NGUYỄN XUÂN THẢO NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM SÀNG LỌC TRƯỚC SINH VÀ KỸ THUẬT QF-PCR Ở THAI CÓ NGUY CƠ CAO LỆCH BỘI NHIỄM SẮC THỂ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2017-2018
Trang 1NGUYỄN XUÂN THẢO
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM SÀNG LỌC TRƯỚC SINH VÀ KỸ THUẬT QF-PCR Ở THAI CÓ NGUY CƠ CAO LỆCH BỘI NHIỄM SẮC THỂ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2017-2018
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
CẦN THƠ – 2018
Trang 2NGUYỄN XUÂN THẢO
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM
SÀNG LỌC TRƯỚC SINH VÀ KỸ THUẬT QF-PCR Ở THAI CÓ NGUY CƠ CAO LỆCH BỘI NHIỄM SẮC THỂ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2017-2018
Chuyên ngành: Sản phụ khoa
Mã số: 62 72 01 31.CK
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học :
PGS.TS.BS NGUYỄN VĂN LÂM BS.CKII LƯU THỊ THANH ĐÀO
CẦN THƠ - 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận án là trung thực,
và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
NGUYỄN XUÂN THẢO
Trang 4Để hoàn thành khóa học và hoàn tất luận án tốt nghiệp, tôi đã được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của quý Thầy Cô, sự quan tâm, động viên của gia đình, bạn bè và anh chị em đồng nghiệp
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai người thầy là PGS.TS.BS Nguyễn Văn Lâm và BS.CKII.Lưu Thị Thanh Đào, đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin được gởi lời cám ơn đến:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
- Ban Giám đốc, Trung tâm Sàng lọc – Chẩn đoán Trước sinh và Sơ sinh, khoa Khám bệnh – Bệnh viện Phụ Sản Thành phố Cần Thơ
- Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
- Ban Chủ nhiệm Bộ môn Phụ Sản Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
- Thư viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận án này
Cuối cùng, xin gởi lời cám ơn chân thành đến người thân, gia đình và những người bạn đã luôn ở bên cạnh tôi, góp ý, giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Nguyễn Xuân Thảo
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục sơ đồ, biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ ……….1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 3
1.1 Dị tật bẩm sinh 3
1.2 Các hội chứng dị tật bẩm sinh do bất thường lệch bội nhiễm sắc thể 4
1.3 Các xét nghiệm huyết thanh sàng lọc trước sinh 7
1.4 Các phương pháp lấy mẫu chẩn đoán trước sinh 10
1.5 Một số kỹ thuật di truyền chẩn đoán trước sinh 13
1.6 Tình hình nghiên cứu dị tật về lệch bội nhiễm sắc thể trên thế giới và Việt Nam 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 25
2.3 Vấn đề y đức……… 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………38
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 38
3.2 Phân bố thai nhi có nguy cơ cao lệch bội NST qua các xét nghiệm huyết thanh sàng lọc 42
Trang 63.3 Đánh giá kết quả chẩn đoán lệch bội NST bằng kỹ thuật QF - PCR trên thai có nguy cơ cao 44 3.4 Một số yếu tố liên quan đến dị tật bẩm sinh thai do lệch bội nhiễm sắc thể………49
Chương 4: BÀN LUẬN……….55
4.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 55 4.2 Phân bố thai nhi có nguy cơ cao lệch bội NST qua các xét nghiệm huyết thanh sàng lọc 59 4.3 Đánh giá kết quả chẩn đoán lệch bội NST bằng kỹ thuật QF - PCR trên thai có nguy cơ cao 63 4.4 Một số yếu tố liên quan đến dị tật bẩm sinh thai do lệch bội nhiễm sắc thể 72
KẾT LUẬN ……… 80 KIẾN NGHỊ ……… 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7AFP Alpha Feto Protein
-hCG Beta Human Chorionic Gonadotropin
CGH Comparative Genomic Hybridization
BoBs Bacs - on - Beads
DNA Deoxyribonucleic Acid
FISH Fluorescence in situ hybridization
FMF Fetal Medicine Foundation
ICSI Intracytoplasmic sperm injection
MLPA Multiplex ligation - dependent probe amplification NIPT Non-Invasive Prenatal Testing
PAPP-A Prenancy associated plasma protein A
QF-PCR Quantitative Fluorescent Polymerase Chain Reaction STR Short tandem repeat
T21 Trisomy 21
T13 Trisomy 13
T18 Trisomy 18
uE3 Unconjugated estriol
WHO World Health Organization
Trang 8DANH MỤC BẢNG Trang
Bảng 2.1 Đánh giá tỉ số giữa các alen trong cùng một locus 35
Bảng 3.1 Phân bố theo dân tộc của thai phụ 39
Bảng 3.2 Phân bố theo nghề nghiệp của thai phụ 40
Bảng 3.3 Phân bố theo trình độ học vấn của thai phụ 40
Bảng 3.4 Tiền sử sản khoa 41
Bảng 3.5 Tiền sử mang thai DTBS và gia đình sinh con DTBS 41
Bảng 3.6 Tiền sử tiếp xúc của thai phụ 42
Bảng 3.7 Phân bố nguy cơ cao của lệch bội NST qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc Double test và Triple test 43
Bảng 3.8 Phân bố thai nhi có nguy cơ cao lệch bội NST qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc Double test 43
Bảng 3.9 Phân bố nguy cơ cao từng loại lệch bội NST qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc Double test 43
Bảng 3.10 Phân bố thai nhi có nguy cơ cao lệch bội NST qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc Triple test 44
Bảng 3.11 Phân bố nguy cơ cao của từng loại lệch bội NST qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc Triple test 44
Bảng 3.12 Tỉ lệ thai phụ tham gia chọc hút dịch ối 44
Bảng 3.13 Kết quả phân bố lệch bội nhiễm sắc thể được chẩn đoán bằng kỹ thuật QF-PCR 45
Bảng 3.14 Phân bố theo loại lệch bội nhiễm sắc thể 45
Bảng 3.15 Kết quả dị tật bẩm sinh trên siêu âm 46
Bảng 3.16 Tỉ lệ thai phụ đồng ý và không đồng ý chấm dứt thai kỳ 46
Bảng 3.17 Thời gian trung bình từ khởi phát chuyển dạ đến thành công 47
Bảng 3.18 Phương pháp chấm dứt thai kỳ và tai biến 47
Trang 9Bảng 3.19 Kết quả hình thái thai sau khi chấm dứt thai kỳ 48
Bảng 3.20 Giá trị tiên đoán dương của xét nghiệm huyết thanh sàng lọc trước sinh 48
Bảng 3.21 Giá trị tiên đoán dương của xét nghiệm huyết thanh sàng lọc đối với từng loại lệch bội NST 49
Bảng 3.22 Phân bố lệch bội NST thai với tuổi thai phụ 49
Bảng 3.23 Liên quan lệch bội NST thai với nghề nghiệp của thai phụ 50
Bảng 3.24 Phân bố lệch bội NST thai với nơi cư trú của thai phụ 50
Bảng 3.25 Phân bố lệch bội NST thai với trình độ học vấn của thai phụ 51
Bảng 3.26 Liên quan giữa lệch bội NST thai với tiền sử sẩy thai 51
Bảng 3.27 Liên quan giữa lệch bội NST thai với tiền sử thai lưu 52
Bảng 3.28 Liên quan giữa lệch bội NST thai với tiền sử đã từng sinh con DTBS 52
Bảng 3.29 Liên quan giữa lệch bội NST thai với tiền sử gia đình đã từng sinh con DTBS 53
Bảng 3.30 Liên quan lệch bội NST thai khi tiếp xúc với phân bón, hóa chất, thuốc trừ sâu 53
Bảng 3.31 Liên quan lệch bội NST thai với yếu tố vật lý 54
Bảng 3.32 Liên quan giữa lệch bội NST thai và chồng sử dụng rượu, bia 54
Bảng 3.33 Mối liên quan giữa lệch bội NST thai với hút thuốc lá 54
Trang 10DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Trang
Hình 2.1 Một số thiết bị sử dụng trong nghiên cứu 30
