1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị bệnh nhân có nang xương hàm do răng tại bệnh viện đa khoa tỉnh trà vinh năm 2017 2018

119 26 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị bệnh nhân có nang xương hàm do răng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2017 2018
Tác giả Bùi Minh Thiện
Người hướng dẫn PGS.TS. Trương Nhựt Khuê, BS.CKII. Nguyễn Doãn Hoài
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Răng Hàm Mặt
Thể loại Luận án chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2018
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Giải phẫu chân răng và nguyên nhân của nang chân răng (0)
    • 1.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân loại nang xương hàm do răng (16)
    • 1.3. Các phương pháp điều trị nang xương hàm do răng (29)
    • 1.4. Các nghiên cứu trên Thế giới và tại Việt Nam (33)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (35)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (36)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (36)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu (36)
      • 2.2.3. Phương pháp chọn mẫu (36)
      • 2.2.4. Nội dung nghiên cứu (37)
      • 2.2.5. Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu (44)
      • 2.2.6. Phương pháp kiểm soát sai số (49)
      • 2.2.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (49)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (49)
  • Chương 3: KẾT QUẢ (50)
    • 3.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu (50)
      • 3.1.1. Đặc điểm bệnh nhân về giới (50)
      • 3.1.2. Đặc điểm bệnh nhân về tuổi (50)
      • 3.1.3. Đặc điểm nghề nghiệp, địa chỉ cư trú (0)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng (51)
      • 3.2.1. Đặc điểm lâm sàng (51)
      • 3.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng (58)
    • 3.3. Kết quả điều trị (61)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (69)
    • 4.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu (0)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng (71)
      • 4.2.1. Đặc điểm lâm sàng (71)
      • 4.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng (78)
    • 4.3. Kết quả điều trị (81)
      • 4.3.1. Phương pháp phẫu thuật (81)
      • 4.3.2. Phương pháp vô cảm (81)
      • 4.3.3. Chẩn đoán phân loại nang xương hàm do răng (0)
      • 4.3.4. Chất lượng các răng đã được điều trị tủy (83)
      • 4.3.5. Số răng chữa tủy, số răng cắt chóp (83)
      • 4.3.6. Thời gian nằm viện (84)
      • 4.3.7. Đánh giá sau phẫu thuật (85)
  • KẾT LUẬN (89)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét những đặc điểm lâm sàng, mô học có liên quan cũng như làm nổi bật tầm quan trọng của việc phân tích hình ảnh X quang, những phương pháp phẫu thuật

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân có nang chân răng lành tính trên 10 tuổi được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh

- Bệnh nhân trên 10 tuổi, được chẩn đoán nang chân răng lành tính có nguồn gốc viêm qua lâm sàng, phim X quang và kết quả giải phẫu bệnh

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

- Theo dõi được quá trình điều trị của bệnh nhân

* Chẩn đoán bệnh nhân có nang chân răng lành tính có nguồn gốc viêm dựa vào các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng sau:

+ Bệnh thường diễn tiến âm thầm, không triệu chứng, sưng đau là triệu chứng thường gặp nếu có nhiễm trùng thứ phát

+ Khi nang phát triển lớn có thể gây phồng xương sờ thấy trên lâm sàng

+ Nang chân răng thường đi kèm với một răng chết tủy và nguyên nhân thường gặp là do sâu răng, chấn thương hay bệnh của mô nha chu

+ Hình ảnh X quang của nang chân răng là khối thấu quang một hốc, hình tròn hay bầu dục, bờ viền rõ

Bệnh nang chân răng được bao bọc bởi vỏ liên kết xơ viêm mãn tính, với lòng nang được lót hoàn toàn hoặc một phần bởi lớp tế bào biểu mô lát tầng không sừng hóa.

- Bệnh nhân bị viêm nhiễm cấp tính vùng hàm mặt Bệnh nhân có nang xương hàm do răng có nguồn gốc do tăng trưởng

- Bệnh nhân mắc các bệnh toàn thân chưa được kiểm soát tốt

- Không theo dõi được quá trình điều trị của bệnh nhân

2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4/2017 đến tháng 4/2018

- Địa điểm: Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Răng Hàm Mặt - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu

- Z: trị số từ phân phối chuẩn với độ tin cậy 95%  Z1-α/2 = 1,96

- d: sai số cho phép, chọn d= 0,05

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2010), 97% bệnh nhân có nang chân răng đạt kết quả tốt sau phẫu thuật, do đó chúng tôi chọn p = 0,97 Với cỡ mẫu n = 45, chúng tôi áp dụng công thức để xác định kích thước mẫu cần thiết.

- Chọn mẫu thuận tiện (chọn tất cả bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu)

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Tuổi của từng bệnh nhân được xác định bằng cách lấy năm nghiên cứu trừ đi năm sinh ghi trên giấy chứng minh nhân dân hoặc các giấy tờ tùy thân khác Các bệnh nhân được phân chia thành bốn nhóm tuổi: 10-15, 15-29, 30-50 và trên 50 tuổi.

- Giới: được chia làm hai nhóm là nam và nữ

- Nghề nghiệp: là công việc đang làm tại thời điểm nghiên cứu, chia làm

4 nhóm: nông dân - công nhân, cán bộ - viên chức, buôn bán - nội trợ, ngành nghề khác

- Nơi cư trú: chia làm 2 khu vực sống là nông thôn, thành thị

+ Thành thị: Bệnh nhân sống trong khu vực phường, thị xã, thành phố + Nông thôn: Bệnh nhân sống trong khu vực xã trở xuống

2.2.4.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Là các triệu chứng được ghi nhận cụ thể tại thời điểm nhận vào nghiên cứu, bao gồm các biến số như sau:

- Thời gian mắc bệnh: được tính từ thời điểm người bệnh có triệu chứng đầu tiên đến khi nhập viện, bao gồm bốn giá trị:

- Tiền sử bao gồm hai giá trị

+ Biến dạng mặt + viêm nhiễm dò mủ

+ Tình cờ phát hiện khi chụp X quang

Phồng xương là hiện tượng khi nang xương phát triển lớn, dẫn đến tăng áp lực thủy tĩnh bên trong nang Tình trạng này gây tiêu xương xung quanh và làm phồng lớp xương vỏ, có thể được phát hiện qua thăm khám lâm sàng.

• Mặt ngoài (ngách hành lang)

• Mặt trong (mặt khẩu cái hay mặt lưỡi)

• Mặt ngoài và mặt trong

Dấu hiệu ping pong có hai giá trị: có và không Khi ấn vào khối sưng phồng, cảm giác giống như ấn trên một nền cứng và dai, kèm theo tiếng tách tách Dù ấn mạnh, khối sưng không lún thêm, và khi nhấc ngón tay lên, chỗ lún sẽ trở lại vị trí ban đầu, tương tự như khi ấn vào quả bóng bàn.

Tình trạng tủy răng khi nhập viện được xác định thông qua thăm khám lâm sàng và X-quang, kết hợp với việc sử dụng máy thử điện Digitest để đánh giá độ sống của tủy răng Phương pháp này kích thích các sợi thần kinh tủy răng nhằm ghi nhận tình trạng răng và nguyên nhân gây ra vấn đề.

