thống phân phối

FAO Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc

VTNN Vật tư nông nghiệp

CP Cổ phần

NFACA Liên minh Hợp tác xã nông nghiệp quốc

gia Nhật Bản PEFAC Liên minh HTX cấp tỉnh của Trung Quốc HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp

CNAMPGC Tổng công ty vật tư nông nghiệp quốc gia

Trung Quốc AMPCs Công ty vật tư nông nghiệp Trung Quốc

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Nông nghiệp Việt Nam hơn 20 năm đổi mới đã phát triển toàn diện

cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản Nông nghiệp nước ta đã đáp ứng cơ bản nhu cầu lương thực và thực phẩm trong nước, an ninh lương thực đảm bảo, đã hình thành những vùng sản xuất nông sản hàng hóa qui mô tương đối lớn, tỷ suất hàng hóa tăng nhanh, tỷ lệ gạo xuất khẩu đạt hơn 20% sản lượng, cà phê 95%, cao su 80%, chè 60% Một số mặt hàng nông sản đã khẳng định vị thế trên thị trường thế giới như gạo (đứng thứ hai trên thế giới); cà phê (thứ 2), điều, hồ tiêu (thứ nhất) Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp và kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, nhất là các sản phẩm trồng trọt đã tăng trưởng đều hàng năm

Qua hàng ngàn năm dãi nắng, dầm mưa, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời vận lộn với đất đai để tồn tại và phát triển, cha ông chúng ta đã

đúc kết câu ” Nhất Nước, Nhì Phân, Tam Cần, Tứ Giống” cho nghề trồng

lúa nước Việt Nam Phân bón là các hợp chất được cung cấp cho thực vật

để đẩy mạnh tăng trưởng Phân bón thường được trộn vào đất để cây hấp thụ bằng rễ, hoặc phun để cây hấp thụ qua lá Vì vậy, phân bón là một loại vật tư thiết yếu, là một trong những nhân tố quan trọng trong cấu thành giá bán sản phẩm trồng trọt

Cùng với sự phát triển mạnh của nền kinh tế và lợi thế của Việt Nam trong phát triển các sản phẩm nông nghiệp thì nhu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế của sản phẩm trồng trọt luôn được quan tâm hàng đầu Khoáng sản, đất đai luôn có giới hạn nên cùng với việc phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, việc sử dụng phân bón có hiệu quả sẽ có vai trò quan trọng để nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng Việt Nam, khẳng định vị thế của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới Việc tổ chức cung ứng phân bón đúng chủng loại, mùa vụ đối với từng loại cây trồng với chất lượng đảm bảo và giá cả hợp lý đến tận tay người nông dân sẽ góp phần tăng năng suất cây trồng, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp

Hệ thống phân phối phân bón của Việt Nam thời gian qua mặc dù đã được Nhà nước và các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu phân bón trong nước quan tâm xây dựng, nhưng do còn nhiều lý do như thiếu sự liên kết lành mạnh giữa các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh, giữa các địa phương nên kinh doanh phân bón còn qua nhiều cấp trung gian, chồng chéo, cơ quan quản lý khó kiểm soát được giá bán và chất lượng phân bón đến người nông dân mà nguyên nhân sâu xa là việc sản xuất, kinh doanh phân bón trong nước còn manh mún, rời rạc, phân tán, kinh doanh chụp

Trang 7

giật theo từng lô hàng ít doanh nghiệp nào có chiến lược kinh doanh phân bón ổn định, dài hạn, khẳng định thương hiệu của mình một cách bền vững Theo cam kết WTO, từ ngày 1/1/2009, mọi hạn chế đối với các công ty phân phối, bán lẻ 100% vốn nước ngoài sẽ được dỡ bỏ Tuy nhiên, trên cơ sở những hàng rào kỹ thuật được phép áp dụng, Việt Nam chưa mở cửa thị trường bán lẻ ngay lập tức các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu, dược phẩm, sách báo Các mặt hàng khác như sắt thép, xi măng, phân bón

sẽ lùi thời điểm mở cửa đến 3 năm sau Đây là thách thức, là cơ hội mới đối với các doanh nghiệp kinh doanh phân bón trong nước Trong vòng 3 năm tới nếu chúng ta không chủ động tổ chức tốt hệ thống phân phối phân bón trong nước theo hướng tiên tiến, hiện đại, phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp thì không chỉ các doanh nghiệp kinh doanh phân bón trong nước bị phá sản

mà bản thân ngành sản xuất phân bón trong nước cũng bị phụ thuộc vào các tập đoàn nước ngoài

Xuất phát từ yêu cầu đó, Bộ Công Thương đã giao cho Vụ Thị

trường trong nước thực hiện đề tài nghiên cứu “Tổ chức hệ thống phân

phối mặt hàng phân bón ở Việt Nam” Đây là một yêu cầu hết sức cấp

thiết nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển thị trường một cách có trật tự, lưu thông thông suốt, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả của phân phối; đảm bảo sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu phân bón phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, thực hiện mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

Vì vậy, mục tiêu của đề tài là phải đề xuất được phương hướng

và các giải pháp đổi mới tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón của Việt Nam trong thời gian tới để đưa phân bón đến tay người nông dân

có giá rẻ nhất, đảm bảo chất lượng và có hiệu quả nhất nhằm góp phần phát triển mạnh nền kinh tế Việt Nam, trong đó có ngành nông nghiệp và nâng cao mức sống của nông dân Việt Nam

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Đề tài: nghiên cứu phương

thức tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở Việt Nam nói chung

và tập trung nghiên cứu hệ thống phân phối mặt hàng phân bón urê nói riêng trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay (do đây là mặt hàng phân bón quan trọng , chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sử dụng); nghiên cứu dòng lưu chuyển phân bón từ nhà sản xuất/nhập khẩu tới người tiêu thụ cuối cùng qua các trung gian phân phối; sự liên kết giữa các mắt xích trong hệ thống,

cơ chế vận hành của hệ thống và tác động của quản lý, điều tiết vĩ mô tới

hệ thống phân phối phân bón

Phương pháp nghiên cứu của đề tài: dựa trên những cơ sở lý luận

về lưu thông hàng hóa; khảo sát, thu thập số liệu về sản xuất, thị trường, hệ

Trang 8

thống phân phối phân bón vô cơ (chủ yếu đối với phân ure) của Việt Nam hiện nay kết hợp với phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh, tổng hợp

để đưa ra những đánh giá, những đề xuất đối với việc tổ chức hệ thống phân phối phân bón

Kết cấu của đề tài: ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3

BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

Trang 9

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM TỔ CHỨC HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG PHÂN BÓN

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG PHÂN BÓN

1 Khái niệm và phân loại

1.1 Khái niệm và phân loại hệ thống phân phối chung

Theo quan điểm quản lý vĩ mô thì hệ thống phân phối (HTPP) là một

hệ thống kinh tế - kỹ thuật có chức năng làm phù hợp cung cầu hàng hoá trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế Tổ chức hệ thống phân phối vĩ mô là một

quá trình xã hội xác lập, định hướng và điều tiết dòng chảy hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế từ người sản xuất đến người tiêu dùng nhằm đảm bảo cung cầu phù hợp và đạt các mục tiêu của xã hội

Như vậy, HTPP là một tập hợp xác định các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người sử dụng hoặc tiêu dùng cuối cùng Nói cách khác, HTPP là hệ thống quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng HTPP là một hệ thống các mối quan hệ tồn tại giữa các tổ chức

có liên quan trong quá trình mua và bán hàng hoá HTPP là một đối tượng phải tổ chức và quản lý của các doanh nghiệp, cũng là đối tượng quản lý vĩ

mô của Nhà nước và tạo nên hệ thống thương mại phức tạp trên thị trường Trên giác độ vi mô, HTPP (trong thuật ngữ marketing thường dùng là kênh phân phối) được coi là đường đi của sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng,

nó được mô tả như là các hình thức liên kết của các doanh nghiệp để cùng

thực hiện một mục đích thương mại “Kênh phân phối là tập hợp các công

ty và cá nhân có tư cách tham gia vào quá trình lưu chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng” (Stern LW & El-Ansary AI -1992)

HTPP hàng hoá của doanh nghiệp còn được hiểu là một tập hợp cấu

trúc lựa chọn có chủ đích mục tiêu giữa các nhà sản xuất, các trung gian thương mại với người tiêu dùng cuối cùng để tổ chức phân phối và vận động hàng hoá hợp lý nhất cho tập khách hàng tiềm năng trọng điểm trực tiếp và cuối cùng của doanh nghiệp

Một sản phẩm sẽ đi theo nhiều con đường khác nhau từ người sản xuất đến người tiêu dùng Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc phân phối sản phẩm có thể được thực hiện bằng nhiều kênh khác nhau tuỳ theo

Trang 10

đặc điểm của sản phẩm, nguồn lực của doanh nghiệp, cách thức tổ chức hoạt động marketing của doanh nghiệp Nếu xét một cách tổng thể, các HTPP sản phẩm của các doanh nghiệp có cấu trúc như các hệ thống mạng lưới do chúng gồm nhiều doanh nghiệp độc lập và phụ thuộc vào nhau cùng các tác nhân có liên quan đến nhau trong quá trình hoạt động phân phối hàng hoá Còn nếu tiếp cận theo các lát cắt cụ thể thì có 3 cách thức tiếp cận chủ yếu như sau:

- Tiếp cận dọc

Theo cách tiếp cận dọc, có các loại hình kênh chủ yếu như sau:

+ Kênh đơn giản nhất là kênh người sản xuất hoặc nhà nhập khẩu

bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, còn gọi là kênh ngắn, kênh trực tiếp hay kênh không cấp Đối với loại kênh trực tiếp này ưu thế rõ rệt của

nó là đẩy nhanh tốc độ lưu thông, đảm bảo sự giao tiếp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, tăng cường trách nhiệm thị trường và bảo đảm tính chủ đạo của sản xuất trong kênh phân phối Tuy nhiên, loại kênh này có nhiều mặt hạn chế và bất lợi như hạn chế về trình độ chuyên môn hoá sản xuất, đòi hỏi đầu tư và quản lý hệ thống kinh doanh tiêu thụ hàng hoá và sản xuất ra rất lớn và rất phức tạp, khó có thể mở rộng kênh khi mà

số lượng và chủng loại mặt hàng tăng lên, thị trường tiêu thụ được mở rộng

ra

+ Kênh cấp 1 là kênh dọc từ nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu qua

nhà bán lẻ và đến người tiêu dùng Ưu điểm của loại kênh này là một mặt vẫn phát huy được ưu thế của loại hình kênh trực tiếp, mặt khác nó giải phóng cho nhà sản xuất chức năng lưu thông để chuyên môn hoá và phát triển năng lực sản xuất của mình, đảm bảo một trình độ xã hội hoá cao hơn,

ổn định và hợp lý hơn trong xúc tiến bán hàng Tuy nhiên, loại kênh này vẫn bị hạn chế ở chỗ chưa phát huy triệt để các ưu thế của phân công lao động xã hội trình độ cao, các nhà sản xuất và bán lẻ đôi khi kiêm cả chức năng bán buôn và do vậy làm hạn chế trình độ xã hội hoá của lưu thông, hạn chế đến hiệu quả và tính hợp lý của phân bố hàng hoá dự trữ ở các kênh Vì vậy, loại hình này chỉ áp dụng có hiệu quả đối với một số kiểu bán

lẻ nhất định, một số mặt hàng đơn giản xác định, trong những khoảng cách không gian so với điểm phát luồng hàng hoá nhất định, phục vụ cho một số loại nhu cầu thường xuyên, ổn định của người tiêu dùng xác định

+ Kênh cấp 2 là kênh dọc từ nhà sản xuất- nhà bán buôn - nhà bán lẻ

– người tiêu dùng Đây là loại hình kênh phân phối phổ biến nhất trong phân phối hàng công nghiệp tiêu dùng bởi phần lớn các nhà sản xuất hàng hoá này đều chỉ có một sản lượng không lớn trong danh mục mặt hàng trên thị trường và cũng không có khả năng giao tiếp trực tuyến với hàng ngàn

Trang 11

cửa hàng bán lẻ được phân bố rộng khắp trên thị trường tổng thể Trong trường hợp này nhà sản xuất thường tổ chức giao tiếp với các nhà bán buôn

để thực hiện việc mua bán buôn, tập hợp, chỉnh lý, dự trữ hàng hoá và làm hậu cần cho thị trường bán lẻ tổng hợp

