1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam

118 412 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Hệ Thống Phân Phối Mặt Hàng Phân Bón Ở Việt Nam
Tác giả ThS. Nguyễn Xuân Chiến, CN. Lê Thị Kim Ngân, ThS. Hoàng Thanh Hải, ThS. Lê Huy Khôi, ThS. Nguyễn Hoài Nam, CN. Lê Thu Hiền, ThS. Nguyễn Châu Hà
Trường học Bộ Công Thương
Thể loại Đề tài khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, toàn bộ lượng thép xây dựng sản xuất và nhập khẩu ở nước ta được phân phối trên thị trường nội địa bởi nhiều chủ thể khác nhau như: 1 Các doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty T

Trang 1

Bé c«ng Th−¬ng

§Ò tµi khoa häc cÊp Bé

M· sè: 2007-78-024

tæ chøc vµ QU¶n lý hÖ thèng ph©n phèi mÆt hµng thÐp x©y dùng

Trang 2

Bộ công Thương

Đề tài khoa học cấp Bộ Mã số: 2007-78-024

tổ chức và Quản lý hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở việt nam

Cơ quan quản lý: Bộ Công Thương

Đơn vị thực hiện: Vụ Thị trường trong nước

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Xuân Chiến

Thành viên đề tài:

CN Lê Thị Kim Ngân ThS Hoàng Thanh Hải ThS Lê Huy Khôi ThS Nguyễn Hoài Nam

CN Lê Thu Hiền ThS Nguyễn Châu Hà

Trang 3

1.3 CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT

1.3.1 Cơ chế đối với lĩnh vực sản xuất và kinh doanh thép 20 1.3.2 Cơ chế đối với nhập khẩu thép xây dựng và phế liệu ngành thép 24 1.4 NHẬN XÉT VỀ NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, NGUYÊN

NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN

1.4.3 Nguyên nhân và vấn đề đặt ra cần giải quyết 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HỆ

2.1 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP

2.1.1.Tình hình phân phối thép của Tổng Công Ty thép Việt Nam (VSC) 34 2.1.2 Phân phối thép của các doanh nghiệp sản xuất thuộc TCT Thép

2.1.3 Phân phối thép của các doanh nghiệp liên doanh 38 2.1.4 Phân phối thép của khối các doanh nghiệp ngoài VSC và các tổ

2.2 CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI

2.2.1 Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng 44 2.2.2 Công tác quản lý hệ thống phân phối mặ hàng thép xây dựng 49

Trang 4

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ

THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝHỆ THỐNG PHÂN PHỐI

3.1 CÁC YẾU TỐ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ

PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG PHÂN PHỐI SẮT THÉP XÂY DỰNG

3.2 MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH

3.3 PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ

CHỨC VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP

3.3.1 Triển vọng phát triển thị trường thép xây dựng trong thời gian tới sẽ

tác động trực tiếp đến sự phát triển các kênh phân phối trên các khía cạnh 71 3.3.2 Tập trung củng cố và phát triển mô hình kênh phân phối thép xây

3.3.3 Phát triển liên kết giữa các nhà sản xuất và cung ứng thép xây

3.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC TỔ CHỨC

VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP XÂY

3.4.2 Các giải pháp đối với Hiệp hội thép Việt Nam 85

Trang 5

MỞ ĐẦU

Sắt thép luôn là vật tư quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong sản xuất và xây dựng các công trình công nghiệp cũng như dân dụng Đặc biệt, Việt Nam là nước đang phát triển, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì nhu cầu sử dụng các loại sắt thép nói chung, trong đó có thép xây dựng sẽ ngày càng cao

Theo Bộ Công Thương, hiện tại tổng công suất cán thép xây dựng vẫn vượt 2 lần công suất luyện, 80% sản lượng phôi thép hiện nay được sản xuất

từ thép phế liệu Ngành thép Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu, thành phẩm nhập khẩu, do vậy sản xuất thường bị động và chịu nhiều thiệt hại khi giá cả thị trường biến động Bên cạnh đó, công suất các loại sản phẩm thép (phôi thép, thép thành phẩm) của các dự án đầu tư hiện nay đang vượt xa nhu cầu sắt thép các loại dự kiến trong quy hoạch (năm

2015 dự báo nhu cầu khoảng 15 triệu tấn, năm 2020: khoảng 20 triệu tấn) nên việc cạnh tranh trên thị trường thép nội địa và xuất khẩu sẽ rất gay gắt Việc

dư thừa công suất sản phẩm kéo dài, dẫn đến việc sử dụng công suất cán thép chỉ đạt khoảng 60 - 70%, trình độ công nghệ ở mức trung bình, tiêu hao nguyên vật liệu cao, khả năng cạnh tranh thấp dẫn đến khối lượng xuất khẩu còn hạn chế

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Thép Việt Nam thì hiện nay nhu cầu

sử dụng thép xây dựng trong nước chiếm khoảng 60% tổng nhu cầu sử dụng sắt thép các loại để phục vụ phát triển kinh tế đất nước Nhu cầu sử dụng thép xây dựng đã tăng dần qua các năm cuối của thế kỷ 20 và tăng mạnh trong những năm qua Trong giai đoạn 2004 - 2007, sản lượng sản xuất thép xây dựng trong nước hàng năm tăng bình quân 10,5%/năm, từ 2.365 ngàn tấn năm 2004 lên 3.098 ngàn tấn năm 2007 đã đáp ứng được toàn bộ nhu cầu tiêu dùng trong nước, tuy nhiên trên thị trường vẫn có một lượng rất ít thép xây dựng nhập khẩu, chủ yếu của Trung Quốc

Theo Quyết định số 145/2007/QĐ-TTg ngày 4/9/2007 của Thủ tướng

Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn

2007 - 2015, có xét đến năm 2025” thì nhu cầu thép thành phẩm các loại

Trang 6

đến năm 2010 là 11 - 12 triệu tấn; năm 2015 là 15 - 16 triệu tấn; năm 2025 khoảng 24-25 triệu tấn; sản xuất phôi thép năm 2010 đạt 3,5 - 4,5 triệu tấn, năm 2015 đạt 6-8 triệu tấn và đến năm 2025 đạt từ 12 - 15 triệu tấn; sản xuất thép thành phẩm đạt 6,3 - 6,5 triệu tấn vào năm 2010; 11 - 12 triệu tấn vào năm 2015; 19 - 22 triệu tấn vào năm 2025 (trong đó có 11 -13 triệu tấn thép dẹt và 0,2 triệu tấn thép đặc biệt)

Hiện nay, toàn bộ lượng thép xây dựng sản xuất và nhập khẩu ở nước ta được phân phối trên thị trường nội địa bởi nhiều chủ thể khác nhau như: (1) Các doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Thép (VSC)

(2) Các công ty cổ phần, công ty TNHH và các liên doanh ngoài VSC có sản xuất và kinh doanh thép;

(3) Các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sản xuất và kinh doanh thép; (4) Các doanh nghiệp chuyên kinh doanh thép;

(5) Các hộ gia đình tại các làng nghề và các cửa hàng bán lẻ độc lập Theo số liệu điều tra thống kê năm 2005 của Tổng Cục thống kê, cả nước có tới 1.010 doanh nghiệp và 1.985 hộ kinh doanh trong ngành hàng sắt thép, tạo thành hệ thống mạng lưới phân phối sắt thép khá phức hợp trên thị trường Hệ thống phân phối thép xây dựng trong nước trong thời gian qua đã đạt được những thành công đáng kể như:

- Đã hình thành các kênh phân phối sắt thép và vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Số lượng kênh phân phối thép ngày càng tăng lên và sự vận hành của các kênh đã thông suốt hơn

- Các kênh phân phối sản phẩm thép trên thị trường nước ta cũng đã phát triển nhanh và hết sức đa dạng về chủ sở hữu, về tập khách hàng (theo qui mô nhu cầu tiêu thụ, theo khu vực thị trường ), về điều kiện và khả năng tiếp cận khách hàng của nhà sản xuất

- Đã hình thành và phát triển được một số kênh dọc lớn, có tầm bao phủ rộng và có thương hiệu trên thị trường, được khách hàng tin tưởng, như kênh phân phối của Tổng công ty thép Việt Nam, kênh phân phối thép của Tập đoàn Hoà Phát

Trang 7

- Sự phát triển nhanh về số lượng các cơ sở, cửa hàng kinh doanh bán lẻ độc lập đã tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và các nhà sản xuất tiêu thụ sản phẩm trên thị trường

Bên cạnh những thành tựu trên thì hệ thống phân phối thép xây dựng trên thị trường nội địa vẫn còn tồn tại những hạn chế như:

- Số lượng kênh nhiều nhưng phần lớn là các kênh nhỏ và cắt khúc theo từng đoạn kênh (ngắn)

- Có rất ít các nhà sản xuất, cung ứng thép xây dựng phát triển được các kênh phân phối sản phẩm riêng của mình Hơn nữa, kênh phân phối thuộc hệ thống tổ chức của các nhà sản xuất này cũng mới chỉ đảm nhận tiêu thụ được khoảng 1/3 sản lượng sản xuất, còn lại nhà sản xuất phải phụ thuộc vào các kênh phân phối bên ngoài hệ thống

- Phần lớn các kênh phân phối thép xây dựng được hình thành một cách

tự phát, thiếu định hướng chiến lược về thị trường và khách hàng, vai trò lãnh đạo kênh không được phân định rõ ràng, các thành viên kênh thiếu tính liên kết để tạo sức mạnh