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 36
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo tuổi của thai phụ 38
Biểu đồ 3.2 Phân bố theo nơi cư trú của thai phụ 39
Biểu đồ 3.3 Phân bố thai phụ nguy cơ lệch bội NST qua xét nghiệm 42
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Các cặp vợ chồng khi sinh con đều mong muốn những đứa con chào đời được khỏe mạnh, thông minh hoàn thiện cả thể chất tâm thần và vận động Nếu trẻ bị dị tật sinh ra sẽ không có tương lai vì suốt đời gắn liền với bệnh tật, là gánh nặng cho gia đình và xã hội Thực hiện sàng lọc trước sinh giúp cho nhiều cặp vợ chồng có được những đứa con sinh ra phát triển bình thường, tránh được những hậu quả nặng nề do dị tật bẩm sinh gây ra, giảm thiểu số người tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng dân số
Dị tật bẩm sinh là một trong những bất thường hay gặp ở thai nhi vàtrẻ sơ sinh, nhiều nghiên cứu thống kê đã xác định dị tật bẩm sinh là một trong những nguyên nhân chính gây nên tử vong và bệnh tật của trẻ trong những năm đầu tiên của cuộc sống Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới năm 2003 dị tật bẩm sinh chiếm khoảng 3 - 4% tổng số trẻ được sinh ra bao gồm cả trẻ sống hoặc trẻ chết lúc sinh [53], [75]
Tỷ lệ trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh đang có dấu hiệu tăng lên hàng năm Nguyên nhân dị tật bẩm sinh có thể là do môi trường ô nhiễm, thức ăn, đồ uống có hóa chất bảo quản, sử dụng các thuốc trong quá trình mang thai, kết hôn cận huyết thống, bệnh lý di truyền Với sự tiến bộ của y học, xét nghiệm huyết thanh sàng lọc và chẩn đoán trước sinh có thể phát hiện sớm những bất thường của thai nhi, từ đó đưa ra những chỉ định can thiệp kịp thời, hạn chế
sự ra đời của trẻ bị dị tật [33], [34]
Các xét nghiệm sinh hóa sàng lọc cho thai phụ ở ba tháng đầu và ba tháng giữa của thai kỳ kết hợp với tuổi mẹ, có thể phát hiện sớm các bất thường di truyền, là một trong những biện pháp có hiệu quả trong việc sàng lọc các dị tật bẩm sinh có bất thường do lệch bội nhiễm sắc thể
Trang 12[69], [70] Nếu kết quả xét nghiệm huyết thanh sàng lọc thai nhi có nguy cơ cao lệch bội nhiễm sắc thể, bác sĩ sẽ tư vấn cho thai phụ thực hiện xét nghiệm dịch ối bằng kỹ thuật Quantitative fluorescence polymerase chain reaction (QF-PCR) để chẩn đoán xác định bất thường lệch bội nhiễm sắc thể thai nhi [20], [36], [38], [40]
Tại Việt Nam, từ năm 1998 đến nay, các trung tâm sàng lọc chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Trường Đại học Y Dược Huế, Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ ra đời nhằm sàng lọc, chẩn đoán sớm các dị tật bẩm sinh thai Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Từ Dũ và Trung tâm Sàng lọc Chẩn đoán Trước sinh Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, hoạt động sàng lọc chẩn đoán trước sinh phát hiện tỉ lệ thai dị tật bẩm sinh do lệch bội nhiễm sắc thể lần lược là 6,77% [19]; 12,4% [14] và 9% [6] Ở Cần Thơ, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá kết quả sàng lọc, chẩn đoán trước sinh các trường hợp bất thường lệch bội nhiễm sắc thể thai nhi bằng kỹ thuật QF-PCR Vì vậy, chúng tôi thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu kết quả xét nghiệm sàng lọc trước sinh và kỹ
thuật QF-PCR ở thai có nguy cơ cao lệch bội nhiễm sắc thể tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2017 - 2018” nhằm mục tiêu:
1 Xác định tỉ lệ thai có nguy cơ cao lệch bội nhiễm sắc thể ở những thai phụ thực hiện sàng lọc trước sinh bằng Double test hoặc Triple test tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ từ tháng 05/2017 đến tháng 05/2018
2 Đánh giá kết quả chẩn đoán lệch bội nhiễm sắc thể bằng kỹ thuật PCR trên thai có kết quả Double test, Triple test nguy cơ cao và đánh giá kết quả chấm dứt thai kỳ những trường hợp QF-PCR bất thường
QF-3 Khảo sát một số yếu tố liên quan đến dị tật bẩm sinh do lệch bội nhiễm sắc thể
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Dị tật bẩm sinh
1.1.1 Khái niệm về dị tật bẩm sinh
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), dị tật bẩm sinh (DTBS) là những bất thường hình thái, chức năng hoặc chuyển hóa có từ thời
kỳ bào thai DTBS có thể phát hiện được ngay sau sinh hoặc muộn hơn DTBS nặng sẽ gây thai chết trong tử cung hoặc tử vong sau sinh Trẻ mang DTBS khó hòa nhập cuộc sống nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời [5], [62], [75]
1.1.2 Những thời điểm gây dị tật bẩm sinh
Trong thai kỳ có 4 thời điểm có thể gây DTBS [5]
Thời kỳ tạo giao tử
Tinh trùng bất thường ở người có thể tạo giao tử bất thường gây DTBS Tỉ lệ tinh trùng bất thường ở người có thể lên đến 70% nhưng DTBS
do giao tử bất thường chiếm tỉ lệ không cao vì các giao tử này ít có khả năng tham gia thụ tinh tự nhiên, nếu thụ tinh thì tạo các hợp tử không phát triển hoặc sẩy thai sớm Tuy nhiên, trong thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp bơm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI), nếu không loại tinh trùng bất thường thì
tỉ lệ thại bị DTBS là 3,8% so với có lựa chọn tinh trùng là 1,33% [7]
Thời kỳ tiền phôi
- Giai đoạn tạo hợp tử: Giai đoạn này rất ngắn nên các đột biến ít xuất hiện Tuy nhiên, nếu đột biến xảy ra, hợp tử không phân chia sẽ tạo thành thể
tứ bội 4n, xảy ra ở lần phân bào thứ hai, thứ ba thì tạo thể khảm, đa bội hoặc lệch bội Các hợp tử bất thường thường chết sớm, gây triệu chứng ra huyết ở người phụ nữ sau chậm kinh vài ngày
- Giai đoạn phân chia: Các tác nhân độc hại tác động theo 3 cách:
Trang 14+ Gây chết phôi hay sẩy thai do tổn thương phần lớn hay toàn bộ phôi bào
+ Không có dị tật xảy ra, phôi phát triển bình thường do sự phát triển thay thế các phôi bào bị tổn thương hay chết của các phôi bào bình thường
+ Tạo ra thể khảm do các phôi bào bị tác động nhẹ vẫn phát triển cùng các phôi bào bình thường khác
Thời kỳ phôi
Các mầm cơ quan của cơ thể bắt đầu biệt hóa trong giai đoạn này nên đây là thời kỳ chủ yếu xuất hiện các DTBS Tùy theo tác nhân gây hại và cơ quan bị ảnh hưởng sẽ xuất hiện các loại dị tật khác nhau Thời kỳ này bắt đầu
từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 8 của thai kỳ
1.2 Các hội chứng dị tật bẩm sinh do bất thường lệch bội nhiễm sắc thể
1.2.1 Hội chứng Down
Hội chứng Down là rối loạn nhiễm sắc thể (NST) thường gặp nhất, chiếm tỷ lệ 1/800 – 1/700 trẻ sinh sống Nguy cơ sinh con hội chứng Down tăng theo tuổi mẹ lúc sinh: nguy cơ là 1/2000 ở mẹ 20 tuổi, tăng dần lên đến
30 tuổi, 1/300 ở 35 tuổi và tăng lên 1/100 khi thai phụ 40 tuổi Năm 1866, được mô tả lần đầu tiên bởi Langdon Down ở một số bệnh nhân chậm phát
Trang 15triển trí tuệ với những dấu hiệu lâm sàng và kiểu hình đặc trưng Đến năm
1959 Leujeune và Turpin mới chứng minh được là do trisomy 21 [5], [75]