+ Kênh cấp 3 là kênh dọc từ nhà sản xuất - nhà bán buôn - đại lý bán

buôn - nhà bán lẻ – người tiêu dùng Kiểu kênh phân phối dạng này có thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu phân công xã hội về lao động giữa cả sản xuất và lưu thông, trong nội bộ lưu thông; cho phép xã hội hoá tối đa hoạt động thương mại trên mọi vị trí thị trường bán lẻ và ở mọi điểm phân bố dân cư Quy mô và sự chuyên môn hoá càng cao, cơ cấu mặt hàng càng phức tạp, trình độ xã hội hoá thị trường càng lớn thì quy mô loại hình kênh này càng lớn, và vai trò điều chỉnh luồng hàng và tốc độ vận động của dòng chảy trong kênh càng cao Tuy nhiên, loại hình kênh này cũng chứa đựng những mạo hiểm và hạn chế trên nhiều mặt, nếu không được tổ chức và điều hành tinh vi, hợp lý và khoa học thì có thể sẽ làm kéo dài bất hợp lý thời gian lưu thông và làm phân đoạn cũng như phân nhánh luồng hàng của kênh, gây khó khăn trong việc kết hợp các dòng thành tố của kênh, có nguy cơ tăng chi phí tổng cộng của phân phối

- Tiếp cận ngang

Trên các cấp độ nào của kênh dọc cũng có thể có sự rẽ ngang và tạo thành các kênh ngang theo phạm vi nhóm mặt hàng kinh doanh hay theo phương pháp công nghệ kinh doanh và dịch vụ phục vụ Về thực chất khía cạnh tiếp cận ngang cho phép trên mỗi đoạn phân phối có thể định hướng các loại bạn hàng khác và tạo lập các biến thể ngang của kênh phân phối

Theo cách tiếp cận ngang có thể nhận thấy sự liên kết và hội tụ của các cơ sở kinh doanh trên cùng một mặt bằng hoặc một mức kênh phân phối dọc để tạo nên một cấu trúc mới trong hệ thống kênh phân phối hàng hoá Điển hình nhất là sự liên kết và hội tụ của các nhà bán lẻ tại các chợ hoặc tại các trung tâm thương mại hoặc siêu thị, của các nhà bán buôn tại các sàn giao dịch hay sở mua bán hàng hoá Theo cách tiếp cận ngang còn nhận thấy các sự liên kết và hội tụ của các hoạt động chung trong một lĩnh vực cụ thể, hoặc ở một khâu tác nghiệp xác định, hoặc liên minh theo một thoả ước thương mại xác định Chẳng hạn như chợ nguyên liệu, hội chợ theo ngành hàng Ngoài ra, còn có các quan hệ không gian ngang được hình thành khi các loại hình cơ sở trung gian cùng nối kết với nhau trong quan hệ người bán lẻ – bán buôn xảy ra do tính kế cận và phụ thuộc của một cơ sở bán lẻ vào hoạt động của trung tâm bán buôn

Về mặt lý thuyết, ưu điểm của các kênh ngang được tổ chức là tạo ra

sự tương hỗ lẫn nhau làm cho dòng hàng hoá trong mỗi kênh riêng lẻ có thể

Trang 12

chảy nhanh hơn, quy mô của từng kênh riêng lẻ có thể phát triển Tuy nhiên, hạn chế của nó là có thể tạo ra xung đột giữa các kênh riêng lẻ với nhau nhằm thu hút khách hàng về mình Để giải quyết mâu thuẫn này cần phải có các Hiệp hội được tổ chức một cách phù hợp

- Tiếp cận theo chức năng của các trung gian phân phối

Các trung gian phân phối bao gồm các thể nhân và pháp nhân kinh tế hợp thức đứng giữa nhà sản xuất và nhà tiêu dùng thực hiện chức năng phân phối hàng hoá để tìm kiếm lợi nhuận cho họ Theo chức năng của các trung gian phân phối, thường có 2 loại trung gian phân phối là trung gian bán buôn và trung gian bán lẻ Ngoài ra, trong thực tế còn có trung gian thương mại vừa bán buôn và kiêm cả bán lẻ, khi đó họ sẽ được coi là trung gian bán buôn hay trung gian bán lẻ là tuỳ thuộc vào tỷ trọng bán buôn và bán lẻ cao thấp khác nhau

Các trung gian bán buôn sẽ bao gồm 3 loại chủ yếu là: Nhà bán buôn

sở hữu hàng hoá thực sự; các đại lý, môi giới và nhà bán buôn hưởng hoa hồng; và các chi nhánh, văn phòng đại diện của các nhà sản xuất

Các trung gian bán lẻ thường có số lượng lớn hơn, lĩnh vực hoạt động và các hình thái tổ chức lại đa dạng hơn Có thể phân chia thành các nhà bán lẻ truyền thống và hiện đại; các nhà bán lẻ độc lập và các nhà bán

lẻ liên kết; nhà bán lẻ chuyên doanh và nhà bán lẻ tổng hợp

1.2 Hệ thống phân phối phân bón

1.2.1 Khái niệm:

Từ định nghĩa chung về HTPP, có thể định nghĩa HTPP phân bón

trên bình diện vĩ mô là hệ thống quan hệ của các tổ chức và cá nhân tham

gia vào quá trình lưu thông mặt hàng phân bón từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng dưới sự định hướng và điều tiết vĩ mô của Nhà nước nhằm đảm bảo cung cầu phù hợp và đạt các mục tiêu phát triển kinh

tế xã hội

Đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón, HTPP của

doanh nghiệp có thể được định nghĩa là tập hợp cấu trúc lựa chọn có chủ

đích các nhà sản xuất, các trung gian thương mại và người tiêu dùng cuối cùng trong hệ thống dòng chảy mặt hàng phân bón từ doanh nghiệp tới khách hàng mục tiêu nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng và đem lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp

1.2.2 Phân loại:

HTPP phân bón là hệ thống phân phối một mặt hàng cụ thể Vì vậy, việc phân loại hệ thống phân phối phân bón về cơ bản cũng gồm các cách

Trang 13

cách tiếp cận phân loại hệ thống phân phối hàng hoá chung là (1) tiếp cận phân loại theo chiều dọc, (2) tiếp cận phân loại theo chiều ngang và (3) tiếp cận theo chức năng trung gian phân phối Ở đây, chúng tôi sử dụng cách tiếp cận dọc để phân loại HTPP phân bón Theo cách tiếp cận này, HTPP phân bón có thể bao gồm bốn dạng cấu trúc kênh như sau:

- Kênh trực tiếp: ở kênh này, nhà sản xuất bán thẳng hàng cho khách

hàng là các khách hàng tiêu dùng lớn phân bón như các nông trường, trang trại lớn chẳng hạn Kênh trực tiếp này ít xuất hiện trong hệ thống phân phối phân bón Do đặc điểm, phân hoá học chủ yếu được sản xuất ở quy mô công nghiệp lớn, tập trung trong khi người tiêu dùng phổ biến là các hộ nông dân nhỏ và trải rộng khắp đất nước

- Kênh cấp 1: Hàng hoá ở kênh này được đưa từ nhà sản xuất đến

các đại lý để phân phối cho khách hàng

- Kênh cấp 2: Hàng được phân phối qua môi giới đến nhà buôn hàng

công nghiệp rồi đến khách hàng công nghiệp

- Kênh đa cấp: ở kênh này, hàng được đưa từ nhiều nhà sản xuất qua

một nhà bán buôn hàng công nghiệp, sau đó đến các nhà buôn khác, đến các nhà bán lẻ và cuối cùng đến người nông dân sử dụng phân bón

Ngoài ra, tuỳ theo mức độ liên kết giữa các thành viên trong hệ thống, các hệ thống phân phối phân bón còn có thể chia thành 2 kiểu tổ chức hệ thống phân phối chính là các hệ thống phân phối truyền thống và các hệ thống marketing liên kết dọc (LKD) (Vertical marketing systems: VMS)

- Các hệ thống phân phối truyền thống (hệ thống phân phối hình thành ngẫu nhiên)

Các hệ thống phân phối truyền thống chính là các dòng vận động của hàng hoá trên thị trường hình thành ngẫu nhiên, tự phát Các doanh nghiệp

và cá nhân tham gia vào hệ thống phân phối truyền thống không muốn phụ thuộc lẫn nhau quá nhiều trong quá trình kinh doanh Vì lợi ích kinh tế mà mỗi người thường tập trung hoạt động của họ vào một số công việc cụ thể của hệ thống phân phối Những người tham gia vào các hệ thống phân phối

tự phát tìm kiếm lợi ích bất cứ khi nào, ở đâu và bằng mọi cách có thể Họ cũng tìm cách cải tiến những quan hệ phân phối cho hiệu quả nhưng không

có trách nhiệm đầy đủ trước kết quả cuối cùng của hệ thống phân phối Chính cơ chế thị trường tự do và tín hiệu giá cả đã tạo nên các hệ thống phân phối truyền thống Ví dụ về hệ thống phân phối truyền thống là các nhà trung gian thương mại sẵn sàng tham gia vào quá trình đưa sản phẩm

từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao Nhiều trung gian thương mại mua và bán bất cứ loại hàng hoá nào nếu thấy có chênh lệch giá và lợi nhuận

Trang 14

Các quan hệ buôn bán trong các hệ thống phân phối truyền thống thường không liên tục và ổn định Các thành viên chỉ tham gia vào mua bán trong hệ thống khi họ vẫn thấy còn có thể thu được lợi nhuận Các thành viên sẽ tự rời bỏ hệ thống phân phối nếu thấy lợi ích không còn Bởi vậy, các hệ thống phân phối truyền thống có thể bị phá vỡ nhanh chóng bởi một thành viên nào đó nếu họ thấy quan hệ kinh doanh không còn hấp dẫn Có thể mô tả hệ thống phân phối truyền thống như một tập hợp ngẫu nhiên các doanh nghiệp và cá nhân độc lập về chủ quyền và quản lý và mỗi người đều ít quan tâm đến hoạt động của cả HTPP Đó là một mạng lưới rời rạc, kết nối một cách lỏng lẻo các nhà sản xuất, bán buôn, bán lẻ hoạt động độc lập có buôn bán trực tiếp với nhau, tích cực thương lượng về các điều khoản mua bán Nhược điểm của các HTPP này là thiếu sự lãnh đạo tập trung, hiệu quả hoạt động kém và có nhiều xung đột tai hại

Phần lớn HTPP phân bón từ nhà sản xuất đến người sử dụng ở Việt Nam hiện nay là theo kênh truyền thống, quan hệ buôn bán theo từng

thương vụ, một số theo phương thức đấu thầu Mối liên kết trong hệ thống lỏng lẻo, các quan hệ hình thành tự phát, đàm phán chủ yếu về giá cả Các thành viên là các nhà sản xuất và các nhà nhập khẩu cạnh tranh quyết liệt với nhau và đều muốn có sự can thiệp về phía Nhà nước sao cho có lợi cho mình Cũng như với các nhà cung ứng, các nhà bán buôn và bán lẻ ít quan tâm đến việc tạo lập quan hệ lâu dài với khách hàng của mình Các doanh nghiệp đều tìm kiếm và bán hàng cho mọi loại khách hàng kể cả các khách hàng ngoài hệ thống miễn là giá cả và các điều kiện thanh toán tiện lợi hơn

Số lượng của các cơ sở kinh doanh lớn nhưng phần lớn chưa tham gia vào một hệ thống phân phối xác định Tính đến hết năm 2005, trên địa

bàn cả nước đã có trên 13 ngàn cơ sở kinh doanh lưu thông PBHH, bao gồm các cơ sở của doanh nghiệp và cơ sở cá thể Tuy nhiên các cơ sở kinh doanh này hoặc không tham gia vào hệ thống nào, hoặc tham gia vào một

số hệ thống khác nhau song nhìn chung sự liên kết của họ đối với hệ thống rất lỏng lẻo Một số cơ sở, đặc biệt là cơ sở của doanh nghiệp bước đầu đã liên hệ với nhau theo chuỗi liên kết hình thành một hệ thống từ nhà sản xuất trong nước, nhà nhập khẩu đến các cơ sở bán buôn và cuối cùng là mạng lưới các cơ sở bán lẻ song nhìn chung không ổn định

Do không phát triển tổ chức và lựa chọn phương thức quản lý phù hợp nên các chủ thể tham gia trong khâu lưu thông mặt hàng phân bón thường không tuân theo mục tiêu tổ chức lưu thông đối với sản phẩm Cấu trúc mạng lưới tiêu thụ của nhiều doanh nghiệp không định hình nên sản phẩm có thể đến với khách hàng theo nhiều kênh khác nhau, sự vận động của hàng hoá mang tính tự phát Hệ thống tổ chức lưu thông có cấu trúc phổ biến là các kênh tổ chức lưu thông có nhiều cấp trung gian, hình thành