- Cấu trúc của các kênh phân phối khá phức tạp, có nhiều cấp trung gian

do chính các trung gian trong kênh phân phối tạo ra

- Các nhà phân phối lớn, nhất là các tổng đại lý thường phải là người kiểm soát trực tiếp và có quyền lực thực sự trong các kênh phân phối Trong khi đó, các nhà sản xuất thép xây dựng, kể cả các doanh nghiệp Nhà nước với vai trò điều tiết, ổn định giá cả thị trường lại không phải là người thực sự có quyền kiểm soát các kênh phân phối và sản phẩm thép xây dựng của mình trên thị trường

Như vậy, việc Bộ Công Thương giao Vụ Thị trường trong nước nghiên

cứu đề tài “Tổ chức và quản lý hệ thống phân phối mặt hàng thép xây

dựng ở Việt Nam” có ý nghĩa quan trọng đối với việc bình ổn thị trường thép

xây dựng trong nước vì sản xuất thép xây dựng trong nước đang được đầu tư

phát triển mạnh không chỉ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế đất nước mà còn xuất khẩu ra thị trường thế giới

Đề tài “Tổ chức và quản lý hệ thống phân phối mặt hàng thép xây

Trang 8

dựng ở Việt Nam” hướng tới các mục tiêu sau:

- Đánh giá những nhân tố trong và ngoài nước tác động đến việc quản lý

và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng sắt thép ở Việt Nam

- Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu mặt hàng sắt thép, cũng như thực trạng công tác quản lý và tổ chức hệ thống phân phối thép xây dựng của Việt Nam trong thời gian qua;

- Đưa ra mục tiêu và phương hướng tổ chức và quản lý hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng của Việt Nam trong thời gian tới; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý và tổ chức phân phối mặt hàng thép xây dựng của Việt Nam trong thời gian tới năm

2015 và định hướng đến năm 2020

Vì vậy, ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về thị trường thép xây dựng Việt Nam

Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác tổ chức và quản lý hệ

thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức

và quản lý hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng

Trang 9

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THÉP XÂY DỰNG VIỆT NAM 1.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ THÉP XÂY DỰNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 2007

1.1.1 Thực trạng sản xuất thép xây dựng trong nước

1.1.1.1 Sản lượng sản xuất thép xây dựng

Năm 1990, sự ra đời của Tổng Công ty Thép Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự bình ổn thị trường thép trong nước Năm 1996 là năm đánh dấu sự chuyển mình lớn của ngành thép Việt Nam khi có 5 công ty sản xuất thép ra đời: Công ty thép Việt Nhật (VinaKyoei), Công ty liên doanh thép Việt Úc (Vinausteel), Công ty liên doanh thép Việt Hàn (VPS), Công ty liên doanh thép Việt Nam - Singapo (Nasteel) và Công ty liên doanh thép Việt Nam - Đài Loan (Vinatafong), với công suất khoảng 800.000 tấn/năm

Sau 20 năm đổi mới, sản xuất thép ở Việt Nam đã có bước phát triển nhanh chóng Giai đoạn 2001 - 2008, số lượng các doanh nghiệp mới gia nhập ngành thép tiếp tục tăng nhanh, đồng thời các doanh nghiệp hiện có cũng gia tăng đầu tư tăng công suất và mở rộng sản phẩm Cùng với sự gia tăng đầu tư của các doanh nghiệp ngành thép, sản lượng các sản phẩm thép

đã liên tục tăng trưởng với tốc độ cao Hiện công suất cán thép của Việt Nam khoảng 6 triệu tấn/năm Theo thống kê của Hiệp hội thép Việt Nam, trong năm 2007 sản lượng sản xuất phôi trong nước đạt 2.022 ngàn tấn, tăng 44%

so với năm 2006; thép xây dựng đạt 3.950 ngàn tấn, tăng 14% so với năm

2006, năm 2008 ước đạt 3.700 ngàn tấn

- Cơ cấu thép sản xuất theo thành phần doanh nghiệp tham gia:

Hiện tại cả nước có trên 70 doanh nghiệp sản xuất thép và hàng ngàn hộ sản xuất cá thể Cơ cấu các cơ sở sản xuất thép như sau:

+ Tổng công ty thép Việt Nam (VSC) với 13 đơn vị thành viên và 14 đơn vị liên doanh chiếm 32% thị phần

+ Các doanh nghiệp liên doanh và 100% vốn nước ngoài chiếm 30% thị phần

+ Các DNNN ngoài Tổng công ty thép Việt Nam chiếm 15% thị phần

Trang 10

+ Các công ty cổ phần, TNHH, hợp tác xã (HTX) và xí nghiệp tư nhân

và các hộ gia đình chiếm 23% thị phần

Cơ cấu sản lượng thép sản xuất năm 2007 cho thấy, sản lượng của Tổng công ty Thép Việt Nam chiếm 35,7%, liên doanh với Tổng Công ty Thép chiếm 23,87% và các doanh nghiệp ngoài VSC chiếm 40,43% tổng sản lượng thép sản xuất

Xét cơ cấu sản lượng sản xuất thép theo công ty cho thấy: Sản lượng của Công ty thép Thái Nguyên chiếm 12,7%, Công ty thép miền Nam 17,38%, Công ty thép Pomina 14,79%, Công ty thép Vinakyoei 8,65%, Công ty thép Hoà Phát 5,61% và Công ty thép Việt Hàn chiếm 4,24%,

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Thép Việt trong giai đoạn 2004 -

2007, sản lượng thép sản xuất tăng bình quân hàng năm 10,5%/năm Sản lượng sản xuất tăng từ 2.365 ngàn tấn năm 2004 lên 3.098 ngàn tấn năm

2007 Trong đó, tốc độ tăng sản lượng sản xuất của VSC lại khá chậm, chỉ đạt 2,1%/năm trong cùng giai đoạn; của các liên doanh với VSC đạt 5,15%/năm và tăng trưởng sản lượng sản xuất cao nhất thuộc về các doanh nghiệp ngoài VSC, đạt bình quân hàng năm 26,69%/năm trong giai đoạn

2004 - 2007

Trong giai đoạn 2000 - 2007, sản lượng thép cán và sản phẩm kéo dây tăng bình quân 16,16%/năm, trong đó năm 2002 đạt tốc độ tăng mạnh nhất, đạt 30,75% và năm 2005 tốc độ tăng trưởng thấp nhất, chỉ đạt 3,77% Cùng với tốc độ tăng trưởng của thép cán và sản phẩm kéo dây, tốc độ tăng bình

Biểu đồ 1.1 Thị phần các công ty thép năm 2007

Nguồn: Số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam năm 2007

Trang 11

quân hàng năm của thép thỏi cũng khá cao, bình quân giai đoạn 2003 - 2007

đạt 19,2%/năm; sản lượng thép thỏi sản xuất tăng từ 591 ngàn tấn năm 2003

Trang 12

1.1.1.2 Về nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất

- Quặng sắt: Đến nay ngành địa chất đ· phát hiện trên 200 điểm quặng lớn nhỏ trong cả nước Trong đó có 91 mỏ và điểm mỏ quặng sắt đó được thăm dò ở các mức độ khác nhau với trữ lượng địa chất khoảng 1,2 tỷ tấn Trữ lượng đó thăm dò đạt gần 1 tỷ tấn, tập trung ở các mỏ sau: Thạch Khê (Hà Tĩnh), Quý Xa (Lào Cai), Trại Cau, Tiến Bộ (Thái Nguyên), Cao Bằng

và Hà Giang, với trữ lượng khoảng 850 triệu tấn Trong các mỏ chỉ có mỏ sắt Trại Cau đ· được khai thác ở quy mô công nghiệp để cấp quặng cho các lò cao của Công ty Gang thép Thái Nguyên, từ năm 1963 đến nay đó khai thác được 7.5 triệu tấn quặng nguyên khai Hiện nay mỏ Trại Cau sắp hết quặng, chỉ còn lại khoảng 3,6 triệu tấn quặng nằm phân tán rải rác, khó khai thác Đáng kể nhất là các mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh) và mỏ Quý Xa (Lào Cai) Trữ lượng có thể chắc chắn khai thác được là 400 triệu tấn

- Thép phế liệu: Sau năm 1975, chấm dứt thời kỳ chiến tranh kéo dài, nguồn sắt thép phế liệu do chiến tranh để lại ở nước ta có hàng chục triệu tấn Thời gian đó, ngành luyện kim trong nước chưa phát triển, mỗi năm chỉ sản xuất được 50.000 T đến 60.000T thép, sử dụng từ 60.000 đến 70.000 tấn sắt thép phế liệu, nên hầu hết các địa phương thu mua thép phế liệu để xuất khẩu lấy ngoại

tệ Mãi tới những năm 1985 - 1986, Chính phủ mới hạn chế và sau đó cấm hẳn xuất thép phế liệu để giữ lại làm nguyên liệu cho ngành luyện kim trong nước

Ở thời kỳ kinh tế bao cấp, giá thu mua sắt thép phế liệu do Nhà nước qui định quá thấp, không khuyến khích dân thu gom, nên các công ty thép không thể mua được thép phế liệu cho các lò điện nấu luyện, Công ty Thép miền Nam vào những năm 1979 - 1980, sản lượng chỉ đạt 25.000 -30.000 tấn/năm