Bệnh nhân hội chứng Down thường có vẻ mặt đặc trưng, đầu nhỏ tròn, mặt tròn, dẹt, mắt xếch lên trên và ra ngoài, tai nhỏ, vành tai kém uốn cong, miệng nhỏ, lưỡi thè, hàm trên không phát triển dẫn đến bất thường về khớp răng, có khi thiếu xương mũi, mũi tẹt, ngón tay ngắn, xương bàn tay ngắn và vẹo ngón (thường là ngón út), nếp gấp bàn tay khỉ (nếp ngang bàn tay đơn độc), ngón út chỉ có 1 nếp gấp, kèm theo một số dị tật phối hợp như dị tật tim (36% thông nhĩ thất, 33% thông liên thất, ít gặp hơn như tứ chứng Fallot, hẹp động mạch phổi), dị tật tiêu hóa (hẹp hoặc tắc tá tràng) Khoảng 15 - 20% trẻ bị hội chứng Down chết sớm do dị tật tim bẩm sinh, những người không kèm dị tật khác có thể sống đến 50 - 60 tuổi [5], [38], [53]
Về di truyền, có khoảng 95% là trisomy 21 đơn thuần với NST đồ là 47,XX,+21, hoặc 47,XY,+21 và 2,5% là thể khảm, một số ít do chuyển đoạn hòa nhập tâm với 1 NST tâm đầu khác như NST 14 hoặc NST 22 [53]
1.2.2 Hội chứng Edwards
Năm 1960, hội chứng này lần đầu tiên được mô tả bởi bác sĩ John Hilton Edwards Hội chứng Edwards chiếm tỉ lệ 1/3000 – 1/500 trẻ sinh sống, hội chứng này nặng hơn hội chứng Down, hầu hết các bệnh nhi chết ở 6 tháng tuổi [3], [51]
Trẻ mắc hội chứng Edwards thường nhẹ cân, thiểu sản mầm hàm và hàm dưới, cằm nhọn và lẹm, đầu dài, tai đóng thấp, hình thái tai bất thường, vành tai kém uốn cong, trục lớn của tai bạt về phía sau, vành tai nhọn được gọi là "tai quỷ", bàn chân hình cuốc chim hay còn gọi là bàn chân "đu võng"
Về mặt di truyền, có khoảng 80% là trisomy 18 thuần 47,XX,+18 hoặc 47, XY,+18 Khoảng 10% ở thể khảm 46,XX/47,XX,+18 hoặc 46,XY/47,XY,+18
và 10% là thể chuyển đoạn [49]
Trang 161.2.3 Hội chứng Patau
Hội chứng này ít gặp hơn hội chứng Edwards và được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1960, Tần số (n) gặp trisomy 13 là 1/5000 – 1/20000 trẻ sinh sống, hầu hết trẻ đều chết sau vài tháng sinh ra [51], [62]
Trẻ bị hội chứng Patau có biểu hiện phình đại não, thiểu sản mầm trán, độc nhãn cầu hay không có nhãn cầu, hoặc tật nhãn cầu nhỏ, khuyết mống mắt, khoảng cách 2 mắt xa, kèm sứt môi, khe hở môi và vòm miệng (mõm sói), trán
dô, loét da đầu, ngoài ra có thể có thêm các dị tật về mắt, não, tim (thông liên nhĩ, thông liên thất, ống thông động mạch), hệ sinh dục (tinh hoàn ẩn, tử cung 2 ngăn), sa rốn, tật 6 ngón, bàn chân hình cuốc chim, gai đôi đốt sống
Về mặt di truyền, hội chứng Patau có 80% là trisomy 13 thuần 47,XX,+13 hoặc 47,XY,+13 Khoảng 20% có ở thể khảm 46,XX/47,XX,+13 hoặc 46,XY/47,XY,+13 hoặc chuyển đoạn do bố mẹ truyền cho hoặc mới phát sinh [49], [62]
1.2.4 Hội chứng Klinefelter
Hội chứng Klinefelter là dạng lệch bội NST giới tính, có kiểu gen 47 XXY hoặc 48 XXXY, tần suất 1,8/1000 trẻ sơ sinh nam Đặc điểm là vô sinh nam, teo tinh hoàn, thoái hóa ống sinh tinh, vú to [5]
1.2.5 Hội chứng Turner
Hội chứng Turner là dạng lệch bội NST đơn thuần, có kiểu gen 45 XO, gặp ở 0,4/1000 trẻ sinh sống 95% các trường hợp bị hội chứng Turner chết trong tử cung Biểu hiện lâm sàng ở trẻ còn sống là trí tuệ có thể thiểu năng hay bình thường, thiểu sản buồng trứng, dị tật xương, phù chi, cổ ngắn, tóc mọc thấp xuống gáy [5], [69]
1.2.6 Hội chứng 3 NST X
Hội chứng 3 NST X: Gặp ở 0,8/1000 trẻ em gái với biểu hiện kinh nguyệt ít, mãn kinh sớm, thiểu năng trí tuệ [5], [69]
Trang 171.3 Các xét nghiệm huyết thanh sàng lọc trước sinh
1.3.1 Định nghĩa sàng lọc trước sinh
Sàng lọc trước sinh là việc sử dụng các biện pháp thăm dò đơn giản,
dễ áp dụng, có độ chính xác tương đối cao để phát hiện các thai phụ có nguy
cơ hoặc sẽ mắc một bệnh lý nào đó Sàng lọc trước sinh được tiến hành trong thời gian mang thai [8], [20]
Trong những năm 1990 có nhiều test để sàng lọc trước sinh được sử dụng riêng biệt nhưng sang thế kỷ XXI, việc phối hợp siêu âm sàng lọc với các test sinh hóa sàng lọc đã làm thay đổi căn bản độ chính xác, độ đặc hiệu,
độ nhạy của sàng lọc trước sinh, thay đổi cơ bản về giá trị tiên lượng [58] Hiện nay, sàng lọc trước sinh hội chứng Down và các rối loạn lệch bội NST khác đang được quan tâm và phát triển nhanh tại Việt Nam
Theo Thông tư 34/2017/TT-BYT ngày 18 tháng 08 năm 2017 của Bộ
Y tế về việc Hướng dẫn quy trình tư vấn, sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh, các kỹ thuật sàng lọc trước sinh sẽ được thực hiện tùy thuộc vào các giai đoạn của thai [8]
1.3.2 Sàng lọc trước sinh ba tháng đầu thai kỳ:
♦ Sàng lọc trước sinh bằng phương pháp không xâm lấn Non-Invasive
Prenatal Testing (NIPT):
Năm 1997, các nhà khoa học đã khẳng định trong quá trình mang thai, một lượng nhỏ DNA tự do của thai nhi đi vào máu người mẹ Dựa trên cơ sở khoa học này, phương pháp NIPT được ra đời và không ngừng phát triển Đây
là một xét nghiệm huyết thanh sàng lọc trước sinh không xâm lấn dùng để phát hiện các bất thường số lượng NST phổ biến của thai nhi bao gồm: Trisomy 21 (hội chứng Down), Trisomy 18 (hội chứng Edwards), Trisomy 13 (hội chứng Patau), hội chứng Turner và đa bội thể 3n (69 nhiễm sắc thể) NIPT sử dụng mẫu máu người mẹ ở thai kỳ từ tuần thứ 9 trở đi Phương pháp
Trang 18này nên sử dụng cho những thai phụ có nguy cơ cao sinh con bất thường NST (phụ nữ lớn tuổi, tiền sử mang thai trước đó bị bất thường NST, gia đình hoặc bản thân liên quan đến bất thường NST,…) Tuy nhiên, NIPT không thể tiến hành trong một số trường hợp sau: Đa thai (sinh đôi, sinh ba,…), trường hợp mang thai hộ, trường hợp người mẹ trước khi mang thai được cấy ghép tủy [37], [41], [45], [49]
♦ Xét nghiệm Double test:
Xét nghiệm Double test được thực hiện ở tuổi thai 11 tuần đến 13 tuần
6 ngày [8], [51], [53], [70] Xét nghiệm huyết thanh mẹ định lượng nồng độ hai chất PAPP-A (Prenancy associated plasma protein A) và -hCG tự do (Beta Human chorionic gonadotropin)
- PAPP-A (Prenancy associated plasma protein A):
PAPP-A là một loại glycoprotein do nhau thai bài tiết Trong thai kỳ bình thường, nồng độ PAPP-A tăng dần trong suốt thai kỳ Trong ba tháng đầu thai kỳ nếu thai nhi mắc hội chứng Down sẽ thấy nồng độ PAPP-A trong máu mẹ giảm [29], [38], [52], [53] Trong khi đó ở ba tháng giữa thai kỳ nồng
độ PAP-A vẫn giữ ở mức bình thường hoặc chỉ hơi giảm Do đó PAP-A chỉ được dùng trong ba tháng đầu của thai kỳ để sàng lọc thai nhi mắc hội chứng
Down
- -hCG tự do (Beta Human chorionic gonadotropin):
-hCG tự do là một glucoprotein do tế bào Langhans của màng nuôi tiếc ra -hCG có trong nước tiểu, máu của người mẹ Người ta có thể định lượng -hCG toàn phần hoặc tự do Các tác giả đếu thống nhất rằng -hCG tăng cao > 1,7 MoM ( Multiple of median) trong máu mẹ ở các trường hợp thai nhi bị hội chứng Down, thấp < 0,7 MoM trong Trisomy 18 (hội chứng Edwards) [51], [55], [69]
Vào những năm 1990 phương pháp sàng lọc kết hợp giữa tuổi mẹ và