Trang 15

tự phát, như bán buôn thường có 2-3 cấp, nhiều kênh qua cấp tổng đại lý hoặc nhà tổ chức lưu thông chính tới các nhà tổ chức lưu thông khu vực, các nhà bán buôn, bán lẻ làm hàng hoá không đến đúng nơi cần, chi phí lưu thông tăng làm hiệu quả tổ chức lưu thông giảm

- Các hệ thống marketing liên kết dọc:

Các hệ thống marketing LKD là các hệ thống phân phối có chương trình trọng tâm và quản lý chuyên nghiệp được thiết kế để đạt hiệu quả phân phối và ảnh hưởng thị trường tối đa Các thành viên trong hệ thống phân phối có sự liên kết chặt chẽ với nhau và hoạt động như một thể thống nhất Doanh nghiệp sử dụng hệ thống phân phối LKD có thể kiểm soát được hoạt động của HTPP và chủ động giải quyết xung đột Nó mang lại hiệu quả kinh tế theo quy mô trong phân phối và xoá bỏ những công việc trùng lặp Để hoạt động phân phối có hiệu quả các doanh nghiệp cần phát triển được các hệ thống hệ thống phân phối liên kết dọc

Nhìn chung các hệ thống phân phối LKD thường ở các thị trường phát triển vì đây là hệ thống phân phối mang tính hiện đại cả trong tổ chức

và trong quản trị hệ thống Đối với Việt Nam hiện nay, hệ thống phân phối phân bón liên kết dọc hầu như chưa phủ rộng đúng nghĩa ( đến tận khâu bán lẻ) Hệ thống bán hàng của Tổng công ty vật tư nông nghiệp, của Tổng công ty Hoá chất Việt Nam, hay của Đạm Phú Mỹ hiện nay, tuy có mang dáng dấp của hệ thống liên kết dọc, nhưng mới chỉ dừng lại ở khâu bán buôn; còn ở khâu bán lẻ, các hộ kinh doanh cá thể, cá nhân và nhóm kinh doanh hiện vẫn chiếm tỷ trọng gần như 100% Cho tới nay, tuy phương thức kinh doanh của nhiều doanh nghiệp có kinh doanh bán lẻ nhưng thực

tế doanh thu bán lẻ của các doanh nghiệp là không đáng kể Cũng có những

cơ sở cá thể bán lẻ là các thành viên của hệ thống lưu thông của các nhà sản xuất hoặc doanh nghiệp trung gian bán buôn nhưng trên thực tế họ là những thành viên tự do, không bị bất cứ sự ràng buộc nào về mặt pháp lý với các doanh nghiệp cung ứng phân bón Đại đa số các cơ sở bán lẻ hiện nay không thuộc một hệ thống phân phối nào cố định mà thường thay đổi liên tục theo điều kiện thực tế của từng vùng, từng địa phương, từng thời điểm

2 Vị trí, vai trò của HTPP mặt hàng phân bón

2.1 Vai trò của HTPP phân bón đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường

HTPP phân bón nằm trong tổng thể hệ thống phân phối chung của các doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế có vai trò giải quyết các mâu thuẫn cơ bản vốn có của các nền kinh tế thị trường và nhờ vậy mà góp phần

Trang 16

đảm bảo cho nền kinh tế thị trường của mỗi quốc gia phát triển một cách

bền vững (Sơ đồ 1)

Sơ đồ 1: Hệ thống phân phối hàng hoá nối sản xuất với tiêu dùng

* Sự khác biệt về số lượng

* Sự khác biệt về không gian

* Sự khác biệt về thời gian

2.2 Vai trò của hệ thống phân phối đối với việc tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp

Các quyết định về hệ thống phân phối đã và đang trở thành những quyết định chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, là một công cụ cực

kỳ quan trọng và phức tạp của chiến lược marketing hỗn hợp của doanh nghiệp Do cần nhiều thời gian và tiền bạc để xây dựng và quản lý một

hệ thống phân phối có hiệu quả và do các hệ thống này rất khó thay đổi một khi nó đã được xây dựng nên các quyết định về hệ thống phân phối giúp doanh nghiệp tạo lập được lợi thế cạnh tranh bền vững dài hạn trên thị trường và thành công trong kinh doanh Phát triển và quản lý được các hệ thống phân phối hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm của họ Tất nhiên, các quyết định về phân phối hàng hoá nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với các quyết định kinh doanh khác của doanh nghiệp Quyết định về phân phối cũng liên quan đến rất nhiều biến số có ảnh hưởng lẫn nhau cần phải được phối hợp trong chiến lược kinh doanh với các quyết định về sản phẩm, giá bán, xúc tiến, quảng bá

Khu vực sản xuất: Chuyên môn hoá và phân công

lao động dẫn đến khả năng cung cấp đa dạng

HTPPHH cần thiết để giải quyết những khác biệt và mâu thuẫn

Khu vực tiêu dùng: Nhu cầu và mong muốn đa dạng

về chủng loại, thời gian, địa điểm và quyền sở hữu

Trang 17

Tổ chức và tham gia vào các hệ thống phân phối hiệu quả cũng

có nghĩa là doanh nghiệp chủ động xây dựng các liên kết đảm bảo thực hiện phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong dây chuyền tạo giá trị gia tăng của các ngành kinh tế, điều đó giúp các doanh nghiệp tập trung được mọi nỗ lực vào những hoạt động mà mình có lợi thế, vì vậy đảm bảo được năng suất cao hơn với chi phí thấp hơn và nhờ vậy

mà nâng cao hơn sức cạnh tranh của mình so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Nhờ tổ chức và tham gia vào các liên kết như vậy, mỗi doanh nghiệp đều được hưởng những lợi ích kinh tế nhờ hoạt động phối hợp, nhờ sự giám sát và phối hợp bên trong của hệ thống phân phối, nhờ tránh các giao dịch thị trường trong hệ thống, nhờ tiếp cận tốt hơn và rẻ hơn thông tin về thị trường, nhờ các mối quan hệ ổn định… vì vậy mà đạt hiệu quả kinh tế cao hơn Đồng thời do tham gia vào những liên kết như vậy sẽ còn giúp các doanh nghiệp tận dụng được công nghệ lẫn nhau, bảo đảm nguồn cung ứng hoặc nhu cầu ổn định, nâng cao quyền lực thương lượng đáng kể, tăng cường khả năng khác biệt hoá sản phẩm

và dịch vụ so với đối thủ cạnh tranh… Có thể thấy những lợi ích như vậy đã tạo cho doanh nghiệp có tham gia liên kết có được những lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp không tiến hành liên kết bằng những hình thức giá cả cao hơn, chi phí thấp hơn hoặc ít rủi ro hơn Điều đó giải thích tại sao các hệ thống phân phối lại là một trong những rào cản chắc chắn nhất đối với mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu thâm nhập thị trường và là lựa chọn chiến lược chung của doanh nghiệp trong việc thâm nhập vào những ngành kinh doanh mới

Các doanh nghiệp của Việt Nam nếu tạo dựng được cho mình những hệ thống phân phối hiệu quả cũng có nghĩa là tạo lập được lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho lợi ích của mình trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài khi nước ta thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế vào khu vực và thế giới, bởi họ phải mất nhiều thời gian và tiền của mới có thể tạo lập được hệ thống phân phối của mình Mặt khác cùng với các cam kết tự do hoá thương mại và đầu tư để hội nhập kinh tế quốc tế, nhà nước sẽ dần dần dỡ bỏ các rào cản thuế và phi thuế bảo hộ cho các ngành sản xuất trong nước, khi đó các hệ thống phân phối hiệu quả sẽ chính là các rào cản hiệu lực nhất của doanh nghiệp Việt Nam để bảo vệ mình trước các đối thủ cạnh tranh từ bên ngoài thâm nhập vào thị trường nội địa

Trang 18

2.3 HTPP phân bón giữ vai trò quyết định đối với việc đảm bảo ổn định đầu vào cho sản xuất nông nghiệp

Phân bón được coi là “thực phẩm của thực phẩm” Điều này có

nghĩa là, phân bón là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp Tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc (FAO) đã thực hiện một loạt các khảo cứu ở

41 quốc gia cho giai đoạn 18 năm và thu thập 410.000 dữ liệu thống kê, kết quả cho thấy 30% sản lượng cây trồng có được là nhờ phân bón Theo Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, tỷ lệ đóng góp của phân bón cho sản lượng nông nghiệp trung bình ở mức 40%, trong đó các nghiên cứu thực tế cho thấy với 1kg phân bón có thể cho tăng 9,3 kg thóc; 9,6 kg lúa mì; 11,7 kg ngô; 8,7kg lúa và 8,6kg hạt khác Chính vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, dù là phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, dù là mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, dù là đang phát triển như Inđônêxia hay Thái Lan , đặc biệt là những nước đông dân và tỷ lệ nông nghiệp cao như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia các chính phủ đều rất quan tâm tới HTPP phân bón nhằm thực hiện sản xuất và cung cấp phân bón hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp, coi đó như một cơ sở để đảm bảo và phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp

II TỔ CHỨC HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG PHÂN BÓN

1 Đặc điểm và các yếu tố cần thiết của tổ chức HTPP mặt hàng

phân bón hóa học

Mặt hàng phân bón là vật tư thiết yếu của sản xuất nông nghiệp, vì

vậy HTPP phân bón mang đặc điểm của HTPP hàng vật tư sản xuất chung,

và hình thành đầu vào quan trọng của sản phẩm nông nghiệp Việc tổ chức HTPP mặt hàng phân bón phải tính tới các đặc điểm và yếu tố sau:

1.1 Nhóm yếu tố thuộc tính và đặc điểm thương phẩm của mặt hàng phân bón hóa học

Phân bón hóa học rất đa dạng về chủng loại như phân đơn, phân NPK hữu cơ - khoáng (hơn 1.100 loại), phân vi sinh, phân trung lượng -

vi lượng và các phân khác Theo thành phần cấu tạo trên, phân bón lưu thông trên thị trường thường được qui về 5 tên gọi chính là đạm (urê), lân, kali, DAP, NPK

Với việc tiêu chuẩn hoá cao độ về mặt chất lượng, phân bón là loại hàng hoá thích hợp cho cả sản xuất và phân phối hàng loạt Các nguyên liệu cơ bản cho sản xuất phân bón vô cơ ở Việt Nam bao gồm quặng apatít cho sản xuất phân DAP và phân lân chế biến; dầu khí hoặc than

Trang 19

cho sản xuất phân đạm urê Nguyên liệu trung gian như ammonium sulfate, urea và những thành phần chính của phân tổng hợp rất ít thay đổi

về chất lượng Điều này khiến cho việc tổ chức quản lý cung cầu trở nên

* Nhập khẩu:

Với nguồn cung trong nước chỉ đáp ứng đượng khoảng 60% nhu cầu, nên vẫn còn phải phụ thuộc rất nhiều vào nguồn phân bón hóa học nhập khẩu Trong cơ cấu các loại phân bón hoá học, thì các loại phân bón Kali,

SA, DAP chúng ta vẫn phải nhập khẩu 100% ; urê nhập khẩu 50% và tuy phân bón NPK, Lân trong nước đã sản xuất được nhưng vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu Vì vậy, thị trường phân bón trong nước vẫn chịu tác động lớn của thị trường phân bón thế giới (nguồn cung và giá cả của thế giới) Chính phủ đã bãi bỏ quy định đầu mối nhập khẩu phân bón (năm 2001) nên đến nay cả nước đã có trên 40 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia nhập khẩu phân bón để tiêu thụ trên thị trường

1.3 Những yếu tố liên quan tới nhu cầu

- Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp: Đến nay, mặc dù ngành

nông nghiệp đã có nhiều phát triển, sản xuất nông nghiệp đã áp dụng cải tiến về kỹ thuật chăm bón, giống mới nhằm tăng sản lượng và chất lượng cây trồng Nhưng, trong bối cảnh đất trồng ngày càng bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng sang đầu tư sản xuất công nghiệp và dịch vụ nên để thâm canh tăng năng suất cây trồng, nhu cầu tiêu dùng phân bón vẫn đang

có xu hướng tăng

Trang 20

- Thói quen và tập quán sử dụng phân bón của nông dân: Thực tiễn

cho thấy, lượng phân bón được sử dụng ở Việt Nam trong các năm qua không ngừng tăng lên Trong khi diện tích gieo trồng không tăng nhưng tổng lượng phân bón hoá học tăng cho thấy nhu cầu sử dụng phân bón hoá học cho một đơn vị diện tích canh tác đã tăng so với nhiều năm trước Tuy nhiên, so với một số nước trên thế giới mức độ sử dụng phân bón ở Việt Nam vẫn còn ở mức khá thấp Theo R Dudal và N Roy IPNS FAO