Tới những năm 90, thế kỷ XX nhờ đổi mới chính sách kinh tế của đất nước, ngành luyện kim trong nước, với 22 lò luyện thép, sản lượng phôi thép

đó tăng dần Cũng từ năm 1990, các công ty sản xuất thép đó gặp nhiều khó khăn trong việc thu mua thép phế Trước năm 1995, Việt Nam là nước xuất khẩu thép phế (từ 2 - 3 triệu tấn/năm) Từ năm 1998, Việt Nam đó phải nhập khẩu thép phế cho nhu cầu luyện thép của các lò điện do phế liệu trong chiến tranh đã cạn, nhu cầu tiêu dùng thép chưa cao (bình quân thép tiêu dùng trên đầu người 78 kg, lượng thép phế ít)

Trang 13

Từ năm 2000, để có đủ nguyên liệu sản xuất, các công ty sản xuất thép đó phải tìm nguồn thép phế nhập khẩu từ nước ngoài (chủ yếu từ Nga, Nhật…) với giá cao để bổ sung hoà trộn với thép phế thu mua trong nước

cú giá rẻ hơn, nhằm bảo đảm giá thành phôi thép ngang với giá phôi thép nhập khẩu Đó xuất hiện một số công ty phá dỡ tàu cũ, nhập tầu cũ của nước ngoài hoặc thu mua tàu cũ trong nước tháo dỡ, thu hồi các tấm thép

và phụ tùng của tàu còn sử dụng để bán cho các nhà máy luyện thép làm nguyên liệu lò điện Tuy nhiên, việc tháo dỡ tàu cũ cũng còn nhiều khó khăn trở ngại, nên chưa phát triển, do nguồn tàu cũ không nhiều, vốn mua tàu cũ đòi hỏi lớn, vấn đề vị trí tháo dỡ và bảo vệ môi trường nơi tháo dỡ cũng phải đầu tư mới cú thể tiến hành

1.1.2 Tình hình tiêu thụ thép xây dựng trong nước

Trong giai đoạn từ 1998 - 2007 việc sản xuất và nhập khẩu thép tăng gấp khoảng 3 lần, tuy nhiên vẫn chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu tiêu dùng Nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng trên thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2007 chủ yếu được cung cấp bởi hai nguồn chính là sản xuất trong nước và nhập khẩu Trong đó, thép xây dựng trong nước chủ yếu được cung cấp bởi nguồn sản xuất trong nước (Nhu cầu thép xây dựng hàng năm chiếm khoảng 60% tổng sản lượng thép của toàn xã hội)

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, tiêu thụ thép trong nước cũng đạt tốc độ tăng trưởng rất cao Nguồn thép lưu thông tại thị trường trong nước được chia thành 3 nhóm chính:

(1) Nhóm vừa được nhập khẩu lại vừa được sản xuất trong nước như thép xây dựng, thép ống mạ kẽm (chiếm khoảng 60% tổng lương sắt thép); (2) Nhóm hoàn toàn nhập khẩu, bao gồm các loại thép đặc chủng như thép định hình loại lớn, thép lò xo, thép dây, thép tấm cán nóng hoặc cán nguội, thép kỹ thuật khác Nhóm thép này chiếm 38% khối lượng sắt thép tiêu thụ trong nước;

(3) Nhóm thứ ba chỉ được sản xuất trong nước, phục vụ cho nhu cầu cá biệt và có yêu cầu kỹ thuật không cao như thép để làm hoa văn cửa, tường rào Nhóm này chỉ chiếm 2% khối lượng thép lưu thông trên thị trường

Trang 14

Bảng 1.3 Lượng thép xây dựng tiêu thụ của các doanh nghiệp

Nguồn: Số liệu của Tổng Công ty Thép năm 2007

Trong giai đoạn 2001 - 2007, tiêu thụ thép tiếp tục duy trì tốc độ tăng

Trang 15

thép của Việt Nam tăng từ 3.220 ngàn tấn năm 2000 lên 6.300 ngàn tấn năm

2005, đến năm 2006 đạt gần 7.200 ngàn tấn (trong đó sản xuất trong nước là 4.700 ngàn tấn, nhập khẩu thép thành phẩm là 3.800 ngàn tấn) và năm 2007 đạt 10.400 ngàn tấn (tăng trên 44,4% so với năm 2006) và là mức tăng cao nhất của khu vực Đông Nam Á

- Cơ cấu tiêu thụ thép theo doanh nghiệp

Xét tiêu thụ thép xây dựng trong giai đoạn 2004 - 2007 cho thấy, nhu cầu thép xây dựng tăng bình quân hàng năm 13,24%/năm Tổng nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng tăng từ 2.230 ngàn tấn năm 2004 lên 3.235 ngàn tấn năm 2007 Trong

đó, tốc độ tăng tiêu thụ thép hàng năm của VSC đạt bình quân 6,0%/năm; của các doanh nghiệp liên doanh với VSC đạt 10,11%/năm; đặc biệt là tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ của các doanh nghiệp ngoài VSC đạt 25,01%/năm

Theo ước tính của Hiệp hội Thép Việt Nam, nhu cầu thép xây dựng hàng năm vào khoảng 60% nhu cầu sử dụng thép của toàn bộ nền kinh tế Trong giai đoạn 2001 - 2007, tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ thép trong xây dựng cơ bản đạt bình quân 18,40%/năm, trong khi nhu cầu tiêu thụ thép trong sản xuất công nghiệp chỉ tăng bình quân 9,47%/năm Thép phục vụ cho các ngành công

nghiệp cơ khí, chế tạo hiện tăng chậm hơn so với nhu cầu thép xây dựng

Biểu đồ 1.2 Số liệu tiêu thụ thép qua các năm

Trang 16

Xét cơ cấu tiêu thụ thép của Tổng công ty Thép cho thấy, tiêu thụ thép của khu vực miền Bắc và miền Nam chiếm tỷ trọng chủ yếu, miền Bắc đạt 1.040 ngàn tấn, chiếm 40,78%, miền Nam đạt 1.060 ngàn tấn, chiếm 41,57%, còn lại là miền Trung 301,78 ngàn tấn, chiếm 17,65% Xét cơ cấu tiêu thụ thép của Tổng công ty Thép Việt Nam theo chủng loại sản phẩm cho thấy, tiêu thụ thép cuộn đạt 813,91 ngàn tấn, chiếm 31,9%, thép thanh đạt 1.640 ngàn tấn, chiếm 64,3%, thép hình đạt 95, 88 ngàn tấn, chiếm 3,8%

- Cơ cấu tiêu thụ thép xây dựng theo vùng lãnh thổ:

Các mặt hàng thép xây dựng thông thường sản xuất trong nước được tiêu thụ trên khắp vùng lãnh thổ nhưng phân bổ không đều Kết quả khảo sát thị trường cho thấy, khoảng 44% sản lượng thép xây dựng của cả nước được tiêu thụ ở khu vực miền Bắc, miền Trung là khoảng 12% và miền Nam là 44% Phần lớn các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền Trung là thị phần tiêu thụ thép xây dựng của các doanh nghiệp tư nhân sản xuất và hầu hết là thép chất lượng thấp

Cụ thể tiêu thụ thép xây dựng đối với các vùng như sau:

+ Đối với khu vực phía Bắc:

Tốc độ tăng bình quân hàng năm tiêu thụ thép xây dựng của khu vực phía Bắc đạt 13,63%/năm trong giai đoạn 2004 - 2007 Tổng lượng thép tiêu thụ tăng

từ 928,7 ngàn tấn năm 2004 lên 1.430 ngàn tấn năm 2007 Trong đó, tiêu thụ của các doanh nghiệp VSC tăng không nhiều, từ 294.391 tấn năm 2004 lên 348.637 tấn năm 2007; tương tự liên doanh với VSC đạt 300.233 tấn năm 2004 lên 390.019 tấn năm 2007 và ngoài VSC đạt tốc độ tăng tiêu thụ mạnh nhất, tăng từ 355.034 tấn năm 2004 lên tới 691.778 tấn năm 2007

Tỷ trọng thép xây dựng tiêu thụ của khu vực phía Bắc đạt bình quân hàng năm trên 40% so với tổng nhu cầu tiêu thụ của cả nước Thể hiện, năm 2004 đạt 44,07%, sang năm 2005 tỷ trọng này tuy có giảm khá mạnh, chỉ còn 40,89%, song đã tăng trở lại và đạt 44,22% vào năm 2007