Trang 19tăng khoảng mờ da gáy ở tuần thai thứ 11 đến 13 tuần 6 ngày, phương pháp này xác định khoảng 75% thai có bất thường NST với tỉ lệ dương tính giả là 5% [51], [55]
Sau đó, việc kết hợp giữa tuổi mẹ, khoảng mờ da gáy, nồng độ hCG tự do và PAPP-A máu mẹ ở ba tháng đầu thai kỳ xác định được khoảng 85 - 90% thai bất thường NST [25], [28] Việc phân tích thêm sự có mặt của xương mũi, khoảng mờ da gáy thai nhi khi siêu âm ở tuổi thai 11 -
-13 tuần 6 ngày, phối hợp với phân tích nồng độ -hCG tự do và PAPP-A máu mẹ thời điểm ba tháng đầu thai kỳ (Combine test) sẽ làm tăng tỉ lệ phát hiện Trisomy 21 (hội chứng Down) lên 95% và Trisomy 18 (hội chứng Edwards) và Trisomy 13 (hội chứng Patau) lên 97% [6]
1.3.3 Sàng lọc trước sinh ba tháng giữa thai kỳ
Triple test là xét nghiệm dùng để thực hiện sàng lọc trước sinh ba tháng giữa thai kỳ với tuổi thai từ 15 đến 21 tuần, xét nghiệm huyết thanh
mẹ để khảo sát nồng độ 3 chất AFP, -hCG tự do và uE3
- AFP (Alpha feto protein):
AFP do túi noãn hoàng và gan của thai nhi bài tiết, được Berg Stranol và Cazar tìm ra năm 1956 Nồng độ AFP xuất hiện trong máu thai nhi từ tuần lễ thứ 6 (60 - 70 µg/ml) và tiếp tục tăng đến tuần thứ 12, đạt cực đại ở khoảng 3 - 4 mg/ml, duy trì nồng độ này đến tuần thứ 30, sau tuần thứ
30 AFP bắt đầu giảm AFP cũng có trong tuần hoàn người mẹ do được khuếch tán qua nhau thai Nồng độ AFP trong máu mẹ chỉ bằng 1/50.000 nồng độ AFP trong máu thai nhi và bằng 1/150 trong nước ối [51], [55], [69]
Các nghiên cứu đã xác định trong các bất thường NST như hội chứng Down, hội chứng Edwards và hội chứng Turner, nồng độ AFP trong máu mẹ giảm < 0,7 MoM Đối với các dị tật ống thần kinh, đặc biệt là dị tật
Trang 20ống thần kinh: Thai vô sọ, thoát vị cột sống, các dị tật của thành bụng trước như: Thoát vị rốn, khe hở thành bụng, các trường hợp thận ứ nước bẩm sinh, u quái, đa thai, thai kỳ bất thường như dọa sẩy thai, thiểu ối, nhiễm trùng thai, u máu dây rốn hoặc bánh nhau thì các tác giả thấy nồng độ AFP trong máu mẹ tăng cao > 2,0 MoM Nồng độ AFP bình thường được xác định ở ngưỡng 2,0 MoM < AFP < 0,7 MoM [51], [55], [69]
- - hCG tự do (Beta Human chorionic gonadotropin):
Liteanu nghiên cứu vai trò của xét nghiệm Triple test trong sàng lọc trước sinh ba tháng giữa thai kỳ nhận thấy - hCG tự do tăng trong hội chứng Down và sẽ giảm nồng độ trong hội chứng Edwards [51], [55], [70]
- Estrion không kết hợp uE3 (unconjugated estriol):
uE3 do hoàng thể thai kỳ tiết ra và từ tháng thứ tư trở đi thì do hợp bào của gai nhau tiết ra Nồng độ uE3 tăng dần trong máu mẹ cao nhất vào tháng thứ 9 và giảm xuống khi gần đến chuyển dạ Nồng độ uE3 giảm trong hội chứng Down và hội chứng Edwards [8], [55]
Từ năm 1988, nhiều tác giả trên thế giới đã cho thấy AFP, -hCG tự
do, uE3 được kết hợp với nhau và sử dụng rộng rãi trong sàng lọc trước sinh Các tác giả đều thống nhất rằng test sàng lọc có giá trị cao khi có sự kết hợp đồng thời của cả ba Nguyễn Việt Hùng nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) từ năm 1999 đến năm 2005 nhận thấy xét nghiệm AFP,
-hCG tự do, uE3 trong máu mẹ có thể phát hiện 83,3% thai DTBS [16]
1.4 Các phương pháp lấy mẫu chẩn đoán trước sinh
1.4.1 Định nghĩa chẩn đoán trước sinh
Chẩn đoán trước sinh là việc sử dụng các biện pháp thăm dò đặc hiệu được tiến hành trong thời gian mang thai để chẩn đoán xác định những trường hợp nghi ngờ mắc bệnh thông qua việc sàng lọc [20]
Trang 21Các quy trình sàng lọc sẽ giúp xác định những thai kỳ có nguy cơ cao Bước kế tiếp, để thực hiện các xét nghiệm di truyền chẩn đoán trước sinh cần phải thực hiện lấy mẫu tế bào hoặc vật chất di truyền có nguồn gốc từ thai Có nhiều phương pháp lấy mẫu như sinh thiết gai nhau ở tuổi thai 11 - 13 tuần, chọc hút nước ối ở tuổi thai từ 16 tuần và chọc hút máu cuống rốn ở thai trên
18 tuần
1.4.2 Chọc hút gai nhau (chorionic villus sampling)
Chọc hút gai nhau được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1968, nhằm gây sẩy thai cho những phụ nữ muốn phá thai Đến năm 1982, chọc hút gai nhau qua cổ tử cung dưới sự hướng dẫn của siêu âm tức thì (real-time) chẩn đoán được bệnh beta - thalassemia và hội chứng Down ở ba tháng đầu thai kỳ
Chọc hút gai nhau là phương pháp lấy mẫu gai nhau để chẩn đoán các lệch bội NST ở thời điểm tuổi thai 11 - 13 tuần, dưới sự hướng dẫn của siêu
âm ngã bụng hoặc ngã âm đạo Chọc hút gai nhau thực hiện lúc tuổi thai còn nhỏ, lấy được nhiều bệnh phẩm , chẩn đoán sơm các trường hợp lệch bội NST Tai biến của chọc hút gai nhau là sẩy thai (2 - 3%), chảy máu qua đường âm đạo (7 - 10 %), nhiễm khuẩn cho thai [5], [8], [20]
Trong chọc hút gai nhau, sự sai lệch có thể xảy ra do nhiễm máu mẹ hoặc sự khác biệt thật sự giữa tế bào gai nhau và tế bào thai nhi trong thể khảm Khảm của nhau là sự hiện diện nhiều dòng tế bào (bộ gen khác nhau) trong một cơ quan, tổ chức, và thể khảm hiện diện với tỉ lệ 1 - 2% ở những trường hợp chọc hút gai nhau Theo một nghiên cứu ghi nhận chọc hút gai nhau cho kết quả chính xác đến 99,7% và 1,1% trường hợp cần thực hiện đánh giá lại kết quả chẩn đoán di truyền do thể khảm hoặc những kết quả giáp biên khó xác định [53]
Trang 221.4.3 Chọc hút nước ối (amniocentesis)
Chọc hút nước ối thực hiện lần đầu tiên vào năm 1882 để điều trị đa ối Trong những năm 1950, chọc hút nước ối giúp chẩn đoán trước sinh được các bệnh tan máu và năm 1956 dùng để xác định giới tính thai nhi Năm 1966, người ta đã phát hiện được trường hợp hội chứng Down đầu tiên và hai năm sau phát hiện được các rối loạn chuyển hóa bằng chọc hút nước ối
Chọc hút nước ối nhằm mục đích chẩn đoán các bất thường thai nhi về
di truyền, các rối loạn chuyển hóa, đánh giá sự trưởng thành của phổi thai nhi, chẩn đoán nhiễm trùng trong buồng ối Ngoài ra chọc hút nước ối còn để điều trị đa ối
Có thể chọc hút nước ối ở tuổi thai kinh điển 16 - 20 tuần và muộn sau
20 tuần Lượng nước ối cần rút ra trung bình 10 - 20 ml khi tuổi thai 16 tuần
và 5 - 10 ml nước ối khi tuổi thai dưới 15 tuần
Có hai cách chọc hút nước ối: Chọc ối mù sau khi xác định vị trí chọc bằng siêu âm (sonographically guided technique) và chọc hút nước ối dưới sự theo dõi liên tục của siêu âm (sonographically monitored technique) Khi kim chọc đã vào đúng buồng ối, tháo nòng kim ra và hút từ từ nước ối Bỏ đi 0,5 - 1ml nước ối đầu tiên, thay bơm tiêm vô khuẩn khác và hút cho đủ lượng nước
ối theo yêu cầu Đánh giá màu sắc của nước ối Khi hút đủ lượng nước ối thì tháo bơm tiêm và rút kim ra ngoài, siêu âm kiểm tra lại tim thai Để loại trừ hồng cầu của người mẹ lẫn vào nước ối một số tác giả sử dụng kỹ thuật lọc hồng cầu khi chọc hút nước ối [12], [54]
Các tai biến của chọc hút nước ối gồm có sẩy thai (0,4 - 1%), rò nước
ối (1%), nhiễm trùng ối sau khi chọc hút nước ối khá hiếm gặp (0,5 - 1,5/1000 trường hợp) nhưng có thể dẫn đến sốc nhiễm trùng gây tử vong mẹ, phản ứng Rhesus âm, Rhesus dương, chọc kim vào thai nhi và dị tật cho thai Tỉ lệ thai