2003.Rome thì mức sử dụng phân bón tính tổng NPK (kg/ha) của một số

nước như sau: Hà Lan: 645,2; Bỉ, Lucxămbua: 503,7; Thuỵ Sỹ: 426,2; Nhật Bản: 388,6; Trung Quốc: 283,4 Như vậy lượng tiêu thụ phân bón ở Việt Nam vẫn còn có xu hướng tăng cao hơn (năm cao nhất mới 2005 đạt 170kg/ha) Nhưng để hướng dẫn nông dân thay đổi thói quen và tập quán

sử dụng phân bón theo hướng ngày càng hiệu quả hơn (không bị thất thoát nhiều và không làm giảm chất lượng cây trồng) thì HTPPPB cần quan tâm gắn kết chặt chẽ hơn tới công tác khuyến nông và phải coi đây là một trong những mục tiêu phát triển chất lượng của hệ thống phân phối phân bón

- Điều kiện canh tác và phương thức trồng trọt, chăm bón: Xét về

mức độ tiêu thụ phân bón giữa các vùng cho thấy: người nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long thường sử dụng mức phân bón cao hơn so với các vùng Trung du - miền núi phía Bắc, Duyên hải Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên

1.4 Những yếu tố của quản lý, điều tiết vĩ mô

- Hệ thống pháp lý về sản xuất, lưu thông, tiêu dùng phân bón

- Chiến lược và quy hoạch phát triển ngành hàng phân bón

- Cơ chế chính sách của nhà nước đối với lưu thông mặt hàng phân bón

- Điều kiện cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ cho lưu thông phân bón

- Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực

2 Một số nguyên tắc cơ bản tổ chức HTPP mặt hàng phân bón

- Hệ thống phân phối phân bón hiệu quả phải định hướng theo thị trường mục tiêu: Nhà nước và các doanh nghiệp cần nghiên cứu xác định

nhu cầu của thị trường mục tiêu cụ thể ở đây là thị trường đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam để phát triển các hệ thống phân phối phân bón có mức độ cung cấp dịch vụ phân phối tối ưu nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của người sử dụng phân bón là hộ nông dân

Có thể nói, trong thời gian tới cùng với quá trình CNH và đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, diện tích đất trồng trọt sẽ tiếp tục giảm do chuyển sang các mục

Trang 21

đích sử dụng khác Với diện tích đất trồng bị thu hẹp và yêu cầu tăng sản lượng, chỉ có cách tăng năng suất cây trồng thông qua sử dụng phân bón có hiệu quả và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong khâu giống, thuỷ lợi…Như vậy, HTPP phân bón phải đảm bảo thoả mãn nhu cầu về tăng nguồn cung, tăng chất lượng, đảm bảo thời hạn giao hàng và giá cả cạnh tranh cho người trồng trọt

- Hệ thống phân phối phân bón phải đảm bảo nguyên tắc hiệu quả kinh tế nghĩa là phải đảm bảo phân chia các công việc phân phối hợp lý

giữa các thành viên trong hệ thống Các thành viên trong hệ thống cần phải xây dựng mạng lưới của mình tại các địa phương sao cho phù hợp, không

để chồng chéo, cạnh tranh không lành mạnh giữa các thành viên với nhau,

để đạt được kết quả cuối cùng là cả hệ thống có tổng chi phí phân phối là thấp nhất và lợi nhuận cao nhất Nguyên tắc chuyên môn hoá và phân công lao động phải được vận dụng triệt để trong tổ chức và phát triển hệ thống phân phối Mỗi hệ thống phải đảm bảo có tổng chi phí phân phối thấp nhất tương ứng mỗi mức độ dịch vụ phân phối cung cấp cho khách hàng Quá trình tổ chức phát triển hệ thống phải đảm bảo mức độ bao phủ thị trường mục tiêu thích hợp, khắc phục tình trạng các doanh nghiệp không xác định

rõ phạm vi thị trường của họ

Doanh nghiệp tổ chức và quản lý các nguồn lực phục vụ cho hoạt động của toàn bộ hệ thống nghĩa là phải xác định được mức độ sẵn sàng của các nguồn lực dành cho phân phối và phân chia hợp lý chúng để tạo ra các hoạt động có hiệu quả

Tổ chức phát triển HTPP phải nâng cao được hiệu quả hoạt động của

hệ thống trong dài hạn nhờ thúc đẩy chuyên môn hoá và phân công lao động hợp lý

- Tổ chức hệ thống phân phối phân bón phải bao trùm toàn bộ hệ thống tổng thể chứ không phải chỉ tổ chức từng khâu lưu thông, từng cấp

độ phân phối hay từng quan hệ mua bán cụ thể

Các doanh nghiệp chủ đạo trong HTPP phân bón hiện nay ở Việt Nam dù là các nhà sản xuất (các công ty, tập đoàn hoá chất) hay các trung gian thương mại (các công ty vật tư nông nghiệp quốc gia và cấp tỉnh thành) cần hướng tới thiết lập những hệ thống phân phối LKD tập đoàn để

có khả năng điều hành hoạt động của cả hệ thống nhằm thực hiện mục tiêu bình ổn cung cấp, đảm bảo giá phân bón cạnh tranh cho phát triển sản xuất nông nghiệp Trong khi đó, phải khai thác thế mạnh của HTX kiểu mới ở nông thôn và tăng cường vai trò của tổ hợp tác và các HTX như một mắt xích quan trọng trong HTPP phân bón quốc gia

Trang 22

- Tổ chức hệ thống phân phối phân bón phải thiết lập và tăng cường mối quan hệ hợp tác toàn diện và lâu dài giữa các thành viên

Tổ chức HTPP phân bón phải thúc đẩy hình thành các mối quan hệ liên kết cả dọc và ngang giữa các doanh nghiệp trên thị trường Đặc biệt trong nền kinh tế chuyển đổi với nhiều quan hệ thị trường chưa hoàn chỉnh như nước ta còn tồn tại nhiều hành vi, thủ đoạn của các thành viên vì lợi ích riêng đã làm thiệt hại đến lợi ích của toàn hệ thống Bởi vậy để tăng kết quả và hiệu quả hoạt động của hệ thống, các thành viên tham gia cần nghiên cứu, ứng dụng một số hoặc tất cả các cơ chế phù hợp để tạo ra sự hợp tác trong hệ thống phân phối Đồng thời, trong tổ chức HTPP phân bón nói riêng và HTPP nói chung đòi hỏi các doanh nghiệp phải giải quyết mối quan hệ giữa các thành viên theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, các bên cùng có mục tiêu chung

- Tổ chức HTPP phân bón phải đảm bảo sự năng động linh hoạt, thích ứng với những thay đổi không ngừng của thị trường và môi trường kinh doanh: Các HTPP hoạt động trong một môi trường phức tạp chịu sự

chi phối của nhiều yếu tố và lực lượng khác nhau Khi những yếu tố môi trường thay đổi, người quản lý hệ thống cũng phải thay đổi chiến lược và biện pháp quản lý của mình để thích ứng với những hoàn cảnh thị trường mới Những yếu tố môi trường chủ yếu ở Việt Nam đang có nhiều biến đổi ảnh hưởng tới hoạt động của các HTPP Các doanh nghiệp cần phải hiểu rõ những biến đổi trên thị trường để tổ chức hệ thống phân phối của mình

- Tổ chức HTPP phân bón phải có sự phân biệt giữa các vị trí thành viên trong hệ thống, theo đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng sản phẩm và trên từng hoàn cảnh thị trường cụ thể, đảm bảo tính bổ trợ lẫn nhau

Người sản xuất thường tổ chức và quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm xuôi xuống phía dưới hệ thống, còn người bán lẻ khi tổ chức thì quản

lý kênh ngược lên phía người sản xuất Những người bán buôn đối mặt với các quyết định thiết kế HTPP từ cả hai phía Sản phẩm khác nhau, thị trường khác nhau tất yếu phải sử dụng những kiểu, phương thức phân phối khác nhau Đó cũng chính là nguyên tắc để tổ chức HTPP phân bón theo dạng liên kết dọc, phối hợp ngang hay mạng lưới hỗn hợp

3 Xây dựng mô hình cấu trúc HTPP mặt hàng phân bón

Có ba yếu tố cơ bản phản ánh đến cấu trúc hệ thống phân phối phân bón:

- Chiều dài của hệ thống phân phối được xác định bởi số cấp độ trung gian có mặt trong hệ thống phân phối Khi số cấp độ trung gian trong hệ thống phân phối tăng lên, hệ thống được xem như tăng lên về chiều dài Ví

Trang 23

dụ: Hệ thống phân phối từ người sản xuất -> Người bán buôn -> Người bán

lẻ -> Người tiêu dùng là dài hơn hệ thống phân phối: Người sản xuất -> Người tiêu dùng

- Bề rộng của hệ thống phân phối biểu hiện ở số lượng trung gian ở mỗi cấp độ trung gian

- Các loại trung gian ở mỗi cấp độ của hệ thống phân phối

Phân bón hóa học là mặt hàng có nguồn hàng phát luồng tương đối tập trung tại một số địa bàn chính (sản xuất trong nước, nhập khẩu) và tiêu thụ phân tán rộng rãi trong cả nước Về cơ bản toàn bộ quá trình lưu thông phân bón hoá học diễn ra theo mô hình tổng quát Sơ đồ 2

Nhà cung ứng bao gồm các nhà sản xuất trong nước và các nhà nhập khẩu Các nhà cung ứng có thể tự thiết lập HTPP phân bón như HTPP

của Công ty cổ phần Phân đạm và hóa chất dầu khí Phú Mỹ

Sơ đồ 2: Mô hình lưu thông phân bón hoá học

Tham gia khâu trung gian bán buôn chủ yếu là hệ thống các doanh

nghiệp làm tổng đại lý, đại lý bán buôn của các nhà sản xuất, nhập khẩu; các doanh nghiệp thương mại thuộc đủ mọi thành phần kinh tế và các hộ

Nhà cung ứng

(Sản xuất, nhập khẩu)

Đại lý bán buôn cấp 1

Đại lý bán buôn cấp 2

Đại lý bán lẻ

Nông dân

Kênh trực tiếp

Kênh cấp 1

Kênh cấp 2 Kênh đa

cấp

Trang 24

kinh doanh Quan hệ buôn bán chủ yếu theo từng phi vụ, mối liên kết giữa các nhà sản xuất, nhập khẩu và nhà phân phối bán buôn rất lỏng lẻo, chủ yếu theo các hợp đồng riêng lẻ

Các doanh nghiệp bán buôn cấp 1 thường có phạm vi địa bàn hoạt động rộng cả vùng hoặc cả nước, các đơn vị bán buôn cấp 2,3 thường hoạt động trên địa bàn tỉnh, thành phố là chính Nhìn chung, việc lưu thông phân bón có nhiều cấp trung gian, làm tăng chi phí lưu thông và giảm hiệu quả tổ chức lưu thông

Ở khâu bán lẻ, hiện nay các hộ kinh doanh cá thể, cá nhân và

nhóm kinh doanh chiếm tỷ trọng gần như 100% Cho tới nay, chỉ có rất

ít doanh nghiệp tổ chức mạng lưới bán lẻ PBHH trực tiếp cho nông dân Đại đa số các cơ sở bán lẻ hiện nay không thuộc một hệ thống phân phối nào cố định mà thường thay đổi liên tục theo điều kiện thực tế của từng vùng, từng địa phương, từng thời điểm

III QUẢN LÝ HTPP MẶT HÀNG PHÂN BÓN

1 Quản lý HTPP mặt hàng phân bón của doanh nghiệp

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu quản trị doanh nghiệp Đối với các

doanh nghiệp, để đẩy nhanh việc tiêu thụ hàng hoá và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình buộc các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống kênh phân phối một cách hợp lý Nói cách khác, tổ chức HTPP của doanh nghiệp là một trong bốn chức năng chính của hoạt động doanh nghiệp gồm sản xuất/mua hàng, tài chính, bán hàng và thông tin Tổ chức HTPP thuộc chức năng bán hàng của doanh nghiệp và là khâu quyết định thực hiện giá trị và lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên, tổ chức HTPP và các chức năng khác của doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất và luôn tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau

Thứ hai là từ đòi hỏi khách quan của việc phải giải quyết các mối

quan hệ giữa các kênh và các thành viên giữa các kênh phân phối khác nhau Như đã đề cập ở phần trên, trong phạm vi một quốc gia, hoặc đối với mỗi ngành hàng thì các kênh phân phối hàng hoá được hình thành như một mạng lưới phức tạp các loại kênh khác nhau, với độ dài, độ lớn

và có sự liên hệ chằng chịt với nhau Trong mạng lưới chằng chịt ấy, các quan hệ kênh có thể là quan hệ hợp tác, cạnh tranh và xung đột lẫn nhau