Trang 17

B¶ng 1.4 Tiªu thô thÐp x©y dùng khu vùc miÒn B¾c

thụ thép xây dựng của khu vực miền Nam đạt 5,73%/năm trong giai đoạn

2004 - 2007 Tổng lượng thép tiêu thụ tăng từ 257,2 ngàn tấn năm 2004

lên 300 ngàn tấn năm 2007 Trong đó, lượng thép tiêu thụ của VSC đã

giảm từ 124,9 ngàn tấn năm 2004 xuống còn 103,9 ngàn tấn năm 2007;

tiêu thụ của các liên doanh với VSC lại tăng giảm một cách rất thất

thường, thể hiện, sản lượng tiêu thụ năm 2004 đạt 45,8 ngàn tấn, tăng lên

Trang 18

61,4 ngàn tấn năm 2005 và sau đó lại giảm xuống chỉ còn 49,5 ngàn tấn

năm 2006 và 31 ngàn tấn năm 2007; tuy nhiên lượng thép tiêu thụ của các

doanh nghiệp ngoài VSC lại có tốc độ tăng khá cao, lượng tiêu thụ đạt 84

ngàn tấn năm 2004, tăng lên 185 ngàn tấn năm 2007 Tỷ trọng tiêu thụ so

với cả nước đạt bình quân hàng năm khoảng 10%

B¶ng 1.5 Tiªu thô thÐp x©y dùng khu vùc miÒn Trung

xây dựng của khu vực miền Nam đạt 11,01%/năm trong giai đoạn 2004 - 2007

Tổng lượng thép tiêu thụ tăng từ 1.000,3 ngàn tấn năm 2004 lên 1.353,9 ngàn tấn

năm 2007 Tỷ trọng tiêu thụ so với cả nước đạt bình quân khoảng trên 40%

Trang 19

B¶ng 1.6 Tiªu thô thÐp x©y dùng khu vùc miÒn Nam

Nguån: Tæng c«ng ty ThÐp ViÖt Nam, n¨m 2007

1.2 NHẬP KHẨU MẶT HÀNG SẮT THÉP XÂY DỰNG CỦA VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN 2001 - 2007

Trước năm 1990, việc nhập khẩu các sản phẩm thép được nhà nước giao

cho một số đơn vị đầu mối thuộc Bộ Thương mại như Tổng Công ty Xuất

nhập khẩu Khoáng sản, Tổng Công ty Kim khí Việt Nam trên cơ sở tiếp nhận

hàng theo Nghị định thư từ Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa khác

Sau năm 1990, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ dẫn đến nguồn cung ứng

gang, thép như trước không còn nữa, Nhà nước đã kịp thời có chính sách mở

cửa cho phép mọi thành phần kinh tế được tham gia hoạt động xuất nhập

Trang 20

khẩu các sản phẩm thép Từ thời điểm đó trở đi, thị trường thép Việt Nam đã dần dần hoà nhập thị trường thế giới và chịu mọi tác động về các biến động chung đối với các sản phẩm thép Hiện nay, sắt thép là một trong những mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này luôn đứng thứ ba, chỉ sau máy móc, thiết bị và xăng dầu

Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong năm 2007 có sự tham gia của khoảng 1.870 doanh nghiệp trong nước, tăng 200 đơn vị so với năm 2006 Kết quả nhập khẩu và số lượng doanh nghiệp tham gia nhập khẩu trên cả nước cho thấy hoạt động sản xuất, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong năm 2007 rất sôi động Số lượng các doanh nghiệp có kim ngạch nhập khẩu đạt

từ 1 triệu USD trở lên tăng mạnh, đạt khoảng 420 đơn vị

Bảng 1.7 Lượng nhập khẩu sắt thép các loại

Đơn vị: Tấn, %

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

Tổng số 2.868 3.801 4.948,9 4.622,8 5.186,1 5.524,0 5.624,0 7.705,0 Tăng 32,53 30,20 -6,59 12,19 6,52 1,81 37,00

Nguồn: Niên giám Thống kê - Tổng cục Thống kê năm 2007

Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu thép bình quân trong giai đoạn 2000 -

2007 đạt 16,24%/năm Trong đó, tốc độ tăng nhập khẩu thép thành phẩm đạt 20,27%/năm trong cùng giai đoạn và tốc độ tăng bình quân của nhập khẩu phôi thép là 9,72%/năm

Năm 2007, tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam đạt 5,1 tỷ USD tương đương 7.800 ngàn tấn, tăng 66% về trị giá và 37% về lượng so với năm 2006, nếu so với năm 2005 thì tăng 73% về trị giá và tăng 42% về lượng

Trang 21

Biểu đồ 1.3 Lượng nhập khẩu thép của Việt Nam 2006 - 2007

- Về thị trường nhập khẩu:

Việt Nam hiện có quan hệ nhập khẩu thép với nhiều nước trên thế giới Trong đó, 8 thị trường hàng đầu là Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Thái Lan và Ucraina thường chiếm trên 80% tổng khối lượng nhập khẩu thép vào Việt Nam Trung Quốc đã trở thành nhà cung cấp hàng đầu cho Việt Nam Ngược lại, các thị trường khác như Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc tuy vẫn là những thị trường cung cấp thép quan trọng cho Việt Nam, nhưng tỷ trọng nhập khẩu từ các thị trường này đều có xu hướng giảm rõ rệt Thị trường các nước ASEAN cũng chiếm khoảng trên 10% lượng thép nhập khẩu thép của Việt Nam

Năm 2007, Việt Nam đã nhập khẩu sắt thép từ gần 70 thị trường trên thế giới Trong đó, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc đạt 2,3 tỷ USD, tăng 59% so với năm 2006, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam Nhập khẩu từ Nhật Bản cũng tăng đáng kể, đạt kim ngạch hơn

676 triệu USD, tăng 37,79% so với năm 2006 Đáng chú ý, nhập khẩu sắt thép từ Đài Loan và Malaysia tăng rất mạnh, đạt kim ngạch lần lượt là 567,9 triệu USD và 383,9 triệu USD Ngoài bốn thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Malayxia chiếm 77% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam, đạt gần 4 tỷ USD, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ hầu hết các thị trường còn lại đều tăng mạnh so với năm 2006, cụ thể:

Trang 22

+ Nhập khẩu từ Hàn Quốc tăng 36,9%, đạt 284,9 triệu USD;

+ Nhập khẩu từ Thái Lan tăng 116%, đạt 207 triệu USD;

+ Nhập khẩu từ Nga tăng 28,7%, đạt 179 triệu USD;

+ Nhập khẩu từ Inđônêxia tăng 22,9%, đạt 74 triệu USD;

Bảng 1.8 Kim ngạch nhập khẩu sắt thép các loại từ một số thị trường

chính của Việt Nam 2006 - 2007

Đơn vị: Triệu USD, %

Trong cơ cấu nhập khẩu thép giai đoạn 2000 - 2007, tỷ trọng thép thành

phẩm nhập khẩu ngày càng cao, năm 2000 tỷ trọng của sản phẩm này là

Trang 23

57,91%, đến năm 2005 con số này là 59,69% và năm 2007 là 73,29% Trong

cơ cấu thép thành phẩm nhập khẩu vào Việt Nam, thép lá chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 60%, tiếp đến là thép tấm chiếm khoảng trên 20%, các loại thép hình, thép ống chiếm khoảng trên 10%, thép xây dựng và các loại thép còn lại chỉ chiếm dưới 10% tổng lượng nhập khẩu

Tương ứng, tỷ trọng phôi thép nhập khẩu trong tổng khối lượng nhập khẩu thép của Việt Nam có xu hướng giảm trong giai đoạn này Ngoài khối lượng phôi thép nhập khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam còn nhập khẩu thép phế liệu để sản xuất phôi thép trong nước Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu thép phế của Việt Nam vào khoảng từ 1,5đến 2,0 triệu tấn/năm

- Về lượng phôi thép nhập khẩu:

Ngành thép hiện phải phục thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu chính là phôi thép, do ngành thép mới chỉ chủ động đáp ứng được khoảng trên 50% lượng phôi phục vụ cho cán thép xây dựng, còn lại vẫn phụ thuộc vào thị trường thế giới, đặc biệt là thị trường Trung Quốc Sản lượng phối thép nhập khẩu đã tăng bình quân khoảng 9,72%/năm trong giai đoạn 2001 - 2007 Lượng thép nhập khẩu tăng từ 1.626 ngàn tấn năm 2001 lên 2.058 ngàn tấn năm 2007 Nhìn chung, nhập khẩu phôi thép của Việt Nam trong thời gian qua biến động rất thất thường, đặc biệt là trong năm 2008

Biểu đồ 1.4 Diễn biến lượng phôi nhập khẩu năm 2005 - 2008

Trang 24

- Về giá nhập khẩu phôi thép

Giá nhập khẩu phôi thép nhập khẩu liên tục tăng trong thời gian qua, thể hiện: Giá phôi thép nhập khẩu đã tăng từ khoảng từ 400 USD/tấn năm 2005

và 2006 lên khoảng 500 USD/tấn năm 2007 và lên khoảng 800 USD/tấn từ đầu năm cho đến tháng 9/2008, đặc biệt là mức tăng kỷ lục lên tới 1.000 USD/tấn vào tháng 9/2008 Tuy nhiên, từ sau tháng 9/2008 đến nay, giá phôi thép nhập khẩu đã liên tục giảm rất mạnh, xuống mức hiện nay vào khoảng

500 USD/tấn Sự biến động của giá phôi thép nhập khẩu của Việt Nam trong

giai đoạn 2005 - 2008 được thể hiện ở Biểu đồ 1.5

Biểu đồ 1.5 Giá nhập khẩu phôi 2005 - 2008

1.3 CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉP VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

1.3.1 Cơ chế đối với lĩnh vực sản xuất và kinh doanh thép

(1) Quyết định số 134/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm 2010”