• Đã được điều trị tuỷ từ trước khi phát hiện nang

• Chưa điều trị tuỷ đến khi phát hiện nang

+ Nguyên nhân chết tuỷ răng nguyên nhân: bao gồm bốn giá trị là do sâu răng, chấn thương, núm phụ mặt nhai và không rõ nguyên nhân

Mỗi hàm răng được chia thành hai nhóm chính: nhóm răng trước và nhóm răng sau Nhóm răng trước hàm trên bao gồm các răng từ 13 đến 23, trong khi nhóm răng trước hàm dưới gồm các răng từ 33 đến 43 Đối với nhóm răng sau, hàm trên có các răng từ 14 đến 18 và 24 đến 28, còn hàm dưới có các răng từ 34 đến 38 và 44 đến 48.

+ Vị trí hàm: hàm trên và hàm dưới, bên phải và bên trái

+ Dò mủ: ngách hành lang, khẩu cái, lưỡi, da, không dò mủ

* Đặc điểm cận lâm sàng

Đặc điểm cận lâm sàng liên quan đến X quang bao gồm việc chụp phim toàn cảnh nhằm mô tả các đặc điểm của nang và các cấu trúc lân cận Các biến số quan trọng trong quá trình này cần được chú ý để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong chẩn đoán.

+ Thấu quang: một hốc, nhiều hốc

+ Hình dạng: tròn, bầu dục, nhiều cung

+ Đường viền: rõ, không rõ

+ Kích thước: < 2 cm, 2 – 3 cm, > 3 cm Kích thước của nang là đường kính lớn nhất của nang được đo bằng thước kẹp trên phim

+ Đẩy di lệch răng gồm hai giá trị có và không

+ Xâm lấn các cấu trúc giải phẫu quan trọng kề cận nang: xoang hàm, ống thần kinh răng dưới, ống mũi khẩu

Nang chân răng lành tính có đặc điểm cận lâm sàng liên quan đến giải phẫu bệnh, được bao bọc bởi vỏ liên kết xơ viêm mãn tính và lòng nang được lót bởi lớp tế bào biểu mô lát tầng không sừng hóa Kết quả giải phẫu bệnh được bác sĩ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh phân tích theo tài liệu của Nguyễn Sào Trung và Trần Phương Hạnh (2013), trong đó bao gồm hai biến số chính: tổ chức liên kết xơ với thâm nhiễm tế bào viêm và không thâm nhiễm.

+ Biểu mô sừng hóa bao gồm hai giá trị là có và không

+ Biểu mô dày, mỏng bao gồm hai giá trị dày và mỏng

+ Dịch mủ trong lòng nang bao gồm hai giá trị có và không

Khi răng đã lung lay nhiều và tiêu xương quá 1/3 chân răng, phương pháp phẫu thuật nên là nhổ bỏ răng Ngược lại, nếu xương ổ răng còn đủ (tiêu xương dưới 1/3 chân răng) và phần chân răng dự kiến cắt không quá 1/3 chân răng, có thể giữ lại các răng đó Biến số có hai giá trị.

+ Lấy sang thương + nhổ răng

+ Lấy sang thương + cắt chóp

- Phương pháp vô cảm: bao gồm hai giá trị là

Gây mê và tê tại chỗ là phương pháp cần thiết khi nang lớn gây phá hủy xương nhiều hoặc gần các cấu trúc giải phẫu quan trọng như ống mũi khẩu, ống thần kinh răng dưới và xoang hàm.

+ Gây tê vùng + tê tại chỗ

Chất lượng răng đã điều trị tủy được phân loại theo Hiệp hội Nội nha Hoa Kỳ (AAE) thành hai giá trị chính Giá trị "Tốt" được xác định khi răng có chất trám bít đủ chiều dài ống tủy, với cản quang của chất trám bít nằm ngay hoặc cách 0,5 – 1 mm từ chóp chân răng trên phim X quang Đồng thời, chất trám bít cũng phải đủ chiều ngang, không có khoảng thấu quang trong lòng ống tủy trên phim X quang.

Răng không tốt là những răng có chất trám bít ống ngắn hơn hoặc dài hơn chiều dài ống tủy, với cản quang cách lớn hơn 1 mm hoặc vượt quá chóp chân răng trên phim X quang Ngoài ra, nếu chất trám không đủ chiều ngang, sẽ xuất hiện khoảng thấu quang trong lòng ống tủy trên phim X quang.

- Số răng chữa tủy: ghi nhận số lượng răng bị ảnh hưởng bởi nang trên một bệnh nhân cần phải chữa tủy

- Số răng cắt chóp: ghi nhận số lượng răng có chân nằm trong lòng nang cần phải cắt chóp trên một bệnh nhân

- Chẩn đoán phân loại nang chân răng: dựa vào đặc điểm lâm sàng, X quang và giải phẫu bệnh, có 3 giá trị là:

- Thời gian điều trị: được xác định bằng cách lấy ngày xuất viện trừ cho ngày nhập viện của người bệnh, có hai giá trị:

Đánh giá kết quả điều trị bao gồm việc xem xét lâm sàng các mô mềm và răng nguyên nhân, cũng như các xét nghiệm cận lâm sàng như phim toàn cảnh Kết quả sau phẫu thuật được xác định dựa trên tiêu chuẩn đánh giá của Nguyễn Thị Thu Hà (2010) [2].

Lê Đức Lánh (2007) [8] có chỉnh sửa cho phù hợp nội dung nghiên cứu, cụ thể như sau:

+ Chảy máu vết mổ: tình trạng chảy máu vết mổ qua quan sát và thăm khám trực tiếp trên lâm sàng bao gồm hai giá trị có và không

Nhiễm trùng có thể được đánh giá thông qua các dấu hiệu toàn thân và tại chỗ, bao gồm các triệu chứng viêm như sốt, sưng, nóng, đỏ và đau Việc xác định các triệu chứng này có thể giúp phân loại tình trạng nhiễm trùng thành hai giá trị: có và không.

+ Dị cảm: tình trạng tê bì hay đau nhói do chèn ép hay tổn thương dây thần kinh ngoại biên, bao gồm hai giá trị có và không

+ Lành thương vết mổ: đánh giá tình trạng bục vết mổ và mép vết mổ kín hay không bao gồm hai giá trị: tốt, không tốt

+ Sưng đau: được xác định bằng cách hỏi bệnh nhân và quan sát trên lâm sàng, bao gồm hai giá trị: có, không

Dò mủ được xác định qua việc quan sát lỗ dò trên niêm mạc hoặc ấn nhẹ vào vùng niêm mạc để thấy mủ chảy ra Kết quả có thể được phân loại thành hai giá trị: có và không.

+ Đau: xác định qua hỏi bệnh và dùng nghiệm pháp gõ răng bao gồm hai giá trị: có, không

Đạo đức trong nghiên cứu

Bệnh nhân được giải thích rõ về tình trạng bệnh, các phương pháp điều trị và tôn trọng quyền tham gia hay không tham gia của bệnh nhân

Thông tin cá nhân của và các vấn đề phát hiện trong lúc khám được đảm bảo giữ bí mật

Nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc đạo đức trong y học, với việc giải thích rõ ràng cho các đối tượng về bệnh, phương pháp điều trị và mục tiêu nghiên cứu Tất cả người tham gia đều đồng ý tham gia, và thông tin cá nhân của bệnh nhân được bảo mật tuyệt đối Kết quả xét nghiệm chỉ được sử dụng cho mục đích chẩn đoán và điều trị bệnh nhân.