Sự hợp tác giữa thành viên kênh ở các cấp độ khác nhau và giữa cùng một cấp độ dựa trên những cơ sở lợi ích phù hợp là điều mà cơ quan và các doanh nghiệp đều phải hướng tới Tuy nhiên, trong điều kiện cơ chế thị trường buộc phải có sự hợp tác trong cạch tranh Cạnh tranh luôn diễn ra giữa các thành viên cùng loại ở cùng cấp độ kênh với nhau; giữa

Trang 25

các thành viên khác loại ở cùng cấp độ kênh với nhau; giữa các thành viên của kênh ở các cấp độ khác nhau trong kênh; và giữa các hệ thống kênh hoàn chỉnh cạnh tranh với nhau Trong quá trình cạnh tranh có thể xảy ra các xung đột do nguồn lực có hạn, do thành viên kênh không thực hiện đúng cam kết, do thành viên kênh có các mong muốn khác về quyền lợi Đây cũng chính là một trong những yêu cầu khách quan phải tổ chức và quản lý KPP hàng hoá

- Thứ ba là do yêu cầu tăng cường sức mạnh điều khiển hoạt động

kênh của các thành viên kênh Vận động của hàng hoá trong kênh do tác động của nguyên lý kéo và đẩy Sức hút kéo của kênh chính là áp lực của người tiêu dùng tác động lên các nhà phân phối và sức kéo của nhà phân phối đối với nhà sản xuất Sức mạnh đẩy thể hiện ở năng lực của nhà sản xuất thúc đẩy nhà phân phối và nhà phân phối lại thúc đẩy người tiêu dùng trong mua sắm hàng hoá Để đạt được sự phân phối hiệu quả chính

là sự hoà hợp giữa kéo và đẩy các dòng chảy trong kênh, tức là phải tổ chức và quản lý kênh phân phối hàng hoá Muốn vậy, phải tăng cường sức mạnh điều khiển hoạt động của kênh theo hướng tăng sức mạnh về kinh tế, về quản lý kênh theo hướng áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong quản lý, hoặc sử dụng các công cụ marketing để tăng sức kéo đẩy đối với người tiêu dùng

2 Quản lý Nhà nước đối với HTPP mặt hàng phân bón

Thứ nhất là xuất phát từ chức năng của quản lý Nhà nước đối với

lưu thông hàng hoá và thị trường Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước đối với lưu thông hàng hoá, Nhà nước phải định hướng, hỗ trợ, thúc đẩy và điều tiết các kênh và dòng chảy của các kênh phân phối lớn, đối với các mặt hàng quan trọng phục vụ cho sản xuất và đời sống, cũng như an ninh quốc gia

Thứ hai, do tầm quan trọng đặc biệt của mặt hàng phân bón đối

với sản xuất nông nghiệp Phân bón là vật tư thiết yếu của sản xuất nông nghiệp và có ảnh hưởng lớn tới năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Vì vậy, không riêng gì Việt Nam mà tất cả các nước đều rất quan tâm đến cơ chế quản lý , điều tiết mặt hàng phân bón nhằm đảm bảo bình ổn giá cả, cải thiện thu nhập cho nông dân và duy trì phát triển bền vững nông nghiệp Về điểm này, chúng ta có thể thấy rõ qua nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức HTPP mặt hàng phân bón của một

số nước lựa chọn sau đây

Thứ ba, điều quan trọng của QLNN đối với HTPP mặt hàng phân

bón là việc xây dựng các quy định và tiêu chuẩn phù hợp cho sự vận

Trang 26

hành thông suốt và hiệu quả của hệ thống cũng như đảm bảo sự giám sát, điều tiết hệ thống của Nhà nước theo quy định của pháp luật

IV KINH NGHIỆM TỔ CHỨC HTPP PHÂN BÓN CỦA MỘT

SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1 Kinh nghiệm của một số nước về tổ chức hệ thống phân phối phân bón

1.1 Nhật Bản:

Theo hai Luật phân bón (Two Fertilizer Laws)1 và Luật bình ổn thị trường phân bón (Fertilizer Stabilization Law)2, kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, thị trường phân bón Nhật Bản chịu sự điều tiết nghiêm ngặt của chính phủ Nhật Bản cả về xuất khẩu và giá cả Liên minh Hợp tác xã nông nghiệp quốc gia Nhật Bản (NFACA) duy trì sức mạnh chi phối thị trường phân bón với tư cách là người mua và nhà phân phối lớn nhất được hỗ trợ bởi công cụ kế hoạch và hệ thống mua hàng Để đảm bảo khôi phục sức nặng đàm phán thương mại với số ít nhà sản xuất phân bón độc quyền, NFACA thành lập một trung tâm mua sắm Tuy nhiên, NFACA thường xuyên bị kêu ca phàn nàn về việc cung cấp phân bón cho các thành viên với giá đắt, trong khi giá phân bón cao lại chính là do phương thức kinh doanh hợp tác xã mà ra Chúng ta hãy nghiên cứu cách kinh doanh phân bón theo phương thức hợp tác xã

1.1.1 Tổ chức phân phối:

Thị phần của các hợp tác xã (HTX) trong thị trường phân bón đặc biệt cao Theo sơ đồ 3, NFACA giữ vị trí độc quyền với 72% thị phần của thị trường phân bón Nhật năm 1997, nếu tính cả các HTX nông nghiệp cơ

sở thì thị phần này lên tới 98% Những yếu tố sau dẫn tới thị phần cao của HTX:

Thứ nhất, do tính chất đơn giản của mặt hàng phân bón:

Với việc tiêu chuẩn hoá cao độ về mặt chất lượng, phân bón là loại hàng hoá thích hợp cho cả sản xuất và phân phối hàng loạt, đồng thời cũng rất thích hợp với phương thức kinh doanh HTX Các nguyên liệu trung gian như ammonium sulfate, urea và những thành phần chính của phân tổng hợp

1 Đạo luật bình ổn cung cấp Ammonium Sulfate tạm thời và Đạo luật về các biện pháp tạm thời điều

chỉnh xuất khẩu và hợp lý hoá ngành công nghiệp Ammonium sulfate (1954-1963) nhằm ngăn chặn thua thiệt trong xuất khẩu Ammonium sulfate và giảm giá phân bón trong nước với hệ thống 2 giá Giá phân bóntrong nước do Chính phủ quyết định trong khi giá xuất khẩu sẽ căn cứ vào giá cả quốc tế

2 Theo Đạo luật bình ổn giá phân bón (1964-1989), giá phân bón trong nước được hiệp thương giữa hai nhóm, nhóm các nhà sản xuất và nhóm người tiêu dùng, theo đó, liên minh các nhà sản xuất được miễn

áp dụng Đạo luật về chống độc quyền Shigeno (1995:72) mô tả chính sách giá đối với phân hoá học như sau “trong thời kỳ đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chính sách giá phân bón nhằm bảo vệ sản xuất nông nghiệp và thời kỳ tiếp theo từ năm 1980 trở đi sẽ chuyển sang bảo vệ ngành công nghiệp phân bón”

Trang 27

rất ít thay đổi về chất lượng Tuy vậy, có sự khác biệt rõ ràng về chất lượng của phân bón tổng hợp tuỳ theo hàm lượng của từng chất hợp thành Điều này khiến cho việc tổ chức quản lý cung cầu trở nên dễ dàng

Thứ hai, do cơ cấu sản xuất tập trung:

Sản xuất phân bón của Nhật Bản tập trung trong một số ít nhà sản xuất lớn Năm 1997, năm công ty lớn nhất của ngành chiếm tới 56% tổng sản lượng phân bón tổng hợp, 67,9% sản lượng Ammonium sulfate và 82,1% sản lượng phân urea Hầu hết các nhà sản xuất phân bón này là hậu

duệ của các zaibatsu và chính sách điều chỉnh cơ cấu sau chiến tranh đã

dẫn đến việc tăng mức độ tập trung hoá của ngành công nghiệp phân bón Đặc biệt, sản xuất phân đạm được hưởng lợi nhiều nhất từ lợi ích kinh tế nhờ quy mô do được khuyến khích hợp lý hoá sản xuất trong những nhà máy sản xuất quy mô lớn Nhằm mục đích tạo sức mạnh trong đàm phán, các HTX thành lập Trung tâm thu mua phân bón làm đầu mối tập trung các đơn hàng khối lượng lớn từ mạng lưới HTX thành viên Đây là kiểu tổ chức điển hình trong kinh tế HTX nhằm tập hợp các hộ nông dân nhỏ để đạt được khối lượng mua lớn, tạo thế mặc cả với một số ít nhà sản xuất lớn độc quyền

Sơ đồ 3: Hệ thống phân phối phân bón ở Nhật Bản (1997)

Nhà bán buôn

Nhà bán lẻ

Hộ nông dân

Các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu

Trang 28

Thứ ba, trong liên kết với chính sách phân phối và giá cả mặt hàng gạo:

Hệ thống kiểm soát thực phẩm Nhật Bản đã tạo thuận lợi cho các HTX giữ vai trò độc quyền trong thu mua lúa gạo Hệ thống này cũng tạo điều kiện dễ dàng cho các HTX chi phối thị trường phân bón và các vật tư nông nghiệp khác

Tuy nhiên, Chính phủ Nhật Bản bắt đầu triển khai “Cải cách chính sách lúa gạo” từ tháng 4/2004 Theo nội dung cải tổ này, Chính phủ sẽ từ

bỏ chương trình bắt buộc trước đây nhằm thực hiện phân bổ tài nguyên đất đai cho sản xuất lúa gạo theo cơ chế thị trường vào năm 2010 Chính phủ cũng đặt mục tiêu phát triển các nông trại lớn Chính sách này của Chính phủ sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới tình hình sản xuất lúa gạo của Nhật Bản

Thứ tư, việc hình thành mức giá thống nhất cho mặt hàng phân bón:

Kể cả sau khi huỷ bỏ Luật bình ổn giá phân bón năm 1989, việc thực hiện hiệp thương giá giữa NFACA và các nhà sản xuất phân bón vẫn được duy trì Giá cả thoả thuận giữa NFACA và các nhà sản xuất phân bón lớn cũng được áp dụng cho các đối tượng cung cấp khác và tạo nên mặt bằng giá chung Chi phí vận chuyển được áp dụng đối với từng địa phương Sự thay đổi giá cả mang tính thời vụ được điều chỉnh nhằm đảm bảo giữ mức giá ổn định trong năm Giá đơn vị là mức giá chung mà không tính đến yếu tố khối lượng giao dịch chủ yếu là để tạo cảm giác bình đẳng và cũng vì nguyên tắc lợi ích thành viên HTX Các HTX khuyến khích các thành viên thi hành mức giá chung và do vậy có thể loại

bỏ bất kỳ mối quan hệ cá biệt nào với nhà cung cấp Đồng thời, cũng tránh được tình trạng đầu cơ do biến động giá Với việc áp dụng mức giá thống nhất, các HTX đã loại bỏ yếu tố cạnh tranh giá trong và ngoài hệ thống của họ

Trang 29

giảm giá phân bón thông qua việc giảm chi phí phân phối bằng cách giảm lượng tồn kho phân phối và thúc đẩy hợp lý hoá sản xuất

1.1.2 Những hạn chế trong kinh doanh phân bón HTX:

Thứ nhất, giá phân bón thường cao hơn so với giá bán của các công

ty thương mại Ngay cả trong trường hợp khâu quản lý kinh doanh của HTX được kế hoạch hoá và chi phí phân phối giảm có làm tăng sức mạnh đàm phán của các HTX, giá bán phân bón của họ thậm chí không thấp hơn giá của các đối tượng khác Câu hỏi đặt ra là có phải NFACA mua phân bón của các nhà sản xuất với giá khác giá của các nhà bán buôn khác? Một nhà sản xuất phân bón lớn đã trả lời rằng NFACA quy định cước phí chuyên chở cho các nhà bán buôn được chỉ định theo mức giá bán lẻ phân bón của HTX trừ đi chiết khấu thương nghiệp bán buôn và bán lẻ Chi phí giao nhận trong hoạt động kinh doanh phân bón của HTX năm 1995 chiếm 0,6% trong hoạt động thương mại của NFACA, chiếm 2,2% trong hoạt động thương mại của Liên minh HTX cấp tỉnh (PEFAC) và chiếm 12,4% trong hoạt động của các HTXNN cơ sở, như vậy là chiếm 12,5% trong tổng doanh số bán hàng Chiết khấu thương mại trong khâu bán buôn là khoảng 5-10% và bán lẻ là hơn 20% Hiện tại các nhà sản xuất bán phân bón với mức giá thấp hơn khoảng từ 10-15% so với giá bán của HTX Kết quả là, đáng lẽ với mức phí giao nhận thấp và từ xuất phát điểm có lợi hơn so với các công ty thương mại, các HTX đã bị mất lợi thế này Hơn nữa, các công

ty thương mại bán buôn và bán lẻ, bằng việc hạ thấp chiết khấu thương mại, có dư địa để bán phân bón với mức giá thấp hơn giá bán của các HTX Các công ty thương mại có thể có cấu trúc phân phối phân bón khác với HTX và họ thường bán phân bón trên thị trường giao ngay, trong khi NFACA không có sự linh hoạt và tính cạnh tranh như vậy