(2) Việc giá thép xây dựng tăng đột biến trên thị trường nội địa, gây ảnh hưởng bất lợi cho nhu cầu phát triển của nhiều lĩnh vực, nguyên nhân chính

là tác động của việc tăng đột biến giá phôi thép và thép trên thế giới, sự yếu

Trang 25

kém của khâu phân phối thép trong nước Trong những lần sốt giá thép trước,

dù VSA đã có rất nhiều biện pháp nhằm bình ổn thị trường, khâu phân phối, lưu thông vẫn rất lộn xộn và chưa được tổ chức tốt, gây thiệt hại lớn cho người tiêu dùng và làm hỗn loạn thị trường Nhằm củng cố, phát triển ngành thép Việt Nam, xây dựng được hệ thống phân phối vững chắc, có các phương thức kinh doanh đa dạng, hiện đại nhằm bình ổn thị trường thép xây dựng nội địa, bảo đảm cạnh tranh thắng lợi trong môi trường kinh doanh bước vào hội nhập Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Thương mại đã ra Quyết định số 2212/2005/QĐ-BTM, ngày 15 tháng 08

năm 2005, ban hành “Quy chế kinh doanh thép xây dựng” Quy chế mới

đề cập tới nhiều vấn đề nhằm yêu cầu các doanh nghiệp thiết lập, quản lý chặt hệ thống kinh doanh thép xây dựng trên thị trường Việt Nam Theo Quy chế này, hệ thống kinh doanh thép xây dựng trên thị trường Việt Nam

sẽ bao gồm các chủ thể như nhà cung ứng, nhà phân phối, tổng đại lý, đại

lý bán lẻ và các đơn vị trực thuộc các chủ thể này như chi nhánh, xí nghiệp, cửa hàng bán lẻ Quy chế kinh doanh thép xây dựng đã khuyến khích các doanh nghiệp thành lập hệ thống phân phối và tiêu thụ thép của riêng mình và cũng quy định rõ yêu cầu cụ thể về thực hiện ghi nhãn thép xây dựng và niêm yết giá bán thép xây dựng Quy chế này áp dụng đối với các

tổ chức, cá nhân kinh doanh thép xây dựng thuộc mọi thành phần kinh tế

Nội dung chủ yếu của Quy chế đề cập đến:

- Các DN sản xuất, nhập khẩu và lưu thông thép xây dựng (nhà phân phối thép) chỉ được duy trì hoạt động kinh doanh phân phối thép khi thiết lập được hệ thống phân phối thép của mình qua các đơn vị trực thuộc (công ty, chi nhánh, cửa hàng) và qua các tổng đại lý, đại lý bán lẻ thuộc

DN khác

- Tổng đại lý thép xây dựng được phép làm đại lý bán thép cho nhiều nhà phân phối thép với nhiều chủng loại thép xây dựng khác nhau, nhưng đối với mỗi loại thép xây dựng (có quy cách phẩm chất, nhãn mác và giá bán cụ thể) chỉ được nhận bán hàng của một nhà phân phối thép

- Mọi cửa hàng, điểm bán lẻ thép xây dựng không thuộc hệ thống kinh

Trang 26

doanh của nhà phân phối thép hoặc hệ thống của các Tổng đại lý do các nhà phân phối thép thiết lập đều không được phép kinh doanh thép xây dựng trên thị trường nội địa

- Trên địa bàn một tỉnh, mỗi DN sản xuất thép xây dựng hoặc chuyên doanh thép xây dựng chỉ được tổ chức từ 2-3 tổng đại lý bán thép xây dựng trực thuộc tuỳ theo điều kiện của từng tỉnh

Đây có thể nói là một định hướng đúng cho phát triển hệ thống phân phối thép xây dựng trong thời gian tới đây, đặc biệt trong bối cảnh thời gian thực hiện cam kết WTO về lĩnh vực phân phối sẽ chính thức hết hạn vào đầu năm 2009

(3) Quyết định số 145/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 4/9/2007 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025

(4) Trước tình hình giá thép xây dựng tiếp tục tăng cao (nguyên nhân chính do giá phôi nhập và giá nhiều loại nguyên vật liệu luyện kim như thép phế, quặng sắt, giá dầu, cước vận chuyển,… tăng cao), ngày 14/3/2008 Thủ tướng Chính phủ đã có công văn chỉ thị các bộ ngành, đơn vị liên quan về việc kiềm chế tăng giá và tham gia bình ổn thị trường thép

(5) Nhằm quản lý hoạt động kinh doanh thép trong thời gian gần đây, hạn chế tình trạng đầu cơ, ngăn chặn giới kinh doanh thép có cơ hội thao túng giá Chính phủ đã có Công văn 1609/VPCP-KTTH ngày 14/3/2008, chính thức có ý kiến yêu cầu các ngành chức năng phải tăng cường giám sát “xử lý nghiêm những vi phạm về liên kết độc quyền giá, nâng giá thép thành phẩm bất hợp lý”

(6) Chỉ thị số 30/2004/CT-TTg ngày 05/8/2005, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu “Bộ Công nghiệp chủ trì, phối hợp Bộ Thương mại chỉ đạo Tổng công ty Thép Việt Nam và Hiệp hội thép Việt Nam trong tháng 8 năm 2004 hoàn thiện hệ thống cung ứng thép, tăng cường năng lực điều hành quản lý thị trường, chống đầu cơ, độc quyền hoặc liên kết độc quyền về giá thép; sớm ban hành Quy chế điều hành thị trường thép trong nước áp dụng cho cả doanh

Trang 27

nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo chỉ đạo của Thủ tướng Chỉnh phủ"

(7) Quyết định 266/2006/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án chuyển Tổng Công

ty Thép Việt Nam sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con”

Theo đó, công ty mẹ - Tổng Công ty Thép Việt Nam là công ty Nhà nước, được hình thành trên cơ sở tổ chức lại văn phòng Tổng công ty Thép, Công ty Thép Miền Nam, Công ty Thép tấm lá Phú Mỹ, các đơn vị hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp và các chi nhánh

Theo Quyết định 266/2006/QĐ-TTg, các công ty con của Tổng Công ty Thép Việt Nam bao gồm: 8 công ty do Công ty mẹ giữ cổ phần, vốn góp chi phối; 4 công ty thực hiện cổ phần hoá năm 2007 - 2008 do công ty mẹ giữ cổ phần chi phối Ngoài ra, Tổng công ty Thép Việt Nam còn có 21 công ty cổ phần, liên doanh có cổ phần hoặc vốn góp của Công ty mẹ dưới 50% vốn điều lệ

Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định TTg thành lập Công ty mẹ - Tổng công ty Thép Việt Nam Theo Quyết định này, ngành, nghề kinh doanh của Tổng Công ty Thép Việt Nam bao gồm: sản xuất thép và các kim loại khác, vật liệu chịu lửa; khai thác quặng sắt, than mỡ

267/2006/QĐ-và các nguyên liệu phụ trợ dung cho công nghiệp sản xuất thép; xuất nhập khẩu và kinh doanh các sản phẩm thép và nguyên nhiên liệu luyện, cán thép; thi công xây lắp các công trình sản xuất thép, các công trình công nghiệp và dân dụng; kinh doanh khí ôxy, nitơ, argon; cung cấp, lắp đặt hệ thống thiết bị dẫn khí; kinh doanh tài chính;

(8) Pháp lệnh Giá, chương 2 mục 1, điều 5, mục tiêu bình ổn giá Nhà nước thực hiện các chính sách, biện pháp cần thiết tác động vào quan hệ cung cầu để bình ổn giá thị trường đối với những hàng hoá, dịch vụ quan trọng, thiết yếu trong đó có mặt hàng thép xây dựng, kiểm soát lạm phát, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh, của người tiêu dùng và lợi ích của Nhà nước, góp phần khuyến khích đầu tư phát triển Điều 6,biện pháp bình ổn giá, trong trường hợp giá cả hàng hoá và dịch vụ quan trọng, thiết yếu có sự biến động

Trang 28

bất thường thì Nhà nước có thể sử dụng các biện pháp để bình ổn giá thị trường

1.3.2 Cơ chế đối với nhập khẩu thép xây dựng và phế liệu ngành thép

* Đối với nhập khẩu thép xây dựng

Do sản xuất thép xây dựng trong nước đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng nên thép xây dựng là mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu nên tuỳ vào mức biến động thị trường thép xây dựng trong nước, các bộ ngành đã ra các văn bản điều chỉnh linh hoạt mức thuế nhập khẩu và quản lý nhập khẩu

cụ thể đối với việc nhập khẩu thép xây dựng, ví dụ trong năm 2008 đã có 2 quyết định cụ thể :

(1) Quyết định số 84/2008/QĐ-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 6/10, thuế suất thuế xuất khẩu đối với mặt hàng sắt, thép thuộc phân nhóm 7204.50.00.00 và thuộc các nhóm 7206, 7207 (quy định tại Quyết định số 106/2007/QĐ-BTC ngày 20/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) được điều chỉnh giảm từ 10%, xuống còn 5%

(2) Quyết định số 16/2008/QĐ-BCT của Bộ Công Thương ngày 03 tháng 7 năm 2008 về việc tạm thời áp dụng chế độ cấp giấy phép xuất khẩu

Đối với về vấn đề quản lý phế liệu, phế thải nhập khẩu, Điều 9, Quyết định 46/2001/QĐ-TTg quy định: “giao Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ

Trang 29

và Môi trường căn cứ pháp luật hiện hành, quy định và công bố danh mục phế liệu, phế thải cấm nhập khẩu, điều kiện và tiêu chuẩn các loại phế liệu, phế thải sử dụng làm nguyên liệu sản xuất trong nước được phép nhập khẩu

để làm cơ sở cho doanh nghiệp làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu”