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm bệnh nhân về giới

Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo giới

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân nữ đến khám và điều trị nang chân răng là 57,8% nhiều hơn nam là 42,2%

3.1.2 Đặc điểm bệnh nhân về tuổi

Bảng 3.1 Đặc điểm bệnh nhân về tuổi Đặc điểm bệnh nhân về tuổi n %

Nhận xét: Tuổi thấp nhất của bệnh nhân là 11, tuổi cao nhất là 83 Tuổi trung bình là 44,2±17,72 Nhóm tuổi > 50 có 18/45 trường hợp, chiếm tỷ lệ 40%

3.1.3 Đặc điểm nghề nghiệp, Nơi cư trú

Bảng 3.2 Đặc điểm bệnh nhân về nghề nghiệp và nơi cư trú

Nghề nghiệp, Nơi cư trú n % Tổng n (%)

Nơi cư trú Nông thôn 37 82,2

Nhận xét: Bệnh nhân sống chủ yếu ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ 82,2% Nghề nghiệp lao động chân tay là chủ yếu chiếm tỷ lệ 55,6%.

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

3.2.1.1 Tiền sử và bệnh sử

Bảng 3.3 Đặc điểm tiền sử răng miệng và bệnh toàn thân

Tiền sử răng miệng, bệnh toàn thân n % Tổng

(n,%) Đã điều trị tủy Rồi 5 11,1

Bệnh toàn thân Không có 29 64,4

Nhận xét: Đa số răng nguyên nhân chưa được điều trị tủy (88,9%) Có 16/45 trường hợp có bệnh lý toàn thân chiếm tỷ lệ 35,6%

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phân bố của các bệnh toàn thân

Nhận xét: Trong 16/45 trường hợp có bệnh lý toàn thân thì bệnh tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất (24,4%)

3.2.1.2 Đặc điểm về lý do vào viện

Bảng 3.4 Đặc điểm lý do vào viện Đặc điểm lý do vào viện n %

Viêm nhiễm dò mủ + biến dạng mặt 3 6,7

Tình cờ phát hiện khi chụp X quang 5 11,1

Trong số bệnh nhân nhập viện, có 27 người bị sưng đau vùng răng, chiếm tỷ lệ cao nhất là 60% Tiếp theo, có 7 người bị dò mủ, chiếm tỷ lệ đáng kể.

15,6%, thấp nhất là viêm nhiễm dò mủ và biến dạng mặt 3 người, chiếm tỷ lệ là 6,7%

Bảng 3.5 Đặc điểm thời gian mắc bệnh Đặc điểm thời gian mắc bệnh n %

Thời gian mắc bệnh trên 12 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,8%, tiếp theo là thời gian mắc bệnh từ 6 đến 12 tháng với 26,7% Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh dưới 6 tháng là 24,4%, trong khi tỷ lệ không xác định rõ thời gian mắc bệnh là 11,1%.

Bảng 3.6 Thời gian phát hiện nang theo giới Giới

Nhận xét: Tỷ lệ phát hiện bệnh sớm của nhóm bệnh nhân nữ là 15,6% cao hơn nhóm bệnh nhân nam là 8,9%

3.2.1.4 Tình trạng răng nguyên nhân

Bảng 3.7 Nguyên nhân chết tủy răng nguyên nhân

Nguyên nhân chết tủy Tổng n %

Răng chết tủy chủ yếu do sâu răng, chiếm 66,7%, trong khi chấn thương chỉ chiếm 11,1% Ngoài ra, nguyên nhân do núm phụ mặt nhai là 2,2%, và 20% trường hợp không rõ nguyên nhân.

Biểu đồ 3.3 Tình trạng răng nguyên nhân lúc nhập viện

Nhận xét: Phần lớn răng nguyên nhân chưa được điều trị tủy (88,9%), răng nguyên nhân đã điều trị tủy là 11,1%

3.2.1.5 Vị trí răng nguyên nhân

Bảng 3.8 Phân bố nhóm răng nguyên nhân theo vị trí hàm trên, dưới

- Ở hàm trên, nang do nhóm răng trước là 35,6% gặp nhiều hơn nang do nhóm răng sau là 15,6%

- Ở hàm dưới, nang do nhóm răng trước là 26,7% gặp nhiều hơn nang do nhóm răng sau là 22,2%

- Trong nhóm răng trước, nang do nhóm răng trước hàm trên là 35,6% gặp nhiều hơn nang do nhóm răng trước hàm dưới là 26,7%

- Trong nhóm răng sau, nang do nhóm răng sau hàm trên là 15,6% ít gặp hơn nang do nhóm răng sau hàm dưới là 22,2%

Bảng 3.9 Phân bố nhóm răng nguyên nhân theo vị trí hàm phải, trái Nhóm răng

- Nang gặp ở hàm bên trái 66,7% nhiều hơn hàm bên phải 33,3%

- Nang do nhóm răng trước chiếm 62,2% gặp nhiều hơn nang do nhóm răng sau 37,8%

Bảng 3.10 Tình trạng phồng xương theo hàm Phồng xương

- Có 42,2% trường hợp bị phồng xương

- Phồng xương ở hàm trên là 26,7% cao hơn phồng xương ở hàm dưới là 15,6%

Bảng 3.11 Vị trí phồng xương

- Phồng xương 1 bản ở mặt ngoài (ngách hành lang) là chủ yếu (40%)

- Phồng xương 2 bản chiếm tỷ lệ 2,2%

Bảng 3.12 Dấu hiệu Ping pong theo kích thước nang

Nhận xét: Nang chân răng có dấu hiện Ping pong là 12/45 trường hợp (26,7%) Dấu hiệu Ping pong gặp chủ yếu ở nang > 2 cm

3.2.1.7 Tình trạng dò mủ răng nguyên nhân

Bảng 3.13 Tình trạng dò mủ theo hàm

Nhận xét: Tỷ lệ dò mủ chung của mẫu nghiên cứu là 24,4% Vị trí dò mủ gặp ở hàm dưới (17,8%) nhiều hơn hàm trên (6,7%)

Bảng 3.14 Vị trí dò mủ

Nhận xét: Vị trí dò mủ chủ yếu ở ngách hành lang chiếm tỷ lệ 15,6 % Dò mủ ra da chiếm tỷ lệ 8,9%

3.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng

3.2.2.1 Đặc điểm nang trên phim X quang

Bảng 3.15 Đặc điểm nang trên phim X quang Đặc điểm nang trên phim X quang n % Tổng n (%)

Nhiều hốc 3 6,7 Đường viền Rõ 40 88,9

Nhận xét: Nang có hình dạng tròn (57,8%), thấu quang một hốc (93,3%), đường viền cản quang rõ (88,9%) chiếm đa số

Bảng 3.16 Kích thước nang theo giới Kích thước

Giới < 2 cm 2-3 cm > 3 cm Tổng

- Đối với bệnh nhân nữ, nang có kích thước < 2 cm chiếm tỷ lệ cao nhất là 35,6%

- Nang kích thước > 3 cm chỉ gặp ở bệnh nhân nam

Bảng 3.17 Hình dạng tổn thương theo kích thước nang

Nang chân răng có kích thước nhỏ hơn 2 cm chiếm tỷ lệ cao nhất, lên tới 68,9% Hình dạng nang tròn chủ yếu xuất hiện ở những nang có kích thước dưới 2 cm, trong khi nang hình bầu dục thường gặp ở những nang có kích thước lớn hơn 2 cm.