Thứ hai, tỷ lệ sử dụng mạng lưới phân bón HTX của các thành viên

HTX đã giảm lớn Trong những năm 70, các HTX mua khoảng 8% khối lượng phân bón từ các công ty thương mại bán buôn, nhưng tỷ lệ đã tăng lên 10% năm 1988 và 15% vào năm 1997 Điều này xảy ra, một phần do giá phân bón của các HTX cao và cũng do các công ty thương mại bán lẻ tăng cường bán phân bón cho hộ nông dân thông qua các HTX danh nghĩa (với tỷ lệ hoa hồng) nhằm tạo cảm giác giống HTX Những bằng chứng này cho thấy sự hạn chế trong hệ thống kinh doanh phân bón của hợp tác xã: giới hạn về khả năng giảm giá thông qua việc mua bán với số lượng lớn

từ số ít nhà phân phối lựa chọn; dẫn đến việc củng cố cấu trúc độc quyền trong sản xuất PBHH và làm tăng sự liên kết độc quyền của các cartel

Thứ ba, trong hoạt động mua phân bón, các HTX tập trung cao nhất

vào mục tiêu ổn định cung cấp và sản phẩm chất lượng Họ không khi nào

Trang 30

chấp nhận thị trường giao ngay và coi trọng việc ổn định cung cấp cho các thành viên Vì vậy, trong hiệp thương giá với các nhà sản xuất, họ thường

sử dụng phương pháp giá thành Điều này, theo họ có thể đảm bảo cho sự tồn tại của các nhà sản xuất và đảm bảo nguồn cung cấp Logic này cũng tương tự như việc họ nhấn mạnh đến việc duy trì tái sản xuất cho nông dân thông qua hỗ trợ bán sản phẩm nông nghiệp Tuy nhiên, đối với sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp tập trung quy mô lớn như sản xuất ammonia, lại không thuộc sở hữu của HTX, rất khó để biết được chính xác chi phí sản xuất của từng nhà máy, thậm chí còn khó khăn hơn vì phân bón

là sản phẩm phụ của sản phẩm công nghiệp khác như Ammonium sulfate

Vì vậy, các HTX sẽ rất khó có được thông tin phù hợp, tin cậy để có thể hiệp thương giá theo phương pháp cộng chi phí

Thứ tư, tính hiệu quả của hoạt động HTX giảm do sự thay đổi tính

chất và hành vi thành viên Kinh doanh phân bón HTX thường là hoạt động kinh doanh bán phần hỗ trợ nông dân

Không giống như các công ty thương mại bán buôn và bán lẻ thực hiện giảm giá ngay theo đơn hàng lớn, các HTX chỉ thực hiện việc giảm giá vào cuối mỗi tài khoá Chỉ có khoảng 10,9% số lượng HTX địa phương thực hiện giảm giá cho các đơn hàng lớn Nguyên tắc công bằng của HTX

đã hạn chế sự linh hoạt kinh doanh của tổ chức này và việc không thực hiện chiết khấu giảm giá khối lượng lớn đã đẩy khách hàng của HTX sang các loại hình thương mại khác

Có thể nói, hoạt động kinh doanh phân bón phương thức HTX ở Nhật Bản đang đứng trước những đổi thay lớn Đó là việc tăng chi phí hoạt động kinh doanh do tăng các chuyến giao hàng nhỏ, nhu cầu trì trệ về phân bón của hộ nông dân nhỏ và giảm mua hàng từ các hộ nông dân lớn Các HTX đã bắt đầu thực hiện chiến lược giá phân bón thấp nhằm khôi phục lại

nhu cầu của các hộ nông dân lớn Trước tiên, nếu việc giao hàng trực tiếp

từ các kho của PEFAC vượt một khối lượng nhất định, PEFAC sẽ thực hiện

việc giảm giá cho khối lượng tăng thêm đó Thứ hai các HTX bắt đầu thực

hiện việc bán hàng không tại cửa hàng của HTX mà họ thực hiện bán hàng theo chuỗi để cạnh tranh giảm giá với các công ty thương mại kinh doanh

phân bón Thứ ba, các HTX mở rộng nhập khẩu phân bón giá rẻ để tăng

sức mạnh đàm phán với các nhà SX phân bón trong nước Trước đây, NFACA quan niệm, phân bón nhập khẩu tuy giá rẻ nhưng nguồn cung lại không ổn định và chất lượng không tương thích với các máy bón phân Nhưng từ những năm 90 của thế kỷ 20, để đa dạng hoá nguồn cung và tăng sức cạnh tranh về giá, NFACA đã tăng nhập khẩu phân bón từ các nguồn rẻ hơn của Hàn Quốc (1992) và sau đó tham gia vào các liên doanh với các nhà SX phân bón nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài (Trung Đông)

Trang 31

Hai vấn đề lớn đặt ra trong hệ thống phân phối phân bón HTX của

Nhật Bản, thứ nhất là vấn đề giảm điều tiết và tăng cường cơ chế giá thị

trường đối với nông sản và vật tư nông nghiệp của chính phủ Nhật Bản sẽ tạo ra một thị trường cạnh tranh hơn và định hướng cạnh tranh chiến lược dựa trên công cụ giá cả Đối với vấn đề này, các HTX của Nhật bản sẽ phải định hướng tổ chức lại khâu phân phối , phân định rõ chức năng kinh doanh

của HTX và chức năng của chính sách chính phủ Thứ hai, các HTX sẽ

phải mềm dẻo, linh hoạt hơn theo cơ chế thị trường để có thể cạnh tranh trong phân phối mặt hàng phân bón với các trung gian thương mại khác như các công ty thương mại bán buôn và bán lẻ

1.2 Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những thị trường phân bón hấp dẫn nhất thế giới Chính phủ thực hiện nhiều chính sách ưu đãi nhằm đảm bảo quyền lợi cho nông dân, hiện chiếm khoảng 60% dân số cả nước Sản xuất phân bón

ở Trung Quốc đã tăng 13% năm 2004, tăng 16% lên 52,5 triệu tấn năm

2005 và hiện nay (2007) tăng 4,76% so với năm 2005 lên 55 triệu tấn

Theo mục tiêu kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006-2010) của Trung Quốc về phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, sản lượng ngũ cốc của Trung Quốc sẽ tăng trung bình hàng năm 0,65% trong điều kiện diên tích đất trồng trọt thu hẹp hàng năm bình quân khoảng 0,18% Vậy ngành công nghiệp phân bón sẽ phải phát triển như thế nào để tăng cung cấp, cải thiện các sản phẩm hỗn hợp, cải thiện công nghệ sản xuất và tăng sử dụng phân bón cho mục tiêu sản lượng ngũ cốc Hơn nữa, kế hoạch 5 năm cũng đặt mục tiêu giảm tiêu thụ năng lượng là 20% và giảm thải môi trường 10% cho một đơn vị GDP

Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 được phê duyệt vào tháng 10/2006 đặt mục tiêu đưa công suất sản xuất phân bón lên 63,5 triệu tấn và sản lượng phân bón đạt khoảng 60 triệu tấn vào năm 2010 nhằm đảm bảo cung cấp đủ phân bón cho thị trường trong nước Mục tiêu cụ thể cho từng loại phân đạm, lân và kali lần lượt là 42 triệu, 15 triệu và 3 triệu tấn Sản xuất trong nước sẽ đảm bảo khoảng 90% lượng cung của thị trường, trong đó sản luợng phân đạm và phân lân về cơ bản là sản xuất đảm bảo đủ 100% cho thị trường còn đối với kali là 30% nguồn cung ứng

Hiện còn nhiều mâu thuẫn và bất cập trong chính sách của Chính phủ với thực tiễn quản lý vĩ mô và chính sách tăng thu nhập cho người nông dân và mâu thuẫn giữa việc tăng giá phân bón và các biện pháp kiểm soát của Chính phủ Những yêu cầu của cả người nông dân và nhà sản xuất phân bón đã dẫn đến chính sách của Chính phủ từ bỏ kiểm soát giá phân bón, bỏ chính sách ưu đãi đối với nhà sản xuất phân bón và hỗ trợ trực tiếp

Trang 32

cho người nông dân bắt đầu từ năm 2007 Nhưng chi phí sản xuất phân bón tăng trong điều kiện cải cách giá than, điện và khí thiên nhiên theo cơ chế giá thị trường Do vậy, xu hướng chung là lợi nhuận sản xuất phân bón có

xu hướng giảm từ cuối năm 2006 Việc cải cách chính sách của Chính phủ

sẽ có tác động rất lớn tới sản xuất và thị trường phân bón năm 2007

Hiện nay, Trung Quốc sản xuất hàng năm khoảng trên 55 triệu tấn phân bón, khoảng 20% nhu cầu phân bón trong nước được thoả mãn qua con đường nhập khẩu Phân bón tổng hợp và phân bón chất lượng cao được nhập khẩu chủ yếu từ Hoa Kỳ Các nước khác bán hàng cho Trung Quốc là Nga, Canađa, Ucraina, Trung Đông và Bắc Âu Urê được nhập khẩu chủ yếu từ Nga, Ucraina và Trung Đông, phân Kali được nhập khẩu chủ yếu từ Nga và Canađa Sản xuất phân bón ở Trung Quốc phần lớn là loại chất lượng thấp, giá trị dinh dưỡng thấp và ít sản xuất phân tổng hợp Phân bón tổng hợp chỉ chiếm khoảng 10% tổng sản lượng Hàm lượng chất dinh dưỡng của phân bón trong nước thấp hơn nhiều so với mức có thể đảm bảo hiệu quả sản xuất nông nghiệp hiện đại

Hệ thống phân phối phân bón của Trung Quốc từ những năm 90 trở

về trước là HTPP do Chính phủ thống nhất quản lý Tổng công ty vật tư nông nghiệp quốc gia Trung Quốc (CNAMPGC) và Liên minh HTX cung tiêu toàn Trung Quốc quản lý phân phối mọi nguồn đầu vào của sản xuất nông nghiệp Phân bón được bán với giá quy định cho nông dân Tuy nhiên, việc tăng chi phí phân phối cùng với cơ chế quy định giá và điều kiện thương mại cứng nhắc đã dẫn đến tính kém hiệu quả của hệ thống này Tổng công ty xuất nhập khẩu hoá chất Trung Quốc, SINOCHEM là công ty thương mại Nhà nước độc quyền nhập khẩu phân bón

Năm 1993, trong khuôn khổ chương trình hỗ trợ kỹ thuật của Ngân hàng phát triển châu Á, Trung Quốc đã bắt đầu triển khai khung khổ thể chế và điều hành thị trường phân bón theo định hướng thị trường CNAMPGC mất đi một phần sự độc quyền trong phân phối phân bón tại thị trường trong nước trong khi nhập khẩu phân bón cũng được tự do hơn

và tỷ lệ nhập khẩu phân bón của SINOCHEM chỉ còn chiếm khoảng 70% thị phần đối với phân đạm và phân lân, trong khi SINOCHEM vẫn giữ quyền kiểm soát toàn bộ nhập khẩu phân kali

Hệ thống phân phối từ đầu những năm 90 trở về trước đặc trưng bởi

“một nhà phân phối chính và hai nhánh phụ” Nhà phân phối chính ở đây

là các công ty vật tư nông nghiệp (AMPCs) với nhiều cấp độ từ Trung ương cho tới tỉnh thành chịu trách nhiệm phân phối mặt hàng phân bón Hai nhánh ở đây muốn nói đến các nhà sản xuất phân bón và các trạm nông nghiệp có chức năng như các kênh phân phối phụ Với HTPP này, AMPCs

Trang 33

chiếm thị phần khổng lồ trên thị trường phân bón còn các nhà máy sản xuất phân bón và các trạm nông nghiệp chỉ chiếm thị phần hạn chế Tình hình này còn rõ ràng hơn đối với phân bón nhập khẩu khi mà hạn ngạch nhập khẩu tập trung trong tay các công ty vật tư nông nghiệp ở các cấp khác nhau Trong hệ thống nhập khẩu phân bón, để sử dụng hết nguồn lực, Sinochem từng là đại lý độc quyền nhập khẩu phân bón của Trung Quốc