(2) Cụ thể hoá Quyết định 46/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 11/5/2001 Bộ trưởng Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường đã ban hành Quyết định số 10/2001/QĐ-BKHCNMT (gọi tắt là Qyết định 10/2001)

về việc ban hành tạm thời Danh mục các loại phế liệu đã được xử lý thành nguyên liệu được phép nhập khẩu

Với mục tiêu bảo vệ môi trường đất nước, tránh những tác động xấu từ hoạt động nhập khẩu phế liệu nói chung và phế liệu sắt thép nói riêng, Điều 2 Quyết định 10/2001 nêu rõ:

- Phế liệu quy định trong Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này chỉ được phép nhập khẩu khi đã làm sạch hoàn toàn hoá chất độc, chất phóng

xạ, các chất dễ cháy, dễ nổ, các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc động thực vật,

có nguy cơ gây dịch bệnh, chất thải y tế;

- Phế liệu quy định trong Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này cũng phải được xử lý loại bỏ các tạp chất như: dầu, mỡ, cao su, chất dẻo, nhựa đường và các tạp chất khác

Trong Điều 3 của Quyết định 10/2001 quy định về điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu “phải là những phế liệu đã được xử lý thành nguyên liệu” đồng thời việc sử dụng phải đúng mục đích đó là “sử dụng chúng vào mục đích sản xuất”, số lượng nhập khẩu phải phù hợp với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp, phế liệu nhập khẩu phải có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Việc sử dụng phế liệu nhập khẩu sai mục đích bị nghiêm cấm

(3) Ngay sau khi ra đời, qua thực tế áp dụng ngắn ngủi, Quyết định 10/2001/QĐ-BKHCNMT đã vấp phải sự phản ứng dữ dội của các nhà sản xuất sắt thép Nhằm giải quyết những bất cập, tồn tại của Quyết định 10/2001/QĐ-BKHCNMT, ngày 11/12/2001, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành Quyết định số 65/2001/QĐ-BKHCNMT (sau này gọi là

Trang 30

Quyết định 65/2001) về việc ban hành Danh mục các loại phế liệu đã được

xử lý đảm bảo yêu cầu về môi trường được phép nhập khẩu để làm nguyên liệu sản xuất (thay thế Quyết định 10/2001/QĐ-BKHCNMT) Những điều khoản trong Quyết định 65/2001 tập trung quy định các loại phế liệu và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và cơ quan môi trường trong việc nhập khẩu các loại phế liệu đã qua xử lý

(4) Để tháo gỡ cho ngành thép và một số ngành khác như nhựa, giấy, thuỷ tinh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định 03/2004/QĐ-BTNMT ngày 02/04/2004 Kèm theo Quyết định 03/2004/QĐ-BTNMT là Quy định về bảo vệ môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất

(5) Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT ngày 08 tháng 9 năm 2006 về việc ban hành Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất Ban hành kèm theo Quyết định này Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất Việc nhập khẩu phế liệu phải thực hiện theo các quy định tại Điều 42 và Điều 43 của Luật Bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật có liên quan

1.4 NHẬN XÉT VỀ NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM

1.4.1 Những thành tựu đạt được

1.4.1.1 Về sản xuất thép trong nước

- Sản lượng phôi thép do các doanh nghiệp trong nước sản xuất trong thời gian qua tăng mạnh qua từng năm, năm 2007 đã đáp ứng 40% nhu cầu phôi thép toàn ngành

- Lượng thép tiêu thụ của cả năm 2007 đã đạt 10,3 triệu tấn, mức tăng này đã đưa Việt Nam trở thành thị trường có mức tiêu thụ thép cao nhất khu vực Đông Nam Á

- Năm 2007 cũng ghi nhận bình quân tiêu thụ thép của Việt Nam đã gần

Trang 31

tiệm “ngưỡng” 100kg thép/người/năm, mức được nhiều chuyên gia khẳng định là điểm đầu trong giai đoạn cất cánh của công nghiệp quốc gia

- Cùng với sự phát triển của ngành thép, hàng loạt dự án, với số vốn đầu

tư lên tới hàng tỉ USD công bố sẽ đầu tư sản xuất phôi, các loại thép thành phẩm tại Việt Nam

- Chúng ta đã sản xuất thành công thép tấm cán nóng tại cụm công nghiệp thép Cửu Long Vinashin (Hải Phòng) Điều đó cũng có nghĩa là nhà sản xuất sẽ nắm được quyền chủ động kinh doanh trên thị trường thép nói chung và thép xây dựng nói riêng

1.4.1.2 Về nhập nhập khẩu thép và phôi thép

- Số lượng các doanh nghiệp tham gia nhập khẩu các sản phẩm thép tăng nhanh, đáp ứng được cho nhu cầu tiêu thụ thép đang ngày càng gia tăng nhanh chóng của cả nước

- Tỷ lệ các chủng loại sản phẩm thép trong cơ cấu mặt hàng nhập khẩu có

sự thay đổi lớn Nguyên nhân chủ yếu làm thay đổi tỷ lệ này là do trong những năm qua một loạt các nhà máy sản xuất thép xây dựng (chủ yếu là các doanh nghiệp liên doanh và các doanh nghiệp tư nhân cán thép) được đầu tư lắp đặt

và đã đi vào sản xuất ổn định

- Cơ cấu nhập khẩu thép xây dựng theo vùng lãnh thổ đã có sự thay đổi khá lớn Trước đây khu vực miền Bắc nhập khẩu các sản phẩm thép xây dựng chiếm trên 60% tổng lượng của cả nước thì hiện nay tỷ lệ này đang có xu hướng giảm đi Do tốc độ phát triển kinh tế ở phía Nam nhanh hơn phía Bắc, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài nên càng ngày khu vực phía Nam càng chiếm tỷ trọng lớn trong việc tiêu thụ các sản phẩm thép nhập khẩu

- Để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng của thép xây dựng trên thị trường trong nước Tăng tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất thép cũng ngày càng tăng để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất trong nước

Trang 32

1.4.2 Những hạn chế cần khắc phục

1.4.2.1 Đối với hoạt động sản xuất

- Mặc dù ngành công nghiệp thép Việt Nam có tốc độ tăng trưởng bình quân 18%/năm nhưng quy mô còn nhỏ bé, phân tán và trình độ công nghệ vẫn ở mức trung bình và thấp Chính vì vậy mà khả năng cạnh tranh thấp, thị trường phụ thuộc bên ngoài, giá thép luôn bấp bênh khó kiểm soát khiến cả người tiêu dùng và doanh nghiệp đều thiệt hại

- Tốc độ tăng sản lượng thép xây dựng sản xuất trong nước đã không đáp ứng kịp nhu cầu tăng trưởng Điều này đồng nghĩa với tính chủ động trong chiến lược phát triển ngành và hoạch định thị trường đã bị suy giảm, hạn chế

- Bất chấp sự tăng trưởng của sản lượng sản xuất trong nước và sản lượng tiêu thụ, giá thép xây dựng trên thị trường Việt Nam vẫn tăng với tốc

độ khá nhanh trong thời gian qua Trong 5 năm (2003 - 2008), giá thép xây dựng đã tăng gấp đôi

- Hàng loạt lò sản xuất thép xây dựng thủ công đang đua nhau tung ra các loại thép xây dựng kém chất lượng Tình trạng cân thiếu, trộn thép nhà máy với thép gia công, thép Trung Quốc nhập khẩu giá rẻ đang rất phổ biến

- Vấn đề đầu tư sản xuất phôi - là khâu đầu rất quan trọng, ảnh hưởng nhiều tới sản xuất và cạnh tranh của sản phẩm thép Tuy nhiên, theo Hiệp hội thép Việt Nam thì thực tế, sản xuất phôi thép mới đáp ứng khoảng trên 50% tổng nhu cầu

1.4.2.2 Đối với hoạt động nhập khẩu thép, phôi thép và phế liệu phục vụ cho sản xuất thép trong nước

- Việc cấm nhập tầu cũ về tháo dỡ hoặc quy định những điều kiện khắt khe, như phải loại bỏ mọi thứ không phải là thép ở nơi bán tàu mới cho phép nhập đã gây khó khăn lớn cho các nhà sản xuất thép trong nước

- Trong bối cảnh giá phôi thép nhập khẩu ngày càng tăng cao, nếu các doanh nghiệp không đẩy mạnh sản xuất, chủ động về nguồn phôi trong nước

Trang 33

rất khó cạnh tranh được với thép nhập khẩu

- Hiện nay các doanh nghiệp luyện gang vẫn sử dụng lò cao công suất nhỏ; công nghệ luyện thép phần lớn sử dụng lò điện công suất dưới

30 tấn/mẻ… Trong khi đó, Việt Nam phải cạnh tranh khốc liệt với các sản phẩm thép từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản do tác động của việc thực hiện các cam kết WTO Đặc biệt, các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với những thách thách từ ngành thép Trung Quốc Họ đang xuất khẩu thép với giá thành thấp, cung vượt cầu trên thị trường nội địa

và nâng giá nguyên liệu đầu vào đối với các nước trong khu vực…

- Những bất cập, tồn tại trong việc nhập khẩu phế liệu sắt thép và nguyên nhân: Hoạt động nhập khẩu phế liệu sắt thép trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng kể như đáp ứng tương đối yêu cầu về nguyên liệu cho sản xuất phôi thép trong nước, các doanh nghiệp nhập khẩu từng bước đáp ứng được các yêu cầu về mặt môi trường Tuy nhiên trong hoạt động này vẫn tồn tại một số bất cập, tồn đọng:

Thứ nhất, hiện tượng lợi dụng nhập khẩu phế liệu nói chung và phế liệu

sắt thép nói riêng để nhập khẩu rác thải đang xảy ra khá phổ biến, nhất là ở các tỉnh phía Nam Các cơ quan chức năng còn lúng túng trong việc xử lý đối với các lô hàng phế thải, rác thải đã “lỡ” nhập khẩu vào Việt Nam, gây hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường Trong trường hợp, tiêu huỷ những lô hàng mà các cơ quan chức năng xác định là rác thải cũng không thể thực hiện được vì hiện nay, theo Cục Bảo vệ môi trường, Việt Nam chưa đủ trình độ, năng lực và kinh phí để tiêu huỷ các loại rác thải, các tạp chất gây ô nhiễm môi trường nhất là các rác thải độc hại

Thứ hai, việc đánh giá phế liệu hiện nay của các cơ quan chức năng vẫn

theo cảm tính Do chúng ta chưa có những quy định cụ thể, rõ ràng đối với phế liệu nhập khẩu

Thứ ba, năng lực bốc dỡ tại các cảng biển của Việt Nam chưa tốt, vì vậy

gây nên tình trạng tàu chứa phế liệu lưu lại cảng khá lâu gây khó khăn cho công tác quản lý ô nhiễm cũng như ảnh hưởng xấu đến việc sản xuất của

Trang 34

doanh nghiệp Bên cạnh đó, năng lực đánh giá và giám sát của các cơ quan môi trường Việt Nam còn hạn chế

Thứ tư, hệ thống kho bãi tập kết và quy trình làm sạch phế liệu sắt thép

nhìn chung vẫn chưa đạt yêu cầu về môi trường Hiện nay, chỉ có một số nhà máy luyện thép của các công ty lớn như Công ty Gang thép Thái Nguyên, Công ty Thép Miền Nam… là có các kho bãi chứa phế liệu sắt thép đạt yêu cầu về môi trường Còn lại, hầu hết những cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh phế liệu sắt thép nhập khẩu đều chưa đảm bảo yêu cầu đối với môi trường

1.4.3 Nguyên nhân và vấn đề đặt ra cần giải quyết

- Nguyên nhân

+ Ngoài các biến động về giá cả các sản phẩm thép do các tác động của yếu tố cung cầu nói chung thì thị trường nhập khẩu thép Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan bên trong như: chính sách đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước; tình hình tài chính và sự biến đổi của tỷ giá hối đoái đối với ngoại tệ mạnh; chính sách xuất nhập khẩu; tốc độ tăng trưởng kinh tế,… và bên ngoài như mức độ tăng trưởng kinh tế, các chính sách bảo

hộ ngành sản xuất thép và chính sách xuất nhập khẩu của các nước trong khu vực và thế giới

+ Những bất cập, tồn tại trong quá trình nhập khẩu, vận chuyển, mua bán và sử dụng phế liệu sắt thép nói chung và phế liệu sắt thép nhập khẩu nói riêng của Việt Nam trong thời gian qua có thể từ nhiều phía gây ra như: Nhà nước, doanh nghiệp, đối tác nước ngoài, cơ sở làm nghề thủ công Những chủ thể này đều có thể trực tiếp hay gián tiếp gây tác động xấu đến môi trường

- Những vấn đề cần giải quyết:

+ Mặc dù ngành công nghiệp thép Việt Nam có tốc độ tăng trưởng bình quân 18%/năm nhưng quy mô còn nhỏ bé, phân tán và trình độ công nghệ vẫn ở mức trung bình Chính vì vậy mà khả năng cạnh tranh thấp, thị trường phụ thuộc bên ngoài, giá thép luôn bấp bênh khó kiểm soát khiến cả người tiêu dùng và doanh nghiệp đều thiệt hại

Trang 35

+ Các quy định liên quan đến ngành sản xuất thép trước khi ban hành cần được tổ chứchội thảo, lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các công ty sản xuất thép để sát với thực tế Như vậy khi ban hành sẽ bảo đảm được thực hiện nghiêm túc, tránh tình trạng mỗi nơi hiểu một cách, vận dụng thực thi tuỳ tiện Ngăn chặn việc hình thành giấy phép con, nảy sinh cơ chế xin cho, phát sinh tiêu cực tham nhũng, làm tăng giá thành cản trở sản xuất của doanh nghiệp đi ngược lại xu thế hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới

+ Những vấn đề cần giải quyết đối với hoạt động nhập khẩu sắt thép phế liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất sắt thép trong nước: Ở Việt Nam, do công nghiệp đang ở giai đoạn phát triển, việc đổi mới thiết bị và đồ dùng thải loại không nhiều, phế thải chiến tranh cạn dần, chắc chắn chúng ta sẽ phải nhập sắt thép phế để làm nguyên liệu cho các nhà máy thép lò luyện đang xây dựng Như vậy, để có thép phế nhập khẩu cần phải có:

(+) Cảng nước sâu, có thể tiếp nhận được tàu 3 vạn - 5 vạn tấn hoặc cao hơn để chuyên chở thép phế nhập về từ các nước, nếu tàu có trọng tải nhẹ, giá chuyên chở cao, không thể nhập được thép phế

(+) Cảng chuyên dùng và thiết bị vận chuyển thép phế chuyên dùng vỏ thép phế đòi hỏi kho bãi và thiết bị bốc xếp vận chuyển thích hợp, nếu không có mà dùng chung kho bãi và thiết bị cảng như hiện nay thì không thể giải phóng tầu nhanh, chi phí lưu tầu, lưu kho sẽ rất lớn, giá thành không chịu đựng nổi Tổng lượng thép phế nhập hàng năm cho mỗi nhà máy thép

sẽ là 600.000 - 700.000 tấn, nên không thể dùng chung bến cảng với các hàng hoá khác

(+) Thực hiện đúng qui định về tiêu chuẩn chất lượng cho sắt thép phế nhập khẩu mà Bộ Tài nguyên Môi trường đã ban hành

Trang 36

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM

2.1 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM

Hệ thống phân phối thép xây dựng trên thị trường nội địa nước ta hiện nay bao gồm các chủ thể khác nhau như sau:

(1) Các doanh nghiệp trực thuộc Tổng Công ty Thép (VSC)

(2) Các công ty cổ phần, công ty TNHH và các liên doanh ngoài VSC có sản xuất và kinh doanh thép;

(3) Các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sản xuất và kinh doanh thép;

(4) Các doanh nghiệp chuyên kinh doanh thép;

(5) Các hộ gia đình tại các làng nghề và các cửa hàng bán lẻ độc lập

Có thể thấy rằng, thành phần tham gia mạng lưới tiêu thụ sản phẩm thép xây dựng hiện nay gồm nhiều thành phần kinh tế, mạng lưới kinh doanh trải rộng trên cả nước Tuy nhiên, nếu xét về đặc điểm loại hình cung ứng, thì đa phần chỉ là sản xuất nhỏ Cho đến nay, mới chỉ có khoảng 20 nhà sản xuất với qui mô từ 100.000 - 300.000 tấn thép cán/năm, còn lại là hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ từ vài nghìn đến vài chục nghìn tấn/năm Trong khi đó, các nhà máy sản xuất thép của các tập đoàn trên thế giới có quy mô công suất từ vài triệu đến trên 10 triệu tấn/năm Mặt khác, nếu xét đến đặc điểm kinh doanh thép, thì đa phần là buôn bán nhỏ lẻ, phân tán Chỉ tính riêng tại Hà Nội cũng có đến hàng ngàn điểm bán hàng thép và vật liệu xây dựng khác Các cơ sở buôn bán lớn còn ít, chưa đủ mạnh trong khi yêu cầu đầu tư cho tài sản cố định cho sản xuất, kinh doanh mặt hàng này như: cơ sở vật chất, bến bãi, nhà xưởng, chi nhánh, cửa hàng, phương tiện vận tải… còn rất cao, có thể lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng

Về tiêu thụ sản phẩm, mô hình của các nhà sản xuất thép tại Việt Nam là

Trang 37

tương đối giống nhau Các nhà sản xuất đều có các kênh phân phối trực tiếp qua các chi nhánh của mình và đều xây dựng cho mình hệ thống phân phối cấp I theo những chính sách về vùng miền nhất định

Theo mô hình dưới, giá bán thép xây dựng của nhà sản xuất về đến từng địa phương do chính nhà sản xuất tự quy định Giá bán được niêm yết thông qua bảng giá bán (có đóng dấu của công ty sản xuất) và được xây dựng trên cơ sở giá bán tại nhà máy cộng thêm chi phí vận chuyển; do đó, tại các địa bàn khác nhau sẽ hình thành các mức giá khác nhau Tuy nhiên

trên thực tế, cơ chế bán hàng tại tất cả các nhà máy đều là “mua đứt, bán

đoạn” Sau khi giao hàng tại nhà máy, trách nhiệm về hàng hoá cũng được

chuyển giao hoàn toàn từ nhà sản xuất sang các nhà phân phối Kể từ thời điểm đó, sản phẩm thép xây dựng có được bán ra đúng giá hay không, bán

đi đâu, các nhà phân phối có găm hàng, đầu cơ hay không, nhà sản xuất không thể kiểm soát được