Bảng 3.18 Tình trạng dò mủ theo kích thước nang

Nhận xét: Tỷ lệ dò mủ chung là 24,4% Tỷ lệ dò mủ của các nang có kích thước < 2cm là 15,6%, nang từ 2-3cm là 6,7%, nang > 3cm là 2,2%

Bảng 3.19 Đặc điểm nang xâm lấn cấu trúc lân cận trên phim X quang

Xâm lấn cấu trúc lân cận n % Ống mũi khẩu 3 6,7

- Nang xâm lấn cấu trúc ống mũi khẩu là 3/45 ca, chiếm tỷ lệ 6,7%

- Không có trường hợp nào xâm lấn vào xoang hàm và ống thần kinh răng dưới

3.2.2.2 Đặc điểm giải phẫu bệnh

Bảng 3.20 Đặc điểm giải phẫu bệnh Đặc điểm giải phẫu bệnh n % Đại thể Dịch trong nang Có mủ 27 60

Biểu mô sừng hóa Không 45 100

Biểu mô dày mỏng Dày 32 71,1

Thâm nhiễm tế bào viêm Có 39 86,7

Trong nghiên cứu, dịch trong lòng nang có mủ chiếm 60% với 27/45 trường hợp Biểu mô không sừng hóa đạt tỷ lệ 100% với 45/45 trường hợp Biểu mô dày xuất hiện ở 71,1% với 32/45 trường hợp, trong khi thâm nhiễm tế bào viêm chiếm 86,7% với 39/45 trường hợp.

Kết quả điều trị

Bảng 3.21 Phương pháp phẫu thuật

Lấy nang và nhổ răng 19 42,2

Lấy nang và cắt chóp 26 57,8

Phương pháp phẫu thuật lấy nang và cắt chóp chiếm 57,8% với 26/45 trường hợp, trong khi phương pháp lấy nang và nhổ răng chiếm 42,2% với 19/45 trường hợp.

Bảng 3.22 Phương pháp vô cảm

Nhận xét: Phương pháp vô cảm tê tại chỗ chiếm 75,6%, gây mê 24,4%

Bảng 3.23 Phương pháp vô cảm theo phương pháp phẫu thuật

Gây mê Tê tại chỗ Tổng n % n % n %

Phương pháp vô cảm sử dụng gây tê tại chỗ chiếm ưu thế với tỷ lệ 75,6% trong hai loại phẫu thuật, bao gồm phẫu thuật lấy nang nhổ răng và lấy nang cắt chóp, mỗi loại đều chiếm 37,8%.

3.3.3 Số răng chữa tủy, số răng cắt chóp

Bảng 3.24 Đặc điểm về số răng chữa tủy

Nhận xét: Có trung bình 1,29 ± 1,56 răng phải chữa tủy trên một bệnh nhân

Số răng phải chữa tủy nhiều nhất là 6 răng

Bảng 3.25 Đặc điểm về số răng cắt chóp

- Có trung bình 1,02 ± 1,12 răng phải cắt chóp trên một bệnh nhân

- Số răng phải cắt chóp nhiều nhất là 4 răng

Biểu đồ 3.4 Thời gian nằm viện

Nhận xét: Thời gian nằm viện nhiều nhất là 10 ngày, ít nhất là 01 ngày Thời gian nằm viện trung bình là 3.22 ± 3.44 ngày

3.3.5 Chất lượng các răng đã điều trị tủy

Biểu đồ 3.5 Chất lượng các răng đã điều trị tủy

Trong 26 ca điều trị tủy, tỷ lệ thành công đạt 84,6% với 22 ca điều trị thành công, trong khi 4 ca điều trị thất bại chiếm 15,4% Nguyên nhân của các ca thất bại là do bệnh nhân đã từng điều trị tủy trước khi đến khám.

3.3.6 Chẩn đoán phân loại nang chân răng

Bảng 3.26 Chẩn đoán phân loại

Nhận xét: nang quanh chóp chiếm tỷ lệ cao nhất 95,6%.Nang tồn tại và nang bên chân răng chiếm tỷ lệ bằng nhau là 2,2%

3.3.7 Đánh giá kết quả phẫu thuật

3.3.7.1 Đánh giá sau phẫu thuật 1 tuần

Bảng 3.27 Tình trạng bệnh nhân sau phẫu thuật 1 tuần

Vết mổ không đau, lành thương tốt 45 100

Nhận xét: Sau phẫu thuật 01 tuần, hầu hết bệnh nhân đều lành thương tốt, không sưng đau chiếm tỷ lệ 100%, không có trường hợp nào bị nhiễm trùng;

3 trường hợp còn dị cảm nhẹ chiếm tỷ lệ 6,7% và không có trường hợp nào chảy máu

Biếu đồ 3.6 Xếp loại sau phẫu thuật 1 tuần

Nhận xét: sau điều trị phẫu thuật 1 tuần có 42/45 trường hợp xếp loại tốt 93,3%, loại trung bình 6,7%, không có trường hợp nào xếp loại kém

3.3.7.2 Đánh giá sau phẫu thuật 3 tháng

Bảng 3.28 Lâm sàng, X quang sau phẫu thuật 3 tháng

Lâm sàng, X quang sau phẫu thuật 3 tháng n %

X quang Tăng đậm độ cản quang 30 66,7

Sau 3 tháng phẫu thuật, 100% bệnh nhân đã lành thương tốt, không có triệu chứng sưng đau, dị cảm hay dò mủ Kết quả phim X quang cho thấy có 36/45 trường hợp mờ đường ranh giới hốc xương, chiếm tỷ lệ 80%, và 30/45 trường hợp tăng đậm độ cản quang, chiếm tỷ lệ 66,7%.

Bảng 3.29 Đánh giá răng nguyên nhân sau 3 tháng

(Có 19/45 trường hợp không đánh giá được răng nguyên nhân)

Sau 3 tháng phẫu thuật, 100% răng nguyên nhân không còn đau và thực hiện chức năng ăn nhai tốt Tuy nhiên, có 1/26 trường hợp răng nguyên nhân còn lung lay nhẹ, chiếm tỷ lệ 3,8%, và chức năng ăn nhai không đạt yêu cầu.

Bảng 3.30 Xếp loại chung sau 3 tháng Xếp loại chung sau 3 tháng n %

Sau 3 tháng phẫu thuật, 44 trong số 45 trường hợp đạt xếp loại tốt, chiếm tỷ lệ 97,8% Chỉ có 1 trường hợp răng vẫn còn lung lay nhẹ, được xếp loại trung bình với tỷ lệ 2,2%.

3.3.7.3 Đánh giá sau phẫu thuật 6 tháng Đối tượng tham gia nghiên cứu là 45 trường hợp, sau 6 tháng có 04 trường hợp chưa đánh giá kết quả

Bảng 3.31 Lâm sàng, X quang sau phẫu thuật 6 tháng

Lâm sàng, X quang sau phẫu thuật 6 tháng n %

Sau 6 tháng, 100% bệnh nhân đã hồi phục tốt mà không có dấu hiệu sưng đau, dị cảm hay dò mủ Kết quả X quang cho thấy 100% trường hợp hình thành thớ xương trong lòng sang thương và 100% trường hợp thu hẹp kích thước sang thương.