Hệ thống này có thể đã rất phù hợp trong quá khứ nhưng hiện nay đã trở nên lỗi thời Cơ chế điều tiết phân bón đã có sự thay đổi căn bản kể từ khi Quốc vụ viện ban hành Nghị quyết 39 năm 1998 về cơ chế điều hành HTLT phân bón Những cải cách chính trong lưu thông phân bón như sau:

(1) Đẩy nhanh việc chuyển đổi hệ thống lưu thông phân bón của Trung Quốc sang định hướng thị trường Chuyển vai trò của Chính phủ từ

kế hoạch hoá tập trung sang để thị trường phân bổ nguồn lực phân bón, xoá

bỏ việc phê duyệt kế hoạch sản xuất, thu mua và bán phân bón sản xuất trong nước, để các nhà sản xuất và phân phối phân bón trong nước được tự

do sản xuất, mua bán

(2) Mở rộng HTPP phân bón: Chuyển từ hệ thống phân phối do AMPCs kiểm soát sang hệ thống mang tính cạnh tranh hơn giữa AMPCs, các nhà sản xuất phân bón và các trạm nông nghiệp

(3) Giá định hướng của Chính phủ thay cho giá quy định của Chính phủ: UBKHNN chỉ đặt giá xuất xưởng, còn giá cả giữa các nhà sản xuất lớn và giá mua bán được tự do thoả thuận

(4) Mở rộng hệ thống đại lý nhập khẩu: trong khi SINOCHEM là nhà nhập khẩu chính, CNAMPGC cũng được phép nhập khẩu và SINOCHEM được phép phân phối phân bón tại thị trường trong nước, mục đích là tăng tính cạnh tranh của thị trường

(5) Thể chế hoá việc điều hành nhập khẩu: Uỷ ban Kinh tế thương mại Nhà nước được Quốc vụ Viện giao trách nhiệm quản lý điều hành nhập khẩu phân bón

(6) Cải tiến chế độ hạn ngạch nhập khẩu: Ngoài AMPCs các cấp , một số đơn vị sản xuất NPK và một số trạm vật tư nông nghiệp cũng được cấp hạn ngạch nhập khẩu với số lượng hạn chế

Về việc tham gia của các doanh nghiệp FDI đối với phân phối phân bón: Trung Quốc đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới năm 2001 và

thực hiện mở cửa thị trường phân phối theo các cam kết WTO Tuy nhiên, mặt hàng phân bón là mặt hàng kinh doanh có điều kiện và quyền phân

phối phân bón bị hạn chế theo quy định tại “Những biện pháp Quản lý đầu

tư nước ngoài trong lĩnh vực nội thương” có hiệu lực thi hành từ ngày 01

Trang 34

tháng 06 năm 2004 Theo quy định tại Điều 17 thì “ không một doanh

nghiệp thương mại bán buôn có vốn đầu tư nước ngoài nào được kinh doanh phân bón, dầu đã lọc và dầu thô trước ngày 11/12/2006; Không

một doanh nghiệp thương mại bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài nào có thể được kinh doanh thuốc chữa bệnh, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật và dầu đã lọc trước ngày 11/12/2004, và cũng không một doanh nghiệp thương mại bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài nào có thể được kinh doanh phân bón trước 11/12/2006”

Như vậy, các doanh nghiệp FDI chỉ được tham gia phân phối (bán buôn, bán lẻ) mặt hàng phân bón tại trị trường nội địa Trung Quốc kể từ

ngày 11/12/2006 trở đi Tuy nhiên, Điều 18 quy định: “Trong trường hợp

mà cùng một nhà đầu tư xây dựng tổng số hơn 30 cửa hàng trong phạm vi Trung Quốc, nếu hàng hóa kinh doanh bao gồm sách, báo, tạp chí, xe ô-tô (sự hạn chế này sẽ được dỡ bỏ từ 1l/12/2006), thuốc chữa bệnh, thuốc trừ

sâu, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, dầu đã lọc, lương thực, dầu thực vật,

đường, bông và những mặt hàng khác, và hàng hóa nói trên có nhãn mác khác nhau và xuất phát từ những nhà cung cấp khác nhau, tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá 49%” Với tỷ lệ góp vốn

của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp FDI kinh doanh phân bón bị hạn chế ở mức không vượt quá 49%, Chính phủ Trung Quốc vẫn giành quyền kiểm soát kinh doanh phân bón cho các thương nhân Trung Quốc

Ngoài ra, được sự phê duyệt của Quốc vụ viện Trung Quốc, nhằm

hạn chế xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu sử dụng tăng của thị trường trong nước theo tính chất thời vụ, nước này quyết định thu thêm thuế xuất khẩu đặc biệt đối với các loại sản phẩm phân bón và một số nguyên liệu Theo công bố của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, kể từ ngày 20/4/2008 đến 30/9/2008, đối với tất cả các hình thức thương mại, địa phương, doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm phân bón và một số nguyên liệu, trên cơ sở nộp thuế suất xuấu khẩu hiện hành, phải nộp thêm thuế xuất khẩu đặc biệt, thuế suất là 100% Các loại phân bón và nguyên liệu phải nộp thuế đặc biệt thuộc phạm vi: phosphate, ammonium, phân nitơ, phân phosphor, phân Kali, phân bón phức hợp và các loại khác

Hệ thống phân phối phân bón của Sinochem Fertilizer:

Sinochem Fertilizer (Sinofert) do Tập đoàn Sinochem Trung Quốc giữ quyền kiểm soát, là doanh nghiệp phân bón lớn nhất Trung Quốc và cũng là một trong những nhà nhập khẩu sản phẩm phân bón lớn nhất nước này về mặt khối lượng Sinofert cũng là nhà phân phối phân bón lớn nhất Trung Quốc hiện nay Tổng khối lượng bán hàng năm 2006 của Sinochem Fertilizer là 12,57 triệu tấn, chiếm 14% thị phần thị trường Trung Quốc

Trang 35

Sinochem Fertilizer có mạng lưới phân phối rộng nhất ở Trung Quốc, bao trùm 22 tỉnh nông nghiệp và hơn 80% diện tích đất trồng của Trung Quốc Đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2006, hệ thống Sinochem Fertilizer có 17 chi nhánh, 1357 trung tâm bán hàng trên toàn Trung Quốc Sinochem Fertilizer đã thiết lập hệ thống kho hàng và phương tiện vận chuyển để phục vụ cho mạng lưới phân phối của công ty Hiện nay, lực lượng logistics của Sinochem fertilizer đã cung cấp cho 25.000 khách hàng từ làng xã tới thành phố Đồng thời Sinofert cũng chịu trách nhiệm cung cấp phân bón cho các loại cây trái vụ

Sản xuất: Sinochem Fertilizer tập trung sản xuất phân bón chất

lượng cao dựa trên các nguồn không thay mới được Đến ngày 31/12/2006 Sinochem nắm giữ cổ phần trong 7 nhà máy sản xuất phân bón với tổng công suất 3,03 triệu tấn, trong đó 75% là phân lân từ nguồn quặng phốt phát không thay mới được và 25% là phân NPK

Nhập khẩu: Sinochem Fertilizer là nhà nhập khẩu phân bón lớn nhất

Trung Quốc hiện nay và có quan hệ mua bán đầu tư với các nhà sản xuất, phân phối phân bón lớn trên toàn thế giới, có thế mạnh trong đàm phán về giá cả bởi tính hấp dẫn của thị trường phân bón lớn nhất thế giới và cũng bởi thương hiệu đã được thừa nhận của Sinofert

1.3 Thái Lan:

Không giống như nhiều nước khác trong khu vực (Inđônêxia hay Philippin), hệ thống phân phối phân bón chịu sự quản lý và điều tiết chặt chẽ của thương mại nhà nước và kiểm soát giá cả trong mục tiêu đảm bảo anh ninh lương thực, HTPP phân bón ở Thái Lan được hình thành trên cơ

sở quan hệ thị trường và chủ yếu do khu vực tư nhân thực hiện Hệ thống lưu thông phân bón từ nhà sản xuất/nhập khẩu tới người sử dụng là nông dân qua hệ thống thương mại Nhà nước chỉ chiếm khoảng 10% doanh số bán lẻ phân bón toàn xã hội, qua các HTX chiếm 15% còn lại 75% được thực hiện qua kênh phân phối của khu vực tư nhân, trong đó các nhà sản xuất phân phối trực tiếp 10%, 65% còn lại được thực hiện qua kênh của các nhà bán buôn, bán lẻ khu vực tư nhân (Sơ đồ 4) Các hình thức giao hàng phổ biến như sau: hầu như toàn bộ phân bón đều được đóng gói tại nhà máy bằng túi nhựa chắc chắn không thấm nước, trọng lượng 50 kg và được vận chuyển bằng đường bộ cho các khoảng cách không vượt quá 400 km chiếm 95% tổng lượng tiêu thụ Khoảng 5% lượng tiêu thụ được vận chuyển bằng đường thuỷ cho những khoảng cách đến 700 km

Chính phủ Thái Lan quản lý, điều tiết thị trường phân bón thông qua việc thực hiện các biện pháp sau:

Trang 36

- Kiểm soát chặt chẽ việc đóng gói, ghi nhãn của nhà sản xuất: các quan chức chính phủ giám sát việc bao gói tại nhà máy Theo đó, phân bón được bao gói trong túi nhựa dai, không thấm nước khối lượng 50kg Trên bao bì phải in rõ số đăng ký, hàm lượng chất dinh dưỡng và áp dụng cho đối tượng cây trồng

- Kho hàng của nhà sản xuất, nhập khẩu, nhà bán buôn đều phải đăng

ký với cơ quan có thẩm quyền;

- Các nhà bán buôn, bán lẻ phân bón phải đăng ký kinh doanh với Chính phủ;

- Chính phủ thực hiện việc miễn thuế và thuế giá trị gia tăng đối với kinh doanh phân bón;

- Cục Nội thương thực hiện việc kiểm soát giá bán lẻ phân bón

Sơ đồ 4: Hệ thống phân phối phân bón của Thái Lan

2 Một số bài học có thể vận dụng cho Việt Nam:

Thứ nhất, Chính phủ các nước đều rất quan tâm và điều tiết mạnh

mẽ thị trường phân bón - vật tư thiết yếu của sản xuất nông nghiệp Việc

phát triển và đảm bảo lưu thông thông suốt mặt hàng phân bón với giá cả

ổn định sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì và phát triển sản xuất

Trang 37

nông nghiệp, một lĩnh vực cơ bản và nhạy cảm của nền kinh tế quốc dân

Tăng cường giám sát và điều tiết thị trường phân bón là việc mà Chính phủ Việt Nam nên áp dụng, nhất là trong bối cảnh giá cả phân bón leo thang

mạnh mẽ như hiện nay Sự điều tiết và quản lý của Chính phủ các nước lựa chọn đối với mặt hàng phân bón được thực hiện theo các công cụ và biện pháp khác nhau: Nhật Bản thực hiện chính sách bảo hộ hệ thống phân phối mặt hàng phân bón trong quan hệ chặt chẽ với bảo hộ việc sản xuất lúa gạo

ở nước này qua hệ thống phân phối lấy các HTX nông nghiệp làm nòng cốt Hệ thống phân phối phân bón của Trung Quốc có lẽ là gần gũi với hệ thống phân phối phân bón ở Việt Nam nhất HTPP phân bón ở Trung Quốc dưới thời kinh tế kế hoạch hoá tập trung là một hệ thống duy nhất của Nhà nước và do các công ty nhà nước đảm nhận từ khâu sản xuất, đến lưu thông Trung Quốc bắt đầu cải cách HTPP theo hướng thị trường từ khi thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, nhất là để thực hiện các cam kết WTO

mà nước này gia nhập từ năm 2001 Cho đến nay, HTPP phân bón ở Trung Quốc đã được tự do hoá với sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế Tuy nhiên, về cơ bản, các Tổng công ty, công ty hoá chất phân bón và các công

ty vật tư nông nghiệp các cấp vẫn là các công ty Nhà nước hoặc nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (51%) vẫn là lực lượng chủ đạo trên thị trường phân bón (ví dụ như Sinofert)

Thứ hai, Việt Nam cần cân nhắc lựa chọn mô hình tổ chức hệ thống

phân phối phân bón phù hợp và hiệu quả nhằm đảm bảo cung cấp đủ, kịp

thời nguồn phân bón với giá cả ổn định để đảm bảo phát triển sản xuất nông nghiệp và cải thiện thu nhập cho nông dân Tổ chức HTPP phân bón