bị biến dạng xương khớp như bàn chân khèo, trật khớp háng bẩm sinh tăng
Trang 23gấp 10 lần so với các trường hợp thai kỳ bình thường không chọc hút nước ối [20], [34]
1.4.4 Chọc máu cuống rốn
Kỹ thuật chọc hút máu cuống rốn được thực hiện ở thai lớn hơn 18 tuần, trước đây kỹ thuật này được thực hiên nhờ nội soi thai, giúp nhìn thấy trực tiếp thai nhi, dây rốn và bề mặt của nhau, ngày nay nội soi thai đã được thay thế bằng kỹ thuật chọc hút máu cuống rốn dưới hướng dẫn của siêu âm [74], [75]
Trước đây, ở những khu vực có tỉ lệ bệnh hemoglobin cao, máu thai nhi thường được lấy để chẩn đoán Theo nghiên cứu của Antsaklis và cộng sự, trong 1.981 lần thực hiện thủ thuật thì có đến 72,5% trường hợp là chọc hút máu cuống rốn để phát hiện bệnh hemoglobin Hiện nay, hầu hết các chẩn đoán tương tự đều được thực hiện bằng các kỹ thuật sinh học phân tử trong ba tháng đầu thai kỳ với mẫu gai nhau [71], [72], [76]
1.5 Một số kỹ thuật di truyền chẩn đoán trước sinh
Hiện nay có nhiều kỹ thuật di truyền chẩn đoán trước sinh, tuy nhiên mỗi kỹ thuật đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng
1.5.1 Nhiễm sắc thể đồ
Nuôi cấy tế bào và phân tích NST đồ là kỹ thuật truyền thống được nghiên cứu và ứng dụng vào chẩn đoán trước sinh năm 1966 Các mẫu bệnh phẩm từ thai như tế bào ối, máu cuống rốn, hoặc gai nhau được nuôi cấy trong
3 - 14 ngày Sau đó chu kỳ tế bào của chúng sẽ được dừng ở kỳ giữa dưới tác động của colchicin Các cụm phân bào kỳ giữa này sẽ được thu hoạch, trải lên tiêu bản rồi nhuộm giemsa, kỹ thuật nhuộm G - band thường dùng, sau đó phân tích và lập bộ NST Kỹ thuật này có thể xác định bất thường về số lượng
và cấu trúc của bộ NST với độ chính xác lên đến 99,4 - 99,8% và hiện nay vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng trong khảo sát số lượng NST [12], [14],
Trang 24[37], [41] Tuy nhiên nhược điểm của NST đồ là không thể phát hiện các bất thường 5 - 10 MB ở độ phân giải 500 - 700 band Kỹ thuật NST đồ cũng đòi hỏi thời gian và công sức lao động rất nhiều Với thời gian trả kết quả dài từ
14 - 21 ngày dẫn đến tâm lý bất an kéo dài đối với thai phụ, việc can thiệp chấm dứt thai kỳ khó khăn hơn khi thời gian trả kết quả càng chậm trễ Chất lượng của tế bào nuôi cấy, số lượng tế bào ở kỳ giữa và chất lượng nhuộm NST bị nhiều yếu tố chi phối, dễ sai số khách quan Ngoài ra người thực hiện
kỹ thuật cũng cần phải có sự hiểu biết và kỹ thuật thành thạo [44], [45]
1.5.2 Kỹ thuật lai tại chỗ phát huỳnh quang
Kỹ thuật lai tại chỗ phát huỳnh quang, Fluorescence in situ hybridization (FISH), đây là kỹ thuật được nghiên cứu áp dụng vào chẩn đoán trước sinh từ đầu những năm 1990 Nguyên tắc của FISH là sử dụng các đoạn
dò phân tử được gắn huỳnh quang bắt cặp đặc hiệu với một vùng NST đích Dưới kính hiển vi huỳnh quang, các vị trí đoạn dò huỳnh quang gắn với NST
sẽ được phát hiện Dựa vào số lượng tín hiệu màu huỳnh quang đặc hiệu để xác định số lượng NST Nếu có 2 tín hiệu là bình thường Khi có 1 tín hiệu là monosomy, 3 tín hiệu là trisomy [12], [41]
Kỹ thuật FISH có ưu điểm hơn karyotype ở chỗ cho kết quả xét nghiệm nhanh trong 2 - 3 ngày vì không cần nuôi cấy tế bào, ngoài ra FISH có khả năng phát hiện các lệch bội thể khảm và đa bội nhưng không phát hiện được các trường hợp nhiễm máu mẹ [13] Tuy nhiên giá thành xét nghiệm khá cao nên kỹ thuật này còn bị hạn chế ở một số nước đang phát triển như Việt Nam Bên cạnh đó, kỹ thuật FISH cũng đòi hỏi tốn nhiều công thao tác nên chỉ thực hiện được số lượng mẫu nhất định trong một lần xét nghiệm Một người chỉ
có thể đọc kính hiển vi và phân tích không quá 7 mẫu liên tục trong 8 giờ, ngoài ra việc phân tích mẫu trong phòng tối trong thời gian dài cũng ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của người làm việc
Trang 25Kỹ thuật FISH còn một số khuyết điểm khác là không thể kết luận về các rối loạn di truyền như tái sắp xếp cấu trúc NST cân bằng và không cân bằng, mất đoạn, lặp đoạn, bất thường số lượng các NST khác không khảo sát
1.5.3 Kỹ thuật multiplex ligation - dependent probe amplification
Kỹ thuật multiplex ligation - dependent probe amplification (MLPA) được ứng dụng để chẩn đoán lệch bội các NST 13, 18, 21 và NST giới tính vào năm 2002 Kỹ thuật này có ưu điểm là có kết quả từ 2 - 4 ngày, chỉ cần 2mL dịch ối và cần ít nhân lực và thích hợp cho việc chẩn đoán một số lượng lớn bệnh phẩm
Nguyên tắc kỹ thuật: Đối với mỗi gen mục tiêu, 2 đoạn dò được thiết
kế để lai với đoạn liền Đoạn dò chứa một trình tự đích đặc hiệu ngắn và một đoạn gắn mồi Một trong những đoạn dò chứa một trình tự đệm Đối với mỗi đoạn dò cho phản ứng multiplex, phần đệm có một trình tự dài đặc hiệu Sau khi lai qua đêm với đoạn DNA mục tiêu, mỗi cặp đoạn dò liền kề được nối lại nhờ phản ứng nối Sau đó PCR được thiết lập với cặp mồi có gắn huỳnh quang, đảm bảo rằng mỗi sản phẩm PCR tỉ lệ thuận với DNA mục tiêu ban đầu Sản phẩm PCR sau đó được phân tách bằng hệ thống điện di mao quản theo chiều dài [43], [46]
Kỹ thuật MLPA có ưu điểm là xác định trên 40 locus khác nhau trong một phản ứng duy nhất Hiện nay, kỹ thuật MLPA được sử dụng tại nhiều nước và có sẵn các bộ kit thương mại nên khi so sánh với FISH và karyotype, MLPA có thể chẩn đoán với số lượng lớn hơn và giá thành rẻ hơn Tuy nhiên,
kỹ thuật này đòi hỏi người thực hiện phải thuần thục, kỹ thuật không thể phát hiện các trường hợp tam bội nữ và không phát hiện được ngoại nhiễm DNA [46] Về thời gian trả kết quả, do kỹ thuật MLPA đòi hỏi phải lai qua đêm nên không thể trả kết quả trong ngày
Trang 261.5.4 Kỹ thuật Quantitative Fluorescent Polymerase Chain Reaction
Kỹ thuật Quantitative Fluorescent Polymerase Chain Reaction PCR) được nghiên cứu áp dụng từ năm 1993, và đã được chứng minh là một phương pháp chẩn đoán nhanh và chính xác tình trạng lệch bội NST 13, 18,
(QF-21 và giới tính [44]
Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc sử dụng các cặp mồi gắn huỳnh quang để khuếch đại các chuỗi DNA có trình tự lặp lại ngắn short tandem repeat (STR) Các STR này đặc hiệu cho các NST và có tính đa hình rất cao, sản phẩm sau khi khuếch đại được điện di mao quản để phân tách đoạn và định lượng bằng hệ thống giải trình tự DNA [24], [50]
Ở giai đoạn sớm của QF - PCR, lượng DNA tạo ra từ 2 alen của một locus STR sẽ tỉ lệ thuận với khối lượng DNA đích trong mẫu ban đầu Do đó nếu dị hợp tử, sản phẩm STR đặc hiệu NST khi phân tách đoạn sẽ cho 2 đỉnh huỳnh quang với tỉ số 2 đỉnh là 1:1 Nếu đồng hợp tử, sẽ cho 1 đỉnh huỳnh quang, nếu trisomy sẽ có 3 đỉnh với tỉ số là 1:1:1 (trisomy 3 alen) hoặc chỉ có
2 đỉnh với tỉ số 2:1 hoặc 1:2 (trisomy 2 alen) [38], [45], [47]