Bảng 3.32 Đánh giá răng nguyên nhân sau 6 tháng Đánh giá răng nguyên nhân n % Đau Có 0 0

Chức năng ăn nhai Tốt 23 100

(Có 22/45 ca không đánh giá được răng nguyên nhân)

Nhận xét: có 1 trường hợp răng nguyên nhân còn lung lay nhẹ chiếm tỷ lệ 4,3%

Bảng 3.33 Xếp loại chung sau 6 tháng

Kết quả điều trị 6 tháng n %

Nhận xét: Sau phẫu thuật 6 tháng có 40/41 trường hợp được xếp loại tốt chiếm tỷ lệ 97,6% Xếp loại trung bình có 01 trường hợp, chiếm tỷ lệ 2,4%.

BÀN LUẬN

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

4.2.1.1 Tiền sử và bệnh sử

Trong số 45 bệnh nhân, có 29 trường hợp không mắc bệnh lý toàn thân, chiếm 64,4%, trong khi 16 trường hợp có bệnh lý toàn thân, chiếm 35,6% Các bệnh lý chủ yếu bao gồm cao huyết áp, đái tháo đường loại 2 và bệnh thiếu máu cơ tim, trong đó bệnh nhân tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất với 11 người, tương đương 24,4% Nhóm bệnh nhân có bệnh lý toàn thân chủ yếu nằm trong độ tuổi 50 – 69, nơi tình trạng lão hóa cơ thể, đặc biệt là trên hệ thống mạch máu, dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh cao hơn.

Trong 45 bệnh nhân điều trị nang chân răng, bệnh nhân đến khám với lý do sưng đau là chủ yếu, chiếm tỷ lệ 60% (Bảng 3.4) Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Trương Nhựt Khuê (2017) [5] số bệnh nhân nhập viện do sưng đau chiếm tỷ lệ 63,3%, Lê Hoàng Hạnh (2012) [4] bệnh nhân vào viện vì lý do sưng đau chiếm tỷ lệ 62,8%, Phạm Thanh Hải (2012) [3] lý do vào viện của bệnh nhân chủ yếu là sưng đau dò mủ chiếm tỷ lệ 50%, Deepthi PV

Năm 2016, 60,6% bệnh nhân đến khám do sưng đau, điều này phản ánh diễn tiến của bệnh lý nang chân răng Bệnh thường tiến triển âm thầm mà không có triệu chứng rõ ràng, và triệu chứng phổ biến nhất là sưng đau khi có tình trạng nhiễm trùng thứ phát.

Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Thu Hà (2010) [2] bệnh nhân đến khám với lý do chính là biến dạng mặt chiếm tỷ lệ 81,5%, Đoàn Thanh Tùng (2011)

[11] bệnh nhân nhập viện với lý do chính là biến dạng mặt chiếm tỷ lệ 42%

Sự khác biệt này xuất phát từ việc các tác giả Nguyễn Thị Thu Hà và Đoàn Thanh Tùng lấy mẫu ở tuyến trung ương, nơi tiếp nhận nhiều trường hợp nặng và phức tạp từ tuyến cơ sở Điều này dẫn đến tình trạng nang lớn, bội nhiễm và phá hủy xương nhiều, gây ra triệu chứng biến dạng mặt.

Thời gian mắc bệnh được tính từ khi bệnh nhân phát hiện triệu chứng đầu tiên cho đến khi đi khám Trong nghiên cứu của chúng tôi, 17 trường hợp bệnh nhân có thời gian mắc bệnh trên 1 năm, chiếm 37,8% Số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh từ 6 tháng đến 1 năm chiếm 26,7%, trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh dưới 6 tháng là 24,4%.

(Bảng 3.5) Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Hồng Lợi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh từ 1 – 2 năm chiếm 37,6%, thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây Cụ thể, Trương Nhựt Khuê (2016) ghi nhận 60,7% bệnh nhân mắc bệnh dưới 6 tháng, Đoàn Thanh Tùng (2011) là 70%, và Nguyễn Thị Thu Hà (2010) là 76,3% cho bệnh nhân mắc bệnh dưới 1 năm Nguyên nhân có thể do phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi sống ở vùng nông thôn, làm nghề lao động chân tay, dẫn đến điều kiện sống thấp hơn so với người dân thành phố Điều này khiến họ ít có cơ hội tiếp xúc với dịch vụ y tế và chưa chú trọng đến việc chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe răng miệng.

4.2.1.4 Tình trạng răng nguyên nhân

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nguyên nhân chính gây chết tủy răng là do sâu răng, chiếm 66,7%, trong khi chấn thương chỉ chiếm 11,1% với 5 trường hợp, trong đó có 4 trường hợp ở nam giới (Bảng 3.7) Kết quả này khác với nghiên cứu của Trương Nhựt Khuê (2016), trong đó chấn thương chiếm 26,7%, và nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2010) với tỷ lệ 63,2% do chấn thương Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi các yếu tố trong nghiên cứu của các tác giả.

Hà được thực hiện tại các tuyến trung ương và thành phố lớn, dẫn đến việc các trường hợp nhập viện thường là bệnh lý nặng và phức tạp Trong khi đó, bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu sống ở vùng nông thôn với điều kiện kinh tế thấp, do đó họ chưa chú ý nhiều đến vệ sinh răng miệng và gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc răng miệng, dẫn đến tỷ lệ răng chết tủy do sâu răng cao.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 88,9% trường hợp răng nguyên nhân chưa được điều trị tủy khi phát hiện nang, trong khi 11,1% trường hợp đã được điều trị tủy tại thời điểm phát hiện Kết quả này khác với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu.

Theo nghiên cứu của Hà (2010), chỉ có 23,68% bệnh nhân có răng nguyên nhân đã được điều trị tủy khi phát hiện nang Sự khác biệt này có thể do răng nguyên nhân chết tủy chủ yếu là do chấn thương, trong khi triệu chứng của nang xương hàm thường diễn tiến âm thầm và ít biểu hiện, khiến bệnh nhân dễ bỏ qua Thường thì họ chỉ đến khám khi có biến chứng quanh chóp như sưng đau hoặc dò mủ.

4.2.1.5 Vị trí răng nguyên nhân và nhóm răng nguyên nhân

Nghiên cứu này cho thấy nang chân răng ở hàm trên chiếm ưu thế (51,1%) so với hàm dưới (48,9%), với tỷ lệ gặp ở bên trái (66,7%) nhiều hơn bên phải (33,3%) Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước, như của Nguyễn Thị Thu Hà (2010) với tỷ lệ hàm trên 52,6% và hàm dưới 47,4%, hay Phạm Thanh Hải (2012) với hàm trên 53,3% và hàm dưới 46,7% Một số nghiên cứu, như của Lorenzo Lo Muzio (2017), ghi nhận tỷ lệ hàm trên lên đến 65,7% Tuy nhiên, nghiên cứu của Meningaud và cộng sự (2006) lại cho thấy tỷ lệ phân bố nang chân răng ở hàm trên chỉ đạt 32,4%, thấp hơn so với hàm dưới 67,6%.