Sơ đồ 2.1 Hệ thống phân phối cấp I

Các nhà phân phối cấp I của các nhà sản xuất thép trong mô hình trên gồm nhiều loại hình, có thể là DNNN (các công ty thương mại nhà nước), tư nhân và các chi nhánh bán hàng do các nhà sản xuất tự xây dựng tại các địa bàn, cụ thể:

- Nhà phân phối là DNNN: gồm các công ty kim khí trực thuộc TCT Thép VN (TCT thép có 4 công ty kim khí trực thuộc)

- Nhà phân phối là doanh nghiệp hoặc các cơ sở kinh doanh tư nhân: loại

Trang 38

hình này hoạt động rất mạnh trong lĩnh vực lưu thông thép xây dựng Các doanh nghiệp tư nhân sản xuất thép thường lựa chọn kênh lưu thông này để phân phối sản phẩm của mình

- Nhà phân phối là hệ thống các chi nhánh bán hàng: Điển hình cho loại hình này là Công ty Gang thép Thái Nguyên Hiện nay, hệ thống này được công ty xây dựng tương đối tốt, tiêu thụ gần 70% sản lượng của công ty

2.1.1 Tình hình phân phối thép của Tổng Công Ty thép Việt Nam (VSC)

Hiện nay Tổng Công ty Thép (Cty mẹ và Cty Gang thép Thái Nguyên) đã có 8 chi nhánh, 54 cửa hàng phân bổ rộng khắp trên địa bàn

cả nước, tiêu thụ 70 - 75% tổng lượng thép xây dựng sản xuất ra của Tổng Công ty Tổng công ty Thép Việt Nam có kênh bán hàng qua nhà phân phối, chủ yếu bán cho các công trình trọng điểm quốc gia, trong đó

tỷ lệ cung ứng cho các công trình qua kênh này chiếm 25 - 30% Các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Thép tổ chức tiêu thụ sản phẩm thép xây dựng theo hai mô hình: (i) thông qua hệ thống chi nhánh, cửa hàng trực thuộc với lượng thép tự tiêu thụ trên 70% (Công ty Gang Thép Thái Nguyên), (ii) thông qua nhà phân phối (Thép miền Nam và các liên doanh bán sản phẩm) Trong đó, hệ thống bán buôn cấp 1 bao gồm 30 doanh nghiệp như Thái Hưng, Sơn Trường, Xuân Hoà Riêng VSC có 5 công ty gồm 36 chi nhánh, xí nghiệp và 50 cửa hàng

Bảng 2.1 Tỷ lệ tiêu thụ qua kênh phân phối

Trang 39

Hệ thống tổ chức kinh doanh và lưu thông của Tổng Công ty thép Việt Nam được kiến tạo và vận hành theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.2 Mô hình hệ thống tổ chức lưu thông thép xây dựng của VSC

Theo mô hình trên, công ty tổ chức tiêu thụ sản phẩm theo 3 hệ thống chủ yếu:

+ Hệ thống lưu thông thép do các công ty sản xuất thép 100% vốn của TCT tổ chức và quản lý: Trong hệ thống này, tiêu thụ qua mạng lưới các chi

nhánh, cửa hàng chiếm khoảng hơn 70% khối lượng thép sản xuất của các công

ty Giá bán thép xây dựng do nhà máy sản xuất quy định thống nhất trong hệ thống chi nhánh và cửa hàng, có cơ chế chiết khấu theo khối lượng và địa phương

Đối tượng khách hàng của các công ty sản xuất thép nói trên gồm các doanh nghiệp thương mại và hộ tiêu dùng trực tiếp Tuy các đơn vị sản xuất đều ưu tiên bán trực tiếp đến người tiêu dùng cuối cùng, nhưng trên thực tế rất khó thực hiện do các nguyên nhân về vấn đề tài chính, cơ chế thanh toán,

Công ty liên doanh sản xuất thép

sx của TCT

Cửa hàng bán buôn, bán lẻ trực thuộc

Các DN và cửa hàng tư nhân

Công ty bán buôn

Đại lý ở các vùng

Đại lý bán

lẻ

Người tiêu dùng

Trang 40

chiết khấu thương mại…

Bảng 2.2 Tiêu thụ theo kênh phân phối

Số

TT

Hộ tiêu thụ

6 tháng đầu

2007

6 tháng cuối

2007

Cả năm

2007

Tỷ trọng

%

6 tháng đầu

2008

Tỷ trọng

Nguồn: Tổng công ty Thép Việt Nam năm 2007

Ngày đăng: 15/05/2014, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) ThS Nguyễn Minh Ngọc “Hoàn thiện hệ thống phân phối thép ở Việt Nam, Dự án điều tra của NEU - JICA”, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống phân phối thép ở Việt Nam, Dự án điều tra của NEU - JICA”
(2) Phạm Chí Cường “Quản lý Nhà nước về lưu thông thép trên thị trường nội địa, Hiệp hội Thép Việt Nam”, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý Nhà nước về lưu thông thép trên thị trường nội địa, Hiệp hội Thép Việt Nam”
(3) PGS.TS. Lê Trịnh Minh Châu - Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương “Phát triển hệ thống phân phối hàng hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ thống phân phối hàng hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: PGS.TS. Lê Trịnh Minh Châu
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Thương mại
Năm: 2004
(4) PGS.TS. Đinh Văn Thành - Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương “Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta thời kỳ đến năm 2015”, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta thời kỳ đến năm 2015
Tác giả: PGS.TS. Đinh Văn Thành
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương
Năm: 2005
(5) CFVG, Điều tra HVNCLC 2006, “Hội thảo về kênh phân phối tại Hà Nội”, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra HVNCLC 2006
Tác giả: CFVG
Năm: 2006
(6) Vụ Chính sách thị trường trong nước, Bộ Thương mại, Dự án “Điều tra thực tế cấu trúc các kênh phân phối hàng hoá trên thị trường nội đị a”, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều tra thực tế cấu trúc các kênh phân phối hàng hoá trên thị trường nội địa”
(9) Tổng cục Thống kê, “Số liệu điều tra doanh nghiệp 2002 - 2006, NXB Thống kê”, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Số liệu điều tra doanh nghiệp 2002 - 2006, NXB Thống kê”
Nhà XB: NXB Thống kê”
(10) Quyết định số 134/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm 2010
(11) Quyết định số 2212/2005/QĐ-BTM, ngày 15 tháng 08 năm 2005, ban hành “Quy chế kinh doanh thép xây dựng”, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy chế kinh doanh thép xây dựng”
(12) Quyết định số 145/2007/QĐ-TTg ngày 4/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025
(7) Tổng cục Thống kê, Kinh tế Việt Nam - thế giới 2005 - 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Sản lượng thép sản xuất của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2007 - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Bảng 1.2. Sản lượng thép sản xuất của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2007 (Trang 11)
Bảng 1.3. Lượng thép xây dựng tiêu thụ của các doanh nghiệp - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Bảng 1.3. Lượng thép xây dựng tiêu thụ của các doanh nghiệp (Trang 14)
Bảng 1.4. Tiêu thụ thép xây dựng khu vực miền Bắc - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Bảng 1.4. Tiêu thụ thép xây dựng khu vực miền Bắc (Trang 17)
Bảng 1.5. Tiêu thụ thép xây dựng khu vực miền Trung - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Bảng 1.5. Tiêu thụ thép xây dựng khu vực miền Trung (Trang 18)
Bảng 1.7. Lượng nhập khẩu sắt thép các loại - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Bảng 1.7. Lượng nhập khẩu sắt thép các loại (Trang 20)
Sơ đồ 2.1. Hệ thống phân phối cấp I - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Sơ đồ 2.1. Hệ thống phân phối cấp I (Trang 37)
Sơ đồ 2.2. Mô hình hệ thống tổ chức lưu thông thép xây dựng của VSC - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Sơ đồ 2.2. Mô hình hệ thống tổ chức lưu thông thép xây dựng của VSC (Trang 39)
Bảng 2.2. Tiêu thụ theo kênh phân phối - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Bảng 2.2. Tiêu thụ theo kênh phân phối (Trang 40)
Bảng 2.4. Tình hình tiêu thụ của khối ngoài VSC - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Bảng 2.4. Tình hình tiêu thụ của khối ngoài VSC (Trang 45)
Sơ đồ 2.3. Cấu trúc hệ thống phân phối thép ở Việt Nam - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Sơ đồ 2.3. Cấu trúc hệ thống phân phối thép ở Việt Nam (Trang 48)
Sơ đồ 2.4. Luồng vận động của các sản phẩm thép trên - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Sơ đồ 2.4. Luồng vận động của các sản phẩm thép trên (Trang 50)
Bảng 3.1. Cơ cấu tiêu thụ sắt thép theo chủng loại giai đoạn 2005 - 2020 - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Bảng 3.1. Cơ cấu tiêu thụ sắt thép theo chủng loại giai đoạn 2005 - 2020 (Trang 72)
Sơ đồ 3.1. Cấu trúc các thành viên kênh trong hệ thống - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Sơ đồ 3.1. Cấu trúc các thành viên kênh trong hệ thống (Trang 76)
Sơ đồ 3.2. Mô hình tổ chức hệ thống kênh phân phối của các nhà - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Sơ đồ 3.2. Mô hình tổ chức hệ thống kênh phân phối của các nhà (Trang 77)
Sơ đồ 3.3. Mô hình tổ chức hệ thống kênh phân phối của - Đề tài : Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân bón ở việt nam
Sơ đồ 3.3. Mô hình tổ chức hệ thống kênh phân phối của (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w