Kỹ thuật QF - PCR có nhược điểm là chỉ phát hiện được rối loạn số lượng 5 loại NST 13, 18, 21, X, Y và không phát hiện được các trường hợp thể khảm
Tuy nhiên, kỹ thuật QF - PCR có nhiều ưu điểm nổi bật hơn các kỹ thuật khác như:
- Có thể sử dụng mẫu khảo sát với khối lượng mẫu nhỏ, chỉ cần khoảng 0,5 - 1ml dịch ối hoặc 2 - 3 nhánh gai nhau
- Không đòi hỏi phải xử lý mẫu ngay sau khi lấy vì DNA khá bền ở môi trường thông thường nên QF - PCR có thể áp dụng cho mẫu dịch ối của những thai kỳ sớm hoặc muộn
Trang 27- Quá trình phân tích kết quả nhanh trong 30 phút và có thể tự động hóa trên nhiều mẫu cùng lúc Bên cạnh đó, vì các locus STR đặc hiệu cho từng cá thể nên kỹ thuật QF - PCR có khả năng phát hiện các trường hợp mẫu khảo sát của thai bị ngoại nhiễm DNA của mẹ
- QF - PCR cũng phát hiện được các trường hợp vi lặp đoạn
- Với thời gian trả kết quả nhanh, chỉ trong vòng 24 - 36 giờ, giá thành thấp hơn so với một số kỹ thuật khác cũng là ưu điểm lớn của QF - PCR
Theo nghiên cứu năm 2013 “ Ứng dụng kỹ thuật QF - PCR vào chẩn đoán nhanh trước sinh rối loạn số lượng NST ở người” của Nguyễn Khắc Hân Hoan [11], đề tài được hực hiện với 400 trường hợp thai có nguy cơ cao rối loạn NST, kết quả nghiên cứu đã xác định mức độ tương hợp giữa kết quả bình thường và bất thường của kỹ thuật QF - PCR với kết quả karyotype là 100%, kỹ thuật QF - PCR có độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm đều đạt 100%, nghiên cứu cũng đã đánh giá ưu điểm của kỹ thuật QF
- PCR là phương pháp chẩn đoán nhanh, đơn giản, chính xác, phát hiện được hầu hết các lệch bội NST phổ biến, không có trường hợp âm tính giả hoặc dương tính giả xảy ra Năm 2013, Nguyễn Thị Như Hoàng báo cáo đề tài
“Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật QF - PCR trong chẩn đoán nhanh trisomy 13,
18, 21” thực hiện trên 170 mẫu tế bào dịch ối, tại Bệnh viện Từ Dũ, nghiên cứu có đối chiếu kết quả với kỹ thuật karyotype trên 152 mẫu, kết quả cho thấy 100% kết quả QF - PCR tương hợp hoàn toàn với kết quả karyotype, nghiên cứu cũng xác định được kỹ thuật QF - PCR có độ nhạy chẩn đoán là 100%, độ đặc hiệu là 100%, giá trị tiên đoán dương 100% và giá trị tiên đoán
âm 100% [14]
1.5.5 Kỹ thuật Array Comparative genomic hybridization
Trong thập niên 1990 kỹ thuật Array Comparative genomic hybridization (CGH) bắt đầu phát triển Về bản chất kỹ thuật này cũng tương
Trang 28tự kỹ thuật FISH nhưng cho phép đánh giá trên toàn bộ genome tình trạng mất cân bằng của bộ NST CGH cũng vấp phải giới hạn về độ phân giải, kỹ thuật CGH trong giai đoạn này chỉ cho phép phát hiện các bất thường có kích thước trong giới hạn 10 - 20 Mb [41] và trong một số nghiên cứu kích thước nằm trong giới hạn 5 - 10 Mb [68] Vào cuối thập niên 1990 kỹ thuật array CGH (Comparative genomic hybridization microarray) ra đời cho phép giải quyết những vấn đề tồn đọng của kỹ thuật CGH và khắc phục những nhược điểm của kỹ thuật lập NST đồ và kỹ thuật FISH Với array CGH những bất thường trên NST xảy ra ở dưới mức phát hiện của kính hiển vi dưới dạng vi mất đoạn (microdeletion) hoặc vi nhân đoạn (microduplicatin) có thể được phát hiện một cách dễ dàng
Ưu điểm của array CGH: Khảo sát toàn bộ 46 NST chỉ trong 1 xét nghiệm, phát hiện các bất thường của NST bao gồm các trường hợp lệch bội, mất hoặc nhân đoạn NST chính xác hơn so với phương pháp lập NST đồ Array CGH còn phát hiện các trường hợp thể khảm (mosaic) tuy nhiên sự chính xác trong chẩn đoán còn phụ thuộc vào tỷ lệ giữa dòng tế bào bình thường và tế bào đột biến Kỹ thuật này còn phát hiện các loại chuyển đoạn không cân bằng, các NST đánh dấu (marker chromosome), các hội chứng liên quan vi mất đoạn, vi nhân đoạn NST và kể cả các trường hợp tái sắp xếp không cân bằng của vùng cận đầu tận cùng của NST Một ưu điểm khác của array CGH là có thể thực hiện trên các mẫu tế bào không cần qua nuôi cấy để gia tăng số lượng tế bào và hoàn toàn tự động hóa, nhờ đó giảm thiểu được thời gian xét nghiệm và tăng mức độ chính xác của chẩn đoán, điều này đặc biệt có ý nghĩa rất lớn trong các xét nghiệm trước sinh [41]
Hạn chế của array CGH là không phát hiện được các bất thường NST sau:
Trang 29- Các trường hợp tái sắp xếp cân bằng NST: chuyển đoạn tương hỗ, đảo đoạn, chuyển đoạn Robertson, chèn đoạn tương hỗ
- Các trường hợp bất thường không cân bằng ở dưới mức phát hiện của array CGH: các đột biến điểm, thêm hoặc mất đoạn exon có kích thước nhỏ hơn mức độ phân giải của kỹ thuật array CGH, gia tăng đoạn lặp ba nucleotid
- Các trường hợp khảm mức độ thấp, đa bội
Ngoài ra do giá xét nghiệm của kỹ thuật array CGH khá cao nên khó có thể chỉ định rộng rãi kỹ thuật này cho mọi đối tượng, cũng như áp dụng tại những nước nghèo hoặc đang phát triển như Việt Nam
1.5.6 Kỹ thuật Bacs - on - Beads (BoBs)
Kỹ thuật BoBs là một kỹ thuật sinh học phân tử mới hiện nay trên thế giới, ứng dụng trong việc phát hiện các trường hợp lệch bội NST 13, 18, 21,
X, Y và 9 hội chứng liên quan đột biến vi mất đoạn bao gồm: Wolf - Hirschhorn, Cri du Chat, Williams Beuren, Langer Giedon, Prader Willi, Angelman, Miller - Dieker, Smith Magenis, Di George
Năm 2011, Vialard và cộng sự báo cáo kết quả nghiên cứu ứng dụng
kỹ thuật BoBs trong chẩn đoán trước sinh lệch bội NST 13, 18, 21, X, Y và
9 hội chứng đột biến vi mất đoạn nói trên, thực hiện trên 408 mẫu, cho thấy
độ nhạy chẩn đoán của kỹ thuật này đạt 99% đối với các trường hợp trisomy 13, 18, 21 và lệch bội NST giới tính, đối với 9 loại đột biến vi mất đoạn thì độ nhạy chẩn đoán dao động từ 70% - 99% tùy theo loại đột biến
vi mất đoạn [73]
Hiện nay BoBs là một kỹ thuật mới tại Việt Nam và chưa có nghiên cứu nào công bố kết quả nghiên cứu liên quan kỹ thuật BoBs, nên dữ liệu thông tin về kỹ thuật này còn khá hạn chế tại Việt Nam
Trang 301.6 Tình hình nghiên cứu dị tật bẩm sinh về lệch bội nhiễm sắc thể trên thế giới và tại việt Nam
1.6.1 Trên thế giới
Tỉ lệ DTBS khác nhau ở các nơi trên thế giới Tổ chức y tế thế giới đã tập trung số liệu từ 16 nước cho thấy tỉ lệ DTBS là 1,73% Tại Hoa Kỳ, nghiên cứu trên 52.332 trẻ sơ sinh, các nghiên cứu nhận thấy tỉ lệ DTBS khi mới sinh là 15,27%, và sau một năm là 18,93% Năm 1995, Papp Z và cộng
sự nghiên cứu tại Hungary phát hiện có 2,26% thai DTBS Nghiên cứu của Smith L.K và cộng sự năm 2011 ở Anh cho thấy tỉ lệ dị tật là 2,1% ở trẻ mới sinh và các dị tật này gây tử vong sơ sinh là 21% Tại Pakistan cũng có tỉ lệ thai sinh ra bị DTBS chiếm 2,03% [76]
Trên thế giới, từ những năm 1970 cho đến nay, nhiều kỹ thuật di truyền
tế bào và phân tử đã được áp dụng vào chẩn đoán trước sinh các rối loạn nhiễm sắc thể Trong lĩnh vực chẩn đoán trước sinh, kỹ thuật nuôi cấy tế bào