Nang do nhóm răng trước chiếm tỷ lệ cao hơn, với 62,2%, so với nang do nhóm răng sau chỉ 37,8% (Bảng 3.8) Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đây, như của Trương Nhựt Khuê (2017) với tỷ lệ 61,7%, Lê Hoàng Hạnh (2012) đạt 70%, Nguyễn Hồng Lợi (1997) ghi nhận 54,12%, Jones (2006) cho thấy 64%, và Jeng-Huey Chen (2018) với tỷ lệ cao nhất là 80,4%.

Trong nhóm răng trước, nang do nhóm răng trước hàm trên (35,6%) chiếm ưu thế hơn nang do nhóm răng trước hàm dưới (26,7%) (Bảng 3.8)

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2010) cho thấy nang do nhóm răng trước hàm trên chiếm 66,7% Tương tự, nghiên cứu của Ahmad Shah (2016) chỉ ra rằng nang do nhóm răng trước hàm trên chiếm 31,2%, trong khi nhóm răng trước hàm dưới chỉ chiếm 4,2%.

Jeng-Huey Chen (2018) [23], nang do nhóm răng trước hàm trên chiếm 69,3% Jone A.V và cộng sự (2006) [36] nghiên cứu trên cỡ mẫu rất lớn

Trong một nghiên cứu với 7121 bệnh nhân, tỷ lệ nang do nhóm răng trước hàm trên và hàm dưới là 1046/217 Do cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ, chúng tôi chưa thể khẳng định rằng tỷ lệ nang do nhóm răng trước hàm trên cao hơn so với nhóm răng trước hàm dưới Tuy nhiên, chúng tôi đã tham khảo một số nghiên cứu liên quan.

Bảng 4.2 So sánh tỷ lệ nang do nhóm răng trước hàm trên/ trước hàm dưới với các nghiên cứu khác

Răng trước hàm dưới Tổng n % n %

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nang chân răng ở vùng răng trước hàm trên cao hơn so với vùng răng trước hàm dưới, với P rất nhỏ (P < 0,001) Điều này có thể do cấu trúc giải phẫu của cung răng hàm trên, nơi các răng cửa nằm phía trước, dẫn đến nguy cơ chấn thương và sâu răng cao hơn Bệnh nhân thường có xu hướng giữ lại các răng này vì lý do thẩm mỹ, ngay cả khi đã điều trị nội nha thất bại, làm tăng nguy cơ hình thành nang chân răng Ngược lại, các răng sau hàm dưới có cấu trúc phức tạp hơn, dễ tích tụ mảng bám và vi khuẩn, dẫn đến tỷ lệ sâu răng cao hơn Mặc dù răng sau hàm trên có lỗ đổ của tuyến nước bọt mang tai và ảnh hưởng của trọng lực giúp giảm thiểu sâu răng, nhưng tỷ lệ nang chân răng ở răng sau hàm dưới vẫn cao hơn so với răng sau hàm trên.

Bảng 4.3 So sánh vị trí nhóm răng nguyên nhân với các tác giả khác

Nhóm răng trước dưới Tổng n % n %

Nguyễn Hồng Lợi [9] 1997 63 74,8 22 25,2 85 Nguyễn Thị Thu Hà [2] 2010 16 66,7 8 33,3 38

Lo Muzio [47] 2017 548 74,4 188 25,6 736 Jeng-Huey Chen [23] 2018 187 86,1 30 13,9 217

Kết quả điều trị

Tất cả 45 bệnh nhân trong nghiên cứu đều được phẫu thuật bằng phương pháp bóc tách lấy bỏ nang Tỷ lệ điều trị phụ thuộc vào kinh nghiệm và thói quen của từng phẫu thuật viên, do đó không phản ánh chính xác chỉ định điều trị của từng phương pháp Trong số đó, 26 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp lấy nang và cắt chóp, chiếm 57,8%, trong khi 19 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp lấy nang và nhổ răng, chiếm 42,2% (Bảng 3.21).

Theo nghiên cứu của Trương Nhựt Khuê (2017), có 76,7% trường hợp thực hiện lấy nang và nhổ răng, trong khi 23,3% thực hiện lấy nang và cắt chóp, với tỷ lệ trung bình một bệnh nhân cần nội nha là 1,35± 1,78 răng Lê Hoàng Hạnh (2012) ghi nhận 41,4% trường hợp lấy nang và bảo tồn răng, 32,8% lấy nang và nhổ răng, với trung bình 1,9 ± 1,1 răng nội nha Esther Manor (2012) cho biết 45% trường hợp lấy nang, 35% mở thông nang và 19% lấy nang kèm ghép xương Nghiên cứu của Varinauskas V và cộng sự (2006) trên 850 trường hợp cho thấy 23,27% nhổ răng, 29,79% phẫu thuật, 46,94% nội nha, 19,53% phẫu thuật lấy nang, 47,18% lấy nang kèm cắt chóp và 27,53% lấy nang kèm nhổ răng.

Phương pháp vô cảm chủ yếu được áp dụng trong nghiên cứu của chúng tôi là gây tê tại chỗ, chiếm 75,6% (Bảng 3.22) Điều này phù hợp với thực tế là phần lớn bệnh nhân có nang chân răng kích thước nhỏ, chiếm 68,9% Trong số đó, có 17 trường hợp sử dụng gây tê tại chỗ cho phương pháp lấy nang và nhổ răng, tương đương 37,8%, trong khi phương pháp lấy nang và cắt chóp cũng áp dụng gây tê tại chỗ.

Trong nghiên cứu, 17 trường hợp chiếm tỷ lệ 37,8% được chỉ định cho tổn thương nhỏ, riêng lẻ từng răng Phương pháp lấy nang và nhổ răng sử dụng gây mê có 2 trường hợp, chiếm 4,4%, trong khi phương pháp lấy nang và cắt chóp sử dụng gây mê có 9 trường hợp, chiếm 20% Những phương pháp này được áp dụng cho các nang lớn, phá hủy xương nhiều, hoặc khi nang nằm gần các cấu trúc giải phẫu quan trọng như xoang hàm, ống thần kinh răng dưới, và ống mũi khẩu.

4.3.3 Chẩn đoán phân loại nang chân răng

Chẩn đoán được thực hiện bằng cách kết hợp các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng Trong nghiên cứu của chúng tôi, trong 45 ca nang chân răng, nang quanh chóp chiếm 95,6% với 43 trường hợp, tiếp theo là nang tồn tại và nang bên thân răng, mỗi loại có 1 trường hợp, tương ứng với tỷ lệ 2,2%.

Kết quả nghiên cứu cho thấy nang quanh chóp chiếm tỷ lệ cao trong các loại nang xương hàm do răng, với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2010) đạt 94,74%, Kapil Karwasra (2017) là 79%, Kilinc A (2017) là 66,4%, và Araujo J.P (2016) đạt 97,37% Điều này chỉ ra rằng nang quanh chóp thường gặp nhất do viêm nhiễm mạn tính vùng quanh chóp răng, chủ yếu do sâu răng dẫn đến tủy răng hoại tử không được điều trị kịp thời Các loại nang khác như nang tồn tại, nang bên răng hay nang phát triển từ thân răng ít gặp hơn.