ở Nhật Bản dựa chủ yếu vào mạng lưới Liên minh hợp tác xã nông nghiệp các cấp Liên minh HTX nông nghiệp giữ vai trò xương sống của HTPP phân bón Nhật Bản Trong khi ở Trung Quốc, hệ thống các công ty vật tư nông nghiệp các cấp và các công ty hoá chất nắm vai trò chủ đạo trong một thị trường phân bón ngày càng tự do và cởi mở hơn Đối với Thái Lan, Chính phủ lại chú trọng tới các biện pháp điều hành gián tiếp thông qua việc ban hành hệ thống tiêu chuẩn và quy định, giám sát chặt chẽ việc thực thi các tiêu chuẩn và quy định đồng thời để giá cả hình thành theo quy luật của thị trường và Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ sản xuất lưu thông phân bón bằng ưu đãi thuế và thuế VAT Thực ra thì mỗi hệ thống đều có những ưu, nhược điểm riêng Ví dụ một HTPP dựa chủ yếu trên quan hệ thị trường như ở Thái Lan sẽ duy trì được mức giá phân bón cạnh tranh, nhưng nếu Nhà nước không có chính sách phù hợp để khuyến khích, hỗ trợ xây dựng mạng lưới phân phối phân bón ở những vùng sâu, vùng xa thì rất có thể người nông dân nơi đây sẽ không có cơ hội để sử dụng phân bón Trong khi HTPP phân bón HTX của Nhật Bản được tổ chức chặt chẽ và có ưu

Trang 38

điểm lớn là đảm bảo chất lượng và ổn định cung cấp phân bón cho nông dân Nhưng nhược điểm của hệ thống là giá cả cao và khó thích ứng với cơ chế thị trường đòi hỏi có sự linh hoạt, mềm dẻo trong phương thức kinh doanh

Thứ ba, Việt Nam nên tổ chức HTPP phân bón dựa chủ yếu trên

quan hệ thị trường có sự điều tiết của Nhà nước thông qua những quy định

và tiêu chuẩn rõ ràng, minh bạch đồng thời đảm bảo sự giám sát, kiểm soát của Nhà nước đối với việc chấp hành những tiêu chuẩn và quy định này

Qua nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy những hệ thống phân phối

phân bón được bảo hộ thường không hiệu quả so với hệ thống phân phối tự

do trên cơ sở quan hệ thị trường Vì vậy, những HTPP được bảo hộ như HTPP phân bón HTX của Nhật Bản hay hệ thống PP phân bón do kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo như Trung Quốc đều đặt ra những yêu cầu cải

tổ lớn để nâng cao khả năng cạnh tranh về giá nhằm góp phần duy trì mức giá lương thực ổn định Trong khi HTPP phân bón dựa trên quan hệ thị trường như ở Thái Lan đã chứng tỏ tính hiệu quả và phù hợp, qua đó đảm bảo được mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực cho Thái Lan

Thứ tư, một HTPP phân bón dựa trên cơ sở quan hệ thị trường không những không mâu thuẫn với yêu cầu quản lý và điều tiết của Nhà nước đối với mặt hàng phân bón mà còn hỗ trợ cho công tác quản l ý, điều

tiết vĩ mô thị trường này Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua nghiên cứu

HTPP phân bón của Thái Lan Chính phủ nước này, trong khi cho phép thị trường phân bón được tự do lưu thông và khu vực tư nhân chiếm thị phần chính trong HTPP với 75% thì lại quy định rất rõ về các điều kiện kinh doanh phân bón, các tiêu chuẩn kỹ thuật, đóng gói, bao bì, lưu kho và tăng cường sự giám sát trực tiếp của Chính phủ đối với việc đảm bảo các quy định và tiêu chuẩn kinh doanh phân bón ở doanh nghiệp Hơn nữa, Chính phủ cũng giao cho Cục Thương mại trong nước nhiệm vụ kiểm soát giá bán

lẻ phân bón Với môi trường quy định rõ ràng như vậy, HTPP phân bón ở Thái Lan là một hệ thống mang tính cạnh tranh cao và đảm bảo hiệu quả tốt hơn so với HTPP của các nước lựa chọn khác Như vậy, một HTPP phân

bón tự do hoàn toàn khác với một HTPP phân bón bị buông lỏng quản lý

như ở Việt Nam hiện nay

Thứ năm, các HTX nông nghiệp, HTX cung tiêu là những mắt xích

quan trọng trong HTPP mặt hàng phân bón Chính phủ các nước thông qua hệ thống HTX mà thực hiện điều tiết và can thiệp vào thị trường phân bón Mô hình HTPP phân bón ở Nhật Bản lấy hệ thống HTX các cấp làm

xương sống Hơn 90% doanh số bán lẻ phân bón trên thị trường được thực hiện qua HTPP HTX dẫu hệ thống này đang có vấn đề và yêu cầu cấp thiết

Trang 39

đặt ra là phải thực hiện cải tổ cơ cấu Trong HTPP phân bón của Trung Quốc và Thái Lan, tuy các HTX không nắm giữ thị phần chính (lưu thông phân bón qua kênh HTX chiếm 15% doanh số bán lẻ phân bón của Thái Lan), nhưng vẫn là lực lượng phân phối quan trọng, nhất là các HTX này được tổ chức theo địa bàn sản xuất lương thực và có ảnh hưởng lớn tới việc hình thành giá bán lẻ phân bón trên thị trường Việt Nam cần nghiên cứu và

có biện pháp để củng cố vai trò của HTX trong HTPP phân bón để hệ thống này thực sự phát huy tác dụng trong việc đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 40

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HTPP MẶT HÀNG PHÂN BÓN

TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

I THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG PHÂN BÓN CỦA VIỆT NAM

1 Tình hình sản xuất và cung ứng phân bón

1.1 Sản xuất trong nước:

Với chủ trương phát triển mạnh ngành công nghiệp phân bón để chủ động phục vụ sản xuất nông nghiệp trong nước, hạn chế nhập khẩu, sản xuất phân bón vô cơ trong nước đã không ngừng tăng trưởng qua các năm Hiện nay năng lực sản xuất phân bón trong nước đã đáp ứng được trên 60% nhu cầu sử dụng phân vô cơ với tổng sản lượng sản xuất hàng năm đạt khoảng 6 triệu tấn các loại

Năng lực sản xuất phân bón vô cơ trong nước hiện nay:

Đối với phân Lân: Năng lực hiện có của các doanh nghiệp sản xuất

phân lân trong nước hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu về số lượng và chất lượng cho sản xuất nông nghiệp trong nước Hiện nay có 4 nhà máy chính thuộc Tổng công ty Hoá chất Việt Nam tham gia sản xuất phân lân như: Công ty Supe phot phát và hoá chất Lâm Thao, Phân lân nung chảy Văn Điển, Ninh Bình và Supe photphát Long Thành với công suất bình quân 1.500.000 tấn/năm

Đối với phân Đạm: Nhà máy phân đạm Hà Bắc hiện có công suất

180 ngàn tấn urê/năm, nhà máy Phú Mỹ có công suất khoảng 760 ngàn tấn urê/năm Tổng lượng urê sản xuất trong nước năm 2007 đạt 930 ngàn tấn/năm, đáp ứng được khoảng 50,93% nhu cầu đạm của cả nước Đến năm

2010, khi hoàn thành nhà máy sản xuất phân đạm Cà Mau với công suất thiết kế 800 ngàn tấn/năm; nhà máy phân đạm sản xuất từ than cám đã được Chính phủ phê duyệt xây dựng tại Ninh Bình có công suất thiết kế

330 ngàn tấn/năm sẽ đáp ứng đủ nhu cầu của cả nước

Đối với phân DAP: nhà máy sản xuất DAP tại Hải Phòng có công

suất thiết kế 330 ngàn tấn/năm sẽ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu về phân DAP cho sản xuất nông nghiệp, năm 2009 nhà máy sẽ đi vào hoạt động

Đối với phân Kali: Hiện nay, trong nước chưa sản xuất được Kali

nên phải nhập khẩu 100%

Đối với phân NPK, phân phức hợp, phân hữu cơ sinh học, phân khoáng hữu cơ được sản xuất theo hướng đáp ứng yêu cầu của từng vùng

sinh thái, có hiệu quả đối với từng loại cây trồng với tỷ lệ dinh dưỡng đảm

Ngày đăng: 15/05/2014, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Francis Kwong (2002) A retail-Led Distribution Model, China Resources Enterprise Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Francis Kwong (2002)
5. Fred Gale và Thomas Readron (2004) China’s Modernizing Suppermarket sector Present Major Opportunities for US Agricultural Export Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fred Gale và Thomas Readron (2004)
6. Market Research Centre (2001) China Super Store Market, China Sách, tạp chí
Tiêu đề: Market Research Centre (2001)" China Super Store Market
7. Steven Ramonas (2002) Thailand Supermarket Entry: Wal- Mart, Thai Lan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thailand Supermarket Entry: Wal- Mart, Thai Lan
Tác giả: Steven Ramonas
Năm: 2002
8. Delolete (2004) 2004 Global Powers of Retailing, National Retail Ferderation Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Powers of Retailing
Tác giả: Delolete
Nhà XB: National Retail Federation
Năm: 2004
9. MiWA, NISHIMURA and RAMSEYER, Distribution in Japan, Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Distribution in Japan
Tác giả: MiWA, NISHIMURA, RAMSEYER
Nhà XB: Oxford University Press
11. FAO, “Curren world ferlilizer trend and outlook” các năm 12. Worldbank, 2007, Global Economic Prospects. Annual Report, World Bank, Washington DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Economic Prospects. Annual Report
Tác giả: Worldbank
Nhà XB: World Bank
Năm: 2007
14. Ma Jixian, A Being Globalized and Market-Oriented China Fertiliser r Circulation System Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Being Globalized and Market-Oriented China Fertiliser Circulation System
Tác giả: Ma Jixian
13. ITC/CNUCED/WTO, Import,Export Statistics Database Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Mô hình lưu thông phân bón hoá học - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Sơ đồ 2 Mô hình lưu thông phân bón hoá học (Trang 23)
Sơ đồ 3: Hệ thống phân phối phân bón ở Nhật Bản (1997) - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Sơ đồ 3 Hệ thống phân phối phân bón ở Nhật Bản (1997) (Trang 27)
Sơ đồ 4: Hệ thống phân phối phân bón của Thái Lan - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Sơ đồ 4 Hệ thống phân phối phân bón của Thái Lan (Trang 36)
Bảng 1: Sản lượng sản xuất phân bón 2000 – 2008 - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Bảng 1 Sản lượng sản xuất phân bón 2000 – 2008 (Trang 41)
Bảng 3: Lượng nhập khẩu phân bón vào Việt Nam từ 2001 – 2008 - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Bảng 3 Lượng nhập khẩu phân bón vào Việt Nam từ 2001 – 2008 (Trang 42)
Bảng 4:  Lượng  phân bón vô cơ sử dụng  ở Việt Nam - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Bảng 4 Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở Việt Nam (Trang 44)
Bảng 5: Mức sử dụng phân bón và năng suất cây trồng - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Bảng 5 Mức sử dụng phân bón và năng suất cây trồng (Trang 45)
Bảng 6: Cân đối cung cầu phân bón năm 2008 - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Bảng 6 Cân đối cung cầu phân bón năm 2008 (Trang 46)
Sơ đồ 5:  Kênh phân phối phân bón hoá học - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Sơ đồ 5 Kênh phân phối phân bón hoá học (Trang 53)
Sơ đồ 6: Hệ phân phối phân bón hoá học nhập khẩu của - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Sơ đồ 6 Hệ phân phối phân bón hoá học nhập khẩu của (Trang 64)
Sơ đồ 7: Mô hình phân phối phân đạm Phú Mỹ - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Sơ đồ 7 Mô hình phân phối phân đạm Phú Mỹ (Trang 66)
Sơ đồ 9: HỆ THỐNG TIÊU THỤ ĐẠM PHÚ MỸ - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Sơ đồ 9 HỆ THỐNG TIÊU THỤ ĐẠM PHÚ MỸ (Trang 68)
Sơ đồ 10: MÔ HÌNH HỆ THỐNG PHÂN PHỐI CỦA - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Sơ đồ 10 MÔ HÌNH HỆ THỐNG PHÂN PHỐI CỦA (Trang 69)
Bảng 12: Dự kiến cung cầu phân bón năm 2010 và 2015 - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Bảng 12 Dự kiến cung cầu phân bón năm 2010 và 2015 (Trang 83)
Sơ đồ 12: Mô hình phát triển hệ thống phân phối do nhà bán - Tổ chức và quản ly hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam
Sơ đồ 12 Mô hình phát triển hệ thống phân phối do nhà bán (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w