và phân tích karyotype (nhiễm sắc thể đồ) được xem là tiêu chuẩn vàng Theo nghiên cứu của Ogilvie năm 2005, kỹ thuật karyotype cho phép phát hiện các rối loạn về số lượng và cấu trúc bộ NST với độ chính xác lên đến 99,4 - 99,8% [64] Tuy nhiên, kỹ thuật karyotype vẫn còn tồn tại một số hạn chế như thao tác phức tạp, tốn nhiều công lao động, thời gian thực hiện dài Nhằm rút ngắn thời gian trả kết quả, nhiều kỹ thuật di truyền mới như FISH, MLPA, BoBs được ứng dụng trong chẩn đoán nhanh bất thường số lượng một số NST Năm 2011, Vialard và cộng sự báo cáo kết quả nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật BoBs trong chẩn đoán trước sinh lệch bội NST 13, 18, 21, X, Y và 9 hội chứng đột biến vi mất đoạn, thực hiện trên 408 mẫu, cho thấy độ nhạy chẩn đoán của kỹ thuật này đạt 99% đối với các trường hợp trisomy 13, 18, 21 và lệch bội NST giới tính, đối với 9 loại đột biến vi mất đoạn thì độ nhạy chẩn đoán dao động từ 70% - 99% tùy theo loại đột biến vi mất đoạn [61], [64],
Trang 31[65] Mặc dù những kỹ thuật này cho kết quả nhanh nhưng đòi hỏi kỹ thuật cao, khó thực hiện với số lượng mẫu lớn, chi phí cao và không phát hiện được trường hợp bị ngoại nhiễm tế bào của mẹ
Từ năm 1993, kỹ thuật QF - PCR đã được chứng minh có thể áp dụng vào chẩn đoán rối loạn số lượng một số NST Với nhiều ưu điểm hơn như thực hiện ngắn, thời gian trả kết quả nhanh, thao tác đơn giản, độ chính xác và
độ nhạy cao, phân tích nhiều mẫu cùng lúc, có thể phát hiện ngoại nhiễm tế bào mẹ nên QF - PCR đã được đưa vào ứng dụng chẩn đoán trước sinh rối loạn NST tại nhiều nước trên thế giới [62]
Năm 2010, Badenas Celia và cộng sự nghiên cứu kỹ thuật QF - PCR là phương pháp tiếp cận đầu tiên trong chẩn đoán tiền sản, nghiên cứu cho thấy
sự tương hợp giữa QF - PCR và karyotype là 98,75% [39]
Năm 2015, Liu X và cộng sự nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật QF - PCR trong chẩn đoán trước sinh so sánh với kỹ thuật karyotype đã đưa ra kết luận
QF – PCR rất đáng tin cậy trong chẩn đoán bất thường số lượng các NST 13,
18, 21 và nhiễm sắc thể giới tính X và Y [56]
1.6.2 Tại Việt Nam
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trí Dũng và Phùng Như Toàn, từ năm 1996 đến năm 2000, tại Bệnh viện Từ Dũ có 0,93 - 1,38% thai bị DTBS, gây tử vong sơ sinh đến 65,8% [15] Từ năm 1999 - 2005, nghiên cứu tại Khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai, Nguyễn Việt Hùng đã nhận thấy tỉ lệ DTBS là 0,51%, trong đó DTBS ở thai phụ từ 19 tuổi trở xuống chiếm cao nhất với 2,89% Phân tích NST chẩn đoán được 100% thai DTBS, xét nghiệm
bộ ba - hCG, uE3, AFP tỉ lệ phát hiện DTBS thai là 83,3% [16]
Ở Việt Nam, kỹ thuật karyotype trên dịch ối được triển khai sớm nhất từ năm 1999 tại Bệnh viện Từ Dũ Từ năm 2000 đến 2006, Hoàng Thị Ngọc Lan
và các cộng sự đã nuôi cấy thành công 75 mẫu tế bào ối thu nhận từ thai phụ
Trang 32có nguy cơ sinh con bất thường NST [19] Kết quả phân tích karyotype cho thấy có 16 trường hợp có rối loạn NST về số lượng và cấu trúc Năm 2006, Hoàng Thu Lan báo cáo đề tài “Hoàn chỉnh kỹ thuật lai tại chỗ huỳnh quang
và bước đầu ứng dụng trong chẩn đoán trước sinh hội chứng Down” [21] Năm 2004, Bùi Võ Minh Hoàng nghiên cứu ứng dụng thành công kỹ thuật FISH trong chẩn đoán trước sinh các dị bội NST thường gặp [12] Năm 2007, Trần Thanh Hương và cộng sự thực hiện so sánh kết quả chẩn đoán trước sinh hội chứng Down sử dụng kỹ thuật FISH và kỹ thuật karyotype, trên 14 mẫu nước ối thu nhận từ thai phụ có nguy cơ cao sinh con bất thường di truyền, hai
kỹ thuật cho kết quả phù hợp với nhau [18]
Năm 2009, Mai Thu Liên đã thành công trong việc ứng dụng kỹ thuật FISH phát hiện lệch bội NST trên mẫu gai nhau tại Bệnh viện Từ Dũ [22] Năm 2011, Nguyễn Thúy Huyền và cộng sự tại Học viện Quân Y nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật QF - PCR xác định một số bất thường NST trong chẩn đoán trước sinh mở đầu cho việc ứng dụng sinh học phân tử vào chẩn đoán trước sinh Tuy nhiên, nghiên cứu này thực hiện với số lượng mẫu nhỏ (50 mẫu) và không có đối chứng với kỹ thuật khác Năm 2012, Nguyễn Trần An Phú đã báo cáo đề tài “Ứng dụng kỹ thuật QF - PCR vào phát hiện lệch bội NST trong chẩn đoán trước sinh trên mẫu gai nhau” thực hiện trên 205 mẫu gai nhau Tuy nhiên, do việc thực hiện kỹ thuật karyotype trên mẫu gai nhau chưa hoàn chỉnh nên nghiên cứu chỉ so sánh đối chiếu kết quả QF - PCR với kết quả karyotype trên 23 mẫu gai nhau [26]
Năm 2013, Nguyễn Thị Như Hoàng báo cáo đề tài “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật QF - PCR trong chẩn đoán nhanh trisomy 13, 18, 21” thực hiện trên 170 mẫu tế bào dịch ối, nghiên cứu có đối chiếu kết quả với kỹ thuật karyotype trên 152 mẫu, kết quả cho thấy 100% kết quả QF - PCR tương hợp hoàn toàn với kết quả karyotype, nghiên cứu cũng xác định được kỹ thuật QF
Trang 33- PCR có độ nhạy chẩn đoán là 100%, độ đặc hiệu là 100%, giá trị tiên đoán dương 100% và giá trị tiên đoán âm 100% [14]
Hoàng Hiếu Ngọc và cộng sự (2014) nghiên cứu từ tháng 03/2010 đến 02/2011 trên 64 mẫu ối từ thai kỳ nguy cơ, được trích biệt DNA tế bào ối và thực hiện kỹ thuật QF-PCR và điện di mao quản cho tín hiệu huỳnh quang đẹp, trong đó phát hiện 10 trường hợp bất thường (16,9%), tỉ lệ thực hiện kỹ thuật QF-PCR thành công là 100% trên tất cả 64 mẫu dịch ối Có 26 mẫu cho kết quả nữ bình thường 40,6%, 29 mẫu cho kết quả là nam bình thường chiếm 45,3% QF-PCR đã phát hiện được 10 trường hợp bất thường gồm 3 mẫu trisomy 21, 3 mẫu mang hội chứng Klinefelter (XXY), 3 mẫu trisomy 18 (hội chứng Edward), 1 mẫu monosomy X (hội chứng Turner), khi so sánh với kết quả nhiễm sắc thể đồ thì QF-PCR đạt độ nhạy và độ đặc hiệu 100% [23]
Nguyễn Khắc Hân Hoan nghiên cứu cùng cộng sự tại Bệnh viện Từ Dũ
từ tháng 9/2010 đến 12/2012, có tổng cộng 400 mẫu dịch ối của 398 thai phụ đơn thai và 1 trường hợp song thai, tuổi thai phụ được chọc ối là 19-46, trung bình là 31,5 tuổi, tuổi >35 tuổi chiếm 33,1% (132/399) Nơi cư trú của thai phụ rải khắp 37 tỉnh thành, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 36,3% Tất cả các thai phụ được chỉ định chọc ối để chẩn đoán tiền sản là do thai kỳ nguy cơ cao ≥1/250 được phát hiện qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc quý
1 (double test hay combined test) hoặc qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc quý 2 (triple test) chiếm tỉ lệ 54,8% (219/400) Các trường hợp thai kỳ có bất thường hình thái học hoặc có dấu hiệu lệch bội NST trên siêu âm như khe môi, chẻ vòm, bất sản xương mũi hoặc xương mũi ngắn, dị tật tim, dãn não thất, chân khoèo, nang vùng cổ, thoát vị rốn, xương đùi ngắn, đa ối chiếm 36,5% (146/400) [11]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các thai phụ đồng ý thực hiện xét nghiệm huyết thanh sàng lọc trước sinh thời điểm ba tháng đầu thai kỳ (Double test) hoặc ba tháng giữa thai kỳ (Triple test) tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Những thai phụ đồng ý tham gia nghiên cứu phù hợp với các tiêu chuẩn:
- Thai phụ mang thai tuổi thai từ 11 tuần trở lên (tuổi thai tính theo ngày đầu chu kỳ kinh cuối nếu thai phụ nhớ rõ và kinh nguyệt đều hoặc theo siêu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Thai kỳ do thụ tinh ống nghiệm bằng phương pháp xin trứng
- Những thai phụ có kết quả sàng lọc trước sinh thai nhi có nguy cơ cao lệch bội NST nhưng không đồng ý chọc ối
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ từ 01/05/2017 đến 30/05/2018
Trang 352.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu
Tính theo công thức ước lượng một tỉ lệ trong quần thể nghiên cứu
( ⁄ ) ( )Trong đó:
- n: cỡ mẫu nghiên cứu
- Z: trị số từ phân phối chuẩn (Z = 1,96)
- α: xác suất sai lầm loại I (α = 0,05)
- d: sai số ước lượng (d = 0,02)
Đối với thai phụ có kết quả xét nghiệm huyết thanh sàng lọc thai nhi nguy cơ cao lệch bội NST theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa năm 2010 là 15%[10], tính được n1 =1225
Thực tế cỡ mẫu nghiên cứu của chúng tôi n 1 = 1249 thai phụ
Đối với thai phụ có kết quả nguy cơ cao được chẩn đoán QF-PCR thai nhi mắc lệch bội NST theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Hoàng tại Bệnh viện Từ Dũ năm 2013 là 12,4%[14], với d = 0,05 thì nghiên cứu của chúng tôi
ghi nhận n 2 = 314 thai phụ nguy cơ cao với lệch bội NST
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện, chọn các thai phụ đến khám thai thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu từ 01/05/2017 đến 30/05/2018
Trang 362.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: Ghi nhận tuổi theo năm sinh, được tính bằng cách lấy năm lấy mẫu trừ năm sinh của thai phụ, chia thành các nhóm:
Nhóm 4: trên cấp 3 (cao đẳng, đại học, sau đại học)
- Đặc điểm tiền sử sản khoa, gia đình, tiếp xúc
* Thai lưu: có/không
* Sẩy thai: Sẩy thai liên tiếp (là tiền sử sẩy thai liên tục trên 3 lần) Sẩy thai < 3 lần (không sẩy thai hoặc sẩy thai < 3 lần)
* Tiền sử sinh con dị tật bẩm sinh, tiền sử gia đình sinh con DTBS
* Tiền sử mắc bệnh khi mang thai, tiếp xúc các hóa chất, thuốc trừ sâu, thuốc lá chủ động/thụ động, vật lý (tia x, tia xạ…), tiền sử uống
Trang 37rượu bia (các loại thức uống có cồn) của chồng thai phụ trong quá trình thụ thai và mang thai của thai phụ
2.2.4.2 Nghiên cứu tỉ lệ thai nhi có nguy cơ cao lệch bội NST qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc Double test và Triple test
- Tỉ lệ thai nhi có nguy cơ cao lệch bội NST qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc Double test (tuổi mẹ, độ mờ da gáy, PAPP-A và βhCG tự do): ngưỡng cut-off là 1:250
- Tỉ lệ từng loại lệch bội NST qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc Double test: T21 cut-off 1:250, T13 và T18 cut-off 1:150
- Tỉ lệ thai nhi có nguy cơ cao lệch bội NST qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc Triple test (tuổi mẹ, AFP, -hCG tự do và uE3)
- Tỉ lệ từng loại lệch bội NST qua xét nghiệm huyết thanh sàng lọc Triple test
2.2.4.3 Đánh giá kết quả chẩn đoán bằng kỹ thuật QF - PCR trên thai có nguy cơ cao lệch bội nhiễm sắc thể và đánh giá kết quả chấm dứt thai kỳ những trường hợp QF-PCR bất thường
- Tỉ lệ thai phụ có kết quả sàng lọc nguy cơ cao đồng ý tham gia chọc ối chẩn đoán lệch bội nhiễm sắc thể bằng kỹ thuật QF-PCR
- Tỉ lệ lệch bội nhiễm sắc thể được chẩn đoán bằng kỹ thuật QF-PCR
- Tỉ lệ từng loại lệch bội nhiễm sắc thể
- Giá trị tiên đoán dương của xét nghiệm huyết thanh sàng lọc trước sinh
- Giá trị tiên đoán dương của xét nghiệm huyết thanh sàng lọc trước sinh đối với từng loại lệch bội NST theo công thức: tỉ lệ tiên đoán dương = số ca bất thường/số ca nguy cơ cao
- Kết cục thai kỳ các trường hợp DTBS lệch bội NST:
+ Tỉ lệ thai phụ đồng ý chấm dứt thai kỳ và không đồng ý chấm dứt thai kỳ
Trang 38+ Đặc điểm siêu âm thai có DTBS, đặc điểm hình thái khi sổ thai
+ Tỉ lệ chấm dứt thai kỳ bằng phương pháp nội khoa (lóc ối, đặt thuốc, đặt sonde foley) và ngoại khoa (mổ lấy thai)
+ Thời gian trung bình từ khi khởi phát chuyển dạ đến khi thành công
Tỉ lệ các tai biến (nếu có)
Quy định về chấm dứt thai kỳ do dị tật bẩm sinh [8]:
Việc chấm dứt thai kỳ chỉ được xem xét khi có bất thường nghiêm trọng
về hình thái, cấu trúc của bào thai, có bất thường nhiễm sắc thể, bào thai có bệnh di truyền phân tử do đột biến gen mà chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu dẫn đến sau sinh có nguy cơ tàn phế cao Việc chấm dứt thai kỳ vì lý do
dị tật bào thai được xem xét khi có sự đồng ý bằng văn bản của phụ nữ mang thai sau khi được nhân viên y tế tư vấn đầy đủ Và thực hiện hội chẩn cũng như chấm dứt thai kỳ phải được thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có
Giấy phép hoạt động và có phạm vi hoạt động chuyên môn kỹ thuật
2.2.4.4 Các yếu tố liên quan đến dị tật bẩm sinh thai do lệch bội nhiễm sắc thể
- Liên quan giữa lệch bội NST với tuổi thai phụ
- Liên quan giữa lệch bội NST với nghề nghiệp của thai phụ
- Liên quan giữa lệch bội NST với trình độ học vấn của thai phụ
- Liên quan giữa lệch bội NST với nơi cư trú của thai phụ
- Liên quan giữa lệch bội NST với tiền sử sản khoa của thai phụ
- Liên quan giữa lệch bội NST với tiền sử gia đình đã từng sinh con bị DTBS
- Liên quan giữa lệch bội NST với yếu tố môi trường (phân bón, hóa chất, thuốc trừ sâu)
- Liên quan giữa lệch bội NST với các yếu tố vật lý (tia X, tia xạ…)
- Liên quan giữa lệch bội NST với việc sử dụng rượu, bia của chồng thai phụ (trong quá trình thụ thai và mang thai của thai phụ)
- Liên quan giữa lệch bội NST với tiếp xúc thuốc lá chủ động/thụ động
Trang 392.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu
2.2.5.1 Phương tiện nghiên cứu
- Dụng cụ khám: bàn khám sản phụ khoa, máy đo huyết áp, ống nghe, thước dây, máy nghe tim thai
- Máy siêu âm Voluson S6
- Dụng cụ, hóa chất, thiết bị xét nghiệm huyết thanh sàng lọc trước sinh Dụng cụ, hóa chất xét nghiệm:
+ Đầu tip các thể tích từ 100-1000µl, ống nhiệm đựng bệnh phẩm máu
+ Hóa chất xét nghiệm nồng độ free beta-hCG huyết thanh
+ Hóa chất xét nghiệm nồng độ PAPP-A huyết thanh
+ Hóa chất xét nghiệm nồng độ uE3 (unconjugated Estradiol 3) huyết thanh
+ Hóa chất xét nghiệm nồng độ beta-hCG huyết thanh
+ Hóa chất xét nghiệm nồng độ AFP huyết thanh
- Dụng cụ, hóa chất, thiết bị xét nghiệm chẩn đoán trước sinh (QF-PCR) Dụng cụ, hóa chất xét nghiệm
+ Ống chứa dung dịch ối Falcon 15mL, ống ly tâm vô trùng 1,5mL, 0,5mL, ống PCR thành mỏng 0,2mL, đầu tip có lọc các thể tích từ 0,2-1000µl
+ Kit ly trích DNA máu và dịch ối Genne All®
ExgeneTM Clinic SV kit
Trang 40+ Hi - Di Formamide, Genescan 500 ROX (Applied Biosystems) + Kit Devyser Complete và Devyser Resolution®
(Devyser AB) Thiết bị:
Hình 2.1 Một số thiết bị sử dụng trong nghiên cứu (Khoa xét nghiệm-Di truyền học – Bệnh viện Phụ sản TP.Cần Thơ)