Trong các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn, như nghiên cứu của Jone A.V và cộng sự (2006) với 7271 trường hợp, nang quanh chóp chiếm tỷ lệ 52,3%, và nghiên cứu của Nigel R Jonhson và cộng sự (2014) với 18,297 trường hợp cho thấy tỷ lệ này là 54,6% Mặc dù nang quanh chóp thường gặp nhất, tỷ lệ của nó thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Điều này có thể do khi cỡ mẫu lớn, các loại nang hiếm gặp xuất hiện, làm giảm tỷ lệ của các loại nang khác Tuy nhiên, nang quanh chóp vẫn được xác định là loại nang thường gặp nhất trong các loại nang xương hàm do răng.

4.3.4 Chất lượng các răng đã được điều trị tủy

Tại bệnh viện, 24 trong số 26 trường hợp bệnh nhân có răng nguyên nhân đã được chữa tủy để thực hiện cắt chóp, và tất cả các trường hợp này đều đạt chất lượng bít ống tủy tốt.

Có 4 trường hợp bệnh nhân đã được chữa tủy trước khi nhập viện, tất cả đều có biểu hiện sưng đau và hình ảnh thấu quang bệnh lý trên phim quanh chóp Nguyên nhân điều trị tủy thất bại có thể do thiếu đầu tư vào máy móc và thiết bị tại các phòng nha tuyến huyện và xã, đặc biệt là máy chụp phim X quang, dẫn đến việc điều trị chủ yếu dựa trên kinh nghiệm Thêm vào đó, sự thiếu hụt nguồn nhân lực y tế có trình độ chuyên môn cũng ảnh hưởng đến kết quả chữa tủy Trên phim, ghi nhận tình trạng bít ống tủy không chặt và chất liệu bít ống không đảm bảo Tuy nhiên, tất cả bệnh nhân được chữa tủy tại bệnh viện đều có kết quả bít ống tủy tốt trên phim quanh chóp.

4.3.5 Số răng chữa tủy, số răng cắt chóp

Trong nghiên cứu, tổng cộng có 58 răng cần chữa tủy, với 4 trường hợp phải chữa nhiều răng, chủ yếu ở vùng răng trước Một bệnh nhân có số răng chữa tủy nhiều nhất là 6, trung bình mỗi bệnh nhân có 1,29 ± 1,561 răng cần chữa tủy Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Trương Nhựt Khuê (2017) với tỷ lệ trung bình là 1,35 ± 1,78 răng, nhưng thấp hơn so với Nguyễn Thị Thu Hà (2010) với 2,97 răng Số răng cần chữa tủy thường được quyết định bởi các phẫu thuật viên dựa trên số răng liên quan đến nang trên phim Panorama, không dựa vào tình trạng tủy sống hay chết, và thường lớn hơn số răng có chân thực sự nằm trong lòng nang.

Trong số các răng cần chữa tủy, có 46 răng phải cắt chóp, chiếm 79,3% tổng số răng đã được chữa tủy, do chân răng liên quan trực tiếp vào lòng nang Có 12 răng (20,7%) chân không lọt vào lòng nang nên không cần cắt chóp Trên một bệnh nhân, số răng cắt chóp nhiều nhất là 4 răng, với trung bình là 1,02 ± 1,118 răng phải cắt chóp Như vậy, số răng thực sự cần chữa tủy và cắt chóp để bảo tồn chỉ chiếm 79,3% số răng đã có chỉ định chữa tủy trước đó Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của Nguyễn Thị Thu Hà (2010), trong đó chỉ có 85 răng cần cắt chóp, chiếm tỷ lệ 75,2%.

Thời gian nằm viện được xác định từ khi bệnh nhân nhập viện cho đến khi xuất viện, với thời gian tối đa là 10 ngày và thời gian tối thiểu là không được đề cập.

Thời gian nằm viện trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 3,22 ± 3,44 ngày, tương tự như kết quả của Trương Nhựt Khuê (2017) với 2,68 ± 0,99 ngày và Jean Paul Meningaud (2006) với 2,46 ± 1,9 ngày Tuy nhiên, thời gian này thấp hơn so với Nguyễn Thị Thu Hà (2010) với 3,97 ± 1,85 ngày và Varinauskas Vaidas (2006) với 8,21 ± 4,82 ngày Trong nhóm bệnh nhân nằm viện dưới 3 ngày, tỷ lệ nang có kích thước < 2 cm cao hơn, trong khi nhóm nằm viện trên 3 ngày chủ yếu có nang > 2 cm Điều này có thể do bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu có nang nhỏ, ít xâm lấn và được chăm sóc tốt trước và sau mổ, bao gồm việc sử dụng kháng sinh và biện pháp vô khuẩn, giúp rút ngắn thời gian hồi phục Tuy nhiên, vẫn có bệnh nhân nhập viện với nang lớn gây tiêu xương và tình trạng bội nhiễm nặng, dẫn đến thời gian hậu phẫu kéo dài.

4.3.7 Đánh giá sau phẫu thuật

4.3.7.1 Đánh giá sau phẫu thuật 1 tuần

Sau một tuần phẫu thuật, chúng tôi chỉ đánh giá bệnh nhân qua khám lâm sàng để phát hiện biến chứng Tất cả bệnh nhân đều lành thương tốt, không có trường hợp nào bị sưng đau hay nhiễm trùng, và không có chảy máu sau mổ Chỉ có 3 trường hợp còn dị cảm nhẹ, chiếm 6,7% Trong số đó, 2 trường hợp có nang chân răng ở xương hàm dưới và 1 trường hợp ở xương hàm trên, đều nằm ở vùng răng trước Kết quả sau phẫu thuật cho thấy 42/45 trường hợp được xếp loại tốt, chiếm 93,3%, trong khi 3 trường hợp còn lại được xếp loại trung bình, không có trường hợp nào loại kém.

Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Trương Nhựt Khuê (2017) [5] loại tốt chiếm 96,7%, loại trung bình chiếm 3,3%, Đoàn Thanh Tùng (2011)

[11] loại tốt chiếm 76%, loại trung bình chiếm 21%, Nguyễn Thị Thu Hà

(2010) [2] loại tốt chiếm 94,7%, loại trung bình chiếm 5,3%

4.3.7.2 Đánh giá sau phẫu thuật 3 tháng

Sau 3 tháng phẫu thuật, chúng tôi đã tiến hành khám lại 45 bệnh nhân, trong đó có 44 trường hợp đạt kết quả tốt, chiếm 97,8% Chỉ có 1 trường hợp xếp loại trung bình, tương đương 2,2%, và không có bệnh nhân nào được xếp loại kém trong lần tái khám này.

Ngày đăng: 21/04/2023, 05:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nguyễn Hồng Lợi (1997), Nang xương hàm do răng, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nang xương hàm do răng
Tác giả: Nguyễn Hồng Lợi
Nhà XB: Trường Đại học Y khoa Hà Nội
Năm: 1997
10. Lê Văn Sơn (2013), "Bệnh lý và phẫu thuật hàm mặt". Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam, Tập 2, tr. 9 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lý và phẫu thuật hàm mặt
Tác giả: Lê Văn Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2013
11. Đoàn Thanh Tùng (2011), Nhận xét lâm sàng, hình ảnh X quang, giải phẫu bệnh và đánh giá kết quả phẫu thuật nang thân răng, Luận văn Bác sĩ Nội trú, Đại Học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét lâm sàng, hình ảnh X quang, giải phẫu bệnh và đánh giá kết quả phẫu thuật nang thân răng
Tác giả: Đoàn Thanh Tùng
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2011
12. Nguyễn Sào Trung, Trần Phương Hạnh (2013), "Giải phẫu bệnh học", Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam, tr. 217-225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu bệnh học
Tác giả: Nguyễn Sào Trung, Trần Phương Hạnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2013
13. Nguyễn Thị Tường Vi (2006), Kết quả điều trị nội nha của Sinh viên Răng Hàm Mặt theo dõi sau 12 - 18 tháng, Tiểu luận tốt nghiệp Bác sĩ Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều trị nội nha của Sinh viên Răng Hàm Mặt theo dõi sau 12 - 18 tháng
Tác giả: Nguyễn Thị Tường Vi
Nhà XB: Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
14. Acikgoz A., Uzun-Bulut E., Ozden B., Gunduz K. (2012), "Prevalence and distribution of odontogenic and nonodontogenic cysts in a Turkish population", Med Oral Patol Oral Cir Bucal, 17 (1), pp. 108-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence and distribution of odontogenic and nonodontogenic cysts in a Turkish population
Tác giả: Acikgoz A., Uzun-Bulut E., Ozden B., Gunduz K
Nhà XB: Med Oral Patol Oral Cir Bucal
Năm: 2012
15. Ahmad Shad, Muhammad Ilyas, Muslim Khan Mohmand (2016), "Odontogenic Cysts: A Retrospective Study Of 100 Cases", Pakistan Oral &amp; Dental Journal, 36 (4), pp. 542 - 545 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Odontogenic Cysts: A Retrospective Study Of 100 Cases
Tác giả: Ahmad Shad, Muhammad Ilyas, Muslim Khan Mohmand
Nhà XB: Pakistan Oral & Dental Journal
Năm: 2016
17. Araujo J. P., Lemos C. A., Miniello T. G., Alves F. A. (2016), "The relevance of clinical and radiographic features of jaw lesions: A prospective study", Braz Oral Res, 30 (1), pp. 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The relevance of clinical and radiographic features of jaw lesions: A prospective study
Tác giả: Araujo J. P., Lemos C. A., Miniello T. G., Alves F. A
Nhà XB: Braz Oral Res
Năm: 2016
18. Baghaei F., Zargaran M., Najmi H., Moghimbeigi A. (2014), "A clinicopathological study of odontogenic cysts and tumors in hamadan, iran", J Dent (Shiraz), 15 (4), pp. 167-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A clinicopathological study of odontogenic cysts and tumors in hamadan, iran
Tác giả: Baghaei F., Zargaran M., Najmi H., Moghimbeigi A
Nhà XB: J Dent (Shiraz)
Năm: 2014
19. Bhargava D., Deshpande A., Pogrel M. A. (2012), "Keratocystic odontogenic tumour (KCOT)--a cyst to a tumour", Oral Maxillofac Surg, 16 (2), pp. 163-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Keratocystic odontogenic tumour (KCOT)--a cyst to a tumour
Tác giả: Bhargava D., Deshpande A., Pogrel M. A
Nhà XB: Oral Maxillofac Surg
Năm: 2012
22. Cawson R. A, Odell E. W (2008), "Cawson's Essentials of Oral Pathology and Oral Medicine", Churchill Livingstone, 8th Edition pp. 115 -133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cawson's Essentials of Oral Pathology and Oral Medicine
Tác giả: Cawson R. A, Odell E. W
Nhà XB: Churchill Livingstone
Năm: 2008
23. Chen J. H., Tseng C. H., Wang W. C., Chen C. Y., Chuang F. H., et al. (2018), "Clinicopathological analysis of 232 radicular cysts of the jawbone in a population of southern Taiwanese patients", Kaohsiung J Med Sci, 34 (4), pp. 249-254 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinicopathological analysis of 232 radicular cysts of the jawbone in a population of southern Taiwanese patients
Tác giả: Chen J. H., Tseng C. H., Wang W. C., Chen C. Y., Chuang F. H
Nhà XB: Kaohsiung J Med Sci
Năm: 2018
24. Chrcanovic B. R., Gomez R. S. (2017), "Gingival cyst of the adult, lateral periodontal cyst, and botryoid odontogenic cyst: An updated Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gingival cyst of the adult, lateral periodontal cyst, and botryoid odontogenic cyst: An updated
Tác giả: Chrcanovic B. R., Gomez R. S
Năm: 2017
26. de Carvalho L. F., Lima C. F., Cabral L. A., Brandao A. A., Almeida J. D. (2011), "Lateral periodontal cyst: a case report and literature review", J Oral Maxillofac Res, 1 (4), pp. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lateral periodontal cyst: a case report and literature review
Tác giả: de Carvalho L. F., Lima C. F., Cabral L. A., Brandao A. A., Almeida J. D
Nhà XB: J Oral Maxillofac Res
Năm: 2011
27. Deepthi P. V., Beena V. T., Padmakumar S. K., Rajeev R., Sivakumar R. (2016), "A study of 1177 odontogenic lesions in a South Kerala population", J Oral Maxillofac Pathol, 20 (2), pp. 202-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A study of 1177 odontogenic lesions in a South Kerala population
Tác giả: Deepthi P. V., Beena V. T., Padmakumar S. K., Rajeev R., Sivakumar R
Nhà XB: J Oral Maxillofac Pathol
Năm: 2016
29. Garg Nisha, Garg Amit (2007), "Textbook of Endodontic", Jaypee Brothers Medical Pub, pp. 13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Textbook of Endodontic
Tác giả: Garg Nisha, Garg Amit
Nhà XB: Jaypee Brothers Medical Pub
Năm: 2007
30. Ghandour L., Bahmad H. F. (2018), "Conservative Treatment of Dentigerous Cyst by Marsupialization in a Young Female Patient:A Case Report and Review of the Literature", 2018, pp. 7621363 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Conservative Treatment of Dentigerous Cyst by Marsupialization in a Young Female Patient:A Case Report and Review of the Literature
Tác giả: Ghandour L., Bahmad H. F
Năm: 2018
31. Hiroshi Nozawa, Shyuri Hada, Shinya Watanabe, Junko Nakajima, Hidetaka Yokoe, et al. (2014), "Case report: Glandular odontogenic cyst arising in the posterior region of the mandible", Journal of Oral and Maxillofacial, Medicine, and Pathology, 26, pp. 468-471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Case report: Glandular odontogenic cyst arising in the posterior region of the mandible
Tác giả: Hiroshi Nozawa, Shyuri Hada, Shinya Watanabe, Junko Nakajima, Hidetaka Yokoe
Nhà XB: Journal of Oral and Maxillofacial, Medicine, and Pathology
Năm: 2014
32. J. Philip Sapp, Lewis Roy Eversole, George W. Wysocki (2004), "Contemporary Oral and Maxillofacial Pathology", Mosby, 2nd Edition, pp. 45-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contemporary Oral and Maxillofacial Pathology
Tác giả: J. Philip Sapp, Lewis Roy Eversole, George W. Wysocki
Nhà XB: Mosby
Năm: 2004
34. Johnson N. R., Gannon O. M., Savage N. W., Batstone M. D. (2014), "Frequency of odontogenic cysts and tumors: a systematic review", J Investig Clin Dent, 5 (1), pp. 9-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Frequency of odontogenic cysts and tumors: a systematic review
Tác giả: Johnson N. R., Gannon O. M., Savage N. W., Batstone M. D
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w